Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết khác trên các tạp chí bàn về vấn đềnày: - “Một số vấn đề trong đánh giá và nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoahọc” đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-HOÀNG THỊ VÂN
HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM VÀ LOGIC CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨChuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-HOÀNG THỊ VÂN
HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM VÀ LOGIC
CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60340412
Người hướng dẫn: TS TS Trịnh Ngọc Thạch
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Mẫu khảo sát 7
6 Câu hỏi nghiên cứu 7
7 Giả thuyết nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 8
10 Kết cấu của Luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 11
1.1 Khái niệm khoa học và nghiên cứu khoa học 11
1.1.1 Khoa học 11
1.1.2 Nghiên cứu khoa học 15
1.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học 15
1.3 Logic của nghiên cứu khoa học 20
1.4 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 25
1.5 Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI HỌC VIỆN TÀI CHÍNH 36
2.1 Khái quát về Học viện Tài chính 36
2.2 Khái quát về hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 40
Trang 42.2.1 Các nguồn lực đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện
Tài chính 40
2.2.2 Tình hình triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 43
2.3 Thực trạng công tác đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 46
2.3.1 Thực trạng về tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 46
2.3.2 Quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu 52
2.3.3 Đội ngũ đánh giá 56
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (TRƯỜNG HỢP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH) .63
3.1 Căn cứ để hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu tại Học viện Tài chính 63
3.2 Hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 70
3.3 Khảo nghiệm hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 77
KẾT LUẬN 82
KHUYẾN NGHỊ 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 89
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1 Một số loại phán đoán thông dụng
2 Bảng 2.1: Các tạp chí, tập san và ấn phẩm do Học viện Tài chính
xuất bản
3 Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức Học Viện Tài chính
4 Bảng 2.3: Trình độ chuyên môn của nhân lực khoa học Học viện Tài
chính
5 Bảng 2.4: Nguồn lực tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học
của Học viện Tài chính giai đoạn 2010-2014
6 Bảng 2.5: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của cán bộ,
giảngviên, nghiên cứu viên Học viện Tài chính năm 2010-2014
7 Bảng 2.6: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên
Học viện Tài chính năm 2010-2014
8 Bảng 2.7: Thang điểm đánh giá đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
9 Sơ đồ 2.8: Quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của
cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên tại Học viện Tài chính
10 Sơ đồ 2.9: Quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
sinh viên tại Học viện Tài chính
11 Bảng 2.10: Trình độ chuyên môn của người tham gia đánh giá kết
quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính
12 Bảng 2.11: Số lần các cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên tham gia
Trang 6đánh giá kết quả nghiên cứu tại Học viện Tài chính
13 Bảng 2.12: Cấp đề tài cao nhất mà các cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên đã tham gia đánh giá kết quả nghiên cứu
14 Bảng 3.1: Bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu mới đề xuất
Trang 7lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể các thầy giáo, cô giáo thuộc chuyên ngành Quản
lý Khoa học và Công nghệ, Khoa khoa học Quản lý trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình họp tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tớiTS.Trịnh Ngọc Thạch, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanhniên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, thầy là người trực tiếp hướngdẫn, tận tình chỉ bảo và cho tôi những định hướng, những góp ý rất quý báutrong quá trình thực hiện nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Luận văn cũng nhận được nhiều thông tin, ý kiến đánh giá, góp ý và sựgiúp đỡ từ các giảng viên, các chuyên gia, các đồng nghiệp, các học viên caohọc trong quá trình nghiên cứu Bạn bè và tập thể lớp Cao học Quản lýKH&CN K12, đã chia sẻ kinh nghiệm và động viên tác giả trong suốt quátrình học tập và làm luận văn Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc trước sựgiúp đỡ đó
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đối với Viện Kinh tế – Tài chính, Họcviện Tài chính đã hỗ trợ và tạo điều kiện về thời gian và tài chính cho tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, tôi đã có nhiều cốgắng trong nghiên cứu Tuy nhiên, tôi còn gặp nhiều khó khăn về sức khỏe,
Trang 8thời gian, và trình độ nên kết quả nghiên cứu không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót và hạn chế nhất định Rất mong nhận đƣợc sự quan tâm, góp ý chânthành của Quý thầy/cô giáo và các anh/chị học viên để giúp tôi hoàn thiệnLuận văn của mình.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Hoàng Thị Vân
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, nhu cầu nhận thức vànhu cầu cải thiện đời sống đã thúc đẩy khoa học phát triển mạnh mẽ Tronghoạt động nghiên cứu khoa học, luôn tồn tại nhu cầu bàn thảo, tọa đàm, bìnhxét, xem xét về một kết quả nghiên cứu Đó chính là các khía cạnh của việcđánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
“Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học là một công việc hết sức cầnthiết trong tổ chức nghiên cứu khoa học Điều quan trọng trước hết là cầnphải đánh giá đề hiểu được giá trị khoa học đích thực của kết quả nghiêncứu” [4;tr.3] Đối với mỗi tổ chức nghiên cứu, đơn vị giáo dục - đào tạo, hoạtđộng đánh giá kết quả nghiên cứu góp phần nhận dạng đúng chất lượng củacác công trình khoa học, chọn lựa được đúng những nhà nghiên cứu xứngđáng được vinh danh và từ đó, góp phần quan trọng phát triển hoạt độngnghiên cứu khoa học của tổ chức, đóng góp những kết quả nghiên cứu chấtlượng có ích cho xã hội
Tuy nhiên, hoạt động đánh giá nghiên cứu khoa học ở nước ta chưathực sự phản ánh đúng chất lượng của các kết quả nghiên cứu Hiện nay, việcđánh giá kết quả nghiên cứu khoa học vẫn còn mang nặng cảm tính, phụthuộc vào chủ quan của người đánh giá Một trong những nguyên nhân chính
là do hệ thống tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học chưa phù hợp Các tiêuchí đánh giá nghiên cứu khoa học chưa phản ánh được đầy đủ yêu cầu vềtính mới, tính logic và giá trị khoa học của một nghiên cứu khoa học haynhiều tiêu chí đánh giá còn rất chung chung, không rõ ràng dẫn đến hậu quả làxếp loại chất lượng các kết quả nghiên cứu khoa học chưa chuẩn xác
Với ý nghĩa đó, đề tài “Hoàn thiện tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học
dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học” phân tích những bất
Trang 10cập trong tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học hiện nay và qua đó đề xuấtgiải pháp hoàn thiện tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm
và logic của nghiên cứu khoa học
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề đánh giá nghiên cứu khoa học và tiêu chí đánh giá nghiên cứukhoa học là nội dung được các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, cácnhà quản lý, tổ chức nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học quan tâm nghiêncứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về nội dung này được công
bố trên các tạp chí, ấn phẩm trong thời gian qua Theo tìm hiểu của tác giả, cóthể kể đến một số tác phẩm như sau:
Trên thế giới, chúng ta có thể kể đến tác phẩm “Evaluation of Researchand development” (1983) tập hợp bài viết của rất nhiều tác giả về các phươngpháp đánh giá nghiên cứu và triển khai ở các nước thành viên Cộng đồngchâu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản trong đó, tiêu biểu là một số quan điểm củacác tác giả như:
- Tác giả P Fasella, với bài viết “The evaluation of the EuropeanCommunity‟s Research and Development Programmes” [24;tr.3-13] (Đánh giácác chương trình nghiên cứu và triển khai của Cộng đồng Châu Âu) đã nêu ramột số nguyên tắc chung trong việc đánh giá R&D: Quá trình đánh giá cần tiếnhành trong mối liên hệ đến việc hình thành và triển khai các giai đoạn của nghiêncứu; có thể có đánh giá trong và đánh giá ngoài Đánh giá trong thường đượcthực hiện bởi các nhà quản lý dự án, tham gia trong quá trình thực hiện đề tài.Còn đánh giá ngoài là đánh giá của các chuyên gia bên ngoài
không tham gia vào chương trình nghiên cứu Tuy nhiên theo ông, việc đánhgiá nên được tiến hành với các chuyên gia ngoài, những người không thamgia vào thực hiện chương trình đó Tác giả nhấn mạnh cần có cơ chế phản hồithường xuyên Đồng thời, tác giả còn đưa ra đề xuất hội đồng đánh giá cần
Trang 11dừng lại ở mức tương đối nhỏ (từ 6- 8 người) Thời gian dành cho việc đánhgiá tối đa là 6 tháng cho đánh giá bằng phương pháp “chuyên gia” và 3 thángcho đánh giá bằng phương pháp “hội đồng”.
- Tác giả A.M.T Rouban, trong bài viết “Evaluation of R&DProgrammes in France” [24;tr.14-21] (Đánh giá các chương trình R&D của Pháp)cho rằng mặc dù có thể đưa ra hệ thống chỉ báo rõ ràng, tuy nhiên khi tiến hànhđánh giá và sử dụng công trình khoa học thì sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốnhư các nhà khoa học, các nhà quản lý, các cơ quan giám sát Do vậy, việc đưa
ra một hệ thống chỉ báo có thể áp dụng cho mọi đánh giá vẫn là vấn đề đang đượcbàn cãi
Các quan niệm của các tác giả kể trên mới chỉ dừng lại ở việc đề ra một
số nguyên tắc, phương pháp chung cho việc đánh giá nghiên cứu và triểnkhai
Ở Việt Nam, bàn về đánh giá nghiên cứu khoa học và tiêu chí đánh giánghiên cứu khoa học có nhiều nhà khoa học có công trình nghiên cứu về đánh giánghiên cứu khoa học như tác giả Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn An, Hồ Tú Bảo,…Trong đó, đặc biệt là tác giả Vũ Cao Đàm với tác phẩm “Đánh giá nghiên cứukhoa học”, (2005) Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Tác
giả đã trình bày hệ thống phương pháp luận về đánh giá nghiên cứu khoa học,bao gồm đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học và đánh giá hiệu quả nghiêncứu khoa học
Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết khác trên các tạp chí bàn về vấn đềnày:
- “Một số vấn đề trong đánh giá và nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoahọc” đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học, số 4/2005 của tác giả Nguyễn Văn An.Qua việc làm rõ vai trò và thực trạng của hoạt động đánh giá và nghiệm thu nghiêncứu khoa học Việt Nam hiện nay, tác giả đề xuất một số
Trang 12giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới cơ chế quản lý trong đánh giá, nghiệm thu kết quả nghiên cứu khoa học.
- “Đánh giá định lượng kết quả nghiên cứu khoa học” tạp chí Hoạtđộng khoa học, số 7/2010 của tác giả Hồ Tú Bảo đã giới thiệu khái niệm và một
số đặc điểm cơ bản cũng như hạn chế của các độ đo dùng để đánh giá định lượngcác ấn phẩm nghiên cứu khoa học bao gồm: chỉ số trích dẫn, hệ số ảnh hưởng(IF) và chỉ số H
- “Đánh giá nghiên cứu khoa học?” đăng trên trang webhttp://tiasang.com.vn, ngày 13/04/2012, đã nêu những trường hợp sử dụng đánhgiá nghiên cứu khoa học; các thang đánh giá nghiên cứu khoa học hiện có; phânloại đánh giá nghiên cứu khoa học và đề nghị xây dựng một hệ thống tiêu chíđánh giá khoa học phù hợp để đánh giá khách quan các công trình khoa học
Vấn đề này cũng đã được một số học viên chuyên ngành Quản lý Khoahọc và công nghệ quan tâm lựa chọn nghiên cứu:
- Nguyễn Xuân Quang (2008), “Xây dựng các tiêu chí đánh giá nghiêncứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương”, Luận văn thạc sĩ chuyênngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội vàNhân văn Tác giả đã tìm hiểu về đánh giá nghiên cứu khoa học và xây dựng tiêuchí đánh giá nghiên cứu khoa học áp dụng cho địa chỉ cụ thể là trường Cao đẳngnghề Hải Dương
- Lê Ngọc Sơn (2010), “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quảnghiên cứu khoa học của cán bộ trường Đại học sư phạm Hà Nội”, Luận vănthạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn Tác giả đã đưa ra bộ tiêu chí đánh giá chất lượngnghiên cứu khoa học dựa theo 3 bước:
4
Trang 13+ Bước 1: Tập trung xem xét tính mới dựa trên sự kiện khoa học, vấn
đề khoa học và luận điểm khoa học theo các chỉ tiêu chuẩn mực (40 điểm)
+ Bước 2: Xem xét tính logic của 5 bộ phận: sự kiện khoa học, vấn đềkhoa học, luận điểm khoa học, luận cứ khoa học và phương pháp nghiên cứu (35điểm)
+ Bước 3: Xem xét tổng thể các tiêu chí còn lại như tiêu chí và mức độ
rõ ràng, tính logic và khoa học của việc luận giải về sự cần thiết nghiên cứu đềtài; mức độ rõ ràng và khả thi của mục tiêu nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu;tính khoa học, độc đáo, phù hợp của cách tiếp cận; kết cấu , hình thức theo cấutrúc logic của kết quả nghiên cứu (35 điểm)
- Trần Thị Hồng (2013) “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quảnghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trường Đại học Khoa học,Đại học Thái Nguyên”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học vàCông nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tác giả đãnghiên cứu thực trạng đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học
xã hội tại trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và xây dựng mớimột hệ thống tiêu chí cho việc đánh giá kết quả nghiên cứu ngành khoa học
xã hội của trường này
Các nghiên cứu trên đã tiếp cận chủ đề đánh giá nghiên cứu khoa học ởnhững khía cạnh khác nhau Nhìn chung, các tác giả đã đề cập đến phươngpháp, chỉ báo trong đánh giá nghiên cứu khoa học cũng như chỉ ra những bấtcập còn tồn tại Đề tài sẽ kế thừa những luận điểm đã được trình bày trongcác nghiên cứu trên và vận dụng nghiên cứu giải pháp hoàn bộ tiêu chí đánhgiá nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: hoàn thiện tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa
học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 14+ Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài: thao tác một số khái niệm liên quanđến nội dung nghiên cứu (khái niệm khoa học, nghiên cứu khoa học, kết quảnghiên cứu, đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, tiêu chí đánh giá…); trình bàycác đặc điểm và logic nghiên cứu khoa học; nội dung đánh giá kết quả nghiên cứukhoa học…
+ Làm rõ thực trạng hoạt động đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học.Nhận diện những hạn chế trong hệ thống tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học(trên cơ sở khảo sát trường hợp Học viện Tài chính)
+ Hoàn thiện các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm của nghiên cứu khoa học và logic của nghiên cứu khoa học
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Do khách thể nghiên cứu của đề tài rất rộng và
do hạn chế về thời gian thực hiện đề tài cũng như năng lực của học viên còn hạnchế nên tác giả giới hạn phạm vi không gian, chỉ tiến hành khảo sát tại Học việnTài chính
- Phạm vi nội dung: Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu
về hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học với các vấn đề
sau:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
+ Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của Học viện Tài chính
+ Nhận diện những hạn chế trong bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của Học viện Tài chính
+ Đề xuất hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa họcdựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học (trường hợp Học viện Tài
chính)
- Phạm vi thời gian: từ năm 2010 – 2014.
Trang 155 Mẫu khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát:
- Các văn bản quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học; Văn bản quy định tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học;
- Các công trình nghiên cứu khoa học; Các luận văn thạc sĩ;
- Giảng viên và nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện các đề tài nghiêncứu khoa học các cấp tại Học viện Tài chính;
- Các chuyên gia; Cán bộ quản lý, chuyên viên phụ trách hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính
6 Câu hỏi nghiên cứu
Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học cần hoàn thiện như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học cần được hoàn thiện theo hướng sau:
+ Xây dựng và bổ xung các tiêu chí dựa trên đặc điểm của nghiên cứukhoa học: tính mới; tính tin cậy; tính khách quan; tính rủi ro; tính kế thừa; tính cánhân, tính trễ trong áp dụng để đề xuất hoàn thiện các tiêu chí đánh giá kết quảnghiên cứu khoa học (Trong đó đặc biệt nhấn mạnh rằng kết quả
nghiên cứu khoa học có tính mới mới tiếp tục đánh giá theo các tiêu chí khác)
+ Xây dựng và bổ xung các tiêu chí dựa trên tính logic của nghiên cứu
khoa học thể hiện qua chuỗi logic gồm các bộ phận: Tên đề tài, mục tiêu nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và luận cứu để đề xuất hoàn thiện các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học.
7
Trang 168 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tác giả tiến hành nghiên cứu các tài liệu sẵn có như các văn bản quyđịnh, chính sách, các báo cáo về hoạt động nghiên cứu khoa học; Các côngtrình nghiên cứu khoa học, sách báo, tạp chí, bài giảng, giáo trình của cácthầy cô và đồng nghiệp…để có thể cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu,tìm kiếm các thông tin liên quan và kế thừa những kết quả nghiên cứu đó đểhoàn thiện nội dung của luận văn
+ Phương pháp điều tra bảng hỏi
Tác giả tiến hành phát 70 phiếu bảng hỏi cho các 14 cán bộ, 50 giảngviên và 6 nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học,tham gia hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học các cấp của Họcviện Tài chính để lấy ý kiến nhận xét về hoạt động đánh giá kết quả nghiêncứu khoa học mà Học viện Tài chính đang thực hiện; quan điểm của họ vềnhững hạn chế, thiếu sót trong các tiêu chí đánh giá các kết quả nghiên cứukhoa học hiện nay và hướng bổ sung, hoàn thiện các tiêu chí này
Thông tin thu thập được từ việc phát phiếu điều tra có cả thông tin địnhtính và thông tin định lượng Các thông tin định tính được tiến hành xử lýlogic để thấy được bản chất của vấn đề Các thông tin định lượng được xử lýtheo phương pháp toán học và hệ thống bằng các bảng số liệu
Sau khi đề xuất hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứukhoa học, tác giả tiếp tục gửi đi 10 phiếu trưng cầu ý kiến về bộ tiêu chí đánhgiá mới này
+ Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Có những thông tin, quan điểm có thể không được thể hiện qua phiếuđiều tra bảng hỏi, do đó, tác giả tiếp tục tiến hành phỏng vấn sâu với mục đích
Trang 17nhằm thu thập được những thông tin sâu hơn liên quan đến vấn đề nghiêncứu Tác giả tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giảng viên và nghiêncứu viên với tư cách là người tham gia hội đồng nghiệm thu đề tài nghiêncứu khoa học, chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu khoa học, cụ thể như sau:
- Phỏng vấn 02 cán bộ (01 Phó Ban Quản lý Khoa học và 01 chuyênviên trong Ban quản lý Khoa học)
- Phỏng vấn 03 nghiên cứu viên và 02 giảng viên là chủ nhiệm các đềtài nghiên cứu khoa học thuộc các cấp như cấp Khoa; cấp Viện, cấp Học viện vàcấp Bộ
- Phỏng vấn 05 cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên đã tham gia chấm
đề tài nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính)
+ Phương pháp quan sát
Tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát để quan sát quy trình nghiệmthu một đề tài nghiên cứu khoa học; quan sát cách thức quản lý hoạt độngnghiên cứu khoa học của Học viện Tài chính; quan sát quá trình làm việc củahội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học để có được cái nhìn tổngquát về thực trạng đánh giá kết quả nghiên cứu và nhận diện những hạn chếtrong tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
Trang 18giá kết quả nghiên cứu khoa học của Học viện Tài chính, từ đó đề xuất hoànthiện bộ tiêu chí đánh giá phù hợp.
+ Phương pháp thực nghiệm
Sau khi đề xuất hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứukhoa học, tác giả ứng dụng bộ tiêu chí mới này để đánh giá một kết quảnghiên cứu khoa học của Học viện Tài chính
10 Kết cấu của Luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoahọc
Chương 2: Thực trạng tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa họcTại Học viện Tài chính
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứukhoa học (trường hợp Học viện Tài chính)
Trang 19PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1.1 Khái niệm khoa học và nghiên cứu khoa học
1.1.1 Khoa học
Khái niệm “khoa học” từ lâu đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnhvực của cuộc sống Tuy nhiên để trả lời cho câu hỏi “khoa học là gì?” vẫn cònrất nhiều cách hiểu về khái niệm này xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau
Trong Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm,
tác giả đưa ra 4 định nghĩa về khoa học từ các góc độ: (1) Khoa học là một hệthống tri thức; (2) Khoa học là một hoạt động xã hội; (3) Khoa học là mộthình thái ý thức xã hội; (4) Khoa học là một thiết chế xã hội
1.1.1.1 Khoa học là một hệ thống tri thức
Theo định nghĩa của UNESCO (United Nations Educational Scientificand Cultural Organization: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của liên
hợp quốc) khoa học là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và
sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”.
Ở đây, hệ thống tri thức được hiểu là hệ thống tri thức khoa học
“Khoa học, trong trường hợp này, được hiểu như một hệ thống tĩnh tại các trithức, xem khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy từ trong hoat độngtìm tòi, sáng tạo của nhân loại.” [6; tr.12] Hệ thống tri thức này hình thành tronglịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Cần phân biệt trithức khoa học khác với tri thức kinh nghiệm:
Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động
sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa conngười với thiên nhiên Từ khi được sinh ra cho đến trưởng thành và mất đi,con người luôn cảm nhận thế giới xung quanh và chịu những tác động trở lại
Trang 20từ môi trường sống Các tình huống xảy ra trong tự nhiên, trong lao động vàtrong các hoạt động khác buộc con người phải xử lý Quá trình này giúp conngười hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan
hệ giữa những con người trong xã hội, từ đó, những hiểu biết và kinh nghiệmđược tích lũy hàng ngày Mới đầu, chỉ là những nhận thức, hiểu biết về từng
sự vật riêng lẻ, sau đó sẽ kết nối với nhay hình thành nên mối liên hệ mangtính hệ thống về các sự vật trong thế giới xung quanh.Tri thức kinh nghiệmđược con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế
Nó giúp con người có thế giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống , từ
đó thích nghi để tồn tại và phát triển
Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưathấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật
và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biếtgiới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành trithức khoa học
Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ
thống và được khái quát hóa nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạtđộng này có mục tiêu xác định và sử dụng một hệ thống phương pháp khoahọc Không phải là sự kế tục đơn giản của những tri thức kinh nghiệm, trithức khoa học là sự tổng kết dựa trên kết quả quan sát, thu thập được quanhững thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xãhội, trong tự nhiên, khái quát hóa thành những cơ sở lý thuyết Đó là nhữngkết luận đã được kiểm chứng Các tri thức khoa học được tổ chức trongkhuôn khổ các bộ môn khoa học
1.1.1.2 Khoa học là một hoạt động xã hội
Ở thời kỳ đầu, khoa học chỉ là sự quan tâm cá nhân của các nhà thiêntài lỗi lạc Sau đó, khoa học dần trở thành một hoạt động phổ biến hơn và
Trang 21khoa học ngày nay đã trở nên một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp vớimức độ xã hội hóa cao Đây là hoạt động sản xuất tinh thần rất đặc biệt, đầygian khổ và rủi ro Sản phẩm của hoạt động khoa học ngày càng tham giamạnh mẽ vào mọi mặt của đời sống.
Hoạt động khoa học diễn ra với mục tiêu nhận thức về thế giới để thíchnghi với môi trường sống và cải tạo thế giới nhằm tồn tại và phát triển thôngqua việc:
- Tìm tòi, khám phá, phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức
- Dựa vào những hiểu biết về quy luật của các sự vật để đưa ra những
dự báo về quá trình phát triển của sự vật, lựa chọn các cách ứng xử, hướng điđúng đắn, tránh hoặc giảm thiểu rủi ro
- Sáng tạo ra các phương pháp kỹ thuật, sự vật mới phục vụ cho cuộcsống
1.1.1.3 Khoa học là một hình thái ý thức xã hội
Dưới tiếp cận Triết học, theo quan điểm triết học Mác, khoa học đượchiểu là một hình thái ý thức xã hội
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tínhđộc lập tương đối với các hình thức ý thức xã hội khác Khoa học phân biệtvới các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh vàmang một chức năng xã hội riêng biệt Đây là nhận thức quan trọng trong việc
xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hộikhác Trong lịch sử khoa học, mối một phát hiện mới về bản chất sự vật, quyluật hay sáng tạo giải pháp mới đều có thể dẫn đến những tranh luận, bất đồngquan điểm hoặc va chạm với các hình thái ý thức xã hội khác do cách nhìn,quan điểm khoa học khác biệt Chính vì vậy việc xem xét kỹ những kết luận
Trang 22khoa học, xử lý đúng đắn, khách quan mối quan hệ giữa khoa học với cáchình thái ý thức xã hội khác nhằm tránh những xung đột là rất quan trọng.
Khoa học có mối quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xãhội khác như: đạo đức, ý thức pháp quyền, ý thức hệ chính trị, tôn giáo, Ngược lại, các hình thái ý thức xã hội khác cũng có ảnh hưởng đến sự pháttriển của khoa học, đặc biệt đối với sự phát triển truyền bá, ứng dụng các tiến
bộ khoa học vào đời sống và sản xuất Song, khoa học vẫn tồn tại và pháttriển một cách độc lập, không phụ thuộc vào các hình thái ý thức xã hội này
1.1.1.4 Khoa học là một thiết chế xã hội
Dưới tiếp cận xã hội học, khoa học được hiểu là một thiết chế xã hội
“Thiết chế xã hội là một hệ thống các quy tắc, các giá trị và cấu trúc,một hệ thống các quan hệ ổn định và tạo nên các khuôn mẫu xã hội biểu thị
sự thống nhất, được xã hội công khai thừa nhận, nhằm thỏa mãn nhu cầu cơbản của xã hội” [4;7]
Với tư cách là một thiết chế xã hội, khoa học điều chỉnh hành vi củacon người, chi phối mọi quyết định trong đời sống kinh tế, xã hội Nó định rakhuôn mẫu hành vi, lấy tính khoa học làm thước đó; xây dựng luận cứ khoahọc cho các quyết định trong sản xuất, kinh doanh; trở thành phương tiệnbiến đổi mọi mặt của cuộc sống
Nhận thức khoa học là một thiết chế xã hội có ý nghĩa rất quan trọngkhông chỉ trong việc định hướng nghiên cứu, triển khai quá trình nghiên cứucủa người nghiên cứu mà còn quan trọng đối với vấn đề hoạch định chínhsách hỗ trợ phát triển khoa học
Trong khuôn khổ nội dung của Luận văn, khái niệm “khoa học” đượchiểu theo góc độ khoa học là một hệ thống tri thức
Trang 231.1.2 Nghiên cứu khoa học
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: Nghiên cứu khoa học làquá trình hoạt động nhằm thu nhận tri thức khoa học
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, nghiên cứu khoa học làhoạt động chủ động, tích cực và có hệ thống của con người nhằm khám phá,giải thích thế giới xung quanh
Tuy nhiên, các định nghĩa trên nói đến nghiên cứu khoa học mới dừnglại ở khía cạnh khám phá và giải thích, hay nói khác đi là nhận thức thế giới,chứ chưa đề cập đến khía cạnh sáng tạo, cải tạo thế giới
Có thể hiểu nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét,điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạtđược từ các thí nghiệm để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, vềthế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹthuật mới cao hơn, giá trị hơn
Như vậy “Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sựvật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mụcđích sử dụng Nói cho cùng, nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hộinhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức thế giới và cải tạo thế giới” [8; tr.19]
Trong khuôn khổ nội dung của luận văn, khái niệm nghiên cứu khoahọc được hiểu là quá trình tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạocác giải pháp tác động trở lại sự vật nhằm biến đổi sự vật phục vụ mục tiêuhoạt động của con người
1.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học
Đặc điểm là nét riêng biệt, dùng để phân biệt sự vật, hiện tượng nàyvới sự vật, hiện tượng khác
Nghiên cứu khoa học là loại hoạt động mang tính đặc thù rất cao so với các loại hoạt động khác Các đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học như sau:
Trang 241.2.1 Tính mới
“Mới” là chưa được biết đến, chưa được bộc lộ công khai Nghiêncứu khoa học là quá trình tìm tòi những điều chưa biết Đây chính là điều làmnên tính chất rất đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học Mọi nghiên cứulặp lại như cũ những phát hiện, sáng tạo của các đồng nghiệp đi trước đã thựchiện là không có giá trị khoa học Chính vì vậy, tính mới là thuộc tính quantrọng số một của lao động khoa học Nó phản ánh năng lực và sự sáng tạo củangười nghiên cứu
Nhận thức được tính mới là đặc điểm quan trọng nhất của nghiên cứukhoa học, tạo nên giá trị khoa học của mỗi công trình nghiên cứu sẽ giúp ngườitham gia đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học có sự chú trọng vào tính mới củakết quả nghiên cứu khi tiến hành đánh giá Đây đồng thời cũng là sự ghi nhậnđối với những nỗ lực của các tác giả có đóng góp mới cho khoa học
1.2.2 Tính tin cậy của kết quả
“Tính tin cậy của kết quả nghiên cứu thể hiện ở chỗ phải có khả năngkiểm chứng lại nhiều lần do nhiều người khác nhau thực hiện trong nhữngđiều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kếtquả thu được hoàn toàn giống nhau” [8; tr.20]
Như vậy, một kết quả ngẫu nhiên thu được hay do suy nghĩ chủ quan củangười nghiên cứu dù phù hợp với giả thuyết đặt ra trước đó cũng không thể vộivàng kết luận về bản chất của sự vật, hiện tượng Đặc điểm này đòi hỏi ngườinghiên cứu phải thận trọng trong việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phùhợp và trung thực với kết quả thu được qua quá trình nghiên cứu
1.2.3 Tính thông tin
Sản phẩm nghiên cứu khoa học được thể hiện trên nhiều hình thứckhác nhau: một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học, những giải pháp mới
Trang 25trong công nghệ, mô hình tổ chức và quản lý, những vật mẫu mới sau quá trình thực nghiệm,
Bản chất của sản phẩm nghiên cứu khoa học là thông tin “Đó là nhữngthông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ vàcác thông số đi kèm quy trình đó” [8;18] Và thông tin đó được truyền tải quacác vật mang thông tin khác nhau như: các báo cáo khoa học; bản mô tả quytrình, công thức; băng đĩa ghi âm, ghi hình; vật mẫu
Đặc điểm này đã phân biệt sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoahọc với sản phẩm của các hoạt động lao động khác Hiểu được đặc điểm nàycũng giúp người đánh giá kết quả nghiên cứu có sự xem xét, nhận định, đánhgiá một cách tỷ mỷ, kỹ lưỡng đối với lượng thông tin mà mỗi kết quả nghiêncứu tạo ra thể hiện trên mỗi trang báo cáo, mỗi mô hình, mỗi chi tiết của sảnphẩm…
1.2.4 Tính khách quan
Tính khách quan vừa là một đặc tính của hoạt động khoa học, vừa làmột phẩm chất của người làm khoa học Mọi nhận định, kết luận dựa trêncảm tính, thiếu xác nhận bằng những kiểm chứng từ các phương pháp khoahọc đều được xem là chưa khách quan, hay chưa thể là một phản ánh kháchquan về bản chất của sự vật, hiện tượng
Để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động nghiên cứu khoa học,người làm khoa học cần giữ chuẩn mực “hoài nghi” – một trong những chuẩnmực đạo đức của cộng đồng khoa học Khi đứng trước một kết luận, ngườinghiên cứu cần đặt các loại câu hỏi ngược lại:
- Kết quả đó có là duy nhất hay không?
- Còn phương pháp nào khác để cho ra kết quả đó hay không?
- Kết quả đó đúng trong điều kiện nào khác nữa hay không?
Và từ đó, vấn đề được nghiên cứu, “lật dở” nhiều chiều, nhiều khía cạnh
Trang 26Đặc điểm này đòi hỏi người nghiên cứu kiên quyết loại bỏ những nhậnđịnh, quan điểm chủ quan, áp đặt chủ quan trong sản phẩm nghiên cứu của mình.
1.2.5 Tính rủi ro của quá trình
Tính mới của hoạt động nghiên cứu khoa học đồng thời cũng quy địnhmột đặc điểm quan trọng khác của hoạt động nghiên cứu khoa học, đó là tính rủi
ro của quá trình Quá trình khám phá bản chất sự vật, sáng tạo giải pháp/sự vậthoàn toàn mới có thể thành công hoặc thất bại Sự thất bại trong hoạt độngnghiên cứu khoa học có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu
- Trình độ kỹ thuật của trang thiết bị phục vụ quá trình nghiên cứu
- Năng lực của người nghiên cứu còn hạn chế…
Tuy nhiên, thất bại đó vẫn được xem là một kết quả trong nghiên cứukhoa học Nó chứng minh rằng không tồn tại quy luật bản chất của sự vậthoặc giải pháp như đã dự kiến ban đầu Điều này giúp cho các nghiên cứu sautránh khỏi sự lãng phí nguồn lực cho việc nghiên cứu những vấn đề đó
1.2.6 Tính kế thừa
Để tiến hành một nghiên cứu, người nghiên cứu buộc phải sử dụngnhững kiến thức cơ bản sẵn có, những kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vựckhoa học gần hoặc xa Đó là tính kế thừa trong hoạt động khoa học
Trong quá trình nghiên cứu, người ta không lãng phí nguồn lực đểnghiên cứu những vấn đề đã được nghiên cứu, chứng minh mà sử dụng lạikết quả nghiên cứu của các đồng nghiệp đi trước làm nền tảng phát triển tiếpnhững nhận định, giải pháp, hướng nghiên cứu mới Tính kế thừa trongnghiên cứu khoa học là yếu tố quan trọng trong sự ra đời của các bộ mônkhoa học, các ngành khoa học mới cho nhân loại
Trang 27Nắm rõ đặc điểm này của nghiên cứu khoa học, người đánh giá kết quảnghiên cứu khoa học cần phân biệt được giữa kế thừa và sao chép, đạo vănnhằm đưa ra được những nhận định khách quan, công bằng tránh thiệt thòicho người nghiên cứu.
1.2.7 Tính cá nhân
Bên cạnh đặc tính kế thừa, một sản phẩm khoa học còn phải mang đậmdấu ấn cá nhân của tác giả sáng tạo ra nó Tính cá nhân thể hiện ở tư duy cánhân và chủ kiến riêng của mỗi cá nhân trong nghiên cứu khoa học Ngay cảkhi sản phẩm khoa học được tạo ra do một tập thể thì tư tưởng khoa học,quan điểm, chủ kiến của mỗi cá nhân thể hiện trong mỗi phần việc được giaocủa cá nhân đó
1.2.8 Tính trễ trong áp dụng
Một kết quả nghiên cứu, dù là có giá trị khoa học cao và ý nghĩa thực tếcũng không thể áp dụng ngay vào sản xuất và đời sống được mà cần một thờigian, vì nhiều lý do như: điều kiện kinh tế, văn hóa, yếu tố chính trị, tâm lý xãhội, cân nhắc các hệ lụy mà việc áp dụng kết quả nghiên cứu có thể tạo ra
Tính chất này được gọi là “tính trễ” trong nghiên cứu khoa học Do vậy, vớiđặc điểm này thì trong đánh giá kết quả nghiên cứu, người đánh giá khôngnên nặng nề về tính ứng dụng của kết quả nghiên cứu
Hiểu được đặc điểm này của nghiên cứu khoa học, trong khi đánh giákết quả nghiên cứu khoa học, người đánh giá sẽ không dựa trên căn cứ đãđược chuyển giao, đã được áp dụng để đánh giá chất lượng của kết quảnghiên cứu
1.2.9 Tính phi kinh tế
Tính phi kinh tế trong hoạt động nghiên cứu khoa học thể hiện ở một sốđiểm sau:
Trang 28- Lao động nghiên cứu khoa học rất khó định mức một cách chính xác như trong lĩnh vực sản xuất vật chất.
- Những thiết bị chuyên dụng cho nghiên cứu khoa học hầu như khôngthể khấu hao do tần suất sử dụng không ổn định và rất thấp, bên cạnh đó, tốc độhao mòn vô hình luôn vượt xa so với tốc độ hao mòn hữu hình
- Hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xácđịnh do tính rủi ro và tính bất định trong nghiên cứu khoa học Một kết quảnghiên cứu rất có giá trị khoa học nhưng lại không thể áp dụng trong thực tiễnsản xuất do một lý do xã hội nào đó và như vậy, hiệu quả kinh tế của kết quả đókhông trở thành hiện thực
Hiểu được đặc điểm này của nghiên cứu khoa học, trong khi đánh giákết quả nghiên cứu khoa học, người đánh giá sẽ không dựa trên căn cứ vềhiệu quả kinh tế đem lại từ kết quả nghiên cứu để đánh giá chất lượng của kếtquả nghiên cứu đó
Trên đây là những đặc điểm cơ bản, đặc thù của nghiên cứu khoa học.Hiểu được những đặc điểm này giúp cho việc đánh giá kết quả nghiên cứukhoa học được khách quan, trung thực và công bằng
1.3 Logic của nghiên cứu khoa học
Logic có thể hiểu là trật tự chặt chẽ, sự gắn bó, liên kết chặt chẽ tất yếugiữa các ý, bộ phận, sự vật, hiện tượng
Logic của nghiên cứu khoa học là quy trình các bước/các giai đoạntrong nghiên cứu khoa học Mọi nghiên cứu khoa học, dù thuộc lĩnh vựcnghiên cứu nào, cũng đều tuân theo một trật tự logic xác định của quá trìnhnghiên cứu
Logic của nghiên cứu khoa học bao gồm các bước như sau:
(1) Lựa chọn chủ đề nghiên cứu và đặt tên đề tài
Trang 29Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một cánhân hoặc nhóm người nghiên cứu cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu.
Lựa chọn chủ đề nghiên cứu là công việc đầu tiên và có ý nghĩa quantrọng quyết định đối với một nghiên cứu khoa học Cụ thể, người nghiên cứu
sẽ phải xác định xem chủ đề của nghiên cứu đó hướng vào lĩnh vực nào, khíacạnh nào; đối tượng và khách thể của nghiên cứu đó
Chủ đề nghiên cứu được lựa chọn từ một sự kiện khoa học “Sự kiệnkhoa học là một sự kiện chứa đựng những mâu thuẫn giữa lý thuyết vốn tồntại và thực tế mới phát sinh” [6; tr.50]
Sau khi lựa chọn được chủ đề nghiên cứu thì công việc tiếp theo là đặttên cho đề tài nghiên cứu Việc đặt tên cho đề tài thực sự có ý nghĩa quantrọng đối với chính đề tài đó, bởi tên đề tài sẽ thể hiện cô đọng nhất nội dungnghiên cứu của đề tài Tên đề tài chỉ được hiểu theo một nghĩa thực của vấn
đề nghiên cứu, hoàn toàn không thể hiểu theo hai nghĩa hay nhiều nghĩa.Chính vì vậy, việc sử dụng ngôn ngữ trong đặt tên cho đề tài phải mang nghĩathực, không sử dụng lối ẩn dụ hay chơi chữ
(2) Xác định mục tiêu nghiên cứu
Đứng trước một đề tài nghiên cứu, để bắt đầu thực hiện, câu hỏi đặt ra
là nghiên cứu cái gì ở đề tài này? Trả lời cho câu hỏi này tức là người nghiên
cứu đã xác định được mục tiêu nghiên cứu của đề tài Vậy mục tiêu nghiêncứu chính là những nội dung cần nghiên cứu trong đề tài
Một đề tài nghiên cứu thường có mục tiêu chung và các mục tiêu cụthể Mục tiêu chung này giống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt đề tài, nó mang tínhchủ đạo Mục tiêu cụ thể sẽ chi tiết các nội dung về mục tiêu chung
(3) Đặt câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu hay vấn đề nghiên cứu được đặt ra khi có mâu thuẫn giữa lý thuyết vốn tồn tại và thực tế mới phát sinh, phản ánh sự hạn chế
Trang 30của tri thức khoa học hiện có, đặt ra mong muốn, yêu cầu cần hoàn thiện tri thức khoa học đó hoặc phát triển nó ở trình độ cao hơn.
Về cách thức phát hiện vấn đề nghiên cứu có thể tham khảo quan điểm của Vũ Cao Đàm [7; tr.24-25] như sau:
- Nhận dạng những bất đồng tranh luận trong khoa học;
- Nghĩ ngược lại quan niệm thông thường;
- Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thưc tế;
- Lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu;
- Phát hiện mặt mạnh, mặt yếu trong nghiên cứu của đồng nghiệp;
- Những câu hỏi bất chợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào
(4) Đưa ra giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết là những mệnh đề về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên,
xã hội chưa được kiểm chứng hoặc chưa thể kiểm chứng với những lý thuyếtkhoa học hiện có
Theo tác giả Vũ Cao Đàm, giả thuyết nghiên cứu là một “kết luận giảđịnh về bản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa ra để chứng minh hoặc bácbỏ” [6;tr.60]
Giả thuyết nghiên cứu chính là câu trả lời sơ bộ cho câu hỏi nghiên cứuđặt ra trước đó và người nghiên cứu sẽ tiến hành xem xét, phân tích và kiểmchứng nó trong suốt quá trình nghiên cứu của mình để chứng minh giả thuyếtđặt ra là đúng hoặc bắc bỏ nó
Như vậy, giả thuyết nghiên cứu có vai trò rất quan trọng đối với mộtnghiên cứu khoa học Khi một giả thuyết khoa học được chứng minh sẽ là cơ
sở lý luận giúp con người nhận thức sâu hơn về bản chất của sự vật, về thếgiưới khách quan Ngay cả khi giả thuyết nghiên cứu bị bác bỏ, nó cũng có ýnghĩa, giúp người nghiên cứu nói riêng và xã hội nói chung có thêm nhữnghiểu biết, kinh nghiệm trong quá trình nhận thức thế giới
Trang 31Căn cứ vào phân loại nghiên cứu mà người nghiên cứu đưa ra nhữnggiả thuyết nghiên cứu phù hợp: giả thuyết môt tả; giả thuyết giải thích: giảthuyết giải pháp và giả thuyết giải pháp.
Về mặt logic học, giả thuyết nghiên cứu là một phán đoán Có thể hiểu
phán đoán là tìm mối liên hệ giữa các khái niệm Phán đoán có cấu trúc chung là
“S là P”, trong đó S là chủ từ của phán đoán, P là vị từ của phấn đoán.
Về các loại phán đoán có thể sử dụng để viết giả thuyết, ta có thể thamkhảo bảng liệt kê một số loại phán đoán thông dụng [6;tr.62] sau đây:
Bảng 1.1 Một số loại phán đoán thông dụng
Phán đoán liên kết (phép hội) S vừa là P1 vừa là P2
Phán đoán lựa chọn (phép tuyển) S hoặc là P1 hoặc là P2
Phán đoán tương đương S khi và chỉ khi P
(5) Nêu các luận cứ để chứng minh giả thuyết
Muốn chứng minh giả thuyết, người nghiên phải sử dụng các luận cứu làm bằng chứng chứng minh Trong logic, một luận cứ là một cố gắng để thể
Trang 32hiện tính đúng đắn của một khẳng định được gọi là kết luận, dựa trên tínhđúng đắn của một tập hợp các khẳng định được gọi là tiền đề1.
Luận cứ là những phán đoán đã được chứng minh trước khi sử dụng đểchứng minh giải thuyết nghiên cứu Luận cứ là những bằng chứng đưa ra đểchứng minh giả thuyết nghiên cứu Luận cứ được xây dựng từ các thông tinthu được qua đọc tài liệu và quan sát bằng thực nghiệm Luận cứ sẽ trả lời
cho câu hỏi “chứng minh bằng cái gì?” trong nghiên cứu khoa học.
Các luận cứ này có vai trò quan trọng, hoặc là khẳng định giả thuyếtnghiên cứu nêu ra trước đó là đúng hoặc là bác bỏ giả thuyết đã nêu đó
Có hai loại luận cứ được các nhà nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứukhoa học:
- Luận cứ lý thuyết là các luận điểm khoa học đã được chứng minh.
Luận cứ lý thuyết bao gồm các khái niệm, các tiên đề, các định lý, các định luật,các quy luật đã được khoa học chứng minh là đúng
Người nghiên cứu có thể tìm được các luận cứ lý thuyết từ việc khai thác những tài tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học của các đồng nghiệp đi trước
- Luận cứ thực tiễn là các sự kiện được nhà nghiên cứu thu thập từ
trong thực tế bằng cách quan sát, thực nghiệm, phỏng vấn, điều tra hoặc khaithác thông tin từ các nghiên cứu của đồng nghiệp
(6) Lựa chọn phương pháp chứng minh giả thuyết
Phương pháp là cách thức được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổchức luận cứ chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu Phương pháp bao gồmviệc tìm kiếm các luận cứ, chứng minh tính chân xác của các luận cứ và sửdụng (lựa chọn và sắp xếp) các luận cứ đó để chứng minh giả thuyết nghiêncứu được nêu ra trong nghiên cứu khoa học Để làm được việc đó cần phải
trả lời câu hỏi: “Chứng minh bằng cách nào?”
Trang 331.4 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
1.4.1 Khái niệm Kết quả nghiên cứu khoa học
Kết quả nghiên cứu khoa học là những sản phẩm thu được sau một quátrình nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu khoa học được thể hiện trên nhiều hình thức khácnhau: một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học, những giải pháp mớitrong công nghệ, mô hình tổ chức và quản lý, những vật mẫu mới sau quátrình thực nghiệm,
Bản chất của kết quả nghiên cứu khoa học là thông tin Và thông tin đóđược truyền tải qua các vật mang thông tin khác nhau như: các báo cáo khoahọc; bản mô tả quy trình, công thức; băng đĩa ghi âm, ghi hình; vật mẫu
1.4.2 Khái niệm Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
Để hiểu được “Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học” là gì, trước tiênchúng ta cần tìm hiểu về khái niệm “đánh giá” Một số định nghĩa về kháiniệm “đánh giá” như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt (1997), “Đánh giá” được hiểu là: Nhận địnhgiá trị
Đánh giá (Evaluation) là sự xem xét, so sánh về mặt lượng và chất củamột sự vật so với một sự vật khác được chọn làm chuẩn [4;tr.152]
Đánh giá là một sự so sánh, dựa trên một chuẩn mực nào đó, để xemxét một sự vật là tốt hơn hoặc xấu hơn một sự vật được chọn làm chuẩn,trong đó có những chỉ tiêu về chuẩn mực [4;tr.77]
Đánh giá kết quả nghiên cứu là lượng định giá trị của kết quả nghiên
cứu đó
“Giá trị của kết quả nghiên cứu có thể hiểu là mức độ quan trọng trongtính hữu ích về số lượng và chất lượng của những thông tin chứa đựng trongkết quả nghiên cứu đó.” [4;tr.90] Giá trị của kết quả nghiên cứu khoa học bao
Trang 34gồm cả giá trị trong là giá trị của bản thân kết quả nghiên cứu khoa học và giá trịngoài là giá trị xuất hiện khi kết quả nghiên cứu khoa học đó đưa vào áp dụng.
Trong khuôn khổ của luận văn, có thể hiểu việc đánh giá kết quảnghiên cứu khoa học thực hiện ngay sau khi quá trình nghiên cứu kết thúc vànhư vậy chỉ đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ở giá trị trong của nó
1.4.3 Mục đích đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học nhằm một số mục đích sau:
- Làm cơ sở để đánh giá tầm quan trọng của kết quả nghiên cứu khoa học đó trong hệ thống tri thức khoa học
- Là cơ sở để đánh giá năng lực nghiên cứu của cá nhân nghiên cứu, nhóm nghiên cứu
- Là cơ sở để đánh giá hiệu quả đầu tư vào nghiên cứu
- Là cơ sở để trả công cho người nghiên cứu, nhóm nghiên cứu
- Là cơ sở để vinh danh nhà nghiên cứu, nhóm nghiên cứu
- Là cơ sở để đưa ra quyết định có tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu đó hay không và hướng áp dụng kết quả nghiên cứu đó vào thực tiễn
1.4.4 Quan điểm đánh giá
- “Kết quả nghiên cứu khoa học phải được đánh giá trước hết ở những tri thức khoa học mới được chứa đựng trong kết quả” [7;tr.123] Bản chất của
nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá những điều chưa biết để làm phong phúthêm nhận thức của nhân loại về thế giới khách quan và sáng tạo ra những giảipháp phục vụ cho đời sống và sản xuất Chính vì vậy, giá trị của một kết quảnghiên cứu trước tiên được thể hiện ở những cái mới về thông tin chứa đựngtrong kết quả nghiên cứu đó Đây cũng chính là đặc điểm cơ bản của hoạt độngnghiên cứu khoa học
Trang 35Đồng thời, không thể dựa trên số lượng trang viết báo cáo hay số „bít”thông tin, cũng không thể hoàn toàn dựa vào số lần trích dẫn để đánh giá tínhmới trong tri thức khoa học của một kết quả nghiên cứu.
- Không nhất thiết lấy tiêu chuẩn “ đã được áp dụng” để đánh giá kết
quả nghiên cứu “Đánh giá kết quả nghiên cứu không thể đánh giá bằng việc nó
có được áp dụng ngay sau khi kết thúc đề tài hay không, nhất là trong nghiên cứu
cơ bản”[7;tr.124] Việc đánh giá chất lượng của một kết quả nghiên cứu khoa học
không thể dựa trên một tiêu chuẩn cứng là kết quả nghiên cứu đó có được ápdụng ngay sau khi kết thúc nghiên cứu hay không Điều này lại thực sự khó khănđối với nghiên cứu cơ bản Bởi có những kết quả nghiên cứu chưa được áp dụngngay ở thời điểm hiện lại, nhưng trong tương lai lại có thể có giá trị rất quantrọng trong hệ thống tri thức Một đề tài có giá trị khoa học lớn chưa chắc đã làmột đề tài được áp dụng ngay và mang lại giá trị kinh tế cao Đây cũng là mộtđặc điểm cơ bản nữa của hoạt động nghiên cứu khoa học, đó là “tính trễ” như đãphân tích ở phần (1.2) đặc điểm của nghiên cứu khoa học
- Không đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên “cấp bậc hành
chính” của nghiên cứu khoa học đó “Dựa theo cấp bậc hành chính để đánh giá giá trị khoa học” là một dạng lệch chuẩn trong đánh giá nghiên cứu khoa học2.Đây là một quan điểm rất đúng đắn trong đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học.Quan điểm này giúp loại bỏ tư tưởng “hành chính hóa” nghiên cứu khoa học, dễdẫn đến những sai lầm “méo mó” trong cộng đồng khoa học
- Việc đánh giá một kết quả nghiên cứu khoa học chỉ dừng ở việc xemxét chất lượng của bản thân kết quả nghiên cứu khoa học đó chứ chưa xem xétđến hiệu quả sau khi áp dụng của kết quả nghiên cứu khoa học đó
2 Vũ Cao Đàm (2011) Đánh giá nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, tr.108
27
Trang 36Từ trước đến nay, đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học là một côngviệc rất khó khăn Mặc dù các nhà nghiên cứu vẫn luôn nỗ lực trong việcnghiên cứu và xây dựng những phương pháp đánh giá nhưng việc đánh giákết quả nghiên cứu khoa học vẫn rất khó định lượng mà phần lớn vẫn mangtính định tính Do đó, công việc đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học phụthuộc rất nhiều vào người đánh giá và rất cần ở họ không chỉ trình độ chuyênmôn cao mà còn cần một tâm thế khách quan, công bằng và trung thực trongkhi đánh giá.
1.4.6 Các phương pháp tiếp cận đánh giá kết quả
Trong tác phẩm “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”, PGS VũCao Đàm đã trình bày rõ về phương pháp tiếp cận đánh giá kết quả nghiêncứu là tiếp cận phân tích và tiếp cận tổng hợp, tác giả xin được liệt kê lại nhưsau:
1.4.3.1 Tiếp cận phân tích
Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học theo cấu trúc logic của nghiêncứu:
(1) Sự kiện khoa học
Trang 37Sự kiện khoa học là một sự kiện chứa đựng mâu thuẫn giữa lý thuyếtkhoa học đang tồn tại với thực tế mới phát sinh, là sự kiện được quan tâm vềmặt khoa học, là cơ sở cho việc lựa chọn một chủ đề nghiên cứu Sự kiện cóthực sự mang tính khoa học hay không, có mang một giá trị khoa học haykhông là yếu tố rất quan trọng quyết định chất lượng của nghiên cứu.
(2) Vấn đề nghiên cứu
Vấn đề khoa học là câu hỏi đặt ra liên quan đến sự kiện khoa học, hơnnữa là câu hỏi buộc người nghiên cứu phải trả lời trong nghiên cứu khoa học,
là yếu tố quyết định ý nghĩa của toàn bộ công trình nghiên cứu, là cơ sở để đặt
ra các giả thuyết khoa học
(3) Luận điểm khoa học
Luận điểm khoa học là kết quả chứng minh giả thuyết khoa học của tácgiả, là câu trả lời của các tác giả vào vấn đề khoa học được đặt ra ở trên
Luận điểm khoa học là yếu tố cốt lõi nhất nói lên giá trị tri thức củacông trình, là phần đóng góp trí tuệ quyết định nhất để đặt tác giả vào vị tríriêng biệt trong khoa học
Luận cứ là kết quả nghiên cứu, là bằng chứng để chứng minh luậnđiểm Luận cứu gồm hai loại: những lý thuyết được trích dẫn để chứng minhluận điểm; và kết quả quan sát hoặc thực nghiệm được trích dẫn của ngườikhác, hoặc do chính tác giả thực hiện để chứng minh luận điểm
(5) Phương pháp chứng minh luận điểm Phương pháp chứng minh luận điểm bao gồm:
- Phương pháp tiếp cận để tìm kiếm luận cứ (lịch sử/logic; phân
tích/tổng hợp; cá biệt/sánh; hệ thống/cấu trúc;…);
- Phương pháp suy luận để chứng minh luân cứ (diễn dịch/quy nạp/loại
suy);
Trang 38- Phương pháp thu thập thông tin để xây dựng luận cứ Có 4 phương
pháp thu thập thông tin:
+ Nghiên cứu và tổng kết tài liệu;
+ Quan sát trực tiếp, quan sát bằng các phương tiện ghi âm, ghi hình; phỏng vấn, phỏng vấn sâu, điều tra dùng bảng hỏi;
+ Thực nghiệm;
+ Trắc nghiệm (trong nghiên cứu kỹ thuật được gọi là thử nghiệm Trên đây là 5 bộ phận trong cấu trúc logic của một đề tài nghiên cứu.Mỗi yếu tố có một vai trò, chức năng riêng trong quá trình nghiên cứu nhưnglại có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Yếu tố này là tiền đề cho yếu tố sau,
và yếu tố sau tiếp tục quay trở lại giải quyết yếu tố trước nó Chính vì vậy màmột kết quả nghiên cứu sẽ mất đi giá trị khoa học của nó nếu thiếu một bộphận nào đó cấu thành nên câu trúc logic này Tất cả 5 bộ phân trên phải logic
và thống nhất với nhau trong việc thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Chỉ báo đánh giá theo tiếp cận phân tích:
- Sự kiện khoa học: Có dựa trên quan sát khách quan hay không?
- Vấn đề khoa học: Có thực sự bức thiết hay và có tồn tại mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực tế hay không?
- Giả thuyết: Có dẫn đến một luận điểm khoa học mới mẻ hay không?
Có ăn cắp của đồng nghiệp hay không?
- Luận cứ: Có thực sự khách quan và đủ chứng minh giả thuyết haykhông? Có ăn cắp của đồng nghiệp hay không? Cần lưu ý rằng, trong trườnghợp sử dụng kết quả của đồng nghiệp mà ghi đầy đủ trích dẫn, xuất xứ thìkhông bị xem là ăn cắp Có gian lận trong luận cứ hay không, tức là có bịa đặthoặc nhào nặn số liệu hay không?
- Phương pháp: Các phương pháp sử dụng có đủ đảm bảo cho luận cứ đáng tin cậy hay không?
Trang 39Về chỉ báo cụ thể, có thể chỉ đưa ra câu trả lời có hoặc không, songcũng có thể tìm cách đánh giá tầm quan trọng bằng cách cho điểm để phânloại, ví dụ cho điểm tăng dần 0,1,2,3,4,5 để đánh giá.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng , cách tính điểm này vẫn mang nặng tínhchủ quan của người đương thời, bởi vì một thành tựu khoa học thườngkhông đánh giá được hết giá trị trong thời đại mà nó ra đời
1.4.3.2 Tiếp cận tổng hợp
(1) Tiếp cận tổng hợp trong đánh giá kết quả thành công
Một số chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá:
Đây là 3 chỉ tiêu quan trọng nhất khi xem xét tính mới Một kết quảnghiên cứu vẫn được xem là mới khi tác giả vẫn sử dụng những luận cứ cũcủa các tác giả khác, nhưng đề chứng minh cho một luận điểm mới của mình
+ Luận cứ đã được chứng minh là đủ tin cậy hay không?
+ Phương pháp có đảm bảo rằng những luận cứ đưa ra là đúng đắn về mặt khoa học hay không?
Liệu kết quả thu được có đủ đảm bảo lặp lại thành công đúng như kết quả đã công bố hay không, hay chỉ thu được ngẫu nhiên
- Tính khách quan
Tính khách quan được kiểm tra bởi:
Trang 40+ Luận cứ có được tạo lập một cách đáng tin cậy hay hay không?
+ Các phương pháp tác giả đưa ra có đủ đảm bảo cho tính khách quan của các luận cứ hay không?
- Tính trung thực:
Tính trung thực được kiểm tra bởi:
+ Tính đúng đắn trong các việc trích dẫn các luân cứ lý thuyết, hoặc có
sự cắt xén, hoặc bóp méo, hoặc là bỏ qua trích dẫn
+ Tính đúng đắn của các luận cứ thực tiễn, đó là tính trung thực trongkhi công bố các kết quả quan sát và thực nghiệm, nhất là kiểm tra xem có sự gianlận trong kết quả hay không
+ Tính đúng đắn trong các phép suy luận được sử dụng trong nghiên cứu
(2) Tiếp cận tổng hợp trong đánh giá những kết quả thất bại
Một kết quả nghiên cứu được xem là thất bại trong các trường hợp sau: - Tác giả không chứng minh được giả thuyết của mình là đúng
- Giả thuyết của tác giả bị chính tác giả đánh đổ hoặc bị các đồng
nghiệp đánh đổ
- Có một số lý do (khách quan hoặc chủ quan) khiến đề tài không thể triển khai được
- Trong nghiênc cứu khoa học, thất bại cũng là một kết quả Cái đó
thuộc về tính rủi ro của nghiên cứu khoa học.
Khi kết luận một kết quả nghiên cứu là thất bại, cần phải là rõ các yếu
tố sau:
- Do thiếu thông tin;
- Do phương pháp không thích hợp;
- Do phương pháp sai;
- Do thiếu phương tiện kỹ thuật;
- Do trình độ của phương tiện kỹ thuật không đủ đáp ứng nhu cầu
nghiên cứu;