1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hành vi sexting ở học sinh trung học cơ sở, sinh viên đại học và những yếu tố ảnh hưởng

147 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 297,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi nghiên cứu Công trình nghiên cứu này sẽ giúp trả lời một số câu hỏi cụ thể như sau:+ Thái độ của HS, SV về sexting, các tiêu chuẩn của HS, SV về sexting, đặcđiểm lòng tự trọng, d

Trang 1

`ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5 Câu hỏi nghiên cứu

6 Giả thuyết khoa học

7 Phương pháp, công cụ nghiên cứu

8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu:

9 Cấu trúc của luận văn

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1.Khái niệm hành vi

1.1.2 Khái niệm sexting và hành vi sexting

1.1.3 Khái niệm thái độ

1.1.4 Khái niệm chuẩn mực

1.1.5 Khái niệm lòng tự trọng

1.1.6 Khái niệm HS THCS

1.1.7 Khái niệm SV

1.2 Điểm luận những công trình nghiên cứu đi trước về sexting trên thế giới .

1.2.1 Tần xuất và các biến nhân khẩu học ảnh hưởng

1.2.2 Những yếu tố nguy cơ

1.2.3 Ẩn họa với sức khỏe tâm thần

1.2.4 Thái độ với sexting

1.2.5 Nhận thức về hậu quả

1

Trang 4

1.2.6 Động cơ sexting 38

1.2.7 Sexting và sự gắn bó 39

1.3 Vấn đề sexting tại Việt Nam 39

Tiểu kết chương I 40

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 41

2.1.1.Một số đặc điểm về quận Đống Đa 41

2.12 Một số đặc điểm về quận Long Biên 42

2.1.3 Vài nét về đặc điểm SV trường đại học Mỹ Thuật Việt Nam 43

2.1.4 Vài nét về đặc điểm SV trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội và trường đại học dân lập Thăng Long 44

2.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Tổ chức nghiên cứu 45

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 52

Tiểu kết chương 2 54

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

3.1 Thực trạng thái độ của HS, SV về sexting, các tiêu chuẩn của HS, SV về sexting, đặc điểm lòng tự trọng, dự định và hành vi sexting ở HS, SV. 55

3.1.1 Thực trạng thái độ về sexting 56

3.1.2 Thực trạng về tiêu chuẩn cá nhân của HS, SV về hành vi sexting 60

3.1.3 Thực trạng lòng tự trọng của HS, SV 66

3.1.4 Thực trạng dự định hành vi sexting của HS, SV 68

3.1.5 Thực trạng về hành vi sexting của HS, SV 71

3.2 Sự khác biệt về thái độ, dự định hành vi, hành vi sexting của HS, SV chia theo giới, nhóm tuổi, người yêu, quan hệ tình dục và số bạn tình 78

3.2.1 Sự khác biệt về thái độ, dự định hành vi, hành vi sexting của HS, SV chia theo độ tuổi 78

3.2.2 Sự khác biệt về thái độ, dự định hành vi, hành vi sexting của HS, SV chia theo giới tính. 79

2

Trang 5

3.2.3 Sự khác biệt về thái độ, dự định hành vi, hành vi sexting của HS, SV

theo các mối quan hệ lãng mạn hiện tại 80

3.2.4 Sự khác biệt về thái độ, dự định và hành vi sexting của khách thể nghiên cứu phân chia theo quan hệ tình dục và số lượng bạn tình 82

3.3 Tương quan Pearson giữa các biến số nghiên cứu chính 85

3.4 Yếu tố dự báo sexting trong đời và trong thời gian hiện tại 86

3.5 Tương quan giữa thái độ sexting, tiêu chuẩn cá nhân về sexting, lòng tự trọng, dự định và hành vi sexting ở HS, SV chưa từng thực hiện hành vi sexting 87

3.6 Điều gì dự báo dự định hành vi sexting của HS, SV 88

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 101

3

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là của riêng cá nhân tác giảdưới sự hướng dẫn của TS Trần Thành Nam Các số liệu và kết quả được trình bày

là hoàn toàn trung thực, không có sự sao chép ở bất cứ tài liệu hay công trình nghiêncứu nào

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa từng được sử dụnghoặc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chú thích rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Phú

4

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ quý báu của các thầy, cô giáo; của bạn bè, đồng nghiệp, gia đình

Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến T.S Trần Thành Nam,giảng viên Khoa Các Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN làngười thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi bằng tất cả lòng tâm huyết và trách nhiệm,tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu vừa qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ, giảng viên Khoa Tâm lýhọc - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN đã tạo điều kiện thuận lợicho tôi trong suốt quá trình học tập tại đây; đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc tiếpcận, thu thập các tài liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, đồng nghiệp đãtạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thời gian chuyên tâm vào nghiên cứu vàhoàn thành luận văn này

Tuy đã dành nhiều thời gian và tâm huyết cho công trình nghiên cứu này,song tự nhận thấy với vốn kiến thức và kỹ năng còn hạn hẹp nên chắc chắn luận văncủa tôi còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và cácbạn để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2015

Tác giả

5

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Bằng chứng về tỉ lệ sexting theo các nhóm tuổi trong các nghiên cứu

được điểm luận 29

Bảng 1.2: Các yếu tố có liên quan đến hành vi sexting theo các nghiên cứu đi trước 33

Bảng 2.1 Câu hỏi nghiên cứu, các biến số và cách thức xử lý số liệu tương ứng 49

Bảng 3.1: ĐTB và ĐLC các thang đo thành phần trên tổng mẫu và từng nhóm khách thể nghiên cứu. 55

Bảng 3.2: Sự khác biệt giữa các thang đo thành phần của từng nhóm khách thể SV và HS. 56

Bảng 3.3.1: Điểm trung bình và tỷ lệ % các biến số thái độ với hành vi sexting của khách thể. 57

Bảng 3.3.2: Điểm trung bình và tỷ lệ % các biến số thái độ về những người có hành vi sexting 58

Bảng 3.3.3: Điểm trung bình và tỷ lệ % các biến số thái độ về hậu quả của hành vi sexting 59

Bảng 3.4.1: ĐTB và tỷ lệ các biến cho biết mức độ sexting phổ biếntrong HS - SV nói chung 61

Bảng 3.4.2: ĐTB và tần suất các biến cho biết mức sexting phổ biến trong nhóm bạn bè 62

Bảng 3.4.3: ĐTB và tỷ lệ các biến cho biết mong muốn của cá nhân khi quan hệ với những người từng sexting 65

Bảng 3.5: ĐTB và tần suất các biến cho biết đặc điểm lòng tự trọng 66

Bảng 3.6.1: ĐTB và tỷ lệ các biến cho biết dự định hành vi trong cuộc đời 68

Bảng 3.6.2: ĐTB và tỷ lệ các biến cho biết động lực thúc đẩy dự định hành vi ở thời điểm hiện tại 69

Bảng 3.7.1: Tỷ lệ các biến cho biết mức độ phổ biến của hành vi sexting 72

Bảng 3.7.2: Tỷ lệ các biến cho biết đối tượng nhận sexting 75

Bảng 3.7.3: Tỷ lệ các biến cho biết lý do thực hiện hành vi sexting 76

7

Trang 10

Bảng 3.8: Phân tích phương sai ANOVA về sự khác biệt giữa các nhóm tuổi của

HS, SV đến thái độ, dự định hành vi và hành vi sexting 78Bảng 3.9: Kiểm định independent - t - test về sự khác biệt giới đến thái độ, dự địnhhành vi sexting và hành vi sexting của HS, SV 79Bảng 3.10.1: Kiểm định independent - t - test về sự khác biệt giữa giữa mối quan hệlãng mạn đến thái độ, dự định hành vi, hành vi sexting 813.10.2: ĐTB trung của 2 nhóm phân theo mối quan hệ lãng mạn 81Bảng 3.11.1: Kiểm định independent - t - test về sự khác biệt giữa mối quan hệ tìnhdục đến thái độ, dự định hành vi, hành vi sexting 82Bảng 3.11.2: ĐTB của 2 nhóm phân theo mối quan hệ tình dục 83Bảng 3.12.1: Kiểm định independent-t-test sự khác biệt giữa số lượng bạn tình đếnthái độ, dự định hành vi, hành vi sexting 83Bảng 3.12.2: ĐTB của 2 nhóm phân theo số lượng bạn tình 84Bảng 3.13: Tương quan Pearson giữa các biến số nghiên cứu chính 85Bảng 3.14: Mô hình hồi quy dự báo hành vi sexting trong đời và trong thời điểmhiện tại (30 ngày qua) 86Bảng 3.15 Tương quan giữa thái độ sexting, tiêu chuẩn cá nhân về sexting, lòng tự trọng, dựđịnh hành vi sexting ở nhóm HS, SV chưa từng sexting. 87Bảng 3.16: Dự báo dự định hành vi sexting 88

8

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Hiện nay, các phương tiện chát qua mạng như YM, MSN hoặc các phầnmềm OTT sử dụng trên điện thoại như Viber, Line, Kakao, Zalo, Whatapps,facebook đang trở thành phương tiện giao tiếp không thể thiếu đối với giới trẻ.Những phương tiện này với nhiều tiện ích như kết nối mọi lúc mọi nơi, có tính giảitrí cao, không tốn tiền…đã thu hút giới trẻ, giúp các em xây dựng, duy trì các mốiquan hệ, tổ chức các sự kiện và chia sẻ những trải nghiệm với bạn bè Từ đây bắtđầu hình thành nên trào lưu gửi tin nhắn qua các phương tiện tiện ích này thay vìgặp trực tiếp hoặc gọi điện nói chuyện Và mặc dù các bạn trẻ vẫn gặp nhau hàngngày ở trường, nhu cầu gửi tin nhắn cho nhau vẫn rất lớn, thậm chí cả khi đangcùng ngồi trong lớp học các bạn trẻ vẫn nhắn tín để nói chuyện riêng với nhau Đặcđiểm của việc gửi tin nhắn là phá vỡ khoảng cách về không gian, giúp thông tin đếnđúng địa chỉ người nhận và bảo đảm tính riêng tư (với những người không liênquan) Do đó khi nhắn tin, các bạn trẻ không ngại gửi cho nhau những tin nhắn cónội dung nhạy cảm, những hình ảnh gợi cảm, thậm chí là những hình ảnh khoenhững bộ phận nhạy cảm trên cơ thể Trên thế giới, việc gửi những tin nhắn có nộidung về giới tính nhạy cảm, gửi hình ảnh khoe thân được gọi tắt là sexting

Sexting là một thuật ngữ mới được sáng tạo từ từ ghép ―sex‖ và ―texting‖

Chính vì vậy sexting mang ý nghĩa là hành vi gửi, nhận hoặc chuyển tiếp những tin nhắn có nội dung gợi cảm như: ảnh khỏa thân, bán khỏa thân và các tư thế bất nhã khác của bản thân người gửi hoặc của một ai đó qua các thiết bị điện tử mà chủ yếu

là điện thoại Theo ngôn ngữ của giới trẻ bây giờ, những hình ảnh này được gọi

chung là ―ảnh nóng‖ Xuyên suốt trong đề tài này, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ

―sexting‖ với nghĩa ―gửi, nhận, chuyển tiếp, chia sẻ tin nhắn chữ, hình ảnh hoặcclip/phim có nội dung bất nhã‖

Tại Việt Nam, việc sử dụng điện thoại ở HS từ cấp THCS đã trở nên rất phổbiến nhưng lại thiếu sự kiểm soát từ phía người lớn Phần lớn phụ huynh đều chophép con mình sử dụng điện thoại di động với những lý do như: Để quản lý con tốthơn; Để khuyến khích khi con đạt kết quả học tập tốt; Vì chiều theo mong muốn

9

Trang 12

của con… Với nhiều tính năng tiện ích và giá thành hợp lý (chỉ từ 3 triệu trở lên)nên dòng điện thoại thông minh (hay còn gọi là smart phone) là sự lựa chọn củanhiều phụ huynh, HS và SV Tuy nhiên sau khi mua điện thoại cho con nhiều bậcphụ huynh không quan tâm, không quản lý việc con sử dụng điện thoại như thế nào,vào mục đích gì Đối với SV bậc đại học, điện thoại di động trở thành một vật ―bất

lý thân‖ và việc phụ huynh quản lý việc sử dụng điện thoại của con em họ là khôngthể bởi lúc này đa số các em sống tự lập xa nhà

Từ thực tế sử dụng internet và mạng xã hội không bị kiểm soát, cộng thêmđặc điểm sinh lý là tuổi dậy thì ngày càng sớm (hiện nay các trẻ em gái thườngbước vào giai đoạn dậy thì năm 11 - 12 tuổi, trẻ em nam có thể muộn hơn 1-2 năm),nên tình bạn khác giới, tình yêu và những ham muốn giới tính là những đặc điểmlứa tuổi phổ biến Cũng chính vì vậy việc các em có trao đổi, gửi, nhận, phát tánnhững tấm hình nhạy cảm, những tin nhắn có nội dung gợi tình là có thể xảy ra Tuynhiên mức độ phổ biến của những hành vi này như thế nào? Chỉ là hiện tượng hay

đã là một trào lưu ngầm trong giới trẻ? Và khi thực hiện hành vi này các em có hìnhdung được những ẩn họa sau nó?

Cũng từ thực tế đã cho thấy việc nhắn tin, gửi hình ảnh nhạy gợi cảm riêng

tư cho nhau bị phát tán trên mạng một cách vô ý hoặc có chủ ý, tạo thành nhữngscandan trong xã hội Đau lòng hơn là sau những vụ việc như vậy, chủ nhân củanhững tin nhắn, hình ảnh bị phát tán phải nhận những hậu quả nặng nề về mặt sứckhỏe tâm thần như lo âu, sợ hãi, trầm cảm Thậm chí là có ý tưởng tự sát

Về những hệ lụy của hành vi sexting đối với sự phát triển nhân cách và nguy

cơ tổn thương sức khỏe tâm thần, trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu Phầnlớn các nghiên cứu ở Mỹ, Anh và một số nước Tây Âu cho thấy sexting có thể gây

ra nhiều hậu quả tiêu cực như: Nguy cơ bị phát tán những hình ảnh bất nhã này đếnnhững người khác một cách mất kiểm soát; Nguy cơ vướng vào lao lý nếu phát tánhình ảnh đồi trụy hoặc hình ảnh của trẻ nhỏ dưới ngưỡng mà luật pháp cho phép;Nguy cơ tổn thương sức khỏe tâm thần và những nguy cơ xuất hiện các hành vilệch chuẩn khác

10

Trang 13

Đáng tiếc là ở Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiêncứu nào về hành vi sexting nói chung và hành vi sexting ở trẻ vị thành niên, SV nóiriêng mặc dù những hệ lụy của nó như những scandal ảnh nóng đã được truyềnthông đề cập khá nhiều trong những năm gần đây Với mong muốn tìm hiểu khoảngtrống kiến thức về hành vi sexting trên đối tượng HS THCS và SVĐH Việt Nam,

chúng tôi quyết định tiến hành đề tài nghiên cứu: “Hành vi sexting ở học sinh

Trung học cơ sở, sinh viên đại học và những yếu tố ảnh hưởng”.

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi dự kiến chọn mẫu là HS thuộc

4 khối lớp: khối lớp 6, 7, 8, 9 ở cấp THCS và khối SV năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba,thứ 4 của đại học Chúng tôi dự kiến chọn mẫu như vậy vì một số lý do như sau:

- Độ tuổi cấp THCS (từ 12 - 15) là giai đoạn đầu của lứa tuổi vị thành niên,các em đã bắt đầu bước vào độ tuổi dậy thì có tâm sinh lý thay đổi Cùng với hoạtđộng học tập thì nhu cầu về tình bạn khác giới, tình yêu và mong muốn được thểhiện bản thân là những nhu cầu bình thường Do đó ở lứa tuổi này các em có thể đã

có hành vi sexting

- Ở bậc đại học, chúng tôi đo ở SV cả 4 khóa từ năm đầu đến năm cuối Chúngtôi cho rằng đối tượng SV là những người đã đủ tuổi thành niên Ngay từ năm đầu tiênđại học là các em đã bước vào giai đoạn đầu của lứa tuổi trưởng thành

Đặc điểm tâm sinh lý ở lứa tuổi này có nhiều nét khác biệt so với độ tuổi đầu vịthành niên (giai đoạn THCS) Trong giai đoạn này các em bắt đầu bước vào thời kỳlàm chủ bản thân, làm chủ cuộc sống Nhu cầu về tình bạn, tình yêu, tình dục lớnhơn so với lứa tuổi đầu vị thành niên Vì lý do này nên có thể ở SV đại học hành visexting sẽ xuất hiện nhiều

Trong nghiên cứu này chúng tôi bỏ qua không đo đối tượng là HS THPT màchỉ đo HS THCS và tiến tới đo ở SV bậc đại học Mục đích của chúng tôi là muốntìm ra một sự khác biệt giữa hành vi sexting ở hai lứa tuổi khách thể nghiên cứu nếucó; tìm ra tương qua giữa yếu tố độ tuổi, tâm sinh lý với sexting Nếu đo cả lứa tuổiTHPT thì khoảng cách về độ tuối, tâm sinh lý giữa THPT và đại học, nhất là HSkhối 12 và SV năm đầu là quá gần nhau nên nếu đem so sánh, kết quả đạt được cóthể không mang nhiều ý nghĩa

11

Trang 14

+ Kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố thái độ, tiêu chuẩn cá nhân, dự định sexting, hành vi sexting và lòng tự trọng.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để hoàn thành nghiên cứu này, nhiệm vụ đặt ra là tác giả phải giải quyếtđược các vấn đề lý luận về sexting và khảo sát được thực tế hành vi sexting ởkhách thể đã chọn

4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.

4.1 Đối tượng nghiên cứu: (1) Thực trạng hành vi sexting (2) Các yếu tố

ảnh hưởng đến hành vi sexting của HS THCS và SVĐH gồm yếu tố thái độ, tiêuchuẩn cá nhân, dự định sexting, hành vi sexting và lòng tự trọng

4.2 Mẫu khách thể nghiên cứu:

+ 572 HS khối 6,7,8,9 đến từ 3 trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nộilà: THCS Ngọc Thụy, THCS Ái Mộ (Quận Long Biên )và THCS Bế Văn Đàn

(quận Đống Đa)

+ 385 SV năm 1, năm 2, năm 3, năm 4 thuộc 3 trường đại học trên địa bànthành phố Hà Nội là: Đại học dân lập Thăng Long, Đại học Mỹ Thuật Việt Nam,Đại học dân lập Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội

5 Câu hỏi nghiên cứu

Công trình nghiên cứu này sẽ giúp trả lời một số câu hỏi cụ thể như sau:+ Thái độ của HS, SV về sexting, các tiêu chuẩn của HS, SV về sexting, đặcđiểm lòng tự trọng, dự định và hành vi sexting ở HS, SV biểu hiện ra sao?

+ Có sự khác nhau về dự định và hành vi sexting giữa hai giới, các nhóm tuổi, mối quan hệ, số lượng người yêu ở HS, SV hay không?

12

Trang 15

+ Tương quan giữa thái độ sexting, tiêu chuẩn cá nhân về sexting, lòng tựtrọng, dự định và hành vi sexting ở HS, SV có đặc điểm gì?

+ Trong các yếu tố thái độ, chuẩn mực cá nhân về sexting; dự định và hành

vi sexting thì yếu tố nào dự báo hành vi sexting trong đời và trong thời gian hiện tại

+ Với những HS, SV chưa bao giờ sext, tương quan giữa thái độ sexting, tiêuchuẩn cá nhân về sexting, lòng tự trọng, dự định và hành vi sexting ở HS, SV có

đặc điểm gì?

+ Với những HS, SV chưa bao giờ sext, dự định sext có liên quan như thế nào đến thái độ sexting, tiêu chuẩn cá nhân về sexting và lòng tự trọng?

6. Giả thuyết khoa học

Bên cạnh những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra phía trên, dựa tổng quanđiểm luận một số công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi cũng đặt ra một số giảthuyết nghiên cứu như sau:

+ Hành vi sexting ở HS, SV phổ biến hơn mức mọi người biết về nó

+ Dự định sexting và tiêu chuẩn của cá nhân về sexting là yếu tố dự báo hành

vi sexting

+ Những người đang có hành vi sexting thường có thái độ tích cực với nó+ Lòng tự trọng có mối quan hệ nghịch với dự định, hành vi sexting cũng như thái độ về sexting

+ Có sự khác biệt về giới trong việc tham gia sexting, nam tham gia nhiềuhơn nữ

+ Những cá nhân có nhiều người yêu có xu hướng sexting nhiều hơn

+ Phần lớn HS, SV đều nhận ra sexting có thể gây ra những rắc rối

+ HS, SV sexting vì nhiều lý do trong đó các lý do để cho vui, duy trì mối quan hệ chiếm đa số

7. Phương pháp, công cụ nghiên cứu.

Đây là một nghiên cứu lát cắt ngang, được thiết kế dưới dạng nghiên cứukhám phá Khách thể nghiên cứu sẽ tự đánh giá thái độ của mình về sexting, cáctiểu chuẩn cá nhân về sexting, lòng tự trọng, dự định và hành vi sexting qua trả lờibảng hỏi

13

Trang 16

Bộ công cụ nghiên cứu chính với các bảng hỏi tự thiết kế gồm

a. Bảng hỏi thông tin chung: Các thông tin về tuổi, giới, tình trạng tình yêu hiện tại, quan hệ tình dục

b. Bảng hỏi về sexting được thiết kế trên cơ sở tham khảo một số bảnghỏi của các công trình nghiên cứu đi trước, dự kiến gồm các phần nhỏ sau:

(1) Câu hỏi đánh giá thái độ về hành vi sexing, hậu quả của hành vi sexting và thái độ về những người khác có hành vi sexting…(2) Tiêu chuẩn cá nhân về sexting: Các câu hỏi đánh giá mức độ phổbiến của sexting trong lớp học, mức độ phổ biến của sexting trongnhóm bạn bè, mong muốn làm quen với những người sexting…(3) Dự định hành vi sexting: bảng hỏi tự thiết kế về những dự địnhhành vi sexting (với thiết kế thang Likert 6 mức độ) trong thờiđiểm hiện tại (30 ngày qua) và trong cả cuộc đời

(4) Hành vi: Tần suất sexting, tần suất nhận được sexting, những lý docủa hành vi sexting…

c. Bảng hỏi về lòng tự trọng của Rosenberg

(xem cụ thể phần phụ lục)

8. Đóng góp của đề tài nghiên cứu:

+ Kết quả của công trình nghiên cứu sẽ giúp cho nhà giáo dục lên kế hoặc đểgiảm thiểu những hậu quả tiêu cực liên quan đến hành vi sexting cũng như xây dựng phát tiển các chiến lược giao tiếp lành mạnh hơn

+ Kết quả của nghiên cứu cũng sẽ gợi ý thiết kế các chương trình giáo dục vềsexting cho HS và SV (bao gồm những kiến thức về pháp luật liên quan đến truyền

bá văn hóa phẩm đồi trụy, bắt nạt và xâm hại tình dục qua mạng, hậu quả tiềm năngcủa hành vi sexting và những kỹ năng cần thiết để không tham gia hành vi sexting)

+ Kết quả nghiên cứu cung cấp tỷ lệ và tần xuất hành vi sexting cũng nhưnhững yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sẽ gợi ý xây dựng và phát triển các chiến lượctuyên truyền, phòng ngừa cho HS, SV trong tương lai

14

Trang 17

9 Cấu trúc của luận văn.

Luận văn dự kiến gồm: Phần mở đầu, phần nội dung nghiên cứu, phần kết luận

và khuyến nghị, phần tài liệu tham khảo và phụ lục

Phần một - Mở đầu: Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

Phần hai - Nội dung nghiên cứu chính.

Chương 1 - Cơ sở lý luận: trình bày các khái niệm công cụ, điểm luận

các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan

Chương 2 -Tổ chức và phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình

tổ chức và các bước tiến hành nghiên cứu, đặc điểm khách thể và địa bànnghiên cứu, phương pháp và cấu trúc công cụ nghiên cứu

Chương 3- Kết quả nghiên cứu.

Kết luận và khuyến nghị

15

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày một số khái niệm công cụ liên quantrực tiếp đến đề tài nghiên cứu gồm: khái niệm hành vi; khái niệm sexting, kháiniệm dự định và hành vi sexting; khái niệm thái độ, khái niệm chuẩn mực, kháiniệm lòng tự trọng, khái niệm HS THCS, khái niệm SV Đại học Bên cạnh đó, trongphần này cũng sẽ trình bày những kết quả nghiên cứu đi trước về sexting tập trungvào tỷ lệ sexting, nhóm tuổi sexting, ảnh hưởng của các biến nhân khẩu học đếnhành vi sexting, những yếu tố nguy cơ sexting, thái độ với hành vi sexting, nhậnthức về hậu quả của hành vi sexting, động cơ sexting…

1.1 Một số khái niệm công cụ:

1.1.1.Khái niệm hành vi

Theo ―Từ điển Tiếng Việt‖ do tác giả Hoàng Phê chủ biên Hành vi đượcđịnh nghĩa: ―Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bênngoài của một người trong hoàn cảnh nhất định‖[11]

Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xác định:―Hành vi là toàn bộnói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trongmột hoàn cảnh cụ thể nhất định‖[5]

Bên cạnh các cách định nghĩa phổ thông, các nhà nghiên cứu tâm lý cũngđưa ra các định nghĩa khoa học về hành vi Ví dụ như tác giả Nguyễn Khắc Viện đãđịnh nghĩa hành vi là các hoạt động cụ thể, những phản ứng của con người hayđộng vật khi bị một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích với mục đích là thíchnghi với môi trường Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng hành vi là những biểu hiệnbên ngoài của hoạt động xã hội và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích củamột cá nhân Còn theo Vũ Dũng thì hành vi được định nghĩa là: (1) Sự tương tácvới môi trường có ở động vật và loài người, trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vậnđộng) và bên trong (tâm lý) của chúng; (2) Tính tích cực có định hướng của cơ thểsống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên ngoài[1] Thuật ngữ được ứngdụng đối với các con vật, các cá thể nhất định cũng như với tổng thể của chúng(hành vi của loài sinh vật, nhóm xã hội)

16

Trang 19

Trên thế giới, những thực nghiệm khoa học đầu tiên về hành vi xuất hiện trên

cơ sở quyết định luận cơ học, trong các phạm trù của nó, hành vi được luận giảitheo kiểu tương tác vật lý giữa các vật thể Thuyết tiến hoá trong sinh vật học(Darwin) cho phép giải thích tính hợp lý của hành vi động vật, kích thích khai tháccác phương pháp khách quan để nghiên cứu hành vi trong sự thống nhất các biểuhiện bên trong và bên ngoài của nó Trên cơ sở quyết định luận sinh học có họcthuyết về hoạt động thần kinh cấp cao của động vật, được Pavlop (14/9/1849 – 27/

2 /1936, hà sinh lý học, tâm lý học người Nga) coi là đồng nghĩa với hành vi.Thuyết hành vi đối lập hành vi với ý thức, cho rằng đối tượng của tâm lý học chỉ cóthể là hành vi, và được coi là tổng hợp các phản ứng vận động đối với các kíchthích bên ngoài Tiếp theo đó, các nhà hành vi học mới (bao gồm các tác giảE.C.Tolman, K.L.Hull, B.F.Skinner) đưa vào mô hình này một số thay đổi Cụ thểhành vi có công thức như sau:

S→M→R

+ S là kích thích: gây nên sự hoạt động và làm thúc đẩy hoạt động của conngười Hiệu quả của kích thích tạo nên phụ thuộc vào: loại tác nhân kích thích,cường độ kích thích, tần suất kích thíc và thời điểm chịu kích thích cơ thể có nhucầu gì

+ M là yếu tố trung gian: bao hàm ý thức ( nhận thức, tình cảm , thái độ ) Ýthức của các cá nhân quyết định phản ứng đáp lại của cơ thể Ý thức của mỗi ngườikhông giống nhau, nên cùng một kích thích tác động, các cá nhân có cách xử lýkhác nhau, do đó dẫn đến phản ứng đáp lại cũng khác nhau

+ R là phản ứng trả lời

Theo Rubinstein X.L, nhà tâm lý học hoạt động thì hành vi là hình thức đặc biệtcủa hoạt động: nó trở thành hành vi khi động cơ hành động từ kế hoạch đối tượngchuyển sang kế hoạch quan hệ nhân cách xã hội (hai kế hoạch này không tách rời nhau:quan hệ nhân cách xã hội được hiện thực hoá ở quan hệ đối tượng) Hành

vi người có tiền đề tự nhiên, nhưng trên cơ sở được chế định bởi xã hội, gián tiếpbởi ngôn ngữ và các hệ thống dấu hiệu - ngữ nghĩa khác, mà hình thức đặc trưngcủa chúng là lao động, còn thuộc tính là giao tiếp

17

Trang 20

Hành vi đặc thù của cá nhân phụ thuộc vào tính chất mối quan hệ qua lại vớinhóm mà anh ta là thành viên, vào chuẩn mực nhóm, vào định hướng giá trị và sự

ấn định vai Tính không thích hợp của hành vi (được thể hiện một phần ở chỗ nhâncách đánh giá quá cao các khả năng của mình, tách rời ngôn ngữ và thực tiễn, làmsuy giảm tính phê phán khi kiểm soát việc hiện thực hoá các chương trình hành vi)thể hiện một cách tiêu cực trong các mối quan hệ liên nhân cách Cái quan trọngtrong hành vi là mối liên hệ với các chuẩn mực đạo đức Hành vi được nghiên cứukhông chỉ trong tâm lý học mà còn ở các ngành khác như sinh học, khoa học xã hội

và một số khía cạnh của điều khiển học

Như vậy cho đến nay khái niệm hành vi vẫn chưa có được sự thống nhất domỗi tác giả khi nghiên cứu và đưa ra khái niệm dựa trên những góc độ khác nhau

Có những quan niệm cho rằng hành vi là tất cả mọi phản ứng của con người, baogồm cả phản ứng vô thức và có ý thức Ngược lại, có quan niệm lại cho rằng hành

vi chỉ bao gồm các phản ứng có ý thức, được ý thức điều khiển Có ý kiến khẳngđịnh hành vi là hoạt động nhưng có ý kiến lại cho rằng hành vi chỉ là một bộ phậncấu thành hoạt động

Trên cơ sở quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi mạnh dạn

đưa ra quan điểm cá nhân về định nghĩa hành vi như sau: Hành vi là hành động, cử chỉ, lời nói của con người trong một tình huống cụ thể.

Còn dự định hay ý định (hành vi) được quan niệm là sự định hướng của ý thức,

tư duy lên một đối tượng nào đó, là mặt tiềm ẩn bên trong của hành vi con người

1.1.2 Khái niệm sexting và hành vi sexting

Sexting là một thuật ngữ mới được sáng tạo từ từ ghép ―sex‖ và ―texting‖.Chính vì vậy sexting mang ý nghĩa là hành vi gửi, nhận hoặc chuyển tiếp những tinnhắn có nội dung gợi cảm như: tin nhắn tục tĩu, ảnh khỏa thân, bán khỏa thân vàcác tư thế bất nhã khác của bản thân người gửi hoặc của một ai đó qua các thiết bịđiện tử mà chủ yếu là điện thoại Theo ngôn ngữ của giới trẻ bây giờ, những hìnhảnh này được gọi chung là ―ảnh nóng‖ Xuyên suốt trong đề tài này, chúng tôi sẽ

sử dụng thuật ngữ ―sexting‖ với nghĩa ―gửi, nhận, chuyển tiếp, chia sẻ tin nhắnchữ, hình ảnh hoặc phim có nội dung bất nhã‖[48],

18

Trang 21

Sexting là từ mới xuất hiện ở Việt Nam, bản thân nó lại không phải là một từthuần việt hay hán việt mà là từ ghép của 2 từ tiếng anh Do đó có hạn chế là nhữngngười không biết ngoại ngữ có thể không hiểu ngữ nghĩa vốn có của từ mà chỉ hiểu

ý nghĩa của nó sau khi đã được diễn giải là hành vi gửi, nhận hoặc chuyển tiếpnhững tin nhắn có nội dung gợi cảm như: ảnh khỏa thân, bán khỏa thân và các tưthế bất nhã khác của bản thân người gửi hoặc của một ai đó qua các thiết bị điện tử

mà chủ yếu là điện thoại Dù biết rõ có hạn chế như vậy nhưng trong khuôn khổluận văn này, ở tên đề tài chúng tôi đã giữ nguyên từ sexting mà không Việt hóa bởicác lý do:

Thứ nhất, để tìm từ hán việt hoặc thuần việt thay thế từ sexting thì từ đó phảiđảm bảo mang ý nghĩa khái quát nhất, bao hàm đủ tất cả các ý nghĩa của từ sextingnhưng vẫn phải đảm bảo tính dễ hiểu, ngắn gọn, súc tích của từ tiếng việt Trongquá trình tìm kiếm chúng tôi chưa thể tìm được một từ hán việt hoặc thuần việt nào

có thể thay thế hợp lý cho từ sexting

Thứ hai sexting (được ghép từ hai từ đơn là sex và texting) là một từ mớinhưng trên thực tế thì từ sex, một bộ phận cấu thành từ sexting đã phổ biến tại ViệtNam từ nhiều thập kỷ nay Từ các phương tiện truyền thông cho đến trong đời sốngthực người ta vẫn dùng từ sex để chỉ nhiều vấn đề về giới tính, tình dục, gợi cảm.Thậm chí thay vì dùng từ gợi cảm, quyến rũ để nói về sức hấp dẫn giới tính của một

cá nhân thì mọi người đã dùng từ sexy Ở Việt Nam từ sexting chỉ mới được biếtđến vài năm nhưng trên thế giới đây là một từ phổ biến, được giới truyền thông và

xã hội chấp nhận Vì vậy chúng ta cũng nên chấp nhận từ sexting theo xu hướngchung này

Thứ ba, trong ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay đã chấp nhận sử dụng rất nhiều từnguyên bản từ nước ngoài khác Có thể kể ra đây một số từ như Website, Face book,Handmade Từ các văn bản mang tính pháp lý, các công trình nghiên cứu cho đến đờisống xã hội hiện nay không còn ai dùng từ trang thông tin điện tử mà thay vào đó là từwebsite; không ai dùng câu ―trang mạng xã hội để trao đổi, kết nối thông tin, đăng tải,chia sẻ thông tin cá nhân…‖ mà thay bằng từ Face book Sex được dùng thay thế để chỉquan hệ tình dục Handmade được dùng để chỉ các đồ vật

19

Trang 22

được làm thủ công hoàn toàn bằng tay (trong tiếng anh Hand có nghĩa là tay, Made

có nghĩa là sản xuất, xuất xứ nên Handmade được hiểu là những gì được làm từ đôitay) Ngoài ra từ nhiều năm nay người Việt đã dùng nhiều từ lai khác, dần dần chấpnhận nó như một phần của ngôn ngữ tiếng Việt như việc gọi chiếc xe hai bánh cógắn máy, có thể chạy được bằng xăng mà không tốn sức người là xe mô-tô; gọi bảnsắp chữ ở nhà in để in là sửa mo - rát (từ gốc tiếng pháp là morasse), gọi người đọcbản thảo soát lỗi chính tả là người đọc mo - rát; gọi chiếc vành làm bằng kim loại,hình cong ôm theo vòng tròn của chiếc lốp có nhiệm vụ chắn bùn xe đạp là gác - đờ

- bu (từ gốc là Garde boue)… Những từ lai này đã được in trong từ điển tiếng Việt như một phần không thể thiếu của tiếng Việt

Dẫn chứng như vậy để khẳng định rằng Việt Nam đã chấp nhận rất nhiều từkhông thuần Việt Sexting là một từ mới nên chưa trở thành thông dụng ở Việt Nam,nhưng hành vi sexting trong giới trẻ Việt Nam là có Chúng tôi tin rằng với xu hướnghội nhập như hiện nay từ sexting sẽ nhanh chóng được phổ biến và chấp nhận

Từ khái niệm hành vi và sexting đã trình bày, chúng tôi đưa ra khái niệm

hành vi sexting như sau ―Hành vi sexting là việc các cá nhân thực hiện hành động gửi, nhận, đăng tải, chuyển tiếp, chia sẻ tin nhắn chữ, hình ảnh hoặc phim có nội dung bất nhã đến một đối tượng nào đó‖.

Với khái niệm này, người được coi là có hành vi sexting khi họ thực hiệnnhững điều sau sau: (1) Nhắn tin nhắn chữ có nội dung gợi cảm, chụp ảnh, quay clip để

lộ những vùng nhạy cảm, những hành động nhạy cảm của bản thân hoặc một người rồigửi cho một đối tượng (thường là đối tác tình cảm) hoặc đưa lên các trang cá nhân củamạng xã hội như fabook, zalo, yahoo hoặc các trang web như youtube…; (2) Nhậnhình ảnh, clip nhạy cảm của bạn bè, đối tác tình cảm; (3) Chuyển tiếp những hình ảnh,đoạn clip nhạy cảm của bạn bè hoặc ai đó mà bản thân biết cho người khác hoặc lêninternet; (4) Tải xuống từ internet những hình ảnh, đoạn phim nhạy cảm, lưu giữ nó rồichuyển tiếp cho nhiều người khác Những quan điểm này sẽ được cụ thể hóa khi thiết

kế bộ công cụ điều tra về hành vi sexting

1.1.3 Khái niệm thái độ

Định nghĩa về thái độ được hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I Thomas vàF.Znaniecki đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918 Hai nhà tâm lý học này cho

20

Trang 23

rằng: ―Thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân có hành động hay không hànhđộng khác mà được xã hội chấp nhận‖ và ―Thái độ là trạng thái tinh thần của cánhân đối với một giá trị‖[25] Như vậy, W.I Thomas và F Znaniecki đã đồng nhấtthái độ với định hướng giá trị của cá nhân.

Thái độ theo Allport quan niệm là ‗trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần vàthần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, sử dụng sự điều chỉnh hoặc ảnhhưởng năng động trong phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tìnhhuống mà nó (phản ứng) có mối liên hệ‘[25] Với quan điểm này, Allport đã chỉ rathái độ là gì, nguồn gốc, chức năng của thái độ, cho nên đây là định nghĩa đượcnhiều nhà tâm lý học ủng hộ Tuy nhiên chúng tôi cho rằng quan niệm của Allportcòn hạn chế nhất định khi cho rằng thái độ phụ thuộc vào kinh nghiệm, sự nhiều hay

ít về kinh nghiệm cá nhân được tích lũy sẽ quyết định đến thái độ của cá nhân đó

Sau này, nhiều tác giả khác khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng thái độ cómối liên hệ mật thiết với hành vi Như, H Fillmore: ―Thái độ là sự sẵn sằng phảnứng tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng hay một biểu tượng trong môitrường‖[25] Hay, Guil ford: ―Thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liênquan đến những hoàn cảnh xã hội‖[25] Hoặc, Trivàis ―Thái độ là những tư tưởngđược tạo nên bởi các xúc cảm, tình cảm Nó gây tác động đến hành vi nhất định, ởmột giai cấp nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định Thái độ của conngười bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng nhưcách sử sự của họ đối với đối tượng đó"[25] Như vậy, dù còn một số điểm chưathống nhất nhưng nhìn chung các tác giả đều cho rằng thái độ có tính sẵn sàng và

có mối quan hệ mật thiết với hành vi Thái độ có 3 thành tố: nhận thức, cảm xúc vàhành vi kết hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập

Ở một khía cạnh khác về cấu trúc thái độ, tác giả Kossakowski và Lompcherđịnh nghĩa: ―Thái độ là thuộc tính tâm lý, bao gồm niềm tin, lý tưởng, hứng thú,thái độ xã hội‖"[25]

Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của cácnhà tâm lý học Việt Nam Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học có ghi: Thái độ:

Là (1) ―tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ,

21

Trang 24

lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó‖ (2)

―cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn

đề, một tình hình‖[11]

Trong đề tài này, chúng tôi quan niệm thái độ là một thiên hướng tương đối

ổn định để phản ứng theo một cách thức cụ thể đối với một khách thể có liên quan.

Thái độ là một sản phẩm phức tạp của các quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm,cảm xúc bao gồm cả những ưa chuộng, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoahọc và tôn giáo cũng như chính trị theo quan điểm được đề cập trong Từ điển Tâm

vi của một cá nhân có thể giúp ―phác thảo‖ được thái độ của cá nhân đó

Như vậy, thái độ về hành vi sexting trong đề tài được đo thông qua xuhướng phản ứng tương đối ổn định của khách thể nghiên cứu về vấn đề chuyển tiếptin nhắn có nội dung chữ gợi cảm, hình ảnh hoặc phim gợi cảm là một hành vi tíchcực hay không tích cực, chấp nhận được hay không chấp nhận được, là bìnhthường hay cấm kỵ; là có nguy cơ hay không có nguy cơ…

1.1.4 Khái niệm chuẩn mực

Khi nói đến chuẩn mực, người ta thường nghĩ đến chuẩn mực của nhóm haylớn hơn là chuẩn mực xã hội Chuẩn mực cá nhân được hình thành khi cá nhântham gia vào nhóm hoặc xã hội

Chuẩn mực nhóm là tập hợp những nguyên tắc hành vi, ứng xử của một

nhóm dành cho các thành viên của nó

Thực hiện những tiêu chuẩn của nhóm là điều kiện cần thiết thúc đẩy nhữngtác động tương hỗ có hiệu quả giữa các cá nhân trong quá trình hoạt động phối hợp.Thái độ của chủ thể được thể hiện trong chuẩn mực của nhóm làm cho người đó cótrách nhiệm về hành vi của mình Trong các nhóm xã hội, chuẩn mực của nhóm

22

Trang 25

thực hiện một số chức năng sau: chức năng đánh giá, chức năng điều chỉnh và chứcnăng ổn định Chuẩn mực của nhóm cho phép con người đánh giá những hành vicủa mình và của người khác, so sánh chúng với những chuẩn mực, lựa chọn nhữnghình thức cần thiết cho hành vi và sàng lọc những hình thức không thể chấp nhậnđược, tiến tới củng cố các quan hệ của mình với người khác Việc thực hiện chuẩnmực của nhóm trong quá trình hoạt động của nó và của các cá nhân thường diễn radưới sự kiểm tra xã hội trực tiếp từ phía tổ chức Thông qua tìm hiểu những quan hệqua lại của các cá nhân trong nhóm có thể biết được những tiêu chuẩn nào họ đãtiếp nhận, những tiêu chuẩn nào họ bác bỏ trong chuẩn mực của nhóm và tại sao.

mức độ rộng hơn, chuẩn mực xã hội là tập hợp các quy tắc (công khai

hoặc ngấm ngầm) hành vi, phương thức ứng xử cho các cá nhân trong xã hội (haytrong nhóm)

Một xã hội (hay một nhóm xã hội) có những chuẩn mực để bảo đảm tính thốngnhất, để nó được coi như một xã hội (hay một nhóm xã hội) Đối với các thành viêncủa (hay của nhóm xã hội), nó được coi là một giá trị chi phối rộng rãi và

được tuân theo một cách phổ biến Nó vừa dựa vào sự tán thành tự nguyện của các

cá nhân, đồng thời cũng dựa vào những trừng phạt đối với cá nhân vi phạm (chủ yếu

là trừng phạt tinh thần) Ở một mức độ nào đó, chuẩn mực tạo nên những giá trị đạođức của nhóm (hay của xã hội), tuy rằng chuẩn mực xã hội không đồng nhất với đạođức xã hội

Có những chuẩn mực phổ biến, chi phối hành vi của các cá nhân trong toàn

xã hội Có những chuẩn mực đặc thù, chỉ có giá trị trong một nhóm nào đó Vai tròcủa chuẩn mực là tạo ra tính đồng nhất của xã hội (hay của nhóm) Nhưng chuẩnmực không phải bao giờ cũng có ý nghĩa tuyệt đối vì:

-Trong xã hội (hay trong nhóm) thường có những cá nhân không theo chuẩn mực

- Bản thân các chuẩn mực cũng thay đổi (những chuẩn mực cũ bị lãng quên, những chuẩn mực mới ra đời)

Chuẩn mực xã hội có những chức năng: giảm bớt tính hỗn tạp; tránh xungđột; tạo cơ sở cho các quá trình thương lượng giữa các cá nhân (để đi tới chấp nhậnmẫu số chung nhỏ nhất của mọi hành vi)

23

Trang 26

Sự tồn tại của các chuẩn mực xã hội đã được chứng minh bằng thực nghiệmbởi nhà tâm lý học xã hội Muzafer Sherif [54] Các cuộc điều tra sau đó cũng đượctiến hành để xác định ảnh hưởng đối với sự cố kết của nhóm Kết quả cho thấy,trình độ cố kết của nhóm càng cao, khi phạm vi tác động của các chuẩn mực xã hộivới hành vi của các cá nhân trong nhóm càng rộng Các cá nhân thường tiếp nhậncác chuẩn mực để những liên hệ xã hội của họ được dễ dàng hơn trong nhóm.

Trong đề tài nghiên cứu này, chuẩn mực cá nhân về hành vi sexting hìnhthành dưới chuẩn mực của nhóm và của xã hội phép cá nhân đánh giá những hành

vi của mình và của người khác, so sánh chúng với những chuẩn mực, lựa chọnnhững hình thức cần thiết cho hành vi và sàng lọc những hình thức không thể chấpnhận được

1.1.5 Khái niệm lòng tự trọng

Từ điển tiếng Việt có ghi: Tự trọng là ―coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình‖[11]

Còn theo quan điểm của một số tác giả nước ngoài:

Brinthaupt và Erwin (1992); Cook (1987): Lòng tự trọng là thái độ tích cựchoặc tiêu cực về bản thân, mức độ ưa thích hoặc sự hài lòng với bản thân, và cảmgiác về giá trị so với người khác Với định nghĩa này, lòng tự trọng được hiểu như

sự tự đánh giá về những giá trị của bản thân Người có lòng tự trọng cao là ngườiđánh giá cao giá trị của bản thân và ngược lại Cùng quan điểm trên, trong cuốn

―Nguồn gốc lòng tự trọng‖, tác giả Stanley Coopersmith cũng cho rằng: ‗Lòng tựtrọng là sự đánh giá cá nhân về giá trị bản thân, thể hiện bằng thái độ của người đóđối với chính bản thân mình‘[29] Còn Richard L Bednar, M Gawain Wells vàScott R Pteson trong tác phẩm ―Lòng tự trọng - nghịch lý và sự đổi mới trong lýthuyết và thực tiễn‘‘cho rằng lòng tự trọng là sự ý thức về giá trị cá nhân một cáchlâu dài và đầy cảm xúc, dựa trên sự tự nhận thức một cách chính xác[29]

Các quan niệm về lòng tự trọng này một lần nữa đề cập đến sự tự ý thức vềgiá trị bản thân mà cá nhân đưa ra và giữ vững với thái độ coi trọng

Bên cạnh các quan điểm cho rằng lòng tự trọng là sự tự ý thức về giá trị bảnthân thì một số nhà tâm lý học khác lại đề cập đến lòng tự trọng như một kỹ năng,

24

Trang 27

khả năng, các mối quan hệ xã hội: ‗lòng tự trọng là đánh giá tổng thể của mộtngười về chính bản thân mình và phản ánh cảm giác về các kỹ năng, khả năng vàcác mối quan hệ xã hội‘[29] Thậm chí tác giả Nathaniel Brvàen coi lòng tự trọng làkhả năng các cá nhân đương đầu với thử thách, là quyền đòi hỏi và hưởng thụ:

‗lòng tự trọng là: (1) Sự tin tưởng vào khả năng của chính mình để suy nghĩ vàđương đầu với thử thách cuộc sống (2) Sự tin tưởng vào quyền được hạnh phúc,cảm giác mình có giá trị, mình xứng đáng, quyền được đòi hỏi những điều mìnhmuốn và được hưởng thụ thành quả những nỗ lực, cố gắng của bản thân‘[15] Quanđiểm này của Nathaniel Brvàen cho thấy lòng tự trọng cao giúp con người có kĩnăng đối mặt với bất kì điều gì xảy ra trong cuộc sống Đứng trước một tình huống,người có lòng tự trọng cao có xu hướng nhận thức tình huống, kiểm soát và tìmbiện pháp nhằm thay đổi nguyên nhân gây ra vấn đề, bất kể những khó khăn, thửthách Ngược lại, người có lòng tự trọng thấp có thể không muốn thử những điềumới và có thể nói tiêu cực về bản thân mình Họ có thể biểu hiện sự thất vọng, từ bỏmột cách dễ dàng hoặc chấp nhận cho một cơ hội đi qua

Theo quan điểm của TS Sorensen, lòng tự trọng là: ―một loại sơ cấu nhậnthức ở đó cá nhân tự xác định về mình như là người có đủ năng lực hoặc không đủnăng lực, xứng đáng hoặc không xứng đáng, khó ưa hay được chấp nhận, hoạtđộng chức năng hiệu quả hay không có hiệu quả‖[53] Từ quan điểm này ông đưa ramột số dấu hiệu của người có lòng tự trọng thấp như sau:

1. Một người có xu hướng hay tin nhầm người hoặc luôn cảm thấy mình lựachọn sai

2. Cảm thấy không thỏa mãn trong mối quan hệ với những người khác

3. Hay bị mọi người nói là quá nhạy cảm

4. Luôn cảm thấy buồn, không hạnh phúc hoặc cảm thấy e ngại trước công việc và trong cuộc sống

5. Thường cảm thấy lo lắng trước những tình huống mới

6. Thường cảm thấy lo sợ mình sẽ bị hỏi những câu hỏi mình không biết trảlời hoặc bị yêu cầu làm những việc mà bạn không biết cách làm

25

Trang 28

7. Cảm thấy mình thiếu tự tin và kỹ năng để làm những việc mà bạn bè đồng nghiệp đều có thể làm được

8. Cảm thấy mình không được người khác chấp nhận

9. Cảm thấy e ngại khi phải chia sẻ ý kiến của mình với người xung quanh

10. Luôn cảm thấy thiếu thốn

12. Luôn so sánh với người khác về giá trị bản thân

13. Luôn cảm thấy không an toàn

Dù có khá nhiều các định nghĩa về thái độ nhưng trong đề tài này, chúng tôi

sử dụng quan điểm về lòng tự trọng của Morris Rosenberg (1960) với cách tiếp cậnxác định lòng tự trọng là một cảm giác ổn định về giá trị cá nhân hoặc cảm thấyxứng đáng Theo Rosenberg, lòng tự trọng có hai mặt quan hệ với nhau gồm: (1) Ýthức về khả năng (tính hiệu quả) (2) Ý thức về giá trị bản thân (thái độ tự trọng).Chúng tôi cũng sử dụng bảng hỏi Việt hóa của Rosenberg để đo lường về lòng tựtrọng trong đề tài này [60]

1.1.6 Khái niệm học sinh THCS

Định nghĩa

Theo một số tác giả trong nước thì HS là người đang theo học tại các trườngphổ thông HS THCS là để chỉ những HS đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 theo mộttrương trình Phổ Thông dành riêng cho độ tuổi từ 12 - 15 tuổi

Đặc điểm tâm sinh lý của HS THCS

Theo tác giả Trương Thị Khánh Hà[2], tâm lý của lứa tuổi từ 12 -15 cónhững đặc điểm về tâm - sinh lý như sau:

- Sự phát triển thể chất:

Đặc điểm thể chất của lứa tuổi này là sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, sựchín muồi về giới tính được đánh dấu bằng sự dậy thì ở cả nam và nữ Những biếnđổi của cơ thể kéo theo những lo lắng của các em về ngoại hình của mình Các emthường so sánh cơ thể mình với người khác và hay có suy nghĩ mặc cảm về bảnthân như ―tôi béo quá‖, ―mũi tôi to quá‖ … Những cảm xúc nặng nề về bề ngoài

26

Trang 29

của trẻ có thể được làm dịu đi bằng những mối quan hệ thận thiện, ấm áp với nhữngngười thân thiết, thông hiểu trẻ.

- Các mối quan hệ giao tiếp:

Các mối quan hệ giao tiếp ở HS THCS bao gồm có mối liên hệ với bạn bè,cha mẹ Đối với bạn bè, giao tiếp với bạn trở thành hoạt động chủ đạo của lứa tuổi,bên cạnh hoạt động học tập HS có nhu cầu giao lưu, kết bạn rất mạnh, thậm chí cóthể lấn át hoạt động học tập Trong giao tiếp với cha mẹ, ở độ tuổi HS THCS mốiquan hệ cha mẹ - con cái thường xuất hiện mâu thuẫn Trong khi cha mẹ có xuhướng kiểm soát, đòi hỏi cao ở con thì HS lại có tâm lý mình đã lớn, đã hiểuchuyện nên muốn ―bung‖ ra khỏi cha mẹ

- Ngoài ra độ tuổi này còn có một số đặc điểm khác như: sự phát triển nhậnthức đã bước sang giai đoạn tư duy trừu tượng; sự phát triển mạnh của khả năng tự

ý thức; hình thành biểu tượng đồng nhất về bản thân

Tuy nhiên lứa tuổi này thường gặp phải những khó khăn tâm lý nhất địnhnhư: nhân cách chưa ổn định (bao gồm: cảm xúc thất thường; chưa ổn định về mặtnhận thức, các chuẩn mực đạo đức, chưa ổn định về mặt tự đánh giá, mâu thuẫntrong tính cách và xu hướng) và dễ có hành vi nguy cơ và dễ bị lợi dụng (bao gồm:

bị lạm dụng tình dục; có thai ngoài ý muốn; sử dụng bia rượu và các chất kích thíchkhác; vi phạm pháp luật; tự tử)

Gia đình và nhà trường là hai môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sự pháttriển tâm lý lứa tuổi này, trong đó môi trường gia đình có ảnh hưởng mang tính quyếtđịnh Gia đình là cái nôi giáo dục của mỗi cá nhân, từ khi đứa trẻ được sinh ra cho đếnkhi trưởng thành Độ tuổi từ 12 - 15, đa số các em vẫn sống phụ thuộc vào cha mẹ,chịu sự giáo dục trực tiếp của gia đình Bầu không khí gia đình thân thiện, ấm áp, thấuhiểu, trong đó cha mẹ thực sự là những người bạn của con thì sẽ là môi trường tuyệtvới để các em cởi mở, chia sẻ những vướng mắc, khó khăn trong đời sống tâm lý củamình Từ đó cha mẹ có thể giúp con vượt qua những khó khăn của lứa tuổi, địnhhướng cho con những giá trị đúng Ngoài ra thì môi trường giáo dục ở trường họccũng rất quan trọng Nếu có môi trường giáo dục tốt, phù hợp thì HS sẽ

27

Trang 30

có niềm vui khi đến trường, hoạt động học tập, nhận thức được phát huy hết tiềmnăng, góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em

1.1.7 Khái niệm sinh viên

Định nghĩa

Theo tác giả Nguyễn Thạc[12] ―thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếngLating student - có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm,khai thác tri thức SV để chỉ những người theo học ở bậc đại học và được phân biệtvới trẻ em đang học trường phổ thông là các học sinh‖

Theo quy định của ngành giáo dục thì độ tuổi của SV trong khoảng từ 17 –

25, trùng với giai đoạn thứ 2 của tuổi thanh niên

Đặc điểm tâm sinh lý của SV

Nguyễn Thạc (sách đã dẫn) cho rằng thế giới nội tâm của SV rất phức tạp vànhiều mâu thuẫn, như: mâu thuẫn giữa mơ ước và khả năng, điều kiện và kinhnghiệm thực hiện mơ ước; mâu thuẫn giữa mong muốn học tập sâu những môn yêuthích và yêu cầu phải hoàn thành toàn bộ chương trình học; mâu thuẫn giữa sốlượng thông tin lớn dội vào SV và thời gian để kịp hiểu sâu các thông tin đó

Tác giả Trương Khánh Hà[2] ở độ tuổi SV, các em đã có sự phát triển hoànthiện về mặt thể chất, phát triển nhận thức và hình thành thế giới quan Ở độ tuổinày, ngoài khả năng tự xác định bản thân, các em còn phải đứng trước ngưỡng cửacủa việc chọn nghề, học nghề và lựa chọn con đường cho tương lai của mình Đốivới các mối quan hệ, SV không chỉ bó hẹp mối quan hệ với gia đình như HS THCS

mà đã thiết lập thêm nhiều mối quan hệ khác như tình bạn, tình yêu, tình dục

Đối với SV, ngoài hoạt động học tập thì nhu cầu về tình bạn, tình yêu, tìnhdục là nhu cầu tất yếu, là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi

Trong tình yêu của độ tuổi SV thường xảy ra mâu thuẫn giữa nhu cầu tìnhcảm gắn bó, sự yêu thương với những ham muốn tính dục Nhiều khi thanh niênkhông hiểu bản thân tại sao yêu người này nhưng lại bị hấp dẫn tình dục bởi ngườikhác Trên thực tế thì ở giai đoạn này sự chín muồi của tính dục diễn ra vô cùngmạnh mẽ, đôi khi thúc đẩy những hành vi vô thức, bản năng ở các em, khiến các em

dễ bị cuốn hút bởi những đối tượng khác giới hấp dẫn

28

Trang 31

1.2 Điểm luận những công trình nghiên cứu đi trước về sexting trên thế giới.

Do trong nước chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này nên để làmtổng quan điểm luận, chúng tôi phải dựa vào phần lớn những số liệu thu được từcông trình nghiên cứu đi trước về sexting ở nước ngoài Để làm được điều này,chúng tôi vào các trang tìm kiếm của MEDline, PsyARTICLES, Proquest, Eric,Sociofile, Social Science Critation Index và cả Google Scholar đề tìm các nghiêncứu có liên quan Lý do chúng tôi lựa chọn những trang tìm kiếm này vì đây lànhững cơ sở dữ liệu mang tính học thuật cao, thể hiện sự phong phú đa dạng của cáclĩnh vực có thể liên quan đến vấn đề sexting như y học, tâm lý học, giáo dục học,truyền thông và khoa học xã hội nói chung…Ngôn ngữ tìm kiếm đều là tiếng Anh

Từ khóa được sử dụng để tìm kiếm là ―sexting‖ phải hiển thị trong tên tài liệu Đểtăng độ tin cậy, chúng tôi cũng loại bỏ những nghiên cứu định tính, những nghiêncứu là kết quả phát sinh từ một bộ số liệu Để đảm bảo tính cập nhật, chúng tôi cũngkhông quan tâm đến các nghiên cứu công bố trước 2009 Kết quả của các nghiêncứu mà chúng tôi tìm được liên quan để tỷ lệ giới sexting, độ tuổi trung bìnhsexting và tỷ lệ nhận, gửi các nội dung nhạy cảm được trình bày trong bảng 1.1dưới đây:

Bảng 1.1: Bằng chứng về tỷ lệ sexting theo các nhóm tuổi trong các

nghiên cứu được điểm luận Tác giả

Trang 32

Boulat và cộng sự(2012) [28]

Cox

Communications(2009) [31]

Comartin,

Kernsmith,

và Kernsmith(2013) [30]

Dake, Price,Mazriaz,

và Ward (2012)[32]

Dir, Coskunpinar,Steiner,và Cyders(2013) [33]

Dir, Cyders, và

Trang 33

Coskunpinar

Trang 34

(2013) [33]

Drouin và

Landgraff (2012)[34]

Drouin, Vogel,Surbey, và Stills(2013) [35]

Englander (2012)[36]

Ferguson (2011)[37]

Fleschler Peskin

và cộng sự (2013)[38]

Giroux (2011) [39]

Gordon-Messer,Bauermeister,Grodzinski, vàZimmerman

(2012) [40]

Henderson vàMorgan (2011)

Trang 35

Hinduja và Patchin

Trang 36

(2010) [42]

Hudson (2011)[43]

Kopecký (2011)[44]

Lenhart (2009)[45]

Mitchell,

Finkerhor,

Jones,và Wolak(2012) [47]

NCPTUP (2008)

Parker, Blackburn,Perry,và Hawks(2013) [50]

Phippen (2009)[51]

Rice và cộng sự(2012) [52]

Strassberg,

McKinnon,

Sustaíta, và Rullo(2013) [55]

Temple và cộng sự(2012) Wei (2012)

Trang 37

32

Trang 38

Bên cạnh đó, qua việc điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước, các yếu

tố có liên quan đến hành vi sexting cũng đã được chỉ ra.Trong bảng 1.2 dưới đây,chúng tôi tập hợp một số biến số nhân khẩu học đã được các nghiên cứu đi trướckhẳng định là yếu tố dự báo hành vi sexting ở các nhóm tuổi trẻ vị thành niên và ởngười trưởng thành

Bảng 1.2: Các yếu tố có liên quan đến hành vi sexting theo các

nghiên cứu đi trước

Các biến số Tuổi

Giới

Trang 39

Chủng tộc

Xu hướng giới tính

Biết ai đó

có hành vi sexting

Tình trạng mối quan hệ

Trang 40

Giáo dục

Công ăn việc làm

Qua kết quả điểm luận và số liệu thu được, bên cạnh những kết quả đã được trìnhbày trong hai bảng 1.1 và 1.2 trên đây, có thể tóm tắt thêm một số vấn đề về sexting có liênquan trực tiếp đến đối tượng và khách thể nghiên cứu của đề tài như sau:

1.2.1 Tần xuất và các biến nhân khẩu học ảnh hưởng

Phải nói rằng trong các nghiên cứu được đưa vào điểm luận trên đây chủ yếuđược tiến hành nghiên cứu trên đối tượng khách thể là người Mỹ Đối với mẫu kháchthể là trẻ vị thành niên (từ 10-19 tuổi) các nghiên cứu chỉ ra tần xuất trẻ vị thành niênnhận và gửi các tin nhắn chữ, hình ảnh, phim có nội dung gợi cảm tính trung bình chotất cả các nghiên cứu vào khoảng từ 11,15% đến 15,64% [26, 31, 42, 45, 47] Tần xuấtgửi tin nhắn chữ, hình và phim bất nhã tăng dần theo độ tuổi[31, 47, 52]

Về mặt giới tính, các nghiên cứu chỉ ra rằng vị thành niên nữ thường gửi đi hìnhảnh bất nhã nhiều hơn vị thành niên nam và vị thành niên nam nhận được nhiều hơnnhững hình ảnh có nội dung bất nhã, liên quan đến tình dục nhiều hơn nữ[26, 31, 47]

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người có xu hướng đồng giới, lưỡnggiới hay chuyển giới hay gửi và nhận những hình ảnh có nội dung bất nhã nhiều hơn

35

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w