bản, kĩ thuật trình bày văn bản … Ngoài ra, còn phải tuân thủ các quy tắc docác cơ quan có thẩm quyền đề ra đối với việc soạn thảo và ban hành văn bảnnhư các quy định về thể thức văn bản
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn bản là phương tiện thông tin cơ bản, là phương tiện chủ yếu phục vụcho hoạt động quản lí của các cơ quan, tổ chức Đây là phương tiện quantrọng được dùng để ban hành chủ trương, chính sách; xây dựng chương trình,
kế hoạch công tác; chỉ đạo, điều hành thực hiện; báo cáo tình hình; đề đạt ýkiến lên cấp trên; trao đổi công việc giữa các cơ quan… Văn bản cũng là cơ
sở pháp lí để giải quyết công việc, thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đảm bảocho hoạt động của từng cơ quan, tổ chức được nhịp nhàng, thông suốt
Trong hoạt động quản lí của các cơ quan, soạn thảo và ban hành văn bản
là một công việc quan trọng và mang tính chất thường xuyên Một văn bảnđược ban hành sẽ là sản phẩm phản ánh kết quả lao động, là thước đo trình độchính trị, năng lực chuyên môn và khả năng nắm bắt thực tiễn của một tập thểhoặc của một cán bộ, viên chức trong cơ quan Văn bản ban hành có chấtlượng sẽ nâng cao uy tín của cơ quan và lãnh đạo cơ quan nói chung, của cán
bộ soạn thảo nói riêng; sẽ tạo nên sự thống nhất về hình thức và nội dung củavăn bản, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lập hồ sơ, nâng cao chất lượng
hồ sơ nộp vào lưu trữ Ngược lại, văn bản ban hành không đảm bảo yêu cầu
đề ra chẳng những sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của cơ quan mà còngây tổn hại đến uy tín của cơ quan, lãnh đạo cơ quan và cán bộ viên chức;hình thức và nội dung của văn bản không thống nhất, gây khó khăn cho côngtác lập hồ sơ, làm giảm chất lượng hồ sơ nộp vào lưu trữ
Tuy nhiên, soạn thảo văn bản là một công việc không đơn giản, có nhiềuyêu cầu tỉ mỉ Vì vậy, để văn bản ban hành có chất lượng, thì cán bộ soạn thảongoài việc nắm chắc kiến thức về chuyên môn, còn phải nắm vững và biết cáchvận dụng các kiến thức và kĩ năng như: các yêu cầu về soạn thảo văn bản,phương pháp thu thập thông tin và xử lí thông tin, xây dựng đề cương và bố cụcvăn bản, kĩ năng về sử dụng từ ngữ, văn phong đối với các loại văn
Trang 2bản, kĩ thuật trình bày văn bản … Ngoài ra, còn phải tuân thủ các quy tắc docác cơ quan có thẩm quyền đề ra đối với việc soạn thảo và ban hành văn bảnnhư các quy định về thể thức văn bản, trình tự, thủ tục soạn thảo, duyệt, kí,đóng dấu văn bản … Tất cả các công việc trên gọi là kĩ thuật soạn thảo vănbản, nghĩa là văn bản muốn có chất lượng, đảm bảo yêu cầu đề ra đòi hỏi phải
có kĩ thuật soạn thảo và cần phải được chuẩn hoá Hiện nay, khi mà Đảng vàNhà nước ta đang thực hiện cải cách hành chính thì chuẩn hoá văn bản, nângcao chất lượng soạn thảo văn bản là yêu cầu tất yếu để tạo nên sự thống nhất
về hình thức và nội dung; nâng cao chất lượng của văn bản
Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân (sau đây gọi tắt làTổng cục) là cơ quan trực thuộc Bộ trưởng Bộ Công an, có trách nhiệm thốngnhất, quản lí và chỉ đạo công tác Xây dựng lực lượng Công an nhân dân(CAND), nhằm xây dựng lực lượng CAND là một lực lượng vũ trang, chínhquy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại Với chức năng, nhiệm vụ trên, cũng nhưnhiều cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan nhànước, Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND đã ban hành rất nhiều văn bản đểthực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Trong quá trình soạn thảo văn bản,Tổng cục đã căn cứ vào các văn bản hướng dẫn như: Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác Văn thư;Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP, ngày 06 tháng 5 năm 2005của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thể thức và kĩ thuật trìnhbày văn bản và gần đây là Luật số 17/2008/QH12, về việc ban hành văn bảnquy phạm pháp luật, được Quốc hội khoá 12, kì họp thứ ba công bố ngày
3 tháng 6 năm 2008, có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2009 … Do đó, việcsoạn thảo và ban hành văn bản tại Tổng cục nhìn chung đã có nhiều tiến bộ
Cụ thể, chất lượng văn bản đã được nâng cao, văn bản ban hành đúng thẩmquyền, đúng thể thức, không có tình trạng văn bản không có chữ kí của người
có thẩm quyền, không có ngày tháng, năm; văn bản ban hành đã bám sát vớiyêu cầu thực tế và có tính khả thi cao, cách diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu… Tuy
Trang 3nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong công tác soạn thảo văn bản cònmột số vấn đề chưa thống nhất cần được nghiên cứu như: cách trình bày tên
cơ quan ban hành văn bản, cách lựa chọn tên loại văn bản, cách bố cục nộidung văn bản, cách viết hoa trong văn bản, sử dụng từ ngữ, đặc biệt còn nhiềuvăn bản sai về thể thức và kĩ thuật trình bày… Mặt khác, cán bộ làm công tácsoạn thảo văn bản tại Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND lại chủ yếu là tốtnghiệp các trường Công an (CA), chưa được bồi dưỡng kiến thức về kĩ thuậtsoạn thảo nên còn gặp khó khăn, nhất là đối với cán bộ trẻ mới ra trường Vìvậy, để góp phần nâng cao chất lượng soạn thảo văn bản tại Tổng cục cần có
sự nghiên cứu, tìm rõ nguyên nhân và đưa ra giải pháp Xuất phát từ thực tế
đó, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện kĩ thuật soạn thảo văn bản tại Tổng cục
Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Bộ Công an” để nghiên cứu làm
luận văn Thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu của đề tài.
Nghiên cứu những vấn đề chung về kĩ thuật soạn thảo văn bản và yêucầu phải hoàn thiện kĩ thuật soạn thảo văn bản tại Tổng cục Xây dựng lựclượng CAND, Bộ Công an Trên cơ sở khảo sát thực tế luận văn sẽ nêu lênnhững ưu điểm, tồn tại về kĩ thuật soạn thảo văn bản tại Tổng cục Từ đó, đưa
ra các giải pháp góp phần hoàn thiện kĩ thuật soạn thảo văn bản phục vụ hoạtđộng quản lí tại Tổng cục được tối ưu hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu thẩm quyền ban hành văn bản, quytrình soạn thảo văn bản, thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản, ngôn ngữ vănphong của văn bản
- Phạm vi nghiên cứu và khảo sát: văn bản do Tổng cục Xây dựng lựclượng CAND soạn thảo rất nhiều, do điều kiện nghiên cứu và thời gian cóhạn, nên phạm vi nghiên cứu và khảo sát của luận văn chỉ tập trung nghiêncứu về hệ thống văn bản hành chính thông thường từ năm 2005 đến nay, do
Trang 4các đơn vị (X12, X13, X14, X15, X24, X33, X21, X25) trực thuộc Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND chủ trì soạn thảo (trừ các Trường CA).
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Theo yêu cầu của đề tài, luận văn sẽ chú ý làm rõ các vấn đề sau:
- Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Tổng cục Xây dựng lựclượng CAND, Bộ Công an
- Hệ thống văn bản do Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Bộ Công
Nghiên cứu về lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước nói chung và công
tác công văn giấy tờ nói riêng có thể kể đến một số tác phẩm như: Văn bản quản lí nhà nước và công tác công văn giấy tờ thời phong kiến Việt Nam của Phó Giáo sư Vương Đình Quyền; Văn bản quản lí Nhà nước thời Nguyễn của
PGS, TS Vũ Thị Phụng, khoa Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng, Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Lí luận và thực tiễn công tác văn thư, PGS Vương Đình Quyền (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia 2005); Soạn thảo
và xử lí văn bản quản lí nhà nước (tái bản lần thứ tư), GS TSKH Nguyễn Văn Thâm (Nxb Chính trị Quốc gia năm 2006); Hướng dẫn kĩ thuật soạn thảo văn bản, Luật gia Nguyễn Văn Thông (Nxb Thống kê năm 2001); Hướng dẫn kĩ thuật nghiệp vụ hành chính, Nguyễn Văn Thâm, Lưu Kiếm Thanh, Lê Xuân
Lam, Bùi Xuân Lự (Nxb Thống kê năm 2003) Ngoài ra, còn có một số loại
sách chuyên khảo như: Xây dựng và ban hành văn bản quản lí nhà nước, Tạ Hữu Ánh (nhà xuất bản Lao động 1996); Mẫu soạn thảo văn bản dùng cho
Trang 5cán bộ lãnh đạo, quản lí và công chức văn phòng, PTS Nguyễn Minh
Phương, Thạc sĩ Trần Hoàng (nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1997)
Trong mục nghiên cứu, trao đổi và thực tiễn kinh nghiệm trên Tạp chí
Văn thư Lưu trữ Việt Nam cũng có nhiều bài viết như: Thể thức văn bản và thể thức văn bản quản lí nhà nước, một số vấn đề lí luận và thực tiễn của PGS Vương Đình Quyền (Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam số 01/2004) Một số vấn đề cần giải quyết khi áp dụng các quy định hiện hành về thể thức văn bản của Nguyễn Văn Kết (Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam số 12/2006) Kĩ thuật trình bày văn bản ở Uỷ ban nhân dân các quận, huyện tại Thành phố
Hồ Chí Minh, thực trạng và một số đề xuất của Nguyễn Công Quyền (Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam số 9/2007); Một số ý kiến về thể thức văn bản của Hội đồng nhân dân của Nguyễn Hải Long (Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam
số 2/2009) Công tác soạn thảo văn bản trong quân đội, một số lỗi thường gặp và những đề xuất của Chu Văn Lộc (Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam
số 8/2007)
Liên quan đến đề tài văn bản đã có một số luận văn Thạc sĩ như: “Bước đầu tìm hiểu về tiêu chuẩn hoá trong công tác Văn thư Lưu trữ ở Việt Nam”, của Lê Thị Nguyệt Lưu, “Nghiên cứu chuẩn hoá thể thức văn bản của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh” của Phạm Hồng Duy, “Văn phong trong văn bản quản lí của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” của Đỗ Thị Thanh Như …
Tuy nhiên, vấn đề “Hoàn thiện kĩ thuật soạn thảo văn bản tại Tổng cục
Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Bộ Công an” là một đề tài mới và
chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu:phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát … Phương pháp khảo sátđược vận dụng trong việc thu thập các thông tin cần thiết đối với đề tài
Trang 6Những thông tin thu được qua phương pháp này và các nguồn tài liệu thamkhảo sẽ được xử lí một cách khoa học, trên cơ sở vận dụng phương pháp phântích tổng hợp Ngoài ra, trong đề tài đã vận dụng một số phương pháp nghiêncứu khác như phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích chức năng…Mặt khác, những kết quả nghiên cứu đều được phân tích, đánh giá, nhìn nhậndựa trên những quan điểm mang tính phương pháp luận của Chủ nghĩa MácLênin, được cụ thể hoá thành nguyên tắc tính Đảng, nguyên tắc lịch sử,nguyên tắc tổng hợp.
7 Đóng góp của luận văn
- Xác định sự cần thiết phải hoàn thiện kĩ thuật soạn thảo văn bản tại Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Bộ Công an
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kĩ thuật soạn thảo văn bảntại Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Bộ Công an Kết quả nghiên cứucủa luận văn là tài liệu tham khảo cho cán bộ, chiến sĩ làm công tác soạn thảovăn bản tại Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Bộ Công an
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung về kĩ thuật soạn thảo văn bản
Chương 2 Kĩ thuật soạn thảo văn bản tại Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Bộ Công an
Chương 3 Hoàn thiện kĩ thuật soạn thảo văn bản tại Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Bộ Công an
Trang 7sản xuất của xã hội như kĩ thuật quân sự, thiết bị kĩ thuật hiện đại
+ Là tổng thể nói chung những phương pháp, phương thức sử dụng
trong một lĩnh vực hoạt động nào đó của con người như kĩ thuật cấy lúa, kĩ thuật cắt, tỉa cảnh.
+ Là tính từ có nghĩa tỏ ra có trình độ kĩ thuật cao như cầu thủ đi bóng rất kĩ thuật, một giọng hát có kĩ thuật.
- Soạn thảo [36, tr.829] là cách thức để tạo lập văn bản như soạn thảo văn bản.
- Văn bản [36, tr.1084]
+ Là bản viết hoặc in, mang nội dung nhất định, thường để lưu lại thông
tin văn bản chữ Nôm, văn bản kí kết giữa hai nước.
+ Là chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệthống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn
văn bản hành chính.
- Kĩ thuật soạn thảo văn bản: Là một khái niệm khá phức tạp, bao gồm
cả yếu tố kĩ thuật lẫn lí luận về văn bản Có rất nhiều định nghĩa/khái niệmkhác nhau về kĩ thuật soạn thảo văn bản:
Trang 8+ “Kĩ thuật soạn thảo văn bản là những quy trình, những đòi hỏi trong quá trình diễn ra một cách liên tục từ khi chuẩn bị soạn thảo cho đến khi soạn thảo và chuyển văn bản đến nơi thi hành Gắn liền với quy trình là những đòi hỏi, là những quy tắc về việc tổ chức biên soạn, thu thập tin tức, khởi thảo văn bản và cả ngôn ngữ thể hiện trong văn bản” [24, tr.35].
Kĩ thuật soạn thảo văn bản là toàn bộ những quy tắc tổ chức hoạt độngcủa các cơ quan, tổ chức và cán bộ chuyên môn trong việc chuẩn bị, xâydựng, biên soạn, thông qua và ban hành chính thức các văn bản Toàn bộnhững quy tắc, những đòi hỏi trong quá trình soạn thảo văn bản hoàn thiện cả
về nội dung lẫn hình thức, để phát huy đúng vai trò tác dụng của văn bản phùhợp với mục đích của chủ đề ban hành Kĩ thuật soạn thảo văn bản theo một
số nhà khoa học gồm hai bộ phận cơ bản cấu thành:
Thứ nhất, gồm những quy tắc về tổ chức và hoạt động của các cơ quan
nhà nước trong việc xét trình thông qua ban hành các văn bản Tuỳ thuộc vàomức độ quan trọng của văn bản, nhiều quy tắc soạn thảo có thể được quy địnhbằng những quy phạm pháp luật Ví dụ, quy trình soạn thảo văn bản Luật,Pháp lệnh: Điều 87 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namquy định những chủ thể có quyền lập pháp, tức quyền được trình dự án Luậttrước Quốc hội là Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dântộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, ViệnKiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thànhviên của Mặt trận Sau đó, Điều 88, Hiến pháp quy định cách thức biểu quyếtthông qua dự án và cách thức công bố Luật đã được Quốc hội thông qua Đó
là quy trình lập pháp cơ bản nằm trong hệ thống các quy tắc của kĩ thuật soạnthảo văn bản
Thứ hai, là các quy tắc, yêu cầu của kĩ thuật soạn thảo văn bản Ở nghĩa
hẹp, kĩ thuật soạn thảo văn bản thường được hiểu ở nghĩa này Người cán bộsoạn thảo trước tiên phải là người am hiểu lĩnh vực văn bản nói đến, có
Trang 9chuyên môn nghiệp vụ Từ hiểu biết lí luận văn bản nhất là hình thức văn bản,ngôn ngữ thể hiện tương ứng với hình thức tên gọi của văn bản Giá trị củavăn bản càng lớn bao nhiêu thì kĩ thuật soạn thảo là những quy tắc kĩ thuậtchuyên môn càng khó bấy nhiêu, nên nhiều khi rất cần đến kinh nghiệm soạnthảo Người soạn thảo đòi hỏi phải có kinh nghiệm được tích luỹ trong quátrình soạn thảo trước “trăm hay không bằng tay quen” Người mới bắt tay vàoviệc soạn thảo phải học hỏi kinh nghiệm của người đã soạn thảo trước Nhữngquy tắc, những đòi hỏi này thường chỉ được thừa nhận trong thực tiễn khôngmấy khi được quy định thành pháp luật.
+ “Là khái niệm dùng để chỉ việc vận dụng lí luận, phương pháp và kĩ năng về soạn thảo văn bản và các quy tắc có liên quan để xây dựng một văn bản từ khâu khởi đầu cho đến lúc văn bản được hoàn thiện” [30, tr 172] + “Là toàn bộ những quy tắc về tổ chức và hoạt động của các cơ quan
và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ trong việc chuẩn bị xây dựng, biên soạn, thông qua, ban hành chính thức các văn bản hoặc xử lí và hoàn thiện các văn bản đó” [26, tr.4]
Tuy nhiên, phải khẳng định là kĩ thuật soạn thảo văn bản được xây dựngtrên một cơ sở khoa học vững chắc những quy tắc của nó không chỉ bắt nguồn
và ứng dụng từ những tri thức của các ngành khoa học pháp lí, mà còn ở một
số ngành khoa học khác Nhưng không nên nghĩ rằng, khoa học là cơ sở vànguồn gốc duy nhất của kĩ thuật soạn thảo văn bản Bên cạnh những quy tắchình thành do sự ứng dụng các tri thức khoa học, còn phải kể đến những quytắc hình thành trong thực tiễn, bằng con đường kinh nghiệm Trong khi thừanhận cơ sở khách quan của những quy tắc kĩ thuật soạn thảo văn bản, cũngphải đánh giá rất cao vai trò của tay nghề, sự thành thạo nghệ thuật cá nhâncủa người chuyên gia làm công tác soạn thảo văn bản Kĩ thuật soạn thảo vănbản được xây dựng trên cơ sở khách quan là những tri thức thực tiễn Nhưngnhững tri thức đó có được vận dụng tốt hay không, có kết quả nhiều hay ít
Trang 10phải thông qua con người và dựa vào trình độ khác nhau của các chuyên gia.Trình độ của những cá nhân này không phải ở chỗ họ tự sáng tạo ra đượcnhững quy tắc, mà chủ yếu là ở chỗ họ biết vận dụng một cách có sáng tạonhững quy tắc khoa học và những kinh nghiệm đã có (kinh nghiệm của ngườikhác, cũng như những kinh nghiệm của bản thân) vào việc soạn thảo văn bản.
Từ các khái niệm trên có thể hiểu:
Kĩ thuật soạn thảo văn bản là tổng thể những quy tắc, những yêu cầu về
soạn thảo văn bản như phương pháp thu thập và xử lí thông tin, xây dựng đềcương và bố cục văn bản, kĩ năng về sử dụng từ ngữ, cú pháp đối với các loại
văn bản, kĩ thuật trình bày văn bản … Phải tuân thủ các quy tắc do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề ra đối với việc soạn thảo và ban hành văn
bản, như các quy định về thể thức văn bản, trình tự, thủ tục soạn thảo, duyệt,
kí, đóng dấu văn bản … Ngoài ra, là những yêu cầu đòi hỏi có tính chất kĩ thuật nghiệp vụ của người được giao làm nhiệm vụ soạn thảo văn bản.
Kĩ thuật soạn thảo văn bản hành chính khác với kĩ thuật soạn thảo vănbản khác như văn học, sáng tác nghệ thuật Kĩ thuật này nhằm làm cho ngườinhận văn bản hiểu được mục đích, yêu cầu của chủ thể ban hành một cáchnhanh nhất và chính xác nhất, để có những hoạt động phù hợp với mục đíchcủa việc ban hành văn bản Nhiều văn bản phát ra không chỉ có một nơi nhậnduy nhất mà có nhiều nơi nhận, với nhiều chủ thể khác nhau, nhưng cùngchung một mục đích của người ban hành Do đó, muốn cho hoạt động của cácchủ thể khác nhau có được những hành vi hoạt động đồng loạt như nhau, buộcnhững chủ thể đó phải có nhận thức như nhau khi nhận và đọc văn bản; ngoài
ra, vẫn còn phải lưu lại văn bản để làm bằng chứng trong tương lai Vì vậy, đểnâng cao chất lượng văn bản thì cần thiết phải có một kĩ thuật soạn thảo nhấtđịnh
1.1.2 Quy trình soạn thảo văn bản
Trang 11Để văn bản soạn thảo đảm bảo chất lượng, đạt được mục đích yêu cầu đề
ra, cần phải tiến hành soạn thảo theo một quy trình khoa học Có một số kháiniệm về quy trình soạn thảo văn bản như:
- “Quy trình ban hành văn bản là các bước mà cơ quan quản lí hành chính nhà nước nhất thiết phải tiến hành trong công tác xây dựng và ban hành văn bản theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động của mình” [18, tr 86].
- “Quy trình soạn thảo văn bản là khái niệm dùng để chỉ trình tự các công việc cần tiến hành trong quá trình soạn thảo một văn bản để ban hành”
[30, tr 192]
- “Quy trình soạn thảo văn bản quản lí nhà nước là trình tự các bước kể
từ khi bắt đầu đến khi kết thúc để hình thành một văn bản Việc bố trí các bước sao cho hợp lí trong quá trình soạn thảo để kết thúc mỗi bước sẽ đạt được mục tiêu đặt ra Đồng thời, kết quả của bước trước là cơ sở của bước sau và kết quả bước sau chứng minh sự cần thiết của bước trước” [26, tr 4] Các khái niệm trên có chung một điểm quy trình ban hành văn bản là các bước (các công việc) cần phải làm để ban hành một văn bản Các bước
này đồng thời cũng là kế hoạch của người soạn thảo, hoặc trùng khớp với kếhoạch chung của người soạn thảo Đối với những cán bộ mới vào nghề, cácbước tiến hành soạn thảo cần phải vạch ra là rất cần thiết Sau khi kết thúcmỗi một bước tiến hành, cần phải hỏi ý kiến của lãnh đạo trực tiếp Đối vớinhững công chức, chuyên viên đã quen việc, quen soạn thảo, việc lập trình tựcác bước tiến hành soạn thảo có thể không cần thiết nhưng vẫn phải đảm bảocác bước theo đúng quy định Do văn bản gồm nhiều loại, tính chất, côngdụng và thẩm quyền ban hành khác nhau, nên không thể đề ra một quy trìnhsoạn thảo chung cho tất cả các loại văn bản mà chỉ có thể xây dựng quy trìnhsoạn thảo cho một loại văn bản hoặc một số văn bản có những điểm giốngnhau Tuy nhiên, việc xác định một quy trình chuẩn là hết sức cần thiết, nhằm
Trang 12trật tự hoá công tác này Hiện nay, trong soạn thảo văn bản, mới chỉ có quytrình chuẩn đối với văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Luật banhành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, còn các loại văn bản hành chínhthông thường, hầu hết được xây dựng và ban hành theo các yêu cầu của hoạtđộng thực hiện của cơ quan, đơn vị Quy trình soạn thảo và ban hành văn bản
có thể được trình bày ngắn gọn trong điều lệ ban hành và quản lí văn bản của
cơ quan
1.1.3 Thể thức văn bản
Văn bản có rất nhiều thể loại: Nghị định, Thông tư, Quyết định, Côngvăn, Báo cáo, Kế hoạch Mỗi một thể loại đều có thể thức và bố cục khácnhau, thể hiện đặc điểm riêng của mỗi loại văn bản Nghị định có thể thức và
bố cục khác Thông tư, Biên bản khác với Nghị quyết và Nghị quyết khác vớiCông điện Tuy nhiên, giữa chúng có những điểm chung tạo thành thể thứcvăn bản Thể thức này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa văn bản với các tácphẩm, hay ấn phẩm khác: văn, thơ, kịch, nhạc, hoạ, sách, báo Có nhiềuđịnh nghĩa hoặc giải thích về thể thức văn bản như:
- “Thể thức văn bản quản lí nhà nước là toàn bộ những yếu tố bắt buộc phải có trong một văn bản và được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Các yếu tố đó được quy định khác nhau ở từng thể loại văn bản, nhưng có những yếu tố bắt buộc ở văn bản nào cũng phải có” [14, tr 27].
- “Thể thức văn bản là toàn bộ các bộ phận cấu thành văn bản, nhằm bảo đảm cho văn bản có hiệu lực pháp lí và được sử dụng thuận lợi trước mắt cũng như lâu dài trong hoạt động quản lí của cơ quan” [24, tr 57].
- “Toàn bộ những yếu tố bắt buộc phải có trong một văn bản như: tiêu
đề, tác giả, địa danh và ngày tháng, tên loại và trích yếu, nội dung, chữ kí, dấu cơ quan, nơi nhận, mức độ mật, khẩn (nếu có), được trình bày theo các quy định và phương pháp khoa học để đảm bảo tính chân thực, giá trị pháp lí
và giá trị thực tiễn của mỗi văn bản” [15, tr 77].
Trang 13- “Thể thức văn bản là toàn bộ các yếu tố thông tin cấu thành văn bản nhằm đảm bảo cho văn bản có hiệu lực pháp lí và sử dụng được thuận lợi trong quá trình hoạt động của cơ quan” [18, tr 102].
- “Thể thức văn bản là các thành phần cần phải có và cách thức trình bày các thành phần đó đối với một thể loại văn bản nhất định do các cơ quan
có thẩm quyền quy định” [30, tr 131].
- “Thể thức văn bản là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản, bao gồm những thành phần chung áp dụng đối với các loại văn bản và các thành phần bổ sung trong những trường hợp cụ thể hoặc đối với một số loại văn bản nhất định theo quy định tại Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư” [5, tr 2].
Từ các định nghĩa trên về thể thức văn bản có thể hiểu:
Thứ nhất, thể thức văn bản bao gồm các thành phần bắt buộc phải có đối
với một thể loại văn bản nhất định Nếu thiếu các thành phần này thì văn bảnđược xem như không hợp thức, việc truyền đạt các quyết định quản lí sẽkhông có hiệu quả Theo quy định hiện hành, thể thức văn bản bao gồm: quốchiệu; tên cơ quan ban hành văn bản; số, kí hiệu văn bản; địa danh và ngàytháng năm ban hành văn bản; tên loại và trích yếu nội dung văn bản; nội dungvăn bản; chữ kí của người có thẩm quyền; dấu cơ quan; nơi nhận Ngoài ra, ởmột số văn bản còn có một số thành phần như dấu chỉ mức độ mật, dấu chỉmức độ khẩn, dấu chỉ mức độ dự thảo văn bản
Thứ hai, các thành phần của văn bản phải được trình bày theo một cách
thức thống nhất như khổ giấy A4 kích thức 210 x 297 mm, phông chữ, cỡchữ, kiểu chữ theo quy định
Thứ ba, thể thức của một thể loại văn bản phải do cơ quan có thẩm quyền
có liên quan quy định, như thể thức văn bản của Đảng thực hiện theo Hướng dẫn
số 01-HD/VPTW, ngày 02/02/1998 về thể thức văn bản của Đảng,
Trang 14còn thể thức văn bản của các cơ quan, tổ chức thực hiện theo Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP, ngày 06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ– Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản
1.2 Những yêu cầu của việc soạn thảo văn bản
1.2.1 Văn bản ban hành phải có mục đích:
Văn bản ban hành dưới danh nghĩa một cơ quan nhằm đề ra chủ trương,chính sách, chương trình, kế hoạch công tác hoặc giải quyết các vấn đề, sựviệc cụ thể liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó Do vậy, vănbản phải có mục đích rõ ràng, nghĩa là nội dung văn bản phải xoay quanh mộtchủ đề liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Yêucầu này đòi hỏi khi soạn thảo văn bản phải xác định rõ mục đích ban hành,mục tiêu và giới hạn của nó Hay nói cách khác, phải trả lời được câu hỏi:
Văn bản ban hành để làm gì? Nhằm giải quyết vấn đề gì? Giới hạn vấn đề đến đâu? Lời giải của các câu hỏi trên sẽ là định hướng cơ bản cho cả quá
trình soạn thảo mà người thảo, người tham gia góp ý kiến và người duyệt, kívăn bản đều phải lấy đó làm căn cứ chủ yếu để xem xét văn bản soạn thảo cóđạt được mục đích yêu cầu đề ra hay không
1.2.2 Văn bản ban hành phải đúng thẩm quyền (đảm bảo tính hợp
hiến, hợp pháp):
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Hiến pháp là đạo luật cơ bản, làmnền tảng, các văn bản dưới Luật khác như Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư,Chỉ thị, Quyết định có chức năng giải thích, hướng dẫn, quy định chi tiếtviệc thi hành Muốn văn bản của các cơ quan nhà nước ban hành được thốngnhất, đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh thì văn bản ban hành phải đảm bảotính hợp hiến và hợp pháp Nghĩa là, văn bản ban hành phải đúng thẩm quyền,nội dung văn bản không được trái với Hiến pháp, luật pháp hiện hành và các
Trang 15quy định của cấp trên Thẩm quyền ban hành văn bản quản lí nhà nước được xem xét trên hai mặt: thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung.
* Thẩm quyền về hình thức có nghĩa là chủ thể quản lí chỉ được phép sử
dụng những thể loại văn bản mà luật pháp đã quy định cho mình trong việcban hành văn bản Theo quy định hiện hành về thẩm quyền ban hành văn bản(Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008) thì Quốc hội ban hànhHiến pháp, Luật, Nghị quyết; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháplệnh, Nghị quyết; Chủ tịch nước ban hành Lệnh, Quyết định; Chính phủ banhành Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định; Hội đồng thẩmphán Toà án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết; Chánh án Toà án nhândân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủtrưởng Cơ quan ngang Bộ ban hành Thông tư
* Thẩm quyền về nội dung có nghĩa là chủ thể quản lí chỉ được phép ban
hành văn bản để giải quyết những vấn đề, sự việc mà theo pháp luật, chủ thể
đó có thẩm quyết giải quyết
- Đúng thẩm quyền về nội dung là sự phù hợp về phạm vi điều chỉnh củavăn bản Nội dung điều chỉnh của văn bản phải giới hạn trong phạm vi thẩmquyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đã được pháp luật quy định Chẳnghạn như: theo phân cấp quản lí cán bộ của Bộ Công an thì Tổng cục trưởngTổng cục Xây dựng lực lượng CAND có quyền quyết định thăng cấp, nânglương đối với cán bộ, chiến sĩ có cấp bậc hàm Trung tá Nếu Tổng cục trưởngTổng cục Xây dựng lực lượng CAND lại quyết định thăng cấp, nâng lươngđối với cán bộ, chiến sĩ có cấp bậc hàm Thượng tá, Đại tá là trái quy định,không đúng thẩm quyền
- Đúng thẩm quyền về nội dung còn có nghĩa là nội dung văn bản khôngđược trái với Hiến pháp, luật pháp hiện hành và các quy định của cấp trên.Mục đích là để đảm bảo kỷ cương phép nước, làm cho chủ trương, chínhsách, pháp luật của Nhà nước được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Trang 16Đồng thời, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật của cơquan ban hành văn bản, ngăn ngừa tình trạng mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi cơquan tuỳ tiện đặt ra những quy định, chế độ riêng của mình mà không dựatrên cơ sở pháp luật của nhà nước và quy định của cơ quan cấp trên, đặt “lệlàng” lên trên phép nước.
1.2.3 Văn bản ban hành phải chính xác và khoa học
Sự chính xác và khoa học của một văn bản được thể hiện ở hai mặt: hìnhthức văn bản và nội dung văn bản
* Về hình thức văn bản: phải thể hiện đầy đủ và trình bày đúng các thành
phần thể thức đã được các cơ quan có thẩm quyền quy định tại Thông tư liêntịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP, ngày 06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ– Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kĩ thuật trình bày văn bảnnhư: quốc hiệu; tên cơ quan ban hành văn bản; số, kí hiệu của văn bản; địadanh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản; tên loại và trích yếu nội dungcủa văn bản; nội dung văn bản; chức vụ, họ tên và chữ kí của người có thẩmquyền; dấu của cơ quan, tổ chức; nơi nhận Ngoài ra, một số văn bản còn códấu chỉ mức độ khẩn, mật, địa chỉ cơ quan, tổ chức, địa chỉ E-Mail, địa chỉtrên mạng (Website), số điện thoại, số Telex, số Fax, các chỉ dẫn về phạm vilưu hành như “trả lại sau khi họp”, “xem xong trả lại”, “lưu hành nội bộ”, “dựthảo”, “dự thảo lần ”, kí hiệu người đánh máy, số lượng bản phát hành, phụlục kèm theo, số trang
* Về nội dung văn bản: sự chính xác về nội dung và cách bố cục nội dung
văn bản khoa học có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của văn bản
Thứ nhất, nội dung của văn bản phải thể hiện được mục đích của việc ban
hành văn bản Văn bản phải thể hiện đúng đắn thực tế khách quan Thực tếkhách quan của văn bản được thể hiện đối với từng loại văn bản như:
Trang 17- Nếu là văn bản mang tính chất quy định, quyết định về pháp luật, chủtrương, chính sách, chương trình, kế hoạch công tác, các biện pháp về lãnhđạo và quản lí thì các quy định, quyết định đó phải phù hợp với hoàn cảnhthực tế, với quy luật phát triển của sự vật có liên quan, phải giải quyết hài hoàgiữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của quần chúng nhân dân Nội dung vănbản đáp ứng được yêu cầu này sẽ có tính khả thi cao và mang lại kết quả tốt.Ngược lại, nếu các quyết định quản lí ban hành không thể hiện đúng đắn thực
tế khách quan, mang tính chủ quan, duy ý chí của cá nhân hoặc tập thể lãnhđạo, hay vì lợi ích của một phía thì tính khả thi và hiệu quả mang lại của vănbản đó sẽ bị hạn chế, thậm chí có thể làm tổn thất đến lợi ích của nhà nướchoặc gây khó khăn và thiệt hại cho quần chúng nhân dân nhất là đối với việcsoạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật như Luật, Pháp lệnh, Nghị định thì cần phải chính xác, theo đúng quy trình, quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Nếu là văn bản phản ánh tình hình, sơ kết, tổng kết công tác hoặc vănbản có nội dung đề nghị, kiến nghị, trả lời thì phải nêu đúng tình hình thực
tế, không được thêm bớt, bịa đặt, thổi phồng thành tích, che giấu thiếu sót, cácthông tin và số liệu đưa vào văn bản phải qua xử lí nghiêm túc, đảm bảo tínhchính xác và đầy đủ, các ý kiến đề xuất và kết luận phải có cơ sở khoa học vàthực tế Nếu văn bản ban hành đạt được điều đó, sẽ giúp cho lãnh đạo cơ quanhoặc cơ quan hữu quan và người có trách nhiệm theo dõi, giải quyết nhậnthức được đầy đủ, đúng đắn thực chất của vấn đề, sự việc đề cập trong vănbản, từ đó đề ra các quyết định quản lí đúng đắn, hợp lí Ngược lại, nếu nộidung không đảm bảo chính xác sẽ gây nên những sai lầm, thiếu sót trong việc
ra quyết định cũng như xử lí công việc cụ thể có liên quan
Thứ hai, nội dung của văn bản phải rõ ràng, chính xác, không để người
đọc hiểu theo nhiều cách khác nhau
Trang 18Thứ ba, bố cục nội dung của văn bản phải khoa học: những vấn đề được
nêu trong nội dung văn bản phải dựa trên cơ sở căn cứ thực tiễn, căn cứ khoahọc, có thể là kết quả tổng kết, khảo sát đánh giá thực tiễn Nội dung thông tinđược sắp xếp theo trình tự hợp lí, lôgíc Các ý không trùng lặp, thừa, tản mạnhay vụn vặt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo, điều hành, thihành Sử dụng các thuật ngữ, sử dụng các kĩ thuật trích dẫn có tính khoa học,chuẩn xác Bố cục nội dung văn bản chặt chẽ theo chủ đề, các phần, các ý, cáccâu liên kết với nhau tạo thành một thể thống nhất
1.2.4 Văn bản ban hành phải bảo đảm những yêu cầu về ngôn ngữ
và văn phong hành chính
- Về ngôn ngữ: văn bản hành chính là công cụ được dùng để truyền đạt
chủ trương, chính sách, pháp luật và các thông tin cần thiết của Đảng, Nhànước và các cơ quan, tổ chức khác Do vậy, ngôn ngữ dùng để viết loại vănbản này được gọi là ngôn ngữ hành chính, thuộc loại ngôn ngữ viết, được thểhiện theo những chuẩn mực của văn viết
- Về cách hành văn (văn phong): chất lượng của một văn bản hành chính
phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng từ ngữ và cách hành văn Trong một vănbản hành chính, nếu sử dụng từ ngữ chuẩn mực và có cách viết thích hợp sẽgóp phần truyền đạt thông tin được chính xác, dễ hiểu và thể hiện được mụcđích của việc ban hành văn bản đó Văn bản hành chính gồm nhiều loại vớitính chất và công dụng khác nhau Do vậy, câu văn và lời văn cũng có nhữngkhác biệt nhất định Chẳng hạn: đối với văn bản quy phạm pháp luật đề ra cácquy tắc xử sự chung, để điều tiết quan hệ xã hội về một lĩnh vực thì một mặtnào đó, từ ngữ phải chính xác, ý tứ phải rõ ràng, thể hiện sự khách quan và vôtư; đối với văn bản ban hành mệnh lệnh cho cấp dưới thi hành thì câu văn cầndứt khoát, rõ ràng, lời văn cần trang trọng, nghiêm túc; đối với văn bản banhành với mục đích trao đổi công việc, phản ánh tình hình, đề đạt ý kiến,
Trang 19nguyện vọng với cấp trên thì câu văn cần mạch lạc, ý tứ rõ ràng, lời lẽ phảithể hiện sự khiêm tốn, lịch sự.
1.3 Vai trò của kĩ thuật soạn thảo văn bản đối với việc nâng cao chất lượng văn bản.
1.3.1 Đảm bảo tính thống nhất và chuẩn mực trong việc soạn thảo ban hành văn bản
Văn bản quản lí là phương tiện thiết yếu phục vụ cho hoạt động quản lícủa bộ máy nhà nước, chứa đựng các thông tin về chủ trương, chính sách, luậtpháp, tiêu biểu cho quyền lực và sự quản lí thống nhất của nhà nước Do đó,
kĩ thuật soạn thảo văn bản tốt, sẽ góp phần chuẩn hoá văn bản, tạo nên sựthống nhất về hình thức và trên một mức độ nhất định cả về nội dung đối vớicác loại văn bản được ban hành, từ đó, góp phần tạo lập một nền nếp cần thiếttrong hoạt động ban hành văn bản của các cơ quan
1.3.2 Nâng cao hiệu suất soạn thảo, chất lượng soạn thảo và tính thẩm mĩ của văn bản:
Nếu văn bản được soạn thảo theo đúng thể thức, nhất là đối với nhữngloại văn bản đã được mẫu hoá cả về hình thức và nội dung thì hiệu suất soạnthảo và chất lượng của văn bản sẽ được nâng cao, văn bản ban hành sẽ đảmbảo tính thẩm mỹ Ngày nay, khi máy vi tính đã trở thành một phương tiệnđược sử dụng phổ biến trong soạn thảo văn bản, với công dụng của phần mềmMicrosoft Word thì việc chuẩn hoá văn bản sẽ được thuận lợi, nâng cao thẩm
mỹ của văn bản, tăng năng suất và mang lại hiệu quả cao hơn
1.3.3 Tạo thuận lợi cho việc xử lí văn bản
Văn bản soạn thảo và ban hành theo đúng thể thức: ghi rõ tên cơ quan banhành văn bản; đầy đủ số, kí hiệu, ngày, tháng, năm ban hành; trích yếu nội dungchính xác sẽ giúp văn thư cơ quan vào sổ công văn đi, đến; giúp lãnh đạo cơquan xử lí, giải quyết văn bản được nhanh chóng, chính xác, thuận tiện
Trang 201.3.4 Tạo thuận lợi cho công tác lập hồ sơ và nộp hồ sơ vào lưu trữ.
Văn bản soạn thảo có nội dung chính xác, các thành phần thuộc thể thứcvăn bản được thể hiện đầy đủ, đúng đắn sẽ đảm bảo cho tài liệu lưu trữ có độchính xác cao, góp phần nâng cao chất lượng của tài liệu lưu trữ, tạo thuận lợicho việc nghiên cứu, sử dụng
Tóm lại, văn bản có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lí củacác cơ quan, tổ chức Quá trình soạn thảo văn bản là một quá trình phức tạp,bao gồm nhiều khâu, mỗi khâu có nhiều người, nhiều cơ quan tham gia vớinhững thẩm quyền khác nhau Vì vậy, muốn văn bản ban hành có chất lượng,đảm bảo mục đích sử dụng thì cần phải nghiên cứu kĩ thuật soạn thảo văn bản
và nên coi trọng công tác này trong hoạt động quản lí của các cơ quan, tổchức
Chương 2 KĨ THUẬT SOẠN THẢO VĂN BẢN TẠI TỔNG CỤC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CAND , BỘ CÔNG AN
2.1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Bộ Công an
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ
Thi hành Nghị định số 250/CP ngày 12 tháng 6 năm 1981 của Hội đồngChính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Nộivụ; ngày 18 tháng 6 năm 1981, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Hùng đã kí Quyếtđịnh số 13/QĐ-BNV quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Tổngcục Xây dựng lực lượng CAND Trải qua 30 năm xây dựng và trưởng thành,Tổng cục đã đảm nhiệm vai trò là cơ quan chuyên môn của Bộ Nội vụ (nay là
Bộ Công an) thống nhất quản lí và chỉ đạo công tác Xây dựng lực lượngCAND thực sự là một lực lượng vũ trang chính quy, hiện đại
Để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, ngày 11 tháng 12 năm 2009
Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh đã kí Quyết định số số 4059/QĐ-BCA
Trang 21quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cụcXây dựng lực lượng CAND Tuy nhiên, so với trước, chức năng, nhiệm vụ cơbản không thay đổi.
Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND là cơ quan chuyên môn trực thuộc
Bộ trưởng Bộ Công an, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công an thống nhất,quản lí, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác Xây dựng lực lượng CAND;tham mưu giúp Đảng uỷ Công an Trung ương đảm nhiệm công tác Đảng,công tác chính trị và công tác quần chúng
Về nhiệm vụ, Tổng cục có trách nhiệm:
- Nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, kế hoạch về các mặt công tácĐảng, công tác Xây dựng lực lượng trong CAND, tổ chức chỉ đạo, hướngdẫn, kiểm tra việc thực hiện Nghiên cứu, đề xuất, tổ chức chỉ đạo và thựchiện các chủ trương, kế hoạch của Đảng uỷ Công an Trung ương và Bộtrưởng về công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thi đua, khen thưởng và cáchoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, quân sự, võ thuật, thực hiệnđiều lệnh trong lực lượng CAND theo quy định Giúp Đảng uỷ Công anTrung ương thường xuyên chỉ đạo, định hướng nội dung tuyên truyền về cácmặt công tác Công an; quản lí, chỉ đạo các cơ quan tuyên truyền của lựclượng CAND; phối hợp với các cơ quan tuyên truyền của Nhà nước thực hiệncông tác tuyên truyền, giáo dục, động viên, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ Công
an và nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ An ninh quốc gia và giữ gìn trật tự
an toàn xã hội theo quy định của Nhà nước và của Bộ trưởng; phối hợp vớicác cơ quan liên quan tuyên truyền, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc củacác thế lực thù địch
- Nghiên cứu, đề xuất Đảng uỷ Công an Trung ương, Bộ trưởng về tổchức, biên chế, chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ, bố trí lực lượng, phân công,phân cấp quản lí và các quy chế, quy trình về công tác tổ chức cán bộ tronglực lượng CAND Giúp Bộ trưởng thống nhất quản lí tổ chức, biên chế trong
Trang 22lực lượng CAND Nghiên cứu đề xuất Đảng uỷ Công an Trung ương, Bộtrưởng tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, thực hiện các mặt công tác cán bộ và côngtác bảo vệ chính trị nội bộ trong lực lượng CAND; trực tiếp quản lí cán bộtheo chức năng và phân cấp của Bộ trưởng.
- Nghiên cứu, đề xuất chế độ, chính sách, bảo hiểm xã hội phù hợp vớitính chất, đặc điểm công tác Công an Tổ chức thực hiện các chế độ, chínhsách, bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân viênchức trong lực lượng CAND theo quy định
- Thực hiện chức năng quản lí nhà nước về giáo dục, đào tạo trong lựclượng CAND theo đúng quy định của Nhà nước và Bộ trưởng; chỉ đạo việc tổchức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện trong lực lượngCAND; thống nhất quản lí, chỉ đạo hoạt động của các Học viện, Trường Công
an và các cơ sở bồi dưỡng, huấn luyện, dạy nghề trong lực lượng CAND theoquy định của Bộ trưởng Giúp Bộ trưởng phối hợp với Bộ Quốc phòng và các
Bộ, ngành có liên quan thực hiện các quy định về công tác giáo dục Quốcphòng – An ninh cho học sinh, sinh viên, cán bộ, đảng viên, công chức và cácđối tượng khác; tham gia Hội đồng giáo dục Quốc phòng – An ninh các cấptheo quy định
- Thống nhất quản lí, chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ công tác nghiêncứu lịch sử, công tác bảo tàng, bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá CAND;
tổ chức các hoạt động nghiên cứu, biên soạn tổng kết lịch sử đấu tranh bảo vệ
an ninh trật tự trong quá trình dựng nước, giữ nước và lịch sử CAND ViệtNam
- Tổ chức việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm các mặt công tác củaTổng cục; nghiên cứu xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống quy chế, quy trìnhcông tác về các lĩnh vực do Tổng cục phụ trách Thực hiện việc hợp tác quốc
tế về xây dựng lực lượng CAND theo quy định của Bộ trưởng Thực hiệncông tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác phòng, chống tham
Trang 23nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong Tổng cục Xác minh, kếtluận và đề xuất giải quyết khiếu nại về lĩnh vực công tác xây dựng lực lượngtheo quy định của Bộ trưởng Thực hiện công tác Đảng, công tác Xây dựnglực lượng, công tác Hậu cần, Kĩ thuật, công tác nghiên cứu khoa học và tổngkết lịch sử của Tổng cục theo quy định của Đảng uỷ Công an Trung ương vàcủa Bộ trưởng Thực hiện những nhiệm vụ khác thuộc chức năng của Tổngcục Xây dựng lực lượng CAND do Đảng uỷ Công an Trung ương và Bộtrưởng giao.
Trang 24Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu văn bản ban hành từ năm 2005 đến naycủa 8 đơn vị trực thuộc Tổng cục là Văn phòng Tổng cục, Cục Tổ chức cán
bộ, Cục Đào tạo, Cục Công tác chính trị, Cục Chính sách, Tạp chí CAND,Viện Lịch sử Công an, Báo CAND, tôi thấy có một số vấn đề nổi bật về kĩthuật soạn thảo văn bản như sau:
2.2.1 Các loại văn bản do Tổng cục soạn thảo
Hiện nay, chưa có quy định về các loại văn bản quản lí nhà nước thôngthường và thẩm quyền ban hành đối với từng loại văn bản Tuy nhiên, để thựchiện chức năng, nhiệm vụ, các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địaphương, các tổ chức chính trị, các doanh nghiệp sản xuất đều ban hành và
sử dụng các loại văn bản này Qua khảo sát, tôi thấy Tổng cục Xây dựng lựclượng CAND đã ban hành và sử dụng một số loại văn bản như:
- Chương trình: trình bày toàn bộ những việc cần làm đối với một lĩnh
vực công tác như tham mưu, tổ chức cán bộ, chính sách, tuyển sinh tuyểndụng hoặc tất cả các mặt công tác liên quan đến Xây dựng lực lượngCAND Ví dụ, Chương trình công tác Xây dựng lực lượng CAND năm 2009của Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND; Chương trình công tác tổ chức cán
bộ năm 2010 của Cục Tổ chức cán bộ; Chương trình công tác chính sách năm
2010 của Cục Chính sách
- Kế hoạch: xác định phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu, biện pháp tiến
hành một nhiệm vụ công tác của Tổng cục và các đơn vị trực thuộc Ví dụ, Kếhoạch triển khai tập huấn điều lệnh, quân sự, võ thuật năm 2008; Kế hoạchcủa Ban Thanh niên Công an về việc triển khai các hoạt động kỷ niệm ngàythành lập Đoàn 26/3/2008
- Báo cáo: để phản ánh tình hình có liên quan đến công tác xây dựng lực
lượng CAND Ví dụ, Báo cáo công tác Tổ chức cán bộ tuần từ 22/3/2010 đến26/3/2010; Báo cáo công tác Chính sách và Bảo hiểm xã hội tháng 3; Báo cáo
sơ kết công tác Xây dựng lực lượng 6 tháng đầu năm 2010; Báo cáo tổng kết
Trang 25công tác Xây dựng lực lượng năm 2009; Báo cáo biến động cán bộ tháng 3;Báo cáo tình hình tư tưởng cán bộ chiến sĩ 3 tháng đầu năm 2010; Báo cáotổng kết 5 năm thực hiện Thông tư số 16/TT-BCA, ngày 15/3/2005 về hợpđồng lao động
- Hướng dẫn: để giải thích, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện một công
việc cụ thể Ví dụ, Hướng dẫn công tác tuyển sinh năm 2010 vào các trườngCA; Hướng dẫn công tác tổng điều tra dân số năm 2009; Hướng dẫn công tácthi đua khen thưởng năm 2008
- Tờ trình: để gửi lên lãnh đạo Bộ trình bày về một chủ trương, một chế
độ chính sách, một đề án công tác, một dự thảo văn bản, sửa đổi chế độ chínhsách Ví dụ, Tờ trình đồng chí Thứ trưởng Thường trực Nguyễn KhánhToàn về chủ trương lấy phiếu bổ nhiệm đồng chí Giám đốc Công an tỉnhHưng Yên; Tờ trình các đồng chí Thứ trưởng xin ý kiến về sửa đổi một sốđiểm về chế độ bồi dưỡng làm thêm giờ
- Công văn: dùng để giao tiếp như đề nghị, trao đổi, hỏi, trả lời, phản ánh
tình hình, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra công việc Đây là văn bản được sửdụng rộng rãi, mỗi năm Tổng cục ban hành khoảng hơn 5000 lượt công văn,các đơn vị trực thuộc ban hành khoảng từ 1000 – 4000 lượt Ví dụ, Công văn
đề nghị Tổng cục II tham gia ý kiến về việc thành lập Sở Cảnh sát phòng cháychữa cháy tỉnh Vĩnh Phúc; Công văn trao đổi về việc lương của đồng chíNguyễn Văn An; Công văn hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 09/NQ-ĐUcủa Đảng uỷ Công an Trung ương về chiến lược cán bộ thời kì đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Công văn trả lời Công an tỉnh HoàBình về việc tiêu chuẩn chính trị để bổ nhiệm lãnh đạo cấp Đội
- Quyết định cá biệt (áp dụng quy phạm pháp luật): để quy định, quyết
định các chính sách, chế độ, các vấn đề về tổ chức, cán bộ và các vấn đề khácthuộc chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Tổng cục Đây cũng là loại văn bảnđược Tổng cục ban hành và sử dụng rất nhiều, vì liên quan đến tổ chức, cán
Trang 26bộ, chế độ chính sách của cán bộ thuộc Công an các đơn vị, địa phương Hàngnăm, Tổng cục ban hành khoảng 3000 - 4000 Quyết định, riêng Cục Chínhsách, một năm ban hành khoảng 6000 - 7000 Quyết định Ví dụ, Quyết định
về việc bổ nhiệm cán bộ; Quyết định về việc luân chuyển cán bộ; Quyết định
về việc giải quyết chế độ hưu trí
- Giấy mời: để mời đại diện cơ quan, đơn vị, cá nhân tham dự một công
việc nào đó hoặc giải quyết một vấn đề có liên quan Ví dụ, Giấy mời tổ chứcHội thảo “Bảo đảm an ninh trật tự trên các tuyến, địa bàn trọng điểm du lịchthời kì hội nhập quốc tế”
- Phiếu trao đổi ý kiến, Phiếu chuyển đơn: đây là loại văn bản thực chất
là Công văn đề nghị tham gia ý kiến về việc khen thưởng như văn bản số 688/X15, ngày 29/06/2010 và Công văn chuyển đơn như văn bản số 8070/X13ngày 17/11/2009
Ngoài các loại văn bản trên, còn ban hành và sử dụng một số loại vănbản khác như: Giấy giới thiệu, Giấy đi đường, Giấy chứng nhận, Hợp đồnglao động, Phiếu gửi, Điện, Biên bản,
Nhìn chung, văn bản tại Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND có thểloại đa dạng, số lượng văn bản nhiều Hình thức văn bản là Công văn, Quyếtđịnh chiếm đa số; tiếp đó đến hình thức văn bản là Kế hoạch, Báo cáo Khôngthấy văn bản có hình thức là Chỉ thị
2.2.2 Quy trình soạn thảo văn bản.
* Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, ngày 8/4/2004 của Chính phủ về công tác Văn thư, quy trình soạn thảo văn bản quy định:
“Căn cứ tính chất, nội dung của văn bản cần soạn thảo, người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, giao cho đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo.
Đơn vị hoặc cá nhân có trách nhiệm thực hiện:
Trang 27- Xác định hình thức, nội dung và độ mật, độ khẩn của văn bản cần soạn thảo.
- Thu thập, xử lí thông tin có liên quan.
- Soạn thảo văn bản.
- Trong trường hợp cần thiết, đề xuất với người đứng đầu cơ quan, tổ chức việc tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị, cá nhân có liên quan; nghiên cứu tiếp thu ý kiến để hoàn chỉnh bản thảo.
- Trình duyệt bản thảo văn bản kèm tài liệu có liên quan”
* Tại Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, Thông tư số BCA-V11, ngày 15/12/2009 của Bộ trưởng Bộ Công an (sửa đổi Quyết định
71/2009/TT-số 200-QĐ/BNV(V11) ngày 20/10/1992 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ – nay là
Bộ Công an) quy định về công tác văn thư hành chính, hồ sơ lưu trữ văn quảnquản lí nhà nước trong lực lượng CAND thì quy trình soạn thảo văn bản quyđịnh:
“Thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ được giao chủ trì soạn thảo văn bản phải chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng, Thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương đối với việc soạn thảo văn bản hành chính trong Công an đơn vị, địa phương.
Căn cứ tính chất, nội dung của văn bản cần soạn thảo, Thủ trưởng Công
an đơn vị, địa phương giao cho đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo Đơn vị, cá nhân được giao có trách nhiệm xác định hình thức, nội dung, độ mật, độ khẩn, thu thập xử lí thông tin có liên quan; trong trường hợp cần thiết, đề xuất với Thủ trưởng đơn vị tham khảo ý kiến của cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị, cá nhân có liên quan; nghiên cứu tiếp thu ý kiến để hoàn chỉnh dự thảo Khi trình duyệt bản thảo văn bản phải kèm theo ý kiến tham gia và tài liệu có liên quan.
Trang 28Công an đơn vị, địa phương nhận được đề nghị phối hợp nghiên cứu xây dựng văn bản hoặc tham gia ý kiến các vấn đề thuộc lĩnh vực mình quản lí phải có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, trả lời ý kiến cho đơn vị đề nghị Trường hợp vấn đề hoặc lĩnh vực được đề nghị tham gia ý kiến không thuộc phạm vi đơn vị, địa phương quản lí, theo dõi phải có văn bản báo cáo giải trình lên cấp trên trực tiếp và trả lời đơn vị chủ trì xây dựng văn bản biết”
Như vậy, đối chiếu với các quy định chung, công tác soạn thảo văn bảntại Tổng cục cũng được thực hiện theo đúng quy định, bao gồm các bước:
Bước 1 Xác định mục đích, giới hạn của văn bản, đối tượng giải quyết
- Xác định giới hạn của văn bản: cán bộ soạn thảo làm rõ nội dung văn bản dự định ban hành sẽ đề cập đến những vấn đề gì, mức độ đến đâu, trọng tâm đặt ở vấn đề nào.
- Xác định đối tượng giải quyết và thực hiện văn bản: cán bộ soạn thảo
xác định xem những cơ quan, đơn vị, cá nhân nào có trách nhiệm giải quyết
hoặc thực hiện Nghĩa là, làm rõ văn bản sẽ được phổ biến đến những đối tượng nào, cơ quan hoặc người có trách nhiệm giải quyết là cấp trên, hay cấp
dưới, trong cùng hệ thống hay ngoài hệ thống
Bước 2 Chọn tên loại văn bản
Trang 29Căn cứ vào mục đích, tính chất của văn bản dự định ban hành, thẩm quyền ban hành văn bản và đối tượng giải quyết thực hiện văn bản đó để chọn
tên loại văn bản (Kế hoạch, Báo cáo, Quyết định, Công văn …)
Bước 3 Thu thập và xử lí thông tin
Thông tin có 2 loại:
- Thông tin pháp lí: là các thông tin dùng làm căn cứ pháp lí cho nhữngvấn đề được đề cập trong văn bản, bảo đảm cho nội dung văn bản có cơ sởpháp lí vững chắc, phù hợp với luật pháp hiện hành và quy định của các cơquan cấp trên, không chồng chéo hoặc mâu thuẫn với các văn bản có liênquan khác Thông tin pháp lí được thể hiện dưới dạng tài liệu văn bản Do đó,người làm công tác soạn thảo văn bản có thể thu thập từ hồ sơ hiện hành và hồ
sơ lưu trữ, từ công báo hoặc các nguồn tài liệu khác
- Thông tin thực tế: là thông tin phản ánh tình hình thực tế có liên quanđến văn bản soạn thảo Các thông tin thực tế dùng làm căn cứ cho việc đề racác chủ trương, chính sách, các biện pháp công tác phù hợp với thực tiễn; đảmbảo cho các văn bản đó có khả năng thực thi và mang lại hiệu quả Thông tinthực tế còn là những cứ liệu không thể thiếu để người soạn thảo tổng hợp tìnhhình, số liệu, rút ra những nhận xét, đánh giá, đề xuất vấn đề có cơ sở khoahọc Thông tin thực tế rất đa dạng, ngoài nguồn thông tin văn bản hình thànhtrong hoạt động của Tổng cục và các đơn vị trực thuộc, khi cần thiết, ngườisoạn thảo có thể thu thập bằng cách điều tra, khảo sát thực tế, tổ chức cáccuộc họp để nghe phản ánh tình hình, cung cấp thông tin, đề xuất ý kiến …Thông tin thu thập được phải tiến hành xử lí Nội dung xử lí bao gồm phântích, đánh giá để lựa chọn những thông tin cần thiết và xác thực, xác minh nhữngthông tin cần sử dụng nhưng còn có nghi vấn hoặc chưa trọn vẹn, loại bỏ nhữngthông tin ít liên quan, thông tin trùng lặp hoặc có độ tin cậy thấp, tổng hợp thôngtin cần sử dụng theo từng ý, từng chuyên mục, từng mặt
Trang 30mà văn bản sẽ trình bày Đây là việc đòi hỏi người soạn thảo phải lao động hết sức nghiêm túc và thực sự cầu thị.
Bước 4 Xây dựng đề cương văn bản và viết văn bản
- Xây dựng đề cương văn bản: đề cương văn bản là bản trình bày những
điểm cốt yếu dự định thể hiện ở nội dung văn bản Đề cương văn bản đượcxây dựng trên cơ sở những vấn đề đã được xác định trong bước 1 Đề cươngvăn bản phải thể hiện rõ bố cục của văn bản và khái quát được những ý tưởngđịnh đưa vào các phần, chương, mục của văn bản Việc xây dựng đề cươngvăn bản thường là khi soạn thảo những văn bản dài, nội dung đề cập đếnnhiều vấn đề
- Viết bản thảo: là làm cho những ý chính trong đề cương được lần lượt
thể hiện trong câu văn, đoạn văn và tạo thành mối liên kết chặt chẽ với nhau.Khi viết bản thảo, cần bám sát đề cương, phân chia dung lượng thông tintrong từng chương, mục, từng đoạn cho hợp lí; sử dụng từ, cụm từ, liên kếtđoạn sao cho văn bản trở thành một thể thống nhất, chọn vẹn Khi thảo xong,đọc lại để kiểm tra những sai sót như lỗi chính tả, đã đủ mục đích, yêu cầu đặt
ra, câu văn, từ ngữ đã phù hợp chưa để bổ sung, sửa chữa cho hoàn chỉnh
Bước 5 Duyệt bản thảo: sau khi thảo xong, văn bản được trình cấp có
thẩm quyền duyệt Thông thường, người duyệt văn bản cuối cùng sẽ là người
kí văn bản đó Đối với những văn bản quan trọng trước khi trình ký còn đượclấy ý kiến tham gia của các đơn vị có liên quan
Bước 6 Hoàn thiện văn bản để ban hành
Văn bản sau khi đã được lãnh đạo cơ quan duyệt, cán bộ soạn thảo vănbản có trách nhiệm đọc lại văn bản Khi phát hiện những sai sót do in ấn, hoặcđánh máy bản thô sơ sẽ được trả lại sửa chữa, tiếp đó, làm các thủ tục để hoànthiện văn bản về mặt thể thức, trình kí văn bản, ghi số kí hiệu, ngày tháng
Trang 31năm văn bản, nhân bản, đóng dấu của cơ quan … Những việc này do cán bộ văn thư chuyên trách thực hiện.
* Tuy nhiên, đối với một số văn bản hành chính đơn giản (Công văn traođổi, chuyển đơn, trả lời địa phương ) cán bộ soạn thảo không theo quy trìnhtrên mà thường dùng văn bản đã có sẵn, chỉ cần sửa đổi “cắt dán” đôi chút từ vănbản này sang văn bản khác Việc làm này, giúp cho công tác soạn thảo văn bảnđược nhanh chóng, nhưng có một hạn chế lớn là nếu văn bản trước làm sai thìvăn bản sau lại sai tiếp; do “cắt dán” không cẩn thận dẫn đến tình trạng “râu ông
nọ cắm cằm bà kia” Ví dụ, văn bản số 8055/X13-P1 và văn bản số P1, ngày 16 tháng 11 năm 2009 của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ gửi Công anthành phố Hồ Chí Minh và Công an tỉnh Bến Tre thông báo về việc cấp số hiệu,văn bản trước đây không có trích yếu nội dung, thì các văn bản tiếp theo vẫn sainhư vậy và vì đây là những văn bản “cắt dán” nên văn bản số 8055/X13-P1 gửiCông an thành phố Hồ Chí Minh nhưng lại cấp bổ sung số hiệu cho cán bộ, chiến
8057/X13-sĩ Công an tỉnh và ngược lại văn bản số 8057/X13-P1 gửi Công an tỉnh Bến Trenhưng lại cấp bổ sung số hiệu cho cán bộ, chiến sĩ Công an thành phố (sau đây,các ví dụ đề nghị xem phần phụ lục)
2.2.3 Thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản
Qua khảo sát thực tế, đa số các văn bản ban hành đều có đầy đủ 9 thànhphần thể thức văn bản theo quy định tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP, ngày 06/5/2005 giữa Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướngdẫn về thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản (sau đây gọi tắt là Thông tư 55).Tuy nhiên, các thành phần thể thức văn bản tại Tổng cục Xây dựng lực lượngCAND được trình bày còn thiếu thống nhất, kĩ thuật trình bày còn sai, kết quảkhảo sát như sau:
Quốc hiệu:
Trang 32- Dùng để chỉ tên nước nhằm thể hiện thể chế chính trị của đất nước, ýchí độc lập tự chủ và mục tiêu phấn đấu vì độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúccủa Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam.
- Cách thể hiện quốc hiệu theo Thông tư 55: dòng chữ trên: “Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến
13, kiểu chữ đứng, đậm Dòng chữ dưới: “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm;chữ cái đầu của các cụm từ được viết hoa, giữa các cụm từ có gạch ngangnhỏ; phía dưới có đường kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng độ dài của dòngchữ Ví dụ:
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tên cơ quan ban hành văn bản (tác giả văn bản):
- Tên cơ quan ban hành văn bản giúp cho người đọc, người thi hành vănbản nhận biết văn bản đó của cơ quan nào ban hành và vị trí của cơ quan đótrong hệ thống tổ chức bộ máy
Trang 33- Cách trình bày theo quy định hiện hành tại Thông tư 55: Tên cơ quanban hành văn bản bao gồm tên cơ quan ban hành văn bản và tên cơ quan chủquản cấp trên trực tiếp (nếu có) Tên của cơ quan ban hành văn bản phải đượcghi đầy đủ theo tên gọi chính thức (căn cứ văn bản thành lập, quy định tổchức bộ máy của cơ quan) Tên cơ quan chủ quản cấp trên trực tiếp được trìnhbày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng Tên cơ quan banhành văn bản được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữđứng, đậm; phía dưới có đường kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng từ 1/3 đến1/2 độ dài của dòng chữ và đặt cân đối so với dòng chữ Ví dụ:
BỘ CÔNG AN
TỔNG CỤC XÂY DỰNG
LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN
Theo quy định tại Công văn số 2840/X11-X13, ngày 04/5/2010 của Tổngcục trưởng hướng dẫn về số hiệu trong lực lượng CAND thì Tổng cục Xâydựng lực lượng CAND được sử dụng số hiệu là Tổng cục III để liên lạc, traođổi nên tên cơ quan ban hành văn bản có thể được trình bày:
BỘ CÔNG AN
TỔNG CỤC III
- THỰC TẾ, TÊN CƠ QUAN BAN HÀNH QUY ĐỊNH CHƯA THỐNGNHẤT LÀ TỔNG CỤC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CAND HAY TỔNGCỤC III, CỤC TỔ CHỨC CÁN BỘ HAY X13, VÌ VẬY, HIỆN NAY CÓNHIỀU CÁCH GHI KHÁC NHAU VÍ DỤ:
+ CÙNG LÀ VĂN BẢN DO TỔNG CỤC TRƯỞNG BAN HÀNH CÓ THỂ
THẤY MỘT SỐ CÁCH GHI TÊN CƠ QUAN NHƯ SAU:
VĂN BẢN SỐ 5597/CV-X11-X15, NGÀY 14/8/2009 ĐƯỢC TRÌNH BÀY:
BỘ CÔNG AN
BẢN LÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 34XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CễNG
AN NHÂN DÂN = XDLL CAND)VĂN BẢN SỐ 2444/QĐ-X11 NGÀY 13/4/2010 ĐƯỢC TRèNH BÀY:
BỘ CễNG AN
TỔNG CỤC XDLL-CAND (TấN CƠ QUAN BAN HÀNH VĂN
BẢN LÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮTXÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CễNG
AN NHÂN DÂN, Cể THấM DẤUGẠCH NGANG = XDLL-CAND )VĂN BẢN SỐ 7762/X11(X15), NGÀY 12/11/2009 ĐƯỢC TRèNH BÀY:
TỔNG CỤC XDLL CAND
VĂN PHếNG (tên cơ quan chủ quản là các chữ viết
tắt Xây dựng lực l-ợng Công an nhân dân = XDLL CAND, tên cơ quan ban hành văn bản viết đầy đủ)Văn bản số 2215/X12(P6), ngày 08/9/2009 của Chánh Văn phòng Tổng cục đ-ợc trình bày:
TỔNG CỤC III
VĂN PHếNG (tên cơ quan chủ quản theo số
hiệu, tên cơ quan ban hành vănbản viết đầy đủ)
Văn bản số 980/X15(P4) ngày 25/9/2009 của Cục tr-ởng X15 đ-ợc trình bày:
(tên cơ quan chủ quản, tên cơ quan ban hành văn bản là tên theo số hiệu)
CỤC X15 TỔNG CỤC III
Trang 35V¨n b¶n sè 362 CV/X15, ngµy 11/9/2009 cña Côc tr-ëng X15 ®-îc tr×nh bµy:
TỔNG CỤC XDLL CAND
TẮT THEO TÊN ĐẦY ĐỦ, TÊN CƠQUAN BAN HÀNH VĂN BẢN LÀTÊN THEO SỐ HIỆU)
NHƯ VẬY, CÓ THỂ NÓI, VIỆC GHI TÊN CƠ QUAN BAN HÀNHVĂN BẢN TẠI TỔNG CỤC HIỆN KHÔNG THEO MỘT QUY ĐỊNHNÀO: CÓ VĂN BẢN THÌ GHI THEO TÊN ĐẦY ĐỦ; CÓ VĂN BẢN THÌGHI THEO TÊN SỐ HIỆU; CÓ VĂN BẢN THÌ CƠ QUAN CHỦ QUẢNTHEO TÊN ĐẦY ĐỦ, CƠ QUAN BAN HÀNH VĂN BẢN LẠI THEO TÊN
SỐ HIỆU; CÓ VĂN BẢN CƠ QUAN CHỦ QUẢN THEO TÊN SỐ HIỆU,
CƠ QUAN BAN HÀNH LẠI THEO TÊN ĐẦY ĐỦ
NGOÀI RA, KĨ THUẬT TRÌNH BÀY PHẦN “CƠ QUAN BAN HÀNHVĂN BẢN” VẪN CÕN NHIỀU ĐIỂM SAI VÍ DỤ:
VĂN BẢN SỐ 6482/X11-X14, NGÀY 22/9/2009; VĂN BẢN SỐ 1849/X11(X12) CỦA TỔNG CỤC TRƯỞNG SAI PHÔNG CHỮ, CỠ CHỮ
VĂN BẢN SỐ 525CV/X21, NGÀY 02/12/2009 CỦA BÁO CÔNG ANSAI KIỂU CHỮ
VĂN BẢN SỐ 2444/QĐ-X11 NGÀY 13/4/2010 CỦA TỔNG CỤCTRƯỞNG SAI ĐƯỜNG KẺ NGANG
NHƯ VẬY, TÊN CƠ QUAN BAN HÀNH VĂN BẢN KHÔNGTHỐNG NHẤT, CÓ NHIỀU CÁCH TRÌNH BÀY, CÕN SAI VỀ PHÔNGCHỮ, KIỂU CHỮ, CỠ CHỮ, ĐƯỜNG KẺ NGANG
Số, kí hiệu của văn bản:
- Số, kí hiệu của văn bản giúp cho việc chỉ dẫn, trích dẫn, thống kê, phânloại và tra cứu văn bản được dễ dàng và thuận tiện
Trang 36- Cách trình bày theo quy định hiện hành tại Thông tư 55 là:
+ Số của văn bản được đánh theo số thứ tự đăng ký văn bản do cơ quanban hành trong một năm Số của văn bản được ghi bằng chữ số Ả- rập, bắtđầu từ số 01 vào ngày đầu năm và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm.+ Ký hiệu của văn bản :
Ký hiệu của Quyết định (cá biệt) và các hình thức văn bản có tên loạikhác bao gồm chữ viết tắt tên loại văn bản và chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chứchoặc chức danh nhà nước ban hành văn bản
Ký hiệu của Công văn bao gồm chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chức hoặcchức danh nhà nước ban hành Công văn và chữ viết tắt tên đơn vị soạn thảohoặc chủ trì soạn thảo Công văn đó (nếu có)
Từ “số” được trình bày bằng chữ in thường, ký hiệu bằng chữ in hoa, cỡchữ 13, kiểu chữ đứng; sau từ “số” có dấu hai chấm; giữa số và ký hiệu vănbản có dấu gạch chéo (/); giữa các nhóm chữ viết tắt trong ký hiệu văn bản códấu gạch nối không cách chữ (-) Ví dụ văn bản sau đây đã theo đúng quyđịnh hiện hành :
Số: 2156/QĐ-X11 (đối với văn bản có tên loại)
Số: 1986/X11-X13 (đối với Công văn hành chính)
- Tuy nhiên, kết quả khảo sát tại Tổng cục, một số văn bản còn ghi kí hiệu sai, ví dụ:
+ Văn bản số 2479/TB-X12(P2), ngày
cục Đây là Công văn đề nghị X13 tham gia
giải quyết đơn nhưng lại ghi kí hiệu văn bản
ghi kí hiệu đúng là “Số: 2479/X12-P2”
07/10/2009 của Văn phòng Tổng
ý kiến dự thảo kết luận xác minh
là Thông báo (TB) Văn bản này
Trang 37+ Văn bản số 1028BC/X15(P1), ngày 09/10/2009 của Cục trưởng X15
đề nghị điều động cán bộ Đây là Công văn đề nghị, nhưng lại ghi kí hiệu vănbản là Báo cáo (BC) Văn bản này ghi kí hiệu đúng là “Số: 1028/X15-P1”+ Văn bản số 1849/X11(X12), ngày 13/9/2007 của Tổng cục trưởng.Đây là Báo cáo tổng kết công tác tham mưu và công tác lãnh đạo chỉ huy từ
1998 đến nay, là văn bản có tên loại Văn bản này ghi kí hiệu đúng là “Số: 1849/BC-X11”
+ Văn bản số 2595-CV/X12-P3, ngày 21/10/2009 của Chánh Văn phòngTổng cục gửi các đơn vị trực thuộc Tổng cục Đây là Công văn hướng dẫntổng kết phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” Theo quy định, Công vănkhông cần ghi tên loại văn bản mà chỉ ghi kí hiệu tên cơ quan ban hành vănbản và đơn vị soạn thảo Do đó, văn bản này ghi kí hiệu đúng là “Số:2595/X12-P3”
Như vậy, việc ghi số, kí hiệu văn bản cũng còn tuỳ tiện, chưa chính xác
Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản:
- Địa danh là tên gọi chính thức của đơn vị hành chính mà cơ quan đóngtrụ sở Ngày tháng năm ban hành văn bản là ngày tháng năm kí chính thứcvăn bản đó
- Kĩ thuật trình bày theo quy định hiện hành tại Thông tư 55: bằng chữ inthường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ nghiêng; sau địa danh có dấu phẩy.Ngày, tháng, năm ban hành văn bản phải được viết đầy đủ ngày tháng năm …; các số chỉ ngày, tháng, năm dùng chữ số Ả- rập; đối với những số chỉngày nhỏ hơn 10 và tháng 1, 2 phải ghi thêm số 0 ở trước
Thành phần này nhìn chung được trình bày đúng phông chữ, cỡ chữ,kiểu chữ Tuy nhiên, một số văn bản ghi sai ngày tháng đối với những số chỉngày nhỏ hơn 10 và tháng 1, 2 không ghi thêm số 0 ở trước Đây là lỗi củavăn thư, ví dụ:
Trang 38+ Công văn số 688/X15, ngày 29/06/2010 của Cục trưởng X15 và Công văn số 302/X14(P3), ngày 23/03/2009 của Vụ trưởng X14 (ghi sai tháng).+ Công văn số 1019/X15, ngày 8/10/2009 của Cục trưởng X15 (ghi saingày)
Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản
- Tên loại văn bản là tên gọi chính thức của văn bản như Quyết định, Kếhoạch, Thông báo, Báo cáo Tên loại văn bản nói lên tính chất và mức độquan trọng của văn bản Trích yếu nội dung là câu văn tóm tắt nội dung củavăn bản, giúp cho người giải quyết, người đọc văn bản nhanh chóng và dễdàng nắm được một cách khái quát nội dung của văn bản, tạo thuận lợi chogiải quyết công việc, vào sổ đăng kí, phân loại và tra cứu văn bản
- Cách trình bày theo quy định hiện hành tại Thông tư 55:
+ Văn bản có tên loại: tên loại văn bản được trình bày bằng chữ in hoa,
cỡ chữ từ 14 đến 15, kiểu chữ đứng, đậm; trích yếu nội dung được đặt canhgiữa, ngay dưới tên loại, bằng chữ in thường, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm;bên dưới trích yếu có đường kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng từ 1/3 đến 1/2
độ dài của dòng chữ và đặt cân đối so với dòng chữ Ví dụ:
BÁO CÁO Tổng kết công tác Xây dựng lực lượng năm 2008
+ Trích yếu nội dung Công văn
Trang 39- Kết quả khảo sát:
+ Đối với văn bản có tên loại nh- Quyết định, Kế hoạch, Báo cáo,
Ch-ơng trình đa số văn bản đ-ợc trình bày đúng quy định Tuy nhiên, cònmột số văn bản không có đ-ờng kẻ ngang nét liền, sai phông chữ nh- vănbản số 637/QĐ-X11(X14), ngày 14/4/2008 của Tổng cục tr-ởng về việc
mở lớp đào tạo trung cấp nghiệp vụ Công an cho Tr-ởng Công an cấp xã;văn bản số 6510-TB/X11(X16), ngày 24/09/2009 của Tổng cục tr-ởng;hoặc sai cỡ chữ, kiểu chữ nh- văn bản số 2345/BC-X12-P2, ngày23/9/2009 của Chánh Văn phòng Tổng cục
+ Văn bản có tên loại nh-ng vẫn có “Kính gửi” ở d-ới tên loại vănbản, ví dụ, Thông báo số 8908/TB-X11, ngày 25/12/2009 của Tổngcục tr-ởng về việc thông báo chức vụ và giới thiệu chữ kí
+ Có văn bản đ-ợc chọn 2 hình thức văn bản là Công văn và Thôngbáo, vì thế thừa trích yếu nội dung, ví dụ văn bản số 6424/X11(X25),ngày 18/9/2009 của Tổng cục tr-ởng
+ Đặc biệt, đối với Công văn hành chính, trên 60% văn bản không có trích yếu nội dung, ví dụ Công văn số 7868/X11-X12, ngày 17/11/2009, Công văn số 4840/X12(X25), ngày 23/7/2009 của Tổng cục tr-ởng, Công văn số 2549/X12, ngày 14/10/2009 của Chánh Văn phòng Tổng cục
Nội dung văn bản
- Đõy là yếu tố thụng tin quan trọng nhất, là linh hồn của văn bản bởi núthể hiện mục đớch của việc ban hành văn bản cũng như truyền tải thụng tinchủ thể văn bản
- Cỏch trỡnh bày: phần nội dung trong cỏc văn bản do Tổng cục ban hành
cơ bản đó theo đỳng quy định của Nhà nước tại Thụng tư 55, cụ thể là: đỏnhmỏy kiểu chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14; khi xuống dũng, chữ đầu dũnglựi vào từ 1cm đến 1,27cm (1 default tab); khoảng cỏch giữa cỏc đoạn văn(paragraph) đặt tối thiểu là 6pt; khoảng cỏch giữa cỏc dũng hay cỏch dũng
Trang 40(line spacing) chọn tối thiểu từ cách dòng đơn (single line spacing) hoặc từ15pt (exactly line spacing) trở lên.
Đối với những văn bản có phần căn cứ pháp lí để ban hành thì sau mỗicăn cứ xuống dòng, cuối dòng có dấu chấm phẩy, riêng căn cứ cuối cùng kếtthúc bằng dấu phẩy
Trường hợp nội dung văn bản được phân chia thành các phần, mục từlớn đến nhỏ thì trình bày như sau:
+ Phần (nếu có): từ “phần” và số thứ tự của phần được trình bày trên mộtdòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm
Số thứ tự của phần dùng chữ số La Mã Tiêu đề của phần được đặt ngay dưới,canh giữa, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm;
+ Mục: số thứ tự các mục dùng chữ số La Mã, sau có dấu chấm; tiêu đềcủa mục được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng,đậm;
+ Khoản: số thứ tự các khoản trong mỗi mục dùng chữ số Ả- rập, sau đó
có dấu chấm; số thứ tự và tiêu đề của khoản (nếu có) được trình bày bằng chữ
in thường, cỡ chữ bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng, đậm;+ Điểm: thứ tự các điểm trong mỗi khoản dùng các chữ cái tiếng Việttheo thứ tự abc, sau đó có dấu đóng ngoặc đơn, bằng chữ in thường, cỡ chữbằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng
- Tuy nhiên, ở một số văn bản, kết thúc các căn cứ pháp lí còn đặt dấu sai
Ví dụ, văn bản số 1617/QĐ-X11(X12), ngày 20/10/2005 của Tổng cụctrưởng, theo quy định kết thúc căn cứ bằng dấu chấm phẩy (;), căn cứ cuốicùng kết thúc bằng dấu phẩy (,) thì văn bản này, kết thúc căn cứ (kể cả căn cứcuối cùng) bằng dấu hai chấm Cũng tại văn bản này, từ “Điều” trong Quyếtđịnh còn sai kiểu chữ, cỡ chữ … , ví dụ từ “ ĐIỀU 1:”, “ĐIỀU 2:” Từ “Điều”
được viết đúng là “Điều 1.”, “Điều 2.”…