1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ha loi village, me linh commune, me linh district, hanoi, làng hạ lôi, xã mê linh, huyện mê linh, hà nội

153 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong haicuốn sách này, các tác giả đã giới thiệu những nhận định, những tác phẩm thơ,lời bàn của các sử gia về Hai Bà Trưng và các sáu nữ tướng thời đại Hai Bà.Như vậy, các công trình n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIVIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

-NGUYỄN THỊ THANH LAN

LÀNG HẠ LÔI, XÃ MÊ LINH, HUYỆN MÊ LINH, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ VIỆT NAM HỌC

5 quyển – XB 16 – 140 trang

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học “Làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội” dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Lâm Thị Mỹ Dung là hoàn toàn mới, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác.

- Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, các kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thanh Lan

Trang 3

bộ trong Ủy ban nhân dân xã Mê Linh, Ban quản lý đền Hai Bà Trưng, đình Hạ Lôi và chùa Đại Bi tại xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội Đồng thời, người viết cũng luôn nhận được sự giúp đỡ và tin tưởng rất lớn của người thân, gia đình, đồng nghiệp và bè bạn Đó là những sự giúp đỡ và nguồn cổ vũ quý giá giúp tôi vượt qua khó khăn và hoàn thành khóa học ngày hôm nay Xin gửi đến mọi người lời cảm ơn và biết ơn chân thành nhất!

Mặc dù, người viết đã cố gắng hết sức, tuy nhiên do hạn chế về khả năng, trình độ, thời gian…khiến luận văn không tránh khỏi nhiều thiếu sót Người viết kính mong sự góp

ý của các Quý thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè giúp người viết khắc phục những hạn chế, tiếp tục phát triển đề tài của mình trong những công trình nghiên cứu tiếp theo.

Một lần nữa, xin gửi đến Cô, Thầy, các cơ quan đoàn thể, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè lời cảm ơn chân thành nhất!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Lan

Trang 4

Công nghiệp hóa- hiện đại hóa

Giao thông vận tảiNhà xuất bản

Ủy ban nhân dânVăn hóa thông tinTrung tâm thể dục thể thaoVăn hóa xã hội

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu: 4

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục của luận văn: 8

PHẦN NỘI DUNG 10

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG HẠ LÔI 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Khái niệm văn hóa 10

1.1.2 Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể: 16

1.1.2.1 Di sản văn hóa vật thể. 16

1.1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể: 16

1.1.3 Lý luận về làng văn hóa và văn hóa làng 19

1.1.3.1 Khái niệm làng và làng văn hóa 19

1.1.3.2 Văn hóa làng 21

1.2 Tổng quan về làng Hạ Lôi 23

1.2.1 Nền tảng tự nhiên làng Hạ Lôi 23

1.2.1.1.Vị trí địa lý: 23

1.2.1.2.Điều kiện địa hình 25

1.2.1.3 Khí hậu và thời tiết 25

1.2.1.4 Các nguồn tài nguyên 26

1.2.2 Lịch sử địa chí làng Hạ Lôi 26

1.2.3 Lịch sử về tên gọi làng Hạ Lôi 32

Trang 6

1.2.4 Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội làng Hạ Lôi 33

1.2.4.1 Diện tích 33

1.2.4.2 Dân số 33

1.2.4.3 Tình hình kinh tế 34

1.2.4.4 Tình hình văn hóa- xã hội 38

1.3 Tiểu kết 39

Chương 2: MỘT SỐ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ LÀNG HẠ LÔI 40

2.1 Một số di sản văn hóa vật thể của làng Hạ Lôi 40

2.1.1 Đền thờ Hai Bà Trưng 40

2.1.1.1 Lịch sử và truyền thuyết về Hai Bà Trưng: 40

2.1.1.2 Đền Hai Bà Trưng 44

2.1.2.2.1 Về vị trí địa lý 44

2.1.2.2.2 Về lịch sử xây dựng đền Hai Bà Trưng 45

2.1.2 Đền thờ thánh Cốt Tung: 58

2.1.3 Đình làng Hạ Lôi 60

2.1.4 Chùa Đoài (Đại Bi Tự) 63

2.2 Một số di sản văn hóa phi vật thể 65

2.2.1 Lễ hội đền Hai Bà Trưng 65

2.2.1.1 Về thời gian tổ chức, 65

2.2.1.2 Về không gian tổ chức lễ hội 66

2.2.1.3 Nội dung lễ hội 66

2.2.1.4 Ý nghĩa lễ hội đền Hai Bà Trưng 86

2.2.2 Phong tục, tôn giáo và tín ngưỡng 87

2.2.2.1 Tục Kết chạ 87

2.2.2.2 Tôn giáo và tín ngưỡng 88

2.2.3.Các truyền thuyết cổ 90

Trang 7

2.2.3.1 Truyền thuyết về thánh Cốt Tung 90

2.2.3.2 Truyền thuyết về cánh đồng Dai 92

2.2.3.3 Truyền thuyết về cánh đồng Đống 93

2.2.3.4 Truyền thuyết về cánh đồng Vỡ 93

2.2.3.5 Truyền thuyết về cánh đồng Đỗi 94

2.2.3.6.Truyền thuyết về Hai Cây Muỗm 94

2.3 Tiểu kết 95

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA HIỆN NAY CỦA LÀNG HẠ LÔI 96

3.1 Thực trạng sự tác động của quá trình đô thị hóa đền đời sống kinh tế xã hội và văn hóa hiện nay của làng Hạ Lôi 96

3.1.1 Thực trạng và những tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế -xã hội hiện nay của làng Hạ Lôi 96

3.1.1.1 Thực trạng kinh tế - xã hội 96

3.1.1.2 Tác động của quá trình đô thị hóa đến đời sống của người dân làng Hạ Lôi, xã Mê Linh 102

3.1.2 Thực trạng và những biến đổi trong đời sống văn hóa và lễ hội hiện nay của làng Hạ Lôi dưới sự tác động của quá trình đô thị hóa 108

3.1.2.1 Sự biến đổi trong đời sống văn hóa 108

3.1.2.2 Sự biến đổi trong hoạt động lễ hội tại đền Hai Bà Trưng 110

3.2 Nguyên nhân 113

3.2.1 Về khách quan 113

3.2.2 Về chủ quan 114

3.3 Giải pháp và gợi ý định hướng phát triển làng Hạ Lôi 115

3.3.1 Xây dựng làng nghề trồng hoa theo hướng phát triển bền vững 115

3.3.2 Khôi phục một số di tích và những truyền thuyết đã mất 118

Trang 8

3.3.3 Điều chỉnh hoạt động lễ hội 119

3.3.4 Phát triển dịch vụ du lịch – văn hóa 120

3.3.5 Gợi ý định hướng phát triển làng 122

3.4 Tiểu kết 124

PHẦN KẾT LUẬN 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

PHỤ LỤC 134

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Mê Linh 24

Hình 1.2: Xã Mê Linh qua ảnh vệ tinh Google Earth 24

Hình 2.1: Tranh vẽ ghi lại cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng 41

Trang 10

DANH MỤC ẢNH

Ảnh 2.1: Đền Hai Bà Trưng năm 2009 44

Ảnh 2.2: Sơ đồ Bình diện thành Mê Linh tại nhà Trưng bày, đền Hai Bà Trưng 44

Ảnh 2.3: Một đoạn được coi là bờ thành Mê Linh bằng đất xưa còn xót lại 45

sau đền Hai Bà Trưng 45

Ảnh 2.4: Văn bia ghi đổi hướng đền 46

Ảnh 2.5: Tượng Hai Bà Trưng ở gian chính điện trong đền 47

Ảnh 2.6 : Cảnh nhà tiền tế 50

Ảnh 2.7: Hình ảnh lục bộ nữ tướng ở đền Hai Bà Trưng 51

Ảnh 2.8: Một trong tám sắc phòng còn lưu giữ tại nhà Trưng bày đền Hai Bà Trưng 55

Ảnh 2.9: Đền thờ thân phụ ông Thi Sách 55

Ảnh 2.10: Nhà bia ghi dấu tích hoạt động cách mạng của Tổng bí thư Trường Chinh 56 Ảnh 2.11: Cảnh sân đền trước tam môn ngoại (tác giả chụp năm 2011) 57

Ảnh 2.12: Tấm bằng công nhận đền Hai Bà Trưng là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia năm 1980 57

Ảnh 2.13 Nhà thờ Thiên chúa giáo tại xóm Bàng, làng Hạ Lôi 64

Ảnh 2.14 Đoàn rước kiệu bắt đầu xuất phát 69

Ảnh 2.15: Dân làng chọn những bô lão có đức độ, uy tín để đánh trống trong ngày hội 70

Ảnh 2.16 Lễ rước tượng voi chiến cùng các lễ vật từ Đình Hạ Lôi đến đền thờ Hai Bà 71

Ảnh 2.17: Thiếu nữ Mê Linh trong vai quân lính vua Bà năm xưa 71

Ảnh 2.18: Những lễ vật được người dân thành kính dâng lên vua Bà 72

Ảnh 2.19 Đoàn rước hội đền Hai Bà Trưng trên đường Kéo Quân 73 Ảnh 2.20: Đại tế ngày mồng 6 tháng Giêng năm 2005 76

Trang 11

Ảnh 2.21: Chơi cờ người tại hội đền Hai Bà Trưng 81

Ảnh 2.22: Hội vật đền Hai Bà Trưng 83

Ảnh 2.23: Hát quan họ trên hồ Tắm voi tại đền Hai Bà Trưng 85

Ảnh 3.1: Những ruộng hoa màu mỡ tại xã Mê Linh 100

Ảnh 3.2 Một cảnh mua bán hoa tại Chợ Hoa Mê Linh 101

Ảnh 3.3: Những ruộng hoa sau khi bị thu hồi và bị bỏ hoang lãng phí 107

Ảnh 3.4 Một cảnh đường làng trên địa bàn xóm Chợ, xã Mê Linh 108

Ảnh 3.5 Cảnh một số nhà dân trên địa bàn xóm Đình, xã Mê Linh 110

Ảnh3.6: “Xới” tôm, cua, cá thu hút cả học sinh tham gia 112

Trang 12

DANH MỤC BẢNG

TrangBảng 2.1: Các hạng mục được trùng tu, xây dựng mới tại đền Hai Bà Trưng

(2004-2008) 48

Bảng 3.1 Bảng thống kê tổng thu nhập từ các ngành kinh tế của xã Mê Linh (giai

Bảng 3.4 Bảng thống kê một số tệ nạn xã hội điển hình ở xã Mê Linh (giai

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với bề dày lịch sử hàng nghìn năm, làng Hạ Lôi thuộc xã Mê Linh,huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội không chỉ là vùng đất cổ lưu giữ nhữngtruyền thống và bản sắc văn hóa của nền văn hiến Văn Lang - Âu Lạc mà còn

là quê hương, là kinh đô của hai vị nữ tướng anh hùng Trưng Trắc và TrưngNhị - người có công dấy lên phòng trào chống giặc ngoại xâm, lật đổ ách đô

hộ tàn bạo của quân xâm lược Đông Hán trên vùng đất châu thổ Bắc Bộ ViệtNam trong những năm 40 - 43 đầu Công nguyên, giành độc lập lần đầu tiêntrong lịch sử dân tộc Việt Nam Tinh thần anh dũng quật cường “Giặc đếnnhà, đàn bà cũng đánh” của cuộc khởi nghĩa đã trở thành biểu tượng cho dântộc ta và cho phụ nữ Việt Nam Từ triết lý “sinh vi danh tướng, tử vi thần” vàlòng kính trọng, biết ơn công lao to lớn của Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnhthời đó, người dân nơi đây đã lập đền thờ và tổ chức lễ hội hàng năm Thôngqua các hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú và đặc sắc, lễ hộinày đã trở thành hạt nhân cố kết nhiều thành tố văn hóa, thu hút sự tham giađông đảo của hàng ngàn khách địa phương và du khách thập phương Và đềnHai Bà Trưng tại làng Hạ Lôi đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sửcấp quốc gia đánh dấu:

“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.”

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, từ thời Hai Bà Trưng, rồi những nămBắc thuộc, qua các đời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ cho đến hai cuộckháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hạ Lôi vẫn đứng vững, phát triểnmạnh mẽ Nơi đây không chỉ là vùng đất của văn hóa dân gian, của lễ hội vănhóa tâm linh và lưu giữ kho tàng văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần hết sức

Trang 14

giá trị mà còn là “mảnh đất năng động” luôn vươn mình hòa nhập cùng quátrình đô thị hóa, hiện đại hóa đất nước Đặc biệt, kể từ khi tỉnh Vĩnh Phúc bàngiao huyện Mê Linh về thủ đô Hà Nội, làng cổ Hạ Lôi (còn gọi là làng hoa

Mê Linh), xã Mê Linh đang biến đổi rõ nét trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa,chính trị và xã hội

Mặc dù, từ xưa đến nay, nghiên cứu về công lao sự nghiệp dựng nước

và giữ nước của Hai Bà Trưng đã trở thành đề tài hấp dẫn của nhiều nhà sửhọc, văn hóa, văn học và kinh tế- xã hội…nhưng việc nghiên cứu một cáchtoàn diện về làng cổ Hạ Lôi - quê hương của hai vị nữ tướng anh hùng này thìchưa có một công trình tổng hợp nào

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện

Mê Linh, Hà Nội” làm đề tài luận văn cao học của mình Luận văn nghiên cứu

về làng cổ Hạ Lôi hoàn thành vào thời gian thủ đô Hà Nội vừa tròn 1000 nămtuổi sẽ góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu lịch sử - văn hóa của thủ đô

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, các tác phẩm nghiên cứu, ghi chép về làng cổ Hạ Lôi cònrất ít Các tài liệu chủ yếu nghiên cứu lịch sử và các truyền thuyết về Hai BàTrưng và chỉ dừng ở việc sưu tầm, ghi chép, phân tích những giá trị mà chưa

đi sâu vào khai thác truyền thuyết trong đời sống lễ hội đền Hai Bà Trưng vàgiới thiệu về làng cổ Hạ Lôi, quê hương của Hai Bà

Trong những thư tịch cổ nhất còn lưu trữ tại viện Hán Nôm Việt Nam

có cuốn “Phúc Yên tỉnh Yên Lãng phủ Hạ Lôi tổng Hạ Lôi xã thần sắc”, đây

là cuốn sách in bằng chữ Hán chủ yếu đề cập và lưu lại những thần sắc tại

làng Hạ Lôi xưa “Thần sắc xã Hạ Lôi thuộc tổng Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tỉnh

Phúc Yên, phong cấp vào các năm Vĩnh Thịnh (2 đạo), Cảnh Hưng (2 đạo),Chiêu Thống (4 đạo), Cảnh Thịnh (3 đạo)” với những thần sắc về “Phong cho

Trang 15

Bàn Thái Hầu Nội Giám Dương Hữu Sủng; Đặng Công Đại Vương; TrưngThị Chi Thần; Cốt Tung Đại Vương” [68, tr13].

Năm 1572, Nguyễn Bính biên soạn cuốn “Phúc Yên tỉnh Yên Lãng phủ

Hạ Lôi tổng các xã thần tích” được viết bằng chữ Hán có tới 39 trang cũng có

đề cập đến các thần tích về Cốt Tung Uy Linh thượng Đẳng thần, và xã Hạ

Lôi với gồm sự tích Trưng Trắc Hoàng Đế, Trưng Nhị Hoàng Đế, có bài hịch

về việc đánh Tô Định [48, tr30]

Năm 1975, Chi hội văn nghệ dân gian Vĩnh Phúc đã xuất bản cuốn

“Truyền thuyết Trưng Vương”, giới thiệu 12 truyền thuyết về Hai Bà Trưng

và các nữ tướng của Hai Bà thời đó Năm 1978, tác giả Bùi Thiết khi viếtcuốn “Trẩy hội non sông” và năm 1979, nhiều tác giả đã cho ra đời cuốn

“Một số truyền thuyết về các tướng lĩnh của Hai Bà” đã giới thiệu các tướnglĩnh, những vị anh hùng giúp Hai Bà đánh giặc

Gần đây nhất, với việc xuất bản cuốn “Tuyển tập văn học dân gian ViệtNam”, nhà xuất bản Giáo dục cũng đã giới thiệu đầy đủ 10 truyền thuyết vềHai Bà cùng các nữ tướng Một số cuốn sách khác như “Các nữ thần ViệtNam”, “Những vì sao đất nước” cũng chỉ đề cập đến các truyền thuyết vềHai Bà Trưng

Trong những sách viết về làng Hạ Lôi, chúng ta không thể bỏ qua tácphẩm “Mê Linh một vùng đất cổ” của tác giả Trần Duy Phương, xuất bảnnăm 2004 Có thể nói, so với các tác phẩm trên, đây là cuốn sách duy nhấtgiới thiệu khái quát về thân thế, sự nghiệp, cuộc đời Hai Bà Trưng, về sư phụ

và sư mẫu của Hai Bà và một số huyền thoai, hoành phi, câu đối về cuộc khởinghĩa và công lao của Hai Bà Trưng, , đồng thời, thống kê môt số di tích lịch

sử hiện có ở Mê Linh

Gần đây nhất, hai tác giả Đặng Anh Ninh và Nguyễn Huy Canh đã cho

ra đời hai cuốn sách “Hai Bà Trưng nhìn từ góc nhìn lịch sử” và cuốn “Lục bộ

Trang 16

nữ tướng thời Hai Bà Trưng” (Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, 2005) Trong haicuốn sách này, các tác giả đã giới thiệu những nhận định, những tác phẩm thơ,lời bàn của các sử gia về Hai Bà Trưng và các sáu nữ tướng thời đại Hai Bà.

Như vậy, các công trình nghiên cứu về làng cổ Hạ Lôi chưa nhiều.Thực tế, đến bây giờ, chưa có một công trình nào đề cập một cách có hệthống, toàn vẹn về các mặt địa lý, lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hộicủa làng Đây cũng là một lý do để người viết chọn làng Hạ Lôi làm đề tài choluận văn của mình

Đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:

Mê Linh, Thành phố Hà Nội

làng Hạ Lôi với thủ đô nói riêng và cả nước nói chung,

kinh tế bền vững, bảo vệ, làm giàu và phát huy những giá trị văn hóa đặc trưng đã

có tại làng Hạ Lôi; từ đó, giúp người đọc có thể hiểu sâu sắc hơn và có cái nhìnvừa cụ thể, vừa toàn cảnh về làng Hạ Lôi

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

4.1 Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những giá trị văn

hóa vật thể và phi vật thể; tiềm năng, thực trạng kinh tế - xã hội trong quátrình đô thi hóa; phát triển du du lịch làng xã thông qua lễ hội đền Hai BàTrưng từ năm 2005 -2010 và các giải pháp khoa học góp phần thúc đẩy pháttriển kinh tế, văn hóa - xã hội làng Hạ Lôi theo hướng nhanh, mạnh, bềnvững

4.2 Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi

làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, thành phố Hà Nội

Trang 17

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Mỗi ngµnh khoa học có thể sử dụng c¸c phương pháp nghiên cứu khácnhau víi những ưu thế và hạn chế nhất định Trong quá trình nghiên cứu đề tàinày, người viết dựa trên những phương pháp và quan điểm sau:

5.1 Quan điểm lịch sử

Mỗi sự vật trong đời sống và trong tự nhiên luôn luôn vận động theotrình tự thời gian Đặc điểm của đối tượng vào một thời điểm nào đó là kếtquả của quá trình chuyển hoá lâu dài, và ở một mức độ nào đó cũng cho biếtđược tương lai của nó Hoạt động nghiên cứu về làng xã cũng không nằmngoài quy luật vận động đó, vì vậy muốn rút ra bài học kinh nghiệm, dự đoánđược xu hướng phát triển, đề ra giải pháp hữu hiệu áp dụng quan điểm lịch sử

để phân tích tình hình hoạt động kinh tế, văn hóa và du lịch trước đó

5.2 Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: thu thập thông tin, tài liệu, số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu, bao gồm

Những tài liệu thứ cấp này là cơ sở, nền tảng cho việc tiến hành nghiêncứu thực địa tại địa phương, đồng thời giúp sàng lọc thông tin, tập trung vàonhững vấn đề chính, từ đó giúp tiết kiệm thời gian nghiên cứu

Sử dụng hình thức phỏng vấn bán chính thức dựa trên cơ sở bảng hỏi

để phát hiện vấn đề cần quan tâm, trong đó chú trọng điều tra mong muốn củangười dân trong việc lựa chọn phướng án phát triển của làng xã

5.3 Phương pháp biểu đồ, thống kê

Các số liệu thống kê trong nghiên cứu kinh tế, văn hóa - xã hội là rấtphổ biến: thực trạng và những biến đổi kinh tế, xã hội diễn ra tại làng Hạ Lôi

Trang 18

trong những năm gần đây với phương pháp phân tích biểu đồ, phân tích cácbảng thống kê cho phép rút ra nhiều kết luận quan trọng về sự biến đổi toàndiện của làng Các loại bảng biểu, biểu đồ là những hình thức biểu hiện sự vậttrực quan sinh động.

5.4 Phương pháp thực địa

Phương pháp này được tiến hành để có cái nhìn tổng thể về địa phươngnghiên cứu, tìm hiểu thêm các số liệu cần thiết mà chưa được đề cập đếntrong các tài liệu thứ cấp có liên quan dến nội dung nghiên cứu, chúng tôi đãtiến hành khảo sát, điền dã thực tế, điều tra xã hội học (phát phiếu điều trakinh tế, văn hóa, xã hội cho 300 hộ đại diện của các xóm khác nhau trong làng

Hạ Lôi) để thu thập các thông tin cần thiết, nhằm rút ra những kết luận chínhxác, nâng cao ý nghĩa thực tiễn của luận văn

5.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành và khu vực học

Khác với khoa học chuyên ngành lấy lĩnh vực hoạt động của con ngườilàm đối tượng nghiên cứu (ngôn ngữ, chính trị, văn học, lịch sử…) Phươngpháp liên ngành lấy không gian văn hóa làm đối tượng tìm hiểu với mục đíchđạt tới những nhận thức tổng hợp về không gian, trong đó mối liên hệ mậtthiết giữa các lĩnh vực hoạt động của con người và quan hệ tương tác giữa conngười với điều kiện tự nhiên được nghiên cứu một cách đầy đủ Áp dụngphương pháp liên ngành vào nghiên cứu làng Hạ Lôi có nghĩa là không đơnthuần nghiên cứu dưới góc độ địa lý, văn hóa hay kinh tế mà kết hợp nhiềungành khoa học khác nhau (địa lý, du lịch, kinh tế, văn học, lịch sử…) nhằmtìm hiểu một cách đầy đủ, toàn diện nhất về làng Hạ Lôi trong quá khứ và đặcbiệt trong giai đoạn hiện nay Áp dụng phương pháp liên ngành vào liênnghiên cứu làng, thấy được mối quan hệ giữa con người và các yếu tố vănhóa,

Trang 19

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn giới thiệu một cách khái quát và khá toàn diện về lịch sử, vănhóa, kinh tế, xã hội làng Hạ Lôi, một làng cổ có lịch sử hàng nghìn năm tronglịch sử dựng nước, giữ nước, và phát triển đi lên quá trình đô thị hóa Trong

đó, người viết đi sâu giới thiệu về một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể,đặc biệt là lễ hội đền Hai Bà Trưng – một lễ hội lớn không chỉ có giá trị vớingười dân địa phương mà còn với cả nhân dân cả nước với những nét đặctrưng riêng biệt và độc đáo Từ đó, người viết cũng đưa ra những biến đổitrong hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt trong hoạt động lễ hội nơiđây Đồng thời, người viết cũng thử đưa ra những giải pháp để phát huynhững mặt tích cực và khắc phục những tồn tại đã có trong những hoạt độngtrên tại làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội

Ngoài ra, làng cổ Hạ Lôi cũng chính là “vựa hoa” của thủ đô Hà Nộihiện nay Tuy nhiên, việc đô thị hóa đã tác động quá nhiều vào đời sống mọimặt của người dân Hạ Lôi, Mê Linh và có nguy cơ “xóa sổ” một làng nghềtrồng hoa của những người nông dân cần mẫn và giàu kinh nghiệm… Luậnvăn sẽ đưa ra thực trạng của quá trình đô thị hóa làng hoa Hạ Lôi, Mê Linh vàgiải pháp để giúp Hạ Lôi không chỉ lưu giữ được những giá trị văn hóa dângian mà còn lưu giữ và phát huy nghề trồng hoa, môi trường cảnh quan mộtvùng quê giàu đẹp

Là công trình nghiên cứu làng xã theo hướng liên ngành, lần đầu tiênluận văn đã kết hợp phương pháp và kiến thức của nhiều ngành khoa học: vănhóa, lịch sử, du lịch, kinh tế, địa lý, văn học, áp dụng vào nghiên cứu làng

Hạ Lôi Vì vậy, những kết luận về các giá trị văn hóa và kinh tế, xã hội đượcnhìn nhận tổng hợp, không đơn thuần là số liệu kinh tế mà dựa trên cả cơ sởphân tích những giá trị nhân văn và biến đổi xã hội, biến đổi thiên nhiên trướcảnh hưởng của hoạt động du lịch và quá trình đô thị hóa Các giải pháp mà

Trang 20

luận văn đưa ra cũng chủ yếu nhấn mạnh đến việc kết hợp giải pháp cần thiếttrước mắt là xây dựng văn hóa du lịch với giải pháp lâu dài là đầu tư nâng cấp

cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đào tạo du lao động du lịch có chiềusâu, phát triển du lịch văn hóa lịch sử theo hướng bền vững; đồng thời pháttriển làng nghề bền vững trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa hiệnnay

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài các phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan làng Hạ Lôi

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm văn hóa

1.2 Khái niệm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể1.3 Lý luận về làng văn hóa và văn hóa làng

Chương 2 Một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể làng Hạ Lôi

2.1 Một số di sản văn hóa vật thể của làng Hạ Lôi

2.1.1 Đền thờ Hai Bà Trưng

2.1.2 Đền thờ thánh Cốt Tung

2.1.3 Đình làng Hạ Lôi

2.1.4 Chùa Đoài ( Đại Bi Tự)

2.2 Một số di sản văn hóa phi vật thể của làng Hạ Lôi

2.2.1 Lễ hội đền Hai Bà Trưng

Trang 21

2.2.2 Phong tục, tôn giáo và tín ngưỡng

3.1.1 Thực trạng và những tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh

tế - xã hội hiện nay của làng Hạ Lôi

3.1.2 Thực trạng và những biến đổi trong đời sống văn hóa và lễ hội hiện nay của làng Hạ Lôi

3.1.2.1 Sự biến đổi trong đời sống văn hóa

3.1.2.2 Sự biến đổi trong hoạt động lễ hội tại đền Hai Bà Trưng

3.2 Biện pháp và gơi ý định hướng phát triển làng Hạ Lôi

3.2.1 Xây dựng làng nghề trồng hoa theo hướng phát triển bền vững3.2.2 Khôi phục một số di tích và những truyền thuyết đã mất

3.2.3 Điều chỉnh hoạt động lễ hội

3.2.4 Phát triển dịch vụ du lịch – văn hóa

3.2.5 Gợi ý định hướng phát triển làng Hạ Lôi

3.3 Tiểu kết.

Trang 22

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG HẠ LÔI1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Như chúng ta đều viết, bàn về văn hóa đã có hàng trăm bài viết, côngtrình nghiên cứu về khái niệm này, nhưng cho đến nay, giới nghiên cứu khoahọc, giảng dạy về văn hoá trong nước cũng như trên thế giới vẫn chưa thốngnhất được một khái niệm chung nhất Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, các nhà khoahọc lại đặt ra một khái niệm riêng cho mình để nghiên cứu Mỗi thể chế chínhtrị, mỗi quốc gia, mỗi ngành khoa học xã hội nhân văn cũng có một khái niệm

về văn hoá riêng biệt Nhiều nhà khoa học đi thống kê các khái niệm văn hoá

và có thể tìm thấy hàng vài trăm khái niệm

Vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A L Kreber vàK.Klaxon đã thu thập được 164 cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ vănhoá Trong cuốn “Triết học văn hoá” M.S.Kagan thu thập được hơn 70 cáchđịnh nghĩa khác nhau Tại Hội nghị về văn hoá UNESCO tại Mêhicô năm

1982, người ta cũng đã đưa ra 200 định nghĩa về văn hoá Hiện nay thì sốlượng khái niệm về văn hoá ngày càng tăng thêm và khó mà thống kê hếtđược

Qua quá trình tìm hiểu về văn hoá, có thể định vị một số dạng tiêu biểucủa các khái niệm về văn hoá và quy các dạng khái niệm về văn hoá như sau:

Văn hoá theo nghĩa rộng nhất là khái niệm văn hoá bao gồm tất cảnhững sản phẩm vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra và mang tínhgiá trị Theo khái niệm này, có thể thấy văn hoá bao gồm cả vật chất và tinh

Trang 23

thần, cả kinh tế lẫn xã hội Có lẽ đây là những khái niệm theo nghĩa rộng nhất

về văn hoá

Một số khái niệm dù không theo nghĩa rộng như trên nhưng vẫn theonghĩa rộng kiểu như: Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, văn hoá là tất cảđời sống tinh thần của con người v.v…

Đa số các nhà nghiên cứu, giảng dạy về văn hoá ở Việt Nam là nhữngngười được đào tạo trong khối các nước Xã Hội Chủ Nghĩa trước đây Vì vậy,khái niệm được sử dụng nhiều nhất và gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lýthuyết và áp dụng thực tiễn ở Việt Nam là khái niệm văn hoá của Liên Xô

(cũ) “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng

tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội; Các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài người”[72, tr62]

Đây là một khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, mang tính triết học, cóphần nghiêng về hoạt động sáng tạo trong lịch sử xã hội loài người, thiên vềtính giá trị, được hình thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê nin Trong cuốn

“Cơ sở văn hoá Việt Nam”, GS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm (cũng học tập ở LiênXô) đưa ra khái niệm:

“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ” [50, tr10]

Có thể thấy hai khái niệm nêu trên có sự tương đồng Theo đó, văn hoáđược hình thành từ khi con người biết sáng tạo (có nghĩa là văn hoá hìnhthành cùng với sự hình thành loài người) Văn hoá là tất thảy những sản phẩmvật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (văn hoá phi vật thể) do con người sángtạo ra trong quá khứ, hiện tại Cả hai khái niệm nêu trên đều gắn với chữ “giátrị” Có nghĩa rằng, không phải tất cả những sản phẩm con người sáng tạo rađều là văn hoá mà chỉ những sản phẩm có chứa đựng giá trị (là cái có ích cho

Trang 24

con người) Cũng có nghĩa, những sản phẩm do con người làm ra (sáng tạo ra)nhưng không mang tính giá trị thì không phải là văn hoá (ví dụ: bom hạt nhân,heroin, chất độc hoá học, vũ khí giết người v.v…) Những danh lam thắngcảnh như vịnh Hạ Long, động Phong Nha - Kẻ Bảng v.v… tuy không phải docon người làm ra nhưng con người tìm ra và thưởng thức vẻ đẹp của nó(thưởng thức là một sáng tạo) cũng là văn hoá.

Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục

đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công

cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [33, tr19]

phẩm do con người sáng tạo ra, trong đó có văn hoá vật thể (những công cụ

cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở…), có văn hoá phi vật thể (ngôn ngữ,đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật) Chữ “giá trị”được ẩn dưới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống… nhu cầuđời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Những sản phẩm do con người phátminh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩmnhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng những giá trị Như vậy,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng

Trong Hội nghị liên Chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970tại Venise, ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm:

"Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm

Trang 25

tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống

và lao động" [73, tr21]

Đây là khái niệm được đưa ra trong bối cảnh thế giới còn có sự phânbiệt văn hoá dân tộc lớn, dân tộc nhỏ, văn hoá dân tộc này cao, dân tộc kiathấp, văn hoá dân tộc này văn minh, văn hoá dân tộc kia lạc hậu Khái niệmnêu trên có ý nghĩa chính trị rất lớn về việc khẳng định mỗi dân tộc có bản sắcriêng Quan điểm này càng được khẳng định tại Tại Hội nghị quốc tế về vănhóa ở Mêhicô để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO Hội nghị này có hơn mộtnghìn đại biểu đại diện cho hơn một trăm quốc gia tham gia từ ngày 26/7 đến6/8 năm 1982, người ta đã đưa ra trên 200 định nghĩa Cuối cùng Hội nghịchấp nhận một định nghĩa như sau:

“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” [72, tr8]

Khái niệm trên vừa nói đến văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, vừanói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt về văn hoá củamột xã hội hay một nhóm người trong xã hội” Như vậy, khái niệm trên cũng

là khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhậnmỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hoá riêng biệt

Văn hoá theo nghĩa hẹp gồm những khái niệm gắn từ “văn hoá” vớimột chuyên ngành nào đó Ví dụ: văn hoá dân gian, văn hoá bác học, văn hoátôn giáo, văn hoá giao tiếp, văn hoá xã hội văn hoá chính trị, văn hoá ứng xử(giao tiếp), văn hoá nghệ thuật, văn hoá giáo dục (học vấn), văn hoá kinh

Trang 26

doanh, dân tộc học văn hoá, nhân học văn hoá, địa văn hoá, sử văn hoá, triếthọc văn hoá, xã hội học văn hoá v.v…

Còn đối với những khái niệm văn hoá theo nghĩa hẹp, những từ đượcgắn với từ “văn hoá” sẽ chiếm vị trí chính yếu trong khái niệm đó Ví dụ kháiniệm “văn hoá nghệ thuật” hay “văn học nghệ thuật” là khái niệm văn hoá gắnvới việc sáng tạo, hưởng thụ và phê bình các chuyên ngành văn hoá nghệthuật như âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh v.v…; Khái niệm “văn hoá

tư tưởng” là khái niệm gắn với thể chế chính trị và công tác lý luận; Kháiniệm “văn hoá giao tiếp” nói đến mối quan hệ ứng xử giữa người với người;Khái niệm “sử văn hoá” nói đến quá trình hình thành và phát triển của mộtnền văn hoá theo trục thời gian và trong không gian; Khái niệm “địa văn hoá”nói đến điều kiện địa lý khí hậu trong một không gian nhất định ảnh hưởngđến một nền văn hoá nào đó v.v…

Ngày nay, các ngành nghiên cứu khoa học xã hội ngày càng phát triển.Trong đó có Văn hoá học Văn hoá học như là một ngành khoa học tổng hợpbởi tính chất liên ngành của nó, thể hiện đầy đủ bản chất vừa phong phú, vừaphức tạp của văn hoá Mặc dù là một khoa học liên ngành nhưng khi nghiêncứu, tuỳ theo từng đối tượng, phạm vi nghiên cứu để nhà nghiên cứu định ramột hoặc hai ngành trung tâm Ví dụ như nghiên cứu về lễ hội thì phải lấyngành văn hoá dân gian làm trung tâm, nghiên cứu về đời sống tâm linh củangười Kh’me thì phải lấy ngành văn hoá tôn giáo làm trung tâm, nghiên cứu

về lý luận văn hoá thì phải lấy văn hoá chính trị làm trung tâm v.v…

Mặc dù khoa học nghiên cứu văn hoá đã hình thành từ vài trăm nămnay và ngày càng phát triển, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệmvăn hoá chung nhất, được thống nhất cao nhất Tổ chức cao nhất về văn hoácủa nhân loại là UNESCO đã nhiều lần đưa ra những khái niệm về văn hoá(như khái niệm năm 1982) nhưng cũng chưa phải là khái niệm được toàn thế

Trang 27

giới chấp nhận Với tính chất vừa phong phú, vừa phức tạp của văn hoá, đểtìm ra một khái niệm văn hoá chung cho tất cả các nhà nghiên cứu khoa họcvăn hoá là điều khó có thể có được Khái niệm về văn hoá của Liên Xô (cũ)được ghi trong Từ điển triết học - Nxb Chính trị Matxcova – 1972, với sựphân tích ở trên, có lẽ đây là một trong những khái niệm chung nhất Tuynhiên, để khái niệm vừa có tính kế thừa, vừa có tính khái quát cao hơn nữa,

theo quan điểm cá nhân tôi, có thể đi đến một khái niệm rộng nhất: “Văn hoá

là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra có tính giá trị”[72, tr10].

Thực ra, việc đưa những khái niệm “giá trị vật chất và tinh thần” trongkhái niệm của Liên Xô cũng như của GS Trần Ngọc Thêm là sự phân chiatheo cấu trúc của văn hoá (văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, văn hoá vậtthể, văn hoá phi vật thể), vì vậy, có thể “rút gọn” thành “những gì do conngười sáng tạo ra”

Như vậy, văn hoá đã được hiểu theo nghĩa rộng nhất Đó là toàn bộnhững giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra nhằmđáp ứng nhu cầu sinh tồn, đồng thời cũng là mục đích cuộc sống của conngười

Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và

phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóalại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xãhội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình

xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động vàtương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người

và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống vàhành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà docon người tạo ra

Trang 28

1.1.2 Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

1.1.2.1 Di sản văn hóa vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử,

văn hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, divật, cổ vật, bảo vật quốc gia

1.1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể

Thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” hay “di sản bất động”

Khoản 1 điều 2 mục I Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của

UNESCO năm 2003 đã ghi nhận “di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các

tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về

sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững”[73, tr3] Trong khái niệm này, UNSECO đã cố gắng cụ

thể hóa tính “trừu tượng” của di sản văn hóa phi vật thể bằng việc định dạngmột số biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể như tập quán, biểu đạt tri thức,

kỹ năng, các công cụ đồ vật, đồ tạo tác, các không gian văn hóa có liênquan… Những biểu hiện này được ví như “hình thức chứa đựng” di sản vănhóa phi vật thể Đó cũng chính là phần cốt lõi bên trong, chính là phần hồncủa di sản văn hóa phi vật thể mà UNESCO ghi nhận dưới khía cạnh ý nghĩa

Trang 29

đối với cộng đồng Di sản văn hóa phi vật thể phải có sự gắn bó chặt chẽ vớiđời sống tinh thần của cộng đồng, được lưu truyền, tái tạo để tạo nên bản sắccủa mỗi cộng đồng và sự đa dạng văn hóa trên thế giới.

Bản sắc của mỗi dân tộc là khác nhau và di sản văn hóa phi vật thể, vìthế không có biểu hiện giống nhau ở mỗi quốc gia Tại Nhật Bản, điều 2 củaLuật bảo vệ tài sản văn hóa có đưa ra định nghĩa di sản văn hóa phi vật thể là

“nghệ thuật, kĩ năng thu nhận được từ các vở kịch, âm nhạc và nghệ thuật

ứng dụng và những sản phẩm văn hóa phi vật thể khác sở hữu giá trị lớn về lịch sử và nghệ thuật đối với một đất nước” Còn tại Hàn Quốc thì quan niệm

“tài sản văn hóa phi vật thể chỉ dẫn đến kịch, âm nhạc, nghề thủ công và các

hình thức biểu đạt di sản văn hóa phi vật thể khác có giá trị nổi bật về lịch sử, nghệ thuật và học thuật nổi bật” [71, tr12] Cách hiểu về di sản văn hóa phi

vật thể của Hàn quốc khá gần với cách hiểu của Nhật Bản Với Myanmar,nước này không dùng phương pháp liệt kê mà chỉ nêu ra đặc tính cơ bản của

di sản văn hóa phi vật thể, theo đó “văn hóa vật thể là khía cạnh vật chất còn

văn hóa phi vật thể là khía cạnh tinh thần của đời sống Những ngành nghệ thuật nhìn được bằng thị giác thuộc về văn hóa vật thể, nghệ thuật biểu diễn

là văn hóa phi vật thể”[71, tr13] Còn Croatia – một đất nước ở châu Âu thì

quan niệm rằng di sản văn hóa phi vật thể có thể bao trùm các dạng đặc biệt

và các hiện tượng của hoạt động sáng tạo trí óc được truyền từ đời này sang

đời khác bằng bất kì cách thức nào, và đặc biệt là “ngôn ngữ, thổ ngữ, tiếng

bản địa và tất cả các loại văn học truyền thống; sáng tạo dân tộc trong những lĩnh vực của nhạc, múa, truyền thuyết, trò chơi, lễ hội, phong tục cũng như các giá trị dân tộc truyền thống khác; kĩ năng truyền thống và nghề thủ công”

[71, tr3]

Qua cách định nghĩa trên của UNESCO và một số nước, có thể nhậnthấy:

Trang 30

– Thứ nhất, vì di sản văn hóa phi vật thể là di sản mang tính trừu tượngcao, khó nắm bắt nên cần phải đưa ra các hình thức biểu hiện cơ bản của loạihình di sản này Không có một khuôn mẫu chung cho tất cả các quốc gia, màdựa trên đặc điểm văn hóa, mỗi quốc gia sẽ đưa ra các hình thức biểu hiện cụ thể của di sản văn hóa phi vật thể;

– Thứ hai, nếu chỉ dựa vào hình thức biểu hiện thì chưa đủ mà còn cầncăn cứ vào các yếu tố khác như: sức sống lâu dài của di sản (chuyển giao từthế hệ này sang thế hệ khác), sự vận động, gắn bó với đời sống con người (táitạo để thích nghi với môi trường sống); giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật,…;

– Thứ ba, vai trò quan trọng nhất của di sản văn hóa phi vật thể là đạidiện cho bản sắc dân tộc Thông qua di sản văn hóa phi vật thể chúng ta có thểhiểu hơn về quan niệm, cách nghĩ, tâm tư, tình cảm, lối sống tốt đẹp của cộngđồng, mà khó có thể tìm thấy ở một cộng đồng khác

Quan điểm về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được ghi nhậntại Điều 1 của Luật di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

theo đó di sản văn hóa phi vật thể là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng

hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [58, tr18] Về cơ bản, cách xác định

này tiếp thu quan điểm của UNESCO Tuy nhiên trong Luật sửa đổi bổ sungmột số điều của Luật di sản văn hóa (2009) không liệt kê các hình thức của disản văn hóa phi vật thể như một số quốc gia khác trên thế giới Việc chi tiết,

cụ thể hóa được thể hiện trong Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủban hành ngày 21/9/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật disản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa.Theo đó, có 7 hình thức biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: (i)

Trang 31

tiếng nói chữ viết; (ii) ngữ văn dân gian; (iii) nghệ thuật trình diễn dân gian,

truyền thống; (vii) tri thức dân gian

1.1.3 Lý luận về làng văn hóa và văn hóa làng

1.1.3.1 Khái niệm làng và làng văn hóa

Làng, tên được dùng để gọi một cộng đồng dân cư ở nông thôn nước ta

và được coi là một đơn vị hành chính từ thời phong kiến Ở đó có nhiều tộc họcùng chung sống, nhiều người cùng chung sống một số nghề nhất định (làngnghề) như làm nông, làm gốm, hoặc hát quan họ: làng quan họ

Thôn, khi xã hội ngày càng phát triển đi lên và có sự giao thoa bởinhiều trào lưu tiến bộ xã hội manh nha “đô thị hóa”, thì nhiều vùng dân cư cótính chất “cận đô thị” hoặc ra đời sau, không gọi là làng mà gọi là “Thôn”,nhưng về tính chất thì không thay đổi Đến đời Gia Long (1802 – 1820) đơn

vị hành chính nước ta đã có 4 cấp, đó là: Phủ, Huyện, Tổng, Thôn Đến năm

1940, tên “Thôn” bắt đầu phổ biến và mãi đến những năm 1960, phần lớn cáckhu dân cư ở phía Nam chính thức gọi là Thôn và Thôn cũng là đơn vị hànhchính cấp cơ sở của các chính quyền Ngụy Sài Gòn: Tỉnh, Quận, Xã, Thôn(về mặt hành chính có con dấu)

“Ấp” theo nghĩa bóng là xóm nhỏ, còn theo nghĩa gần là phủ lên cho cóhơn nóng, ấp áp Từ “Ấp” được dùng để gọi những cộng đồng dần cư vùngsông nước Nam bộ Có lẽ, ở những nơi này kênh, rạch chằng chịt, người dânnhư sống trong “ốc đảo” nên cần có sự yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, chonên người xưa lấy từ Ấp mà gọi

“Buôn, bản, sóc ” cũng là những từ để chỉ một cộng đồng dân cư dànhcho người dân tộc thiểu số Việt Nam (dân tộc tây nguyên: Buôn, đồng bàophía bắc, tây bắc: Bản; người Chăm, Khơ me: Sóc, Phum)

Trang 32

Chúng ta biết rằng nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống và cóbản sắc văn hóa riện Cách xác lập tên gọi như trên là một phần của bản sắcvăn hóa dân tộc, vùng miền không có gì là lạ.

Từ những khái niệm trên cho thấy, Làng là tên đầu tiên (là gốc) của xã

hội Việt Nam Làng là đơn vị cư trú cơ bản của nông thôn người Việt và đã

hình thành từ rất sớm (trước khi có Nhà nước) Đầu tiên, làng là điểm tụ cưcủa những người cùng huyết thống, sau đó để phù hợp với sự phát triển của xãhội và lịch sử, làng còn là điểm tụ cư của những nhóm người cùng nghềnghiệp, bao gồm nhiều dòng họ khác nhau Khi Nhà nước ra đời, làng là mộtđơn vị hành chính cơ sở của nhà nước và là một tổ chức tự quản, quân sự vàvăn hoá khá hoàn chỉnh

Từ Làng đã đi vào trong máu thịt con người ngay từ khi ra đời Làngquê Việt Nam từ ngàn xưa đến bây giờ, làng nào chẳng có đình Đình làng,lũy tre xanh, con sông nhỏ đã bao đời đi vào sâu thẳm tiềm thức người ViệtNam rồi Người Việt Nam cón có quan niệm: “Làng là nơi con gnười sinh ra

và lớn lên, cũng là nơi ngày nào đó gởi lại nắm xương tàn”, nên chúng tathường nghe nói: Đình làng, lũy tre làng, giếng làng chứ không ai nói: Đìnhthôn, lũy tre thôn, giếng thôn; Khi có chuyện xích mích, người ta nói “đi báolàng”; hoặc nói: làng nghề truyền thống chứ không ai nói: đi báo thôn; thônnghề truyền thống Hay đi ăn cúng đình có câu: “một miếng giữa làng bằngmột sàng giữa chợ” chứ không ai nói “Một miếng giữa thôn” Chừng ấy ví dụcũng đũ thất làng đã trở thành máu thịt của người Việt Nam từ bao đời

Từ khi Đảng và Nhà nước có chủ trương thực hiện phong trào “Toàndân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” [59, tr2] thì tại điểm (b) điều (1)Quyết định 01/QĐ-BVHTT ngày 01/01/2002 của Bộ Văn hóa – Thông tin(nay là Bộ Văn Hóa, Thông tin và Du lịch) đã ghi rõ: “Làng, thôn, ấp, buôn,

Trang 33

sóc là đơn vị trực tiếp dưới cấp xã thì gọi chung là làng” [58, tr2] Đến ngày26/6/2003, Quyết định 62 của Bộ Văn Hóa Thông Tin cũng giữ nguyên như vậy.

Như vậy có thể nói, làng văn hóa là cụm từ để gọi những cộng đồng

dân cư trong cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa sao cho phù hợp vớitinh thần Nghị Quyết Trung ương 5 khóa VIII: “Xây dựng và phát triển nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [58, tr6] (từ làng cònđược coi là văn hóa truyền thống)

1.1.3.2 Văn hóa làng

Cùng với việc xuất hiện làng trong lịch sử Việt Nam, văn hoá làng cũng

ra đời, trở thành nét đặc trưng của văn hoá dân tộc

Văn hoá làng của các làng xã cổ truyền ở Việt Nam có 3 đặc trưng cơbản: ý thức cộng đồng làng (ý thức dân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuấtbảo vệ xóm làng, xây dựng văn hoá, lối sống, đạo đức ); ý thức tự quản (thểhiện rõ nhất trong việc xây dựng hương ước); và tính đặc thù độc đáo, rấtriêng của mỗi làng (có khi hai làng gần nhau nhưng không hề giống nhau).Văn hóa làng còn được thể hiện thông qua các biểu trưng văn hoá mang giá trịtruyền thống: từ cây đa, bến sông, con đê, mái đình, giếng nước đến các bảngia phả, hương ước, tập tục, hội hè đình đám, tín ngưỡng, các nghề thủ côngtruyền thống, những làn điệu dân ca, dân vũ, những người giỏi văn, giỏi võ,

cũng cần xoá bỏ những tập tục cổ hủ, lạc hậu

Do đó, văn hóa làng xã vốn mang bản sắc của một lối sống cộng đồng,nơi mà quyền lợi của mọi thành viên trong cộng đồng gắn bó chặt chẽ vớinhau Nó thể hiện trong mỗi gia đình với gia phong đã được chuẩn mực hóa

từ lâu, được thể hiện bởi một nền văn học dân gian phong phú, cuộc sống lễhội sống động Mặt khác, văn hóa làng xã cũng được thể hiện bằng cảnh quanthơ mộng của những con đường làng với những hàng tre uốn lượn, tiếng sáo

Trang 34

diều dập dìu, hệ thống đình chùa cổ kính… Nó là pháo đài vững chắc chống

sự xâm lăng của kẻ thù thời kỳ chiến tranh và là "bức tường lửa" ngăn chặncác tệ nạn và thói xấu từ bên ngoài trong xã hội hiện đại ngày nay Trong khi

đó, bản thân mỗi người dân đều mong muốn giữ được những nét đẹp truyềnthống xưa

Từ bao đời nay, sức sống của nền văn hoá truyền thống Việt Nam đượclưu giữ và thể hiện mạnh mẽ nhất ở văn hoá làng, do vậy vấn đề bảo vệ và kếthừa văn hoá làng luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm Tuy nhiên trongthời điểm hiện nay, muốn thực hiện tốt việc kế thừa văn hoá làng, trước hếtchúng ta phải chỉ ra được những tiêu cực còn tồn tại ở làng từng đè nặng lênmỗi con người và cản trở sự phát triển của xã hội

Ví dụ như: Làng là nơi thường có khuynh hướng tự cung, tự cấp nêngiao lưu có phần tự nhiên mà ít chủ động mở rộng, để tạo cho người dân tưtưởng bảo thủ, "kháng cự" với những cái mới…

làng làm ảnh hưởng tới mỗi con người và sự phát triển chung của làng

với cuộc sống mới như "phép vua thua lệ làng", "suy bụng ta ra bụng

người"…

Nếu loại bỏ được những tiêu cực còn tồn tại, phát huy được những

"thuần phong mỹ tục", lựa chọn được những nội dung phù hợp với xã hội hiệnđại tức là chúng ta đã góp phần một cách tích cực vào công cuộc bảo tồn vàchấn hưng văn hoá dân tộc, đồng thời cũng làm cho văn hoá làng thêm nhữnggiá trị và sức sống mới

“Tìm hiểu làng xã Việt Nam trong lịch sử để hiểu hơn về quá trình ra

đời, lịch sử biến đổi, cũng như kết cấu kinh tế xã hội, văn hóa của làng Việt

từ truyền thống đến hiện đại.” [35, tr4]

Trang 35

Làng xã đóng một vai trò hết sức đặc biệt với lịch sử đất nước nóichung và đối với cuộc sống của người Việt Nam nói riêng Vì thế nghiên cứulàng Việt để vạch ra quá trình phát sinh, phát triển, những đóng góp cụ thể vềvai trò, vị trí của nó trong lịch sử sẽ góp phần làm sáng tỏ không chỉ lịch sử(nhất là mảng lịch sử do nhân dân lao động sáng tạo ra mà không được sử cũghi chép lại) mà còn có thể góp phần lý giải cuộc sống hiện tại và cả nhữngvấn đề tương lai phát triển của đất nước, của con người Việt Nam Có thể nói

“làng Việt Nam là cái chìa khóa để giải mã bí mật Việt Nam, thần kỳ Việt

Nam” [35, tr3].

Làng còn là một đơn vị kinh tế - xã hội độc lập, đang có xu hướng pháttriển phong phú, đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, các ngôi làng Việt Nam đềutồn tại trong vận mệnh chung của đất nước và có sự kết hợp chặt chẽ với nhau.Nghiên cứu về làng sẽ giúp chúng ta xã định được bản chất kinh tế, xã hội củalàng, nhằm không chỉ nâng cao hiểu biết về làng mà còn góp phần lý giảinhững nét độc đáo của xã hội Việt Nam truyền thống, những mối quan hệchằng chéo giữa truyền thống và hiện đại và trên cơ sở đó có thể lý giải và tìmhiểu con đường phát triển đặc thù của xã hội Việt Nam

Trang 36

Xã Mê Linh

Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Mê Linh( nguồn www.maps.google.com )

Mê Linh là một xã lớn, có diện tích tự nhiên của toàn xã là 600,18 ha(theo số liệu đo đạc năm 2006 hoàn thành năm 2008), trong đó diện tích đấtnông nghiệp chiếm trên 70% với tổng diện tích la 426 ha [25, tr1]

Trang 37

1.2.1.2.Điều kiện địa hình

Về đặc điểm địa hình, Làng Hạ Lôi, xã Mê Linh nằm ở trung tâm củađồng bằng Bắc Bộ, đất đai được hình thành do sự lắng đọng phù sa của hệthống sông Hồng nên địa hình tương đối bằng phẳng và không có đất lâmnghiệp, lại được đê sông Hồng ngăn lũ vào mùa mưa nên tương đối thuận lợicho sản xuất nông nghiệp quanh năm Nhìn chung, làng Hạ Lôi nói riêng và

xã Mê Linh nói chung có địa hình hơi dốc từ Bắc xuống Nam và từ Đôngsang Tây

1.2.1.3 Khí hậu và thời tiết

Làng Hạ Lôi, xã Mê Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng

Độ ẩm không khí bình quân đạt 85 – 86%, tháng cao nhất đạt 86 – 88%(tháng 4), thấp nhất là 79 – 80% (tháng 2)

Có hai hướng gió thình hành là: Gió Đông Nam thổi từ tháng 4 đếntháng 9 và gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau

Trang 38

và thường kéo theo không khí lạnh, sương muối gây ảnh hưởng cho sản xuấtnông nghiệp vụ đông xuân.

1.2.1.4 Các nguồn tài nguyên

- Tài nguyên nước: Mê Linh có nguồn nước nguồn nước ngầm và nướcmặt khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Nguồn nước mặtđược khai thác nhờ có hệ thống kênh Tây, Thạch Phú, Thạch Điền và hệthống mương máng Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hệ thống dẫn nướcnày chỉ phục vụ cho một phần nhỏ diện tích nông nghiệp trong xã Còn nguồnnước ngầm đang được khai thác cho cả mục đích sinh hoạt và sản xuất nôngnghiệp Chất lượng nước ngầm trong xã được đánh giá là khá tốt hiện nay

cổ có nhiều sét, độ phì trung bình khá, độ PH trung bình từ 5,8 – 7,5; hàm

lượng mùn cao

giữa miền núi và đồng bằng nên rất nghèo về tài nguyên khoáng sản

1.2.2 Lịch sử thay đổi địa chí hành chính làng Hạ Lôi qua các thời

kỳ lịch sử

Qua các nguồn thư tịch cho thấy, đất Mê Linh, Phong Châu xưa vàlàng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội ngày nay là quêhương của Hai Bà Trưng Đây là vùng đất có lịch sử lâu đời, hội tụ đủ nhữngtruyền thống, bản sắc văn hóa của nền văn hiến Văn Lang- Âu Lạc

Truyền thuyết kể rằng “Vào đầu Công nguyên, hai thế kỷ sau Thục AnDương, ở Mê Linh, thuộc vùng đất tổ Hùng Vương có hai người con gái, …Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em, con gái lạc tướng Mê Linh, thuộcdòng dõi Hùng Vương Quê hương của Hai Bà là trang Cổ Lai, nay là xã MêLinh, thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay” Theo truyền thuyếtnày, thì làng Hạ Lôi xưa có tên là trang Cổ Lai, thuộc huyên Châu Phong, là

Trang 39

quê hương của Hai Bà Trưng Thực tế này còn được dân gian lưu truyền trongbài ca dao:

“Bà Trưng quê ở Châu Phong, Giận người tham bạc, thù chồng chẳng quên Chị em nặng một lời nguyền, Phất cờ lương tử thay quyền tướng quân Ngàn

Tây nổi áng phong trần,

Ầm ầm binh mã tới gần Long Biên.

Hồng quần nhẹ bước chinh yên, Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.

Đô Kỳ đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

Ba thu gánh vác sơn hà, Một là báo phục, hai là bá vương…”

(13, tr11)- Lê Ngô Cát, Đại Nam Quốc sử diễn ca

Về tên gọi, theo “Lịch triều hiến chương loại chí”, Nhà xuất bản Sử

học Hà Nội, 1961, các tác giả có viết: “Châu Phong là nước Văn Lang xưa.

Thuộc vào Tượng quận đời Trần, và quận Giao Chỉ đời Hán Ngô gọi là Tân Hưng, Tấn đổi làm Tân Xương, Trần đặt là Hưng Châu, Tùy đổi lại làm Phong Châu; sau gộp cả vào quận Giao Chỉ Đầu đời Vũ Đức nhà Đường lấy huyện Gia Ninh của quận Giao Chỉ đặt ra Châu Phong….

Về mặt hành chính, thời nhà Hán, nước ta được đặt làm 9 quận, trong

đó huyện Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ, đến thời nhà Tấn thuộc huyện Tân Xương Qua nhà Tùy, quận Tân Xương đổi là huyện Tân Xương (lại thuộc Giao Chỉ) Sang nhà Đường, nước ta gồm 12 châu (50 huyện), huyện Tân Xương (trong đó có Mê Linh) thuộc về Châu Phong.

Huyện Mê Linh (nay là Yên Lãng): Trưng Vương đóng đô ở đây.”[14, tr22]

Trang 40

Theo An Nam chí: “Thành cổ Phong Châu ở phía tây bắc phủ Giao

Chỉ, tức là đất Mê Linh, quận Giao Chỉ, tức là đất Mê Linh, quận Giao Chỉ thời thuộc Hán; đời Tam Quốc, năm Kiến Hành thứ 3, nhà Đông Ngô đổi làm huyện Gia Ninh và dung làm lị sở quận Tân Xương; nhà Tấn, năm Thái Khang thứ 3 đổi làm quận Tân Xương; nhà Tống và nhà Tề vẫn theo như thế; nhà Trần đặt làm Châu Hưng; nhà Tùy sau khi diệt xong nhà Trần, bỏ quận, còn châu vẫn để như cũ; năm Khai Hoàng thứ 18, đổi tên là Châu Hưng, Châu Phong; đầu đời Đại Nghiệp, bỏ châu, còn huyện thì cho thuộc quận Giao Chỉ; nhà Đường, năm Vũ Đức thứ 4, đặt lại Châu Phong, lãnh 6 huyện

là Gia Ninh, Tân Xương, Yên Nhân, Trúc Cách, Thạch Đê và Phong Khê, sau

đó, khi đặt khi bỏ không nhất định; đầu đời Kiền Nguyên lại gọi là Phong Châu.

Mê Linh ở phía Tây phủ Giao Châu, thời thuộc Hán là huyện của quận Giao Chỉ; nhà Hậu Hán vẫn theo như thế; giữa đời Kiến Vũ, Hai Bà Trưng đóng đô ở đây; thời Tam Quốc, nhà Ngô đặt làm quận Tân Hưng, sau thuộc quận Tân Xương; đời Lương và đời Trần bỏ huyện, gộp vào huyện Gia Ninh.” [36, tr18].

Về địa lý lịch sử, Trần Quốc Vượng trong bài nghiên cứu “Một vấn đềđịa lý lịch sử: Những trung tâm chính trị của đất nước ta trong thời cổ đại” có

ghi rõ: “Phong Châu, tức huyện Mê Linh đời Hán, tức lãnh thổ bộ lạc Mê

Linh xưa, gồm một miền đất rất rộng ở hai bên bờ sông Hồng, từ núi Ba Vì đến miền Tam Đảo” [56, tr14] Và trong đó, “Phong Châu thành: ở phía tây bắc phủ Giao Châu (thuộc thời Minh); là đất huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ đời Hán, đời Tấn đổi làm quận Tân Xương; đời Lương dồn lại làm Hưng Châu Năm Khai Hoàng thứ 18, đổi gọi là Phong Châu; có 6 huyện: Gia Ninh, Tân Xương, Anh Nhân, Trúc Cách, Thạch Đê, Phong Khê, phủ lị là Gia Ninh.

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
2. Đào Duy Anh (1998), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
3. Toan Ánh (1970), Nếp cũ con người Việt Nam, Nhà sách Khai Trí,Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ con người Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Năm: 1970
4. Toan Ánh (1992), Nếp cũ, tín ngưỡng Việt Nam, Nxb thành phố HồChí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ, tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb thành phốHồChí Minh
Năm: 1992
5. Nguyễn Chí Bền (1999), Văn hóa dân gian Việt Nam, những suynghĩ, Nxb Van hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam, những suy"nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Van hóa dân tộc
Năm: 1999
6. Nguyễn Chí Bền (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam,NxbVăn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NxbVăn hóa Dân tộc
Năm: 2000
7. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1996
8. Tôn Thất Bình (1988), Lễ hội dân gian, Sở Văn hóa Thông tin, BìnhTrị Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian
Tác giả: Tôn Thất Bình
Năm: 1988
9. Phan Kế Bính (1999), Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
10. Nguyễn Bính (1572), Phúc Yên tỉnh Yên Lãng phủ Hạ Lôi tổng các xã thần tích, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc Yên tỉnh Yên Lãng phủ Hạ Lôi tổng các xã thần tích
11. Nguyễn Huy Canh, Đặng Anh Ninh (2005), Hai Bà Trưng từ góc nhìn lịch sử, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai Bà Trưng từ góc nhìn lịch sử
Tác giả: Nguyễn Huy Canh, Đặng Anh Ninh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2005
12. Nguyễn Huy Canh, Đặng Anh Ninh (2005), Lục bộ nữ tướng thờiHai Bà Trưng, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lục bộ nữ tướng thời"Hai Bà Trưng
Tác giả: Nguyễn Huy Canh, Đặng Anh Ninh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w