1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo quan hệ kinh tế của việt nam với trung quốc từ năm 2006 đến năm 2015

163 43 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 296,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nằm trong sự vận động chung của tình hình thế giới, mối quan hệ ViệtNam và Trung Quốc cũng vận động và phát triển theo xu thế vừa hợp tác vừađấu tranh.Kể từ khi bình thường hóa quan hệ v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tưliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chính xác và có xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, tháng 9 năm 2018

Tác giả

Hà Văn Thùy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học KHXH &Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi quyết định lựa chọn đề tài luận vănvới tên gọi: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ kinh tế của Việt Namvới Trung Quốc từ năm 2006 đến năm 2015

Để hoàn thành đề tài luận văn và kết thúc khóa học, tôi xin gửi lời cảm ơn tớitrường Đại học KHXH & Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trongsuốt thời gian học tập và nghiên cứu Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Khoa Lịch sử

và các Thầy cô giáo đã tận tâm hướng dẫn và truyền đạt cho tôi nhiều kiếnthức mới trong chương trình học

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Vũ Quang Hiển,thầy đã trực tiếp hướng dẫn – chỉ bảo – sửa chữa cho tôi trong quá trìnhnghiên cứu khoa học Sự giúp đỡ và tận tâm của thầy là động lực giúp tôihoàn thành luận văn của mình một cách tốt nhất

Học viên

Hà Văn Thùy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích – nhiệm vụ 8

4 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu 8

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Bố cục của Luận văn. 10

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐCTỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 11

1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng 11

1.1.1.Hoàn cảnh lịch sử 11

1.1.2.Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam 22

1.2 Sự chỉ đạo của Đảng 27

1.2.1.Chỉ đạo hoạt động thương mại 27

1.2.2 Chỉ đạo hoạt động hợp tác đầu tư 38

Tiểu kết chương 1 43

Chương 2 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015 44

2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng 44

2.1.1 Bối cảnh lịch sử 44

2.1.2 Chủ trương của Đảng 50

2.2 Sự chỉ đạo của Đảng 56

2.2.1 Chỉ đạo hoạt động thương mại 56

Trang 6

Tiểu kết chương 2 70

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 72

3.1 Nhận xét 72

3.1.1 Ưu điểm 72

3.1.2 Hạn chế 96

3.2 Một số kinh nghiệm 117

Tiểu kết chương 3 128

KẾT LUẬN 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

PHỤ LỤC 144

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh, thế giới có sự chuyển mình mạnh

mẽ trên nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó đặc biệt nổi lên là xu thếhòahoãn và hợp tác cùng phát triển

Nằm trong sự vận động chung của tình hình thế giới, mối quan hệ ViệtNam và Trung Quốc cũng vận động và phát triển theo xu thế vừa hợp tác vừađấu tranh.Kể từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, thông qua cáccuộc gặp gỡ và đàm phán cao cấp, quan hệ kinh tế giữa hai nước được khôiphục nhanh chóng và ngày càng phát triển, hai nước đã ký với nhau Hiệp địnhthương mại song phương và là thành viên trong Hiệp định thương mại tự doASEAN – Trung Quốc, đang đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn điệnkhu vực (RCEP)

Là một quốc gia láng giềng, vị trí địa lí liền kề cùng với nhiều điểmtương đồng về lịch sử văn hóa, nhân tố Trung Quốc luôn ảnh hưởng đến kinh

tế – xã hội Việt Nam trong từng thời kỳ với các mức độ khác nhau Qúa trìnhcủa mối quan hệ mặc dù có sự phát triển mạnh so với những năm trước đónhưng không ổn định mà mang tính thăng trầm

Quan hệ với Trung Quốc, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế là điều tất yếu

do vị trí địa lí, lịch sử và thực tế nhu cầu hai nước Tuy nhiên, vấn đề của ViệtNam là nâng cao vị thế trong mối quan hệ kinh tế, đảm bảo sự ổn định và pháttriển bền vững, hạn chế tối đa sự phụ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc.Đểlàm được điều đó, chủ trương và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Namđóngmột vai trò quan trọng

Đây là lý do để tôi quyết định chọn đề tài luận văn của mình với tên

gọi:“Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Quốc từ năm 2006 đến năm 2015”.

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ xưa đến nay, quan hệ Việt Nam và Trung Quốc luôn là đề tài tốnnhiều giấy mực của các nhà sử học và các nhà nghiên cứu trong và ngoàinước Về quan hệ kinh tế Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2006 – 2015cũng thu hút được sự quan tâm của khá nhiều người Tuy còn ít các tác phẩmchuyên luận, chuyên khảo, nhưng cũng có khá nhiều sách báo viết về vấn đềnày qua những khía cạnh và góc nhìn khác nhau Có nhiều công trình nghiêncứu để tác giả kế thừa trong quá trình hoàn thành luận văn

Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu đã được công bố:

- Về các công trình luận văn, luận án có thể kể đến các nghiên cứu như:

Cao Thu Trang (2010), “Bước tiến triển của quan hệ Việt Nam – Trung

Quốc những năm đầu thế kỷ XXI”,Luận văn Thạc sỹ Quốc tế học, trường Đại

học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Trong luận văn,tác giả đã làm rõ những yếu tố cơ bản tác động tới mối quan hệ Việt – Trungnhững năm đầu thế kỷ XXI Tình hình quốc tế, khu vực và thực trạng mốiquan hệ Phân tích thực trạng, chính sách đối ngoại của hai nước trong nhữngnăm đầu thế kỷ XXI Dự báo triển vọng và đưa ra khuyến nghị mang tính giảipháp về chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc trong thờigian tới

Lê Quang Thiều (2015), “Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung

Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI”, Luận văn Thạc sỹ Quốc tế học, trường Đại

học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả tậptrung nghiên cứu quan hệ Việt Trung trên lĩnh vực thương mại hàng hóa trong

10 năm đầu thế kỷ XXI Chỉ ra các đặc điểm của mối quan hệ và dự báo triểnvọng cũng như gợi mở một số khuyến nghị chính sách trong quan hệ thương

mại Việt Trung

Nguyễn Xuân Ngàn (2010), “Chiến lược hai hành lang – Một vành đai

kinh tế trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc”, Luận văn Thạc sỹ Quốc tế

Trang 9

học, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.Trong nghiên cứu này, tác giả đã tổnghợp và phân tích chiến lược Hai hànhlang, một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc, chỉ ra những ưu điểm vàhạn chế trong thực trạng phát triển Đề xuất các khuyến nghị giải pháp nhằmphát triển Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc trongkhuôn khổ hợp tác ASEAN – Trung Quốc trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhậpkinh tế quốc tế.

Vũ Tuyết Lan (2008), “Quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc”,

Luận văn Thạc sỹ kinh tế, trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội.Luận văn đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ thương mại ViệtTrung Nghiên cứu, đánh giá thực trạng, quá trình phát triển quan hệ thươngmại, thành tựu, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế Đồng thời đềxuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách phù hợp với thông lệ quốc

tế, tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước,nâng cao vai trò lãnh đạo địa phương của hai nước, nâng cao năng lực tổ chứcquản lý và điều hành hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Thúc đẩy tiến trìnhhợp tác xây dựng “Hai hành lang và một vành đai kinh tế”, tăng cường xâydựng cơ sở hạ tầng thương mại tại các cửa khẩu và trên toàn tuyến biên giớiphía Bắc nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại hàng hóagiữa hai nước

Nguyễn Thị Mai Hoa (2007), “Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt

Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001”, Luận án

Tiến sỹ Lịch sử, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốcgia Hà Nội Tác giả phân tích về chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong quan hệ với Trung Quốc trong giai đoạn 1975 – 2001 Qua đónêu lên những thành tựu, hạn chế trong quan hệ giữa hai nước và rút ra nhữngbài học kinh nghiệm

Nguyễn Phương Hoa (2012), “Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam giai

đoạn 1950 – 1975”, Luận án Tiến sỹ Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã

Trang 10

hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã phân tích mối quan hệhai nước từ 1950 – 1975 trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học

kỹ thuật…Qua đó dựng lên một bức tranh đầy đủ và toàn diện về quan hệ hainước Phân tích và đưa ra những nhận xét về mối quan hệ cũng như một sốbài học kinh nghiệm

- Các đề tài, các dự án khoa học cấp nhà nước, cấp Bộ như:

Bộ Công thương (2009),“Quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam và

Trung Quốc” (Báo cáo tổng hợp), Đề tài khoa học cấp Nhà nước

KX.01.01/06-10, Viện Nghiên cứu Thương mại, Hà Nội Nghiên cứu đã hệthống hoá và làm rõ quan hệ kinh tế Việt Nam – Trung Quốc.Phân tích thựctrạng quan hệ kinh tế hai nước, rút ra những đánh giá về ưu, nhược điểm, hiệuquả kinh tế Phân tích những hạn chế để làm căn cứ cho việc đề xuất quanđiểm, giải pháp và các kiến nghị nhằm đẩy mạnh quan hệ kinh tế Việt Trung

Trần Mạnh Hùng (2011), “Tác động của Trung Quốc đến thương mại

toàn cầu, đến xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020

và giải pháp thích ứng”, Dự án hỗ trợ thương mại đa biên EU – Việt Nam

Mutrap III, hoạt động CB – 2A: Hỗ trợ Bộ công thương xây dựng chiến lượcphát triển xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020 Trongnghiên cứu này, tác giả đã khái quát tình hình thế giới, khu vực trong 5 – 10năm tới và vị thế của Trung Quốc và Việt Nam Phân tích, đánh giá sự pháttriển của Trung Quốc và dự báo tác động của Trung Quốc đến thương mạitoàn cầu Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc và nhữngtác động của Trung Quốc đến phát triển xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳtới năm 2020 Đề ra một số giải pháp để Việt Nam thích ứng với bối cảnhTrung Quốc tăng cường chính sách hướng Nam nhằm phát triển xuất nhậpkhẩu của Việt Nam

- Về các tác phẩm sách có thể kể đến các nghiên cứu sau:

Trang 11

Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (2013), “Đánh giá tổng thể tình

hình kinh tế – xã hội Việt Nam sau 5 năm gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO” Bộ Kế hoạch và đầu tư xuất bản tháng 4 năm 2013 Nghiên cứu

này đã đánh giá tổng thể tình hình KT-XH Việt Nam từ trước và sau khi gianhập WTO để đưa ra các đề xuất điều chỉnh chính sách một cách phù hợpnhằm tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế tronggiai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020

PGS.TS Nguyễn Kim Bảo (2013), “Sự trỗi dậy về kinh tế của Trung

Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” Nhà xuất bản Từ điển Bách

Khoa, Hà Nội Tác giả đã phân tích sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốctrong 10 năm đầu thế kỷ XXI và một số mặt trái sự trỗi dậy Trình bày vàphân tích bối cảnh quốc tế, bối cảnh trong nước và những ẩn số của sự pháttriển, các chính sách kinh tế của trong 10 năm (2011-2020), Dự báo sự trỗidậy về kinh tế của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam đến năm

2020 Đưa ra phương hướng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ kinh

tế của Việt Nam đối với Trung Quốc

TS Nguyễn Đình Liêm (2013), “Quan hệ Việt Trung trước sự trỗi dậy

của Trung Quốc” Nhà xuất bản từ điển Bách khoa, Hà Nội Tác giả đã có

những đánh giá tổng quan về sự trỗi dậy của Trung Quốc, qua đó làm rõ quátrình phát triển của quan hệ Việt – Trung dưới tác động của Trung Quốc trỗidậy Trên cơ sở phân tích sâu sắc, các tác giả đã rút ra những nhận xét đánhgiá khách quan, khoa học Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đi sâu phân tích tácđộng của các nhân tố quốc tế, khu vực, Trung Quốc và Việt Nam đối với quan

hệ Việt – Trung Lựa chọn đưa ra phân tích một số vấn đề nổi bật trong quan

hệ giữa hai nước như vấn đề lòng tin chính trị trong quan hệ Việt – Trung;vấn đề nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc; vấn đề đầu tư của Trung Quốctại Việt Nam; vấn đề sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc; vấn đề quốcphòng– an ninh trong quan hệ Việt – Trung; vấn đề Biển Đông trong quan hệ

Trang 12

giữa hai nước Trên cơ sở những phân tích và dự báo khả năng phát triểntrong quan hệ Việt – Trung, cuốn sách đã đi sâu phân tích đối sách cần có củaViệt Nam trong quan hệ với Trung Quốc trên một số khía cạnh cụ thể.

PGS.TS Trần Đình Thiên (2016), “Quan hệ thương mại và đầu tư của

Việt Nam với Trung Quốc” Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Trong

cuốn sách này, tác giả đã phân tích những vấn đề về chiến lược và chính sách

kinh tế đối ngoại của Việt Nam và Trung Quốc, trong đó phân tích chiến lược

của Việt Nam và Trung Quốc, chiến lược của Trung Quốc và những ảnhhưởng của nó tới Việt Nam Những vấn đề trong quan hệ thương mại ViệtNam – Trung Quốc và thu hút đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc vào Việt Nam.Một số vấn đề về quản lý quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam với TrungQuốc Tác giả đã đi sâu phân tích và đưa ra những khuyễn nghị chính sáchtrong quan hệ thương mại – đầu tư của Việt Nam với Trung Quốc

Ngoài ra còn phải kể đến các tác phẩm khác như: Nguyễn Đình Bin

(2005), “Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Đỗ Tiến Sâm – Furuta Motoo (2003), “Chính sách đối ngoại

rộng mở của Việt Nam và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc”, Nhà xuất bản

Khoa học xã hội, Hà Nội Nguyễn Đình Liêm (2012), “Quan hệ biên mậu

giữa Tây Bắc – Việt Nam với Vân Nam – Trung Quốc” Nhà xuất bản Từ điển

Bách khoa, Hà Nội Nguyễn Quốc Hùng – Hoàng Khắc Nam (2006), “Quan

hệ quốc tế: Những khía cạnh lý thuyết và vấn đề”, Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia, Hà Nội Trình Mưu, Nguyễn Thế Lực, Nguyễn Hoàng Giáp (2005),

“Quá trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng

Cộng sản Việt Nam”, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội Vũ Dương

Huân (2002), “Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp sự nghiệp đổi mới

(1975-2002)”, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội…

- Các bài báo trên các tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc,Tạp chí tài chính, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí thương mại… Có thể kể đến một

Trang 13

số tác phẩm: Dương Phú Hiệp (2007), “Đặc điểm quan hệ hợp tác Việt Nam –

Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 1 năm 2007 Đinh Đào Ánh

Thuỷ (2006), “Một số vấn đề về hợp tác kinh tế Việt Nam – Trung Quốc”,

Tạp chí những vấn đề về kinh tế thế giới, số 6 năm 2006 Đỗ Tiến Sâm

(2009), “Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa – Nhìn lại 60 năm xây dựng và phát

triển”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 10 năm 2009 Hà Hồng Vân

(2015), “Những đặc trưng cơ bản của quan hệ thương mại Việt Nam – Trung

Quốc trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Hà Nội, số

1 năm 2015 Hà Thị Hương Lan (2012), “Công nghiệp hỗ trợ, giải pháp hạn

chế nhập siêu”, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, Hà Nội, số 12 năm 2012 Hồ

Càn Văn (2007), “Tình hình Trung Quốc năm 2006 và quan hệ Việt – Trung”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Hà Nội, số 1 năm 2007 Lê Tuấn Thanh (2007), “Đặc điểm đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam từ khi bình thường

hoá quan hệ đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 7 năm 2007, Hà

Nội Lê Tuấn Thanh, Hà Thị Hồng Vân (2008), “Quan hệ thương mại Việt

Nam – Trung Quốc từ khi bình thường hoá đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu

Trung Quốc, số 3 năm 2008…Các bài viết trên các tạp chí đã phân tích nhữngkhía cạnh nhất định trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc Phân tích và đề ranhững khuyến nghị chính sách trong quan hệ Việt Trung

Tác giả Luận văn sử dụng ở một mức độ nhất định các số liệu, ý kiến,đánh giá, bình luận của các nguồn sử liệu để phân tích và tổng hợp

Có thể nói, về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã có nhiều công trìnhnghiên cứu khá toàn diện và sâu sắc Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu

về quan hệ kinh tế Việt – Trung dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam trong giai đoạn 2006 – 2015 chưa nhiều Đây là một giai đoạn lịch sửphức tạp do vậy người viết chỉxin tiếp câṇ vấn đềởm ột khía cạnh nhỏ trongquan hê ̣ViêṭNam – Trung Quốc thời kỳt ừ năm 2006 đến năm 2015 trong đóchủ yếu mô tả, tái hiện và phân tích những chủ trương, chính sách của Đảng

Trang 14

Cộng sản Việt Nam trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc, những mặt còn hạn chế và kinh nghiệm.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn giải quyết ba nhiệm vụ chính

- Phân tích tình hình quốc tế, sự thay đổi trong chiến lược ngoại giao giữa các nước và các yếu tố tác động đến mối quan hệ Việt Trung

- Trình bày và phân tích những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc

- Đánh giá quá trình thực hiện đường lối, những thành tựu trong đường lối giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015 và những kinh nghiệm

4 Đối tƣợng – phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văntập trung tìm hiểu và làm sáng tỏ chủ trương và sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ kinh tế của Việt Nam với TrungQuốc từ năm 2006 đến năm 2015

Trang 15

Phạm vi không gian: Nghiên cứu quan hệ kinh tế song phương ViệtNam – Trung Quốc chủ yếu diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam.

Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tập trung vào những yếu tố có tác độngđến sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ kinh tế của ViệtNam với Trung Quốc Những chủ trương và biện pháp của Đảng nhằm thúcđẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc Nghiên cứu quan hệ kinh

tế của Việt Nam với Trung Quốc trên các lĩnh vực: Thương mại và đầu tư

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Luận văn sử dụng các ngồn tài liệu thu thập được trong sách, báo, tạpchí, các văn kiện Đảng, các bài viết, các công trình nghiên cứu có liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào nguồn tài liệu thu thập được và trên cơ sở thế giới quan,phương pháp luận Macxit, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử

và phương pháp logic kết hợp với việc phân tích, tổng hợp, hệ thống lại cácvấn đề theo trình tự như nó đã diễn ra

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở tập hợp, hệ thống, bổ sung tư liệu, xử lý nguồn tư liệu mộtcách khoa học, luận văn đã góp phần khai thác một khối lượng tư liệu phongphú, đa dạng về chủ trương của Đảng trong lãnh đạo và tổ chức thực hiệnquan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Quốc từ năm 2006 đến năm 2015.Luận văn cũng góp phần làm sáng tỏ chủ trương của Đảng trong quan hệ kinh

tế với Trung Quốc trong những năm 2006 – 2015 Qua đó làm rõ những tồntại của mối quan hệ và cách giải quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam.Đặc biệt

là trong bối cảnh quan hệ quốc tế có những biến động quan trọng

Đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở về những thành tựu và nhữngvấn đề còn tồn tại của mối quan hệ Viêt – Trung, từ đó rút ra một số bài họckinh nghiệm

Trang 16

7 Bố cục của Luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương :

Chương 1 : Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong quan hệ kinh tế

của Việt Nam với Trung Quốc từ năm 2006 đến năm 2010

Chương 2 : Sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ kinh tế của Việt Nam

với Trung Quốc từ năm 2011 đến năm 2015

Chương 3 : Nhận xét và kinh nghiệm.

Trang 17

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ

KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC

TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử

Tình hình quốc tế:Thế giới trong những năm đầu của thế kỷ XXI diễn

biến phức tạp và nhiều màu sắc với các mâu thuẫn – quan hệ chồng chéo, đanxen, vận động, diễn biến vô cùng phức tạp Tất cả các nước đều đặt lợi íchquốc gia làm mục tiêu tối thượng trong quan hệ quốc tế, tùy theo điều kiệncủa mình tham gia vào đời sống chính trị quốc tế hết sức nhộn nhịp Sự đanxen đó tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc phản ánh mọi mặt của đời sốngkinh tế chính trị thế giới

Xu hướngtoàn cầu hoá ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong quan hệquốc tế Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới với động lực là các cuộc

“Cáchmạng khoa học kỹ thuật” diễn ra mạnh mẽ lôi cuốn ngày càng nhiềunước tham gia, trong bối cảnh đó lợi ích quốc gia ngày càng đan xen và tùythuộc lẫn nhau làm ra đời một loạt chủ thể mới trên trường quốc tế, xuất hiệnnhững vấn đề toàn cầu cần sự hợp tác của toàn thể cộng đông quốc tế.Tươngquan lực lượng và quan hệ giữa các nước lớn, các trung tâm quyền lực lớn cónhiều thay đổi;cục diện thế giới đa cực ngày càng có những biểu hiện rõ ràng.Các nền kinh tế mới nổi (BRIC), đặc biệt là Trung Quốc tiếp tục có nhữngbước phát triển mạnh, làm thay đổi tương quan sức mạnh tổng thể giữa cácnước lớn, bao hàm cả kinh tế – chính trị – quân sựtạo thành một sự chuyểndịch sức mạnh rõ rệt theo hướng từ một sang đa trung tâm và do đó cục diệnthế giới sẽ chuyển nhanh hơn theo hướng “đa cực”.Tuy nhiên, cục diện chungvẫn là “một siêu, đa cường”, Mỹ vẫn là cường quốc số một về cả kinh tế,chính trị và quân sự, có khả năng chi phối đời sống kinh tế – chính trị thế giới

Trang 18

nhưng cũng phải chia sẻ ảnh hưởng với các cường quốc khác, nhất là cácnước mới nổi lên như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ Các nước lớn vừa hợp tácvừa kiềm chế lẫn nhau, cạnh tranh gay gắt hơn ở khu vực “ngoại vi”, nhất là ởcác địa bàn chiến lược, giàu tài nguyên như: Trung Đông, châu Phi, Nam Á…các “khu đệm” cận kề các quốc gia mới nổi như khu vực Đông Nam Á, Nam

Á và Liên Xô cũ.Quá trình toàn cầu hoá cũng thúc đẩy sự liên kết kinh tế vàliên kết khu vực phát triển mạnh, dẫn đến việc hình thành các tổ chức và cơchế kinh tế, thương mại, tài chính có tính chất toàn cầu và khu vực như: Tổchức thương mại thế giới (WTO), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thếgiới (WB), Liên minh Châu Âu (EU), Khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ(NAFTA), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Có thể khẳngđịnh rằng: Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế chứa đựng những mâu thuẫn, vừa cómặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực Toàn cầu hoá tạo cơ hội hợp tác và pháttriển nhất là về kinh tế giữa các nước (chuyển giao vốn, công nghệ, kinhnghiệm quản lý, thúc đẩy giao lưu văn hoá, trí tuệ, củng cố cơ chế quốc tế,tăng cường hữu nghị và xích lại gần nhau giữa các dân tộc) Mặt khác, toàncầu hoá cũng tạo ra những nguy cơ to lớn cho nhân loại (gia tăng sự bất bìnhđẳng,khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, nguy cơ suy thoái truyền thống,bản sắc dân tộc, nguy cơ mất độc lập chủ quyền và quốc tế hoá các tiêu cực và

tệ nạn xã hội) Sự thật là trong khi các nước lớn hợp tác và đấu tranh, cạnhtranh nhau để thiết lập trật tự thế giới đơn cực hay đa cực, thì tuyệt đại đasốcác quốc gia, dân tộc trên thế giới vẫn kiên trì hợp tác và đấu tranh cho mộttrật tự thế giới công bằng, tốt đẹp, cho mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ vàtiến bộ xã hội Như vậy, sự thay đổi trong tương quan so sánh quyền lực giữacác nước lớn,các trung tâm lớn của quan hệ quốc tế đã khiến tư duy đối ngoạicủa các quốc gia cần phải có sự thay đổi cho phù hợp

Xung đột sắc tộc, bạo loạn tiếp tục xảy ra ở nhiều nước và trở nên phứctạp hơn khi có nhân tố tôn giáo, ly khai.Các mâu thuẫn cơ bản trên

Trang 19

thếgiớibiểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại vàphát triển, có mặt sâu sắc thêm Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếptục diễn ra gay gắt với nội dung và hình thức mới Năm 2006, khu vực TrungĐông vẫn là nơi tập trung nhiều loại mâu thuẫn gay gắt và nóng bỏng nhất thếgiới, biểu hiện bằng cả chiến tranh, xung đột vũ trang, bạo lực khủng bố,khủng hoảng hạt nhân, khủng hoảng chính trị, khủng hoảng nhân đạo Đặcbiệt sau sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ, Mỹ và các đồng minh tiến hành chiến tranh

ở Áp-gha-ni-xtan, I-rắc nhằm mục đích chống khủng bố quốc tế, can thiệp cóphần “thái quá” vào công việc nội bộ của một số nước có chủ quyền Chínhnhững hành động đó đã đe doạ nền an ninh chung của nhân loại và làm giatăng các hoạt động khủng bố trên thế giới Các vụ việc tương tự như bạo loạn

ở Tây Tạng (2008) và Tân Cương (2009) có thể trở thành xung đột giữa Nhànước củamột số nước lớn và thế giới Hồi giáo Đặc biệt, sự xuất hiện của chủnghĩa khủng bố là mối đe dọa phi truyền thống nguy hiểm nhất, là hiểm họa mangtính toàn cầu Hoạt động khủng bố diễn ra ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thếgiới, song tập trung nhất là ở khu vực Trung Đông, Nam Á, Đông – Nam Á Các tổchức khủng bố tiến hành điều chỉnh chiến thuật khủng bố, chuyển từ tổ chức các

vụ khủng bố quy mô lớn sang các hoạt động khủng bố nhỏ lẻ, thành phần tham giakhủng bố ngày càng đa dạng hơn, phương thức, thủ đoạn khủng bố ngày càng tinh

vi, nguy hiểm hơn Các tổ chức khủng bố đang tích cực củng cố về mặt tổ chức, bổsung lực lượng và tìm kiếm, phát triển các phương tiện khủng bố kỹ thuật cao, đặcbiệt nguy hiểm như vũ khí hóa học, sinh học và vũ khí hạt nhân

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra quyết liệt hơn và chuyểnhướng sang các công nghệ sạch, tiết kiệm nguyên nhiên liệu Cách mạng khoahọccông nghệ ngày càng phát triển(nhất là trong các lĩnh vực côngnghệnano,năng lượng mới, công nghệ vi sinh, công nghệ thông tin – tin học, tự độnghoá, rô bốt…) sẽ tiếp tục là động lực phát triển của kinh tế thế giới, tác động

Trang 20

đến tất cả các lĩnh vực đời sống mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế Thành tựukhoa học công nghệ giúp các nước phát triển sau có thể rút ngắn thời gian củatừng nấc thang phát triển, có cơ hội thực hiện chiến lược “đi tắt đón đầu”, tiếnthẳng vào các lĩnh vực hiện đại, có hàm lượng công nghệ cao nếubcóchiếnlược đúng Cách mạng khoa học công nghệ cũng sẽ đẩy nhanh quá trình cơcấu lại các ngành công nghiệp đồng thờicũng mang đến những thách thức rấtlớn đối với mọi quốc gia dân tộc, nhất là những nước nghèo lạc hậu sẽ đứngtrước cơ hội phát triển hoặc tụt hậu, lệ thuộc bên ngoài.

Thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu như bảo vệ môitrường, bùng nổ dân số, bệnh tật hiểm nghèo, tội phạm xuyên quốc gia…Trong đó, biến đổi khí hậu trở thành một vấn đề được tất cả các quốc gia quantâm và trở thành một chủ đề quan trọng trong chương trình nghị sự của cácnước, các tổ chức khu vực và quốc tế Đây sẽ là vấn đề tranh luận gay gắtgiữa các nhóm nước đang phát triển và phát triển, thậm chí ngay trong từngquốc gia Các vấn đề, như chống phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, chốngcác tội phạm xuyên quốc gia cũng là những vấn đề đáng quan ngại của cácquốc gia, các tổ chức khu vực và quốc tế.Cạn kiệt tài nguyên, nhất là nguồnnăng lượng và nguồn nước dẫn đến sự cạnh tranh phức tạp và có thể trở thànhnguồn gốc của xung đột quốc tế Việc chạy đua để kiểm soát tài nguyên giữacác cường quốc sẽ làm cho môi trường an ninh – chính trị quốc tế thêm căngthẳng Biến động dân số trở thành một vấn đề toàn cầu lớn có tác động đến anninh và phát triển Dân số toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nhanh, nhưng không đồngđều và mất cân đối ngày càng lớn, đặt ra nhiều vấn đề về môi trường, nănglượng, lương thực, và các vấn đề xã hội kèm theo Tăng dân số trong bối cảnhtoàn cầu hoá làm cho di cư quốc tế tăng lên cả về số lượng và phạm vi Trongkhi các nước đều có nhu cầu ngày càng lớn về giữ gìn bản sắc dân tộc trongbối cảnh toàn cầu hoá, thì nhân tố di cư tác động bất lợi cho việc duy trì bảnsắc và củng cố đoàn kết dân tộc / sắc tộc trong phạm vi mỗi nước Những điều

Trang 21

này có thể là thách thức đối với nhiều nước và làm phức tạp thêm quan hệgiữa các nước.

Khu vực:Cả Việt Nam và Trung Quốc đều nằm ở khu vực Châu Á –

Thái Bình Dương – một khu vực năng động nhất về phát triển kinh tế và làtâm điểm của quan hệ quốc tế Đặc biệt, khu vực Đông Á đã trở thành khuvực có tiềm năng và sức tăng trưởng nhanh nhất trong nền kinh tế thế giới Xuthế hợp tác, liên kết trong khu vực phát triển mạnh mẽ, đặc biệt về kinhtế.Hàng loạt các Tổ chức trong khu vực như:Diễn đàn khu vực (ARF); Khuvực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – TháiBình Dương (APEC); sự hình thành cơ chế hợp tác ASEAN – Đông Bắc Átheo mô hình ASEAN + 1, ASEAN + 3; Khu vực mậu dịch tự do ASEAN –Trung Quốc (ACFTA) Tuy nhiên, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vẫn

là khu vực có nhiều mâu thuẫn và chứa đựng những nhân tố gây mấtổnđịnh.Đây là một khu vực rất đa dạng về văn hoá – tôn giáo – chế độ chínhtrị – trình độ phát triển, đó là những nhân tố tiềm ẩn sự bất ổn định ở khu vực.Châu Á – Thái Bình Dương cũng tồn tại những điểm nóng; xung đột sắc tộc,tôngiáo; sự nghi kỵ lẫn nhau giữa các quốc gia ảnh hưởng lớn đến an ninhquốc gia, sự ổn định và phát triển của toàn khu vực Nổi bật trong số nhữngđiểm nóng đó là vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loantrong mối quan hệ giữa các nước lớn như cặp quan hệ Trung – Mỹ, Trung –Nhật hay vấn đề biển Đông là một trong những sự kiện gây nhiều tranh cãi,gây mất đoàn kết giữa các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là các nước xungquanh biển Đông, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc Asean ngày càng có

vị thế và tiếng nói quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trong khu vực

và trên thế giới.Asean đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và pháttriển của Diễn đàn khu vực (ARF), có vai trò tích cực trong việc giải quyếtcác vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông giữa các nước trong khu vực.Cácnước Aseanngày càng đẩy mạnh đối thoại hợp tác,tăng cườnghiểu biết và sự

Trang 22

hợp tác lẫn nhau giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời hạnchế những xung đột bất đồng trong khu vực.Asean ngày càng nhận được sựquan tâm lớn từ các cường quốc trên thế giới Cuộc chiến chống khủng bốquốc tế của chính quyền G.Bush đã dẫn đến hậu quả nước Mỹ bị sa lầy trênchiến trường Iraq và Afghanistan, khiến vị thế ảnh hưởng của quốc gia này bịsuy giảm tại khu vực khác, nhất là châu Á Chính quyền B.Obama lên cầmquyền ở Mỹ từ đầu năm 2009 đang tìm cách cứu vãn tình thế Nước Mỹ đang

“trở lại châu Á”, “trở lại Đông Nam á” với chính sách “ngoại giao thôngminh” Ở Đông Bắc á, Mỹ đang tìm cách củng cố liên minh Mỹ – Nhật – Hàn(thể hiện rõ qua việc giải quyết vụ đắm tàu Cheonan của Hàn Quốc), ở ĐôngNam á, Mỹ đang cải thiện quan hệ với các đồng minh và các nước khác.Chính quyền Obama cũng đã quyết định bán vũ khí cho Đài Loan (với giá trị6,4 tỷ USD) mà trước đây chính quyền G.Bush còn chần chừ chưa quyết định.Trong khi Mỹ “trở lại châu Á”, “trở lại Đông Nam á”, thì Trung Quốc cho là

đã đến lúc cần phải và có thể ra tay ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ đối với khuvực này Đó là lý do Chủ tịch Hồ Cầm Đào và các nhà lãnh đạo của TrungQuốc đã lên tiếng đòi Mỹ phải tôn trọng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, baogồm cả yêu sách của Trung Quốc đối với các vùng biển Hoàng Hải, ĐôngHải, Nam Hải (Biển Đông) Va chạm quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc ở BiểnĐông đầu năm 2009, và ở Hoàng Hải giữa năm 2010 đã diễn ra trong bối cảnh

đó Trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Mỹ vẫn giữ được vị trí siêucường duy nhất, có sức mạnh áp đảo về kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ,

và ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế Trong khi đó, Trung Quốc sẽ lớn mạnh

về kinh tế, quân sự và cạnh tranh quyết liệt về địa – chiến lược để giữ vị thếchi phối Đông Á, nhất là vùng biển phụ cận

Tình hình Trung Quốc và Việt Nam

Về Trung Quốc: Trong những năm đầu thế kỷ 21, Trung Quốc tậptrung phát triển kinh tế xã hội, từng bước vươn ra thế giới với tư tưởng nước

Trang 23

lớn Thực tế có thể thấy trong những thập niên đầu của thế kỷ 21, Trung Quốc

đã trở thành một nước phát triển hàng đầu trên thế giới Trong giai đoạn này,Trung Quốc theo đuổi chính sách ngoại giao hòa bình, báo cáo chính trị củaĐại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVI (năm 2002) đã nhấn mạnhchính sách đối ngoại của Trung Quốc trong những năm đầu của thế kỷ mới là:

“Trung Quốc thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình, độc lập, tự chủ Tônchỉ mục đích là bảo vệ hoà bình thế giới, thúc đẩy phát triển chung Cùng vớicộng đồng quốc tế tích cực thúc đẩy đa cực hoá thế giới, thúc đẩy các lựclượng cùng tồn tại hoà dịu, duy trì ổn định cộng đồng quốc tế Thúc đẩy toàncầu hoá kinh tế phát triển theo hướng có lợi cho việc thực hiện cùng phồnvinh, giành lợi tránh hại, làm cho các nước, đặc biệt là các nước đang pháttriển đều được lợi trong toàn cầu hoá kinh tế” [20,83 – 84] Ngoại giao TrungQuốc phát triển từ chính sách ngoại giao “nước lớn” đến ngoại giao của một

“nước lớn có trách nhiệm” [20,84] Trung Quốc coi giai đoạn đầu của thế kỷXXI là thời cơ tốt nhất để phát triển xây dựng hiện đại hoá, tiến tới là mộtquốc gia phát triển trung bình vào khoảng giữa thế kỷ Để thực hiện chiếnlược này, Trung Quốc rất cần có môi trường bên ngoài hoà bình, ổn định Vìvậy, Trung Quốc tiến hành ngoại giao toàn phương vị, coi trọng quan hệ vớicác nước lớn chủ yếu, quan hệ hữu hảo với các quốc gia xung quanh và trongkhu vực

Sau 30 năm tiến hành cải cách mở cửa đối ngoại, Trung Quốc đã tạođược nền tảng vững chắc với tốc độ phát triển kinh tế cao, duy trì được sự ổnđịnh chính trị và giành được những thành tựu to lớn trên lĩnh vực đối ngoại.Hiện nay, Trung Quốc là nền kinh tế đang phát triển, là nước xã hội chủ nghĩalớn nhất trên thế giới Nếu như trước kia, Trung Quốc chỉ tập trung vào cáchoạt động ngoại giao song phương, thì nay cùng với sự lớn mạnh về kinh tế

và trưởng thành về chính trị, Trung Quốc ngày càng mở rộng quan hệ đaphương và khẳng định vai trò của mình trong các diễn đàn khu vực và các tổ

Trang 24

chức quốc tế Trung Quốc đã cải thiện và thiết lập quan hệ hợp tác với cácnước lớn, mở rộng quan hệ với các nước châu Á, châu Âu, châu Phi và châu

Mỹ La tinh Ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Trung Quốc có vai tròquan trọng, là một bên đối thoại chính thức của ASEAN, là thành viên tíchcực của cơ chế ASEAN + 3, tổ chức APEC và diễn đàn ARF, ASEM Pháthuy vai trò là Uỷ viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc,Trung Quốc đã ủng hộ các nước đang phát triển nhằm xây dựng một trật tựkinh tế, chính trị mới công bằng và bình đẳng hơn, cổ vũ cho các hoạt độngtrao đổi hợp tác kinh tế, văn hoá, chính trị, khoa học kỹ thuật giữa các nước

và khu vực trên thế giới Trung Quốc đã phát huy vai trò tích cực của mộtnước lớn trong khu vực, đóng góp ý kiến nhằm tăng cường hợp tác khu vựctrên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh – quốc phòng Trung Quốc tiếp tụchợp tác với các nước chủ chốt trong khu vực nhằm xử lý các vấn đề phát sinhtại các điểm nóng, góp phần giữ gìn hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Á vàChâu Á – Thái Bình Dương Trong quan hệ ngoại giao với các nước lớn,Trung Quốc giành sự quan tâm đặc biệt để xử lý các vấn đề trong quan hệ vớiNga và Mỹ; đặc biệt sau sự kiện 11/9/2001 Với Mỹ, Trung Quốc có thể lợidụng Mỹ có yêu cầu lập liên minh quốc tế chống khủng bố để nâng cao vị thếcủa mình trong quan hệ với Mỹ và phát huy vai trò nước lớn trong việc giảiquyết các vấn đề quốc tế, mặt khác làm dịu đi những bất đồng với Mỹ trongcác vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, nhân quyền Quan trọng hơn, Trung Quốccoi quan hệ Trung – Mỹ là “trục chính” trong chiến lược ngoại giao của TrungQuốc và đây là nhân tố quyết định tương lai của khu vực và thế giới Chính vìvậy, Trung Quốc chủ trương ưu tiên cải thiện quan hệ với Mỹ để giữ vững cái

“trục chính” này Với Nga, về lâu dài Trung Quốc tăng cường hoạt động vớiNga trong quan hệ song phương và thông qua “Tổ chức Hợp tác Thượng hải(SCO)” nhằm đẩy mạnh về an ninh, chống khủng bố, phối hợp lập trường đốivới các vấn đề mang tính toàn cầu Trung Quốc tiếp tục hợp tác

Trang 25

với Nga theo tinh thần quan hệ đối tác hợp tác chiến lược, nhằm tạo thế đốitrọng với Mỹ, mặt khác để phân hoá quan hệ giữa Nga và Mỹ đang có xuhướng tiến triển Hơn nữa, trong quan hệ với các nước lớn thì Nga có một vịtrí chiến lược đặc biệt quan trọng trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, vìNga là nước láng giềng lớn nhất và mạnh nhất của Trung Quốc Ngoại giaoláng giềng hữu hảo của Trung Quốc phần nào giành được lòng tin, giảm bớtngờ vực của các nước ASEAN láng giềng đối với Trung Quốc Báo cáo chínhtrị tại Đại hội lần thứ XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2002 đã chỉ

rõ: “Hoà bình và phát triển là chủ đề hiện nay Chúng ta sẽ tiếp tục tăng

cường quan hệ hữu nghị láng giềng, kiên trì thân thiện với các nước láng giềng, lấy các nước láng giềng làm đối tác, tăng cường hợp tác khu vực, đưa quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước xung quanh phát triển lên một trình

độ mới”[20,83].

Về kinh tế, Trung Quốc vẫn ở trong thời kỳ phát triển nhanh bắt đầu từ

30 năm trước, khi quốc gia này chuyển sang cải cách, mở cửa, hiện đại hoá

Về kinh tế, từ 1978 – 2007 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm củaTrung Quốc là 9,8% Hai năm 2008 và 2009 trong bối cảnh khủng hoảng tàichính và kinh tế toàn cầu, kinh tế Trung Quốc vẫn tăng 9% và 9,1% Năm

2010 GDP Trung Quốc tăng trên 9.5%, GDP Trung Quốc năm 2010 đạt trên

6000 tỷ USD, vượt Nhật Bản (GDP năm 2010 là 5300 tỷ USD) trở thành nềnkinh tế lớn thứ hai thế giới Theo dự báo của IMF, Trung Quốc có khả năngđuổi kịp Mỹ về GDP vào năm 2020 Tuy nhiên, chất lượng của nền kinh tếTrung Quốc vẫn kém xa Mỹ, Nhật, và các nước phát triển khác, GDP bìnhquân đầu người hiện nay của Trung Quốc là 3600 USD, của Nhật 37000 USD

và của Mỹ là 47000 USD Ngay sau khi Trung Quốc đuổi kịp Mỹ về GDP thìGDP bình quân đầu người của Trung Quốc cũng chỉ mới bằng 1/4 của Mỹ.Mặt khác, trình độ khoa học công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tếTrung Quốc còn kém xa Nhật Bản và Mỹ Khó khăn lớn của nền kinh tế

Trang 26

Trung Quốc trong thập niên tới là nguồn cung cấp nguyên liệu, năng lượng vàthị trường xuất khẩu hàng hoá [48,47].

Lực lượng vũ trang của Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng và đãđạt quy mô, trình độ của một cường quốc quân sự thế giới Trung Quốc tậptrung vào việc phát triển Hải quân (đặc biệt là tàu ngầm và tàu sân bay), lựclượng Không quân và tên lửa, đặc biệt là phát triển công nghệ vũ trụ phục vụmục đích quân sự (hệ thống dẫn qua vệ tinh Bắc Đẩu) Tuy vậy, theo đánh giácủa các chuyên gia, trình độ khoa học công nghệ quân sự của Trung Quốchiện vẫn lạc hậu so với Mỹ khoảng 15 năm Trong 10 năm tới, dù Trung Quốc

có ra sức tăng cường lực lượng quân sự thì vẫn chưa có khả năng đuổi kịp

Mỹ Tuy nhiên, trong phạm vi lãnh thổ Trung Quốc và vùng phụ cận, TrungQuốc đã đủ sức để đối chọi với Mỹ (sự kiện Mỹ phải nhượng bộ, chuyển tàusân bay US.Washington từ vùng biển Hoàng Hải tới vùng biển Nhật Bản đểtham gia tập trận sau vụ tàu Cheonan Hàn Quốc đã nói lên điều đó) Với sự

“trở lại châu Á” của Mỹ, Trung Quốc đang cạnh tranh quyết liệt với Mỹ từphía Hoàng Hải, Đông Hải, tới Nam Hải (biển Đông)

Về phía Việt Nam, sau 20 năm đổi mới, mặc dù còn tồn tại nhiều vấn

đề cần phải giải quyết nhưng Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn

có tính chất bước ngoặt làm thay đổi bộ mặt đất nước và được thế giới ghinhận Tình hình chính trị – xã hội ổn định, nền kinh tế phát triển đều, quan hệkinh tế đối ngoại không ngừng mở rộng, tạo ra những khả năng to lớn trongviệc hội nhập kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩymạnh phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đó

là nền tảng vững chắc cho việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác toàn cầu vì

sự phát triển của đất nước và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc

tế, đồng thời tạo ra những điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể tham giatoàn diện hơn trong xu thế toàn cầu hóa Việt Nam hiện nay là đối tác chiếnlược của nhiều nước, đầu tư nước ngoài và kim ngạchngoại thương tăng

Trang 27

trưởng năng động Chính sách đối ngoại hòa bình – hợp tác – hữu nghị củaViệt Nam cùng với cục diện thế giới hiện nay mang lại cho Việt Nam nhiều

cơ hội mới.Việt Nam tiếp tục “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độclập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoạirộng mở, đaphương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế.Chủ động và tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác.Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, thamgia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”[17,38]

Cả Việt Nam và Trung Quốc đều là những nước đang phát triển, có vịtrí quan trọng trong kinh tế – chính trị trị thế giới Cả hai nước đều được dẫndắt bởi Đảng Cộng sản trong nhiều năm liền, trong quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội theo cách riêng của mình, cả Việt Nam và Trung Quốc đều cầnmột môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế Chính vì vậy, có thểnói xuất phát từ lợi ích quốc gia và dân tộc Việt Nam không thể không pháttriển tốt quan hệ với Trung Quốc Đặc biệt trong tình hình hiện nay, TrungQuốc vươn lên trở thành một cường quốc kinh tế và hiện là 1 trong những nềnkinh tế lớn nhất trên thế giới với tốc độ phát triển kinh tế rất cao Vị thế, vaitrò và ảnh hưởng của Trung Quốc trên trường quốc tế không ngừng được cảithiện Cùng với sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc, hầu hết các quốc giatrong khu vực đang nhìn nhận Trung Quốc như một đầu tàu dẫn dắt kinh tếđối với các nước, Việt Nam đương nhiên không nằm ngoài xu thế đó Pháttriển quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc sẽ giúpViệt Nam có một môi trường ổn định để phát triển kinh tế – xã hội trongnước Ngoài ra, Trung Quốc là một nước xã hội chủ nghĩa, tiến hành cải cách

mở cửa sớm hơn Việt Nam 10 năm, có nhiều kinh nghiệm quý báu trong xâydựng, quản lý đất nước – là một đối tác để có thể tham khảo, thực hiện mụctiêu phát triển đất nước Do yêu cầu của công cuộc Đổi mới và sự nghiệp

công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước với mục tiêu “đến năm 2020 Việt

Trang 28

Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại [17, 23]

như đã đề ra tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Việt Nam rất coi trọng việc pháttriển quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại “hai bên cùng có lợi” với các nướctrong khu vực và trên thế giới, trong đó có Trung Quốc, nước láng giềng lớnnhất ở phía Bắc, một nước đã thu được những thành tựu quan trọng và kinhnghiệm quý báu trong cải cách kinh tế mở cửa đối ngoại Trung Quốc là lánggiềng của Việt Nam và luôn là nước có ảnh hưởng quan trọng trong khu vực.Với mục tiêu cơ bản là nhằm duy trì môi trường quốc tế hoà bình, ổn địnhphục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, tạo thế quốc tế cho ta trongmối quan hệ đa dạng, đa phương với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế,Việt Nam đã xác định mục tiêu cụ thể trong quan hệ với Trung Quốc nhữngnăm đầu thế kỷ mới là “tiếp tục phát triển toàn diện quan hệ hai nước” và

“không ngừng thúc đẩy quan hệ hai nước bước sang một giai đoạn phát triểnmới trong thế kỷ XXI” [15,120 – 121]

1.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20, ĐảngCộng sản Việt Nam đã sớmnhận thức được tính cần thiết, tất yếu của hội nhập và đổi mới kinh tế Từ đótới nay, đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế được đề ra nhất quán, khôngngừng được hoàn thiện và triển khai tích cực, phù hợp với tình hình cụ thể củatừng giai đoạn, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Đổi mới, phát triển đất nước

Từ Đại hội VI năm 1986 đến Đại hội IX năm 2001, Đảng Cộng sảnViệt Nam hình thành và phát triển đường lối đối ngoại từ việc đề ra đường lốiđối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở đến tiếp tục thực hiện đường lối đốingoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đốingoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộngđồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt,song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trênnguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không

Trang 29

can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, giải quyết cácvấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng thương lượng Đường lối đối ngoại đóđược thể hiện trong các văn kiện Đảng và các Nghị quyết như Nghị quyết số

13-NQ/TW về “nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới” được

Bộ Chính trị ban hành tháng 8 năm 1988 Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyếtTrung ương 3 (Khoá VII) về chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại đã cụthể hoá hơn nữa chính sách đối ngoại của Việt Nam “phát huy những điểmtương đồng, hạn chế những điểm bất đồng” và nêu rõ chủ trương mở rộngquan hệ với các tổ chức quốc tế, trong đó nhấn mạnh “cố gắng khai thôngquan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) mởrộng hợp tác với các tổ chức khu vực, trước hết là ở Châu Á – Thái BìnhDương” Nghị quyết số 01/NQ-TƯ của Bộ Chính trị ngày 18 tháng 11 năm

1996 về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại và Nghị quyết04/NQ-NHTƯ của Ban chấp hành Trung ương (Khoá VIII) ngày 29 tháng 12năm 1997 về tiếp tục đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tácquốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu hoàn thành cácmục tiêu kinh tế – xã hội đến năm 2000

Đại hội lần thứ X năm 2006 tiếp tục cụ thể hóa, đưa ra các chủ trươngchủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêucao nhất, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu,khu vực và song phương, chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các Hiệp địnhthương mại tự do song phương và đa phương.Một nét mới trong nội dungcông tác đối ngoại so với thời kỳ trước là Đại hội khẳng định mạnh mẽ việcchủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đanội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và địnhhướng xã hội nghĩa Đề ra nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trườnghoà bình và tạo các điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội, công

Trang 30

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo độclập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranhchung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ

xã hội Đồng thời, Đại hội cũng nhấn mạnh một phương hướng quan trọnghàng đầu trong hoạt động đối ngoại của, Nhà Việt Nam hiện nay là: “coi trọng

và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước xã hội chủnghĩa và cácnước láng giềng”[17,113]

Tại Đại hội X (2006) Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “chủ động

và tích cựchội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại gắn với nângcao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế” Đại hội xác định bước đột phámới về kinh tế đối ngoại với quan điểm chỉ đạo: “Đẩy mạnh hơn nữa hoạtđộng kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn và đầy đủ hơn vớicác thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đấtnước làm mục tiêu cao nhất, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tếtheo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước đến năm 2010 và tầmnhìn đến năm 2020; thực hiện cam kết với các nước về thương mại, đầu tư vàcác lĩnh vực khác; chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết và thực hiện các hiệpđịnh thương mại tự do song phương và đaphương”[17,114 – 115]

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thươngmại thế giới (WTO), Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảngngày 05/02/2007 đã ra Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách lớn đểnền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Nghị quyết nêu rõ: “Phát huy tối đanội lực đi đôi với thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lựcbên ngoài, tạothành sức mạnh quốc gia, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế”[17,4]

Quan điểm của Đảng nêu trong văn kiện Đại hội lần thứ X và Hội nghịTrung ương 4 là một bước phát triển mới về lý luận, vừa kế thừa những luậnđiểm đã nêu lên ở các Đại hội trước, vừa là bước hoàn thiện có tính đột phánhằm đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng và của bản thân nền kinhtế

Trang 31

Về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc có thể thấy, qua các chuyến thămcủa Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tháng 5 năm 2008, Chủ tịch nướcNguyễnMinh Triết tháng 8 – 2008 và Thủ tướng Chính phủ tháng 10 – 2008, quan hệhai nước được nâng lên tầm “ Đối tác chiến lược toàn diện” và tích cực triểnkhai nhiều biện pháp tăng cường hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư Mộttrong những kết quả đạt được đáng ghi nhớ trong năm 2008 là hai bên đã kýbản “Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc” [88], trên cơ sở nguyên tắcbình đẳng, cùng có lợi, coi trọng hiệu quả thực tế, bổ sung ưu thế cho nhau,cùng nhau phát triển, tiếp tục tăng cường và mở rộng hợp tác trong các lĩnhvực kinh tế thương mại và khoa học kỹ thuật.

Hai bên đã thành lập Uỷ ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam –Trung Quốc (11/2006), coi đây là một tiến triển mới trong quan hệ hai nước,

sẽ góp phần tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ trong quan hệhợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực theo hướng gia tăng tình hữu nghị, tincậy, hợp tác cùng có lợi, cùng phát triển Đặc biệt là việc đẩy mạnh quan hệkinh tế thương mại song phương và thúc đẩy việc giải quyết vấn đề biên giớilãnh thổ giữa hai nước Kể từ khi thành lập đến nay, Uỷ ban này đã tiến hànhđược ba phiên họp, phiên họp thứ ba diễn ra tại Hà Nội vào ngày 19/3/2009,trong đó hai bên đã nhất trí đánh giá cao kết quả hoạt động của Uỷ ban chỉđạo hợp tác song phương sau hai năm hoạt động, khẳng định vai trò và sự cầnthiết của cơ chế hợp tác quan trọng này trong việc chỉ đạo và thúc đẩy quan hệhữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước ngày càng thiết thực và đi vàochiều sâu Lãnh đạo cấp cao hai nước cũng đã giành nhiều thời gian trao đổicác biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu duy trì đà tăng trưởng kim ngạch songphương, đi đôi với cải thiện cán cân thương mại Hai bên khẳng định, trongbối cảnh tình hình thế giới đang gặp khủng hoảng hiện nay, hai bên tăngcường hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau để vượt qua khó khăn, duy trì tốc độ phát triểnkinh tế và kim ngạch mậu dịch song phương, đi đối với việc từng bước thuhẹp, tiến tới cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước

Trang 32

Ngoài các đoàn đại biểu cấp cao của Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội,giao lưu giữa các tầng lớp, các bộ ban ngành hai nước cũng từng bước đượctăng cường, hình thức từng bước được đa dạng hoá Nhiều địa phương đã trởthành những thành phố kết nghĩa hợp tác như thành phố Bắc Kinh với thànhphố Hà Nội, thành phố Thượng Hải và thành phố Hồ Chí Minh.Ngoài ra,nhiều tỉnh và thành phố khác cũng có những hoạt động tương tự, ký nhữnghiệp định song phương hoặc hợp tác thương mại, đưa ra nhiều kế hoạch hợptác trong thời kỳ ngắn hạn, trung và dài hạn Điển hình, năm 2009, mối quan

hệ hợp tác tốt đẹp giữa Hải Nam với Việt Nam là bộ phận không thể thiếutrong mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện theo phương châm 16chữ vàng và tinh thần 4 tốt mà lãnh đạo cấp cao Trung Quốc – Việt Nam đãxác định Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, Hội thảo Hợp tác kinh tế – Thươngmại Hải Nam – Việt Nam 2009 được tổ chức sáng 09/ 07/2009 tại Hà Nội, cácdoanh nghiệp hai bên đã ký kết 18 thỏa thuận với tổng giá trị 318 triệu USD.Các chuyến thăm của các bộ, ngành, tổ chức quần chúng, các địa phương vớinhiều hình thức hợp tác phong phú đã thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ chính trịgiữa hai nước phát triển trên cơ sở ổn định

Có thể nói, quan hệ Việt – Trung trong những năm 2006 – 2009 đãbước vào thời kỳ phát triển mới, từ định ra khuôn khổ của quan hệ hai nước

trong thế kỷ mới bằng phương châm 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp

tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” (năm 1999) đến đưa ra

tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” (năm 2002) và nâng quan hệ song phương thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược

toàn diện (năm 2008) Cùng với tăng cường xây dựng niềm tin chính trị, lãnh

đạo hai nước luôn chú trọng đến xây dựng mối quan hệ kinh tế hiệu quả, thiếtthực và đang được cụ thể hóa bằng những kế hoạch phát triển gắn kết hai nềnkinh tế như “Hai hành lang, một vành đai”, “một trục hai cánh”, “hợp tácVịnh Bắc Bộ mở rộng”… hướng đến cân bằng trong cán cân thương mại, tăng

Trang 33

đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam Chính sách đối ngoại của Việt Namtrong giai đoạn này đều có liên quan chặt chẽ tới nhân tố Trung Quốc Chính

vì vậy, Việt Nam luôn coi Trung Quốc là một đối tác quan trọng bên cạnh cácđối tác khác như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, EU

Bước vào những đầu thế kỷ 21 trước những thời cơ vận hội mới vàkhông ít những thách thức, khó khăn lớn đối với các quốc gia, dân tộc.Cả ViệtNam và Trung Quốc đều có nhu cầu về hoà bình, sự ổn định để hội nhập vàphát triển Chính vì vậy mỗi nước phải đề ra những chính sách phù hợp vớitình hình mới

1.2 Sự chỉ đạo của Đảng

1.2.1 Chỉ đạo hoạt động thương mại

Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đãđưa ra nhiều quan điểm chỉ đạo đúng đắn, trong đó có chủ trương “chủ độnghội nhập kinh tế khu vực và thế giới một cách hiệu quả, phù hợp với thực tiễnViệt Nam” Từ thực tiễn sau bao năm tiến hành công cuộc đổi mới có thế thấykinh tế đối ngoại là một trong những trụ cột của nền kinh tế, không chỉ hỗ trợ

mà còn là động lực của nền kinh tế quốc dân

Sau khi thực hiện chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, các khu vực, các tổ chức kinh

tế ngày càng được mở rộng Việt Nam là thành viên quan trọng trong ASEAN(gia nhập từ 1995), kí hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (2000 ),Hiệp định khung đối tác và hợp tác toàn diện (PCA) với EU, hiệp định đối táckinh tế toàn diện với Nhật Bản Tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức gianhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), có quan hệ với trên 220 quốc gia

và vùng lãnh thổ đã đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam với cộngđồng thế giới

Riêng với Trung Quốc, Việt Nam đã thỏa thuận và kí kết nhiều văn bảnhợp tác kinh tế các cấp từ chính phủ, các Bộ ngành nhằm tạo điều kiện thuận

Trang 34

lợi nhất để hoạt động thương mại hiệu quả Nhiều Hiệp định được kí kết như:

“Hiệp định thương mại giữa Chính phủ hai nước kí kết vào ngày 7 tháng 11năm 1991; Hiệp định hợp tác kinh tế giữa Chính phủ hai nước 14/02/1992;Hiệp định đảm bảo chất lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và công nhận lẫnnhau 22/01/1994; Hiệp định về thành lập Ủy ban hợp tác kinh tế – thương mạigiữa Việt Nam và Trung Quốc 22/12/1994; Để đáp ứng được yêu cầu của pháttriển kinh tế đối ngoại nói chung và phát triển quan hệ kinh tế – thương mạivới Trung Quốc nói riêng, ngày 15/12/1995, Chính phủ đã ban hành nghị định

số 89/NĐ về bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép chuyến đối với hoạt động xuất nhậpkhẩu, các doanh nghiệp được tự do kinh doanh xuất nhập khẩu theo phạm vingành hàng trong giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ Thương Mạicấp Quyết định này tuy đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuấtnhập khẩu nhưng chưa thực sự khuyến khích được các thành phần kinh tếtham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu Đứng trước xu thế hội nhập kinh tếquốc tế và khu vực, năm 1997 Chính phủ đã ban hành luật thương mại vànhiều văn bản pháp quy khác nhằm điều chỉnh cơ chế quản lý hoạtđộng kinh

tế, đặc biệt là kinh tế đối ngoại Trong đó nghị định số 57/NĐ-TTg của Chínhphủ ban hành năm 1997 đã khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vàohoạt động xuất nhập khẩu, tháo gỡ mọi trở ngại pháp lý đối với hoạt độngxuất nhập khẩu, từ thời điểm đó các thành phần kinh tế đều được tham gia vàohoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời, Nhà nước đã ban hành các chính sách

ưu đãi đặc biệt đối xuất khẩu hạn chế dần nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùngcũng như những mặt hàng mà trong nước đã sản xuất được Có thể nói, đây làbước đột phá có tính chất quyết định trong chiến lược phát triển kinh tế đốingoại của Việt Nam

Cùng với sự cải cách mạnh mẽ trong cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại,Chính phủ đã ban hành một số chính sách ưu đãi đối với khu vực kinh tế cửakhẩu biên giới Đặc biệt, các quyết định 53/QĐ-TTg ngày 19/4/2001 của Thủ

Trang 35

tướng Chính phủ về chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu; Quyết định186/2001/QĐ-TTg ngày 7/12/2001 về phát triển kinh tế – xã hội ở 6 tỉnh đặcbiệt khó khăn miền núi biên giới phía Bắc thời kỳ 2001 – 2005 là những cơ sởtiền đề quan trọng cho việc phát triển quan hệ kinh tế thương mại Việt –Trung Theo nội dung của quyết định 53/2001/QĐ-TTg của Chính phủ, nhànước đặc biệt ưu đãi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực cửa khẩu bằngnguồn vốn vay ưu đãi nhà nước, cho phép các tỉnh biên giới có số thu ngânsách dưới 50 tỷ đồng/năm thì được đầu tư trở lại 100% để xây dựng cơ sở hạtầng, có số thu từ 50 tỷ đồng trở lên thì được đầu tư trở lại 50 tỷ đồng và 50%

số thu còn lại Đối với thương mại du lịch cũng được dặc biệt quan tâm, cáchoạt động thương mại được hưởng các ưu đãi về buôn bán biên giới theo cácvăn bản nhà nước đã ký kết với các nước láng giềng Về đầu tư trong nước vànước ngoài vào khu kinh tế của khẩu ngoài quyền được hưởng các ưu đãi hiệnhành về thuế, các doanh nghiệp đầu tư còn được giảm thêm 50% giá thuê đất

và mặt nước so với mức giá cho thuê đất, mặt nước đang áp dụng tại khu kinh

tế cửa khẩu đó Với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khókhăn miền núi phía bắc thời kỳ 2001 – 2005, quyết định số 186/2001/QĐ-TTg

đã giải quyết được nhiều vần đề bức xúc trong phát triển kinh tế các tỉnh miềnnúi phía Bắc, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển cơ sở hạtầng kinh tế và xã hội, tập trung quy hoạch và huy động mọi nguồn lực đểphát triển giao thông, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt phát huy lợi thế cửakhẩu, các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh để phát triển ngành thươngmại, du lịch, dịch vụ tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội củatoàn vùng Hiệp định kiểm dịch động vật và kiểm dịch thực vật qua biên giớinăm 2008; Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lí cửa khẩu biên giới đấtliền Việt Trung ngày 18 tháng 11 năm 2009…Tiếp theo các hiệp định đã được

kí kết và triển khai, chính phủ và thủ tướng chính phủ cũng ban hành một loạtcác nghị định và quyết định, trong đó có nghị định 99/2004 ban hành

Trang 36

ngày 25/02/2004 về việc ban hành danh mục hàng hóa và thuế suất nhập khẩucủa Việt Nam Ngoài ra, các Bộ, ban ngành cũng có nhiều nghị quyết, quyđịnh riêng Đây là những văn bản pháp lý nhằm tạo hành lang pháp lý và điềukiện thuận lợi nhất cho sự phát triển thương mại giữa hai nước.

Trong Thông cáo báo chí chung năm 2006, lãnh đạo hai nước xác địnhrõ: “Có biện pháp thúc đẩy phát triển cân bằng thương mại; cùng nỗ lực thựchiện trước thời hạn mục tiêu nâng kim ngạch thương mại giữa hai nước lên 10

tỷ USD vào năm 2010” Trên tinh thần ấy, quan hệ thương mại giữa hai nước

đã tăng trưởng nhanh chóng với kim ngạch buôn bán hai chiều tăng từ 32,23triệu USD năm 1991 lên khoảng 35 tỷ USD năm 2011 Với đà tăng trưởngmạnh, kim ngạch thương mại Việt – Trung luôn hoàn thành trước mục tiêu

mà lãnh đạo cấp cao hai nước đề ra như: Mục tiêu 2 tỷ vào năm 2000 (đạt trên2,5 tỷ USD), 5 tỷ vào năm 2005 (năm 2004 đạt gần 7,2 tỷ USD), 20 tỷ vàonăm 2010 (năm 2008 đạt trên 20,18 tỷ USD), 25 tỷ vào năm 2011 (đạt trên 30tỷ) [48, 41]

Trong chuyến thăm Việt Nam năm 2006 của Tổng Bí thư, Chủ tịchnước Hồ Cẩm Đào, hai bên nhất trí mở rộng hơn nữa quy mô, nâng cao chấtlượng và trình độ hợp tác kinh tế – thương mại, từng bước cải thiện cơ cấumậu dịch, thực hiện phát triển cân bằng, tăng trưởng bền vững thương mại haichiều [87].Tính đến tháng 8 năm 2006, hai nước đã ký 51 hiệp định và gần 30văn kiện cấp Nhà nước, trong đó có hơn một nửa liên quan trực tiếp đến hợptác kinh tế thương mại, tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy quan hệ buôn bán và hợptác đầu tư giữa hai nước Chỉ riêng trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bíthư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào tháng 11/2006, lãnh đạo hai nước đã chứngkiến lễ ký kết 11 văn kiện hợp tác giữa Chính phủ hai nước và doanh nghiệphai nước, trong đó có Hiệp định về phát triển sâu rộng quan hệ hợp tác kinh tế– thương mại giữa Chính phủ hai nước và Bản ghi nhớ về “Hai hành lang,một vành đai kinh tế” Việc mở rộng sáng kiến hợp tác “Hai hành lang, một

Trang 37

vành đai kinh tế” đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho sự phát triển kinh tếthương mại hai nước, đặc biệt là những khu vực hai hành lang kinh tế “CônMinh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng”, hành lang “Nam Ninh -Lạng Sơn –

Hà Nội – Hải Phòng” và một “Vành đai kinh tế Vịnh Bắc bộ”, với sự tham giacủa 4 tỉnh của Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam) và

5 tỉnh, thành của Việt Nam (Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Nội, HảiPhòng)

Trong việc thực hiện chiến lược “Hai hành lang một vành đai”, hànhlang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh đãđược triển khai và có sự phát triển thực chất Nhiều công trình cơ sở hạ tầngquan trọng từ sự hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc trong tuyếnhành lang kinh tế này được khởi công như: Đường cao tốc, đường sắt Hà Nội– Lào Cai; Hà Nội – Hải Phòng; Hà Nội – Cái Lân (Quảng Ninh); xây dựngcảng nước sâu Lạch Huyện – Hải Phòng, hình thành các khu kinh tế tại cửakhẩu Lào Cai, Hải Phòng và Quảng Ninh Những công trình trên đã được khaithác đưa vào sử dụng, từ đó sẽ góp phần nâng cao hơn nữa quan hệ hợp táckinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Trung Quốc Chính vì thế, quan

hệ giao lưu hợp tác giữa Việt Nam với các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam(Trung Quốc) không ngừng phát triển Đặc biệt, Quảng Tây là tỉnh đi đầu củaTrung Quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam, đồng thời Việt Nam làbạn hàng thương mại lớn nhất của Quảng Tây Năm 2005, kim ngạch thươngmại hai chiều giữa Việt Nam và Quảng Tây chiếm 62,5% thương mại giữaQuảng Tây và các nước ASEAN; chiếm 16,72% trong tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu của Quảng Tây với các quốc gia khác trên thế giới Tỷ trọng củakim ngạch xuất nhập khẩu Quảng Tây với Việt Nam chiếm khoảng 16,7%trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt –Trung giai đoạn 2001 – 2005 Trịgiá xuất siêu của Việt Nam là 2.119,72 triệu USD, chiếm 55,79% tổng kimngạch xuất nhập khẩu Việt Nam –Quảng Tây Trong đó, thương mại chính

Trang 38

ngạch chiếm 77,15% và tiểu ngạch chiếm 22,85% tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu hàng hoá giữa Việt Nam và hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của TrungQuốc thời kỳ này Sang đến năm 2008, kim ngạch mậu dịch hai chiều giữa haibên có sự tăng trưởng vượt bậc [98,47].

Kể từ năm 2004, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhấtcủa Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng trở thành đối tác thương mại ngàycàng quan trọng của Trung Quốc (đứng thứ 27) Năm 2008, kim ngạchthương mại hai nước đạt 20,187 tỷ USD, tăng 27,3% so với năm 2007, trong

đó xuất khẩu đạt 4,546 tỷ USD tăng 35,12%, nhập khẩu đạt 15,652 tỷ USDtăng 25,2% Năm 2009, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 21,431 tỷ USD,trong đó xuất khẩu đạt 4.990 triệu USD, tăng 10%, nhập khẩu đạt 16.441 triệuUSD, tăng 5% so với năm 2008 [98,43]

Có thể nhận thấy rằng trao đổi thương mại hai chiều có sự tăng trưởngliên tục, tuy nhiên về phía Việt Nam mức tăng nhập khẩu luôn cao hơn mứctăng xuất khẩu, do đó nhập siêu có chiều hướng gia tăng nhanh Theo số liệuthống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến năm 2009, tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đạt trên 21 tỷ USD (Phụ lục 1).Trong đó, hàng Việt Nam xuất khẩu đạt trên 4,9 tỷ USD; hàng Trung Quốcxuất khẩu đạt trên 16,4 tỷ USD Tuy nhiên, theo Tổng cục thống kê thuộcTổng cục Hải quan Việt Nam thì kim ngạch buôn bán hai chiều Việt Namnăm 2008 chỉ chiếm khoảng 0,9% tổng kim ngạch thương mại của TrungQuốc, trong khi Trung Quốc chiếm 18% tổng kim ngạch thương mại của ViệtNam (Bảng1.3) Chính vì vậy, trong các chuyến thăm của lãnh đạo hai nước,hai bên nhất trí không ngừng mở rộng quy mô thương mại, cố gắng thu hẹpdần sự mất cân đối trong thương mại song phương Theo đó, Trung Quốc camkết sẵn sàng mở cửa thị trường hơn nữa để hàng hoá Việt Nam, nhất là nôngsản, thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ có thể vào thị trường Trung Quốc nhiều hơn.Phía Trung Quốc cũng đề cập đến việc khuyến khích các doanh nghiệp Trung

Trang 39

Quốc đầu tư tại Việt Nam để sản xuất hàng hoá ở Việt Nam sau đó xuất khẩusang Trung Quốc hoặc nước thứ ba Trong năm 2009, hai nhóm hàng chủ yếucủa Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc đó là: Nhiên liệu, khoáng sản vàchất dẻo – cao su Trong nhóm nhiên liệu và khoáng sản xuất khẩu của ViệtNam sang Trung Quốc chủ yếu là than đá (935,8 triệu USD) và dầu thô (462,7triệu USD) Trong nhóm chất dẻo và cao su, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu làcao su tự nhiên với kim ngạch lên đến 856.7 triệu USD [43, 2 – 3].Hai nhómhàng khác cũng có kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc đáng kể là nhómthực vật và sản phẩm thực vật và nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ Trongnhóm thực vật và sản phẩm thực vật, những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩutương đối lớn là hạt điều (138.5 triệu USD), cà phê (40,7 triệu USD) (Phụ lục2) Ngoài ra, Việt Nam cũng xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều loại hoa quảnhiệt đới như vải, nhãn, chôm chôm, dưa hấu…Cơ cấu hàng hóa xuất khẩusang thị trường Trung Quốc đã không ngừng được mở rộng Cụ thể, ở thờiđiểm năm 2001, trong danh mục những mặt hàng chủ yếu của Việt Nam xuấtkhẩu sang thị trường Trung Quốc đạt kim ngạch từ 1 triệu USD trở lên gồm

15 mặt hàng, nhưng tổng cộng cũng chỉ đạt 1,156 tỉ USD Năm 2006, tuydanh mục này cũng chỉ tăng lên 18 mặt hàng, nhưng đã đạt 2,331 tỉ USD Nếunăm 2001, quy mô xuất khẩu 10 triệu USD trở lên chỉ gồm 8 mặt hàng, thìcon số này đến năm 2006 đã là 12 mặt hàng

Có thể nhận thấy rằng việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường TrungQuốc là vấn đề mang tính chiến lược của Việt Nam do Trung Quốc là một nềnkinh tế mang tính “công xưởng” của thế giới và sẽ còn phát triển nhanh trongnhững năm tới Tuy nhiên nhiều mặt hàng xuất khẩu sang thị trường này đang

có dấu hiệu giảm đáng kể, do đó cần có nhiều chính sách hơn nữa để khuyếnkhích xuất khẩu, mặt khác cần đẩy mạnh theo hướng xuất khẩu những mặthàng có hàm lượng tri thức cao tránh xuất khẩu hàng thô Một chính sách hợptác thương mại đa phương đó là “Chương trình thu hoạch

Trang 40

sớm” bắt đầu từ 01/01/2004 kéo dài đến năm 2008 được thực hiện giữa TrungQuốc và ASEAN trong khuôn khổ khu mậu dịch tự do ASEAN – TrungQuốc, trong đó Việt Nam là một thành viên tham gia Nhiều loại hàng hoáđược miễn giảm thuế, dẫn đến hàng hoá rẻ, ngày càng phong phú đã kíchthích mở rộng được thị trường tiêu thụ Trong năm 2004, hai bên đã tiến đượcmột bước quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý bằng việc kýthoả thuận về kiểm dịch xuất khẩu gạo sang Trung Quốc Với sự tham gia vàosân chơi chung của khu vực và thế giới, quan hệ thương mại hai nước cũngdần dần phát triển theo xu hưởng ổn định, đi vào quy củ, thương mại chínhngạch dần chiếm ưu thế so với thương mại tiểu ngạch.

Về nhập khẩu: Giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc tăng rấtnhanh, nếu năm 2001 kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ mới đạt hơn1,6 tỷ USD, thì đến năm 2009 lên tới 16 tỷ USD, trung bình hàng năm giaiđoạn 2006 – 2009 tăng 31,1% Năm 2009, Trung Quốc đã trở thành nướcchiếm vị trí thứ nhất trong các quốc gia xuất khẩu vào Việt Nam, chiếm 19%thị phần nhập khẩu của Việt Nam và 0,9% tổng kim ngạch xuất khẩu củaTrung Quốc (Phụ lục 3)

Trong cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc có 7 nhómhàng có kim ngạch nhập khẩu nổi trội, trong đó có 5 nhóm hàng có kim ngạchnhập khẩu trên 1 tỷ USD/năm, đó là:

- Máy móc, thiết bị và dụng cụ: 5,17 tỷ USD

- Kim loại cơ bản, các sản phẩm kim loại cơ bản: 3,2 tỷ USD

- Hàng dệt may : 1,86 tỷ USD

- Hoá chất và sản phẩm hoá chất: 1,8 tỷ USD

- Nhiên liệu, khoáng sản: 1,05 tỷ USD [48,44]

Nhóm máy móc, thiết bị và dụng cụ là nhóm hàng có kim ngạch caonhất, đồng thời cũng có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định nhất Tốc độ tăngtrưởng nhóm hàng này kể từ năm 2001 đến nay luôn đạt xấp xỉ 30% trở lên

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w