1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam dioxin tại Việt Nam

8 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 428,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm với chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam.

Trang 1

TỔN THƯƠNG MÔ BỆNH HỌC VÀ SIÊU CẤU TRÚC GAN Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN MẠN TÍNH PHƠI NHIỄM CHẤT ĐỘC

DA CAM/DIOXIN TẠI VIỆT NAM

Phạm Quang Phú1

; Trần Việt Tú 1 ; Nguyễn Bá Vượng 1

TÓM TẮT

Mục đích: nghiên cứu tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan

mạn tính phơi nhiễm với chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam Đối tượng và phương pháp:

33 bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm với chất độc da cam/dioxin sống quanh Căn cứ Không quân Đà Nẵng - khu vực bị ô nhiễm dioxin ở Việt Nam được đưa vào nghiên cứu năm

2014 Nhóm so sánh gồm 15 bệnh nhân viêm gan B mạn tính sống ở khu vực không bị ô nhiễm, được sinh thiết gan để chẩn đoán mô bệnh học và siêu cấu trúc Đánh giá giai đoạn xơ hóa gan dựa vào phân loại Metavir (F0, F1, F2, F3 và F4) Kiểm tra tổn thương siêu cấu trúc

gan bằng kính hiển vi điện tử truyền qua và kính hiển vi điện tử quét Kết quả: mức độ xơ hóa

F1 trong nhóm bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm với chất độc da cam/dioxin là tổn thương phổ biến nhất (42,4%) Mức độ F0 và F2 lần lượt chiếm 27,3% và 30,3% Tổn thương

xơ hóa mức độ F3 và F4 không phát hiện thấy trong nhóm này Tổn thương siêu cấu trúc trên

tế bào gan và bào quan quan sát thấy trong tất cả mẫu sinh thiết gan ở nhóm viêm gan mạn phơi

nhiễm với chất độc da cam/dioxin Kết luận: bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc

da cam/dioxin có tổn thương xơ hóa gan trên hình ảnh mô bệnh học và hình ảnh tổn thương siêu cấu trúc gan

* Từ khóa: Viêm gan mạn tính; Phơi nhiễm với chất độc da cam/dioxin; Tổn thương mô bệnh học; Tổn thương cấu trúc gan

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dựa trên các nghiên cứu của Hoa Kỳ

tại Việt Nam, Bộ Y tế xếp ung thư gan

nguyên phát vào danh mục bệnh, tật, dị

dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm

với chất độc hóa học/dioxin [1] Như vậy,

quá trình dẫn đến tổn thương ung thư gan

nguyên phát dioxin đã gây tổn thương

gan mạn tính Các công trình công bố

trong và ngoài nước trên động vật thực

nghiệm cho thấy, gan là một cơ quan

chính chịu tác động của chất độc 2,3,7,8-

tetrachlorodibenzo-p-dioxin (2,3,7,8-TCDD) [3, 4] Gan là một hệ thống cơ quan có chức năng chuyển hóa, cố định, bất hoạt

và thải trừ các chất độc nội sinh và ngoại sinh của cơ thể Vì vậy, gan là cơ quan rất dễ tổn thương trong quá trình nhiễm độc lâu dài các chất độc ngoại sinh, trong

đó có chất da cam/dioxin Rất ít nghiên cứu đánh giá mức độ tổn thương gan của bệnh nhân (BN) viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin trên hình ảnh mô bệnh học và siêu cấu trúc

1 Bệnh viện Quân y 103

Người phản hồi (Corresponding author): Phạm Quang Phú (bsphu79@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 18/12/2019; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 30/12/2019

Ngày bài báo được đăng: 11/01/2020

Trang 2

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài với mục tiêu: Đánh giá tổn thương mô

bệnh học, siêu cấu trúc gan ở BN viêm

gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da

cam/dioxin tại Việt Nam

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

33 BN viêm gan mạn tính phơi nhiễm

chất độc da cam/dioxin điều trị tại Bệnh

viện Quân y 17 - Đà Nẵng từ tháng 8 -

2014 đến 12 - 2014

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

BN từ 18 - 70 tuổi, sống ở vùng “điểm

nóng” dioxin tại Sân bay Đà Nẵng > 5 năm,

xét nghiệm máu có nồng độ dioxin cao

(TEQ > 9,4 pg/g lipid) [5]

- Có từng đợt tăng enzym gan không rõ

nguyên nhân liên tục hoặc kéo dài > 6 tháng

(có chỉ định sinh thiết gan)

- Chẩn đoán viêm gan mạn qua mô

bệnh học: thâm nhiễm tế bào viêm mạn

tính: bạch cầu đơn nhân với chủ yếu là

lympho bào ở khoảng cửa, có xơ hóa gan

trên mô bệnh học [6]

- Tình nguyện tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- BN không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Viêm gan mạn do các nguyên nhân

khác: viêm gan virut B, C, do rượu, do thuốc,

tự miễn…

- Chống chỉ định sinh thiết gan

* Chọn nhóm so sánh:

15 đối tượng viêm gan B mạn tính

sống ở khu vực không ô nhiễm dioxin có

chỉ định sinh thiết gan, điều trị tại Bệnh

viện Quân y 103 được làm mô bệnh học

và siêu cấu trúc gan

* Chẩn đoán viêm gan virut B mạn:

- HBsAg (+) ≥ 6 tháng hoặc HBsAg (+)

và anti-HBc IgG (+)

- AST, ALT tăng từng đợt hoặc liên tục

> 6 tháng

- Có bằng chứng tổn thương mô bệnh học tiến triển, xơ gan (xác định bằng sinh thiết gan) mà không do căn nguyên khác [2]

* Tiêu chuẩn loại trừ nhóm so sánh:

- BN không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Viêm gan mạn do các nguyên nhân khác: viêm gan virut C, do rượu, do thuốc,

tự miễn…

- Chống chỉ định sinh thiết gan

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang

- 2 bác sỹ có kinh nghiệm của Bệnh viện Quân y 103 và Viện 69, Bộ Tư lệnh Lăng hội chẩn thống nhất kết quả mô bệnh học gan

- Mẫu sinh thiết: đạt yêu cầu đọc mô bệnh học và siêu cấu trúc khi đạt tiêu chuẩn ≥ 6 khoảng cửa

- Mức độ xơ hóa theo thang điểm Metavir: F0: không xơ hóa; F1: xơ hóa khoảng cửa; F2: xơ hóa khoảng cửa và vài cầu nối; F3: xơ hóa với nhiều cầu nối hay xơ hóa bắc cầu; F4: xơ gan [7]

- Hình ảnh tổn thương siêu cấu trúc gan: đọc trên kính hiển vi điện tử truyền qua và kính hiển vi điện tử quét tại Viện

69, Bộ Tư lệnh Lăng Ghi nhận tổn thương siêu cấu trúc ở mức tế bào và bào quan

Thu thập dữ kiện và số liệu, kiểm tra

và nhập vào máy tính Xử lý số liệu theo chương trình SPSS 20.0

Trang 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Giới Nhóm tuổi

Nam

n, (%)

Nữ

Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu 46,3 ± 12,1, nhỏ nhất 25 tuổi, lớn nhất 69 tuổi Nhóm tuổi từ 41 - 60 chiếm nhiều nhất, 30,3% BN ở nhóm tuổi ≤ 40 Tỷ lệ nam/nữ: 1/2

Lympho bào và bạch cầu đa nhân

bao quanh tế bào gan

Tổn thương gan trên mô bệnh học gặp trên hầu hết các mẫu sinh thiết Tất cả các mẫu đều có thâm nhiễm tế bào viêm bao quanh tế bào gan 4 BN (12,1%) có biến đổi

ưa toan tế bào gan Các tổn thương mạn tính khác của bệnh gan mạn tính như thể Mallory, nhiễm sắc tố, u hạt mỡ, mitochondria khổng lồ, nghẽn tĩnh mạch cũng được đánh giá, nhưng không BN nào mắc

* Mức độ xơ hóa gan theo Metavir ở nhóm nghiên cứu (n = 33):

F0: 9 BN (27,3%); F1: 14 BN (42,4%); F2: 10 BN (30,3%); không phát hiện tổn thương

xơ hóa gan mức độ F3 và F4

Trang 4

* Chỉ số mức độ hoạt động trên mô

học trên nhóm so sánh (n = 15):

Viêm gan mạn tính rất nhẹ (1 - 3 điểm):

0 BN (0%); viêm gan mạn tính nhẹ (4 - 8

điểm): 0 BN (0%); viêm gan mạn tính vừa

(9 - 12 điểm): 9 BN (60,0%); viêm gan

mạn tính nặng (13 - 18 điểm): 6 BN (40,0%)

* Giai đoạn xơ hóa trên nhóm so sánh

(n = 15):

Không xơ hóa: 7 BN (46,7%); xơ hóa

khoảng cửa lan tỏa: 0 BN (0%); xơ hóa

khoảng cửa cầu nối (xơ từ khoảng cửa

tới khoảng cửa hoặc xơ từ khoảng cửa

tới trung tâm tiểu thùy): 6 BN (40,0%);

xơ gan rõ: 2 BN (13,3%)

Do không có nghiên cứu tương tự về

tổn thương mô bệnh học trên BN viêm

gan mạn phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin,

đòi hỏi 2 bác sỹ giải phẫu bệnh có kinh nghiệm đọc kết quả tổn thương mô bệnh học Tuy nhiên, các tổn thương tìm thấy trên nhóm nghiên cứu chủ yếu không đặc hiệu, có thể gặp ở bệnh gan mạn tính do các nguyên nhân khác như thể Mallory, nhiễm sắc tố, u hạt mỡ, biến đổi ưa toan

tế bào, mitochondria khổng lồ, nghẽn tĩnh mạch Tuy nhiên, chúng tôi không gặp BN nào trong nghiên cứu này Với BN viêm gan mạn tính do các nguyên nhân khác, tổn thương mô bệnh học có giá trị gợi ý nguyên nhân Chúng tôi áp dụng thang điểm Knodell đánh giá tổn thương gan thông qua chỉ số hoạt tính mô học (Histologycal Activity Index - HAI) đối với tổn thương gan do viêm gan virut B trên nhóm so sánh có tổn thương viêm hoại tử

tế bào

Khoảng gian bào, vi quản

100% BN nhóm nghiên cứu và nhóm so sánh đều có thâm nhiễm tế bào viêm,

không phát hiện trường hợp nào có khoảng gian bào, vi quản mật giãn

(TEM, x5000) (BN Phạm Ngọc L 32 tuổi - nhóm nghiên cứu)

Trang 5

Bảng 4: Xơ hóa tổ chức gan

Xơ hóa quanh xoang (có hoặc không

Xơ hóa với nhiều cầu nối hay xơ hóa

Xơ hóa gan trên nhóm nghiên cứu: xơ hóa quanh xoang chiếm tỷ lệ cao nhất (51,5%) Trên nhóm so sánh: xơ hóa quanh xoang có số lượng lớn nhất (46,6%)

gian bào của tế bào nhu mô gan (TEM x5000) (BN Võ Văn T 33 tuổi)

(0%)

33 (100%)

33 (100%)

6 (40,0%)

9 (60,0%)

15 (100%)

(0%)

33 (100%)

33 (100%)

9 (60,0%)

6 (40,0%)

15 (100%)

Trang 6

Nhân bị tổn thương 0

(0%)

33 (100%)

33 (100%)

8 (53,3%)

7 (46,7%)

15 (100%)

(100%)

0 (0%)

33 (100%)

0 (0%)

15 (100%)

15 (100%) Lưới nội bào

không hạt

(100%)

0 (0%)

33 (100%)

14 (93,3%)

1 (6,7%)

15 (100%) Tạo thể đa

màng xoắn

33 (100%)

0 (0%)

33 (100%)

0 (0%)

15 (100%)

15 (100%)

Trong nhóm nghiên cứu, tổn thương siêu cấu trúc tế bào gan gặp ở 100% BN bị lưới nội bào hạt giãn rộng, không gặp tổn thương ở màng tế bào, màng nhân và nhân Khác với nhóm nghiên cứu, tổn thương ở nhóm so sánh gặp ở màng tế bào bị tổn thương, màng nhân bị tổn thương, nhân bị tổn thương, không gặp hình ảnh lưới nội bào hạt giãn rộng và lưới nội bào không hạt tạo thể đa màng xoắn

Nhóm nghiên cứu

n (%)

Nhóm so sánh

n (%)

Vị trí mitochondria

Cấu trúc màng

mitochondria

Mào mitochondria

Mật độ bào quan

tăng đậm độ điện tử

Hạt đậm độ điện tử

cao trong bào quan

Trang 7

Có 31 (93,9%) 0 (0%)

Đường tinh thể

Hình dạng

mitochondria

Kích thước

Mitochondria thể

kính

Tất cả BN ở nhóm nghiên cứu có tổn

thương mitochondria, các tổn thương này

tương đối đồng nhất mỗi các mẫu bao

gồm: mào mitochondria thưa thớt, có hạt

đậm độ điện tử cao trong bào quan, kích

thước mitochondria không đồng đều,

hình dạng mitochondria biến dạng, vị trí

mitochondria tập trung sát màng tế bào

Trên nhóm so sánh: tổn thương

mitochondria ít gặp (1/15 BN có cấu trúc

màng mitochondria bị đứt gãy), mật độ

bào quan tăng đậm độ điện tử ở 2/3 số

mitochondria trong tế bào (1/15 BN = 6,7%),

không gặp mitochondria thể kích, không

có đường tinh thể và hình dạng vị trí

mitochondria bình thường

Bộ Y tế đã xếp ung thư gan nguyên

phát vào Danh mục bệnh, tật, dị dạng, dị

tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất

độc hóa học/dioxin [1] Do cách chọn mẫu

khác nhau nên mức độ tổn thương xơ hóa gan cũng khác nhau ở nhiều nghiên cứu Trong nghiên cứu này mức độ tổn thương xơ hóa gan không nặng bằng các nghiên cứu khác ở nhóm nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi gặp 30,3% BN, gan xơ hóa giai đoạn F2 là những trường hợp xếp vào nhóm xơ hóa đáng kể, cần có kế hoạch theo dõi và điều trị đề phòng bệnh tiến triển nặng lên

Phơi nhiễm mạn tính với dioxin gây tác động căng thẳng, kéo dài đối với đáp ứng giải độc của tế bào gan, gây thay đổi về hình thái siêu cấu trúc của tế bào gan, đặc biệt là mitochondria Tổn thương siêu cấu trúc gan trên nhóm nghiên cứu tương

tự tổn thương gan ở nhiều nghiên cứu trước đây, động vật thực nghiệm ăn thức

ăn nhiễm dioxin đã tìm thấy một số thay đổi siêu cấu trúc tế bào gan [8] Trên nhóm so sánh gặp tổn thương khác trên

Trang 8

hình ảnh siêu cấu trúc, đó là tổn thương

ở màng tế bào, màng nhân và nhân, rất

ít tổn thương ở mitochondria

Kết quả siêu cấu trúc gan nhóm

nghiên cứu cho thấy tổn thương rõ ràng

và đồng nhất trên hình ảnh siêu cấu trúc

gan, tương tự nghiên cứu về tổn thương

gan trên động vật Vì vậy, chúng ta nghĩ

đến tổn thương gan do nhiễm độc dioxin

trên nhóm nghiên cứu Từ kết quả siêu

cấu trúc, nếu có nghiên cứu kết hợp cơ

bản về sinh lý, sinh lý bệnh, sinh học

phân tử sẽ góp phần làm rõ hơn cơ chế

gây tổn thương gan của dioxin

KẾT LUẬN

Nghiên cứu tổn thương mô bệnh học

và siêu cấu trúc gan trên 33 BN bị viêm

gan mạn tính phơi nhiễm dioxin, chúng tôi

nhận thấy:

- Tổn thương xơ hóa gan theo hệ

thống điểm Metavir: F1 có tỷ lệ cao nhất:

14/33 BN (42,4%); nhóm tổn thương xơ

hóa gan F0: 9/33 BN (27,3%) và nhóm

tổn thương xơ hóa gan F2: 10/33 BN

(30,3%) Không phát hiện tổn thương xơ

hóa gan mức độ F3 và F4

- Trên hình ảnh siêu cấu trúc gan

không gặp tổn thương màng tế bào,

màng nhân và nhân ở nhóm nghiên cứu,

tuy nhiên tổn thương mitochondria tương

đối đồng nhất trên tất cả BN Có sự khác

biệt so với nhóm so sánh, tổn thương chủ

yếu ở màng tế bào, màng nhân và nhân,

tổn thương mitochondria rất ít gặp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT của Bộ

Y tế: Ban hành Danh mục bệnh, tật, dị dạng,

dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học/dioxin

2 Quyết định số 5448/QĐ-BYT năm 2014 của Bộ Y tế: Về việc ban hành hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan virut B

3 Czepiel J, Biesiada G, Gajda M et al.

The effect of TCDD dioxin on the rat liver in biochemical and histological assessment Folia Biol (Krakow) 2010, 58 (1 - 2), pp.85-90

4 Ozeki J, Uno S, Ogura M, Choi M et al

Aryl hydrocarbon receptor ligand 2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin enhances liver damage in bile duct-ligated mice Toxicology

2011, Feb 4, 280 (1 - 2), pp.10-17

5 Olaf P PCDD/PCDF: Human background data for Germany, a 10-year experience Environ Health Perspect 1998, 106 (Suppl 2), pp.723-731

6 Maria G, Alessandra M, Gavino F Chronic viral hepatitis: The histology report Digestive and Liver Disease 2011, 43, pp.331-343

7 Poynard T, Ratziu V, Benmanov Y et al.

Fibrosis in patients with hepatitis C: Detection and significance: Detection and significance Semin Liver Dis 2000, 20 (1), pp.47-56

8 Turner J.N, Collins D.N. Liver morphology

in guinea pigs administered either pyrolysis products of a polychlorinated biphenyl transformer fluid or 2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin Toxicol Appl Pharmacol 1983 67 (3), pp.417-429

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân bố BN theo nhóm tuổi và giới. - Tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam dioxin tại Việt Nam
Bảng 1 Phân bố BN theo nhóm tuổi và giới (Trang 3)
Bảng 2: Tổn thương mô bệnh học gan ở nhóm nghiên cứu. - Tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam dioxin tại Việt Nam
Bảng 2 Tổn thương mô bệnh học gan ở nhóm nghiên cứu (Trang 3)
Hình 1: Hình ảnh vi quản mật với vi nhung mao. (TEM, x5000) (BN Phạm Ngọc L. 32 tuổi - nhóm nghiên cứu) - Tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam dioxin tại Việt Nam
Hình 1 Hình ảnh vi quản mật với vi nhung mao. (TEM, x5000) (BN Phạm Ngọc L. 32 tuổi - nhóm nghiên cứu) (Trang 4)
Bảng 3: Hình ảnh siêu cấu trúc tổ chức gan nhóm nghiên cứu và nhóm so sánh. - Tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam dioxin tại Việt Nam
Bảng 3 Hình ảnh siêu cấu trúc tổ chức gan nhóm nghiên cứu và nhóm so sánh (Trang 4)
Bảng 4: Xơ hóa tổ chức gan. - Tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam dioxin tại Việt Nam
Bảng 4 Xơ hóa tổ chức gan (Trang 5)
Hình 2: Hình ảnh siêu cấu trúc của gan. Xâm nhập sợi, bó sợi collagen vào khoảng gian bào của tế bào nhu mô gan (TEM - Tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam dioxin tại Việt Nam
Hình 2 Hình ảnh siêu cấu trúc của gan. Xâm nhập sợi, bó sợi collagen vào khoảng gian bào của tế bào nhu mô gan (TEM (Trang 5)
Bảng 6: Tổn thương mitochondria. - Tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam dioxin tại Việt Nam
Bảng 6 Tổn thương mitochondria (Trang 6)
Biến dạng (Hình chùy, có chồi) 33 (100%) (0%) - Tổn thương mô bệnh học và siêu cấu trúc gan ở bệnh nhân viêm gan mạn tính phơi nhiễm chất độc da cam dioxin tại Việt Nam
i ến dạng (Hình chùy, có chồi) 33 (100%) (0%) (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w