1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin tại thư viện trường đại học quốc tế RMIT việt nam

111 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 3,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---NGUYỄN TRỌNG THI ĐÀO TẠO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ RMIT VIỆT NAM LU

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN TRỌNG THI

ĐÀO TẠO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ RMIT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN TRỌNG THI

ĐÀO TẠO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ RMIT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Viết Nghĩa

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Viết Nghĩa, người Thầy và là người hướng dẫn đã tận tình động viên, chỉ bảo và hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành công trình Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Thông tin - Thư viện này.

Tôi xin cảm ơn trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHQGHN, phòng Sau Đại học, phòng Đào tạo và đặc biệt là Khoa Thông tin

Thư viện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến gia đình, người thân, đồng nghiệp

đã luôn động viên, giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi có điều kiện hoàn thành nghiên cứu của mình.

Tác giả luận văn

Nguyễn Trọng Thi

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC HÌNH 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU 5

LỜI NÓI ĐẦU 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ RMIT VIỆT NAM 14

1.1 Những vấn đề chung về kiến thức thông tin và đào tạo kiến thức thông tin 14

1.1.1 Khái niệm về kiến thức thông tin 14

1.1.2 Nội hàm của khái niệm kiến thức thông tin 16

1.1.3 Khái niệm về đào tạo kiến thức thông tin 24

1.2 Khái quát về Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam và Thư viện Nhà trường 27

1.2.1 Tổng quan về Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam 27

1.2.2 Khái quát về Thư viện Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam 29

1.3 Hoạt động đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tại một số thư viện đại học trên thế giới 40

1.4 Hoạt động đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tại một số thư viện đại học tại Việt Nam . 42

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC QUỐC TẾ RMIT VIỆT NAM 45

2.1 Kiến thức và kỹ năng tìm kiếm thông tin của sinh viên Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam 45

2.1.1 Đặc điểm sinh viên đại học RMIT Việt Nam 45

2.1.2 Hiểu biết về kiến thức thông tin của sinh viên 46

2.1.3 Kỹ năng tìm kiếm thông tin của sinh viên 48

2.1.4 Quy trình tìm kiếm thông tin của sinh viên đại học Quốc tế RMIT Việt Nam 49

2.1.5 Ý nghĩa và vai trò của công tác đào tạo kiến thức thông tin cho sinh viên trường đại học RMIT Việt Nam 52

Trang 5

2.2 Hoạt động đào tạo kiến thức thông tin của Thư viện Đại học Quốc tế

RMIT Việt Nam 53

2.2.1 Nội dung đào tạo kiến thức thông tin 53

2.2.2 Phương pháp đào tạo kiến thức thông tin 57

2.2.3 Quy trình tổ chức đào tạo kiến thức thông tin 58

2.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin tại Thư viện 64

2.3.1 Nhận thức về vai trò của kiến thức thông tin và đào tạo kiến thức thông tin của cán bộ và sinh viên 64

2.3.2 Cơ sở vật chất - Trang thiết bị 67

2.3.3 Nhu cầu của người dùng tin 67

2.3.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo 68

2.4 Đánh giá và nhận xét hiệu quả đào tạo kiến thức thông tin tại Thư viện 69

2.4.1 Đánh giá 69

2.4.2 Nhận xét 77

2.4.3 Nguyên nhân 80

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC RMIT VIỆT NAM 81

3.1 Nhóm giải pháp về yếu tố con người 81

3.1.1 Nâng cao nhận thức về vai trò của kiến thức thông tin cho cán bộ, sinh viên 81

3.1.2 Nâng cao trình độ của cán bộ Thư viện 81

3.2 Giải pháp về chương trình và hình thức tổ chức đào tạo 82

3.2.1 Hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo 82

3.2.2 Đa dạng hóa hình thức đào tạo 83

3.2.3 Tích cực quảng bá việc đào tạo kiến thức thông tin tới sinh viên 83

3.3 Tăng cường cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin 84

3.4 Đề xuất mô hình hợp tác giữa Thư viện và các phòng ban 86

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 1 95

PHỤ LỤC 2 96

PHỤ LỤC 3 99

PHỤ LỤC 4 100

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt

Online Public Access CatalogRoyal Melbourne Institute of Technology

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: KTTT trong mối quan hệ với các kiến thức khác 22

Hình 1.2: Định nghĩa về Sự thành thạo thông tin 23

Hình 1.3: Vai trò của KTTT trong việc học tập suốt đời 26

Hình 1.4: Biểu đồ sự gia tăng số lượng tài liệu qua các năm 31

Hình 1.5: Biểu đồ số lượng nhân viên thư viện qua các năm 32

Hình 2.1: Quy trình tìm kiếm thông tin tiêu chuẩn 50

Hình 2.2: Hình chụp cơ sở dữ liệu Lynda.com 63

Hình 2.3: Đồ họa bằng hoạt hình về trích dẫn tài liệu tham khảo 66

Hình 2.4: Tỉ lệ đối tượng tham gia khảo sát 71

Hình 2.5: Tỉ lệ thể hiện lý do người dùng không tham gia các lớp hướng dẫn của thư viện 74

Hình 2.6: Đánh giá chung về Mức độ quan trọng của các lớp hướng dẫn 74

Hình 2.7: Đánh giá chung về Mức độ hài lòng của các lớp hướng dẫn 75

Hình 2.8: Đánh giá chi tiết về các lớp hướng dẫn (Mức độ quan trọng) 76

Hình 2.9: Đánh giá chi tiết về các lớp hướng dẫn (Mức độ hài lòng) 77

Hình 3.1: Mô hình hợp tác giữa Thư viện và các phòng ban khác 86

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Chính sách mƣợn trả tài liệu 37Bảng 2.1: Thống kê số lƣợng đối tƣợng tham gia khảo sát 71Bảng 2.2: Kết quả khảo sát câu hỏi thứ 3 72

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chất lượng giáo dục đại học đang là vấn đề được quan tâm đặc biệt khôngchỉ của lãnh đạo các cấp trong ngành giáo dục mà còn nhận được sự quan tâm của

cả xã hội Trong thời gian gần đây, chúng ta thường nghe nói đến cụm từ “đổi mớiphương pháp giảng dạy và học tập” ở tất cả các cấp từ phổ thông cho đến bậc đạihọc và sau đại học Đề án “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 -2015” ra đời với mục đích chuyển đổi từ phương pháp giảng dạy và học tập theoniên chế sang phương pháp giảng dạy và học tập theo tín chỉ nhằm nâng cao chấtlượng đào tạo trong môi trường đại học Rõ ràng đổi mới phương pháp dạy và học

là một đòi hỏi của thực tế khách quan nhằm tạo một lực lượng lao động với kiếnthức chuyên môn và các kĩ năng trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thịtrường và hỗ trợ cho mục tiêu “học tập suốt đời” trong xã hội

Có một thực tế rằng, trong các bậc phổ thông thì khả năng tư duy và trình độcủa học sinh Việt Nam không thua kém học sinh các nước tiên tiến trên thế giới, tuynhiên khi tiếp cận các bậc học cao hơn ở đại học và sau đại học thì trình độ sinh viênViệt Nam lại không bằng sinh viên các nước khác, điều này có thể do một phần sinhviên thiếu các kĩ năng học tập và các kĩ năng mềm Nguyên nhân chủ yếu của sự chênhlệch trình độ, khẳ năng của sinh viên Việt Nam so với sinh viên các nước có nền giáodục tiên tiến là do phương pháp giảng dạy nước ta chủ yếu là đọc giảng, cách truyềnthụ kiến thức một chiều dẫn đến phương pháp học tập của sinh viên rất thụ động,không đào tạo và tập cho sinh viên thói quen tự học, tự nghiên cứu và tư duy sáng tạo,một điều cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của sinh viên về sau

Theo phương pháp giảng dạy mới, giảng viên đại học hiện nay không còn làngười đơn thuần truyền thụ kiến thức mà là người hướng dẫn, hỗ trợ và tư vấn chosinh viên tìm chọn, tiếp cận và xử lý thông tin Người sinh viên hiện nay phải biếtxác định được nhu cầu thông tin của mình là gì trên cơ sở đó để tìm được nguồnthông tin chính xác nhằm thỏa mãn nhu cầu tin đó

Trang 10

Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam (RMIT Việt Nam) là chi nhánh tạiChâu Á của Trường Đại học RMIT đặt tại Melbourne -Úc Trường ĐH RMIT ViệtNam cam kết cung cấp một nền giáo dục chất lượng với các chương trình đào tạotại Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam giống với các chương trình được giảng dạy tạiĐại học RMIT Melbourne Sinh viên học tập tại Đại học Quốc tế RMIT Việt Namnhận được bằng cấp do Đại học RMIT Melbourne cấp sau khi hoàn thành chươngtrình học Mục tiêu học tập, các khóa học và giáo trình, công việc đánh giá vànhững tài liệu sử dụng tại Việt Nam đều do các nhân viên tại Đại học RMITMelbourne chuẩn bị Điều đó cho thấy vai trò của các giảng viên tại RMIT ViệtNam tập trung vào việc nâng cao giá trị của quá trình giảng dạy và học tập thôngqua những phương pháp sáng tạo hơn hình thức giảng dạy truyền thống Chươngtrình đào tạo được sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin và nguồn tài liệukhổng lồ từ các cơ sở dữ liệu lớn trên thế giới do nhà trường đặt mua Hiện tại cóhơn 90% sinh viên đang theo học các chương trình tại trường là sinh viên bản xứ,tốt nghiệp từ các trường trung học phổ thông trên lãnh thổ Việt Nam.

Thực tế cho thấy các chương trình giáo dục phổ thông tại các trường ViệtNam nặng về lý thuyết và thiếu sự hỗ trợ các kĩ năng mềm cho học sinh, nhất là họcsinh phổ thông khi sắp bước qua giai đoạn đại học Đó cũng là vấn đề chung của rấtnhiều các sinh viên, học viên đang theo học các chương trình tại trường

Như vậy, có thể thấy rằng kiến thức và kỹ năng về thông tin là rất quan trọngtrong vấn đề học tập của sinh viên, học viên của trường Đại học Quốc tế RMIT ViệtNam trong điều kiện tiếp xúc với phương pháp giảng dạy mới của trường đại họcRMIT tại Úc Thiếu kiến thức và kỹ năng thông tin, sinh viên, học viên sẽ gặp rất nhiềukhó khăn trong việc học tập và nghiên cứu tại trường trong điều kiện thời gian trêngiảng đường rất chặt chẽ và người học phải tự học là chính Việc học tập và đào tạokiến thức và kỹ năng thông tin là trách nhiệm người học, nhà trường, giảng viên vàtrong đó thư viện và người cán bộ thư viện đóng vai trò hết sức quan trọng

Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin tại Thư viện Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam” làm đề

luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thông tin - Thư viện

Trang 11

2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin là sinh viên tại Thư viện trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu nhận dạng thực trạng hoạt động đào tạo kiến thức thông tin chongười dùng tin và nâng cao hiệu quả khai thác thông tin cho người dùng tin Thưviện Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao chất lượng trang bị kiến thức thông tin cho sinh viên góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo của Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ thêm lý luận về kiến thức thông tin và đào tạo kiến thức thông tin;

- Nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo kiến thức thông tin tại Thư việnTrường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam; đánh giá hiệu quả hoạt động đào tạo kiến thức thông tin của Thư viện;

- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo kiến thức thông tin tại Thư viện Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại Thư viện Trường Đại học Quốc

tế RMIT Việt Nam, cơ sở Nam Sài Gòn và giới hạn phạm vi nghiên cứu là đào tạokiến thức thông tin cho đối tượng người dùng tin là sinh viên của Trường

Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 tới nay, đây là thời gian mà Trường Đại

học Quốc tế RMIT Việt Nam chuyển từ cơ sở Phạm Ngọc Thạch sang cơ sở mớiNguyễn Văn Linh, khi Thư viện được đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết

bị và đi vào hoạt động đồng bộ

5 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài

Trên thế giới: nghiên cứu về kiến thức thông tin không còn là vấn đề mới

mẻ Thuật ngữ kiến thức thông tin hay còn gọi là kĩ năng thông tin (informationliteracy) được nhắc đến đầu tiên bởi Paul G Zukowski vào năm 1974 Theo ông,

Trang 12

một cá nhân có kiến thức thông tin là người biết cách sử dụng một nguồn thông tinrộng và lớn để giải quyết các vấn đề công việc và các vấn đề về xã hội Định nghĩacủa ông được mọi người tiếp nhận và duy trì trong vòng hơn 35 năm Vấn đề vềkiến thức thông tin thực sự trở nên nóng và được đem ra bàn luận nhiều nhất là vàothập niên 80 và 90 Năm 1985, Breivik đưa ra được một định nghĩa mới về kiếnthức thông tin và đã được Hiệp hội Thư viện Hoa Kì được chấp nhận và thông qua.

Năm 2007, Ishimura Yusuke đã bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài

“Information literacy in academic libraries: Assessment of Japanese students'

needs for successful assignment completion in two Halifax universities” đã đề cập

tới những khó khăn của sinh viên quốc tế khi du học tại Canada và đặc biệt là sinh

viên Nhật Bản khi hoàn thành các yêu cầu về bài tập cũng như kết quả học tập cuốikhóa

Gần đây, luận án tiến sĩ của Dixon-Thomas Courtlann (năm 2012)

Information literacy and the 21st century academic librarian: A Delphi study đã

viết về mối quan hệ giữa kiến thức thông tin đối với nhân viên thư viện đại họctrong thế kỉ 21 khi mà các kĩ năng ở thế kỉ 21 được mang ra bàn luận nhiều nhất

Hiện nay, tại một số các quốc gia có nền khoa học thông tin - thư viện pháttriển, vấn đề về kiến thức thông tin đã được đầu tư nghiên cứu và đã hình thành các

“khung” hay “tiêu chuẩn” đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng Tại Úc và NewZealand đã ban hành “Khung kiến thức thông tin” (Australian and New ZealandInformation Literacy Framework), Xứ Wales cũng có khung kiến thức thông tin chosinh viên của mình (Information Literacy Framework for Wales); Scotland cũng banhành khung kiến thức quốc gia cho sinh viên (National Information LiteracyFramework Scotland) Tại Hoa Kỳ, Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ cũng ban hành tiêuchuẩn kiến thức thông tin cho giáo dục cao đẳng, đại học (Information LiteracyCompetency Standards for Higher Education) IFLA - Hiệp hội Thư viện Quốc tế cũngban hành hướng dẫn đào tạo kiến thức thông tin cho sinh viên (Guidelines onInformation Literacy for Lifelong Learning),… Nhìn chung, các “khung” hay “tiêuchuẩn” đào tạo kiến thức thông tin nêu trên không những hướng dẫn áp dụng cho từngloại hình thư viện cụ thể, trong đó, đối tượng là người dùng tại thư viện đại học màphần lớn là sinh viên, học viên cao học mà còn cung

Trang 13

cấp cách thức, cũng như tiêu chuẩn khá chi tiết để đánh giá kết quả của việc đào tạo, giảng dạy kiến thức thông tin.

Tại Việt Nam: Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu

của một số tác giả về kiến thức thông tin, tiêu biểu phải kể đến các công trình sau:

- Luận án tiến sĩ của Trương Đại Lượng (2015) với đề tài “Phát triển kiến

thức thông tin cho sinh viên đại học ở Việt Nam” với mục tiêu là đề xuất một số mô

hình cũng như giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo kiến thức thông tin cho sinhviên đại học

- Nguyễn Hoàng Sơn với bài viết “Tìm hiểu khái niệm kiến thức thông tin

góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo cử nhân chuyên ngành khoa học thông tin thư viện” đăng trên Kỷ yếu hội thảo khoa học chuyên ngành thông tin thư viện lần I Bài

viết nhấn mạnh việc đào tạo kiến thức thông tin cho sinh viên chuyên ngành thông tin thư viện - người cán bộ tương lai đào tạo KTTT cho người dùng

Trần Thị Quý với bài viết “Kiến thức thông tin - lượng kiến thức cần có

cho người dùng tin trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.”

- Nghiêm Xuân Huy với bài “Kiến thức thông tin với giáo dục đại học”

- Nguyễn Văn Hành với bài “Vài suy nghĩ về trang bị “kiến thức thông tin” cho sinh viên trong các trường đại học Việt Nam”

- Nguyễn Huy Chương và Nguyễn Thanh Lý có bài “Những tiêu chuẩn KTTTtrong giáo dục đại học Mỹ và các chương trình đào tạo kỹ năng thông tin cho

SV tại Trung tâm Thông tin - Thư viện, ĐHQGHN”

Ngoài ra còn phải kể đến một loạt các bài viết về kiến thức thông tin của một

số tác giả khác như: Vũ Quỳnh Nhung, Tô Thị Hiền, Nguyễn Huy Chương, HuỳnhĐình Chiến Tất cả các tác giả đều là người làm công tác thư viện và làm công tácgiảng dạy tại các trường đại học đào tạo chuyên ngành Thư viện - Thông tin

Tại một số trường đào tạo chuyên ngành Thông tin - Thư viện cũng đã cómột số luận văn nghiên cứu về đề tài kiến thức thông tin như luận văn của tác giả

Nguyễn Thị Ngà (2007) với đề tài “Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên

Trường Đại học Hà Nội”; luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Phương Thúy (2013) với

đề tài “Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường đại học Y tế công cộng”

Trang 14

Tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ cũng đã và đang dần hình thànhkhung chương trình đào tạo kỹ năng thông tin với các mức độ yêu cầu khác nhauđối với từng đối tượng người dùng với tổng thời gian đào tạo là 13 tiết học.

Tại Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã có cácchương trình đào tạo kĩ năng thông tin, đặc biệt là kĩ năng sử dụng thư viện chocán bộ và sinh viên trong toàn Đại học Quốc gia với tổng số giờ là 5 giờ

Từ tất cả các nguồn thông tin trên cho chúng ta thấy sự quan tâm đặc biệtđến công tác đào tạo kiến thức thông tin và tầm quan trọng của nó đến việc giảngdạy và học tập trong môi trường đại học và xa hơn nữa là cho mục tiêu “học tậpsuốt đời” trên thế giới cũng như tại Việt Nam Một điều đáng chú ý ở đây chính làcác cá nhân và tập thể nghiên cứu việc đào tạo kiến thức thông tin cho sinh viên chỉbao gồm các nhà nghiên cứu và chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực thư viện -thông tin Việc không có một nhà nghiên cứu nào hoạt động ngoài lĩnh vực thư viện

- thông tin cho thấy sự thiếu quan tâm xác đáng đến việc đào tạo KTTT cho sinh viên tại các trường đại học tại Việt Nam

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cậpđến vấn đề đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin tại một trường đại họcmang tính chất quốc tế như Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam Do đó, có

thể khẳng định đề tài “Đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tại Thư viện

Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam” là một đề tài mới không trùng lặp với các

công trình đã công bố trước đây.

6 Phương pháp nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu: Nâng cao chất lượng đào tạo kiến thức thông tin sẽ

làm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ của thư viện, góp phần nâng caochất lượng giáo dục tại Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam

Phương pháp luận: vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậy lịch sử trong quá trình nghiêncứu, khảo sát, đánh giá, thực hiện đề tài

Trang 15

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nhằm làm rõ một cơ sở lý luận và số khái

niệm liên quan đến hoạt động đào tạo kiến thức thông tin cũng như kinh nghiệmđào tạo kiến thức thông tin tại thư viện các trường đại học trên thế giới và ViệtNam; nhằm tìm hiểu thực tế thông qua các mô hình đào tạo kiến thức thông tin chongười dùng tin, thông qua các bài viết, báo cáo hội thảo về việc đào tạo kiến thứcthông tin cho người dùng

Phương pháp khảo sát và quan sát: khảo sát thực tế nhằm nhận biết và đánh

giá được tình hình thực tế về công tác đào tạo kiến thức thông tin của thư việntrường đại học Quốc tế RMIT Việt Nam, đánh giá nhu cầu và trình độ của người sửdụng

Phương pháp phỏng vấn: được thực hiện trong quá trình thu thập thông tin

từ nhân viên thư viện, từ sinh viên, nhân viên và giảng viên của trường.

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: bảng hỏi được xây dựng nhằm tìm

hiểu cụ thể hoạt động hoạt động đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin,nhu cầu và trình độ tiếp nhận của người dùng tin nhằm đưa ra giải pháp Với 300phiếu điều tra phát ngẫu nhiên cho các nhóm đối tượng sinh viên cao đẳng, đại họcchuyên ngành, sinh viên Anh văn, cán bộ, giảng viên đã thu về được 286 phiếu Kếtquả điều tra được trình bày trong phụ lục

Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu: xử lý, phân tích những dữ liệu đã

thu thập được trong quá trình thực hiện đề tài; Đánh giá được tình hình đào tạokiến thức thông tin cho người dùng tại thư viện; thực trạng mức độ đáp ứng nhucầu người sử dụng, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp phù hợp

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Làm rõ thêm tầm quan trọng và vai trò của người cán bộ

thư viện trong hoạt động đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin tại thư viện

đại học trong thời kì đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập tại Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn: Nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo kiến thức thông

tin cho người dùng tại thư viện trường Đại học RMIT Việt Nam qua đó nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, học viên trongg trường

Trang 16

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm

Chương 2: Thực trạng đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin tại trường đại học Quốc tế RMIT Việt Nam.

Khảo sát thực trạng nhu cầu đào tạo kiến thức thông tin và công tác đào tạokiến thức thông tin cho người dùng tại thư viện trường đại học Quốc tế RMIT ViệtNam

Chương 3: Giải pháp để nâng cao hiệu quả đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin tại Thư viện Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam

Đề xuất một số giải pháp và định hướng nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin tại thư viện trường đại họcQuốc tế RMIT Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC

TẾ RMIT VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề chung về kiến thức thông tin và đào tạo kiến thức thông tin

1.1.1 Khái niệm về kiến thức thông tin

Trên các diễn đàn về thông tin - thư viện tại Việt Nam đã và đang bàn luận

về một khái niệm được cho là mới, đó là “Information Literacy” (IL) Ở Việt Nam,hiện đang có nhiều cách dịch và hiểu về thuật ngữ này khác nhau, tuy nhiên có 2cách dịch được cho là phổ biến nhất đó là: kiến thức thông tin (KTTT) và kỹ năngthông tin (KNTT) Xuyên suốt luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ kiến thứcthông tin để nói về “Information Literacy” Vậy kiến thức thông tin là gì?

Khái niệm “kiến thức thông tin” trên thế giới không còn là một khái niệmmới mẻ Đầu tiên, KTTT được Paul Zurkowski, chủ tịch Hội Công nghiệp Thôngtin của Mỹ đề cập đến vào năm 1974 Theo ông, “một cá nhân có kiến thức thôngtin là người biết cách sử dụng một nguồn thông tin rộng và lớn để giải quyết cácvấn đề công việc và các vấn đề về xã hội” [23] Sự ra đời khái niệm này là do sựbùng nổ thông tin từ những năm 60 của thế kỉ XX, đặt nền tảng cho sự hình thành

xã hội thông tin Xã hội thông tin đã mang lại những thay đổi to lớn về phươngthức sinh hoạt và những khả năng mới của con người Để thích nghi với một xã hộiluôn luôn biến động mà trong xã hội đó nắm được thông tin là yếu tố quyết địnhthành công của mỗi cá nhân, tập thể, con người cần phải có những kiến thức và kỹnăng cơ bản nhất định về thông tin

Tuy nhiên, đến năm 1989, khi bản báo cáo của Hiệp hội Thư viện Mỹ(ALA) được công bố và thông qua khái niệm mới của Breivik (1985) thì khái niệmKTTT mới được các cơ quan giáo dục đặc biệt chú ý đến

Từ đó đến nay, trên thế giới đã xuất hiện rất nhiều các định nghĩa về KTTT Theo Hiệp hội Thư viện Đại học và Nghiên cứu Mỹ (ACRL)[37; tr.1] thìKTTT là “một tập hợp các khả năng, cho phép các cá nhân có thể nhận biết nhu cầuthông tin của bản thân và có thể xác định, đánh giá và sử dụng thông tin một cáchhiệu quả”

Trang 18

KTTT là cần thiết và cơ bản cho việc học tập suốt đời, bởi vì cá nhân đó cóthể tự xác định nhu cầu tin của mình, biết được các nguồn thông tin, đánh giánguồn thông tin và sử dụng thông tin một cách hiệu quả phục vụ cho mục đích cụthể Theo đó, một cá nhân có KTTT là cá nhân có khả năng:

 Xác định và mở rộng nhu cầu tin,

 Tiếp cận thông tin theo nhu cầu một cách hiệu quả,

 Đánh giá nguồn thông tin,

 Biến nguồn thông tin được lựa chọn thành tri thức,

 Sử dụng nguồn thông tin một cách hiệu quả cho mục đích cụ thể,

 Hiểu biết về các vấn đề kinh tế, pháp lý và xã hội trong việc sử dụng nguồn thông tin,

 Truy cập và sử dụng thông tin có đạo đức và hợp pháp

Trong bài viết của mình, tác giả Tô Thị Hiền còn có một khái niệm khác về

KTTT, đó là “Tin trí” Tác giả định nghĩa như sau: “tin trí là một tập hợp hài hòa

giữa các yếu tố: tri thức, kỹ năng, quan điểm và hành vi của mỗi cá nhân trong việc thu thập, xử lý, sử dụng, sáng tạo và phổ biến thông tin phù hợp với nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân trong xã hội”[13tr.110]

Tác giả Trương Đại Lượng thì cho rằng KTTT là “tập hợp kiến thức và kỹnăng thông tin bao gồm: nhận dạng nhu cầu tin, tìm kiếm thông tin, đánh giá vàkhai thác thông tin, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và sự hiểu biết vềcác vấn đề đạo đức, kinh tế, pháp lý, xã hội có liên quan đến truy cập, sử dụng vàtrao đổi thông tin”

Như vậy, KTTT chính là sự kết hợp một cách thuần thục giữa tri thức và kỹnăng của một cá nhân liên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin, định vị đượcnguồn thông tin, đánh giá nguồn thông tin, tổ chức và sử dụng thông tin một cáchhiệu quả, có đạo đức và hợp pháp

Cần phải hiểu rõ rằng, KTTT không chỉ đơn thuần là những kỹ năng tìmkiếm và sử dụng thông tin một cách hiệu quả, nó bao gồm cả những am hiểu kiếnthức về thể chế xã hội, đạo đức và pháp luật trong việc sử dụng nguồn thông tin tìm

Trang 19

được Đây có lẽ là mảng kiến thức cần được nhấn mạnh và chú trọng nhiều nhất,đặc biệt trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, khi mà vấn đề bản quyền và sở hữutrí tuệ đang là vấn đề được đem ra tranh cãi nhiều nhất, đặc biệt vấn đề đạo văn vàthiếu trích dẫn tài liệu trong giáo dục đại học khi thông tin bùng nổ và Internet rađời Máy tính và Internet ra đời mang lại cho con người nhiều sự thuận lợi trongvấn đề tiếp cận thông tin, tuy nhiên điều đó cũng mang lại nhiều vấn đề nhất là vấn

đề sao lưu, và sử dụng thông tin một cách tràn lan mà không trích dẫn nguồn

1.1.2 Nội hàm của khái niệm kiến thức thông tin

Tại nhiều nước phát triển trên thế giới, để hình thành các khung nội dungKTTT, người ta thường dựa vào các tiêu chuẩn hoặc các yêu cầu/mục tiêu màngười được xem là có KTTT cần đạt được Ví dụ như trong Tiêu chuẩn về nănglực KTTT trong giáo dục đại học (Information literacy competency standard forHigher Education), Hiệp hội Thư viện Đại học và Nghiên cứu Hoa Kỳ (ACRL -Assosiation of Colleges and Research Libraries) đã đưa ra 5 tiêu chuẩn về năng lựcKTTT trong giáo dục đại học Sinh viên được cho là có KTTT khi thể hiện được 5khả năng sau:

a Có thể xác định được bản chất và mở rộng nhu cầu tin

 Định nghĩa và làm rõ nhu cầu tin

 Xác định loại hình và định dạng của nguồn thông tin

 Xem xét giá trị và lợi ích của thông tin

 Đánh giá lại bản chất và mở rộng nhu cầu tin

b Có thể truy cập thông tin theo nhu cầu một cách tối ưu và hiệu quả

 Lựa chọn các phương pháp tìm kiếm thích hợp, hoặc hệ thống truy hồi thôngtin để truy cập thông tin theo yêu cầu một cách hiệu quả

 Xây dựng và áp dụng hiệu quả chiến lược tìm tin

 Dùng các phương pháp khác để tìm kiếm thông tin trực tuyến hoặc trựctiếp

 Chỉnh sửa chiến lược tìm tin (nếu cần thiết)

 Trích dẫn, ghi lại và quản lý thông tin và nguồn tin

Trang 20

c Có thể đánh giá thông tin và nguồn tin một cách khách quan, biến các thông tin được chọn lựa thành kiến thức của mình và đánh giá hệ thống

 Tóm tắt được ý chính từ các thông tin được thu thập

 Làm rõ và sử dụng các tiêu chí ban đầu để đánh giá thông tin và nguồn tin

 Tổng hợp các ý chính để xây dựng các khái niệm mới

 So sánh kiến thức mới với kiến thức ban đầu để xác định các giá trị mới, các mâu thuẫn và các đặc tính khác của thông tin

 Xác định xem kiến thức mới có ảnh hưởng đến hệ thống đánh giá cá nhân hay không và từng bước điều hòa sự khác biệt đó

 Xác nhận thông tin, giải nghĩa thông tin thông qua các cuộc thảo luậngiữa các cá nhân, chuyên gia chuyên ngành và/hoặc người có chuyên môn

 Xem xét, đánh giá và so sánh những gì tìm được với nhu cầu tin ban đầu

d Sử dụng thông tin một cách hiệu quả với tư cách là cá nhân hoặc thành viên của nhóm để hoàn thành mục đích nhất định.

 Sử dụng thông tin mới và thông tin ban đầu để xây dựng kế hoạch, tạo

ra những sản phẩm cụ thể hoặc để trình bày

 Xem xét lại quá trình phát triển của sản phẩm hoặc việc trình bày

 Truyền bá sản phẩm hoặc trình bày một cách hiệu quả cho người khác

e Hiểu biết về các vấn đề kinh tế, pháp lý và xã hội trong việc sử dụng nguồn thông tin và truy cập và sử dụng thông tin có đạo đức và hợp pháp

 Sinh viên hiểu được các vấn đề về đạo đức, pháp lý và kinh tế xã hội liên quan đến thông tin và công nghệ thông tin

 Sinh viên hiểu và tuân theo luật, các quy tắc, các chính sách và các quy trình trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn thông tin

17

Trang 21

 Sinh viên biết cách sử dụng nguồn thông tin trong việc trình bày và phổ

biến sản phẩm thông tin của mình

Theo Khung tiêu chuẩn KTTT của Úc và New Zealand thì người có KTTT phải đạt được 6 tiêu chuẩn chính sau:

a Khả năng nhận biết nhu cầu thông tin và mở rộng nhu cầu tin.

 Có khả năng xác định được nhu cầu tin: tham khảo nguồn thông tin cơbản để gia tăng sự hiểu biết vể chủ đề; xác định các từ khóa, thuật ngữ cốt lõi; xác địnhhoặc chỉnh sửa nhu cầu tin cho phù hợp; tham khảo ý kiến của người khác để xác địnhchủ đề nghiên cứu hoặc nhu cầu tin

 Hiều được mục đích, phạm vi và sự thích hợp của các nguồn tin khácnhau: hiểu được các tổ chức và phổ biến thông tin, nhận biết được chủ

đề trong lĩnh vực cụ thể; phân biệt và đánh giá được các nguồn tin tiềmnăng; hiểu được mục đích và đối tượng phục vụ của nguồn tin tiềmnăng; phân biệt được nguồn tin cấp 1 và cấp 2, nhận biết được tầmquan trọng và cách thức sử dụng trong từng lĩnh vực khác nhau

 Biết đánh giá lại bản chất và mức độ của nhu cầu tin: xem xét lại nhucầu tin ban đầu nhằm làm rõ hơn các câu hỏi; làm rõ và sử dụng các tiêu chí để đưa racác quyết định lựa chọn nguồn thông tin

 Sử dụng đa dạng các nguồn thông tin để ra các quyết định: hiểu đượcrằng nguồn thông tin khác nhau sẽ thể hiện các quan điểm khác nhau; sử dụng nhiềunguồn thông tin để hiểu rõ hơn vấn đề; sử dụng thông tin

để ra quyết định và giải quyết vấn đề

b Tìm kiếm thông tin theo nhu cầu một cách hiệu quả và chính xác.

 Lựa chọn phương pháp và công cụ thích hợp để tìm kiếm thông tin: xác

định phương pháp nghiên cứu thích hợp như thí nghiệm, giả định, môphỏng…;biết được lợi ích và khả năng áp dụng của từng phương pháp;hiểu được phạm vi, nội dung và cách tổ chức của công cụ truy cập;tham khảo nhân viên thư viện hoặc chuyên gia thông tin để xác địnhđược công cụ tìm kiếm

Trang 22

 Xây dựng và ứng dụng các chiến lược tìm tin hiệu quả: phát triển kếhoạch tìm tin thích hợp với phương pháp điều tra; xác định từ khóa, từ

đồng nghĩa và từ liên quan; sử dụng từ vựng có kiểm soát hoặc bảngphân loại cụ thể đối với từng lĩnh vực hoặc đối với từng công cụ truycập thông tin; xây dựng và áp dụng chiến lược tìm với các lệnh tìm phùhợp; thực hiện tìm kiếm sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợpvới từng lĩnh vực

 Tìm được thông tin bằng cách sử dụng phương pháp thích hợp: sửdụng các công cụ truy cập khác nhau để tìm kiếm thông tin ở các định dạng khác nhau;

sử dụng các dịch vụ phù hợp để có được thông tin như: chuyển phát tài liệu, thông quacác tổ chức chuyện nghiệp, văn phòng của các viện nghiên cứu,…; sử dụng bảng hỏi,thư, phỏng vấn và các phương pháp hỏi khác để có được nguồn thông tin

 Cập nhật các nguồn tin, công nghệ thông tin, công cụ truy cập thông tin vàcác phương pháp điều tra: luôn ý thức được sự thay đồi của công nghệ thông tin và côngnghệ truyền thông; sử dụng dịch vụ thông báo, tham gia các nhóm thảo luận, tạo thói quenđọc lướt các nguồn tin in và

điện tử

c Đánh giá nguồn thông tin tìm được và quy trình tìm kiếm thông tin.

 Đánh giá mức độ hữu ích và liên quan của thông tin có được: đánh giá

số lượng, chất lượng và mức độ liên quan của kết quả tìm để quyết định thay thế công

cụ tìm hoặc phương pháp tìm; xác định được các lỗ hổng thông tin theo đó xem xét lạichiến lược tìm tin; lập lại các bước tìm tin bằng chiến lược tìm tin mới

 Xác định các tiêu chí đánh giá thông tin: kiếm tra và so sánh các nguồnthông tin để đánh giá độ tin cậy, tính hiệu lực, tính chính xác, bản quyền, mức độ cậpnhật, quan điểm và tính thiên vị; phân tích cấu trúc và tính hợp lý của các phương pháp

hỗ trợ; nhận ra và đặt câu hỏi về các định kiến, ngụy tạo và các thao tác tác động đếnthông tin; nhận

19

Trang 23

biết ngữ cảnh văn hóa và vật lý trong việc tạo ra thông tin và hiểu đượctác động của ngữ cảnh trong việc diễn giải thông tin; nhận ra được sựthiên vị và ngữ cảnh của chính bản thân.

 Xem xét quá trình tìm tin và thay đổi chiến lược tìm nếu cần thiết: xemxét nhu cầu tin ban đầu đã được thỏa mãn hay chưa hoặc cần phải tìm thêm thông tin;xem xét lại chiến lược tìm; xem xét các công cụ tìm tin đã sử dụng để thêm vào công cụkhác nếu cần thiết; nhận biết rằng quá tình tìm tin luôn phát triển xoay vòng và có lậplại

d Quản lý thông tin thu thập được

 Lưu lại thông tin và nguồn thông tin: sắp xếp nội dung theo mục đích

nhất định như là: phác thảo, bản nháp hoặc theo kịch bản; phân biệtđược loại thông tin cần trích dẫn và các kiểu trích dẫn đối với từng loạithông tin; lưu trữ các thông tin trích dẫn liên quan để sử dụng sau này

và để truy vấn

 Tổ chức (sắp xếp, phân loại, lưu trữ) thông tin: định dạng tài liệu thamkhảo theo yêu cầu định dạng thư mục; tạo ra các hệ thống tổ chức và quản lý thông tinnhư Endnote, hồ sơ thẻ thông tin,…

e Biến thông tin tìm được thành tri thức và sáng tạo tri thức mới

 So sánh và kết hợp những hiểu biết mới với những tri thức có sẵn đểbiết thêm giá trị thông tin, những mâu thuẫn và các thuộc tính khác của thông tin: xemxét thông tin đã thỏa mãn mục đích nghiên cứu hoặc nhu cầu tin hay chưa và thông tin

có mâu thuẫn với các nguồn thông tin khác hay không; nhận biết được mối liên quangiữa các khái niệm và rút ra kết luận dựa vào các thông tin thu thập được; lựa chọnthông tin có thể hỗ trợ cho đề tài nghiên cứu và tóm tắt ý chính từ thông tin thu thậpđược; cần biết rằng thông tin và tri thức trong bất cứ lĩnh vực nào cũng có thể thay đổitrong quá trình nghiên cứu và trao đổi; mở rộng hướng nghiên cứu để có thể đưa ra giảthuyết mới

20

Trang 24

 Truyền tải tri thức và những hiểu biết mới một cách hiệu quả: lựa chọnphương tiện và hình thức truyền phủ hợp tải tới đối tượng xác định sao cho phục vụ tốtnhất mục đích của sản phẩm; sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp trongviệc tạo ra sản phẩm; kết hợp các nguyên lý thiết kế và truyền thông; truyền tải rõ ràng

 Nhận ra rằng thông tin được củng cố bởi giá trị và niềm tin: nhận biếtrằng có nhiều giá trị khác nhau làm nền tảng cho thông tin mới hay là thông tin đượcxây dựng dựa trên giá trị và niềm tin của một cá nhân; áp dụng suy luận để quyết địnhủng hộ hoặc không ủng hộ các quan điểm; duy trì các giá trị rõ ràng bằng tri thức vàkinh nghiệm của bản thân

 Tuân thủ các quy ước và quy trình liên quan đến việc truy cập và sửdụng thông tin: am hiểu đạo văn là gì và tôn trọng các công trình và ý tưởng của các tácgiả;

 Thu thập, lưu giữ và phổ biến văn bản, dữ liệu, hình ảnh hoặc âm thanhmột cách hợp pháp: hiểu một cách đúng đắn trong việc tôn trọng việc bổ sung và phổbiến tài liệu giáo dục và nghiên cứu; tôn trọng quyền truy cập của người dùng và khôngđược làm tổn hại đến nguồn thông tin; thu thập, lưu giữ và phổ biến văn bản, dữ liệuhoặc âm thanh một cách hợp pháp; hiểu biết về sở hữu trí tuệ, bản quyền và dùng đúngcác tài liệu có bản quyền

21

Trang 25

Theo tác giả Fe Angela Verzosa [38] trong bài thuyết trình KTTT và kiếnthức số: chủ động học tập suốt đời (Information literacy and Digital Literacy: LifeLong Learning initiatives) tại hội nghị Quốc gia mùa hè PAARL's (NationalSummer Conference) năm 2008 đã vẽ ra mô hình (hình 1.1) về mối quan hệ củaKTTT và các kỹ năng khác trong cuộc sống trong thế kỉ 21.

Hình 1.1: KTTT trong mối quan hệ với các kiến thức khác

Fe Angela Verzosa đã định nghĩa KTTT là sự kết hợp hài hòa giữa các kiếnthức về văn hóa, thị giác, truyền thông, mạng máy tính, máy tính, ngôn ngữ và kiếnthức về thư viện Trong thời đại ngày nay khi mà máy tính và công nghệ thông tinđược xem là vấn đề phổ thông thì các kiến thức và kỹ năng về âm thanh, hình ảnh

và kỹ năng số bị chồng chéo và đan xen lẫn nhau Người dùng am hiểu về sứcmạnh của hình ảnh và âm thanh đồng thời sử dụng sức mạnh đó để thực hiện cácthao tác biến đổi thành sản phẩm số và phân phối chúng thông qua các phương tiệntruyền thông số Định nghĩa này gần giống với định nghĩa về Kiến thức số (Digitalliteracy) trong những năm gần đây

Trang 26

Tiếp theo định nghĩa của ACRL, người được xem là có KTTT trong thế kỉ

21 là người sở hữu tập hợp các khả năng, cho phép các cá nhân có thể nhận biếtnhu cầu thông tin của bản thân, có thể xác định, đánh giá và sử dụng thông tin mộtcách hiệu quả và có thể sử dụng các phương tiện số nhằm thao tác, tạo ra thông tin

và phổ biến chúng thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại

Như vậy, nội dung của KTTT chính là các tiêu chuẩn/tiêu chí đánh giá đểmột cá nhân được xem là có KTTT Các tiêu chuẩn/tiêu chí này chính là thước đo

để đánh giá mức độ thành thục KTTT của một cá nhân và được nêu rõ ràng trongmột số khung KTTT nêu trên Đây cũng chính là tiêu chí để thiết kế các chươngtrình đào tạo, giảng dạy KTTT của các tố chức

Năm 2012, một nhóm các nhà nghiên cứu của ARCL được thành lập vớimục đích là cập nhật Tiêu chuẩn về năng lực KTTT trong giáo dục đại học(Information literacy competency standard for Higher Education) do sự thay đổi vềgiáo dục đại học và môi trường học tập trên thế giới, sự thay đổi dần từ KTTT sangkhả năng sử dụng thông tin một cách thành thạo (information fluency) (Hình 2) và

sự mở rộng định nghĩa về KTTT sang các lĩnh vực khác như: transliteracy (khảnăng đọc, viết và tương tác giữa một loạt các công cụ truyền thông, nền công nghệkhác nhau từ chữ viết tay, chữ in, TV, radio và phim ảnh đến mạng xã hội số, kiếnthức truyền thông (media literacy), kiến thức số (digital literacy), [43]

Khả năng sử dụng thông tin thành thạo

Hình 1.2: Định nghĩa về Sự thành thạo thông tin [30]

Trang 27

Gần đây nhất, ACRL đã chỉnh sửa lại Tiêu chuẩn về KTTT trong giáo dụcđại học và cho ra bản dự thảo vào ngày 17 tháng 6 năm 2014 có tên là

“Framework” Bản dự thảo năm 2014 hoàn toàn khác với phiên bản trước Trongkhi phiên bản cũ chú trọng vào các mục tiêu hành động cụ thể và yêu cầu người cóKTTT phải đạt được các mục tiêu đó, phiên bản mới trình bày các cụm khái niệmcốt lõi liên kết với nhau, với các lựa chọn linh hoạt hơn [27] Sáu khung (Frames)thay thế năm mục tiêu học tập KTTT trong phiên bản cũ Mỗi khung bao gồm một ýtưởng triết học (philosophical idea) rộng hơn được gọi là “khái niệm ngưỡng”(Threshold Concept): là các ý tưởng trong các lĩnh vực, là cánh cửa để mở rộng tầmhiểu biết hoặc cách suy nghĩ và cách thực hiện trong từng lĩnh vực đó

Nhìn chung, phiên bản dự thảo năm 2014 hứa hẹn những thay đổi mang tínhmềm dẻo so với tính cứng nhắc của phiên bản cũ Các tổ chức đào tạo và các thưviện có thể tham khảo thêm nhằm cập nhật kiến thức cho chương trình đào tạo củamình

Trương Đại Lượng (2015) cho rằng KTTT được cấu thành bởi các thành tố sau:

- Khả năng nhận dạng nhu cầu thông tin

- Khả năng tìm kiếm thông tin

- Khả năng đánh giá và khai thác thông tin

- Hiểu biết về các vấn đề đạo đức, kinh tế, pháp lý liên quan đế truy cập, sửdụng và chia sẻ thông tin

Như vậy có thể thấy kiến thức thông tin là một tập hợp các hiểu biết và kỹ

năng nhận dạng nhu cầu tin của mỗi cá nhân, khả năng tìm kiếm thông tin, đánh giá thông tin, sử dụng và chia sẻ thông tin một cách có trách nhiệm, phù hợp với đạo đức và pháp luật của mỗi quốc gia mà cá nhân đó đang sinh sống.

1.1.3 Khái niệm về đào tạo kiến thức thông tin

Đào tạo KTTT chính là việc truyền đạt và xây dựng các kiến thức và kỹ năngxác định nhu cầu tin, truy cập, đánh giá và sử dụng nguồn tin cho người được đào tạo

Về cơ bản, việc đào tạo kiến thức thông tin cho người dùng tin tại thư viện thực sự đãtồn tại từ rất lâu thông qua các buổi hướng dẫn sử dụng thư viện, các tài liệu

Trang 28

hướng dẫn tìm kiếm tài liệu trực tuyến (OPAC), các quy tắc trích dẫn tài liệu,…Đến khi vấn đề về đào tạo KTTT trở nên cấp bách, các tổ chức về thông tin - thưviện nghiên cứu sâu hơn và thành lập các tiêu chuẩn, khung chương trình đào tạokiến thức thông tin cho người dùng.

Dựa trên các khung/ tiêu chí được thiết lập, mỗi thư viện hay cơ sở giáo dục

tự thiết kế cho mình một chương trình đào tạo KTTT phù hợp nhưng vẫn đảm bảođược các tiêu chí của khung Một số quốc gia đã hình thành các khung tiêu chuẩn/chương trình đào tạo KTTT quốc gia, như các khung chương trình của Úc và NewZealand (Australian and New Zealand Information Literacy Framework), khungchương trình của xứ Wales (Information Literacy Framework for Wales), củaScotland (National Information Literacy Framework Scotland), hay của ALA - Hiệphội Thư viện Hoa Kì (Information Literacy Competency Standards for HigherEducation) Ngay cả - Hiệp hội Thư viện Quốc tế, IFLA cũng đưa ra hướng dẫnđào tạo KTTT cho học tập suốt đời (Guidelines on Information Literacy forLifelong Learning), [29]

Việc đào tạo KTTT có thể được xem như là đào tạo một môn học có thể ápdụng ở bất cứ cấp độ giáo dục nào xuyên suốt quá trình học tập và tồn tại của conngười

Có thể nói, đào tạo kiến thức thông tin là trách nhiệm không chỉ của riêngcác cơ quan TT-TV mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của nhà trường,của chính phủ các nước Cá nhân có KTTT không chỉ tìm thông tin cho việc họctập và nghiên cứu mà còn sử dụng KTTT để phục vụ cho cuộc sống của họ như tìmthông tin mua bán tốt nhất cho một sản phẩm gia đình, đánh giá mức độ tin cậy củanguồn hàng, tìm thông tin để ra các quyết định quan trọng…

Trong các trường đại học có đào tạo cán bộ thư viện, thông tin, việc đào tạoKTTT cho các cử nhân TVTT ngày càng cấp bách [5] vì đây chính là lực lượngchính trong việc đào tạo KTTT cho người dùng sau này khi họ tốt nghiệp ra trường

và công tác trong các thư viện Song việc thực hiện đào tạo KTTT tại các nướcđang phát triển không hề dễ dàng bởi do:

Trang 29

 Kết cấu hạ tầng thông tin luôn bất cập;

 Hạn hẹp về tài chính;

 Tốc độ đổi mới về KHCN, trong đó có CNTT là quá nhanh;

 Nhận thức và năng lực của bộ máy quản lý kém cỏi;

 Tính hiệu quả của môi trường hoạt động KT-XH hầu như không có

Như vậy phải đào tạo nội dung gì cho các tân cử nhân TV-TT - nguồn nhân

lực chính trong việc đào tạo KTTT sinh viên trong các trường đại học?, đây là một

câu hỏi mà các tổ chức đào tạo cần phải suy nghĩ và đưa ra các môn học, chương

trình học sao cho phù hợp với yêu cầu thực tế

Các cá nhân sống trong xã hội thông tin cần tích cực chủ động học tập và trau dồi

KTTT nhằm phục vụ cho mục tiêu học tập suốt đời (Hình 3)

suốt đời

Hình 1.3: Vai trò của KTTT trong việc học tập suốt đời

Đào tạo KTTT cho người dùng tin là sinh viên trong các trường đại học

chính là trang bị cho sinh viên có được các kỹ năng nhận dạng được nhu cầu tin,

biết cách sử dụng thư viện cũng như các công cụ tra cứu trên internet để tìm kiếm

thông tin phục vụ cho việc học tập, nâng cao kiến thức, rèn luyện nhân cách, biết

cách sử dụng thông tin cũng như chia sẻ thông tin phù hợp với các chuẩn mực đạo

đức và pháp lý

Nói cụ thể hơn, đào tạo kiến thức thông tin cho sinh viên bao gồm các nội dung:

- Đào tạo kỹ năng nhận dạng được nhu cầu thông tin của cá nhân

- Đào tạo khả năng sử dụng thư viện và các công cụ tra cứu trên mạng để

tìm kiếm thông tin phù hợp với nhu cầu tin

Trang 30

- Nâng cao hiểu biết cho sinh viên về trách nhiệm khai thác sử dụng thôngtin, chia sẻ thông tin phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật về sở hữu trí tuệ

- Từ những thông tin thu thập được, sinh viên có khả năng tạo ra thông tin mới và chuyển tải thông tin thông qua các phương tiện truyền thông

1.2 Khái quát về Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam và Thư viện

Nhà trường

1.2.1 Tổng quan về Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam

Đại học quốc tế RMIT Việt Nam là cơ sở chính tại Châu Á của đại họcRMIT Melbourne, Úc (hay còn được gọi là Học viện Công nghệ Hoàng giaMelbourne - Royal Melbourne Institutions of Technology) Đại học quốc tế RMITViệt Nam là đại học 100% vốn nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam và hiện tại cũng làđại học nước ngoài duy nhất hoạt động hoàn toàn độc lập tại Việt Nam

Năm 1998, ĐH RMIT, Úc được chính phủ Việt Nam mời hợp tác để xâydựng trường đại học tại Việt Nam Năm 2000, RMIT Việt Nam được Bộ Kế hoạch

và Đầu tư cấp giấy phép giảng dạy các chương trình đại học, sau đại học, đào tạo

và nghiên cứu tại Việt Nam RMIT Việt Nam bắt đầu tuyển sinh tại Tp Hồ ChíMinh vào năm 2001 và tại Hà Nội vào năm 2004 Năm 2005, trường khánh thành

và đưa vào sử dụng một cơ sở mới và hiện đại tại Tp Hồ Chí Minh và cơ sở nàyđang dần được tiếp tục xây dựng những tòa nhà chuyên môn như trung tâm thể dụcthể thao, ký túc xá,… nhằm đáp ứng mục tiêu của một trường đại học quốc tế

Tất cả các ngành đào tạo tại RMIT Việt Nam đều được Bộ Giáo dục và Đào tạoViệt Nam công nhận và văn bằng của sinh viên, học viên do đại học RMIT Úc cấp và

có giá trị quốc tế Điều này có nghĩa là sinh viên Việt Nam có thể lĩnh hội một nền giáodục mang đẳng cấp quốc tế mà không phải ra nước ngoài du học Không chỉ là trườngđại học trong mơ của sinh viên Việt Nam, RMIT Việt Nam còn là trường đại học hấpdẫn nhiều sinh viên quốc tế ở khắp nơi trên thế giới như Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc,Pháp, Đức, Nga, và nhiều nước khác Kể từ khi đi vào hoạt động cho đến nay, RMITViệt Nam đã trao nhiều xuất học bổng toàn phần cho

27

Trang 31

những học sinh ưu tú trên khắp đất nước Việt Nam nhằm góp phần tạo cơ hội họctập cho sinh viên ưu tú và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tại Việt Nam.Hoạt động giảng dạy và đào tạo của RMIT Việt Nam đảm bảo sinh viên khi ratrường được trang bị đầy đủ chuyên môn và kỹ năng cần thiết để đáp ứng nhu cầucủa nền kinh tế đang mở cửa và phát triển tại Việt Nam và trong khu vực Sinh viênRMIT Việt Nam đựơc đào tạo theo chuẩn quốc tế, thông thạo tiếng Anh và khảnăng làm việc hiệu quả trong môi trường thương mại toàn cầu Tổng số sinh viêntốt nghiệp tại hai cơ sở (Nam Sài Gòn và Hà Nội) đã vượt qua con số 6000 (sáungàn) tính đến tháng 12 năm 2013 Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam hiện tại đangđào tạo tất cả 12 ngành học [Phụ lục 1] và ngày càng mở thêm nhiều ngành mới đểthu hút số lượng sinh viên, tiếp tục khẳng định thương hiệu tại Việt Nam.

Ngoài ra, trường cũng tổ chức dạy tiếng Anh ở nhiều trình độ khác nhaunhằm giúp sinh viên thông thạo ngôn ngữ này để theo học tại trường và tiếng Anh

là ngôn ngữ chính trong giao tiếp và giảng dạy tại RMIT Việt Nam Tất cả môn họctại RMIT Việt Nam của từng ngành đều phải thông qua sự đồng ý của Hội đồngkhoa, bộ môn tại RMIT Úc Cấu trúc của chương trình tại RMIT Việt Nam không

có sự khác biệt so với chương trình của RMIT Úc

Tại Đại học RMIT Việt Nam, sinh viên được tạo điều kiện phát triển toàndiện nhất thông qua chương trình giáo dục thực tiễn cùng với các trang thiết bị hiệnđại kết hợp với các hoạt động thể dục thể thao đa dạng RMIT Việt Nam cũng tạođiều kiện cho sinh viên gặp gỡ trực tiếp với doanh nghiệp thông qua các buổi hộiđàm và thảo luận Hằng năm, nhà trừơng còn tổ chức các ngày hội việc làm giúpsinh viên có thể tìm đựơc việc làm thích hợp cũng như các doanh nghiệp lớn có thểtìm được các ứng viên xuất sắc

Việc thực tập tại doanh nghiệp ở các học kì cuối còn là dịp tốt để sinh viên thiếtlập các mối quan hệ và làm quen dần với môi trường làm việc thực tế Các sinh viêntốt nghiệp gần đây của RMIT Việt Nam đều tìm được những công việc lương cao tạicác công ty như: ANZ, HSBC, KPMG, TRG, Colgate-Palmomlive, TMA Solutions,Saatchi & Saatchi, Toyota,…Sinh viên RMIT Việt Nam tích lũy được

Trang 32

nhiều kỹ năng mềm trong quá trình học tập và sinh hoạt tại trường như suy nghĩđộc lập, giải quyết vấn đề, khả năng làm việc nhóm và làm việc hiệu quả trong môitrường đa ngôn ngữ và đa văn hóa.

Có thể nói, Đại học RMIT Việt Nam là trường đại học tại Việt Nam đi tiênphong trong việc xây dựng một môi trường giảng dạy sáng tạo và đổi mới, cam kếtmang đến cho sinh viên nền giáo dục chất lượng quốc tế tại Việt Nam Trường tựhào đóng góp cho sự phát triển chung của Việt Nam trong việc đào tạo ra những tânkhoa với trình độ, kỹ năng và bản lĩnh cần thiết để trở thành những nhà lãnh đạo,quản lý giỏi trong tương lai

1.2.2 Khái quát về Thư viện Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam

Khi đại học quốc tế RMIT Việt Nam đi vào hoạt động vào năm 2001, Thưviện có tên gọi đầu tiên là Trung tâm Học liệu (LRC: Learning Resource Center).Trung tâm được thành lập với mục đích phục vụ nhu cầu học tập, giảng dạy vànghiên cứu của giảng viên, sinh viên và nhân viên của trường Nhiệm vụ chủ yếucủa Trung tâm là cung cấp tài liệu in cho sinh viên, hướng dẫn sinh viên sử dụngtrung tâm học liệu cũng như hướng dẫn sinh viên sử dụng website của RMIT Úc để

sử dụng các cơ sở dữ liệu trực tuyến Trung tâm còn là nơi phân phát sách giáo trìnhcho sinh viên đại học, cao đẳng và tài liệu học ngoại ngữ cho sinh viên tiếng Anh

Năm 2005, Đại học quốc tế RMIT Việt Nam cở sở tại Tp Hồ Chí Minh chuyểnsang địa điểm mới tại khu đô thị Nam Sài Gòn Trung tâm Học liệu được tách ra vớimột mảng nhỏ dành riêng cho sinh viên học ngoại ngữ với nhiệm vụ chủ yếu là cungcấp tài liệu, băng hình cho sinh viên học ngoại ngữ và có tên là ELRC (EnglishLearning Resource Center) Riêng Thư viện chính của trường có tên mới là “Trungtâm Học tập Tích hợp” (ILC: Integrated Learning Center) Trung tâm Học tập Tích hợpthực hiện chức năng của một thư viện đại học và thường được gọi đơn giản là thưviện Trung tâm Học tập Tích hợp có không gian lớn hơn và mô hình cũng như chứcnăng bây giờ mới tương xứng với một thư viện của một trường đại học (không chỉphục vụ nhu cầu học ngoại ngữ) và nhân viên thư viện có điều kiện tập trung phát triểnsản phẩm và dịch vụ thư viện nhiều hơn Thời điểm này, Trung tâm Học tập Tích hợpvẫn đảm nhận việc phát sách giáo trình cho sinh viên vào đầu

Trang 33

học kì và thu sách vào cuối học kì Tuy nhiên, Trung tâm Học tập Tích hợp cũng đã

có thêm các lớp hướng dẫn sử dụng cho sinh viên và giảng viên mới, những chuyếntham quan thư viện dành cho học sinh các trừơng trung học, hướng dẫn sử dụng cơ

sở dữ liệu trực tuyến nhưng chủ yếu là hướng dẫn theo từng cá nhân Việc xử lý tàiliệu và hoạt động mượn trả tài liệu được xử lý trên một phần mềm đóng gói đơngiản Readerware

Đến giữa năm 2008, Trung tâm Học tập Tích hợp chuyển sang sử dụng phầnmềm quản trị thư viện tích hợp có tên là Spydus (cho đến nay) và trang bị mã vạchcho toàn bộ kho sách giúp cho việc quản lý và lưu hành tài liệu dễ dàng hơn đồngthời cải thiện khả năng phục vụ của thư viện.Với những môđun mới như quản lýngười dùng, tra cứu mục lục trực tuyến, gia hạn tài liệu,… đã thay đổi phần nàodiện mạo của thư viện Việc mượn trả tài liệu liên thư viện giữa 2 cơ sở Nam SàiGòn và Hà Nội cũng bắt đầu đưa vào hoạt động

Năm 2009, Trung tâm Học tập Tích hợp đổi tên thành Thư viện Beanlandtheo tên của Giáo sư David Beanland, người đặt nền móng đầu tiên cho sự thànhlập trường đại học RMIT Việt Nam Trong thời gian này, dịch vụ cung cấp sáchgiáo trình cho sinh viên được tách ra thành một bộ phận độc lập và trực thuộc cáckhoa và bộ môn Điều này giúp cho Thư viện tập trung hơn nữa vào các hoạt động

và dịch vụ của riêng Thư viện

Nguồn tài nguyên thông tin

Do sự gia tăng nhanh chóng về số lượng sinh viên và số lượng các chươngtrình đào tạo, số lượng tài liệu cũng phải được gia tăng, do đó một khoản ngân quỹ 3triệu đô la Mỹ dành cho Thư viện được ban giám đốc RMIT Úc thông qua và đượcchia đều cho 3 năm 2009, 2010, 2011 nhằm bổ sung tài liệu cho Thư viện Với sốlượng từ vài trăm bản sách từ những năn 2001, đến năm 2008 số lượng tài liệu trongThư viện đã có hơn mười ngàn bản Cuối năm 2009, số lượng tài liệu trong Thư việntăng hơn gấp đôi với hơn hai mươi bốn ngàn bản sách, cuối năm 2010 lên đến bốnmươi ngàn bản sách và đến cuối năm 2011 số lượng sách tại Thư viện là hơn nămmươi ngàn cùng với hơn 2 ngàn tài liệu nghe nhìn bao gồm DVD và CD

Trang 34

Hình 1.4: Biểu đồ sự gia tăng số lượng tài liệu qua các năm

Với mục đích làm phong phú thêm nguồn tài nguyên cho sinh viên cũng nhưgóp phần vào việc đảm bảo chất lượng giáo dục cho sinh viên, Thư viện cũng nhưtoàn bộ giảng viên được khuyến khích lựa chọn những tài liệu có giá trị cho việchọc tập của sinh viên để bổ sung vào bộ sưu tập in của thư viện Bên cạnh đó, sinhviên cũng được khuyến khích và hướng dẫn sử dụng khai thác cơ sử dữ liệu trựctuyến được chia sẻ bới trường đại học RMIT tại Melbourne với hơn 400 cơ sở dữliệu trực tuyến nổi tiếng thế giới như Proquest, EBSCO, Emerald, Wiley, IEEE,….Song song với việc phát triển tài liệu in, thư viện đại học RMIT Việt Nam cũng tiếnhành đặt mua một cơ sở dữ liệu trực tuyến phục vụ cho tất cả sinh viên và giảngviên tại trường

Dịch vụ thư viện được tăng cường và mở rộng bằng việc hợp tác với cácgiảng viên trưởng bộ môn nhằm thiết kế các lớp hướng dẫn sao cho phù hợp vớiyêu cầu và nhu cầu của sinh viên theo từng nhóm chuyên biệt Ngoài ra các lớphướng dẫn sử dụng thư viện cũng được tổ chức thường xuyên hơn và đựơc thôngbáo đến người dùng đều đặn hằng tuần thông qua kênh truyền thông nội bộ củatrường (Intranet)

Trang 35

Nguồn nhân lực

Với con số ban đầu là 08 nhân viên vào năm 2008 bao gồm cả quản lý thư viện

và hai nhân viên bán thời gian phục vụ cuối tuần và từ 5 giờ chiều đến 9 giờ tối, đếnnăm 2009 số lượng nhân viên tăng lên mười một người; đến năm 2010 là mười bốn

và 16 người vào năm 2011 Năm 2011, khi dự án biến thư viện thành một “Khônggian học tập mở” (Learning Commons) được hoàn thành, Thư viện được mở rộngthêm không gian (hai tầng lầu) và yêu cầu tăng số lượng cán bộ thư viện là điều khôngthể tránh khỏi khi yêu cầu thực tế cần thư viện mở rộng các dịch vụ

Hình 1.5: Biểu đồ số lượng nhân viên thư viện qua các năm

Bên cạnh việc gia tăng về số lượng nhân viên thì chất lượng cũng như việcphát triển chuyên môn cho nhân viên thư viện cũng được chú ý và đầu tư một cáchnghiêm túc Dự án “Trang bị kiến thức cho nhân viên thư viện để hỗ trợ học tập tốthơn” (Equipping Librarians for better learning supports) được thông qua đầu năm

2010 đánh dấu một loạt những dự án khác sau đó nhằm nâng cao chuyên môn và bổsung kỹ năng cho đội ngũ nhân viên thư viện Dự án được triểnkhai bằng việc kếthợp giữa Thư viện Đại học RMIT Việt Nam và Thư viện Đại học RMITMelbourne Nhân viên Thư viện Đại học RMIT Việt Nam đã sang và tham gia tập

Trang 36

huấn tại các thư viện RMIT Melbourne Việc học tập chủ yếu tập trung vào cáckhía cạnh như các dịch vụ thư viện, dịch vụ tham khảo, năng lực thông tin, quản lýthư viện Quá trình học tập và tập huấn được thiết kế theo từng chủ đề cụ thể sau:

 Cải thiện dịch vụ thư viện

 Dịch vụ khách hàng tại thư viện

 Quy trình trong dịch vụ tham khảo

 Xây dựng mối quan hệ giữa thư viện và giảng viên

 Kỹ năng thuyết trình và chuẩn bị bài giảng

 Xây dựng các lớp hướng dẫn kiến thức thông tin cho người dùng

 Xây dựng các chương trình hướng dẫn sử dụng thư viện trực tuyến

 Thiết lập các mối quan hệ bạn bè giữa Việt Nam và Melbourne trong việctrao đổi công việc và chia sẽ kinh nghiệm

Bên cạnh việc tham quan học tập tại Thư viện RMIT Melbourne, lần lượtcác chuyên viên thư viện có kinh nghiệm và làm ở các vị trí quản lý tại các Thưviện Đại học RMIT Melbourne cũng sang thăm và tổ chức các buổi tập huấn chotoàn bộ nhân viên Thư viện RMIT Việt Nam Những điểm mạnh, điểm yếu và biệnpháp khắc phục đã được các chuyên viên Thư viện RMIT Melbourne nhận xét chotừng cá nhân Các lớp học được thiết kế dựa trên mong muốn và nhu cầu của nhânviên thư viện RMIT Việt Nam cụ thể như:

 Những tiêu chuẩn trong quá trình trao đổi, tiếp xúc với bạn đọc

 Cách xử lý tình huống và người dùng khó tính

 Kỹ năng thuyết trình, nói trước đám đông

 Các bước cần thiết để chuẩn bị bài giảng

 Các hoạt động quảng bá, quảng cáo cho các lớp hướng dẫn thư viện

 Giá trị của đội nhóm và liên quan đến dịch vụ khách hàng

Thông qua những buổi học, những kinh nghiệm thực tế cũng như những góp

ý từ các chuyên viên Thư viện RMIT Melbourne đã giúp cho nhân viên Thư việnRMIT Việt Nam từng bước khắc phục được các nhược điểm, cải thiện chất lượng dịch

vụ cũng như ngày càng nâng cao và đa dạng hóa các dịch vụ, hoạt động của thư viện

33

Trang 37

Kể từ năm 2011 đến nay, Thư viện chính thức đổi tên thành Thư việnBeanland và Không gian học tập mở (Beanland Library and Learning Commons).Đây cũng là khái niệm và là mô hình Không gian học tập mở đầu tiên tại Việt Nam.Không gian học tập mở cung cấp chỗ ngồi cho hơn 300 người dùng cùng một thờiđiểm với bàn và ghế sofa tại các khu vực học tập nhóm, khu vực học tập yên tĩnh vàphòng thảo luận nhóm Bàn ghế được thiết kế nhằm tạo cảm giác thoải mái nhấtcho sinh viên cũng như có thể di chuyển một cách linh động tùy thuộc vào nhu cầucủa người dùng Tất cả các trang thiết bị, cơ sở vật chất được trang bị hoàn toànmới tạo nên một hình ảnh khác về Thư viện - Không gian học tập mở [Phụ lục 2]

Cơ sở vật chất của Không gian học tập mở bao gồm:

 Khu vực làm việc của nhân viên (được thiết kế tại 2 tầng lầu)

 Màn hình LCD TV được thiết kế trước cửa ra vào của thư viện là nơi bạn

đọc cập nhật thông tin về thư viện (các chính sách, thông báo, sự kiện,…)

Trang 38

 Màn chiếu, máy tính, bảng viết được trang bị đầy đủ trong phòng hướng dẫn, hội thảo.

 Bên cạnh đó, sàn nhà cũng được lót thảm toàn bộ Chính điều này giúpthư viện giảm tải vào mùa cao điểm khi mà toàn bộ bàn ghế được sử dụng Sinh viên cóthể ngồi trên thảm để đọc tài liệu

Có thể nói Thư viện như là nơi mà sinh viên có thể tìm thấy hầu hết các dịch vụcủa trường Bên trong Không gian học tập mở còn có thêm một bộ phận Hỗ trợ kĩ nănghọc tập (Learning Skills Unit) trang bị cho sinh viên những kĩ năng học trong môitrường đại học như kĩ năng viết bài luận, suy luận phản biện, viết báo cáo, kĩ năng bản

đồ tư duy (mind map),…Bên cạnh đó, Thư viện còn có quầy hỗ trợ IT (Công nghệthông tin) khi bạn đọc gặp vấn đề về in ấn hoặc truy cập mạng wifi

Cơ cấu tổ chức của Thư viện

Thư viện được chia làm ba bộ phận chính bao gồm: “Tài nguyên thông tin”,

“Dịch vụ thông tin” và “Dịch vụ sách giáo trình” với những chức năng và nhiệm vụriêng Bên cạnh đó, Thư viện còn tổ chức các hoạt động nhằm quảng bá hình ảnhcủa thư viện đến đông đảo người dùng tại Đại học RMIT Việt Nam và giữ liên lạcđến Thư viện RMIT Melbourne

Bộ phận Tài nguyên thông tin

Bộ phận Tài nguyên thông tin chịu trách nhiệm cho việc quản lý, cung cấp

và bổ sung các nguồn tài nguyên thông tin dưới nhiều định dạng nhằm mục đíchphục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu tại trường Bộ phận này cũngđược chuyên môn hóa thành các nhóm nhỏ: nhóm quản lý phần mềm quản lý thưviện; nhóm biên mục và xử lý tài liệu; nhóm phụ trách các hoạt động bổ sung, quản

lý giấy tờ

Bộ phận Sách giáo trình

Bộ phận này phục trách việc quản lý và cung cấp giáo trình cho sinh viên,giảng viên của toàn trường Bộ phận này bao gồm 3 chức năng chính: Bổ sung giáotrình mới và thanh lý giáo trình cũ; Xử lý sách giáo trình: cập nhật hệ thống, kiểm

kê và đóng dấu, dán nhãn cũng như chịu trách nhiệm xử lý sách bị hư hại; Chomượn và thu hồi sách giáo trình vào đầu và cuối học kì

Trang 39

Bộ phận Dịch vụ Thông tin

Bộ phận Dịch vụ thông tin chịu trách nhiệm cung cấp tất cả các dịch vụ thưviện hiện có cho sinh viên, nhân viên và giảng viên của toàn trường dựa trên nguồntài nguyên thông tin hiện có và những cơ sở dữ liệu dùng chung với đại học RMIT

Úc cũng như các dịch vụ Với cách nhìn về thư viện - như là một bộ phận trongkhông gian học tập mở - lấy người dùng làm trung tâm (user-centered) và lý do tồntại của những dịch vụ trong thư viện, bộ phận Dịch vụ thông tin ngày càng nângcao chất lượng và phát triển thêm nhiều dịch vụ mới nhằm đem đến cho ngườidùng những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất góp phần trực tiếp vào công tác giảng dạycũng như nâng cao kết quả học tập của sinh viên Bộ phận Dịch vụ thông tin cungcấp các dịch vụ sau:

Hỏi nhân viên thư viện (Ask A Libraian)

Người sử dụng thư viện có thể đặt ra tất cả câu hỏi liên quan đến hoạt độngcũng như những dịch vụ của thư viện cho nhân viên thư viện Bên cạnh việc đưa

ra câu hỏi trực tiếp tại quầy tham khảo, quầy lưu hành, người dùng còn có thể gọiđiện thoại, gửi thư điện tử hoặc chat với nhân viên thư viện để nhận được câu trảlời sớm nhất Tất cả nhân viên và sinh viên của trường đều sử dụng các tiện ích củaGoogle bao gồm Gmail, Google doc, Google Calendar,… do đó việc trao đổi thư

từ, chia sẻ tài liệu cho người dùng trong một hệ thống rất thuận tiện và nhanhchóng Các câu hỏi được gửi đến hộp thư chung của toàn thư viện (toàn bộ nhânviên thư viện có thể truy cập và đọc thư) và sẽ được trả lời tùy theo nội dung câuhỏi và chuyên môn của từng cán bộ trong vòng 12h - 24h Thông qua hộp thư này,người dùng con gửi đến các yêu cầu tìm kiếm nguyên văn tài liệu và sẽ được nhânviên thư viện trả lời bằng các tệp đính kèm

Đối tượng phục vụ chính của dịch vụ này chính là sinh viên, nhân viên họcviên cao học và giảng viên của trường Thời gian gần đây, Thư viện mở rộng chínhsách phục vụ đối với các cựu sinh viên của trường

Trang 40

Bảng 1.1: Chính sách mượn trả tài liệu

Cao đẳng, Anh văn)

Ngoài ra, người dùng còn có thể mượn tài liệu trong bộ sưu tập Tài liệu thamkhảo, Báo- tap chí và Tài liệu nghe - nhìn trong thời gian ngắn Nhân viên Thư việnquản lý việc mượn trả các loại hình tài liệu này bằng các phiếu yêu cầu mượn

Đại học RMIT Việt Nam có 2 cơ sở tại Hà Nội và Nam Sài Gòn và thư việntại 2 cơ sở này đều dùng chung phần mềm cũng như nguồn tài nguyên thông tin.Tài liệu tại 2 cơ sở khác nhau về nội dung và số lượng đo đặc thù ngành đào tạo và

số lượng người dùng khác nhau Tuy nhiên, người dùng tại 2 cơ sở đều có khảnăng mượn và sử dụng tài liệu tại 2 cơ cở mà không tốn bất cứ chi phí nào Nhânviên Thư viện sẽ tiếp nhận yêu cầu mượn liên thư viện và sẽ chuyển tài liệu bằngđường hàng không tới cơ sở yêu cầu Khi hoàn thành việc lưu hành, nhân viên thưviện tự động gửi trả tài liệu lại cơ sở lưu trữ tài liệu

Ngoài ra, toàn bộ người dùng tại trường RMIT có thể sử dụng dịch vụChuyển phát tài liệu tại RMIT Úc Đây là dịch vụ mượn trả tài liệu, yêu cầu tìmkiếm tài liệu mang tính chất toàn cầu Người dùng có thể yêu cầu một quyển sáchtại Thư viện RMIT Úc đến bất cứ chi nhánh nào của trường RMIT hoặc yêu cầutìm kiếm tài liệu mà thư viện trường không có hoặc yêu cầu số hóa tài liệu và gửicho người dùng khi tài liệu không có bản điện tử Đây là dịch vụ vô cùng tiện lợicho người dùng đặc biệt là những nhà nghiên cứu khi mà nguồn tài liệu nghiên cứurất sâu và rộng

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w