1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của việt nam với liên minh châu âu (EU) từ năm 2000 đến năm 2014

143 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 227,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết “Định hướng của Đảng về Ngoại giao Văn ho trong tình hình mới” trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Ngoại giao Văn hóa vì một bản sắc Việt Nam tr n trư ng quốc tế, phục vụ hòa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGÔ MINH THẢO

ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGÔ MINH THẢO

ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2014

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Thịnh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Văn Thịnh

Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 201

Tác giả

Ngô Minh Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tớithầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Lê Văn Thịnh – trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy đã tận tình chỉ bảo, địnhhướng cho tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ từ các thầy cô trong trường Đại học khoahọc Xã hội và Nhân văn, các thầy cô trong khoa Lịch sử, trong bộ môn Lịch

sử Đảng Cộng sản Việt Nam - những người thầy đã dạy dỗ, chỉ bảo tôi trongsuốt quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn

bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành khóa học

Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực song luận văn không tránh khỏi những saisót Tôi rất mong nhận được ý kiến cuả quý thầy cô và các bạn Xin chânthành cám ơn

Tác giả luận văn

Ngô Minh Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 9

4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10

5.Phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu 11

6.Đóng góp của luận văn 11

7.Bố cục 12

Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 13

1.1 Khái quát chung về ngoại giao văn hóa 13

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 13

1.1.2 Vai trò của ngoại giao văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa 17

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm 2000 đến 2005 19

1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng 19

1.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 23

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014 32

2.1 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm 2006 đến năm 2010 32

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng 32

2.1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 36

Trang 6

2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm

2011 đến năm 2014 43

2.2.1 Những điều kiện mới và chủ trương của Đảng 43

2.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 47

Tiểu kết chương 2 59

Chương 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 61

3.1 Một vài nhận xét 61

3.1.1 Ưu điểm 61

3.1.2 Hạn chế 67

3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 72

3.2.1 N ng cao nh n th c cho c n bộ, nhân dân; tăng cư ng sự nh đạo của Đảng quản lý của Nh nước về hoạt động ngoại giao văn hóa 72

3.2.2 Kết hợp, lồng ghép ngoại giao văn hóa với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế 74

3.2.3 Coi trọng c c hoạt động th ng tin tu n tru ền v quảng bá hình ảnh Việt Nam 76

3.2.4 hai th c hiệu quả tiềm năng của cộng đồng ngư i Việt Nam ở nước ngoài trong hoạt động ngoại giao văn hóa 77

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 100

Trang 7

DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa vẫn luôn được coi là một trong những lĩnh vực quan trọng của xãhội bên cạnh kinh tế, chính trị Đặc biệt, trong thời đại hiện nay, khi hội nhập,toàn cầu hóa diễn ra sôi nổi, văn hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn ởmỗi quốc gia, dần trở thành động lực và mục tiêu của phát triển kinh tế, chínhtrị, xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm khẳng định vai trò của văn hóa

“vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy

sự phát triển của kinh tế xã hội”.

Ngoại giao văn hóa đã được một số nước tiến hành từ lâu đời, coi đó làmột dạng “sức mạnh mềm”, “quyền lực mềm” (soft power), có vai trò quantrọng trong việc nâng cao vị thế quốc tế và sức mạnh ngoại giao của nướcmình trên trường quốc tế Từ cuối thế kỷ XX đến nay, cùng với sự biến đổicủa tình hình thế giới, ngày càng có nhiều quốc gia quan tâm và công nhận vịtrí của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giao hiện đại

Ở Việt Nam, khái niệm ngoại giao văn hóa xuất hiện muộn nhưng sớmđược Đảng và Nhà nước Việt Nam coi trọng Ngoại giao văn hóa đã được BộNgoại giao xác định là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam bêncạnh ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế (2006) Năm 2009 được xácđịnh là Năm ngoại giao văn hóa Năm 2011, Thủ tướng chính phủ ký quyết

định phê duyệt Chiến ược ngoại giao văn hóa đến năm 2020 đề ra các biện

pháp cụ thể triển khai hoạt động ngoại giao văn hóa Sự coi trọng đó cho thấy

sự đổi mới về tư duy ngoại giao, đồng thời thể hiện quan điểm của Đảng vàNhà nước Việt Nam về phát triển xã hội: gắn kết chặt chẽ và đồng bộ chính trịvới kinh tế và văn hóa trong từng bước của quá trình phát triển đất nước.Ngoại giao văn hóa đã dần xác lập vị trí và vai trò to lớn trong nền ngoại giaoViệt Nam

Trang 9

Trong bối cảnh thế giới phẳng hiện nay, khi thế giới ngày càng trởthành một thực thể gắn kết chặt chẽ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, sự phụthuộc giữa các quốc gia càng tăng lên; Việt Nam đã chủ trương thực hiệnchính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đốingoại Việt Nam tuyên bố sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trong cộng đồngquốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.

Liên minh châu Âu (EU) không phải là một đối tác ngoại giao truyềnthống của Việt Nam Nếu như trước đây trong thế trận đối đầu giữa Đông vàTây dẫn tới sự loại trừ lẫn nhau; ngày nay thế giới đang đi vào đối thoại cùngtồn tại, phát triển hoà bình, bền vững, biên giới Đông – Tây ngày càng sát lại

EU là một tổ chức khu vực có sự liên kết chặt chẽ, tiềm năng lớn vềkinh tế Tuy quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với nhiều nước thành viên EU

đã được tiến hành từ lâu, đến năm 1990, hai bên mới chính thức xác lập quan

hệ Mối quan hệ Việt Nam – EU đã và đang phát triển nhanh chóng Đến nay,các nước EU được coi là đối tác quan trọng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực:chính trị, kinh tế

Vì nhiều lý do, từ khi bắt đầu xác lập quan hệ ngoại giao, văn hoákhông phải là lĩnh vực được ưu tiên trong quan hệ Việt Nam – EU Tuy nhiêntrong thời gian gần đây hai bên bắt đầu có những hoạt động giao lưu, trao đổivăn hóa với mật độ ngày càng dày đặc Năm 2005, Việt Nam đã thông qua đề

án tổng thể Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu, tiếp đó là Chương trìnhhành động đến 2010 và định hướng tới 2015 với mục tiêu đưa quan hệ Việt

Nam - EU trở thành "Quan hệ đối tác toàn diện và bền vững, trên tinh thần ổn

định lâu dài và tin c y lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong các th p kỷ tới của thế kỷ 21" Trong bối cảnh hai bên đang tích cực tiến

hành phát triển mối quan hệ đa dạng, toàn diện, ngoại giao văn hóa sẽ ngàycàng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với EU

Trang 10

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2000 đến năm 2014” làm đề tài luận văn chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt

Nam của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khái niệm ngoại giao văn hóa đã sớm xuất hiện trên thế giới, hoạt

động ngoại giao văn hóa đã được tiến hành ở nhiều nước từ lâu Tuy nhiên,gần đây khái niệm này mới được nhắc đến nhiều ở Việt Nam, những côngtrình nghiên cứu về nó còn ít Trong quá trình khảo sát tư liệu, tác giả nhậnthấy các công trình nghiên cứu này có thể chia thành ba nhóm như sau:

Nhóm 1: Những công trình nghiên cứu về văn hóa, ngoại giao văn hóa, giao lưu văn hóa nói chung

Trong cuốn “T c động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển của văn

hóa v con ngư i Việt Nam” của GS.TS Dương Phú Hiệp đã tập hợp các bài

phân tích, luận chứng của các nhà nghiên cứu, học giả về các vấn đề đối ngoại

và ngoại giao văn hóa, văn hóa đối ngoại như GS.TS Hồ Sĩ Quý, GS.TSDương Phú Hiệp, GS.TS Ngô Đức Thịnh, TS Hoàng Khắc Nam… Xoayquanh chủ đề hội nhập văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, các tác giả đã đưa

ra những lý thuyết bàn về phát triển văn hóa và con người trong bối cảnh toàncầu hóa

Cuốn “Một số vấn đề về quản ý Nh nước kinh tế văn hóa gi o dục trên

thế giới và Việt Nam” của tác giả Lê Thanh Bình do nhà xuất bản Chính trị

quốc gia phát hành vào năm 2010 đã đưa ra những vấn đề khái niệm về ngoạigiao văn hóa và khẳng định tính tất yếu của giao lưu văn hóa quốc tế

trong thời đại ngày nay

Bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Sơn “Giao ưu văn hóa v sự xích lại

gần nhau giữa các nền văn hóa Đ ng – Tây trong th i đại ng na ” trên Tạp chí

Nghiên cứu lý luận năm 2008 đã phân tích tầm quan trọng của việc giao lưuvăn hóa đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện đại

Trang 11

Trong cuốn “Ngoại giao và Công tác Ngoại giao” của Vũ Dương Huân

do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2009 đã trình bày những nộidung có liên quan đến ngoại giao và công tác ngoại giao như: các khái niệmngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, thư tín ngoại giao, tiếp xúc ngoạigiao, ngoại giao kinh tế, đàm phán ngoại giao, văn kiện ngoại giao, lễ tânngoại giao, trong đó dành một chương nói về ngoại giao văn hóa

Tác giả Vũ Dương Huân trong bài viết “V i su nghĩ về ngoại giao văn

hóa” trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 4 năm 2007 đề cập đến nội hàm khái

niệm ngoại giao văn hóa trên thế giới cũng như ở Việt Nam

Trong “Ngoại giao văn hóa: bắt đầu từ khái niệm” của tác giả Hoàng

Vinh Thành trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm 2009 có bàn về kháiniệm ngoại giao văn hóa và các khái niệm liên quan khác như: văn hóa ngoạigiao, văn hóa đối ngoại

Trong bài: “Ngoại giao Việt Nam hiện đại trong th i kỳ hội nh p” của

Phạm Gia Khiêm trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm 2009 đã phântích nội hàm của khái niệm ngoại giao văn hóa và vị trí của ngoại giao vănhóa trong nền ngoại giao hiện đại Việt Nam

Tác giả Phạm Thái Việt trong bài “Quan hệ công chúng và ngoại giao

văn hóa” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 3 năm 2009 đã bàn về mối quan

hệ giữa quan hệ công chúng và ngoại giao văn hóa

Trong bài viết “Ngoại giao văn hóa và truyền thống văn hóa đối ngoại

trong bối cảnh hội nh p quốc tế” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm

2009, tác giả Đặng Thị Thu Hương đã nghiên cứu về ngoại giao văn hóa vàmối quan hệ của nó với hoạt động thông tin đối ngoại

Tác giả Lê Thanh Bình trong bài “Xu hướng văn hóa – truyền thông

thế giới t c động đ n b o chí ngoại giao văn hóa quốc tế đương đại và khuyến nghị cho Việt Nam” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2 năm 2009

Trang 12

đã trình bày về ngoại giao văn hóa như một trong những xu hướng văn hóa –truyền thông thế giới và đưa ra những khuyến nghị cho ngoại giao văn hóaViệt Nam.

Bài viết “Yếu tố văn hóa trong quan hệ quốc tế hiện đại của Dương

Quốc Thanh” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm 2009 đã phân tích

một số trường hợp yếu tố văn hóa đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc

tế, từ đó đề xuất một số gợi ý cho ngoại giao văn hóa Việt Nam trong bốicảnh hiện đại

Nhìn chung trong nhóm một, mỗi công trình nghiên cứu đều đề cập đếnmột số khía cạnh khác nhau của văn hóa, giao lưu văn hóa, ngoại giao văn hóanhư: khái niệm, nội hàm của ngoại giao văn hóa và các khái niệm liên quan,quy luật phát triển của văn hóa, tính tất yếu của ngoại giao văn hóa trong thờiđiểm hiện tại

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về đường lối văn hóa, đường lốingoại giao văn hóa của Đảng nói chung

Trong cuốn “Gi o trình Lý u n văn hóa v đư ng lối văn hóa của Đảng”

do Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn năm 2000 đã trình bày

lý luận về văn hóa, khẳng định giao lưu văn hóa là một quy luật phát triển củavăn hóa

Trong bài viết “Định hướng của Đảng về Ngoại giao Văn ho trong tình

hình mới” trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Ngoại giao Văn hóa vì một bản sắc Việt Nam tr n trư ng quốc tế, phục vụ hòa bình, hội nh p và phát triển bền vững tác giả Nguyễn Bắc Sơn đã trình bày về định hướng văn hoá, chính sách

giao lưu văn hoá của Đảng đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng,một số nội dung cần được quan tâm trong thực hiện ngoại giao văn hoá

Trong bài “Quan điểm về Ngoại giao Văn hóa” trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Ngoại giao Văn hóa vì một bản sắc Việt Nam tr n trư ng quốc tế,

Trang 13

phục vụ hòa bình, hội nh p và phát triển bền vững, tác giả Vũ Khoan đã trình

bày một số quan điểm về chủ trương, chính sách Ngoại giao Văn hóa củaĐảng và Nhà nước Việt Nam và những bài học cần thiết để làm tốt hoạt độngNgoại giao Văn hóa trong giai đoạn hiện nay

Trong bài viết “Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành nhằm hu động các

nguồn lực triển khai hoạt động ngoại giao văn hóa” in trong Kỷ yếu Hội thảo

Quốc gia: Ngoại giao Văn hóa vì một bản sắc Việt Nam tr n trư ng quốc tế,

phục vụ hòa bình, hội nh p và phát triển bền vững; tác giả Nguyễn Văn Tình

đã đề cập đến mục tiêu và những loại hình chính của ngoại giao văn hóa cũngnhư một số cơ chế phối hợp hiệu quả nhằm huy động mọi nguồn lực cho cáchoạt động ngoại giao văn hóa

Bài viết “Quan điểm của Đảng v Nh nước ta về mở rộng giao ưu văn

hóa trong th i kỳ đổi mới” của tác giả Nguyễn Danh Tiên in trên Tạp chí Lịch

sử Đảng số 12 năm 2005 trình bày một số quan điểm của Đảng, Nhà nước vềvấn đề văn hóa, giao lưu văn hóa trong thời kỳ đổi mới

Trong những bài viết của Bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm như

“Đẩy mạnh công tác ngoại giao văn hóa nhằm góp phần thực hiện thắng lợi

đư ng lối đối ngoại của Đảng”, (Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 62, 5/2009);

“Ngoại giao Việt Nam năm 2008: bước tiến mới v phương hướng năm 2009”, (Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 37); “ Tiếp tục triển khai thành công đư ng

lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần th 10”,(Tạp chí Lịch sử Đảng, số

1 (28), 1/2009) có đề cập đến tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa nóichung trong hoạt động ngoại giao và những phương hướng để tiến hành côngtác ngoại giao văn hóa hiện nay

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế: “Ngoại giao văn hóa

Việt Nam trong th i kỳ đổi mới” của tác giả Đỗ Lan Phương (bảo vệ năm

2009) trình bày một số cơ sở hoạch định chính sách, đường lối chính sách,

Trang 14

thực tiễn triển khai công tác ngoại giao văn hóa từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mớiđến năm 2009, vai trò của Bộ Ngoại giao trong việc thực hiện hoạt động ngoạigiao văn hóa.

Trong luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Trần Thị Thúy Hà “Hoạt động

ngoại giao văn hóa của Đảng v Nh nước Việt Nam 1986-2009” (bảo vệ năm

2009) đã trình bày sâu về khái niệm ngoại giao văn hóa và các hoạt độngngoại giao văn hóa của Việt Nam trong giai đoạn từ 1986 đến 2009

Trong luận văn thạc sĩ “Chủ trương của Đảng v Nh nước Việt Nam về

ngoại giao văn hóa từ năm 1986 đến năm 2011” của tác giả Lê Thị Duyên

(bảo vệ năm 2013) đã trình bày khái quát về văn hóa và ngoại giao văn hóa;chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về ngoại giao văn hóa từ năm

1986 đến năm 2011 và đưa ra một số đánh giá, kinh nghiệm chủ yếu

Trong luận án tiến sĩ “Đảng Cộng sản Việt Nam nh đạo hoạt động đối

ngoại tr n ĩnh vực văn hóa trong th i kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa giai đoạn 1996 – 2006” (bảo vệ năm 2013) của Trịnh Thúy Hương đã

trình bày về cơ sở lý luận và thực tiễn của chủ trương đối ngoại trên lĩnh vựcvăn hóa; chủ trương của Đảng về đối ngoại trên lĩnh vực văn hóa và sự chỉđạo thực hiện từ năm 1996 đến năm 2006

Nói chung các công trình, bài viết nghiên cứu trên, ở những mức độkhác nhau đều khẳng định ngoại giao văn hóa đóng vai trò quan trọng trongchính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước Việt Nam Các công trình đã trìnhbày một số khía cạnh chủ yếu trong chủ trương chính sách của Đảng, Nhànước Việt Nam về ngoại giao văn hóa, mối quan hệ giữa ngoại giao văn hóa

và các lĩnh vực ngoại giao khác Tuy nhiên các công trình này nhưng chưa đisâu vào nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạt động ngoại giao vănhóa giữa Việt Nam với EU cũng như chưa khái quát được thực tiễn hoạt độngngoại giao văn hóa Việt Nam – EU

Trang 15

Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về quan hệ văn hóa giữa Việt Namvới Liên minh châu Âu cũng như các nước thành viên trong Liên minh châu Âu.

Trong bài viết “Quan hệ văn hóa Việt Nam – Li n minh ch u Âu” trên

Tạp chí Văn hóa dân gian số 5 năm 2005, tác giả đã trình bày mối quan hệvăn hóa hai chiều giữa Việt Nam và EU như một quá trình giao lưu văn hóa.Đồng thời tác giả phân tích một số nguyên nhân tại sao văn hóa không đượccác nhà hoạch định chính sách giữa Việt Nam và EU quan tâm Tác giả cũngchỉ ra những dấu hiệu cho thấy quá trình ấm dần của những giao lưu, trao đổivăn hóa giữa hai bên

Nhiều công trình đã khái quát quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt

Nam và các nước thành viên EU như: “V i nét về quan hệ văn hóa Ph p –

Việt” của tác giả Đặng Việt Bích in trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 7

năm 1997; “Về mối quan hệ về văn hóa Đ c và Việt Nam” của tác giả Đặng

Việt Bích in trong Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 8 năm 1999

Trong bài viết “Việt Nam và Liên minh châu Âu trong bối cảnh hiện

tại” in trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Khoa học xã hội và

Nhân văn tập 30, số 2, tác giả Michael Reiterer đã trình bày một cách kháiquát về quan hệ Việt Nam – EU trong bối cảnh thay đổi của thế giới và khuvực Tuy nhiên, tác giả chủ yếu chỉ chú trọng phân tích mối quan hệ của haibên về hợp tác kinh tế, an ninh mà chưa đi sâu vào các quan hệ văn hóa giữaViệt Nam và EU

Các công trình trên đã đề cập đến mối quan hệ văn hóa giữa Việt Namvới Liên minh châu Âu cũng như giữa Việt Nam với một số nước thành viêntrong Liên minh châu Âu nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, có tính chấtgợi mở, chưa đi sâu phân tích hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Namvới Liên minh châu Âu; cũng như vai trò của sự lãnh đạo của Đảng đối vớihoạt động đó

Trang 16

Tổng hợp cả ba nhóm công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tácgiả nhận thấy các tác giả chủ yếu đề cập đến ngoại giao văn hóa ở các khíacạnh khác nhau như khái niệm, nội hàm, vai trò, vị trí Một số công trình bắtđầu đi sâu phân tích các chính sách ngoại giao văn hóa của Đảng Tuy nhiênnhững công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ngoại giao văn hóa,chính sách ngoại giao văn hóa của Đảng nói chung, chưa đi sâu, phân tích mộtcách hệ thống để làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động ngoại giao vănhóa Việt Nam với EU; đồng thời cũng chưa đánh giá được những ưu điểm,hạn chế của Đảng trong việc lãnh đạo này.

Các công trình trên ở những mức độ khác nhau đã giúp tác giả có đượcnhững hiểu biết chung về các xu hướng nghiên cứu liên quan đến đề tài Đây

là những tài liệu có ý nghĩa tham khảo cho luận văn, góp phần vào việc

nghiên cứu đề tài “Đảng nh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam

với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2000 đến năm 2014” dưới góc độ lịch sử

Trang 17

+ Làm rõ, phân biệt khái niệm ngoại giao văn hóa và các khái niệm liênquan; vai trò của ngoại giao văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.

+ Hệ thống hóa và phân tích các quan điểm, chủ trương của Đảng vềngoại giao văn hóa nói chung

+ Làm rõ quá trình thực hiện chủ trương của Đảng trong hoạt độngngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU Chỉ ra những kết quả của việc thực hiệnchủ trương này

+ Đánh giá và rút ra những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với EU

4.Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghi n c u

Luận văn tập trung nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam với hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với Liênminh châu Âu (EU)

4.2 Phạm vi nghi n c u

Về nội dung: Luận văn nghiên cứu chủ trương chung của Đảng về

ngoại giao văn hóa Đồng thời luận văn xem xét sự chỉ đạo cụ thể của Nhànước Việt Nam đối với hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU

Ngoại giao văn hóa có nội hàm khá rộng lớn Trong khuôn khổ luậnvăn thạc sĩ chỉ tập trung làm rõ một số hoạt động chính yếu: ngoại giao vănhóa của Việt Nam với EU thông qua các Chương trình Ngày Việt Nam ởnước ngoài, các kênh hợp tác quốc tế (UNESCO), thông tin đối ngoại, hoạtđộng du lịch, thông qua cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài…

Để tạo điểm nhấn, ngoài những thông tin chung về EU, luận văn sẽkhai thác thông tin ở một vài quốc gia cụ thể như Pháp, Đức, Italia, Anh

Về th i gian: Tập trung vào giai đoạn từ 2000 đến 2014.

Trang 18

5.Phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu

5.1 Phương ph p nghi n c u

Cơ sở phương ph p u n: Dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác

-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương ph p nghi n c u: Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch

sử và logic Ngoài ra, với từng vấn đề cụ thể, luận văn sẽ sử dụng các phươngpháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…

5.2 Nguồn tư iệu

Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước Việt Nam cóliên quan đến vấn đề ngoại giao, ngoại giao văn hóa, văn hóa đối ngoại, giaolưu văn hóa, trao đổi hợp tác quốc tế về văn hóa

Các bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước,cán bộ ngoại giao, cán bộ văn hóa của Việt Nam

Các công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo, các bài báo, tạp chí,luận án, luận văn, tiểu luận, đề tài cấp bộ…có liên quan đến ngoại giao vănhóa, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU, giữa Việt Nam với các nướcthành viên thuộc EU

Nguồn tài liệu Internet: các trang web chính thức của Đảng, Bộ Ngoạigiao và một số trang báo điện tử khác có liên quan đến đề tài

6.Đóng góp của luận văn

Bằng kết quả nghiên cứu, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm nhữngquan điểm, chủ trương của Đảng về ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU.Đồng thời qua đó làm rõ thêm về thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa củaViệt Nam với EU cũng như giữa Việt Nam với các nước thành viên EU

Trang 19

Đưa ra một số nhận xét, bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảngtrong hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU từ năm 2000 đếnnăm 2014.

Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết lu n và Danh mục tài liệu tham

khảo, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2000 đến năm 2005

Chương 2: Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2006 đến năm 2014

Chương 3: Một vài nhận xét và kinh nghiệm

Trang 20

Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Khái quát chung về ngoại giao văn hóa

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Văn hóa

Khái niệm “văn hoá” đã được bàn luận từ xa xưa Các học giả, nhànghiên cứu với các góc nhìn khác nhau đã đưa ra rất nhiều khái niệm củariêng mình Đặc biệt, khi quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa diễn ra mạnh

mẽ, đồng thời với đó là việc giữ gìn bản sắc văn hóa riêng Vấn đề văn hoácàng được quan tâm rộng rãi và sâu sắc Có thể kể đến một số định nghĩa tiêubiểu như:

Trên thế giới, ở phương Tây, trong tiếng Anh, văn hóa là culture, trongtiếng Đức là kultur, trong tiếng Nga là kultura Những chữ này có chung gốcLatinh là cultus animi có nghĩa là trồng trọt tinh thần Như vậy, cultus cónghĩa là văn hóa được hiểu với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tựnhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo cá thể hay cộng đồng đề họ pháttriển những giá trị nhân văn và có những phẩm chất tốt đẹp

Trong công trình Việt Nam văn hóa sử cương, học giả Đào Duy Anhquan niệm: “Văn hóa là cách sinh hoạt của con người.” [1; tr.10] Hiểu theođịnh nghĩa này tức là tất cả các mặt ăn, ở, đi lại, đến cách cư xử của con ngườiđều tựu chung lại là văn hóa

Là người am hiểu đồng thời văn hóa phương Đông và phương Tây, Chủtịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thứcsinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thíchứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [144; tr.20] Nhưvậy, theo khái niệm này, dấu ấn của văn hóa xuất hiện trên mọi mặt của đờisống cộng đồng, bao gồm cả đường lối đối ngoại của mỗi quốc gia sau này

Trang 21

Có thể nói, mỗi định nghĩa kể trên đều góp phần làm rõ những khíacạnh khác nhau của khái niệm văn hóa nhưng không phải định nghĩa nào cũngđược chấp nhận một cách rộng rãi.

Hiện nay, định nghĩa được nhiều người chấp nhận được đưa ra bởi Liênhợp quốc Tháng 8 năm 1982, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóaUNESCO đã thông qua Tuyên bố chung, trong đó nêu rõ: “Theo nghĩa rộngnhất của nó, ngày nay văn hóa có thể được xem là toàn bộ phức thể những nétnổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hộihay một nhóm xã hội Nó không chỉ gồm nghệ thuật, văn học mà còn cả lốisống, các quyền lợi cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, truyền thống

và tín ngưỡng.”[111, tr.20]

Như vậy, có thể khái quát văn hóa là sự kết hợp của cả các giá trị vậtchất và tinh thần do con người sáng tạo ra Mỗi dân tộc trong quá trình hìnhthành và phát triển theo thời gian sẽ sáng tạo ra nền văn hóa riêng của mình,khẳng định bản sắc của dân tộc đó

Giao ưu văn hóa

Nhắc đến văn hóa đồng thời phải nhắc đến một khái niệm khác: “giaolưu văn hóa” Giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhấthai nền văn hóa Trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc, qua giao lưu tiếpxúc với những nền văn hóa bên ngoài, người bản địa không những quảng báđược những nét đặc sắc riêng trong nền văn hóa của mình, phát huy đượcnhững lợi thế sẵn có của mình trong hợp tác kinh tế quốc tế, mà còn làm quenvới những yếu tố văn hóa ngoại lai và nhận biết những yếu tố nào trong số đó

có ích lợi có thể bổ sung những mặt còn chưa phát triển đầy đủ hoặc chưa cótrong nền văn hóa bản địa để sử dụng và những yếu tố nào thì không

Lợi ích căn bản và lâu dài mà giao lưu văn hóa đem lại là thúc đẩy sựphát triển của mỗi nền văn hóa Lịch sử cho thấy, không một nền văn hóa nào

Trang 22

có thể phát triển nhanh hoặc vượt bậc mà không có sự giao lưu với nền vănhóa khác Giao lưu văn hóa làm cho những cộng đồng, những quốc gia dântộc đóng kín trở nên mở hơn, đã mở trở nên ngày càng mở hơn Giao lưu vănhóa là cơ sở bước đầu để thực hiện ngoại giao văn hóa sau này.

Nếu như trong quá khứ, giao lưu văn hóa chủ yếu thể hiện qua sự táctheo chiều từ Tây sang Đông mà ít có ảnh hưởng ngược lại Thì đến thế kỷXXI, các nền văn hóa phương Đông đã có tác động mạnh hơn, thể hiện trongkhái niệm “đối thoại văn hóa”

Văn hóa ngoại giao

Văn hóa ngoại giao nặng về cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện vănminh, đồng thời thể hiện thuần phong mỹ tục Còn có thể gọi đó là phong tháingoại giao Đó là một yêu cầu trước hết đối với cán bộ ngoại giao, đó cũng làyêu cầu đối với mọi người từ lãnh đạo đến cán bộ trong tiếp xúc đối ngoại

Ngoại giao văn hóa

Giống như văn hóa, khái niệm ngoại giao văn hóa đến nay vẫn chưađược thống nhất Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia: ngoại giao văn

hóa là thuật ngữ để chỉ “một hình th c ngoại giao với một loạt những phương

s ch m cơ sở cho hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả; những phương sách này bao gồm sự thừa nh n và hiểu biết rõ ràng về động lực văn hóa của nước ngoài và sự tuân thủ những nguyên lý phổ biến chỉ đạo qu trình đối thoại cơ bản” (“Cu tural diplomacy specifies a form of diplomacy that carries a set of prescriptions which are material to its effectual practice; these prescriptions include the unequivocal recognition and understanding of foreign cu tura d namics and observance of the universa tenets” that govern basic dialogue).

Nhà học giả Nicholas J.Cull cho rằng: “Ngoại giao văn hóa là những nỗlực của một chủ thể nhằm tác động đến môi trường quốc tế thông qua việc tận

Trang 23

dụng những nguồn lực về văn hóa và những thành tựu được bên ngoài biếtđến và thúc đẩy phổ biến văn hóa ở nước ngoài Trong lịch sử, ngoại giao vănhóa từng được hiểu là chính sách của một quốc gia nhằm thúc đẩy xuất khẩunhững đặc trưng văn hóa của mình” [144].

Theo trang web chuyên về ngoại giao văn hóa Cultural Diplomacy.org,thành công của ngoại giao văn hóa phụ thuộc vào sự đối thoại và tôn trọng lẫnnhau giữa các nền văn hóa Như vậy, ngoại giao văn hóa luôn có tính haichiều Trong khi nhấn mạnh vào khả năng xây dựng hình ảnh tốt đẹp về mộtquốc gia đối với các nước khác, ngoại giao văn hóa cũng phải chú ý đến bảnsắc văn hóa của quốc gia, dân tộc mình đang hướng tới

Có thể sử dụng bốn tiêu chuẩn sau đây để đánh giá một hoạt động đó cóthuộc phạm trù ngoại giao văn hóa hay không Một là, có mục đích ngoại giao

rõ ràng hay không Hai là, chủ thể thực thi có phải là quan chức hoặc được sựủng hộ và khuyến khích của quan chức hay không Ba là, có nhằm đúng đốitượng đặc biệt trong một thời gian dài hay không Bốn là, có phải là hoạt độngquan hệ công được triển khai qua hình thức biểu hiện của văn hóa không

Về nội hàm, nhà nghiên cứu Milton C Cumming cho rằng: ngoại giaovăn hóa là sự giao lưu ý tưởng, thông tin, giá trị, hệ thống, niềm tin và cáckhía cạnh văn hóa khác, với mục đích tăng cường hiểu biết lẫn nhau [164]

Việt Nam xác định nội hàm của ngoại giao văn hóa là “bông hoa đàonăm cánh” bao gồm năm yếu tố Mở đường- Xúc tác- Quảng bá- Vận động-Tiếp thu Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại nhau “Mởđường, khai thông quan hệ với các nước và khu vực chưa có nhiều quan hệvới Việt Nam; xúc tiến, tăng cường và làm sâu sắc hiểu biết với các quốc gia;quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trên trường quốc tế; vậnđộng để Việt Nam có nhiều di sản được UNESCO công nhận và tiếp thu tinhhoa văn hóa nhân loại để làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc.” [6]

Trang 24

Tựu chung lại, ngoại giao văn hóa có thể được xem như một trong batrụ cột của nền ngoại giao hiện đại, xây dựng, quảng bá hình ảnh quốc gia đếnthế giới nhằm tăng cường hiểu biết, quan hệ với nước ngoài, nâng cao vai trò,

vụ thế của quốc gia dân tộc Đồng thời thông qua hoạt động ngoại giao vănhóa, quốc gia cũng tiếp thu văn hóa, văn minh quốc tế làm giàu, bổ sung chovăn hóa dân tộc

1.1.2 Vai trò của ngoại giao văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa

Từ xa xưa, các quốc gia đã tiến hành giao lưu văn hóa Tuy nhiên, tronglịch sử, vai trò của văn hóa thường bị đánh giá thấp hơn so với chính trị, quân

sự và các thể chế khác Những hoạt động ngoại giao văn hóa sơ khai có lẽ làviệc trao đổi lễ vật và vật phẩm văn hóa giữa giới cầm quyền các nước Chođến ngày nay, khi hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, vai trò của ngoại giaovăn hóa mới được coi trọng hơn

Vai trò của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giao hiện đại liên quanchặt chẽ đến một khái niệm khác gọi là sức mạnh mềm hay quyền lực mềm

Theo Giáo sư Joseph Nye - giáo sư Đại học Harvard của Mỹ - ngườiđược coi là cha đẻ của thuyết “sức mạnh mềm”, thì sức mạnh tổng hợp củamột quốc gia gồm có “sức mạnh cứng” (hard power, gồm sức mạnh quân sự,kinh tế, khoa học- công nghệ,…) và “sức mạnh mềm” (soft power, gồm sứcmạnh của văn hóa, thể chế xã hội và các chính sách đối nội, đối ngoại củaquốc gia đó)

Trong đó, sức mạnh cứng chi phối, tác động, chinh phục các quốc giakhác bằng quân sự hay trừng phạt kinh tế (có thể liên hệ đến cây gậy và củ càrốt trong chính sách đối ngoại của Mỹ) Sức mạnh mềm là khả năng lôi cuốn,thu phục, cảm hóa người khác bằng sức hấp dẫn của các giá trị về văn hóa, vềthể chế, thông qua đó mà nhận được cảm tình, sự nể phục và hợp tác bềnvững của các nước khác

Trang 25

Mối quan hệ giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm là mối quan hệgiữa cái hữu hình và cái vô hình Để nâng cao vị thế của mình trên trườngquốc tế, ngoài sức mạnh cứng, các nước phải biết phát huy sức mạnh mềmcủa mình.Sức mạnh mềm là thể hiện sự nối dài và mở rộng của sức mạnhcứng Một quốc gia đã yếu kém về kinh tế và quốc phòng sẽ khó có thể có sứcmạnh mềm đáng kể; ngược lại, sức mạnh mềm sẽ làm tăng sức mạnh cứng, vínhư tính thống nhất dân tộc, sự đồng thuận quốc gia, sự ổn định chính trị củađất nước, sức hấp dẫn về văn hóa và thể chế xã hội,…là những yếu tố quantrọng tạo nên sức mạnh mềm, nó sẽ góp phần làm tăng sức mạnh cứng.

Ngược lại, nếu sức mạnh cứng khỏe, nhưng sức mạnh mềm yếu kém,cũng không gây được cảm tình, không cạnh tranh được với ai Hiện nay, cácnước lớn trong khi tăng cường sức mạnh cứng vẫn đang rất chú trọng pháthuy sức mạnh mềm của mình, nhất là về văn hóa

Tuy vậy, sức mạnh mềm không phải là giải pháp cho tất cả mọi vấn đề

Nó cũng có những hạn chế nhất định Sử dụng sức mạnh mềm, các quốc giacần có thời gian để sức hấp dẫn của các giá trị bản thân nước mình có thể lantỏa, đó là cả một quá trình dài vận động, quảng bá Thêm vào đó, chiến lượcsức mạnh mềm chỉ được triển khai hiệu quả khi bản thân quốc gia đó tạo rađược những giá trị đích thực, nhất là về văn hóa, được nhiều người thừa nhận,mến mộ và chia sẻ

Thực tế ngoại giao văn hóa chính là một dạng sức mạnh mềm Ngoạigiao văn hóa tạo nên nền tảng tin tưởng giữa dân tộc này với dân tộc khác, để

từ đó các nhà hoạch định chính trị, kinh tế, và quân sự có thể tìm kiếm sựđồng thuận và hợp tác Trong xu thế hòa bình, sự phụ thuộc giữa các quốc giatrên thế giới ngày càng sâu sắc, vai trò của ngoại giao văn hóa ngày càng trởnên quan trọng và được quan tâm hơn bao giờ hết

Bước vào thế kỷ XXI, nhiều nước đã thực hiện ngoại giao văn hóa mộtcách có hiệu quả như Singapho, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc…

Trang 26

Nhật Bản xem ngoại giao văn hóa là một trong những ưu tiên và lànhiệm vụ cấp bách trong chiến lược đối ngoại; là biện pháp xây dựng lòng tinvới các đối tác trong quan hệ chính trị và kinh tế, và là kênh hấp thu nhữnggiá trị văn hóa tinh túy của thế giới và cộng sinh ra các dạng thức văn hóa mớitrong quá trình truyền bá và hấp thu.

Mỹ cũng là một đất nước coi trọng vai trò của ngoại giao văn hóa Ủyban cố vấn về ngoại giao văn hóa, Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng ngoại giao vănhóa là con đường hai chiều: giúp cho người dân nước ngoài hiểu nước Mỹ,đồng thời giúp cho nước Mỹ hiểu các dân tộc khác đang nghĩ gì

Đối với Việt Nam, sức mạnh cứng của Việt Nam chưa đủ mạnh, màsức mạnh mềm cũng đang yếu, khả năng tác động quốc tế chưa nhiều, sức hấpdẫn về văn hóa cũng chưa đáng kể Tuy nhiên văn hóa là một lợi thế của ViệtNam, hoàn toàn có thể tăng cường và phát huy sức mạnh mềm của mình, bắtđầu từ văn hóa

Tuy cụm từ “ngoại giao văn hóa” mới xuất hiện ở Việt Nam, nhưng vaitrò của nó đã sớm được coi trọng Bàn về tầm quan trọng của ngoại giao vănhóa, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm cho rằng: “Ngoạigiao văn hóa với điểm tựa là văn hóa dân tộc, vừa có sức lan tỏa riêng, vừa cóthể lồng ghép với nhiều hoạt động của các lĩnh vực khác, hỗ trợ và tạo thuậnlợi cho chính trị, kinh tế thành công” [93]

Nhìn chung, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều rất đề caovao trò của ngoại giao văn hóa trong đường lối đối ngoại của mình Ngoạigiao văn hóa tạo sức hút của quốc gia, dân tộc, góp phần nâng cao vị thế quốcgia trên trường quốc tế

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm

2000 đến 2005

1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng

Bước vào thế kỷ XXI, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển, đặt ranhiều cơ hội cũng như thách thức cho các nước, dù là quốc gia phát triển hay

Trang 27

đang phát triển Toàn cầu hóa là một hiện tượng khách quan, một xu thế lớncủa thế giới đương đại Nó tác động mạnh đến mọi lĩnh vực hoạt động củacon người, đến nhiều mối quan hệ của các quốc gia dân tộc.

Cách mạng khoa học xông nghệ hiện đại là động lực thúc đẩy, kinh tếtri thức ra đời, kinh tế tác động đến văn hóa Thế giới lúc này đã bước vàomột thời kỳ mới như UNESCO nhận định: người ta không thể giải quyết vấn

đề của thế giới bằng vũ khí, khủng bố hay sự đối đầu mà phải bằng giáo dục,khoa học, văn hóa, thông tin, bằng khuyến khích đối thoại, chung sống hòabình và sự khoan dung

Mối quan hệ Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) bắt đầu được thiếtlập từ sau năm 1975, chủ yếu thông qua viện trợ kinh tế Bước chuyển biếnlớn đánh dấu một thời kỳ mới sang quan hệ đối tác chính trị đa dạng và sâurộng hơn trong quan hệ Việt Nam - EU là việc hai bên chính thức thiết lậpquan hệ ngoại giao vào ngày 28-11-1990 Mười năm qua, mối quan hệ giữahai bên phát triển nhanh chóng, ngày càng đi vào ổn định và thực chất hơn

Với chủ trương hội nhập và phát triển, Việt Nam đã chủ động tăngcường tiếp xúc với các nước thành viên EU Năm 1995 hai bên đã ký Hiệpđịnh khung về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Ủy ban châu Âu (EC) thiếtlập các nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thương mạigiữa hai bên Từ đó, EU luôn được coi là đối tác chiến lược quan trọng trongđường lối đối ngoại của Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn quan điểm chỉ đạo đường lối vănvới yếu tố dân tộc Ngay từ năm 1943, Đảng đã ban hành "Đề cương vănhóa", thể hiện rõ quan điểm phát triển văn hóa, văn nghệ của Đảng vớiphương châm: Dân tộc, khoa học và đại chúng Trong công cuộc đổi mới,đứng trước nhu cầu giao lưu văn hóa quốc tế, Đảng đặc biệt quan tâm đến vănhóa từ hình thức đến nội dung, từ tư tưởng đến chất lượng sáng tác, từ ý thứcbảo tồn văn hóa dân tộc đến việc chắt lọc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới

Trang 28

Toàn cầu hóa đã đưa lại nhiều thành tựu quan trọng, nhưng đồng thờicũng gây ra không ít hệ quả tiêu cực, có cả tác động tốt và tác động xấu đốivới các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau Đặc biệt, trong lĩnh vựcnhạy cảm như văn hóa, nếu không có chủ trương, biện pháp đúng đắn có thểdẫn đến mất dần bản sắc văn hóa dân tộc.

Trước tình hình đó, Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về “Xâydựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”được coi là văn kiện chuyên đề văn hóa đầu tiên của Đảng, sau Đề cương vềvăn hóa Việt Nam, là một Nghị quyết đã “trúng ý Đảng, hợp lòng dân” đã nêu

rõ chủ trương của Đảng: “Đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ vềvăn hóa (Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, cá nhân) nhằm tiếp thu đượcnhiều tinh hoa, kinh nghiệm của nước ngoài, ngăn ngừa những tác động tiêucực.” [44; tr.77]

Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) nhấn mạnh làm tốt việc giớithiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới, “nêu cao lòngyên nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống, bản sắc dân tộc” [44; tr.68]

Kế thừa truyền thống lịch sử, quan điểm của Đảng về văn hóa tiếp tụcđược khẳng định trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4-2001) khẳng định: “Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nềnvăn hóa của nhân loại” [44; tr.115] Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với

mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trongvăn hóa các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền vời chống lạchậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ Đấu tranh chống sự xâmnhập của văn hóa độc hại

Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng bởi giao lưu và hội nhập vừa

có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực Mặt tích cực của nó sẽ giúp cho văn hóacủa mỗi dân tộc hay mỗi quốc gia luôn phát triển, thu nhận được những

Trang 29

giá trị tiến bộ, tích cực trên mọi lĩnh vực của văn hóa quốc gia và các dân tộckhác, và ngược lại sẽ quảng bá được văn hóa của mình cho các dân tộc, cácnước khác Tuy nhiên, giao lưu và hội nhập văn hóa cũng tồn tại những mặttiêu cực của nó, nếu không biết giữ gìn bản sắc.

Cũng trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng khẳng định:Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng đa phươnghóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Quan điểm nhất quán của Đảng là: việccác nước có chế độ chính trị khác nhau cũng không ngăn cản sự hợp tác đểcùng phát triển, nếu biết tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không canthiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi

Có thể nói ở Đại hội này, với những chủ trương và những định hướnglớn về chính sách văn hoá của Đảng vừa thể hiện sự nhạy bén với bối cảnhmới vừa đáp ứng yêu cầu trong quan hệ quốc tế trên mọi mặt Chủ trương này

đã tạo những điều kiện thuận lợi cho việc triển khai hoạt động văn hoá nóichung và ngoại giao văn hoá nói riêng

Tiếp nối chủ trương trên, năm 2003, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 18/CT/

TW ngày 24 tháng 01 năm 2003 về tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyếtTrung ương năm (khóa VIII) về công tác văn học nghệ thuật trong tình hìnhmới, trong đó khẳng định nhu cầu giới thiệu văn hóa Việt Nam thông qua việcgiao lưu văn học với thế giới: “Đẩy mạnh giao lưu, trao đổi văn hóa nghệthuật với thế giới; giới thiệu có hệ thống những giá trị của nền văn học, nghệthuật cách mạng và những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu có chọn lọccác tinh hoa của văn học, nghệ thuật thế giới [45] Bên cạnh đó Đảng yêu cầu

Bộ Văn hóa – Thông tin cần phối hợp với Bộ Ngoại giao và cơ quan hữu quanxây dựng Quy chế “đoàn ra, đoàn vào” chặt chẽ, ngăn chặn nhập khẩu các vănhóa phẩm phản động, đồi trụy [45]

Quy chế “đoàn ra, đoàn vào” được xây dựng trong thời kỳ này chính làmột cơ sở quan trọng để tiến hành những Chương trình Ngày Việt Nam ở

Trang 30

nước ngoài – một hoạt động quảng bá, tuyên truyền văn hóa Việt Nam trêndiện rộng ở nhiều nước, khu vực trên thế giới.

Đó là những quan điểm, chủ trương cơ bản về ngoại giao và văn hóa,tạo tiền đề cho sự triển khai, thực hiện các chính sách ngoại giao văn hóatrong giai đoạn này và những giai đoạn tiếp theo

1.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện

Thực chất, bản chất của ngoại giao đã là hoạt động văn hóa; và trênthực tế ngoại giao văn hóa có lịch sử phát triển lâu đời, xuất phát từ đặc trưngvăn hóa hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc, từ nhu cầu trong quá trình dựngnước và giữ nước, trong xây dựng và phát triển quan hệ hòa bình, hữu nghị,hợp tác với các quốc gia

Bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam mở rộng cửa theo phương châm

đa phương hóa, đa dạng hóa, muốn là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả cácnước trong cộng động thế giới Dù thời gian này, cụm từ “ngoại giao văn hóa”chưa xuất hiện trong các văn kiện của Đảng, nhưng dựa vào sự định hướngchỉ đạo của Đảng về đường hướng phát triển của ngoại giao, văn hóa, trênthực tế, Việt Nam đã tiến hành hoạt động này

Trên tinh thần thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng IX về mở rộngquan hệ hợp tác đối ngoại trên nhiều địa bàn, châu lục, tháng 6/2005, Thủtướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể quan hệ Việt Nam-EU đến năm

2010 và định hướng đến 2015, chủ trương xây dựng "Quan hệ đối tác toàn

diện và bền vững, trên tinh thần ổn định lâu dài và tin c y lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong các th p kỷ tới của thế kỷ 21." Mục

tiêu đưa quan hệ Việt Nam - EU trở thành quan hệ đối tác toàn diện và bềnvững, trên tinh thần ổn định lâu dài và tin cậy lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác

và phát triển phồn vinh trong các thập kỷ tới của thế kỷ XXI

Việc Đề án này được phê duyệt đã nâng tầm quan hệ Ngoại giao ViệtNam – EU lên một tầm cao mới Các hoạt động hợp tác, trao đổi trong lĩnh

Trang 31

vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ ngày càng phong phú và

đa dạng, đưa quan hệ hai bên phát triển một cách toàn diện Chính phủ ViệtNam chủ trương tăng cường các hoạt động trao đổi, giao lưu văn hoá nghệthuật với các nước thành viên EU, nhất là với các nước mà Việt Nam đã kíhiệp định hợp tác văn hoá Trong đó Chính phủ, đại diện là Bộ Văn hoá chútrọng công tác thông tin đối ngoại, giới thiệu quảng bá hàng hoá, dịch vụ, dulịch, văn hoá nghệ thuật, hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, pháp luật

và môi trường đầu tư của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tếtrên các phương tiện thông tin truyền thông trong và ngoài nước Bên cạnh đó,Việt Nam nhấn mạnh tới việc chủ động, tích cực khai thác những tinh hoa vănhoá của các nước EU, cử người đi đào tạo cơ bản ở những nước này

Đây là một cơ sở quan trọng giúp Việt Nam và EU có được mối quan

hệ đối tác toàn diện, then chốt Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông Nam Á chủđộng triển khai chiến lược hợp tác tổng thể với EU và EU là đối tác đầu tiêncủa Việt Nam có chiến lược tổng thể về hợp tác Đây cũng là cơ sở, tiền đề đểhoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam và EU phát triển sau này

Trong giai đoạn này, Nhà nước Việt Nam đã ban hành một loạt văn bảnnhư: Chỉ thị số 10/2000/CT – TTg về tăng cường quản lý đẩy mạnh công tácthông tin đối ngoại; Nghị định số 72/2000/NĐ – CP về công bố phổ biến tácphẩm ra nước ngoài; Quyết định số 37/2001/QĐ-BVHTT ngày 05 tháng 7năm 2001 vê hoạt động ban hành xuất bản phẩm; Nghị định số 88/2002/NĐ-

CP về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa không nhằm mục đích kinhdoạnh; Luật số 28/2001/QH10 về di sản văn hóa; Quyết định thành lập Tạpchí Di sản Văn hóa thuộc Cục Bảo tồn Bảo tàng; Quyết định số 19/QĐ-TTg

về việc phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đến năm2005” Những văn bản này đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi, dần hoànthiện về cơ sở pháp lý đến việc thực hiện chủ trương giới thiệu văn hóa, đấtnước con người Việt Nam đến thế giới

Trang 32

Cụ thể, Nghị định số 72/2000/NĐ – CP của Chính phủ về công bố phổbiến tác phẩm ra nước ngoài quy định chi tiết các loại hình tác phẩm được phổbiến ra nước ngoài.

Xuất bản phẩm từ lâu đã là công cụ, phương tiện hữu ích trong giao lưuvăn hóa của nhân loại Đây là một dạng tác phẩm, tài liệu về chính trị kinh tế,văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học – nghệthuật được xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam Năm

2001, Bộ Văn hóa Thông tin ban hành Quy chế số 37/2001/QĐ-BVHTT vềhoạt động ban hành xuất bản phẩm trong đó nhấn mạnh: “Phát hành xuất bảnphẩm là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa tư tưởng không phải là hoạt độngđơn thuần kinh doanh, thông qua việc phổ biến xuất bản phẩm phục vụ nhiệm

vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần nâng cao dân trí, nâng cao đờisống tinh thần của nhân dân và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế [15] Điềunày đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam về việc đưa nền văn hóaViệt Nam đến với thế giới

Một trong những nội hàm của ngoại giao văn hóa chính là “vận động”.Luật số 28/2001/QH10 về di sản văn hóa khẳng định: “Di sản văn hóa ViệtNam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phậncủa di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước vàgiữ nước của nhân dân ta” [9]

Điều 11 của Luật này ghi rõ: “Các cơ quan văn hóa thông tin đại chúng

có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoàicác giá trị di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.” [9] Luật disản văn hóa cũng quy định chặt chẽ về việc tổ chức và hợp tác quốc tế về bảo

vệ và phát huy giá trị văn hóa cũng như những nội dung hợp tác quốc tế về disản văn hóa Điều này đã tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam tiến hành vận độngUNESCO công nhận các di sản của Việt Nam

Trang 33

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã tiến hành vận động UNESCO côngnhận các di sản thế giới Đến năm 2005, Việt Nam đã có 7 di sản văn hóa vậtthể và phi vật thể được công nhận là Di sản văn hóa thế giới Cùng với những

di sản thế giới được UNESCO công nhận như: kinh đô Huế (1993), Vịnh HạLong (1994 và 2000), khu di tích Mỹ Sơn (1999) từ đó quảng bá, đưa hìnhảnh Việt Nam ra thế giới

Với sự vận động của Việt Nam, UNESCO đã tôn vinh Nguyễn Trãi làDanh nhân văn hóa; tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng Dân tộc,Danh nhân văn hóa và Con người Hòa Bình (2003) Thủ đô Hà Nội đượcdanh hiệu “Thành phố vì Hòa Bình” (1999) đồng thời nơi này cũng được chọn

để tổ chức lễ phát động năm quốc tế văn hóa hòa bình của Liên Hợp Quốc

Để tăng cường việc giới thiệu văn hóa đất nước và con người Việt Namvới nhân dân các nước, Việt Nam đã cử nhiều đoàn văn hóa – nghệ thuật đinhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước thuộc EU như Đức, Áo, Pháp,Italia, Tây Ban Nha Các đoàn này đa dạng về loại hình cũng như quy mô tổchức, không chỉ tập trung vào loại hình nghệ thuật biểu diễn như trước màcòn kế hợp các loại hình văn hóa dân gian độc đáo như múa rối nước, nặn đồchơi tò he; giới thiệu mỹ thuật Việt Nam truyền thống và đương đại như tranhsơn mài, tranh Hàng Trống; tranh Đông Hồ; giới thiệu hàng thủ công mỹ nghệViệt Nam Ngoài ra còn trưng bày và trình diễn thời trang, trang phục các dântộc Việt Nam, trang phục áo dài và giới thiệu văn hóa ẩm thực Việt Nam

Đặc biệt, thời gian này Việt Nam đã chú ý đến việc nghiên cứu địa bàn

để lựa chọn các loại hình văn hóa nghệ thuật phù hợp với từng nước Qua đó,chất lượng nghệ thuật và hiệu quả hoạt động của các đoàn ra cao, có sức hấpdẫn và thu hút được khán giả quốc tế Điều này thể hiện rõ chính sách đốingoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, kết hợp giữa hợp tácsong phương với hợp tác đa phương, giữa mở rộng địa bàn hợp tác với ưu tiênkhu vực

Trang 34

Các đoàn ra nước ngoài là dịp tốt để cho đội ngũ những người làm vănhóa tìm hiểu thực tế tại các nước, qua đó góp phần nâng cao nhận thức, hiểubiết và kinh nghiệm chuyên môn phục vụ cho thực hiện hoạt động ngoại giaovăn hóa các giai đoạn sau này Để khuyến khích hoạt động này, ngày 24 tháng

12 năm 2001, Thông tư liên tịch số BNG đã được ban hành, trong đó hướng dẫn thực hiện trợ giá đối với cước vậnchuyển ấn phẩm văn hóa và giá vé máy bay các đoàn nghệ thuật đi biểu diễn phục

103/2001/TTLT/BTC-BVGCP-BVHTT-vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) Ngoài ra, sự phối hợpchặt chẽ, trách nhiệm giữa các cơ quan trong nước và các cơ quan ngoại giao củaViệt Nam ở các nước EU, vốn được đánh giá là một địa bàn phức tạp đã góp phầnđảm bảo cho thành công của các hoạt động giới thiệu

văn hóa của Việt Nam

Trong giai đoạn này, đã có một số Hiệp định, văn bản hợp tác văn hóa– thông tin được ký với các nước trong khối EU như: Hiệp định hợp tác vănhóa Việt Nam – Tây Ban Nha; Biên bản ghi nhớ về Hợp tác văn hóa ViệtNam – Luxemburg… Ngoài ra Trung tâm Văn hóa – thông tin Việt Nam tạiPháp cũng được tiếp tục nghiên cứu, triển khai trong giai đoạn này

Điểm trọng tâm của ngoại giao văn hóa là thông qua các hoạt động vănhóa để khắc họa hình ảnh của Việt Nam trong lòng người dân thế giới nóichung, EU nói riêng Vì vậy vai trò của công tác thông tin đối ngoại càng trởnên quan trọng, nhất là trong thời đại thông tin hiện nay, các phương tiệntruyền thông đã và sẽ du nhập văn hóa thế giới đến từng căn nhà Chỉ thị số10/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định “Thông tin đối ngoại

là một bộ phận rất quan trọng trong công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nướcta” Trong đó, phương châm triển khai thông tin đối ngoại được nhấn mạnh làtoàn diện, rộng khắp song có trọng tâm, trọng điểm trước hết là đối với cácnước láng giếng và trong khu vực

Trang 35

Chỉ thị đồng thời đưa ra hai nội dung có liên quan đến việc đẩy mạnhgiới thiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Nam đến với thế giới Một là,

Bộ Văn hóa – Thông tin chủ trì, phối hợp cùng Bộ Ngoại giao vạch kế hoạch

cử tùy viên văn hóa ở một số cơ quan đại diện ngoại giao tại một số địa bàncần thiết và kế hoạch xây dựng các cơ quan thường trú một số báo chí ViệtNam ở nước ngoài Hai là Bộ tài chính chủ trì, phối hợp với các các Bộ ngànhliên quan xây dựng chính sách trợ giá, trợ cước cho việc in ấn, phát hành cáctài liệu (bao gồm cả sách) dùng cho thông tin đối ngoại

Các sản phẩm thông tin đối ngoại đa dạng, phong phú về chủng loại,được đầu tư về nội dung và hình thức, phù hợp với mục đích Nhà xuất bảnThế giới của Việt Nam đã xuất bản nhiều bộ sách của Việt Nam bằng nhiềungôn ngữ thông dụng trong đó có tiếng Anh tại nhiều nước thuộc khối EU Đểquảng bá, đưa hình ảnh Việt Nam ra thế giới Đảng chủ trương mở rộng hợptác quốc tế nhằm khuyến khích đưa sách của Việt Nam ra thế giới Nhà nước

có chính sách tài trợ để xuất bản bằng tiếng nước ngoài một số đầu sách cógiá trị của các tác giả được giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhànước Đồng thời, Việt Nam cũng bổ sung các quy định pháp lý, chính sách đểcác nhà xuất bản chủ động tham gia quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt đốivới vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ, xuất bản điện tử

Nhiều sách báo, tạp chí đối ngoại; các loại phim tài liệu nghệ thuật,phim giới thiệu văn hóa đã được sản xuất và chuyển cho các cơ quan đại diện

ở nước ngoài làm tài liệu tuyên truyền giới thiệu Việt Nam Trong giai đoạnnày đã có nhiều bộ ảnh khổ lớn, có chất lượng giới thiệu về văn hóa, con ngườiViệt Nam, như các bộ ảnh: “Việt Nam tiến vào thiên niên kỷ mới”, “Hồ Chí Minh– danh nhân văn hóa Việt Nam”, “Việt Nam – 30 năm thống nhất

đất nước”,…

Giai đoạn này đã có manh nha sự kết hợp giữa ngoại giao văn hóa vàngoại giao kinh tế Trong các hoạt động văn hóa – nghệ thuật nhằm quảng bá

Trang 36

hình ảnh đất nước đã có sự kết hợp, lồng ghép với các hoạt động xúc tiếnthương mại, và triển lãm hội chợ, qua đó cũng thu hút đầu tư nước ngoài Sựkết hợp này bước đầu đem lại kết quả tốt cho việc quảng bá Việt Nam, giớithiệu các tiềm năng đầu tư, thương mại của Việt Nam.

Một trong những kênh để quảng bá Việt Nam đó là thông qua du lịch.Ngày 22 tháng 7 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định phê duyệt

“Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010”, trong đó nhấn mạnhmục tiêu: “Đẩy mạnh xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch với các hìnhthức linh hoạt; phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; tranh thủ hợp tácquốc tế trong hoạt động xúc tiến du lịch ở trong và ngoài nước” Nhiệm vụđược đặt ra với du lịch Việt Nam là tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế về dulịch nhằm tăng cường củng cố; mở rộng hợp tác song phương và hợp tác đaphương với các nước, các tổ chức quốc tế Thực hiện các cam kết và khai thácquyền lợi trong hợp tác du lịch với tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), Hiệp hội

du lịch Đông Nam Á (ASEANTA), Liên minh châu Âu (EU)…

Nội hàm của ngoại giao văn hóa còn bao gồm “tiếp thu” Tiếp thu đượchiểu là sự chọn lọc tinh hoa văn hóa, tri thức, khoa học tiên tiến thế giới vàoViệt Nam để làm phong phú hơn kho tàng văn hóa Việt Nam, đồng thời giữgìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiến tới định hướng phát triển chomột nền công nghiệp văn hóa Việt Nam

Việt Nam luôn tạo điều kiện để EU nói chung và các nước thành viên

EU nói riêng được giới thiệu văn hóa của mình tại Việt Nam qua các kếhoạch, chương trình và dự án hợp tác trao đổi văn hóa mà Việt Nam đã ký vớicác nước; qua các cơ quan ngoại giao của các nước tại Việt Nam nhân dịp các

sự kiện ngoại giao quan trọng Tiêu biểu như năm 2004 Phái đoàn Ủy banchâu Âu đã phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam tổ chức cuộc thi tìm hiểu

EU trên Quizshow Hành trình văn hoá Năm 2005, kỉ niệm 15 năm thiết lập

Trang 37

quan hệ ngoại giao chính thức Việt Nam – EU, phái đoàn của Uỷ ban châu Âutại Việt Nam đã chọn Ngày châu Âu 9 tháng 5 làm ngày Văn hoá Châu Âu.Phái đoàn đã tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về EU và phát trên Đài Phát thanhvới 12 chương trình phát sóng nhằm vào 12 chủ đề khác nhau; những hoạtđộng này giúp cho người dân Việt Nam hiểu biết hơn về EU.

Ngoài ra qua các công ty, doanh nghiệp và tổ chức hoạt động trên lĩnhvực văn hóa – nghệ thuật với mục đích chủ yếu là quảng bá kinh doanh thôngqua hoạt động văn hóa; văn hóa của các nước khối EU cũng được quảng báđến Việt Nam

Trong giai đoạn này, tuy hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam

và liên minh châu Âu mới manh nha, còn rất sơ khai nhưng những hoạt độngnày đã giới thiệu với nhân dân các nước EU về một nước Việt Nam có nềnvăn hóa độc đáo, mang bản sắc truyền thống hòa cùng dấu ấn hiện đại

Tiểu kết chương 1

Văn hóa là linh hồn của một dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong sựphát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Ngọai giao văn hóa là mộtdạng sức mạnh mềm Khác với giao lưu văn hóa hay văn hóa đối ngoại, ngoạigiao văn hóa là tổng hòa của quan hệ văn hóa đối ngoại mà chính phủ mộtnước theo đuổi, nói cách khác là quan hệ văn hóa chính thức của quốc gia chủquyền với tư cách là chủ thể, thực thi chủ quyền đối ngoại Nội hàm của ngoạigiao văn hóa rất rộng, bao gồm năm yếu tố: mở đường, xúc tác, quảng bá, vậnđộng, tiếp thu

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đa phương theo cả bề rộng

và chiều sâu, ngoại giao văn hóa giữ một vị trí quan trọng trong chính sáchđối ngoại của nhiều quốc gia Ngoại giao văn hóa có thể góp phần tăng cường

an ninh quốc gia theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu một cách bền vững Thôngqua tuyên truyền, quảng bá hình ảnh góp phần làm nâng cao vị thế đất nướctrên trường quốc tế

Trang 38

Việt Nam luôn nhấn mạnh vai trò của văn hóa, được thể hiện bằng cácvăn bản, nghị quyết qua các kỳ đại hội Tiêu biểu là Đề cương văn hóa năm

1943 và Nghị quyết Về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc Đó là những cơ sở hình thành nên quan điểm, chủ trương vềngoại giao văn hóa những giai đoạn tiếp theo

Việt Nam luôn đánh giá cao vị trí chính trị của EU bởi đây không chỉ làmột trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệhàng đầu thế giới mà còn là một cực có ảnh hưởng chi phối trên thế giới, gópphần định hình trật tự thế giới Từ khi xác lập quan hệ ngoại giao, Đảng vàNhà nước Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác lâu dài với EU, trước hết

để Liên minh này hiểu rõ hơn tình hình phát triển trên nhiều lĩnh vực của ViệtNam, qua đó thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam

Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, hoạt động ngoại giao văn hóagiữa Việt Nam và EU mới được tiến hành một cách sơ khai, nhỏ lẻ Tuynhiên, thông qua các hoạt động tuyên truyền, quảng bá; hình ảnh đất nước,con người Việt Nam đã bước đầu được giới thiệu đến EU cũng như các nướcthành viên trong khối

Trang 39

Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TỪ NĂM

2006 ĐẾN NĂM 2014 2.1 Chủ trương và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm

2006 đến năm 2010

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

Từ năm 2006 đến năm 2010 là một thời kỳ trên thế giới diễn ra nhiều

sự kiện, diễn biến sôi động, đa dạng và phức tạp Hòa bình, hợp tác và pháttriển vẫn là xu thế lớn; xu hướng đa cực, đa phương hóa, đa dạng hóa trongquan hệ quốc tế tiếp tục phát triển; phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới

vì hòa bình, độc lập dân tộc, chống chiến tranh, chống đơn phương, áp đặtcường quyền đã giành được những tiến triển mới

Tuy nhiên, về cục bộ, thế giới vẫn chưa ổn định và chứa đựng nhiềuyếu tố bất trắc khó lường Chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôngiáo, khủng bố, phổ biến vũ khí hạt nhân, tranh chấp về biên giới lãnh thổ, tàinguyên vẫn diễn ra phức tạp Một số "điểm nóng" khu vực thậm chí còndiễn biến theo chiều hướng căng thẳng hơn, đặc biệt ở Trung Đông Hợp tác

và đấu tranh trong quan hệ quốc tế đan xen, phức tạp

Trong quá khứ, các nước châu Á không phải là một mục tiêu trongchính sách phát triển của EU Vào những năm 60 của thế kỷ trước, EU chủyếu tập trung vào các nước thuộc địa cũ của mình, sau đó mới dần dần mở racác khu vực khác để hướng tới trao đổi thương mại quốc tế Tuy nhiên với sựphát triển ngày càng nhanh của khu vực châu Á, các nước trên thế giới đã tậptrung hơn vào khu vực này và EU cũng không phải là một ngoại lệ

Chiến lược năm 2001 “Châu Âu và châu Á” đưa ra sáu mục tiêu chohợp tác EU – châu Á Một là, tăng cường quan hệ để đóng góp vào hòa bình

và an ninh Hai là, tăng cường thương mại song phương và đầu tư Ba là, hợp

Trang 40

tác phát triển và xóa nghèo Bốn là, đóng góp vào việc bảo vệ quyền conngười, thúc đẩy dân chủ, quản trị tốt và các quy định của pháp luật Năm là,làm việc theo hướng quản trị toàn cầu và bảo vệ môi trường Sáu là, nâng caonhận thức về nhau.

Đối với Việt Nam, từ khi xác lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam luôncoi EU là một đối tác chiến lược quan trọng Kế hoạch tổng thể quan hệ ViệtNam – EU đến năm 2010 và định hướng năm 2015 đã chỉ rõ điều này Giaiđoạn 2006-2010, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU vẫn tiếp tục pháttriển, nâng tầm cao mới

Với tình hình thế giới và khu vực như vậy, hoạt động đối ngoại củaĐảng giai đoạn này được triển khai trong một môi trường quốc tế biến đổinhanh chóng, thuận lợi và thách thức đan xen Có thể nói chính sách đối ngoạicủa Đảng và Nhà nước Việt Nam là sự kế tục tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch

Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao Việt Nam, là sự tiếp tục đường lốiđối ngoại trong thời kỳ đổi mới với điểm tựa quan trọng là văn hóa

Đại hội lần thứ X của Đảng đánh dấu mốc quan trọng của chặng đường

20 năm thực hiện công cuộc Đổi mới thành công, đã xác định phương hướng,nhiệm vụ phát triển đất nước đến năm 2010 và 2020 Nhiệm vụ đặt ra choNgoại giao Việt Nam hết sức nặng nề, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đãchỉ rõ là: giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợicho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa-hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần vàocuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dânchủ và tiến bộ xã hội

Trên cơ sở đánh giá sâu sắc những cơ hội và thách thức đối với ViệtNam, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nhấn mạnh cần tiếp tục đổi mớimạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w