Cùng chung sức với quân dân miền Bắc, nhân dân Hà Tây hăng hái thi đua sản xuất, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhằm xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===================
GIÁP THỊ THUỲ
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG
TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===================
GIÁP THỊ THUỲ
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình này là của riêng tôi Các số liệu nêu trongluận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và chính xác Những kết luận khoa học củaluận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
GIÁP THỊ THUỲ
Trang 4Xin trân trọng cảm ơn các cơ quan, đơn vị đã giúp đỡ cho tôi khai thác,mượn tài liệu để tôi hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp và gia đình đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi nhất để tôi hoàn thành nhiệm vụ
Học Viên
GIÁP THỊ THUỲ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1968 9
1.1 Chủ trương của Đảng bộ Hà Tây 9
1.1.1 Những căn cứ xác định chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây 9
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây 24
1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 28
1.2.1 Xây dựng tiềm lực hậu phương về mọi mặt và bảo vệ hậu phương 28
1.2.2 Công tác giao thông vận tải 30
1.2.3 Tích cực chi viện cho tiền tuyến 35
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1975 40
2.1 Hoàn cảnh lịch sử mới và nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Hà Tây 40
2.1.1 Hà Tây bước vào giai đoạn mới 40
2.1.2 Chủ trương của Trung ương Đảng và của Đảng bộ tỉnh Hà Tây 42
2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 49
2.2.1 Xây dựng tiềm lực hậu phương về mọi mặt và bảo vệ hậu phương 49
2.2.2 Công tác giao thông vận tải 57
2.2.3 Tích cực chi viện cho tiền tuyến 58
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 60
3.1 Nhận xét 60
Trang 63.1.1 Ưu điểm 60
3.1.2 Hạn chế 71
3.2 Một số kinh nghiệm 70
3.2.1 Nắm vững đường lối chiến tranh nhân dân, dựa vào dân, xây dựng các đoàn thể quần chúng và phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân để xây dựng, bảo vệ hậu phương và chi viện tiền tuyến 70
3.2.2 Đảng bộ đã xác định đúng thời cơ, chủ động chiến đấu và có những phương án thích hợp để có được thắng lợi 72
3.2.3 Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy chính quyền và đội ngũ cán bộ vững mạnh đồng thời coi trọng vai trò của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân 74
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 92
Trang 7CTPH : Chiến tranh phá hoại
ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt NamGTVT : Giao thông vận tải
PKND : Phòng không nhân dân
VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chiến tranh, bên nào có sức mạnh áp đảo thì bên đó giành thắnglợi Muốn có sức mạnh thì ngoài yếu tố binh khí, kĩ thuật, tư tưởng, con ngườicòn phải kể đến một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng là hậu phương củacuộc chiến tranh Sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến là một yếu tốthường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, vì hậu phương là nơixây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh về cả mặt chính trị, kinh tế, quân
sự, văn hoá và khoa học kĩ thuật, là nơi chi viện nhân lực, vật lực, là chỗ dựatinh thần cho tiền tuyến
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã chấm dứt ách thống trị tànbạo hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở Việt Nam Để làmnên chiến tích vang dội ấy không thể không nói tới vai trò của hậu phươngmiền Bắc đã hết lòng, hết sức chi viện cho tiền tuyến miền Nam Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ IV ĐLĐVN chỉ rõ: “Không thể nào có sự thắng lợi của
sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hộichủ nghĩa, suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụchiến lược” [26, tr.490]
Hà Tây là tỉnh có vị trí quan trọng, là hậu phương trực tiếp của Thủ đô, là
áo giáp bảo vệ suốt từ phía Nam đến Tây bắc của Hà Nội, đồng thời, nơi đâycũng là cửa ngõ nối Thủ đô Hà Nội với vùng núi Tây Bắc Ngày 21 - 4 năm
1965, BTV Quốc hội đã phê chuẩn quyết định số 103-NQ/TVQH Về việc hợpnhất Hà Đông - Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây Ngay sau khi hợp nhất, Tỉnh ủy
đã nắm rõ vai trò của hậu phương và đưa ra nhiệm vụ: tiếp tục cải tạo và pháttriển nông nghiệp, trên cơ sở không ngừng phát triển các ngành kinh tế khácnhằm từng bước nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốcphòng, sẵn sàng chi viện cho cách mạng Việt Nam Song song với nhiệm vụ
đó là việc thực hiện tốt khẩu hiệu “Tiền tuyến gọi Hà Tây sẵn sàng, tiền tuyếncần bao nhiêu, Hà Tây có bấy nhiêu”, bên cạnh đó, còn có các
Trang 9phong trào “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã diễn
ra sôi nổi ở khắp các địa phương trong tỉnh Đã có biết bao nhiêu chàng trai,
cô gái Hà Tây đã sẵn sàng dâng hiến tuổi thanh xuân của mình, ngày đêm nốitiếp trong đoàn quân “Nam tiến” đi “chia lửa cùng miền Nam” ruột thịt Họ
hy sinh tình yêu đôi lứa và khát vọng của riêng mình vì một tình yêu vĩ đạihơn - tình yêu quê hương đất nước Hàng ngàn người m , người vợ gạt nướcmắt tiễn chồng con ra trận dẫu biết ngày trở về chỉ là niềm hy vọng mongmanh Họ là những đóa hoa bất tử đ p mãi trong lòng dân tộc Việt Nam
Do vị trí chiến lược trọng yếu và điều kiện tự nhiên riêng của mình, HàTây được xác định là một căn cứ, hậu phương vững chắc trong cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước Cùng chung sức với quân dân miền Bắc, nhân dân
Hà Tây hăng hái thi đua sản xuất, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của
Mỹ, nhằm xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa vữngchắc và lớn mạnh.Chi viện to lớn về người và của cho tiền tuyến miềnNam,góp phần cùng quân dân miền Nam đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược Do
đó đề tài sẽ giúp lý giải một cách khoa học rằng, tại sao phải đối đầu với đếquốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quốc phòng lớn mạnh, quân đội, vũ khí hiện đạinhưng dân tộc ta vẫn giành được thắng lợi? Trong những nguyên nhân làmnên thắng lợi này có vai trò quyết định của hậu phương miền Bắc nói chung,hậu phương Hà Tây nói riêng
Cho đến nay chưa có công trình nào mang tính chất chuyên khảo về hậuphương Hà Tây dưới góc độ lịch sử Đảng Rút ra bài học kinh nghiệm chocông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay khi Đảng và Nhà nước đãnhấn mạnh đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo
thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975” làm đề tài
Thạc sỹ lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 102. Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, số lượng công trình nghiên cứu về việc thực hiện nhiệm vụhậu phương của miền Bắc nói chung và hậu phương Hà Tây nói riêng rấtphong phú và đa dạng, mỗi công trình lại có mục đích, góc độ nghiên cứukhác nhau nhưng hầu như công trình nào cũng ít nhiều đề cập đến hậuphương, trong đó có vấn đề hậu phương Hà Tây Mối quan hệ khăng khít giữahậu phương và tiền tuyến được thể hiện rõ nét bằng những thắng lợi vẻ vangcủa nhân dân Việt Nam
Trên cơ sở các tài liệu đề cập đến Lịch sử Việt Nam giai đoạn
(1954-1975) gián tiếp có liên quan đến đề tài như: “Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 thắng lợi và bài học” của Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh
trực thuộc Bộ chính trị (2000), hay các tập sách tổng kết lại lịch sử cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn dân tộc do Bộ quốc phòng - Viện
lịch sử quân sự biên soạn như: “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước
1954 - 1975” đã được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản.
Những sách trên, đã khái quát một cách toàn diện cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước trên phạm vi cả nước, khắc họa hậu phương miền Bắc trong nhữngnăm tháng chống Mỹ, là nguồn tài liệu quý giá cho tác giả trong quá trìnhnghiên cứu và thực hiện luận văn
Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị có cuốn “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - thắng lợi và bài học” xuất bản
năm 1995 ;trình bày khái quát những sự kiện và tiến trình lịch sử chủ yếu;những nhận định, đánh giá về sự lãnh đạo của Đảng đối với chiến tranh cáchmạng Việt Nam; đúc kết những bài học cơ bản trong sự lãnh đạo của Đảng và
Hồ Chí Minh.Tác phẩm có đề cập đến vấn đề hậu phương nói chung và hậuphương miền Bắc XHCN nói riêng dưới góc độ bài học kinh nghiệm;đồngthời cho rằng hậu phương là một trong những nội dung quan trọng nhất tronglãnh đạo chiến tranh cách mạng của Đảng.Tuy nhiên, vấn đề xây dựng căn cứ
Trang 11địa, thực hiện nhiệm vụ hậu phương trong đó có hậu phương miền Bắc XHCN
ở tác phẩm này chỉ trình bày mang tính khái lược, tổng quát
Liên quan trực tiếp đến vấn đề hậu phương, cuốn sách : “Hậu phươnglớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)” củaGS.TS Phan Ngọc Liên, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội 2005, đã nghiêncứu về mối quan hệ sâu sắc, bền chặt giữa nhiệm vụ cách mạng hai miền Nam
- Bắc, trong đó từng bài viết đề cập đến những đóng góp cụ thể của một số địaphương (Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nam) đối với tiền tuyến lớn miền Nam ởnhiều lĩnh vực khác nhau Cũng đề cập đến hậu phương trong chiến tranh
cách mạng Việt Nam, trong cuốn “Một số chuyên đề Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, tập I, do Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản năm 2007 có chuyên đề
“Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ
1945 - 1975” của PGS.TS Ngô Đăng Tri Chuyên đề có ba nội dung chính:
Vai trò của hậu phương đối với tiền tuyến trong chiến tranh hiện đại; Đảnglãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1945 -1975; những nhận xét chung và kinh nghiệm chủ yếu về quá trình Đảng lãnhđạo xây dựng và bảo vệ hậu phương
Hai tác giả V.I.Lênin và J.Stalin có tác có nội dung xây dựng hậu phương
và nghệ thuật chiến tranh “Tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng” “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh, phải có
một hậu phương được tổ chức một cách vững chắc” [83, tr.23], đây là nộidung chủ đạo, được Đảng quán triệt và vận dụng vào xây dựng miền BắcXHCN trở thành hậu phương lớn, tiền đề cho cách mạng miền Nam thànhcông
Ngoài một số tác phẩm, công trình trên, còn có một số bài viết liên quan
đến vấn đề hậu phương miền Bắc như: “Miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ những năm 1965 -1972” của Nguyễn Minh Long;
“Tác động quốc tế đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam” của PGS.TS Trình Mưu; “Vài nét về hậu phương miền
Trang 12Bắc với chiến thắng Buôn Ma Thuột và chiến dịch Tây Nguyên trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975” của Nguyễn Hữu Đạo Tác giả Hồ Khang với bài
viết “Hậu phương miền Bắc chuyển nhanh từ thời bình sang thời chiến
- một thành công trong chỉ đạo chiến lược của Đảng thời kỳ kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước”, Tạp chí Lịch sử Đảng, năm 1998.
Trong các công trình nêu trên, bài viết của PGS.TS Hồ Khang và củaNguyễn Minh Long đã phân tích khá toàn diện về hậu phương miền Bắc tronghai cuộc chống CTPH cũng như trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài báo không thể chuyển tải đầy
đủ và cụ thể chủ trương, đường lối cũng như quá trình chỉ đạo quân dân miềnBắc xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh, vai trò hậu phương miền Bắc tronghai cuộc kháng chiến CTPH (1965 -1972)
Đặc biệt, người viết còn tham khảo một số tài liệu có liên quan trực tiếp đến
đề tài như cuốn “Hà Tây - lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ 1945- 1975” của Tỉnh đội Hà Tây (1994) và cuốn: “Hà Tây chống Mỹ cứu
nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội” của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tây Tronghai cuốn này, các tác giả liệt kê xen kẽ các sự kiện, các cuộc chiến đấu của bộđội địa phương, chủ lực và dân quân tự vệ trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp
và Mỹ ở địa phương…Tuy nhiên, các tác giả có phần nghiêng về trình bày thànhtích các trận đánh hơn là dựng lại một bức tranh toàn diện lịch sử của cuộc chiến
đấu Năm 1992, Tỉnh ủy Hà Tây xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tây” cuốn sách cũng thiên về việc ghi lại những chặng đường lịch sử vẻ vang của
Đảng bộ Hà Tây mà ít nêu được mối quan hệ giữa hậu phương Hà Tây đối vớitiền tuyến miền Nam Tuy vậy, các cuốn sách trên cũng cung cấp nguồn tư liệuphong phú, đáng tin cậy về các sự kiện, con số cụ thể để người viết sử dụngnghiên cứu luận văn của mình, ngoài những công trình kể trên hầu hết cáchuyện, các xã cũng đã viết lịch sử Đảng bộ của mình
Bên cạnh đó còn có cuốn Bác Hồ với Hà Tây do Tỉnh ủy Hà Tây biên soạn
và xuất bản góp phần hiểu sâu sắc hơn về sự quan tâm của Bác Hồ với Hà
Trang 13Tây, Hà Tây với Bác Hồ Hy vọng rằng, từ những lời căn dặn của Chủ tịch HồChí Minh dành cho Đảng bộ và nhân dân Hà Tây nói riêng, cho đồng bào vàchiến sĩ cả nước nói chung, một Thủ đô Hà Nội mới sẽ được xây dựng và ngàycàng phát triển, xứng đáng với vị thế một nước Việt Nam trên đường hội nhập.Ngoài ra, còn có những luận văn, luận án liên quan đến vấn đề hậuphương của các địa phương khác trong cả nước, những bản hồi ức và bản viếttay, những ghi nhớ của những người trong cuộc tuy tản mạn nhưng có giá trịtham khảo góp thêm nhiều sự kiện làm cho lịch sử sinh động hơn, tính nhândân rõ nét hơn.
Nhìn chung, những tác phẩm ở những khía cạnh khác nhau đã đề cập đếntầm quan trọng của việc xây dựng hậu phương cho các cuộc kháng chiến, đềcập đến các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng trong việc xây dựngcác căn cứ địa hậu phương cho cuộc chiến tranh cách mạng Các công trìnhtiêu biểu kể trên, có tác dụng gợi mở hướng nghiên cứu và là cơ sở giúp ngườiviết hoàn thành luận văn của mình Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc nhữngthành quả nghiên cứu của các bậc thầy đi trước, người viết đã định hướng nênnội dung luận văn và rút ra những đặc điểm riêng biệt của hậu phương Hà Tâytrên bình diện chung của hậu phương lớn miền Bắc Tuy nhiên, dưới góc độLịch sử Đảng thì chưa có công trình nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Hà Tây trong công tác thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965đến năm 1975 Chính vì vậy, đề tài luận văn tập trung đi sâu nghiên cứunhững chủ trương, chính sách chung của Đảng cũng như của Đảng bộ Hà Tâytrong việc thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975 và quátrình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh, từ đó đưa ra những nhận xét cũngnhư rút ra những kinh nghiệm quý báu cho những giai đoạn tiếp theo
Trang 143. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Góp phần tái hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Tây và cuộc chiến đấuanh dũng của quân và dân Hà Tây trong thực hiện nhiệm vụ hậu phương từnăm 1965 đến năm 1975, qua đó khẳng định thành tựu, nêu lên hạn chế và rút
ra những kinh nghiệm lịch sử
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ Hà Tây về thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975
- Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Tây với việc thực hiện nhiệm
vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975
- Rút ra những ưu điểm, hạn chế và đưa ra những kinh nghiệm có giá trị thực tiễn và lịch sử
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử, luận văn được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp lịch sử,phương pháp lôgíc và các phương pháp cơ bản khác như phân tích, tổng hợp,đối chiếu, thống kê, so sánh
Luận văn cũng đi sâu, làm rõ những sự kiện chủ yếu, quan trọng, phảnánh quá trình thực hiện nhiệm vụ hậu phương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây dướitác động các chủ trương của Đảng, các chính sách của Nhà nước bằng phươngpháp lịch sử (phương pháp đồng đại, phương pháp lịch đại), phương phápphân tích, đối chiếu, thống kê
Để luận giải và rút ra những kinh nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận vàthực tiễn, luận văn sử dụng các phương pháp lôgíc - lịch sử, so sánh và hệthống hóa
Một cách tổng quát, luận văn được thực hiện chủ yếu bằng phương phápcủa khoa học lịch sử dưới góc độ Lịch sử Đảng, ngoài ra, có kết hợp với cácphương pháp liên ngành khác Các phương pháp trên được vận dụng phù hợpvới từng nội dung của luận văn
Trang 155. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương của Đảng bộtỉnh Hà Tây từ năm 1965 đến năm 1975
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Công tác thực hiện nhiệm vụ hậu phương trong kháng chiến chống Mỹđược triển khai trên phạm vi toàn miền Bắc Đề tài không nghiên cứu trênphạm vi rộng mà chỉ đi sâu nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hà Tây
- Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương trongsuốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu của đềtài được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1975, đây làgiai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược được đẩy lên đến đỉnh cao
6 Đóng góp của đề tài
- Cung cấp những tư liệu lịch sử về thời kỳ thực hiện nhiệm vụ jhậuphương, chi viện tiền tuyến của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ xâm lược từ năm 1965 đến năm 1975
- Những thắng lợi và những thành tựu của Đảng bộ Hà Tây thời kỳ này
sẽ là tài liệu giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ địa phương
- Những kinh nghiệm được rút ra có thể được vận dụng vào công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước nói chung và Hà Tây nói riêng
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đềtài được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu
phương từ năm 1965 đến năm 1968
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu
phương từ năm 1969 đến năm 1975
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm.
Trang 16Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1968
1.1 Chủ trương của Đảng bộ Hà Tây
1.1.1 Những căn cứ xác định chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây
1.1.1.1 Khái quát chung về tỉnh Hà Tây
Ngày 21 - 4 - 1965, BTV Quốc hội đã phê chuẩn quyết định số NQ/TVQH Về việc hợp nhất Hà Đông - Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây.Hà Tâynằm ở khu vực trung tâm của vùng Ðồng bằng Bắc Bộ Phía Bắc giáp sôngHồng, ngăn cách với tỉnh Vĩnh Phúc Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Tâygiáp các tỉnh Phú Thọ và Hoà Bình, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên, có diệntích 2.191,9km2 với số dân là 2.543,5 nghìn người (2006), mật độ 1.157người/km2 (2006) gồm các dân tộc Kinh, Mường, Dao, Tày cùng sinh sống[77, tr 4]
103-Địa hình: tuy là tỉnh đồng bằng nhưng địa hình Hà Tây khá đa dạng, bao
gồm cả đồng bằng và đồi núi Nhìn chung, địa hình thấp dần từ Tây Bắcxuống Đông Nam Vùng núi đồi phía Tây, có độ cao tuyệt đối 300m trở lên,diện tích 704km2, chiếm 1/3 diện tích toàn tỉnh, địa hình dốc trên 250 Caonhất là đỉnh núi Ba Vì 1.281m, núi Gia Dê thuộc Ba Vì có độ cao 707m, núiThiên Trù (Mỹ Đức cao 378 m, núi Bộc (Chương Mỹ) cao 245m, núi Thầy(Quốc Oai) cao 105m Các núi đá vôi tập trung ở phía Tây Nam tỉnh, địa hình
bị chia cắt rất phức tạp, có nhiều hang động lớn Vùng đồi gò có diện tích trên
530 km2, chủ yếu là đồi thấp (độ cao trung bình 100 m) xen lẫn các thunglũng Vùng đồng bằng phía Đông có diện tích 1.444 km2 chiếm 2/3 diện tíchtoàn tỉnh Độ cao trung bình từ 5 - 7 m so với mặt biển Địa hình vùng đồngbằng tương đối bằng phẳng, mang đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ vớinhiều ô trũng đê viền Đất đai màu mỡ, có điều kiện thâm canh cây lúa nướccho năng suất cao, phát triển rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày [77, tr 5]
Trang 17Đất:Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 2.191,9 km2 Trong đó, đấtnông nghiệp chiếm 55,7%, đất lâm nghiệp 6,88%, đất chuyên dùng 18,14%,đất ở đô thị 0,29%, đất ở nông thôn 5,59%, đất chưa sử dụng 13,38% Đất đai
Hà Tây có độ phì cao, với nhiều loại địa hình nên có thể bố trí được nhiều loạicây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây thực phẩm, cây côngnghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, cây ăn quả, trồng rừng Vùng đồng bằng thuận lợicho phát triển cây lương thực, rau đậu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôilợn, vịt, thuỷ đặc sản Vùng đồi gò thuận lợi cho trồng cây công nghiệp dài
ngày (cà phê, trẩu, sở, thông) cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc Rừng:Rừng
Hà Tây không lớn, nhưng rừng tự nhiên (vùng Ba Vì) có nhiều chủng loạithực vật phong phú, đa dạng, quí hiếm Hiện nay, đã xác định được 872 loàithực vật bậc cao thuộc 427 chi nằm trong 90 họ Hà Tây có 2 khu rừng tựnhiên: rừng Quốc gia Ba Vì có diện tích 7.400 ha với chủng loại thực vậtphong phú và quí hiếm, 872 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi, trong 60 họ
đã được xác định Khu vực rừng tự nhiên thuộc huyện Mỹ Đức (vùng HươngSơn) cũng bao gồm nhiều chủng loại động, thực vật quý, hiếm [77, tr 6].Như vậy, với sự phân bố về địa lý, Hà Tây trở thành địa bàn có tính chất
cơ động, có vị trí chiến lược về quân sự, là vành đai, áo giáp bảo vệ Thủ đôtrong những năm tháng chiến tranh ác liệt
Ngoài những mặt thuận lợi, trong quá trình phát triển Hà Tây cũng gặpmột số khó khăn, phức tạp do địa hình phân bố không bằng phẳng, thấp dần từTây sang Đông và từ Bắc xuống Nam, do đó về mùa mưa thường bị úng lụt,nhất là ở các huyện phía Nam của tỉnh Do phức tạp về địa hình nên trong tỉnh
có nhiều vùng kinh tế, văn hóa khác nhau, mặt khác, sự phân bố dân cư khôngđồng đều và tỷ lệ gia tăng nhanh nên diện tích đất canh tác bị thu h p, gâykhông ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế
Giao thông: Với lợi thế nằm ở khu trung tâm của vùng đồng bằng Bắc
Bộ, liền kề thủ đô Hà Nội, Hà Tây có hệ thống hạ tầng giao thông rất pháttriển Quốc lộ 1 từ Hà Nội qua Hà Tây chạy dài tới thành phố Hồ Chí Minh
Trang 18Quốc lộ 6 qua Hòa Bình nối liền với Tây Bắc Quốc lộ 32 qua Vĩnh Phúc nối
Hà Tây với Việt Bắc Quốc lộ 21B từ thành phố Hà Đông đi các huyện phíaNam của tỉnh, qua Hà Nam Đường cao tốc Láng - Hoà Lạc là tuyến giaothông huyế t mạch nối Hà Nội với sân bay Hoà Lạc ở huyện Thạch Thất củatỉnh Hà Tây Ngoài đường bộ, hệ thống giao thông đường thuỷ của Hà Tâycũng khá thuận tiện Sông Hồng chảy ở phía Đông của tỉnh, theo chiều BắcNam Sông Đà chảy ở vùng Tây Bắc của huyện Ba Vì Ngoài ra, còn có 4 consông nhỏ chạy trong nội tỉnh tạo thành hệ thống giao thông thủy bộ liên hoàn
Văn hoá - xã hội: Là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, Hà Tây có
một kho tàng văn học dân gian phong phú: ca dao, dân ca, tục ngữ, truyện thơ,truyện cổ tích, truyện cười có giá trị văn học Người Kinh có hát chèo, háttrống quân, hát cò lả, hát cửa đình, múa rối nước Người Mường có hát xécbùa, hát ví, hát đúm, hát ru, hát đồng dao Nhạc cụ có trống kèn Cồngchiêng là một loại hình âm nhạc độc đáo của dân tộc Mường Người Dao cómúa rùa, múa chung, múa chim Nơi là vùng đất sản sinh ra nhiều danh nhândân tộc tiêu biểu như Phùng Hưng, Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú.Đồng thời là mảnh đất bảo tồn nhiều di sản văn hóa dân tộc tiêu biểu là hàngtrăm đình chùa, miếu mạo có giá trị về kiến trúc điêu khắc, nghệ thuật tôngiáo
Hà Tây có rất nhiều Lễ hội mang đặc trưng của Lễ hội truyền thống đồngbằng Bắc bộ Việt Nam, mỗi làng, mỗi vùng đều có Lễ hội riêng Mỗi Lễ hộinhư một bảo tàng văn hoá sống động thể hiện rõ những nét đặc trưng văn hoádân tộc Du khách sẽ bắt gặp những nghi lễ tôn thờ các vị thần linh của cư dânnông nghiệp, để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu hay để tônvinh, tưởng nhớ những vị anh hùng, những người có công lao với đất nước,với làng xã được tôn làm phúc thần bảo hộ Lễ hội cũng là dịp để du kháchtham dự vào những trò chơi dân gian như đấu vật, đánh cờ người, thổi cơmthi, kéo co, hội thả diều, hội chọi gà hay xem các loại hình nghệ thuật dângian truyền thống như hát dô, hát chèo tầu, múa rối nước, múa rối cạn
Trang 19Kinh tế: Hà Tây liền kề Thủ đô Hà Nội, có điều kiện tự nhiên và vị trí địa
lý thuận lợi, đất đai phong phú, cảnh quan đ p và có điều kiện phát triển để trởthành một khu vực vệ tinh phát triển trên cả 3 lĩnh vực: Nông nghiệp, côngnghiệp và du lịch dịch vụ
Trong những năm qua, kinh tế Hà Tây có những bước tiến đáng khích lệ
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỉ trọng công nghiệp
từ 34,59% (năm 2002) lên 37,1% (năm 2004) và giảm dần tỉ trọng nôngnghiệp từ 35,9% xuống còn 33,6%; dịch vụ giữ mức 29,5% Cơ cấu lao độngcũng có sự chuyển dịch quan trọng, từ 70% năm 2001, giảm xuống còn 65,8%năm 2004 Trong nông nghiệp, tỉ trọng chăn nuôi tăng lên, cơ cấu mùa vụ có
sự thay đổi lớn với việc đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính Trong côngnghiệp, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có tốc độ tăng 20%/năm, kinh tếNhà nước tăng 27%/năm [77, tr 12]
Tỉnh Hà Tây phấn đấu kết hợp hài hoà các nguồn lực bên trong và bênngoài, nhất là vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ và nguyên liệu, phát triển mạnh
và đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho quá trình trao đổi hànghoá và phát triển các loại hình dịch vụ
Du lịch:Hà Tây là vùng đất có cảnh quan thiên nhiên tươi đ p, gắn liền
với các dấu tích về lịch sử phát triển của dân tộc qua đấu tranh dựng nước vàgiữ nước như vùng núi cao Ba Vì với huyền thoại Sơn Tinh - Thuỷ Tinh nay
là Rừng Quốc gia Ba Vì, dưới chân núi có nhiều cảnh đ p, xây dựng các điểm
du lịch: Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Tiên, Thác Mơ, Suối Hai, Đồng Mô…Dãy núi đá vôi trùng điệp phía Tây Nam tỉnh (Quốc Oai, Chương Mỹ, MỹĐức) có nhiều hang động độc đáo, kỳ thú, tiêu biểu là động Hương Tích tạonên thắng cảnh Hương Sơn nổi tiếng trong nước và thế giới, hàng năm thu húthàng vạn khách thập phương đến du lịch và trẩy hội
Nơi đây còn có nhiều đình chùa có giá trị cao về mặt kiến trúc, điêu khắcnghệ thuật và tôn giáo: chùa Hương trong động Hương Tích nổi tiếng vớidanh xưng Nam thiên đệ nhất động, chùa Đậu (Thường Tín), chùa Tây
Trang 20Phương (Thạch Thất) có kiến trúc độc đáo nổi tiếng với 80 vị La Hán, chùaThầy (Quốc Oai) là nơi tu hành của cao tăng Từ Đạo Hạnh Cùng với hàngtrăm di tích khác đều đã được xếp hạng quốc gia như: chùa Bối Khê, chùaTrăm Gian, chùa Trầm, đền Và, chùa Mía, lăng Ngô Quyền, đền Nguyễn Trãi,thành cổ Sơn Tây…
Tỉnh có 3 cụm du lịch: cụm Sơn Tây - Ba Vì là du lịch văn hoá sinh thái,nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, tham quan di tích lịch sử và văn hoá dân gian,nghỉ cuối tuần Cụm chùa Hương là du lịch tín ngưỡng, tham quan di tích lịch
sử, cảnh quan thiên nhiên, du lịch hang động Cụm Hà Đông và phụ cận là dulịch xanh, du lịch văn hoá trong các làng nghề và làng nông nghiệp truyềnthống, du lịch thương mại
1.1.1.2 Truyền thống yêu nước và phong trào cách mạng ở Hà Tây
Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc Việt Nam,nhân dân Hà Tây luôn luôn biểu hiện sáng ngời truyền thống yêu nước bảo vệ
tổ quốc thân yêu của mình qua các chặng đường lịch sử
Kể từ cuộc xâm lược của Triệu Ðà (năm 179 trước công nguyên) đếnchiến thắng Bạch Ðằng của Ngô Quyền (năm 938) vừa đúng 1117 năm Hơnmột thiên niên kỷ ấy nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ
mà sử cũ thường gọi là thời kỳ Bắc thuộc, nhưng đâu chỉ có Bắc thuộc, liêntục hơn một thiên niên kỷ ấy nhân dân ta nói chung, Hà Tây nói riêng khôngngừng vùng dậy đấu tranh Ðã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ từ mọimiền đất nước chống xâm lược và đô hộ trong đó có 6 cuộc khởi nghĩa giànhđược thắng lợi đưa đến sự thành lập chính quyền độc lập tự chủ trong mộtthời gian Ðiểm nổi bật biểu hiện sáng ngời truyền thống yêu nước của nhândân Hà Tây là trong 6 cuộc khởi nghĩa thành công của cả nước thì có 3 cuộc
đã bùng lên đầu tiên trên quê hương Hà Tây dưới sự lãnh đạo của nhữngngười con ưu tú của nhân dân xứ này Những nghĩa quân đầu tiên tham giavào 3 cuộc khởi nghĩa đó là người dân Hà Tây
Trang 21Ðó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 đưa đến sự ra đời củanhà nước độc lập tự chủ trong những năm 40- 43; Cuộc khởi nghĩa của anh
em Phùng Hưng (766 - 779) với sự thành lập nền tự chủ cho đất nước trongnhững năm 783- 791; Ngô Quyền và Chiến thắng Bạch Ðằng, đánh bại quânxâm lược Nam Hán năm 938, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyênhoàn toàn độc lập tự chủ dưới thời đại Ðại Việt (từ thế kỷ X đến nửa đầu thế
Mỗi lần chống xâm lược, truyền thống yêu nước của nhân dân Hà Tây lạicàng ngời sáng Biết bao tấm gương xả thân vì độc lập tự do của nhân dân HàTây trong kỷ nguyên Ðại Việt đã trở thành biểu tượng cho truyền thống yêunước Việt Nam Nguyễn Trãi đã “thề không chung sống với giặc Minh”, chịuđựng mười năm nằm gai nếm mật ở thành Ðông Quan, viết nên sách “BìnhNgô” dâng lên Lê Lợi Bình Ngô Sách trở thành tư tưởng và đường lối chiếnlược đưa đến thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn Bản thân Nguyễn Trãi đã cócống hiến lớn lao có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Cùngvới Nguyễn Trãi còn có Bùi Quốc Hưng (huyện Chương Ðức), Lý Tử Tấn(huyện Thường Tín) là những tướng soái trọng yếu của Bộ tham mưu nghĩaquân Lam Sơn
Trang 22Còn nhiều gương mặt khác biểu hiện tinh thần yêu nước, ý thức dân tộcsâu sắc của con người Hà Tây trong lịch sử Ðại Việt như Giang Văn Minh(huyện Ba Vì) đỗ thám hoa năm 1628, đi sứ sang Trung Quốc Ðể bảo vệquốc thể, bảo vệ thanh danh của dân tộc mà ông sẵn sàng hy sinh dưới lưỡiđao cắt lưỡi của tên trùm phong kiến nhà Minh Ngô Thì Nhậm (Thanh Oai)tiêu biểu cho lòng yêu nước của người trí thức đất Việt ở thế kỷ XVIII Ôngcùng với đô đốc Ðặng Tiến Ðông (huyện Chương Mỹ) đã góp phần quyếtđịnh thắng lợi của cuộc kháng chiến đánh bại 29 vạn quân Thanh xâm lượcvào mùa xuân Kỷ văn phái ; còn viết chung cuốn tiểu thuyết lịch sử quantrọng và đặc sắc là “Hoàng Lê nhất thống chí ”…
Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước bốn nghìn năm của dân tộc, biếtbao thế hệ nhân dân Hà Tây đã thể hiện sáng ngời truyền thống yêu nước thiếttha, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của đất nước Truyền thống anh hùng
đó đang được những thế hệ người Hà Tây hôm nay kế thừa, phát huy trongcông cuộc xây dựng quê hương đất nước xã hội chủ nghĩa
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,Hà Ðông - SơnTây (1965 hợp nhất thành tỉnh Hà Tây) là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, là vùngđất trù phú có tiềm năng kinh tế dồi dào và vị trí quân sự quan trọng Trongsuốt những năm kháng chiến, Pháp và Mỹ đã cử những tên tay sai đắc lực vàxảo quyệt cai trị nơi đây vốn được coi như tai mắt - áo giáp cho cơ quan đầunão của chúng ở thủ đô Vì vậy, Hà Ðông, Sơn Tây trở thành mảnh đất tốt nẩymầm phong trào cách mạng
1.1.1.3 Khái quát tình hình thực hiện nhiệm vụ hậu phương trước năm 1965 của tỉnh Hà Tây
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miềnBắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn đặt dưới sự kiểm soát của đếquốc Mỹ, nhân dân và các lực lượng vũ trang hai tỉnh Hà Đông - Sơn Tâyphấn khởi bắt tay vào xây dựng lại địa phương của mình, bước vào thời kỳcách mạng XHCN theo quyết tâm chiến lược chung của Đảng “… miền Bắc
Trang 23là chỗ đứng của ta Bất kể tình hình nào, miền Bắc cũng phải được củng cố”[52, tr.67] Là một tỉnh có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế: mạng lướigiao thông dày đặc, diện tích đất canh tác rộng, nguồn nhân lực dồi dào vàcòn là cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội, Hà Tây hội tụ những yếu tố để phát triển
và xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, sau chiến tranh, hậu quả để lại cònhết sức nặng nề Trên 40.000 mẫu ruộng bị hoang hóa lâu ngày, nhất là ở khucháy Ứng Hòa, trung tâm huyện Phú Xuyên, vành đai trắng dọc đường 21A từSơn Tây xuống Mỹ Đức, sân bay dày đặc dây thép gai, cọc sắt, mìn các loại…Các tuyến đê ven Sông Hồng, Sông Đà, Sông Đáy nhiều đoạn bị sụt lởnghiêm trọng Nhiều nơi dân cư bị mất nhà cửa, tài sản lương thực bị thiếuthốn, đàn gia súc, sức kéo của nhân dân phục vụ sản xuất thiếu nghiêm trọng.Cùng với đó, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây… có nhiều cơ sở sản xuất côngnghiệp, thủ công nghiệp thiếu nguyên liệu, máy móc thiết bị bị địch tháo gỡ,hàng vạn người làm nghề thủ công, buôn bán gặp nhiều khó khăn Các tệ nạn
xã hội cũ, nhất là các ấn phẩm văn hóa phản động chưa được xóa bỏ… điềunày gây không ít khó khăn cho Đảng bộ hai tỉnh Hà Đông - Sơn Tây trong quátrình khôi phục, phát triển kinh tế từ đó thực hiện nhiệm vụ với hậu phươnglớn miền Nam
Nắm bắt được tình hình đó, cùng với nhân dân miền Bắc, quân và dânSơn Tây - Hà Đông bước vào thời kỳ mới, quán triệt Nghị quyết của BộChính trị, BTV Tỉnh ủy hai tỉnh Hà Đông - Sơn Tây căn cứ vào hoàn cảnh cụthể của từng địa phương đề ra chủ trương, nhiệm vụ cấp bách lúc này là tiếpquản vùng giải phóng, nhanh chóng ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự
an toàn xã hội, phục hồi kinh tế Đồng thời chống địch dụ dỗ, cưỡng ép đồngbào ta di cư vào Nam và chuẩn bị đón tiếp hàng vạn đồng bào miền Nam ratập kết Nhiệm vụ này đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ phía quân và dân hai tỉnh thìmới có thể sớm ổn định tình hình
Đầu năm 1958, tình hình cả nước có những biến chuyển mới Trong lúcnhân dân miền Bắc tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh
Trang 24tế, văn hóa Ở miền Nam, chính quyền Mỹ - Diệm điên cuồng mở chiến dịch “tốcộng - diệt cộng”, nhiều vụ thảm sát đã xảy ra Những hành động dã man đó của
đế quốc Mỹ đã gây căm phẫn trong nhân dân, nhưng không vì thế mà người dânmất đi tinh thần, ý chí đấu tranh mà còn tiếp thêm cho họ sức mạnh, sự dũng cảm
để chiến đấu Quân dân miền Bắc nói chung và quân dân Hà Đông - Sơn Tây nóiriêng, đã biến đau thương thành hành động, sẵn sàng làm mọi việc vì miền Namruột thịt, trong đó có tình kết nghĩa “Hà Đông - Cần Thơ”, “Sơn Tây - TâyNinh” Các cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng hết lòng quantâm, giúp đỡ các anh chị em miền Nam ra tập kết
Tháng 1 năm 1959, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ XV (mởrộng), Hội nghị đã đưa ra phương hướng, nhiệm vụ cách mạng miền Nam vànhấn mạnh vai trò, vị trí của miền Bắc, Nghị quyết Hội nghị Trung ương nêurõ: “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là xây dựng cuộc sốngmới, hòa bình, tự do, hạnh phúc của nhân dân miền Bắc, đồng thời củng cốmiền bắc thành cơ sở vững chắc về mọi mặt, là cơ sở hoàn thành nhiệm vụcách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước, thống nhất tổ quốc” [47, tr.90-91]
Do yêu cầu của cách mạng, ở miền Bắc, trong đó có Hà Đông - Sơn Tâyphải nỗ lực khẩn trương hơn nữa trên mọi mặt, sẵn sàng đáp ứng chi viện chomiền Nam ruột thịt Lần lượt trong tháng 01 và tháng 2 ở Hà Đông và SơnTây tiến hành Đại hội, Nghị quyết của Đại hội của hai tỉnh nhìn chung đãthống nhất nội dung cơ bản từ năm 1958 đến năm 1960 là phải tiến hành cảitạo xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế cá thể Trong đó có cải tạo vàphát triển nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, trên cơ sở không ngừng pháttriển các ngành kinh tế khác, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân.Củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, sẵn sàng chi viện cho cách mạngmiền Nam Căn cứ vào tình hình và đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh, Đảng
bộ Hà Tây chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách tích cựcnhất, thận trọng, vững chắc và chu đáo
Trang 25Kết quả thu được trong công cuộc khôi phục, xây dựng và phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội trong những năm qua là sự phấn đấu liên tục của quân vàdân Hà Đông - Sơn tây Thắng lợi đó góp phần khẳng định đường lối cáchmạng đúng đắn của Trung ương Đảng, sự chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo,chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ Hà Đông - Sơn Tây Từđây, quân và dân Hà Đông - Sơn Tây có nhiều thuận lợi cho sự phát triển ởđịa phương những năm tiếp theo và có cơ sở để làm hậu phương vững chắccho tiền tuyến miền Nam, cho cách mạng Việt Nam
Bước sang năm 1960, chấp hành Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ III (9 - 1960) và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,đầu năm 1960, Nghị quyết Tỉnh ủy số 69 - NĐ/TU về nhận định năm 1960 đãxác định nhiệm vụ của địa phương là phải tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuấtmới, phát triển nông nghiệp làm nhiệm vụ trung tâm, đồng thời phát triểncông nghiệp, chuẩn bị tốt cơ sở vật chất cho kế hoạch 5 năm lần thứ I Bêncạnh đó, cần làm tốt công tác quân sự địa phương, góp phần cùng quân dân cảnước giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc
Quán triệt Nghị quyết của Tỉnh ủy, toàn tỉnh đã dấy lên phong trào thiđua đuổi kịp và vượt “Đại Phong” trong nông nghiệp, “Duy Hải” trong côngnghiệp, “Bắc Lý” trong giáo dục Những phong trào này có tác dụng sâu sắctới đời sống xã hội ở địa phương Các HTX Thái Bạt, Phú Trạch, Trung Lập,
đã đẩy mạnh công tác cải tiến kĩ thuật, quản lý để trở thành lá cờ đầu trongtỉnh Nhiều đơn vị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phấn đấu liêntục để được công nhận là những điển hình tiên tiến Các ngành y tế, văn hóa,giáo dục xuất hiện nhiều đơn vị điển hình Phong trào phấn đấu trở thành “Tổlao động xã hội chủ nghĩa” được nhiều tầng lớp hưởng ứng
Cùng với nhân dân, lực lượng vũ trang trong tỉnh sôi nổi hưởng ứng cuộcvận động “Xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chínhquy, hiện đại” của quân ủy Trung ương, đẩy mạnh phong trào thi đua “Ba nhất”,
Trang 26các phong trào này tạo nên khí thế mới, nâng cao chất lượng mọi mặt côngtác, đảm bảo cho mỗi chiến sĩ luôn chiến đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Trong 10 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ hai tỉnh Hà Đông - SơnTây đã xây dựng được nền kinh tế vững chắc về cơ cấu và thành phần, năngsuất đi vào ổn định với hai nền sản xuất chính là nông nghiệp và công nghiệp.Lực lượng vũ trang được xây dựng vững chắc, lòng tin của nhân dân đối với
sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh được củng cố Quân và dân ở hai tỉnh chungsức, chung lòng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậuphương vững chắc cho tiến tuyến lớn miền Nam
1.1.1.4 Chủ trương của Trung ương Đảng
Từ đầu năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dânViệt Nam bước vào thời kỳ mới Miền Bắc với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất(1961 - 1965) được hoàn thành, đã nâng cao đáng kể tiềm lực kinh tế, quốcphòng của đất nước Ở miền Nam, quân và dân đã đánh bại chiến lược “Chiếntranh đặc biệt”, đẩy quân đội Sài Gòn vào thế nguy khốn, buộc Mỹ phảichuyển sang chiến lược mới là chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam,không những thế Mỹ thực hiện “leo thang” CTPH bằng không quân và hảiquân ra miền Bắc Đầu tháng 02 - 1965, không quân Mỹ mở chiến dịch “Mũilao lửa” ở miền Bắc, ném bom thị trấn Hồ Xá (Vĩnh Linh), thị xã Đồng Hới(Quảng Bình) Từ ngày 02 - 3 - 1965, Mỹ chuyển sang chiến dịch “Sấm rền”,đánh phá liên tục và ác liệt hơn trên suốt dải đất khu IV (từ vĩ tuyến 17 đến vĩtuyến 20) Hải quân Mỹ cho tàu chiến, máy bay uy hiếp, bắn phá các đảo vàmục tiêu ven biển nhằm phá hủy hệ thống quan sát, báo động từ xa, chuẩn bịcho những đợt đánh phá quy mô lớn nhằm vào tiềm lực kinh tế, quốc phòngcủa miền Bắc
Âm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ tạo ra sức ép rất lớn đối với nhân dân
cả hai miền Để đề ra phương hướng, giải pháp giải quyết vấn đề, từ ngày 25đến ngày 27 - 3 - 1965, BCH Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 11(phiên họp đặc biệt) ra Nghị quyết với nội dung chủ yếu là tập trung toàn bộ
Trang 27tinh thần và lực lượng vào việc xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóngmiền Nam, thống nhất Tổ quốc Hội nghị đã phân tích tình hình hai miền Nam
- Bắc và chỉ rõ “cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ởmỗi miền” [18, tr.108] Hội nghị xác định nhiệm vụ trước mắt của miền Bắc
là “Tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựngkinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắngcuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng không quân của địch ra sứcđộng viên lực lượng của miền Bắc chi viện cho miền Nam; ra sức giúp đỡcách mạng Lào” [18, tr.108]
Hội nghị khẳng định: “Miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn làhậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếpchiến đấu cho tiền tuyến miền Nam” [18, tr.108, 109] Khẩu hiệu chung của
miền Bắc là “Xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam” Để phù
hợp với hoàn cảnh lịch sử, Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng miềnBắc sang thời chiến, nhằm đối phó với tình hình đánh phá của không quân vàhải quân Mỹ, đáp ứng yêu cầu xây dựng CNXH, ổn định và cải thiện đời sốngnhân dân Hội nghị lần thứ 11 của BCH Trung ương Đảng (khóa III) đã mở racho miền Bắc một thời kỳ chiến đấu và phát triển mới
Tiếp theo đó, ngày 5 - 3 - 1965, Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh động viên cán
bộ, thể hiện quyết tâm đánh giặc Mỹ xâm lược trong bất kỳ hoàn cảnhnào.Trong phiên họp thứ 2 ngày 10 - 4 - 1965 của Quốc hội khóa III, Hồ ChíMinh khẳng định: “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêngnhất của mọi người Việt Nam yêu nước Quân và dân ta ở miền Bắc vừahăng hái thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa anh dũng chiến đấu bảo vệmiền Bắc, vừa hết lòng bảo vệ miền Nam” [46, tr 435]
Quán triệt Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 11, BBT đề ra nhữngchính sách trên một số mặt, như: quyết định tăng cường công tác giao thôngvận tải (7 - 5 - 1965); chuyển hướng công tác vận động phụ nữ (ngày 8 - 6 -1965); chuyển hướng công tác tài chính (14 - 6 - 1965) Trước đòi hỏi của
Trang 28tình hình, BBT đã triệu tập Hội nghị cán bộ nghiên cứu việc chuyển hướngchỉ đạo hai nhiệm vụ chiến lược (02 - 7 - 1965), ra Nghị quyết về việc chuyểnhướng công tác tổ chức (7 - 7 - 1965), xem đó là vấn đề rất trọng yếu đối vớitoàn bộ các mặt công tác.
Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 11 của BCH Trung ương Đảng (khóa III),Hội nghị lần thứ 12 diễn ra vào tháng 12 năm 1965, Hội nghị đã họp, xem xét
và đánh giá toàn bộ tình hình để đề ra chủ trương, nhiệm vụ trong giai đoạnmới, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam tiếnlên, đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ Qua phân tích và đánhgiá tình hình cụ thể giữa miền Bắc và miền Nam, giữa Việt Nam và Mỹ, Hộinghị đã đề ra nhiệm vụ chung là “động viên lực lượng của cả nước, kiên quyếtđánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, đểbảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”[18, tr.634] Mặt khác, Hội nghị cũng chỉ rõ nhiệm vụ của miền Bắc là phảitiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 11, vừasản xuất, vừa chiến đấu bảo vệ miền Bắc; đánh bại chiến tranh phá hoại của
Mỹ, động viên sức người, sức của tăng cường mọi mặt cho miền Nam, tíchcực chuẩn bị đánh thắng địch nếu chúng mở rộng “chiến tranh cục bộ” ra cảnước
Tất cả những chủ trương, đường lối, chính sách của Trung ương Đảng từnăm 1965 đến năm 1968 đều tập trung vào thực hiện nhiệm vụ ở hai miền,trong đó, nhấn mạnh miền Bắc là căn cứ địa của cách mạng cả nước nên phảiđược xây dựng để trở thành hậu phương chiến lược vững mạnh, bảo đảm chocuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây
Năm 1964, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ bị thất bại,chế độ VNCH có nguy cơ sụp đổ Để cứu nguy cho chính quyền miền Nam,
từ tháng 8 - 1964, đế quốc Mỹ cho không quân và hải quân bắn phá miền Bắc
Trang 29Đầu năm 1965, hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ cùng quân đội các nướcchư hầu kéo vào miền Nam biến cuộc “Chiến tranh đặc biệt” thành chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” Đế quốc Mỹ đã dùng máy bay ném bom, bắn phá miềnBắc và dùng tàu chiến phong tỏa, nhằm hạn chế chi viện của miền Bắc đối vớimiền Nam
Thực hiện Quyết định của Chính phủ, Hà Đông - Sơn Tây đã hợp nhấtthành tỉnh Hà Tây, tạo ra thế và lực mới cho cách mạng Phân tích rõ âm mưu vàhành động mới của đế quốc Mỹ, quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng,Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã chỉ rõ là: quán triệt tình hình và nhiệm vụ mới, nắmvững đặc điểm của tỉnh, phát huy nhiệt tình cách mạng của cán bộ nhân dân địaphương, khai thác tiềm năng sẵn có của tỉnh Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ cáchmạng kĩ thuật trong các ngành kinh tế, đẩy mạnh việc phân công lao động chophù hợp với yêu cầu và tình hình mới Để bất kì trong tình huống nào, vẫn khôngnhững đáp ứng được nhu cầu của Nhà nước về sức người, sức của, đồng thời,đảm bảo nhu cầu về ăn mặc, ở, đi lại, hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân.Tiếp tục đẩy mạnh cơ sở vật chất, kỹ thuật, phát triển sản xuất, tăng năng suất laođộng, tăng cường quan hệ sản xuất XHCN Tổ chức tốt công tác quốc phòng, sẵnsàng chiến đấu kiên quyết, có ý thức xây dựng căn cứ địa của tỉnh vững vàng,chủ động trong mọi tình thế”[72, tr 2]
Đầu tháng 2 năm 1965, Tỉnh ủy khẩn trương chỉ đạo triển khai sắp xếp,
bố trí, tổ chức bộ máy, kế hoạch phòng không nhân dân và lực lượng chiếnđấu Đầu tiên, ngày 8-2-1965, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà
Tây đã ra chỉ thị Về việc tăng cường hơn nữa công tác phòng không nhân dân Trong chỉ thị đã nêu rất rõ về tình hình chiến trường miền Nam và đã
phân tích cụ thể công tác phòng không nhân dân của tỉnh trong thời gian vừarồi đã có những ưu điểm gì và còn những hạn chế gì cần được khắc phục, từ
đó Chỉ thị đã bổ sung thêm 4 điểm cơ bản sẽ phải làm trong thời gian tới.Tiếp tục, ngày 24 - 3 - 1965, Tỉnh ủy ra Nghị quyết về việc thành lập Bancán sự Đảng ở một số ngành: ngành công nghiệp địa phương, nội thương,
Trang 30ngoại thương, y tế Các Đảng bộ cơ quan Chính Dân Đảng, Tuyên văn giáo vànông nghiệp được thành lập
Đến ngày ngày 22 - 6 - 1965, Tỉnh ủy ra Chỉ thị: Toàn bộ công tác tưtưởng phải đảm bảo nhất trí và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Trungương Đảng và Tỉnh ủy về các mặt kinh tế, chính trị, quốc phòng… Phát huymạnh mẽ tính tiên phong và tính chiến đấu của cán bộ, đảng viên, cổ vũ cao
độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ý chí quyết chiến quyết thắng giặc Mỹxâm lược Trong tình hình trước mắt, các cấp ủy Đảng, các ngành tập trungtăng cường lãnh đạo đối với công tác tư tưởng, thường xuyên củng cố bộ máytuyên huấn các cấp Công tác giáo dục, văn hóa - thông tin, y tế, khoa học - kỹthuật, thể dục - thể thao cũng sớm được chuyển hướng
Nắm chắc và đi sát tình hình thực tế, tỉnh ủy Hà Tây đã ra Nghị quyết số 07ngày 27 - 6 - 1965 về công tác phòng không nhân dân, Tỉnh ủy chỉ rõ là phải hếtsức tỉnh táo, theo dõi sát âm mưu, hoạt động của địch để đề ra những phương ánthích hợp Toàn tỉnh nêu cao quyết tâm đánh thắng địch ngay từ trận đầu, để thực
hiện quyết tâm đó Nghị quyết đã bổ sung thêm một vài điểm mới Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu, làm tốt công tác PKND lên một bước nữa Thứ hai, củng cố chế độ thường trực chỉ huy thường xuyên, đảm bảo không lúc nào vắng, thiếu Thứ ba,
khẩn trương sửa chữa, làm vệ sinh và đào thêm hầm hào mới, đảm bảo cho mọi
người có nơi trú ẩn Thứ tư, việc phân tán kho tàng, chất cháy, chất độc, chất nổ phải tiếp tục tiến hành như quy định trước Thứ năm sơ tán dân, việc sơ tán phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa theo yêu cầu lâu dài Thứ sáu, triệt để phân tán các phương tiện ở trên sông Thứ bảy, Sở Y tế, công an, giao thông vận tải, bưu điện,
phòng cháy chữa cháy, thành đội phải củng cố ngay lực lượng phục vụ của mình,chỗ nào thiếu phải bổ sung và thường xuyên kiểm tra các phương tiện để sẵnsàng phục vụ khi có lệnh
Để thực hiện tốt quan điểm, chủ trương của Trung ương Đảng, tháng 8
-1965, BCH Đảng bộ tỉnh đã họp và quán triệt Nghị quyết Trung ương 11 Sau
Trang 31khi đánh giá vị trí của Hà Tây đối với miền Bắc và cả nước, Hội nghị xác địnhphương châm kịp thời tăng cường công tác trị an, quốc phòng, chuyển hướng
về tư tưởng, tổ chức, xây dựng kinh tế và các mặt công tác cho phù hợp vớitình hình nhiệm vụ mới Nhiệm vụ đặt ra là phải phát huy mọi tiềm lực kinh tế
để tăng cường trị an, ra sức xây dựng và bảo vệ toàn tỉnh, góp phần tích cựcvào công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam Hội nghịchỉ đạo vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu, giảm tới mức thấp nhất thiệt hạicủa ta, gây cho địch thiệt hại cao nhất, nếu chúng tới bắn phá, ta ra sức phấnđấu tạo mọi điều kiện để tiếp tục phát triển kinh tế một cách nhanh, mạnh,vững chắc Ngoài ra, Tỉnh ủy chủ trương mạnh dạn phân cấp cho cấp dưới,xác định rõ vị trí và chức năng, quyền hành, nhiệm vụ của từng cấp; tăngcường cấp huyện thành một cấp lãnh đạo toàn diện, phân cấp quản lý cho cáckhu phố, củng cố cơ sở Đảng ở đường phố, xí nghiệp trọng yếu, các xã vùngxung yếu, gấp rút có quy hoạch đào tạo, điều động, bổ sung cán bộ, chuyểnmạnh lề lối làm việc và tác phong cho phù hợp điều kiện thực tiễn Đảng bộtỉnh đã nắm bắt chính xác và nhạy bén yêu cầu của tình hình mới để đề ranhững chủ trương đúng đắn
Ngoài ra, công tác trị an quốc phòng và việc trấn an, làm tốt vấn đề tưtưởng cũng được chú trọng, trong Chỉ thị ngày 28 - 6 - 1965 của Tỉnh ủy đãnêu rõ : toàn bộ công tác tư tưởng phải đảm bảo nhất trí và tin tưởng tuyệt đốivào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Tỉnh ủy về các mặt kinh tế, chínhtrị, quốc phòng… Phát huy mạnh mẽ tính tiên phong và tính chiến đấu củacán bộ, đảng viên, cổ vũ cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ý chí quyếtchiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược Trong tình hình trước mắt, các cấp ủyĐảng, các ngành tập trung tăng cường lãnh đạo đối với công tác tư tưởng,thường xuyên củng cố bộ máy tuyên huấn các cấp Công tác giáo dục, văn hóa
- thông tin, y tế, khoa học - kỹ thuật, thể dục - thể thao cũng sớm được chuyểnhướng
Trang 32Như vậy, Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã vận dụng sáng tạo đường lối chống
Mỹ, cứu nước của Trung ương Đảng và kịp thời lãnh đạo quân và dân bướcvào cuộc chiến đấu mới với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập - tự do”.Quân và dân bình tĩnh, khẩn trương, chuyển từ trạng thái sinh hoạt thời bìnhsang trạng thái sinh hoạt thời chiến, thích ứng với yêu cầu và hoàn cảnh củađất nước đã có chiến tranh Tỉnh kịp thời đề ra chủ trương bảo vệ, chuyểnhướng kinh tế nhằm phát huy tiềm lực mọi mặt về kinh tế để vừa sản xuất,vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu
1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện
Ngay từ đầu, Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã quán triệt đường lối tiếp tục xâydựng CNXH trong điều kiện có chiến tranh của Trung ương Đảng Trên cơ sở
đó, Tỉnh ủy đã cố gắng để xây dựng Hà Tây phát triển, cùng với miền Bắc đểtrở thành hậu phương lớn cho chiến trường miền Nam
1.2.1 Xây dựng tiềm lực hậu phương về mọi mặt và bảo vệ hậu
phương
1.2.1.1 Xây dựng tiềm lực hậu phương về mọi
mặt * Công tác chính trị - tư tưởng
Đảng bộ Hà Tây thường xuyên chú trọng giáo dục chính trị cho nhândân, toàn thể cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc hơn về đường lối cách mạngCNXH ở miền Bắc, đường lối cách mạng miền Nam và đấu tranh thực hiệnthống nhất nước nhà, qua đó nâng cao ý thức chính trị, củng cố sự đoàn kếttrong mọi tầng lớp nhân dân, giữ vững ý chí, quyết tâm kháng chiến chống
Mỹ, bảo vệ và thực hiện nhiệm vụ hậu phương
*Công tác văn hóa - giáo dục, y tế
Đảng bộ lãnh đạo chuyển hướng các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóaphù hợp với thời kì có chiến tranh Về giáo dục, Đảng bộ tỉnh lãnh đạo xâydựng cơ sở vật chất cho hệ thống giáo dục thời chiến, đảm bảo cho việc dạy
và học Trên lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân, Đảng bộ tỉnh cũng đã
Trang 33kịp thời lãnh đạo thực hiện công tác cấp cứu phòng không, chuẩn bị hệ thốnghầm, hào phòng tránh cho bệnh nhân, dụng cụ thuốc men, cấp cứu Ngay khitrong chiến tranh, ngành y tế vẫn được hoàn chỉnh về cơ sở vật chất, đượctăng cường cán bộ, phương tiện, dụng cụ chuyên môn để phục vụ chiến đấu,sản xuất và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Đối với văn hóa - nghệ thuật,triển khai những định hướng phát triển văn hóa, văn nghệ của Đảng tronghoàn cảnh mới là phải đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thông tin ở các đơn
vị, cơ sở chiến đấu và sản xuất với khẩu hiện “Tiếng hát át tiếng bom”
*Lĩnh vực kinh tế
Đảng bộ đã chỉ đạo tiếp tục xây dựng có trọng điểm những cơ sở vật chất
- kỹ thuật cho các ngành kinh tế quốc dân với quy mô vừa và nhỏ, có tính chấtphân tán, phù hợp với phương hướng trước mắt và lâu dài Toàn tỉnh đã
chuyển hướng và phát triển mạnh mẽ kinh tế địa phương với nội dung toàn diện: nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp địa phương
Về phát triển nông nghiệp: nông nghiệp chiếm một vị trí hết sức quan
trọng đối với kinh tế toàn miền Bắc nói chung và với Hà Tây nói riêng, vì vậy,trong công tác xây dựng hậu phương, cần phải đặc biệt quan tâm đến pháttriển nông nghiệp Qua 10 năm khôi phục và phát triển, nền nông nghiệp của
Hà Tây đã có tiến bộ, nhưng hậu quả của chiến tranh để lại vẫn còn nặng nề,cùng với đó là các yếu tố thiên tai, dịch bệnh, thiếu thốn nguồn nhân lực, kỹthuật canh tác còn lạc hậu, trong khi đó, yêu cầu lương thực cần để huy độngcho kháng chiến ngày một tăng
Trước tình hình đó, chính quyền và các ngành chức năng trong tỉnh đãtập trung đầu tư cơ sở vật chất cho nông nghiệp như đầu tư thêm máy bơmdầu, máy kéo, trạm bơm điện Các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”được phát động khắp nơi trong tỉnh với nội dung cụ thể, thiết thực đã độngviên người dân Trên mặt trận sản xuất, quân và dân Hà Tây đã hăng hái tiếnquân vào ba cuộc cách mạng khoa học, nhạy bén tiếp thu những tiến bộ
Trang 34khoa học kĩ thuật mới để áp dụng vào sản xuất Công tác đắp đê, làm thủy lợicũng được thực hiện hiệu quả, đây là các mũi tiến công trong nông nghiệp.Những năm 1965 - 1966, Tỉnh đoàn Hà Tây phát động phong trào “Ba sào,năm việc” đến từng chi đoàn địa phương Ngoài ra còn một số phong tràokhác cũng diễn ra sôi nổi nhằm khuyến khích tinh thần sản xuất, chiến đấutrong nhân dân Như vậy, nhờ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh mà năng suất lúađạt kết quả tích cực, toàn tỉnh có 202 HTX đạt 6,7 tấn, HTX Mỗ Lao đạt 8tấn/ha, cao nhất miền Bắc [3, tr 25].
Sang những năm 1966 - 1968, chiến tranh ngày càng ác liệt, sản xuấtnông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tây chịu nhiều tổn thất lớn Do đó, Tỉnh ủy
đã tập trung chỉ đạo hai vấn đề trọng tâm: một là, đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật; hai là, cải tiến quản lý, phân vùng kinh tế, phương hướng sản xuất nông
nghiệp vẫn được Tỉnh ủy xác định là lấy sản xuất lương thực và thực phẩm làchủ yếu như Đại hội Đảng bộ đề ra Nông nghiệp được trang bị thêm nhiềunông cụ thông dụng và cải tiến, bước đầu xây dựng được mạng lưới điện và
cơ khí nhỏ ở từng khu vực trọng điểm, đồng thời thí điểm cơ giới hóa khâulàm đất Hệ thống trạm bơm nước được đầu tư thêm nhiều máy bơm phục vụyêu cầu tưới tiêu
Đồng thời, các cấp ủy Đảng, chính quyền đoàn thể đã phát động mạnh
mẽ việc thực hiện các phong trào thi đua “Tay cày, tay súng”, “Cánh đồng 5tấn thắng Mỹ”, “Báo công, lập công chống Mỹ cứu nước” Các phong tràonày diễn ra ngày càng sôi nổi và lan rộng trong quần chúng nhân dân, làm chonông dân có thêm động lực để lao động, sản xuất, những nơi đạt năng xuấtcao được Tỉnh ủy chỉ đạo tổng kết phong trào thâm canh tăng năng suất lúacủa các xã tiêu biểu để phổ biến cho các địa phương khác học tập Nhờ sựquan tâm chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh và sự cố gắng khắc phục khó khăn củanhân dân, sản xuất nông nghiệp trong điều kiện chiến tranh vẫn đạt kết quảkhả quan Các địa phương đạt được thành tích tiêu biểu là: Hòa Xá (ỨngHòa), Hồng Minh (Phú Xuyên), Mỗ Lao, Đan Phượng…
Trang 35Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế nông nghiệpnhưng Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây đã giữ vững quyết tâm và đạt đượcnhiều kết quả tích cực Đó là thắng lợi cơ bản nhất trong sản xuất nông nghiệpcủa Hà Tây.
Về phát triển công nghiệp: từ cuối năm 1965, công nghiệp của Hà Tây
gặp một số khó khăn trước tình hình đế quốc Mỹ cho tiến hành CTPH miềnBắc Nhưng công nhân các cơ sở sản xuất vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, sảnxuất, nêu cao tinh thần bám máy, bám xưởng để sản xuất trong điều kiện khókhăn Các phong trào “Luyện tay nghề thi thợ giỏi”, “rèn luyện thái độ laođộng mới trong ngành bưu điện”, “Hai mũi tiến công”, “Dũng sĩ ba nhất thắngMỹ” được diễn ra một cách sôi nổi
Từ giữa tháng 4 năm 1967, tình hình sản xuất công nghiệp địa phương vàtiểu thủ công nghiệp giảm theo mức độ ác liệt của chiến tranh Các cơ sở côngnghiệp bị tàn phá vì bom đạn trút xuống suốt ngày đêm Trước hoàn cảnh đó,Tỉnh ủy Hà Tây đã chủ trương điều chỉnh một bước công nghiệp địa phươngphù hợp với yêu cầu mới, chú trọng đi vào những ngành nghề và các mặt hàngchủ yếu Đi đôi với sản xuất tư liệu sản xuất, Hà Tây chú ý nhiều hơn đếncông nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thủ công nghiệp - thế mạnh của tỉnh,chú trọng tư trang tự chế, tăng tỉ trọng phục vụ GTVT Mặc dù còn nhiều khókhăn, nhưng nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, kịp thời của Đảng bộ tỉnh cùng với
sự kiên trì, tinh thần sản xuất hăng hái của nhân dân đã mang lại nhiều kết quảtích cực cho ngành công nghiệp, tỷ trọng sản lượng công nghiệp trong nềnkinh tế tăng từ 28% năm 1965 lên đến 30% năm 1967 [3, tr 25]
1.2.1.2 Bảo vệ hậu phương
Sau khi đưa quân vào miền Nam, Mỹ tiếp tục âm mưu đánh ra miền Bắcnhằm phá hoại công cuộc xây dựng miền Bắc, ngăn chặn đường tiếp tế từmiền Bắc vào miền Nam Hà Tây có vị trí rất quan trọng, là cửa ngõ, áo giápbảo vệ Thủ đô, chính vì vậy, trong suốt những năm chống chiến tranh pháhoại, tỉnh Hà Tây luôn bị đế quốc Mỹ ném bom tàn phá nặng nề nhằm mục
Trang 36đích tiêu diệt mục tiêu kinh tế, quân sự, mở đường đánh vào thủ đô HàNội.Trước âm mưu và hành động chiến tranh mới của địch, Đảng bộ Hà Tây
đã nêu cao quyết tâm chiến đấu bảo vệ địa bàn, bảo vệ những thành quả màĐảng bộ và nhân dân đã gây dựng trong 10 năm qua
Ngày 27 - 7 - 1965, giặc Mỹ đánh phá Hà Tây và mở đầu bằng trận suốiHai, Mỹ dùng nhiều loại máy bay khác nhau bằng cách đánh nham hiểm(đánhlén, đánh lẻ) Cùng với CTPH, Mỹ còn tăng cường chiến tranh tâm lý, tunggián điệp để thăm dò tình hình nhằm có lợi cho mục đích của mình Được sựlãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và sự dũng cảm, quyết tâm của quân và dân HàTây đã bắn rơi 5 máy bay, bắt sống giặc lái Mỹ Dân quân xã Tuy Lai (MỹĐức) là điển hình của Hà Tây về dũng cảm chiến đấu lập công hạ máy bayđịch bằng súng bộ binh Các địa phương như Cổ Đô, Cầu Giẽ, Xuân Mai, VạnĐiểm, Miếu Môn, Ba Thá đã phối hợp với bộ đội địa phương để làm nênnhững chiến công
Bước sang năm 1967, đây là năm mà địch đánh phá ác liệt nhất trong 4năm (1965 - 1968), chính vì vậy, Đảng bộ đã chỉ đạo phải tăng số trận địa và
số quân chiến đấu gấp 4,5 lần so với hai năm trước, sự phát triển nhanh chóngcủa các lực lượng chiến đấu đã góp phần đảm bảo sự thắng lợi trong chiếnđấu với địch
Như vậy, từ năm 1965 đến năm 1968 nhân dân Hà Tây dưới sự lãnh đạocủa Đảng bộ tỉnh, đã hoàn thành vai trò hậu phương lớn với tiền tuyến lớn,góp phần làm phá sản một trong những mục tiêu chiến lược chủ yếu của địchtrong cuộc chiến tranh cục bộ Tính chung đến hết năm 1968, Hà Tây đã bắnrơi 56 máy bay Mỹ, huy động hàng triệu người với nhiều ngày công phục vụchiến đấu, bảo đảm giao thông vận tải, các chuyến hàng được vận chuyển kịpthời ra tiền tuyến Hàng chục vạn thanh niên Hà Tây tham gia bộ đội, công an,thanh niên xung phong chiến đấu trên khắp các chiến trường Đảng bộ, quân
và dân Hà Tây luôn kiên định, vững vàng, “khó khăn nào cũng vượt qua ,kẻ
Trang 37thù nào cũng chiến thắng” Với những kết quả đó, nhân dân Hà Tây vữngvàng chuẩn bị cho một giai đoạn chiến đấu mới.
1.2.2 Công tác giao thông vận tải
Yêu cầu của chiến tranh đòi hỏi phải xây dựng hậu phương vững mạnh,đảm bảo cung cấp nhân tài, vật lực cho tiền tuyến Muốn việc cung cấp, vậnchuyển được thuận lợi và có hiệu quả thì công tác đảm bảo giao thông phảiluôn ở mức độ cao nhất Quán triệt nhiệm vụ và tầm quan trọng của công tácgiao thông, Đảng bộ Hà Tây đã lãnh đạo nhân dân thực hiện đảm bảo giaothông ở mức tối đa nhất
Trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ phá hoại công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, khu vực Hà Tây là một hướng chiến lược quantrọng với một hệ thống đường sắt, đường bộ là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội.Ngay từ những trận đánh mở đầu, địch đã tập trung giội bom đạn xuống hàngloạt điểm cầu đường Mục đích trọng yếu của địch là đánh phá giao thông,phá phương tiện vận tải thủy bộ, hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phươnglớn ra tiền tuyến lớn, hòng làm suy yếu nền kinh tế
Nhận thức tầm quan trọng của công tác GTVT và đoán biết âm mưu của
Mỹ, Tỉnh ủy đã nêu cao quyết tâm: “Trong bất cứ tình huống nào cũng không
để cho giao thông bị bế tắc, bảo đảm hoạt động bình thường” Thực hiệnquyết tâm đó, Đảng bộ chỉ đạo phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân làmcông tác GTVT làm nòng cốt Các chiến sĩ GTVT, chiến sĩ tiểu đoàn thanhniên xung phong trên địa bàn tỉnh xác định trong bất kì tình huống nào cũngphải bảo đảm tốt nhiệm vụ giao thông vận tải, phải nhìn và đặt nhiệm vụ giaothông vận tải một cách toàn diện; tích cực chuẩn bị về mọi mặt để đảm bảogiao thông vận tải kịp thời đối phó khi địch đánh tới Thực hiện Chỉ thị đó,các chiến sĩ GTVT của Hà Tây đã nêu cao tinh thần gan dạ, kết hợp với tríthông minh, sáng tạo để giải quyết thành công nhiều việc khó khăn Các chiến
sĩ đã tổ chức tốt việc chỉ huy vận chuyển, đảm bảo phương tiện hàng hóa
Trang 38được an toàn, đảm bảo kế hoạch chuyển hàng nhanh chóng Ngoài ra, Đảng
bộ đã lãnh đạo lập ra Ban điều hành từ thị xã xuống các cơ sở để thống nhấtquản lý phương tiện vận chuyển, đảm bảo kế hoạch
Các cấp ủy Đảng chỉ đạo sát sao việc khắc phục tại chỗ mọi hậu quả củabom đạn Do xác định được mục tiêu giao thông vận tải trong chiến tranh pháhoại ác liệt là nhiệm vụ trung tâm chiến lược của toàn Đảng, toàn dân nênĐảng bộ Hà Tây đã chủ trương cho thành lập lực lượng tại chỗ để khắc phụchậu quả của bom đạn Ở những trọng điểm giao thông, có sự kết hợp chặt chẽgiữa các đội công binh nhân dân, các đội Thanh niên xung phong với các đơn
vị bộ đội cao xạ chiến đấu bảo vệ mục tiêu, các đội chuyên đảm bảo giaothông để khắc phục hậu quả, giải phóng mặt đường Dựa vào lực lượng vànguyên liệu tại chỗ của nhân dân là chính, phát huy khả năng của địa phương
đi đôi với tăng cường lực lượng, phương tiện của Nhà nước đã tạo nên sứcmạnh tổng hợp Mỗi khi cầu đường bị đánh phá hỏng, các xã và khu phố đãtrực tiếp huy động lực lượng, phương tiện của nhân dân san lấp mặt đường,lấp hố bom, đảm bảo cho xe thông suốt, kịp thời khắc phục hậu quả sau mỗitrận đánh của địch, đảm bảo giao thông thông suốt, thực hiện sinh động quanđiểm chiến tranh nhân dân, quan điểm quần chúng của Đảng trên mặt trậngiao thông vận tải
Với mức độ CTPH ngày càng ác liệt, đế quốc Mỹ cho ném bom vào cácnhà ga, đường giao thông chính: đường số 1, ga Lim, ga Văn Điển… trong 4năm, Cầu Giẽ bị địch bắn phá 29 lần, mức độ thiệt hại rất nặng nề Dưới sựchỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, các cấp, ban ngành đã chỉ đạo nhân dân ngày đêmlàm đường tránh, cầu tạm, di chuyển bằng mọi phương tiện, kể cả phương tiệnthô sơ để đảm bảo vận chuyển kịp thời người và của cho tiền tuyến
Từ năm 1965 đến năm 1968, với tinh thần “tim ta còn đập, giao thông còn thông suốt”, “máu ta có thể đổ, những cầu phá phải bảo đảm lưu thông”,
lực lượng đảm bảo GTVT của Hà Tây đã nêu cao tinh thần vượt khó, ứng phó
Trang 39nhanh nhạy, sáng tạo để giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ khó khăn Cáccán bộ, công nhân, chiến sĩ đã tổ chức tốt việc chỉ huy vận chuyển, đảm bảophương tiện hàng hóa được an toàn, đảm bảo kế hoạch chuyển hàng nhanhchóng Đã tận dụng mọi khả năng phương tiện của đường thủy, đường bộ,đường sắt, huy động tất cả các loại phương tiện từ thô sơ đến hiện đại, từ thủcông đến cơ khí với tinh thần kiên quyết phá thế vận chuyển một đường, tranhthủ mọi thời cơ thuận lợi để làm công tác vận chuyển Ngoài ra, Đảng bộ tỉnh
đã chỉ đạo lập ra Ban điều hành từ tỉnh xuống các cơ sở để thống nhất quản lýphương tiện vận chuyển, đảm bảo kế hoạch Các cấp ủy Đảng cũng chỉ đạosát sao công tác phòng chống máy bay địch Xung quang nhà ga, bến phà, đầucầu đã được triệt để sơ tán người, phân tán các kho tàng thành nhiều điểm, tậptrung vật tư và phương tiện kỹ thuật, tổ chức thêm cầu, bến dự phòng và lựclượng mạnh Thời gian khó khăn nhất (1965 - 1966) Đảng bộ và nhân dântrong tỉnh đã đảm nhiệm việc đảm bảo giao thông ở những vị trí quan trọng.Như kết hợp tốt việc sử dụng lực lượng tại chỗ và cơ động nên đã khắc phụcnhanh mặt đường, đảm bảo giao thông thông suốt trong mọi tình huống Đảng
bộ tỉnh đã thực hiện tốt chủ trương dựa vào sức dân và động viên toàn dân,lấy dân quân tự vệ làm nòng cốt nên địa phương đã đáp ứng được yêu cầuphục vụ khẩn trương cho tiền tuyến
Thực hiện khẩu hiệu“địch đánh ta cứ đi”, “địch lại đánh, ta lại sửa ta đi”
“thà đứt mạch máu của bản thân con người, quyết không để đứt mạch máucủa Tổ quốc” Trong 3 năm của cuộc đấu tranh chống chiến tranh phá hoạicủa đế quốc Mỹ, ngành giao thông vận tải của tỉnh Hà Tây đã trưởng thànhnhanh chóng, tiềm lực giao thông vận tải đã được tăng cường góp phần xứngđáng vào thắng lợi chung, làm thất bại cơ bản âm mưu đẩy mạnh chiến tranhphá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, góp phần phục vụ sản xuất, chiếnđấu và phục vụ đời sống nhân dân địa phương
Trang 401.2.3 Tích cực chi viện cho tiền tuyến
1.2.3.1 Huy động nguồn lực tinh thần cho tiền tuyến
Nhận thức rõ sức mạnh tinh thần là nguồn sức mạnh vô tận và to lớn,Đảng bộ Hà Tây đã quan tâm đến công tác tư tưởng chính trị cho quần chúng,nhằm dấy lên trong mỗi người dân niềm tin mãnh liệt vào ngày toàn thắng, cổ
vũ họ hăng say lao động và sẵn sàng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.Quántriệt sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Hà Tây tập trung chỉ đạo côngtác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và quần chúngnhân dân Điều cần thiết là làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tỉnhnhận rõ âm mưu và hành động mới của địch, chủ động sản xuất và chiến đấutrong bất kỳ tình huống nào Toàn tỉnh tích cực hưởng ứng phong trào cả nướcthi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” Phụ nữ Hà Tây tích cựchưởng ứng cuộc vận động “Ba đảm đang” Trên tất cả các lĩnh vực nông, ngưnghiệp, trong các nhà máy, bến cảng…chị em đều hăng hái thi đua, phụ nữĐan Phượng được mệnh danh là quê hương người gái đảm
Bên cạnh đó, các cơ quan thông tin đại chúng làm việc khẩn trương,nghiêm túc, luôn kịp thời đưa tin, cổ vũ động viên tinh thần nhân dân Ngoài
ra, trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh đã quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo chặtchẽ thực hiện công tác hậu phương quân đội đối với những gia đình chiến sĩ,liệt sĩ, người có công, nhằm góp phần giải quyết những khó khăn và làm vơi
đi những mất mát đau thương của họ
Tuy bom đạn kẻ thù ngày đêm dội xuống, nhưng văn hóa - văn nghệ HàTây vẫn có những bước phát triển mạnh tác động tích cực đến tinh thần nhândân Phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” diễn ra sôi nổi Thanh niên, phụ nữ,công nhân, nông dân, trí thức, chiến sĩ, quân dân, tự vệ trở thành lực lượngchính trong phong trào văn nghệ quần chúng Họ hát bên mâm pháo, trêncánh đồng 5 tấn, biểu diễn văn nghệ giữa hai trận đánh Năm 1965 - 1966,toàn tỉnh có 5 đoàn nghệ thuật kịch nói, chèo, ca múa nhạc, cải lương, múarối Anh chị em nghệ sĩ phân thành những đội nhỏ “vai vác đàn, lưng khoác