1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đại từ nhân xưng trong tiếng anh, tiếng đức và cách biểu đạt tương đương trong tiếng việt

91 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 167,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tậptrung khảo sát cách sử dụng đại từ nhân xưng trên cơ sở tư liệu từ các tácphẩm văn học tiêu biểu viết bằng tiếng Anh và tiếng Đức đã được dịch sangtiếng Việt, chủ yếu là truy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC

ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG TIẾNG ANH, TIẾNG ĐỨC VÀ CÁCH BIỂU ĐẠT TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨChuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC

ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG TIẾNG ANH, TIẾNG ĐỨC VÀ CÁCH BIỂU ĐẠT TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 02 40

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÂM QUANG ĐÔNG

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Lâm Quang Đông, đã

luôn tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo môi trường thuận lợi để tôi học tập và nghiên cứu.

Cuối cùng, xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn này.

Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Bích Ngọc

Trang 4

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 6

6 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Các khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Đại từ và đại từ nhân xưng 7

1.1.2 Xưng hô 9

1.1.3 Một số vấn đề về lý thuyết lịch sự và vai giao tiếp trong ngôn ngữ 12

1.2 Đại từ nhân xưng trong tiếng Anh, tiếng Đức và cách biểu đạt tương đương trong tiếng Việt 15

1.2.1 Đại từ nhân xưng trong tiếng Anh 15

1.2.2 Đại từ nhân xưng trong tiếng Đức 16

1.2.3 Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và các phương tiện xưng hô khác 20

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG TIẾNG ANH, TIẾNG ĐỨC VÀ TỪ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG VIỆT 29

2.1 Thực hiện chức năng ngữ pháp: quy chiếu các ngôi nhân xưng 29

2.1.1 Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất 29

2.1.2 Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai 34

2.1.3 Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba 39

2.2 Thực hiện chức năng lịch sự 47

2.2.1 Chức năng thể hiện tính lịch sự của đại từ nhân xưng trong tiếng Anh 47

Trang 5

2.2.3 Chức năng thể hiện tính lịch sự của các từ xưng hô trong tiếng Việt

49

Tiểu kết chương 2 52

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TIẾNG ANH, TIẾNG ĐỨC SANG TIẾNG VIỆT QUA MỘT SỐ BẢN DỊCH TIÊU BIỂU 54

3.1 Một số lý thuyết về chuyển dịch và khái niệm tương đương trong dịch thuật 54

3.2 Phân tích cách chuyển dịch đại từ nhân xưng trong tác phẩm tiếng Anh và tiếng Đức sang tiếng Việt 55

3.2.1 Đại từ nhân xưng trong tác phẩm “Schneewittchen” (thuộc bộ “Grimms Märchen”) và bản dịch sang tiếng Việt của dịch giả Hữu Ngọc 57

3.2.2 Đại từ nhân xưng trong tác phẩm “The wild swans” (thuộc bộ “Andersen’s Fairy Tales”) và bản dịch sang tiếng Việt của các dịch giả Nguyễn Văn Hải và Vũ Minh Toàn 69

Tiểu kết chương 3 76

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

NGUỒN TƯ LIỆU 84

PHỤ LỤC 85

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt 20

Bảng 2: Đại từ nhân xưng trong 3 ngôn ngữ 53

Bảng 3: Đại từ nhân xưng trong “Schneewittchen” và cách chuyển dịch sangtiếng Việt 58

Bảng 4: Đại từ nhân xưng trong “The wild swans” và cách chuyển dịch sangtiếng Việt 70

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi xu thế hội nhập đang ngày càng phát triển thì mối quan hệ của conngười cũng như sự hợp tác trong công việc không chỉ bó hẹp trong phạm viđất nước Việt Nam mà còn mở rộng ra môi trường quốc tế Tiếng Anh, mộttrong những ngôn ngữ quốc tế đã và đang đóng vai trò là phương tiện giaotiếp giữa các quốc gia, giữa các nền văn hóa, giữa các công ty, tổ chức quốc tế

và giữa các cộng đồng Có thể nói rằng, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay,tiếng Anh đã trở thành điều kiện tiên quyết để mỗi quốc gia hòa nhập vào đạigia đình thế giới

Bên cạnh tiếng Anh, tiếng Đức cũng là một trong năm thứ tiếng quốc tếđược Liên hợp quốc công nhận Việt Nam và Cộng hòa liên bang Đức xác lậpquan hệ ngoại giao từ năm 1975 Từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thươngmại thế giới WTO, mối quan hệ này càng được củng cố khăng khít và bềnchặt hơn Tiếng Đức từ lâu cũng đã được đưa vào giảng dạy ở Việt Nam vàtrong xu thế hội nhập hiện nay tiếng Đức ngày càng khẳng định được vai tròcủa mình

Đại từ nhân xưng là một chủ điểm ngữ pháp tuy nhỏ nhưng lại đóng vaitrò vô cùng quan trọng trong giao tiếp ở bất kỳ ngôn ngữ nào, đặc biệt là tronggiao tiếp của người Việt Người nước ngoài nào khi học tiếng Việt cũng đềugặp khó khăn khi sử dụng các đại từ nhân xưng tiếng Việt trong giao tiếp.Còn người Việt Nam khi học các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Anh vàtiếng Đức thì lại gặp khó khăn vì các đại từ nhân xưng trong những ngôn ngữnày có tính chất biến hình hay biến đổi theo các cách khác nhau Xuất phát từnhững điểm này chúng tôi muốn thực hiện nghiên cứu về hệ thống đại từ nhân

Trang 8

xưng trong hai ngôn ngữ phương Tây là tiếng Đức và tiếng Anh, đồng thời xem xét những cách biểu đạt tương đương của các đại từ đó trong tiếng Việt.

3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đại từ nhân xưng trong tiếngAnh, tiếng Đức và các từ xưng hô tương ứng trong tiếng Việt Luận văn tậptrung khảo sát cách sử dụng đại từ nhân xưng trên cơ sở tư liệu từ các tácphẩm văn học tiêu biểu viết bằng tiếng Anh và tiếng Đức đã được dịch sangtiếng Việt, chủ yếu là truyện cổ tích và một số đoạn hội thoại giao tiếp trongcác ngôn ngữ này

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp sau:

- Phương pháp miêu tả và phân tích: Miêu tả những đặc điểm của đại

từ nhân xưng trong các ngôn ngữ và phân tích cách sử dụng các đại từ đó trong cáctình huống khác nhau

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh liên ngôn ngữ, liên văn hóa

(tiếng Anh, tiếng Đức, và tiếng Việt) để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa các đại từ nhân xưng trong các ngôn ngữ

Trang 9

- Thủ pháp thống kê: tập hợp các số liệu, lập bảng, phân tích để rút ra các kết quả nghiên cứu.

5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm và giúp hiểu biết sâu sắc hơn cách sửdụng đại từ nhân xưng tiếng Anh, tiếng Đức trong mối liên hệ với các ngôi,các vai giao tiếp cũng như các cách xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt xét trênbình diện ngôn ngữ và văn hóa

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài góp phần bổ sung cứ liệu văn hóa để đưa vào giảng dạy đốichiếu văn hóa tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Việt như một ngoại ngữ liênquan đến việc sử dụng đại từ nhân xưng và từ xưng hô

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văngồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Hoạt động của đại từ nhân xưng trong tiếng Anh, tiếng Đức

và từ xưng hô trong tiếng Việt

Chương 3: Một số vấn đề chuyển dịch đại từ nhân xưng tiếng Anh,

tiếng Đức sang tiếng Việt qua một số bản dịch tiêu biểu

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Đại từ và đại từ nhân xưng

1.1.1.1 Đại từ

Đại từ là một từ loại được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm và

đã được nhiều sách ngữ pháp tiếng Việt thống nhất đặt tên

Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (2001: 148), Nguyễn Hữu Quỳnhquan niệm: “Đại từ là những từ dùng để chỉ sự vật, để xưng hô, để thay thếcho danh từ, động từ, tính từ và cụm từ trong câu.”

Tác giả Nguyễn Văn Thành trong cuốn “Tiếng Việt hiện đại” (2003:115) định nghĩa: “Đại từ là những từ dùng để chỉ người, chỉ vật, chỉ ngôi thứthay cho các danh từ cụ thể và để chỉ định xác định các danh từ, các đại từnhân xưng làm cho chúng có tính xác định rõ ràng.”

“Đại từ là từ loại không gọi tên sự vật, hiện tượng… mà thay thế chochúng, chức năng của đại từ giống như chức năng của danh ngữ Đối với tiếngViệt, một số nhà ngôn ngữ học cho rằng đại từ là loại thực từ có thể tự mìnhlàm thành một danh ngữ, trong một số trường hợp có thể làm trung tâm của

một danh ngữ Người ta có thể chia đại từ thành đại từ xác định và đại từ bất định, đại từ nhân xưng, đại từ chỉ định, đại từ nghi vấn, đại từ phản chỉ, đại

từ quan hệ, đại từ tương hỗ.” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, 2010: 175)

“Đại từ là từ loại không định danh sự vật đối tượng mà chỉ định chúng

trong một ngữ cảnh nhất định (như nó, tôi, này, ấy, nào…)” (Nguyễn Như Ý,

1998: 580)

“Đại từ là những từ dùng để thay thế cho danh từ / danh ngữ; tức là đại

từ không gọi tên các sự vật, hành động, mà “chỉ ra” chúng.” (Vũ Đức Nghiệu,2009: 301)

Trang 11

Có thể thấy rằng, các quan niệm trên đều thống nhất ở chỗ coi đại từ lànhững từ dùng để chỉ người, chỉ vật , chỉ sự vật Đại từ có thể thay thế cho các

từ loại trong câu như danh từ, động từ, tính từ… Trong các ngôn ngữ, sốlượng đại từ không nhiều như danh từ, vị từ; mà ngược lại, có thể nói là rất ít,không đáng kể nếu so sánh với danh từ, vị từ Tuy nhiên, các đại từ có nhữngvai trò, ý nghĩa và chức năng rất đa dạng Căn cứ vào những tiêu chí về ýnghĩa, chức năng… đó, các tiểu loại của đại từ đã được phân định như: đại từnhân xưng, đại từ chỉ định (Đinh Văn Đức, 2001: 204)

1.1.1.2 Đại từ nhân xưng

Đại từ nhân xưng là đối tượng nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi táchphần này ra làm một mục riêng và chỉ tập trung nghiên cứu vào kiểu loại đại

từ này

Các nhà Việt ngữ như: Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Bùi MinhToán đều phân biệt đại từ nhân xưng đích thực và các danh từ, danh ngữ dùngtrong xưng hô

Từ điển Bách Khoa Việt Nam (1995: 352) ghi rõ: “Đại từ nhân xưng(còn gọi là đại từ xưng hô) là đại từ dùng để tự xưng (ngôi thứ nhất), để gọingười đối thoại (ngôi thứ hai), để gọi người hay sự vật thứ ba (ngôi thứ ba).Đại từ nhân xưng gồm số ít và số nhiều”

Nguyễn Kim Thản (1997: 276) cho rằng: “Đại từ nhân xưng gồmcó: tao, ta, mày, mi, nó, hắn, y, chúng và những đại từ gốc là danh từ: tôi,

tớ, họ…”

Nguyễn Hữu Quỳnh (1994: 163) quan niệm: Đại từ xưng hô là đại từđược dùng để xưng hô hoặc thay thế và trỏ người Đại từ xưng hô trong tiếngViệt gồm các đại từ chuyên dùng để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm thời,mượn các danh từ biểu thị quan hệ thân thuộc hay quan hệ xã hội”

Trang 12

Để thống nhất trong việc khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi xin đồng

ý với quan điểm của Diệp Quang Ban (2010: 127) về đại từ nhân xưng: đại từxưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (đượcphản ánh trong nội dung ý nghĩa của thực từ hay tổ hợp thực từ tương ứng)

Đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra mộtcách chung nhất ở cương vị ngôi trong ý nghĩa của đại từ Vì vậy, có thể phânbiệt đại từ dùng ở một ngôi xác định và đại từ có thể dùng được ở nhiều ngôikhác nhau

Như vậy, đại từ nhân xưng đích thực được chia thành ba ngôi: Ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai, ngôi thứ ba và phân chia theo số ít và số nhiều

Việc xưng hô theo ngôi trong tiếng Việt có đặc điểm riêng là khôngchỉ dùng nhân xưng từ, mà còn dùng các lớp từ khác làm từ chỉ ngôi (DiệpQuang Ban, 2005: 519) Các đại từ nhân xưng của tiếng Việt ít có sắc tháitrung tính Bên cạnh các đại từ nhân xưng chuyên dùng tiếng Việt còn sửdụng một số lượng lớn các từ và ngữ khác để xưng hô

Có rất nhiều cách hiểu về xưng hô Trong những năm đầu thế kỷ XX,khái niệm xưng hô được hiểu là “tiếng kêu gọi” hoặc hành động “kêu gọi lẫnnhau”, “gọi nhau” (Bùi Thị Minh Yến, 1994: 31)

Trang 13

Sau này, trong một số từ điển tiếng Việt, xưng hô được định nghĩa làhành động “tự xưng mình và gọi người khác là gì đó để biểu thị tính chất củamối quan hệ với nhau” (Hoàng Phê, 1994: 1200), hoặc là hành động “tự xưngmình và gọi người khác trong giao tiếp…” (Nguyễn Như Ý, 1998: 1152), là

“việc gọi nhau trong lúc giao thiệp” (Nguyễn Lân, 2000: 1215) Như vậy, cóthể thấy rằng, khái niệm xưng hô trong phần lớn các từ điển là hành động nóinăng, có chức năng biểu thị thứ bậc hay vai vế của những người tham gia giaotiếp

Trong các công trình nghiên cứu về Việt ngữ của các nhà ngôn ngữhọc, khái niệm xưng hô được trình bày một cách đầy đủ và khoa học hơn.Nguyễn Văn Chiến (1993: 64) cho rằng: “xưng hô là một hành vi ngôn ngữđược thực hiện trong giao tiếp…” Phạm Ngọc Thưởng tách bạch hai yếu tố

“xưng” và “hô”, trong đó: “xưng là hành động người nói dùng một biểu thứcngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đangnói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình”, còn “hô là hành độngngười nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong lời nói”(Phạm Ngọc Thưởng, 1999: 12) Theo quan điểm này, xưng hô đã được coi làmột hành động, một hành vi ngôn ngữ có chức năng đưa người nói và ngườinghe vào trong giao tiếp

Các quan niệm nêu trên đều thống nhất ở chỗ coi xưng hô là hành động

tự xưng mình và gọi người khác khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mốiquan hệ Xưng hô bao gồm hai yếu tố Xưng và Hô Xưng ứng với ngôi nhânxưng thứ nhất, hô ứng với ngôi nhân xưng thứ hai Các phương tiện nhânxưng ngôi thứ nhất là sự tự quy chiếu của người nói Các phương tiện nhânxưng ngôi thứ hai là sự quy chiếu đến người nghe Chức năng của xưng hô làchỉ thị người nói, người nghe trong một cuộc hội thoại

Trang 14

1.1.2.2 Các phương tiện xưng hô

Phương tiện xưng hô là những đơn vị từ, ngữ dùng để xưng hô nhằmchỉ vai người nói người nghe trong hoạt động giao tiếp Phương tiện xưng hôbao gồm đại từ nhân xưng và các phương tiện xưng hô khác Về đại từ nhânxưng chúng tôi đã trình bày trong phần 1.1.1.2, dưới đây chúng tôi chỉ trìnhbày về các phương tiện xưng hô khác

“Từ xưng hô là toàn bộ những đơn vị từ vựng để người nói tự xưng,

để gọi người giao tiếp với mình và để chỉ người thứ ba vắng mặt trong cuộcgiao tiếp Còn đại từ xưng hô là một từ loại, hay chính xác hơn là một bộ phậncủa từ loại đại từ được dùng để xưng hô” (Nguyễn Thị Trung Thành, 2007: 2)

Theo quan điểm của các nhà Việt ngữ trước đây như Cao Xuân Hạo(2001), Nguyễn Đức Thắng (2002) đều cho rằng: “Bên cạnh nhóm đại từ nhânxưng đích thực dùng trong xưng hô, người Việt còn dùng các “đại từ nhânxưng lâm thời” gồm các danh từ thân tộc, danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp đểxưng hô” Diệp Quang Ban (2005: 288) nhấn mạnh: “Trong xưng hô, chínhlớp từ thứ hai tức danh từ chỉ quan hệ thân tộc cho thấy rõ nhất nghĩa liênnhân của nhân xưng từ trong tiếng Việt

Như vậy, trong giao tiếp, người Việt thường mượn các từ chỉ quan hệgia đình, nghề nghiệp, chức vụ, học hàm, học vị… để xưng gọi, đặc biệt làcác từ chỉ quan hệ gia đình chiếm số lượng lớn và xuất hiện trong nhiều môitrường hoạt động của con người Bởi vì, trong giao tiếp, người nói thườnghướng tới người đối thoại với hai thái độ: lịch sự hoặc không lịch sự gắn vớibốn kiểu sắc thái biểu cảm: trang trọng, trung hoà, thân mật, suồng sã và thôtục, khinh thường Mặt khác, trong giao tiếp, xưng hô thường thể hiện ở haiphạm vi: Xưng hô trong gia tộc và xưng hô ngoài xã hội Điểm đặc biệt tronggiao tiếp của người Việt là quan hệ giữa người và người trong gia tộc chuyểnthành quan hệ giữa người và người trong xưng hô ngoài xã hội Trong giao

Trang 15

tiếp, những người tham gia giao tiếp cần phải thực hiện đúng vai giao tiếp củamình Ngoài ra, mỗi cá nhân đều phải tuân thủ những quy tắc giao tiếp đãđược xã hội chấp nhận như những chế định Một trong những quy tắc và chiếnlược quan trọng luôn được chú ý trong giao tiếp là nhân tố lịch sự Các nhànghiên cứu cũng đã đưa ra cả một lý thuyết liên quan tới vấn đề này gọi là lýthuyết lịch sự.

1.1.3 Một số vấn đề về lý thuyết lịch sự và vai giao tiếp trong ngôn ngữ

1.1.3.1 Lý thuyết lịch sự trong ngôn ngữ học

Lịch sự là một phạm trù gắn liền với lịch sử phát triển của các nền vănhoá, trong đó phản ánh các nền nếp văn hoá của dân tộc Mặt khác, lịch sựcũng gắn với sự phát triển văn hoá của từng cá nhân Như vậy, lịch sự đượcthực hiện bởi từng cá nhân trong từng nền văn hoá cụ thể Các chiến lược lịch

sự là những phương thức mà mỗi cá nhân ý thức được trong nền văn hoá củamình và cố gắng thực hiện chúng, nhưng việc thực hiện các chiến lược lịch sựphải được cộng đồng chấp nhận, tức là phải tuân theo các chế định xã hội Do

đó một hành vi lịch sự ở nơi này lại có thể không phải là thích hợp với cáchquan niệm về lịch sự ở một miền đất khác Mỗi dân tộc đều có những quanniệm khác nhau về tính lịch sự trong giao tiếp

Vấn đề lịch sự trong giao tiếp được các nhà ngôn ngữ học đặc biệt quantâm từ những năm 70 của thế kỷ XX Kể từ đó tới nay, đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu về vấn đề này Có thể kể đến những công trình của các tácgiả như Brown và Levinson, Kerbrat - Orecchioni, Leech, Grice

Leech cho rằng các hoạt động giao tiếp phải tuân theo một quy tắc cơbản: “Hãy lịch sự”, đó chính là các nguyên tắc lịch sự (Principles ofPoliteness) Nguyên tắc này không liên quan đến khái niệm thể diện mà liênquan đến khái niệm cái mất và cái được (Leech, 1983: 132)

Trang 16

Theo Penelope Brown và Stephen Levinson, ý niệm về lịch sự bao giờcũng gắn liền với ý niệm về thể diện vốn có tính phổ quát trong nhân loại(Brown P and Levinson S., 1987) Ý niệm về thể diện thì bao giờ cũng gắnliền với những niềm tin và những bảng giá trị nhất định Các niềm tin và bảnggiá trị này thay đổi theo từng nền văn hoá, và trong mỗi nền văn hoá, thay đổitheo từng giai đoạn lịch sử.

Như vậy, lịch sự là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội Phéplịch sự thể hiện qua mối quan hệ liên nhân trong tương tác, làm cho cuộctưỡng tác xã hội được hài hoà, các cá nhân tham dự cảm thấy dễ chịu, thoảimái và góp phần đưa cuộc tương tác đến thành công Do đó, để có thể tiếp xúcliên văn hoá, người học cần phải tìm hiểu, ngay từ đầu, các nguyên tắc lịch sựcủa ngôn ngữ mà mình đang học

1.1.3.2 Vai giao tiếp

Để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giaotiếp phải có một mối quan hệ qua lại nhất định, đó chính là quan hệ giao tiếp.Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xã hộichung, trên cơ sở cấu trúc của xã hội đó

“Khi nói đến quan hệ giao tiếp là muốn nói đến mối quan hệ giữa cácthành viên tham gia một cuộc giao tiếp cụ thể Là một “thực thể đa chứcnăng”, mỗi một người có rất nhiều vai từ ở trong gia đình đến ra ngoài xã hội”(Nguyễn Văn Khang, 1999: 199) Một người đàn ông ở trong gia đình là chatrong quan hệ với con, là con trong quan hệ với cha, là chồng trong quan hệvới vợ, là anh trong quan hệ với em… Ở ngoài xã hội, anh ta có thể là thủtrưởng đối với nhân viên cấp dưới, nhưng lại là nhân viên trong quan hệ vớithủ trưởng cấp trên, là thầy giáo trong quan hệ với học sinh… Tất cả

Trang 17

những mối quan hệ đan xen ấy làm nên một mạng các quan hệ với rất nhiềuvai khác nhau.

Hoạt động giao tiếp bao gồm các nhân tố: nhân vật giao tiếp, thực tếđược nói tới, hoàn cảnh giao tiếp, hệ thống tín hiệu được sử dụng làm công

cụ Trong giao tiếp, nhân vật giao tiếp luôn phải lựa chọn sẽ nói gì, nói nhưthế nào và muốn có một sự lựa chọn đúng, người tham gia giao tiếp không thểkhông tính đến mối quan hệ giữa bản thân với các thành viên tham gia giaotiếp

Các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng thuật ngữ vai giao tiếp để thể hiện

vị thế xã hội của nhân vật hội thoại Có thể nói, vai giao tiếp là cơ sở mà cácnhân vật hội thoại dựa vào để tổ chức và biểu hiện vị thế xã hội của mìnhtrong giao tiếp Vị thế xã hội có thể phụ thuộc vào giới tính và tuổi tác Căn

cứ vào tuổi tác thì những người nhiều tuổi hơn ở bậc trên những người ít tuổi

hơn Các cặp xưng hô trong tiếng Việt như: ông – cháu, chú – cháu, anh –

em, chị - em, bác – tôi… phản ánh sự khác biệt về tuổi tác của các nhân vật

giao tiếp

Như vậy, “vai giao tiếp” là một khái niệm đặc biệt quan trọng tronggiao tiếp của người Việt Nguyễn Văn Khang quy mối quan hệ giữa bản thânngười nói và các thành viên giao tiếp về hai mối quan hệ chính: quan hệquyền thế và quan hệ kết liên Người nói phải xác định được vai của ngườitham dự giao tiếp ở vào một quan hệ nào đó thì sẽ có sự lựa chọn phong cáchngôn ngữ tương ứng để giao tiếp sao cho thoả đáng Nếu vai của người giaotiếp ở vào quan hệ quyền thế thì phải chọn phong cách ngôn ngữ tương đốichính thức, còn khi vai của người giao tiếp ở vào quan hệ kết liên thì phongcách ngôn ngữ có phần tuỳ tiện, thoải mái hơn

Trang 18

1.2 Đại từ nhân xưng trong tiếng Anh, tiếng Đức và cách biểu đạt

tương đương trong tiếng Việt

1.2.1 Đại từ nhân xưng trong tiếng Anh

Đại từ nhân xưng trong tiếng Anh là một chủ điểm ngữ pháp thu hútđược sự quan tâm đặc biệt của các nhà ngữ pháp học Đại từ (pronoun) bắtnguồn từ tiếng La-tinh “pro - nomen”, có nghĩa là “thay thế cho danh từ” Kể

từ thế kỷ XVI khi lần đầu tiên thuật ngữ “đại từ nhân xưng” (personalpronouns) xuất hiện, đã có rất nhiều quan niệm của các nhà ngôn ngữ về vấn

đề ngữ pháp này Trong những định nghĩa về đại từ nhân xưng được đưa ra,định nghĩa cho rằng đại từ nhân xưng “thay thế cho danh từ” hay “là từ thaythế cho danh từ” được coi là những định nghĩa phổ biến nhất Đại từ nhânxưng còn được định nghĩa là “từ thay thế cho danh từ hoặc cụm danh từ”(Leech và Svartvik 1975; Young 1984; Freeborn 1987; Crystal 1988;Greenbaum 1991, McArthur 1992) (Dẫn theo Katie Wales, 1996: 5)

Từ điển Longman định nghĩa đại từ nhân xưng như sau: “Đó là một hệthống đại từ biểu thị một phạm trù ngữ pháp của ngôi, mà hệ thống các từ này

ở trong tiếng Anh được tạo bởi một loạt các hình thái từ đơn giản I, you, we,

he, she, it, they và các biến thể như me, mine, yours, him, his…” (Richards,

và cho mọi đối tượng:

Trang 19

- “Perhaps that‟s why I spend so much time at the gym.” (Richard

(Có lẽ đó là lý do vì sao tôi dành rất nhiều thời gian ở phòng tập.)

- “We‟re divorcing It‟s really not her fault.” (Richard North

Patterson, 2009: 20)

(Chúng tôi ly dị Thật sự là điều này không phải do lỗi của cô ấy.)

- “But if you take my voice, what have I left?” (Hans Christian

“Nhưng nếu mụ lấy giọng hát của tôi thì tôi chẳng còn gì nữa ư?” (Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Văn Hải và Vũ Minh Toàn, 2012)

Việc lựa chọn hình thức đại từ thích hợp để thay thế cho danh từ phụ thuộc vào yếu tố số nhiều hay số ít, giống đực hay giống cái:

- Lan has come She can help us lay the table (Lan đến rồi Cô ấy có

thể giúp chúng ta sắp xếp bàn ăn.) (“She” là đại từ thay thế cho danh từ “Lan”, số

ít, giống cái)

- The students are here I have to tell them about the teatalk (Sinh

viên đến rồi Tôi phải nói với họ về buổi toạ đàm.) (“them” là đại từ thay thếcho danh từ “the students”, số nhiều)

- Has Nam arrived? He will go with us to the conference (Nam đến

chưa? Anh ấy sẽ cùng chúng ta đến dự hội thảo.) (“he” là đại từ thay thế chodanh từ “Nam”, số ít, giống đực)

1.2.2 Đại từ nhân xưng trong tiếng Đức

Từ điển Langenscheidt định nghĩa đại từ nhân xưng trong tiếng Đứcnhư sau: “Các đại từ thuộc lớp này có quan hệ đặc biệt với các danh từ khác

Vì vậy chúng tôi xác định đại từ như “một từ được sử dụng thay cho danh từ

Trang 20

và đề cập đến cùng một người hay một vật như danh từ, ví dụ: anh ta, côấy…” (Dieter Götz, Hünther Haensch, Hans Wellmann, 2003: 583)

“Đại từ nhân xưng là những từ dùng thay thế cho danh từ, và biểu thịngười, vật và sự vật.” (Götze/Hess-Lüttich 1999: 263)

Đại từ nhân xưng tiếng Đức có thể được phân chia theo nhiều cáchkhác nhau như tiêu chí dụng học, tiêu chí ngữ pháp Với tiêu chí dụng học,đại từ nhân xưng được nhìn nhận dưới góc độ khả năng tham gia giao tiếpthực tế trong hội thoại Khi được phân loại theo tiêu chí ngữ pháp, đại từ nhânxưng tiếng Đức được phân chia theo ngôi ngữ pháp, tức là theo ngôi thứ nhất(I Person), ngôi thứ hai (II Person) và ngôi thứ ba (III.Person) Chúng tôi xinlựa chọn cách phân loại này để trình bày trong phần phân loại đại từ nhânxưng trong tiếng Đức

Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất bao gồm các đại từ nhân xưng “ich”

và “wir” trong đó “ich” thay thế cho một người còn “wir” thay thế cho nhiềungười Cả hai đại từ này đều được sử dụng cho người nói/người viết

Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai gồm các đại từ “du”, “ihr” và “Sie”

“Du” và “ihr” là dạng thức xưng hô thân mật, được sử dụng trước hết

là giữa những thành viên trong gia đình, hay giữa những người bạn với nhau,những người trẻ tuổi Ngoài ra, hai đại từ nhân xưng này cũng được sử dụnggiữa những người đồng nghiệp tại nơi làm việc, các tổ chức, xưng hô với trẻem… “du” được dùng với một người cụ thể, “ihr” dùng với nhiều người(nhưng không bao giờ dùng cho người nói) “Ihr” trước đây cũng thườngđược sử dụng khi nhà vua gọi các thần dân của mình

- “Sie” (luôn luôn được viết hoa) là dạng thức lịch sự của đại từ nhân xưng ngôi

thứ 2 và được dùng cho cả số ít và số nhiều Đại từ này được dùng trong cáctình huống giao tiếp trang trọng, giữa những người không thân quen (thường

là người lớn tuổi)

Trang 21

Ví dụ:

- Số ít: Herr Schulze, wir begrüβen en Sie herzlich in unserer Schule.

- Số nhiều: Sehr geehrte Damen und Herren, wir begrüβen en Sie in

unserer Werkstatt

Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba gồm các đại từ “er”, “sie”, “es” (số ít) và

“sie” (số nhiều) Các đại từ này có những đặc điểm sau:

Về đặc điểm chức năng, các đại từ nhân xưng thuộc nhóm này có chức năng thay thế cho người hay vật, sự việc được nhắc đến

- sie (số nhiều) dùng để thay thế cho một danh từ số nhiều.

- er, sie, es dùng để thay thế cho một danh từ số ít Để lựa chọn giữa

er, sie, es người ta dựa vào quy tắc giới tính ngữ pháp.

Đại từ “es” là một đại từ đặc biệt “Er” và “sie” chỉ thay thế cho một từ,

“es”có thể thay thế cho một từ hoặc cả câu:

- Magst du das Handy? Ja, es ist wunderbar! (es thay thế cho một danh

từ) (Bạn có thích chiếc điện thoại đó không? Có, nó tuyệt lắm!)

- Ist sie schnell? Ja, sie ist es (es thay thế cho cả câu) (Cô ấy có nhanh

nhẹn không? Có.)

Sự lựa chọn giữa “sie” và “er” là phụ thuộc vào giống của danh từ: sie

chỉ có thể được dùng để chỉ một danh từ thuộc giống cái và “er” dùng để chỉdanh từ giống đực “Es” thì vừa được dùng để chỉ danh từ giống trung, vừa cóthể dùng như một chủ ngữ giả:

Ví dụ:

Studenten (Anh có nhìn thấy những cậu bé và cô bé ở đằng kia không? Đó là sinhviên của tôi.)

Trang 22

- Es regnet (Trời mưa.)

- Es ist schon spät (Đã muộn rồi.)

Trong tiếng Đức có sự chia động từ Động từ được chia theo chủ ngữ,tức là cho các ngôi nói trên khi xưng hô

Việc chia động từ này hết sức quan trọng vì chủ ngữ (Subjekt) trongtiếng Đức có thể hoán vị, không phải lúc nào cũng đứng ở vị trí thứ nhất Đểnhận ra chủ ngữ người ta phải dựa vào dạng thức được chia của động từ(konjugiertes Verb, Prädikat, vị ngữ)

Như vậy, trong tiếng Đức có 10 đại từ nhân xưng tương ứng với cácngôi giao tiếp:

Số ít (Singular):

er, sie, es Ngôi thứ ba

(Ngôi thứ ba số ít được chia ra ba giống: giống đực, giống cái và giống trung)

Số nhiều (Plural):

ihr, Sie Ngôi thứ hai

Trang 23

1.2.3 Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và các phương tiện xưng hô khác

Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, các nhân vật tham gia giao tiếpdùng ngôn ngữ để tạo lập quan hệ Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt baogồm nhiều từ loại khác nhau nhằm đáp ứng tính đa dạng trong xưng hô và đạthiệu quả giao tiếp nhất định Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt có thể phânthành hai nhóm: nhóm đại từ nhân xưng đích thực và nhóm các phương tiệnxưng hô khác

1.2.3.1 Đại từ nhân xưng đích thực trong tiếng Việt

Diệp Quang Ban (2005) căn cứ vào vai nhân vật tham gia quá trìnhgiao tiếp cùng với sự phân biệt về số lượng nhân vật ở mỗi vai đó để chia đại

từ nhân xưng đích thực theo bảng phân loại sau:

Bảng 1: Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt

Nhân xưng từ Nhân vật trong

giao tiếp

Người nói: tôi, tao, tớ (ta), chúng tôi, chúng chúng ta, ta,

(ngôi thứ nhất số thứ nhất số nhiềunhiều loại trừ) bao gộp)

Người được nói nó, hắn, y chúng nó, chúng

đến:

Ngôi thứ ba

Trang 24

Đại từ nhân xưng “tôi”, “chúng tôi” tương đối trung tính và ít dùngtrong hoàn cảnh xưng hô thân mật Trong phong cách ngôn ngữ khoa học, đểtạo tính khách quan cho bài viết, tác giả công trình thường xưng “tôi”, “chúngtôi” Đinh Trọng Lạc cho rằng: “Đại từ nhân xưng “tôi”, “chúng tôi” không có

sự hô ứng ở ngôi thứ hai và ngôi thứ ba và phải thay bằng các từ xưng hô:ông, bà, anh, chị… (Đinh Trọng Lạc, 2004: 171)

Đôi khi trong một số ngữ cảnh giao tiếp nhất định, việc dùng đại từnhân xưng “tôi” để xưng còn mang tính nghiêm túc Chẳng hạn, trong hộinghị, đại biểu có thể xưng “tôi” gọi đồng chí Xưng “tôi” trong một số trườnghợp cũng có thể thể hiện sự khẳng định của “cái tôi” cá nhân

“Tôi” cũng được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày giữa nhữngngười không quen biết, giữa bạn bè… và thể hiện quan hệ ít thân thiết, cókhoảng cách giữa những người giao tiếp

- Chị làm ơn cho tôi hỏi bây giờ là mấy giờ rồi ạ?

- Anh/Chị có thể giúp tôi điền vào phiếu khảo sát này được không?

Nhưng khi người nói sử dụng đại từ nhân xưng “tôi” với đối tượng cóquan hệ thân thiết với mình mà bình thường mình sử dụng đại từ nhân xưngkhác “tôi” thì đại từ “tôi” báo hiệu sự rạn nứt quan hệ thân thiết vốn có

- Tôi muốn cậu làm rõ vấn đề đó.

- Tôi muốn chúng ta nói chuyện thẳng thắn với nhau.

Đại từ nhân xưng “tao” có đại từ hô ứng: “mày”, “mi” (ngôi thứ hai);

“hắn”, “nó” (ngôi thứ ba) Trong giao tiếp, việc sử dụng cặp hô ứng “tao –mày, mi”; “tao – nó”; “tao – hắn” mang hai sắc thái: hoặc thân mật, suồng sã,hoặc tỏ vẻ coi thường, khinh miệt

Trang 25

Ví dụ:

- Tao hỏi mày, mày là cái thá gì mà dám đến tranh cướp… của

tao hử? (Nguyễn Minh Ngọc, 2012: 159)

Trong ví dụ trên, hai nhân vật giao tiếp là hai người phụ nữ đang tranhcãi nhau, thay vì xưng “chị - em” như giao tiếp với sắc thái trung hòa hay thânmật, người nói xưng “tao” và gọi người nghe là “mày” Cặp từ xưng hô “tao –mày” trong tình huống này thể hiện thái độ khinh ghét, thù hằn của người nóiđối với người nghe

Tuỳ thuộc vào đối tượng giao tiếp, cặp xưng hô “tao – mày” còn mangsắc thái thân mật và thường được giới trẻ dùng để gọi nhau:

Ví dụ: “Tao nhớ mày lắm đó! Tuần này mày có về quê không?”

Đại từ nhân xưng “hắn” dùng để chỉ người, khi sử dụng thường mangsắc thái không thân mật, có phần miệt thị Từ “y” chỉ người nam (hiện nay ítdùng; để chỉ người nữ trước đây cũng dùng từ “thị”, đối lập với “y” Từ “nó”chỉ người, vật được nhắc đến “Nó” có thể dùng với sắc thái thân mật hoặckhinh miệt, suồng sã Trong ví dụ dưới đây, “nó” là đại từ được người chịdùng để gọi người em với ý nghĩa thân mật:

- Nó nằm trong buồng ấy, chắc vừa ngủ Ở bên này chị nấu cơm ăn

xong hãy về bên ấy (Thanh Phúc, 2010: 13)

Trong khẩu ngữ, hiện tượng “nó” làm thành phần đồng ngữ của danh từ

là hiện tượng rất phổ biến:

- Tình cảnh tôi nó bó buộc lắm!

Đại từ “ta”, “chúng ta” bao gồm người nói và người nghe “Chúng ta”luôn luôn được xác định là số nhiều, còn “ta” có thể là số ít hoặc số nhiều

Trang 26

“Ta” cũng được dùng để đại diện cho một tập thể, hoặc đặt mình ở vị thế bề trên nói với bề dưới:

- Ta thương cảnh khổ của nhà ngươi Vậy ta giúp nhà ngươi làm giàu.

(Nguyễn Thị Huế, 2014: 66)

Ngày nay, trong quan hệ bạn bè, khi giao tiếp, giới trẻ cũng sử dụng đại

từ “ta” để xưng thể hiện sự thân mật gần gũi mà không có ý tỏ thái độ ngạomạn:

- “Chiều nay ta đi xem phim đi!”

Đại từ nhân xưng “họ” là đại từ nhân xưng số nhiều, dùng cho người lớn

và tỏ thái độ bình thường “Chúng”, “chúng nó” dùng để gọi trẻ em hoặc khingười nói tự đặt mình ở cương vị cao hơn và tỏ vẻ coi thường hoặc miệt thị

“Mình” có thể là đại từ nhân xưng chỉ ngôi thứ nhất, số ít với cách sửdụng như đại từ “tôi” trong khẩu ngữ và trong thể nhật ký “Mình” cũng cóthể được dùng để xưng hô giữa vợ và chồng Lúc này, “mình” được dùng ởngôi thứ hai:

- “Bao giờ mình định nói chuyện với con?

Trên đây là cách sử dụng của các đại từ xưng hô đích thực trong tiếngViệt Để đạt hiệu quả giao tiếp thì người tham gia giao tiếp phải lựa chọn cácphương tiện xưng hô sao cho đạt được mục đích giao tiếp Bên cạnh đó, việclựa chọn các phương tiện xưng hô không chỉ thể hiện nét đẹp văn hoá trongứng xử của người Việt, mà việc lựa chọn từ xưng hô sao cho đúng mực, hợpchuẩn còn thể hiện tính lịch sự, chuẩn mực trong xưng hô Điểm đặc biệttrong tiếng Việt là các đại từ nhân xưng thường mang sắc thái biểu cảm, ítmang sắc thái trung tính như tiếng Anh, tiếng Đức… Do vậy, trong giao tiếpthay vì sử dụng các đại từ nhân xưng, người Việt có xu hướng sử dụng các

Trang 27

danh từ, danh ngữ làm phương tiện xưng hô Bởi vì, việc sử dụng các danh từ,danh ngữ làm phương tiện xưng hô không chỉ thể hiện tính lịch sự trong giaotiếp mà còn phù hợp với nguyên tắc “xưng hô nâng bậc” hay “xưng khiêm hôtôn” của người Việt.

1.2.3.2 Các phương tiện xưng hô khác trong tiếng

Việt a Danh từ thân tộc

Danh từ thân tộc là một lớp từ đặc biệt trong tiếng Việt Nguyễn TàiCẩn (1975: 141) đã viết: “Trong danh từ chỉ người, trước hết phải nói đếnnhững danh từ chỉ quan hệ thân thuộc Số lượng những danh từ này kháphong phú, phong phú hơn ở những tiếng như tiếng Nga, tiếng Pháp chẳnghạn.” Sở dĩ như vậy là vì trong tiếng Việt:

- Có sự phân biệt bậc trên và bậc dưới: bác/chú, anh/em, chị/em

- Có sự phân biệt bên nội và bên ngoại: bác, chú/cậu; cô/dì

- Có sự phân biệt bên có quan hệ máu mủ với bên không có quan hệ

máu mủ: bác, chú, cậu/dượng; cô, dì/mợ, thím

Danh từ chỉ quan hệ thân thuộc là một nhóm từ thường có thể dùng vớihai ý nghĩa: dùng với ý nghĩa chính xác của chúng để xưng hô với các thànhviên trong gia đình, và dùng với ý nghĩa mở rộng để xưng hô ở ngoài xã hộivới những người vốn không có quan hệ thân thuộc gì với mình Một trongnhững phong cách giao tiếp ngôn ngữ của người Việt là giữ gìn tôn ti trật tựtrong giao tiếp Do vậy, trong phạm vi gia đình, các danh từ thân tộc có sựphân biệt về vai vế, tuổi tác giữa các thành viên Ngoài ra, danh từ thân tộcđược dùng trong phạm vi gia đình cũng thể hiện sự phân biệt về giới tính, gia

hệ, quan hệ hôn nhân cũng như các mức độ tình cảm

Các danh từ thân tộc không chỉ được sử dụng trong phạm vi gia đìnhngười Việt mà còn được sử dụng để giao tiếp ngoài xã hội Trong đó các từ

Trang 28

thân tộc như: “ông, bà, cụ, anh, chị, em, chú, bác” được sử dụng thông dụngnhất Nếu như người Anh gặp nhau ngoài xã hội họ có thể chỉ xưng hô bằngcặp đại từ “I – you”, người Đức xưng hô bằng cặp đại từ “Ich – Sie/du” thìđối với người Việt, người nói lại cần nghĩ ngay xem người đang nói chuyệnvới mình đáng tuổi ông/bà/chú/bác/cô/anh/chị để xưng hô cho phải phép, nếukhông sẽ là vi phạm quy tắc xưng hô của người Việt.

Trong tiếng Việt, xưng hô bằng các danh từ thân tộc là một trongnhững tác nhân quan trọng để vun đắp, duy trì mối quan hệ tình cảm giữa cácnhân vật giao tiếp dựa trên quan hệ huyết thống Mặt khác, việc dùng cácdanh từ thân tộc trong giao tiếp xã hội phù hợp với ngữ cảnh, đối tượng giaotiếp còn thể hiện chiến lược giao tiếp của người Việt

Sử dụng danh từ thân tộc trong xưng hô là nét khác biệt nhất giữa tiếngAnh, tiếng Đức và tiếng Việt vì trong tiếng Anh và tiếng Đức, từ chỉ thân tộchầu như không được sử dụng để xưng hô Ngược lại, trong tiếng Việt, từ chỉthân tộc lại được sử dụng rất nhiều Lấy ví dụ “uncle” trong tiếng Anh Từnày được dùng để chỉ anh, em của bố hoặc mẹ Khi tìm từ tương đương trongtiếng Việt, chúng tôi thấy rằng tiếng Việt cũng có một lớp từ diễn tả mối quan

hệ gia đình như thế, nhưng lại phức tạp hơn nhiều Trong tiếng Việt, từ “bác”

để chỉ anh trai của bố hoặc mẹ, “chú” để chị em trai của bố hoặc mẹ Tuynhiên, từ “bác” lại được dùng trong giao tiếp để gọi một người cùng trang lứavới bố mẹ, ngay cả khi người đó không có quan hệ gì về huyết thống Hoặc từ

“chú” có thể được dùng để gọi người nghe “Từ sáng đến giờ chú câu được mấy con cá rồi?” “Bác cứ về đi rồi em bảo cháu mang sang cho bác”.

Người Việt xưng hô theo hai bên nội ngoại nhưng người Anh thì dùngchung không phân biệt: ông nội, ông ngoại (grandfather); bà nội, bà ngoại

Trang 29

Trong tiếng Việt, các từ: con, cháu, em, cô, dì, chú, bác… được sửdụng rộng rãi trong xưng hô nhưng trong tiếng Anh những từ tương đươngnhư aunt, uncle… lại không được dùng để xưng hô trực tiếp.

b Tên riêng

Trong giao tiếp, ngoài cách xưng hô bằng đại từ hoặc danh từ thân tộc,xưng hô bằng tên riêng cũng được sử dụng Việc sử dụng cách hô gọi này chochúng ta thấy được mối quan hệ giữa người nói và người nghe Bởi vì, khi cácnhân vật giao tiếp sử dụng tên riêng để xưng hô thì ít nhất giữa họ phải có sựquen biết từ trước Hơn nữa, việc dùng tên riêng cũng thể hiện tính lịch sựtrong giao tiếp Việc dùng tên riêng để gọi khi chưa xác định rõ vai giao tiếp

sẽ bị coi là bất lịch sự, đe dọa thể diện của người nghe

Việc xưng hô bằng tên riêng được sử dụng khá rộng rãi trong giao tiếp

ở gia đình cũng như ngoài xã hội Trong phạm vi gia đình, cách xưng hô nàythể hiện được tình cảm trìu mến giữa các thành viên trong gia đình Ví dụtrong gia đình, có nhiều trường hợp vợ chồng, anh chị em hay bề trên gọi concháu bằng tên riêng, thậm chí có trường hợp con cháu gọi bề trên bằng tênriêng kèm theo từ chỉ quan hệ Còn ngoài xã hội, trong giao tiếp giữa nhữngngười cùng lứa tuổi, bằng vai thì cách xưng hô bằng tên riêng có thể rút ngắnkhoảng cách giữa những người giao tiếp và đồng thời dễ tạo cảm giác bìnhđẳng, thân thiện giữa họ

c Danh từ chức vị dùng trong xưng hô

Ngoài lớp danh từ thân tộc, danh từ chỉ chức vị cũng được dùng làm từxưng hô Người Việt có thể dùng từ chỉ chức vụ hoặc cương vị xã hội thaycho nhân xưng từ ngôi thứ hai:

Ví dụ: - Giám đốc cho gọi em ạ?

Trang 30

- Thưa giám đốc, giám đốc cho gọi em ạ?

- Thưa giám đốc, công ty bạn mời giám đốc đi dự tiệc ạ

Chúng tôi xin nêu ra đây những danh từ chỉ chức vị thường gặp tronggiao tiếp của người Việt: thủ tướng, phó thủ tướng, tổng bí thư, bộ trưởng, đại

sứ, chủ tịch (nước), phó chủ tịch (nước), tổng giám đốc, phó tổng giám đốc,thứ trưởng, tổng cục trưởng, cục trưởng, chánh án, viện trưởng, giáo sư, tiếnsĩ…

d Một số từ ngữ khác

Ngoài các phương tiện xưng hô như đã nêu, người Việt còn sử dụngmột số từ, tổ hợp từ định vị không gian như “đây, đấy, đằng ấy, đằng này”.Các từ này chỉ được dùng trong quan hệ thân hữu giữa những nhân vật giaotiếp

- Đằng ấy đi đâu mà về muộn thế?

- Mặc, đây không biết (Đây tương đương với tôi, tớ)

Trang 31

và thay thế cho các danh từ/ danh ngữ.

Trong tiếng Anh và tiếng Đức, đại từ nhân xưng biểu hiện sắc tháitrung tính, không thể hiện nhiều sắc thái văn hóa, tính tầng bậc tôn ti Trongtiếng Việt, các từ biểu hiện tương đương với đại từ nhân xưng trong tiếng Anh

và tiếng Đức không chỉ là đại từ nhân xưng mà còn là các danh từ xưng hô.Các danh từ này còn được dùng nhiều hơn, phổ biến hơn các đại từ nhân xưngđích thực Các từ xưng hô phản ánh trực tiếp các mối quan hệ gia đình thânthuộc và tính chất quan hệ xã hội, phản ánh trình độ nhận thức, thái độ tìnhcảm của người nói với người nghe Chính vì vậy các từ xưng hô rất đậm sắcthái biểu cảm Trong hoạt động giao tiếp, những nhân tố như nhân vật giaotiếp; mục đích, nội dung giao tiếp; tình huống giao tiếp đều ít nhiều tác độngảnh hưởng tới việc lựa chọn, sử dụng từ xưng hô

Trang 32

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG TIẾNG ANH, TIẾNG ĐỨC VÀ TỪ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG VIỆT 2.1 Thực hiện chức năng ngữ pháp: quy chiếu các ngôi nhân xưng

2.1.1 Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất

2.1.1.1 Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít

Như chúng tôi đã trình bày trong chương 1, đại từ nhân xưng ngôithứ nhất số ít dùng để chỉ và thay thế cho một người nói / người viết

Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít trong tiếng Anh là đại từ “I”.Đại từ này luôn được viết hoa khi ở vị trí chủ ngữ trong câu Đặc điểm nàykhác với đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “Ich” trong tiếng Đức và “Tôi” trongtiếng Việt:

Trong tiếng Đức, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít là đại từ “ich”.Đại từ này chỉ được viết hoa (Ich) khi nó đứng đầu câu

Trong tiếng Việt, các từ xưng hô tương đương với “I” và “ich” bao gồm

“tôi”, “tao”, “ta”, “mình”… Tuy nhiên, việc lựa chọn các từ xưng hô đó cònphụ thuộc vào nhiều yếu tố Các đại từ “tôi”, “tao” được những thành viên có

vị trí cao hơn trong gia đình sử dụng “Tao” được sử dụng nhiều hơn “tôi”, vìtrong phạm vi gia đình, “tôi” mang tính chất xa cách và không thân thiện.Trước đây, đại từ “ta” cũng được sử dụng để xưng hô trong gia đình, đặc biệt

là các gia đình quý tộc Nay cách sử dụng đó không còn nữa Trong phạm vigia đình, các thành viên xưng hô với nhau chủ yếu bằng các danh từ thân tộc,quy tắc sử dụng các danh từ này phụ thuộc vào thứ bậc trong gia

Trang 33

đình, tuổi của các thành viên, thành viên tham gia giao tiếp là nam hay nữ…

Ví dụ, một người khi ở nhà sẽ là chồng (trong quan hệ với vợ), là cha (trongquan hệ với con cái) Song với cha mẹ mình thì lại là con, với ông bà nộingoại lại là cháu, với bố mẹ vợ lại là con rể

Khi mối quan hệ giữa những người giao tiếp không rõ ràng hoặc tìnhhuống giao tiếp là trung tính, từ biểu đạt tương đương với đại từ nhân xưng

“I” và “ich” trong tiếng Việt là “tôi” Đại từ “tôi” mang tính chất trung lập vàlịch sự

Ngoài ra, “I” hay “ich” có thể được biểu đạt bằng các đại từ nhân xưngđích thực trong tiếng Việt như “ta, “tao” Cả hai đại từ này đều thể hiện tính

“tự cao” của người nói khi tham gia giao tiếp, tuy nhiên vẫn có một vài khácbiệt nho nhỏ giữa cách sử dụng của hai đại từ này “Ta” trong thời kỳ trướcđây là từ xưng hô của những người thuộc tầng lớp trên, qua đó thể hiện vị trícủa họ trong xã hội, ví dụ:

“Lạ thật! Kinh đô của ta ở đây cả ba đời, có bao giờ dòng suối đục ngầuđâu, chắc hẳn có những buôn làng mới dựng ở phía trên ngọn nước đã làm

vẩn đục dòng suối của ta Ta phải cho lính đi theo dòng suối triệt hạ ngay

buôn làng mới, và bắt tên chủ làng về đây hỏi tội.” (Bảo Tiên, 2013: 74)

“Tao” lại không được sử dụng trong tình huống trên “Tao” mang tínhchất không trang trọng, do vậy đại từ này chỉ được sử dụng giữa những người

đã quen biết nhau khá rõ Ngoài trường hợp đó ra, “tao” lại mang ý nghĩakhác, đó là không lịch sự hay đe dọa:

“Da hätt ich Lust, mich schmutzig zu machen,” (Grimms Märchen,

Frau Holle)

“Tao mà lại có hứng làm việc ấy ư, làm cho bẩn người ra à!” (Bản

dịch của Hữu Ngọc, Bà chúa tuyết)

Trang 34

Ngoài các đại từ nhân xưng đích thực đã phân tích ở trên, từ xưng hôtương đương với “I” và “ich” còn bao gồm một loạt các danh từ thân tộc trongtiếng Việt.

Trong tiếng Anh và tiếng Đức, khi người con xưng hô với cha mẹmình, họ vẫn chỉ sử dụng đại từ nhân xưng “I” hay “ich” Còn trong tiếngViệt, từ xưng hô được sử dụng phổ biến nhất là “con”, có trường hợp sử dụng

là “em” Ví dụ:

Trường hợp xưng hô ngoài xã hội, khi những người là bạn bè hay cóquan hệ thân thiết xưng hô với nhau, họ có thể dựa vào tuổi tác và mối quan

hệ để lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp Chẳng hạn, nếu người nói và ngườinghe bằng tuổi nhau, người nói có thể xưng là “tớ / mình / đây / đằng này”,nếu người nói ít tuổi hơn người nghe, người nói có thể xưng là “em”, còn khingười nói nhiều tuổi hơn người nghe thì có thể xưng là “anh / chị”

Tuy nhiên, nếu xét về mối quan hệ thân thiết trong gia đình, đặc biệt làtrong gia đình người Việt, người nghe có khi chỉ bằng tuổi con của người nói,nhưng có khi người nói lại phải gọi người nghe bằng “chú” và xưng bằng

“cháu”, thậm chí gọi “bác/ông” xưng “cháu” Đây là nét văn hoá đặc biệttrong giao tiếp của gia đình Việt Nam

2.1.1.2 Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều

Khi có nhiều người cùng tham gia giao tiếp hay người nói muốn đạidiện cho một tập thể, người nói sẽ sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất sốnhiều Các đại từ này dùng để chỉ một nhóm người nói/ người viết

Trang 35

Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều trong tiếng Anh là đại từ

“we”

Trong thời kỳ trước đây, “we” chủ yếu được sử dụng bởi những ngườithuộc tầng lớp cao quý như vua, hoàng hậu, những người đứng đầu bộ tộc…

để xưng hô trong những dịp trang trọng

“We” cũng được các phóng viên, tác giả của các bài viết sử dụng đểthể hiện quan điểm của nhóm tác giả trên các tờ báo, tạp chí, website

Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều trong tiếng Đức là đại từ

“wir”, dùng để chỉ một nhóm người nói/ người viết

Thông thường, từ biểu đạt tương đương của “we” và “wir” trong tiếngViệt là “chúng tôi”, “chúng ta” Tuy vậy, cách sử dụng của các đại từ nàycũng có điểm khác nhau:

“Chúng tôi” là để chỉ người nói ngôi thứ nhất số nhiều và không baogồm người nghe:

- We come from Stuttgart.

- Wir kommen aus Stuttgart.

- Chúng tôi đến từ thành phố Stuttgart.

“Chúng ta” để chỉ chính bản thân người nói và cả người nghe:

“Wie es aber draussen war, sprachen die drei Männerchen

untereinander: „Was sollen wir ihm schenken, weil es so artig und gut ist und

sein Brot mit uns geteilt hat?‟ (Grimms Märchen, Die drei Mannlein im Walde)

“Khi cô đang quét tuyết ở sau nhà, ba người lùn nói chuyện với nhau:

„Cô ấy hiền lành và tốt bụng quá, chia bánh cho chúng ta ăn, giờ chúng ta

nên cho cô ấy cái gì nhỉ?” (Bản dịch của Hữu Ngọc, Ba người lùn trong rừng)

Trang 36

Trong tiếng Việt, những người trẻ tuổi hay những người có quan hệthân thiết thường sử dụng những cụm từ như “chúng mình”, “bọn mình”,

“chúng tao” Riêng từ “chúng tao”, nếu những người tham gia giao tiếp cómối quan hệ thân thiết thì từ này mang nghĩa tốt, ngoài trường hợp như vậy,

nó mang nghĩa khiêu khích và không lịch sự

Trong các tài liệu văn học cổ tiếng Đức, đại từ “wir” còn được giới quýtộc như vua chúa dùng để xưng hô, thể hiện uy quyền của mình Với cách sửdụng này, trong tiếng Việt có hai đại từ nhân xưng tương ứng là “ta” và

“trẫm”

“Trẫm” trước đây chỉ được nhà vua sử dụng Từ này hiện nay đã là từ

cổ và không được sử dụng nữa Chúng tôi xin dẫn ra dưới đây một ví dụ về từ

“trẫm” được dùng trong tác phẩm văn học:

“Trẫm rất cảm ơn nhà ngươi đã giúp trẫm trong việc xây dựng lớn này.

Trẫm cho nhà ngươi hòm ngọc này để thưởng công Thế nhưng, tất cả những

điều tai nghe mắt thấy ở dưới này, ngươi không được nói cho bất kỳ một aibiết.” (Nguyễn Thị Huế, 2014: 291)

“Ta” vừa có ý nghĩa chỉ cho một số người chung chung, ví dụ: “Nhìn

vào biểu đồ này ta sẽ thấy…” Ngoài ra, khi người nói sử dụng đại từ nhân

xưng “ta” là đã thể hiện sự “tự cao” của mình

Trong khoa học, “wir” được sử dụng để chỉ một nhóm tác giả cùng phátminh, sáng tạo hay nhận xét về một vấn đề nào đó:

Schweinegrippe, Vogelgrippe, Ebola und jetzt Marburg Jeden Tag gibt

es neue Nachrichten über gefährliche Viren Aber wie schlimm sind sie

wirklich? Wir haben eine Top-10 der gemeinsten Viren zusammengestellt.

(nguồn: DW, 12.10.14, 14h30)

Trang 37

(Cúm lợn, cúm gà, Ebola và giờ là Marburg Mỗi ngày lại có những tintức mới về những loại vi rút nguy hiểm Nhưng chúng thật sự nguy hiểm đến

mức nào? Chúng tôi thống kê ra đây 10 loại vi rút nguy hiểm nhất trên thế

giới.) (Phần tự dịch của tác giả luận văn)

Trong tiếng Việt, các từ tương đương được sử dụng là “chúng tôi”, “tác giả”:

“Với hướng tiếp cận này, qua những nguồn ngữ liệu cụ thể, chúng tôi

sẽ khảo sát những biểu hiện và diễn biến cụ thể của từ vựng từ thời tiếng Việt

cổ cho đến tiếng Việt ngày nay.” (Vũ Đức Nghiệu, 2011: 8)

Có thể thấy, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, số nhiều trong tiếng Anh,tiếng Đức và tiếng Việt đều dùng để đại diện hoặc thay thế cho một nhómngười nói/ người viết Tuy nhiên điểm khác biệt với đại từ nhân xưng trongtiếng Việt là trong tiếng Anh và tiếng Đức các đại từ “we” và “wir” trước đâytừng dùng để chỉ riêng và thay thế cho các tầng lớp quy tộc như vua, chúa.Trong tiếng Việt, các từ xưng hô tương đương với “we” và “wir” như “chúngtôi”, “chúng tao”, “chúng ta”… được sử dụng tùy vào những hoàn cảnh giaotiếp khác nhau (lịch sự, trang trọng/ suồng sã; bao gồm người nói/ không baogồm người nói…)

2.1.2 Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai

2.1.2.1 Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít

Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít trong tiếng Anh là đại từ “you”.Trong thời kỳ trung đại và cận đại, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số

ít là đại từ “thou” Đại từ này thể hiện sự thân mật, suồng sã Ngược lại, đại từ

“you” (số nhiều) lại là dạng thức lịch sự và trang trọng

Ngôn ngữ thay đổi theo sự phát triển của kinh tế và xã hội “You”ngày càng được xem là thể hiện cho sự giao tiếp lịch sự Đại từ này dần trở

Trang 38

thành đại từ chuẩn mực thể hiện ngôi thứ hai trong giao tiếp, cả số ít và sốnhiều Đại từ này nhanh chóng được sử dụng bởi các tầng lớp trong xã hội vàcác nhóm ngôn ngữ (Ronald Carter và John Mc Rae, 2001)

“You” là dạng thức duy nhất để thể hiện ngôi thứ hai số ít, khôngphân biệt người đang ở ngôi thứ hai đó là nam hay nữ, bao nhiêu tuổi, mốiquan hệ với người nói như thế nào

Trong tiếng Đức, ngôi thứ hai số ít gồm có hai đại từ nhân xưng là

“du” và “Sie”

Đại từ nhân xưng “du” là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít, trước hếtđược sử dụng trong phạm vi gia đình và những người thân thiết Các thànhviên trong gia đình có thể gọi người đang giao tiếp với mình là “du” màkhông có sự phân biệt về tuổi tác hay thứ bậc của người nói/ người nghe

Ngược lại, trong tiếng Việt, không có đại từ nhân xưng nào được sửdụng chung để chỉ người đang giao tiếp với mình Với trường hợp này, ngườiViệt sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ thân tộc để giao tiếp

Để sử dụng đúng những từ ngữ xưng hô này, người ta phải đặc biệt chú

ý đến mối quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp, nếu không sẽ dẫnđến trường hợp hiểu lầm

Trong tiếng Đức, đại từ nhân xưng “du” được sử dụng rộng rãi trongphạm vi giao tiếp của những người trẻ tuổi và bạn bè Với trường hợp này,các từ biểu đạt tương đương trong tiếng Việt có thể là “cậu”, “ấy”, “bạn”,

“anh”, “em”, “đằng ấy”, “mày”… Riêng từ “mày” sẽ mang nghĩa thân mật,suồng sã khi sử dụng giữa những người bạn, những người có quan hệ thânthiết Ngoài ra, “mày” có thể mang nghĩa thù hằn và khiêu khích:

Trang 39

“Es weinte, lief zur Stiefmutter und erzählte ihr das Unglück Sie schalt

es aber so heftig und war so unbarmherzig, dass sie sprach: “Hast du die

Spule hinunterfallen lassen, so hol sie auch wieder herauf (Grimms Märchen,

Frau Holle)

Cô khóc lóc chạy về kể chuyện không may ấy cho dì ghẻ nghe Dì ghẻ

mắng cô thậm tệ, rồi nhẫn tâm bảo cô: “Mày đánh rơi ống sợi xuống đó thì

mày phải xuống đó mà mò nó lên!” (Bản dịch của Hữu Ngọc, Bà chúa tuyết)

Không chỉ bạn bè hay những người thân quen sử dụng đại từ nhân xưng

“du” khi giao tiếp, mà cả những người yêu nhau cũng xưng hô với nhau bằng

“du” Trong tiếng Việt, khi người con trai nói chuyện với người con gái, họ có

thể xưng hô với nhau bằng cặp từ “anh - em” Và việc xưng anh / em trong

trường hợp này không phụ thuộc vào việc ai nhiều / ít tuổi hơn ai:

Đào đã đứng tựa người vào cột bương, cả thân người trên bị mái gianh

che tối, tiếng nói dịu đi như một hơi thở: “Anh Huân ạ, em muốn tâm sự với

anh một câu chuyện.” (Nguyễn Khải, 2000: 137)

Hai nhân vật trong đoạn trích này là Đào và Huân Mặc dù Đào nhiềutuổi hơn Huân, nhưng chị vẫn gọi Huân bằng “anh” và xưng mình là “em”

Đại từ “Sie” – Dạng thức lịch sự

Nếu như trong tiếng Anh, đại từ nhân xưng “you” là đại từ nhân xưngduy nhất được sử dụng là ngôi thứ hai số ít trong giao tiếp cho dù là thân thiệnhay lịch sự thì trong tiếng Đức còn có một đại từ được dùng riêng để thể hiện

sự trang trọng và lịch sự của người nói khi gọi người đang giao tiếp với mình,

đó là đại từ nhân xưng “Sie”

- Kommen Sie aus Deutschland? (Có phải anh đến từ nước Đức

không ạ?)

Trang 40

Đại từ nhân xưng “Sie” cũng được sử dụng thường xuyên trong giaotiếp hàng ngày, đặc biệt là với người lớn tuổi hơn hoặc giữa hai người chưatừng quen biết Trong trường hợp này, từ biểu đạt tương đương trong tiếngViệt thường là “anh” hay “chị” Người Việt khi tham gia giao tiếp, nếu khôngbiết chắc người đang nói chuyện với mình nhiều hơn hay ít hơn tuổi của mìnhthì thường lịch sự gọi người đó bằng “anh” hoặc “chị”.

Ich möchte ein Geschenk für meine Mutter kaufen Können Sie mich dieses Kleid sehen lassen? (Tôi muốn mua tặng cho mẹ tôi một món quà Chị

có thể lấy cho tôi xem chiếc váy kia được không?)

Khi cần xưng hô trang trọng thì các từ xưng hô như “ông”, “bà”, “ngài”

sẽ được sử dụng

DW (Kênh truyền hình và phát thanh Đức): Frau Ministerin, Sie sind

promovierte Mathematikerin Was begeistert Sie so an der Mathematik?

(Thưa bà Bộ trưởng, là một tiến sỹ toán học, bà có thể chia sẻ cảm hứng khi

học môn toán được không ạ?)

(Trích bài phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đức Johanna Wanka, DW– 12.10.2014, 15h00)

2.1.2.2 Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số nhiều

Trong tiếng Anh, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, dạng số nhiều vẫnđược viết là “you”

Như vậy, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít và số nhiều giống nhau vềmặt hình thức Để tránh nhầm lẫn, một số phương ngữ đã khắc phục hiệntượng này như sau: Ở vùng Nam Mỹ, để chỉ “you” với nghĩa số nhiều, người

ta dùng từ “y‟all” và “you‟uns” Ở vương quốc cổ đại East Anglia có thấy

“you together” Tại vùng Bắc Mỹ, Scotland, Ireland, Newzealand và Úc là từ

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w