Chođến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ Hán và Việt trong các lĩnh vực như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp v.v...Tuy nhiên,chưa có công trình nào chuyên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-VƯƠNG DĨNH(Wang Ying)
ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ PHẬT GIÁO TRONG TIẾNG HÁN
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ PHẬT GIÁO TRONG TIẾNG HÁN
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
VƯƠNG DĨNH (Wang Ying)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Khang
Hà Nội - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ
Vương Dĩnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sựhướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô và các bạn Với lòng kính trọng vàbiết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Khang, người thầy kính mến đã hết lòng
giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quátrình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô của Khoa Ngôn Ngữ đã luôn động viên
và giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, các anh chị em trong lớp K55 đã động viên
và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn
Trang 5MỤC LỤC
Mở đầu……….7
Chương 1 Cơ sở lý thuyết của đề tài ……… 16
1.1 Mối quan hệ giữa tôn giáo và ngôn ngữ……… 16
1.1.1 Đặc điểm chung……… 16
1.1.2 Ngôn ngữ tạo ra tôn giáo………17
1.1.3 Tôn giáo phát triển ngôn ngữ……… 18
1.1.4 Nhận xét……….20
1.2 Khái quát về Phật giáo ở Trung Quốc có liên quan đến tiếng Hán……… 20
1.2.1 Sự du nhập vào của Phật giáo vào Trung Quốc……….20
1.2.2 Các giai đoan phát triển và sự ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc… 22
1.2.3 Sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiếng Hán ………23
1.3 Khái quát về Phật giáo ở Việt Nam……… 26
1.3.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam………26
1.3.2 Các giai đoạn phát triển của Phật giáo Việt Nam……… 27
1.3.3 Sự ảnh hưỏng của Phật giáo đối với văn hoá Việt Nam……….29
Chương 2 Đặc điểm cấu trúc của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt)……… 32
2.1 Khảo sát về từ ngữ Phật giáo……….32
2.1.1 Phân loại từ ngữ Phật giáo trong Từ điển Phật học tiếng Hán 32
2.1.2 Phân loại từ ngữ Phật giáo trong Từ điển tiếng Hán hiện đại ………… 37
2.1.3 Khảo sát về từ ngữ Phật giáo trong tiếng Việt ……… ……….…………40
2.2 Đặc điểm cấu trúc của từ ngữ Phật giáo tiếng Hán……….…… 41
Trang 62.2.1 Từ phiên âm……… 42
2.2.2 Từ hỗn hợp……….46
2.2.3 Từ dịch nghĩa……… 51
2.2.4 Từ gốc Hán Phật hóa……… 56
2.2.5 Thành ngữ Phật giáo……… 58
2.2.6 Tục ngữ Phật giáo……… 61
2.3 Đặc điểm cấu trúc của từ ngữ Phật giáo tiếng Việt……… 62
2.3.1 Từ ngữ Phật giáo tiếng Việt………62
2.3.2 Thành ngữ và tục ngữ Phật giáo tiếng Việt………66
2.4 Tiểu kết……… 70
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán (có đối chiếu với tiếng Việt)………72
3.1 Một số vấn đề lí luận liên quan đến nghĩa của từ……… 72
3.2 Phân loại từ ngữ Phật giáo tiếng Hán theo đặc điểm ngữ nghĩa…… 73
3.2.1 Từ ngữ Phật giáo chuyên dụng……… 73
3.2.2 Từ ngữ gốc Phật……….75
3.3 Sự phát triển và biến đổi nghĩa của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Việt……… 91
3.3.1 Sự Biến đổi nghĩa cơ bản của từ………91
3.3.2 Tăng thêm hay giảm ít nét nghĩa của từ……… 92
3.3.3 Sự biến đổi phạm vi nghĩa của từ………93
3.3.4 Sự biến đổi sắc thái tình cảm về mặt nghĩa của từ……… 93 3.4 So sánh nghĩa của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt
Trang 7hiện đại……….94
3.4.1 Nghĩa cơ bản của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Phạn, tiếng Hán và tiếng Việt giống nhau………95
3.4.2 Nghĩa của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Phạn, tiếng Hán và tiếng Việt có sự khác nhau……… 97
3.5 Tiểu kết 100
Kết luận………101
Tài liệu tham khảo……… 104
Phụ lục……… 108
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới và là một tôn giáo cólịch sử lâu dài và nội dung phong phú, vì vậy Phật giáo trở thành đề tài nghiêncứu của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có ngôn ngữ
Lịch sử văn hóa của Trung Quốc là lịch sử của sự tiếp xúc với các nền vănhóa khác nhau trên thế giới trong đó có Phật giáo Nhờ quá trình giao lưu màvăn hoá nói chung, ngôn ngữ của Trung Quốc nói riêng cũng chịu ảnh hưởng rấtlớn từ Phật giáo Đã có nhiều công trình nghiên cứu về từ ngữ Phật giáo trongtiếng Hán ở các mặt như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhưng chưa có công trìnhnào khái quát chung về đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của từ ngữ Phật giáotrong tiếng Hán
Các công trình nghiên cứu về từ ngữ Phật giáo cũng ít khi quan tâm đến từngữ Phật giáo trong tiếng Việt Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, nhiều từ ngữ tiếngHán được du nhập vào tiếng Việt trong đó có những từ ngữ gốc Phật giáo Chođến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ Hán
và Việt trong các lĩnh vực như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp v.v Tuy nhiên,chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu về đặc điểm của từ ngữ Phật giáotrong tiếng Hán đối chiếu với tiếng Việt
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là Đặc điểm của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán (đối chiếu với tiếng Việt) Luận văn này hy
vọng sẽ có đóng góp nhất định về nghiên cứu từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán
và tiếng Việt
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán
Từ xưa đến nay, ngôn ngữ kinh Phật vẫn ảnh hưởng đến sự phát triển củatiếng Hán, nhưng mãi đến thế kỳ XX, chúng mới được những nhà ngôn ngữ họcquan tâm Ở Trung Quốc, lần đầu tiên sử dụng ngữ liệu trong kinh điển Phậtgiáo để nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán cận đại là Lã Thục Tương Năm 1940,với bài《《<《《《《《>《“《”《“《”《《《《 (Thích <cảnh đức truyền đăng lục>trung
“tại”, “trứ” nhị trợ từ) đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về ngữ pháp tiếng
Hán cận đại Vào thập kỷ 50, hai tác giả Chu Nhất Lương và ông Tưởng LễHồng đã bắt đầu nghiên cứu về từ vựng trong kinh điển Phật giáo bản Hán dịch.Đến thập kỷ 80, kinh điển Phật giáo dần dần được nhiều học giả quan tâm đến,
từ năm 1980 đến năm 2006, có khoảng hơn 900 bài nghiên cứu về “tiếng HánPhật giáo” Trong đó, có nhiều nhà ngôn ngữ học đã góp phần cho việc nghiêncứu kinh điển Phật giáo Chẳng hạn, nghiên cứu về mặt ngữ âm Phạn-Hán, cóhọc giả Dư Mẫn, Thi Hướng Đông, Lưu Quảng Họa v.v… Nghiên cứu về từ ngữlịch sử tiếng Hán, có Lương Hiểu Hồng, Tưởng Thiệu Ngu, Chu Khánh Chiv.v… Nghiên cứu về ngữ pháp của ngôn ngữ trong kinh điển Phật giáo có họcgiả Đổng Côn, Táo Guảng Thuận, Chu Khánh Chi v.v… Phạm vi nghiên cứuđược mở rộng đến các lĩnh vực như sự phiên dịch của kinh Phật ảnh hưởng đếntiếng Hán, sự ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với tiếng Hán Có thể nói
“tiếng Hán Phật giáo” là kết quả được tạo ra trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữvăn hóa giữa Trung Quốc và Ấn Độ Sự ảnh hưởng của kết quả này được thểhiện trong ba phương diện: những giai đoạn quan trọng của sự phát
Trang 10triển của tiếng Hán; hệ thống ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng của tiếng Hán; khẩu ngữ và chữ viết của tiếng Hán.
Thành quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về từ ngữ Phật giáo có thể kể đến là:
Thứ nhất là từ điển, nổi tiếng nhất và được sử dụng phổ biến nhất là《《《
《《《《 “Đại từ điển Phật học”《《《《 Đinh Phúc Bảo《,《《《《《《《
“Đại từ điển Phật giáo”《《《《 Nhiệm Kế Du《《《《《《《《《《 “Từ điển
từ ngữ Phật nguyên”《《《《 Tôn Vi Trương《《《《《《《《《“Thành ngữ và
Phật giáo”《《《《 Chu Thụy Mai《《,《《《《《《 “Đại Từ điển tiếng Hán” v.v…
Thứ Hai là các công trình như:《《《《《《《《《《《《《 “Nghiên cứu
về Phật điển và từ vựng tiếng Hán trung cổ ” 《《《《 Chu Khánh Chi《《《《
《《《《《《 “Phật kinh văn hiến ngữ ngôn”《《《《 Dư Lý Minh《《《《《
《《《“Phật kinh thích từ” 《《《《 Lý Vi Kỳ《《《《《《《《《《《《《
《《《《《 “Cấu trúc của từ ngữ Phật giáo và sư phát triển của từ vựng tiếng
Hán”《《《《 Lương Hiểu Hồng《《《《《《《《 “Tục ngữ Phật nguyên”《《
9
Trang 111) Ngôn ngữ kinh Phật trước thời Hán Ví dụ :《《《《《《《《《《《《《《《《《《
《《 “Tung tảo kỳ Hán Dịch Phật Điển khán trung cổ biểu phương sở đích chỉ thị đại từ ” 《《《《 Trần Văn Kiệt 《《《《《《《《《《《《《《“Tảo kỳ Hán dịch Phật điển ngữ ngôn nghiên cứu ”《《《《 Trần Văn Kiệt 《《《《《《《《《《《《《《《《《《“Đông Hán Phật kinh âm dịch từ tích đồng từ dị hình hiện tượng” 《 《 《 《 Cố Mãn Lâm《v.v…
2) Ngôn ngữ kinh Phật của thời Nam Bắc triều Ví dụ:《《《《《《《《《《《《《
“Ngụy Tấn Nam Bắc triều Phật kinh từ vựng nghiên cứu ”《《《
《 Nhan Hiệp Mậu《v.v…
3) Ngôn ngữ kinh Phật của thời Tùy-Đường Ví dụ :《《《《《《《《《
“Tùy dĩ tiền Phật kinh thích từ”《《《《 Lý Vi Kỳ《《《《《《《《《《《《《《
“Tiên đường Phật kinh từ ngữ trát kỳ lục tắc”《《《《 Uông Vi Huy《《《《《
《《《《《《《 “Sơ đường Phật điển từ vựng nghiên cứu ”《《《《 Vương
Thiệu Phong《v.v…
Một số học giả lấy từ ngữ trong một bộ kinh Phật nào đó để làm đối tượngnghiên cứu Những bộ kinh Phật nổi tiếng như “Kim cương kinh” , “Cao tăngtruyện” , “Lục độ tập kinh”, “Đại đường tây vực kỳ”, “Bách dụ kinh”, “Đại tạngkinh” v.v… Đối với các bộ kinh Phật, có những học giả chỉ nghiên cứu về một
bộ kinh Phật nào đó, chằng hạn như《<《《《>《《《《《 《“<kim cương
kinh>từ ngoại lai nghiên cứu ” 《《《《 Khổng Tường Trân《《《<《《《> 《《《《《
“<Cao Tăng Truyền”《《《《 Bào Kim Hoa《《《<《《《《>《《《《《 “<Lục Độ tập kinh
>từ ngữ lệ thích《《《《 Lý Vi Kỳ《《《<《《《《《> 《《《《《 “<Đại đường Tây du kỳ
>từ ngữ trát kỳ”《《《《 Lương
Trang 12Hiểu Hồng《v.v…
Cũng có những học giả nghiên cứu chỉ một bộ kinh Phật nhưng có mấy bảndịch khác nhau Ví dụ : “Lục độ tập kinh ”, có một vài học giả nghiên cứu về từngữ của nó trong các bản dịch khác nhau
- Từ góc độ từ vựng học nghiên cứu từ ngữ Phật giáo
Về nghiên cứu và phân tích toàn diện cấu trúc của từ ngữ Phật giáo, LươngHiểu Hồng là người đầu tiên Trong tác phẩm “cấu trúc của từ ngữ Phật giáo và
sự phát triển của tiếng Hán”, tác giả áp dụng cơ sở lý luận của từ vựng học vàxuất phát từ góc độ phương thức cấu tạo của tiếng Hán để phân tích cấu trúc của
từ ngữ Phật giáo Từ ngữ Phật giáo được tác giả phân chia thành 6 loại: từ phiên
âm, từ hỗn hợp (Hán + Phạn), từ dịch nghĩa, từ ngữ tiếng Hán được Phật hóa,thành ngữ Phật giáo và tục ngữ Phật giáo Tác giả Chu Thục Mẫn đã phân loại từngữ Phật giáo thành 5 loại, trong đó không có loại tục ngữ Phật giáo Tiếp theo,các học giả lại phân tích tiếp kết cấu nội bộ của mỗi một loại Ví dụ: từ phiên âmlại phân chia thành hai tiểu loại là: từ phiên âm hoàn toàn và từ phiên âm bộphận Về lĩnh vực thành ngữ và tục ngữ cũng được nhiều học giả quan
tâm đến, chẳng hạn có những bài như:《《《《《《“Thành ngữ Phật nguyên”
《《《《 Nguyễn Văn Thành《《《《《《《《《《《《《《《《《——《《
《《《《《《《 “Đàm đàm nguyên dư Phật giáo tích thành ngữ tập trung cấu
thành hình thức- đọc thiền tông truyền đăng lục trát kỳ”《《《《 Lương Hiểu Hồng《,《《《《《《《《《《《《《《《《 “Đặc trưng văn hóa và loại hình
của thành ngữ và tục ngữ Phật giáo tiếng Hán ”《《《 Tưởng Viên《v.v…
- Từ góc độ văn hóa và ngôn ngữ nghiên cứu về vấn đề từ ngữ Phât giáo liên
Trang 13quan đến văn hóa Phật giáo hoặc văn hóa Trung Hoa.
Sự hình thành của từ ngữ Phật giáo không phải chỉ do kinh Phật tạo ra, Trênthế giới, ngôn ngữ nào cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa xã hội, dân tộc và tôngiáo, vì thế, qua ngôn ngữ có thể phản ánh các hiện tượng văn hóa, ngược lại,qua văn hóa cũng có thể tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ nào đó Từ xưa đếnnay, đã có nhiều học giả quan tâm đến vấn để này và việc nghiên cứu cũng đạtđược thành quả nhất định Ví dụ:《《《《《《《《《《《《《《《《《《“Từ gốc độ thành ngữ Phật giáo nhìn sự Phát triển của văn hóa Phật giáo ở Trung
Quốc”《《《《 Lương Hiểu Hồng《《《《《《《《《《《《《 “Luận Văn hóa
Phật giáo trong thành ngữ và tục ngữ”《Trương Lập Bình《《《《《《《《《《
——《《《《《《《《《《《《《《《《“Phạn Hán văn hóa tích hợp bích –
Thí thích Hán ngữ Phật giáo thành ngữ tích y cai cấu thành dặc trưng” 《《《《
Tưởng Đống Nguyên 《《《《《《《《《《《《《 “Thành ngữ tiếng Hán và văn
hóa Phật giáo ”《《《《 Lương Hiểu Hồng《v.v…
- Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Phật giáo và từ ngữ Phật giáo đối với từ vựng tiếng Hán
Các học giả nghiên cứu về từ ngữ Phật giáo đã khẳng định, khi từ ngữPhật giáo đi với kinh Phật du nhập vào tiếng Hán, đối với từ vựng tiếng Hán có
sự ảnh hưởng rất lớn Dựa vào kết quả nghiên cứu của các học giả, sự ảnh hưởngcủa từ ngữ Phật giáo có thể khái quát về 4 điểm: tạo ra nhiều từ mới và ngữnghĩa mới của từ; phát triển từ ngữ tiếng Hán song tiết hóa; làm giàu
phương thức cấu tạo của từ; tính khẩu ngữ của từ vựng Phật giáo Những tácphẩm nghiên cứu về vấn đề này có《《《《《《《《《《《《《《“sự ảnh
Trang 14hưởng của Phật giáo đối với từ vựng tiếng Hán”《《《《 Vưu Tuấn Thành《《
《《《《《《《《《《《《“sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiếng Hán”
《《《《 Lương Hiểu Hồng《《《《《《《《《《《《《《《《“Phật giáo đối
Hán ngữ từ vựng ảnh hưởng tích thám tích”《《《 Vương Mạch《《《《《《《
《《《《《《《“sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiếng Hán”《《《 Hoàng
Quần《v.v…
2.2 Tình hình nghiên cứu từ ngữ Phật giáo trong tiếng Việt
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về từ ngữ Phật giáo
Chẳng hạn:《《《《《《“Thành ngữ Phật nguyên” của Nguyên Văn Thành đã thu dược 544 thành ngữ, lấy chúng làm đối tượng nghiên cứu để thảo luận phân
tích nguồn gốc và ngữ nghĩa của các thành ngữ Phật giáo.《《《《《《《《《 “Hán
hóa từ ngữ Phật kinh” của Nguyễn Ngọc Hiệp, chủ yếu là nghiên cứu từ
ngữ trong kinh sách Vào năm 2011, có một văn tiến sĩ《《《《《《《《《《《 “Nghiên
cứu về từ ngữ Phật giáo của tiếng Việt” của Nguyễn Thị Ngọc Hoa Công trình
này khảo sát từ ngữ Phật giáo chuyên dụng và từ ngữ Phật giáo trong tiếng Việt hiện đại, miêu tả và phân tích đặc điểm và địa vị của từ ngữ Phật giáo trong tiếng việt, đối chiếu từ ngữ Phật giáo giữa tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại; thuthập những tục ngữ liên quan đến Phật giáo, qua từ ngữ Phật giáo để nghiên cứu văn hóa Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận văn này đã góp phần vào mở ra
và phát triển việc nghiên cứu từ ngữ Phật giáo tiếng Việt Vào năm 2012, có một
luận văn thạc sỹ, đó là “Từ ngữ Phật giáo trong ngôn ngữ sinh hoạt” của Nguyễn
Thị Bích Thủy
Trang 153 Mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu Mục đích nghiên cứu
của luận văn là:
- Xuất phát từ lý luận về mối quan hệ giữa tôn giáo và ngôn ngữ, luận văn khảo sát và tìm hiểu lớp từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán và tiếng Việt
- Thông qua thống kê, phân loại, phân tích và khái quát đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán và đối chiếu với tiếng Việt, luận văn chỉ ra ảnh hưởng của từ ngữ Phật giáo đối với tiếng Hán và tiếng Việt, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán và tiếng Việt.
Nghiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Về lí luận, làm rõ quan hệ giữa tôn giáo và ngôn ngữ;
- Khái quát về những nôi dung về Phật giáo Trung Quốc và Việt Nam, chỉ ra ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiếng Hán và tiếng Việt;
- Khảo sát lớp từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán và tiếng Việt, phân tích đặcđiểm cấu trúc- ngữ nghĩa của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán (đối chiếu vớitiếng Việt)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán và tiếng Việt
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là:
Đối với tiếng Hán cổ là: Từ ngữ đơn tiết và song tiết trong “《《《《《”
(Đại Từ Điển Phật học) của 丁丁丁 (Đinh Phúc Bảo).
Đối với tiếng Hán hiện đại là: Từ và cụm từ cố định có nguồn gốc Phật giáo ,
Trang 1614
Trang 17Đối với từ ngữ Phật giáo trong tiếng Việt là: Từ ngữ Phật giáo gốc Hán, từ ngữ
Phật giáo Việt tạo và từ ngữ Phật giáo thuần Việt trong Đại từ điển tiếng Việt.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp miêu tả và phươngpháp so sánh đối chiếu
Phương pháp miêu tả gồm các thủ pháp phân tích - tổng hợp, thống kê –phân loại Thủ pháp thống kê dùng để thu thập dữ liệu, thống kê những từ đơn
tiết và từ song tiết của từ ngữ Phật giáo tiếng Hán trong Đại Từ điển Phật học,
và những từ ngoại lai Phật giáo trong Từ điển tiếng Hán hiện đại.
Trên cơ sở những ngữ liệu đã được thống kê, chúng tôi sẽ phân tích nhữngđặc điểm chung, tổng hợp các ngữ liệu để phân loại các từ ngữ Phật giáo trongtiếng Hán và tiếng Việt Ngoài ra, chúng tôi còn miêu tả các đặc điểm cấu trúc
và ngữ nghĩa của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Để tìm ra những tương đồng và khác biệt vềđặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán và tiếng Việt
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán (có đối
chiếu với tiếng Việt)
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ Phật giáo trong tiếng Hán (có
đối chiếu với tiếng Việt)
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Mối quan hệ giữa tôn giáo và ngôn ngữ
1.1.1 Đặc điểm chung
Ngôn ngữ và tôn giáo đều là hiện tượng văn hóa của con người, chúng có
lịch sử lâu dài như xã hội loài người Trong Kinh thánh có ghi: “Từ thuở khai thiên lập địa đã có ngôn ngữ, ngôn ngữ tồn tại cùng Thượng đế Ngôn ngữ chính là Thượng đế ” Con người trong tiến trình phát triển, đến một thời điểm
phát triển nhất định, sẽ có nhu cầu để giao tiếp với nhau, vì thế người ta sáng tạo
ra những ký hiệu đầu tiên mà chúng ta gọi đó là ngôn ngữ Ngôn ngữ cũng cổxưa như ý thức, sinh ra do nhu cầu và sự cần thiết phải giao tiếp với người khác.Tôn giáo đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tinvào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, nguồn gốc của tôn giáo làmột kết quả của sự phát triển xã hội nhân loại Tôn giáo được ra đời do rất nhiểunhân tố, trong đó, ngôn ngữ là một nhân tố quan trọng Ngôn ngữ và tôn giáo cómối quan hệ mật thiết, hai chiều Các học giả Trung Quốc nhận xét về quan hệ
này là: ngôn ngữ tạo ra tôn giáo và tôn giáo phát triển ngôn ngữ Ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp và hệ thống tín hiệu, ngôn ngữ là cơ sở để tạo ra thế giới
thiêng liêng Tôn giáo là một hệ thống liên quan đến hiện tượng siêu nhiên, khảnăng văn hóa đặc biệt của tôn giáo có thể phát triển ngôn ngữ của nhân loại.Ngôn ngữ và tôn giáo là hai mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau
Trang 191.1.2 Ngôn ngữ tạo ra tôn giáo
Về “Ngôn ngữ tạo ra tôn giáo ”, có thể xuất phát từ những phương diện như
sau:
1) Từ góc độ nguồn gốc
Tôn giáo được ra đời dựa vào ngôn ngữ Ngôn ngữ là “hình thức tồn tại ”, làphương tiện vật chất dể thể hiện tư duy của con người, nếu không có ngôn ngữ,các kết quả hoạt động của tư duy sẽ không thể thể hiện ra ngoài dưới dạng vậtchất (âm thanh và văn từ) nhằm cho những người khác có thể “thấy được ” Chonên, tôn giáo cũng là một loại ý thức của con người, ngôn ngữ đã cung cấp một
“cơ sở vật chất ” cho ý thức tôn giáo
2) Từ góc độ truyền bá
Tư tưởng, quan điểm, giáo nghĩa của tôn giáo đều là được truyền bá bằngngôn ngữ Với chức năng phản ánh hiện thực, ngôn ngữ phản ánh các hoạt độngcủa tôn giáo, sự xuất hiện của chữ viết và nhờ đó các bản kinh ra đời và các nghi
lễ của tôn giáo cũng được ghi chép lại Nếu không có ngôn ngữ làm công cụ đểtruyền đạt thông tin từ người này đến người khác, không có ngôn ngữ làmphương tiện lưu giữ lại nội dung thông tin thì tôn giáo sẽ không thể tồn tại lâudài được
3) Từ góc độ tâm lý học
Con người được tiếp xúc với tôn giáo có liên quan đến tác dụng của ngônngữ Ngôn ngữ là một tín hiệu văn hóa của con người, chức năng tình cảm, chứcnăng nhận thức và chức năng thực hành của nó sẽ khiến người ta tìm hiểu tôngiáo và phát sinh tâm lý tín ngưỡng về tôn giáo Ví dụ, một người truyền giáo
Trang 20trong những buổi truyền giáo sử dụng ngôn ngữ có tình cảm sâu sắc hoặc nhữngphương pháp tu từ như ẩn dụ, khoa trương, làm cho người nghe có sự xúc động
về nội dung được truyền bá Cho nên ngôn ngữ có ảnh hưởng to lớn đến tâm lýtình cảm về tôn giáo của con người
1.1.3 Tôn giáo phát triển ngôn ngữ
Về “Tôn giáo phát triển ngôn ngữ ”, chúng ta có thể tìm hiểu về những nội
dung như sau:
Thứ nhất, nhìn vào lịch sử của ngôn ngữ học, chúng ta sẽ thấy, sự ra đờicủa ngôn ngữ học chịu ảnh hưởng của tôn giáo, nhất là thời kỳ sơ khai, người tabắt đầu nghiên cứu về ngôn ngữ là xuất phát từ tôn giáo Ví dụ, kinh Phệ Đà viếtbằng tiếng Phạn, do nhu cầu truyền giáo, người Ấn Độ bắt đầu nghiên cứu tiếngPhạn, họ nghiên cứu và viết ra ngữ pháp chuẩn mực để quy định hình thức sửdụng tiếng Phạn, giải thích từ ngữ khó hiểu, biên soạn từ điển, và nghiên cứungữ âm, thúc đẩy ngữ âm phát triển Do đó, Ấn Độ cổ đại trở thành cái nôi củangôn ngữ học Ở Trung Quốc, sau khi Phật giáo truyền vào, người ta mới bắt đầuquan tâm đến nghiên cứu về ngữ âm học, sự phát triển của âm vận học cổ đạiTrung Quốc chịu ảnh hưởng rất lớn của Phất giáo
Thứ hai, tôn giáo có thể lưu giữ các dấu vết của ngôn ngữ và tác động vào
sự phát triển ngôn ngữ Chẳng hạn, Phật giáo cùng với tiếng Phạn đã hoạt động
ở các vùng đất rộng lớn ở Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á; còn Đạo Hồi ra đờikhông phải chỉ là truyển bá kinh Coran mà còn truyền bá cả tiếng nói chữ viếtArập Truyền đạo không chỉ phát triển và phổ biến ngôn ngữ, truyền đạo cũngảnh hưởng đến những ngôn ngữ khác Các giáo sỹ đạo Cơ Đốc truyền đạo mỗi
Trang 21khi dến vùng đất mới đều sẽ phát hiện và nghiên cứu các ngôn ngữ mới, phươngngữ mới, chế tác, cải tiến chữ viết cho ngôn ngữ với mục đích là dịch kinh đểtruyền đạo Chẳng hạn, đạo Cơ Đốc truyền vào Việt Nam với hệ chữ Latinh đã
có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển tiếng Việt, nhất là sự ra đời của chữquốc ngữ
Thứ ba, nhờ có mối quan hệ sâu sắc giữa ngôn ngữ và tôn giáo, ngôn ngữtôn giáo được xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ đời sống Ngôn ngữ tôn giáo khôngphải ngôn ngữ khoa học hoặc ngôn ngữ triết học, nó thuộc về văn học, vì tìnhcảm trong tôn giáo thông thường được thể hiện qua những câu truyện thần thoại
và ngụ ngôn Vì thế, có thể khái quát đặc điểm của ngôn ngữ tôn giáo là tínhkhoa trương, tính ẩn dụ, tính miêu tả, tính tượng trưng, tính tình cảm và tính trừutượng v.v… Tôn giáo có tác động vào phương pháp tu từ và hình thức biểu hiệnnghệ thuật của ngôn ngữ Chẳng hạn, người Arập tạo ra văn tự học, văn học và
tu từ học để làm cho người dân tộc và thế hệ trẻ tìm hiểu rõ hơn về kinh Coran.Các môn học ngữ văn và đạo hội Islam đều lấy kinh Coran làm trung tâm, nên
có thể nói, sau khi có kinh Coran, người Arập mới có văn học Do chịu ảnhhưởng của văn hóa tôn giáo, ngôn ngữ tôn giáo với những phương pháp tu từ vàhình thức biểu hiện nghệ thuật của ngôn ngữ được thâm nhập vào ngôn ngữ sinhhoạt, làm cho sự phát triển của ngôn ngữ dân gian được phong phú và đa dạnghơn
Thứ tư, tôn giáo làm một hiện tượng văn hóa không thể thiếu được trong
xã hội con người, nó có sự tác động rất lớn đối với ngôn ngữ của chúng ta Tôngiáo có ảnh hưởng tới các mặt như ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng của hệ thống
Trang 22ngôn ngữ, thậm chí ảnh hưởng đến phong cách ngôn ngữ và việc sử dụng ngônngữ Sự truyền bá của tôn giáo cũng ảnh hưởng đến sự truyền bá và phát triểncủa chữ viết Đây là lý do giải tích vì sao hiện nay trên thế giới có những tôngiáo có quan hệ hinh thức với một loại chữ viết nào đó Ví dụ : Thiên chúa giáovới chữ Latinh, Phật giáo với chữ Phạn, đạo hội Islam với tiếng Arập.
1.1.4 Nhận xét
Theo những nội dung như trên, chúng ta đã thấy đươc ngôn ngữ và tôngiáo có quan hệ rất mật thiết Trong tắc phẩm “ Ngôn ngữ học xã hội ” của giáo
sư Nguyễn Văn Khang đã khái quát những nội dung về mối quan hệ giữa tôn
giáo và ngôn ngữ, ông cho rằng : “Tôn giáo và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết, hai chiều Mối quan hệ hai chiều giữa ngôn ngữ và tôn giáo: ngôn ngữ phản ánh các hoạt động và việc mở rộng hoạt động của tôn giáo; tôn giáo tác động vào ngôn ngữ và có thể dẫn tới những thay đổi trong ngôn ngữ ” [5,
tr.291] Theo đó, chúng ta sẽ biết được, trong quá trình nghiên cứu, thông quangôn ngữ có thể nghiên cứu về hiện tượng tôn giáo và các vấn đề tôn giáo; thôngqua tôn giáo cũng có thể giải tích các vấn đề ngôn ngữ
1.2 Khái quát về Phật giáo ở Trung Quốc có liên quan đến tiếng Hán
1.2.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc
Phật giáo là một trong những tôn giáo có lịch sử lâu đời trên thế giới Theonhiều nguồn sử liệu, hai thế kỷ đầu khi mới thành lập, địa bàn hoạt động củaPhật giáo chỉ giới hạn quanh lưu vực sông Hằng của Ấn Độ Nhưng, vào nửa thế
kỷ thứ III T.CN, Phật giáo bắt đầu vượt biên giới và truyền bá sang nhiều quốcgia lân cận Về phương diện địa lý, có thể truyền từ Ấn Độ đến Trung Quốc
Trang 23bằng cả đường bộ lẫn đường thủy “Lịch Sử Phật giáo Trung Quốc” viết rằng,trước hết, Phật giáo được từ Ấn Độ truyền vào nước Đại Nhục Chi (Tukhàra),
An Tức (Parthia) thuộc Bắc Ấn, sau đó phát triển sang vùng Tây Vực và cuốicùng đến Trung Quốc Nếu đi bằng đường thủy người ta sẽ khởi hành từ hảicảng thuộc tỉnh Quảng Đông, qua các ốc đảo ở phía Đông Á rồi đến Ấn Độ.Đường thủy rất tiện cho việc giao lưu buôn bán nhưng lúc đầu đường thủy ítđược sử dụng và nó chỉ trở nên phổ biến trong thời đại Đông Tấn Cho nên khảnăng có thể tin cậy nhất là Phật giáo được truyền vào Trung Hoa bằng conđường Trung Á
Phật giáo du nhập vào Trung Hoa chính xác vào thời điểm nào vẫn còn làmột ẩn số Có rất nhiều giả thuyết liên quan đến sự kiện quan trọng và đầy ýnghĩa trên Nhưng trong đó có một giả thuyết được nhiểu sử gia Phật giáo quantâm và khẳng định là câu chuyện liên quan đến Hán Minh Đế Theo “Mâu Tử LýHoặc Luận”, vào một đêm nọ, Minh Đế (năm 58-75) nằm mộng thấy vị thần sắcvàng bay liệng trong không gian, sáng hôm sau ông kể lại câu chuyện ấy choquần thần nghe Trong số ấy, vị quan là Phó Nghị trả lời rằng, ông ta nghe kể cómột vị thánh ở Ấn Độ đã chứng ngộ giải thoát và được tôn xưng là Phật, người
có thân thể bằng vàng và có thể bay liệng giữa không trung Vua đồng ý với giảithích của Phó Nghị và sai một phái đoàn ra nước ngoài để tìm hiểu về vị thánhnày, đồng thời sưu tập giáo lý của ngài Khi trở về, phái đoàn ấy mang về cuốnkinh “Tứ Thập Nhị Chương” Hán Minh Đế ra lệnh xây dựng một ngôi chùangoài thành Lạc Dương để tôn trí kinh Ngôi chùa này được đặt tên “Bạch mã tự”(chùa Bạch mã), và là một ngôi chùa được xây dựng sớm nhất ở Trung Quốc
Trang 24Chuyện này cũng được coi là một tiêu chí quan trọng của sự du nhập Phật giáovào Trung Quốc Sau sự du nhập Phật giáo vào Trung Quốc, các học giả Phậthọc của Tây Vực lần lượt sang Trung Quốc truyền giáo và dịch thuật, như AnThế Cao, An Huyền, Trúc Phật Sóc, Chi-ca-lâu-sấm v.v… Các tu sỹ ngoại quốc
đã góp phần với sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo Trung Quốc
1.2.2 Các giai đoạn phát triển và sự ảnh hưởng của Phật giáo ở Trung Quốc
Ngay từ những năm đầu công nguyên, Phật giáo đã bắt đầu truyền vào nộiđịa Trung Quốc, lưu truyền và phát triển cho đến nay đã được hơn 2000 năm.Dựa vào quá trình phát triển của Phật giáo Trung Quốc, có thể chia thành 4 giaiđoạn lớn là giai đoạn sơ chuyển (thời Hán- thời Đông Tấn), giai đoạn phát triển(thời Nam Bắc Triều), giai đoạn thịnh vượng (thời Tùy Đường) và giai đoạn tạo
ra thành quả (thời Tống- Nguyên -Minh -Thanh) Ở Trung Quốc, Phật giáo đãtrải qua các thời kỳ sơ truyền, xung đột, thay đổi, thích ứng, dung hợp, dần dần
đã thẩm thấu sâu sắc vào trong văn hóa Trung Quốc
Ðầu tiên, về mặt phát triển của lịch sử xã hội Trung Quốc, bắt đầu từ thờiÐông Tấn, Phật giáo là một tôn giáo có nội dung phong phú và có vị thế quantrọng trong xã hội Phật giáo và những triều đại vua chúa phong kiến TrungQuốc có rất nhiều mối quan hệ mật thiết với nhau Một mặt, thông qua mối quan
hệ giữa các bậc cao tăng và các triều đại vua chúa, dùng phương thức đặc biệtvốn có của tôn giáo tắc dụng gián tiếp đến chính trị hiện thực Mặt khác, thôngqua kinh tế tự viện, Tăng tục đệ tử, chế độ Tăng quan, ở khác quan, Phật giáoluôn ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình xã hội phong kiến
Thứ đến, về mặt phát triển của nền văn hóa truyền thống Trung Quốc
Trang 25Phật giáo tại Trung Quốc lưu truyền và thâm nhập phát triển, một mặt làm giàunội hàm nền văn hóa truyền thống Trung Quốc, mặt khác trong thời gian dàicùng với tư tưởng Nho gia và Ðạo giáo xung đột và dung hợp, Phật giáo đã trởthành một trong ba bộ phận không thể thiếu được trong nền văn hóa Trung Hoa.
Về mặt triết học, Phật giáo truyền vào Trung Quốc, một mặt làm giàuphương thức tư duy và kho tàng triết học Trung Quốc Mặt khác, thông qua các
tư tưởng để mở rộng lĩnh vực nghiên cứu của nền triết học Trung Quốc, cho sâusắc hơn tư duy của triết học Trung Quốc và đẩy mạnh sự phát triển lớn lao củatriết học Trung Quốc
Về phương diện văn học, các bản Hán dịch truyện ký về cuộc đời ÐứcPhật Thích Ca, truyện ngụ ngôn và các kinh điển đại thừa của Phật giáo có giá trịrất cao, những tác phẩm Phật giáo có tác dụng quan trọng trong việc đẩy mạnh
sự phát triển của các loại hình tiểu thuyết, bình thoại, hý kịch, khúc điệu đời sau.Vào thời Minh Thanh, người ta sáng tạo ra những tác phẩm tiêu biểu chịu ảnhhưởng nhiều phương diện của Phật giáo như “Tây du ký”, “Hồng lâu mộng”,
“Phong thần diễn nghĩa” v.v…
Về mặt nghệ thuật, Phật giáo có sự ảnh hưởng rất lớn đối với các phươngdiện khác nhau của văn hoá Trung Quốc như kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âmnhạc v.v Làm tăng thêm hình thức và nội dung mới trong kho tàng nghệ thuậtdân tộc
1.2.3 Sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiếng Hán
Suốt 2000 năm nay, Phật giáo ảnh hưởng rất sâu sắc đối với văn hóa TrungQuốc Có những học giả đã khẳng định rằng “ở Trung Quốc, không có văn hóa
Trang 26ngoại lai nào có thể so sánh với văn hóa Phật giáo, cũng không có hiện tượngvăn hóa ngoại lai nào có thể thẩm thấu vào các lĩnh vực của cuộc sống xã hộiTrung Quốc như văn hóa Phật giáo, thậm chí thấm vào ý thức tư tưởng củangười dân, tức là hạt nhân của văn hóa Trung Quốc” Chẳng hạn, cùng với việctruyền bá Phật giáo và phiên dịch kinh sách, rất nhiều từ ngữ Phật giáo đượcnhập vào tiếng Hán và hình thành những từ ngữ thường dùng phổ biến trongcuộc sống hàng ngày Theo tác giả Triệu Phác Sơ, nếu bỏ đi toàn bộ văn hóaPhật giáo, thì người Trung Quốc sẽ không diễn đạt hoàn chỉnh được ý thức và tưtưởng của mình Về sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiếng Hán, có thể kháiquát như sau:
1) Về mặt ngữ âm
Khi Phật giáo và Phật kinh truyền vào Trung Quốc, người Trung Quốc bắtđầu tiếp xúc và học tập tiếng Phạn, đồng thời thu nhập những kiến thức về mặtngữ âm học Một số nhà nghiên cứu đã quan tâm đến ngữ âm của tiếng Hán vàsau đó xây dựng một hệ thống về âm vận học tiếng Hán Chịu ảnh hưởng củatiếng Phạn, người Trung Quốc phát hiện ra “bốn thanh” trong tiếng Hán và biênsoạn từ điển phân loại các tiếng trong tiếng Hán Đến thời Tùy, các nhà ngônngữ học đã xác định được hệ thống ngữ âm của tiếng Hán trên cơ sở phân tíchnguyên âm và phụ âm của mỗi một chữ Hán và biên tập sách 丁丁丁丁“Thiết vận”.Nhờ đó, nghiên cứu của ngữ âm học tiếng Hán đã được đẩy mạnh
2) Về mặt từ vựng
Sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tiếng Hán được thể hiện rõ nét nhất là
về mặt từ vựng Theo bước chân của Phật giáo, các từ ngữ Phật giáo đã nhập
Trang 27vào tiếng Hán Đông Hán với số lượng lớn từ giai đoạn Nam Bắc triều Quá trình
du nhập này chia làm ba giai đoạn: giai đoạn đầu là thông qua ngôn ngữ TâyVực, giai đoạn hai là thông qua tu hành (tăng nhân) Ấn Độ, Tây Tạng nhập vàoTrung Nguyên, giai đoạn cuối cùng là đời Đường Có thể thấy, từ ngữ Phật giáoảnh hưởng tới từ ngữ tiếng Hán như sau:
- Bổ sung cho vốn từ vựng tiếng Hán Trong quá trình truyền giáo và dịchthuật, rất nhiều từ ngữ Phật giáo đã xuất hiện trong tiếng Hán Theo thống kê,trong “Đại Từ điển Phật Học” của Đinh Phúc Bảo đã thu thập đến hơn 30 nghìn
từ ngữ Phật giáo Từ ngữ Phật giáo đã thâm nhập vào các lĩnh vực như triết học,chính trị, văn học v.v… Nhiều từ ngữ thậm chí đã trở thành ngôn ngữ sử dụnghàng ngày của người dân, như 丁丁 thế giới, 丁丁 thực tế, 丁丁 công án, 丁丁
phiền não, 丁丁 nhân duyên, 丁丁 phương tiện v.v… Trong thành ngữ và tục
ngữ của tiếng Hán, cũng có rất nhiều từ ngữ liên quan đến Phật giáo, ví dụ丁丁丁
丁丁 bất nhị pháp môn, 丁丁丁丁 tam sanh hữu hạnh, 丁丁丁丁 ngũ thể đầu
địa, 丁丁丁丁 thiên long bát bộ, 丁丁丁丁 đại thiên thế giới v.v…
- Làm giàu hệ thống ngữ nghĩa của từ vựng tiếng Hán Khi dịch kinh sáchcủa Phật giáo từ tiếng Phạn sang tiếng Hán, người ta cũng cố gắng sử dụngnhững từ ngữ đã có trong tiếng Hán, vì thế, nhiều từ ngữ sẽ được thêm ngữnghĩa có mầu sắc Phật giáo Cũng có những từ ngữ được sử dụng chỉ phật lýhoặc giáo nghĩa, thì sẽ được thêm ngữ nghĩa trừu tượng, như 丁丁 (giải thoát),
丁丁 (cảnh giới) Có những từ được thêm ngữ nghĩa triết học hoặc luân lý theophương thức ẩn dụ Ví dụ: từ 丁丁 (hoa sen), do Phật giáo truyền vào, từ này đượccoi là một biểu tượng cao quý, thanh sạch và may mắn
Trang 28- Phát triển các phương thức cấu tạo từ về từ vựng tiếng Hán Sự du nhậpcủa từ ngữ Phật giáo làm cho các phương thức cấu tạo của từ ngữ tiếng Hán sẽphong phú hơn, trong đó, phương thức ẩn dụ cấu tạo từ mới là một cách thứcđược sử dụng theo từ ngữ Phật giáo trong kinh sách Đây là một phương thức rấtđặc sắc Phật giáo Trong khi đó, những từ phiên âm theo quy tác nội bộ của tiếngHán, âm tiết của chúng được giảm hóa, tạo ra những từ hỗn hợp (từ tố Hán
+ từ tố Phạn) và từ dịch nghĩa để sử dụng trong nhà Phật, có những từ đơn tiếtđược làm căn tố cố định trong tiếng Hán, ví dụ: 丁 ma, 丁 thiền, 丁 phật v.v… Trên
cơ sở này, có thể tạo ra và phái sinh được nhiểu từ mới trong tiếng Hán
- Đẩy mạnh sự phát triển song tiết hóa của tiếng Hán Song tiết hóa là một
xu hướng tất yếu trong sự phát triển của tiếng Hán Sự du nhập của Phật giáomang đến nhiều khái niệm mới, đây chính là nguyên nhân dẫn đến từ tiếng Hánsong tiết hóa Do những giáo nghĩa và phật lí của Phật giáo rất sâu sắc và có sựkhác nhau giữa tiếng Hán và tiếng Phạn, nên trong quá trình dịch, người ta chủyếu sử dụng từ song tiết để diễn đạt ngữ nghĩa của tiếng Phạn Nhờ đó, từ songtiết Phật giáo đã đặt cơ sở cho sự phát triển song tiết hóa của tiếng Hán
1.3 Khái quát về Phật giáo ở Việt Nam
1.3.1 Sự du nhập của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam bằng cả hai con đường: đường biển từphía Nam lên và đường bộ từ phía Bắc xuống Theo các sử gia, nhà truyền giáo đầutiên đến Việt Nam (lúc bấy giờ là đất Giao Châu) là Ngài Mâu Bác, người quậnThương Ngô tức là Ngô Châu (Trung Hoa bây giờ) Sau khi vua Hán Linh Ðế mất(189), Trung Quốc thường xuyên loan lạc, Mâu Bác theo mẹ qua ở
Trang 29Giao Châu và truyền bá đạo Phật Sau này, nhà truyền giáo thứ hai đặt chân lênđất Giao Châu là Ngài Khương Tăng Hội, gốc Khương Cư (Soadiane, Ấn Ðộ).Mục đích của Khương Tăng Hội là sang Trung Hoa, nhưng ông nội của KhươngTăng Hội sang Giao Châu buôn bán nên ông cũng theo đường Giao Châu đểsang Trung Hoa Trung Hoa lúc ấy đang ở đời Tam Quốc, Khương Tăng Hội đếnnước Ðông Ngô và được Ngô Tôn Quyền sùng mộ, xin quy y với ông ấy (229-252) Như vậy, Khương Tăng Hội ghé lại Giao Châu vào khoảng đầu thế kỷ thứIII Vào khoảng giữa thế kỷ thứ III đến cuối thế kỷ thứ III, đất Giao Châu lại đóntiếp hai nhà sư Ấn Ðộ nữa là Ma Ha Kỳ Vực và Chi Cương Lương để đến Trung
Hoa truyền-giáo vào đời nhà Tần (265-306) Trong cuốn sách “Lịch sử Phật giáo Việt Nam”, thiện sư Lê Mạnh Thát đã cho rằng, đạo Phật du nhập đầu tiên
sang Việt Nam trong khoảng thế kỷ thứ II
1.3.2 Các giai đoạn phát triển của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ thứ II đến hết thế kỷ X Dođược truyền bá trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từ đầu kỳ nguyên Tây lịch,nên danh xưng Buddha tiếng Phạn đã được phiên âm trực tiếp sang tiếng Việt làBụt (Trung Hoa dịch là Phật) Đến thế kỷ thứ V, có hai thiền sư xuất hiện, là Đạt-
Ma Đề -Bà (Oharmadeva) và Huệ Thắng (người Việt) Thiền sư Đạt -Ma -Đề Bà
là người Ấn Độ đến Giao Châu vào giữa thế kỷ thứ V để giảng dạy về phươngpháp thiền học Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ VI đến hết thế kỷ thứ IX là thời
kỳ phát triển Trong thời gian này, ở Trung Hoa có ba tông phái được truyền vàoViệt Nam, đó là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông Vào thời kỳ X, Phậtgiáo Việt Nam bắt đầu hình thành, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của
Trang 30Phật giáo Trung Hoa.
Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIII là thời kỳ cực thịnh của Phật giáo ViệtNam Đến thế kỷ thứ X thì Việt Nam đã trải qua 1000 năm Bắc thuộc Phật giáoViệt Nam trong thời kỳ này phát triển tới mức toàn vẹn và cực thịnh Do ảnhhưởng tư tuởng của vua Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ đầu thế kỷ thứVIII, ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường sáp nhậptạo thành một và đưa tới sự phát triển của thiền phái Trúc Lâm là thiền phái duynhất dưới đời Trần Phật giáo trong đời Trần là quốc giáo, mọi người dân trong
xã hội điều hướng về Phật giáo Có rất nhiều chùa tháp quy mô to lớn hoặc kiếntrúc độc đáo đã được xây dựng trong thời Lý Trần như chùa Phật Tích, chùa ĐạiLãm, chùa Linh Xứng, chùa Một Cột, chùa Phổ Minh Trong thời kỳ này, Phậtgiáo Việt Nam bắt đầu hình thành đặc sắc riêng của mình
Vào thế kỳ XV đến thế kỳ XVIII, Phật giáo Việt Nam đã trải qua thời cựcthịnh nhất dưới hai triều đại Lý Trần Sang đến đời Hậu Lê rồi Nguyễn Triều thìPhật giáo phải nhường bước cho Nho giáo, lúc ấy đang chiếm vai trò độc tôn.Triều đại nhà Nguyễn truyền đến đời vua Tự Đức thì mất chủ quyền, Việt Namrơi vào vòng đô hộ của Pháp Phật giáo Việt Nam vốn đã suy vi nay lại điêu tànhơn Trong bối cảnh đó, Ky Tô giáo đã du nhập vào Việt Nam và dân tộc ViệtNam lại tiếp nhận thêm một tôn giáo mới của phương Tây Trong thời kỳ này, sựảnh hưởng và địa vị của Phật giáo Việt Nam đã bị suy yếu
Vào khoảng những năm 1920-1930, trong không khí tưng bừng của phongtrào chấn hưng Phật giáo trên thế giới, đặc biệt ở Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ
và Miến Điện, một số tăng sĩ và cư sĩ đã phát động phong trào chấn hưng Phật
Trang 31giáo tại Việt Nam Nhờ phong trào chấn hưng Phật giáo này mà đội ngũ tăng niđược đào tạo qua nhiều trường lớp và phát triển nhiều ở các tỉnh Chùa chiềnđược xây dựng khắp nơi, nhất là hệ thống chùa phật ở các thành thị Tuy tinhthần khai phóng dung hợp của Phật giáo suốt mấy thế kỷ qua không còn đượcthể hiện trong chính sách quốc gia, văn hóa và xã hội vào thế kỷ XX, nhưng Phậtgiáo vẫn là tôn giáo chính của dân tộc, đóng vai trò hòa giải giữa các thế lựctranh chấp, góp phần xây dựng tinh thần dân tộc, bảo vệ nền độc lập của quốcgia.
1.3.3 Sự ảnh hưởng của Phật giáo ở Việt Nam
Như đã trình bày ở phần trên, chúng ta thấy rằng, đạo Phật đã du nhập vàoViệt Nam từ những kỷ nguyên Tây lịch, rồi tồn tại, phát triển và chan hòa vớidân tộc Việt Nam cho đến tận hôm nay Trong các lĩnh vực xã hội, văn hóa chínhtrị, tư tưởng và đạo lý của Đạo Phật đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hìnhthành một quan niệm sống và sinh hoạt cho con người Việt Nam.Vì thế, vai tròcủa Phật giáo là không thể thay thế và có địa vị không thể thiếu được ở đất nướcViệt Nam Cụ thể:
Về mặt chính trì: Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật giáoViệt Nam có chủ trương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất
là các thời Đinh, Lê, Lý, Trần Trong các thời này các vị cao tăng có học thức, cógiới hạnh đều được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việcquan trọng của quốc gia Đến thế kỷ XX, Phật tử Việt Nam rất hăng hái tham giacác hoạt động xã hội như cuộc vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu Đến thờiMỹ-Ngụy ở miện Nam Việt Nam, các tăng sĩ và cư sĩ miền Nam tham
Trang 32gia tích cực cho phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lập cho dân tộc.
Về mặt văn hóa: Phật giáo có ảnh hưởng đối với ca dao và thơ ca Ca daodân ca là một thể loại văn vần truyền khẩu, dễ hiểu trong dân gian, được lưutruyền từ đời này sang đời khác Ca dao dân ca phổ biến dưới dạng thơ lục bátbao gồm nhiều đề tài khác nhau Tư tưởng đạo lý của Phật giáo cũng thườngđược ông cha ta đề cập đến trong ca dao dân ca dưới đề tài này hay khía cạnhkhác để nhắc nhở, khuyên răng dạy bảo, với mục đích xây dựng một cuộc sống
an vui phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam
Sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với các tác phẩm văn học: bên cạnh cadao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà văn cũng thấy cónhiều bài thơ, tác phẩm chịu ảnh hưởng nhiều hay ít của Phật giáo Sự ảnhhưởng này được thể hiện trong cả nội dung và thể loại của tác phẩm văn họcViệt Nam Những tác phẩm như: “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi, “Kim VânKiều truyện” của Nguyễn Du đều bao gồm các nhân tố Phật giáo
Sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với phong tục, tập quán: phong tục tậpquán thể hiện đặc sắc và tính đặc thù về văn hóa của mỗi dân tộc Thông quaviệc tìm hiểu phong tục tập quán, người ta tìm lại được những giá trị văn hóamang bản chất truyền thống của các dân tộc Đối với người Việt Nam, nhữngphong tục tập quán chịu ảnh hưởng Phật giáo khá nhiều Ví dụ các tập tục như
ăn chay, thờ phật, phóng sinh và bố thí, cúng rằm, mùng một và lễ chù v.v Phong tục tập quán tại Việt Nam trong quá trình tồn tại và phát triển đã chịunhiều tác động của trào lưu văn hóa khác nhau Trong đó, Phật giáo đã dự phầnquan trọng trong việc định hình và duy trì không ít các tập tục dân gian mà
Trang 33chúng ta thấy vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay.
Về mặt ngôn ngữ: Đạo Phật được truyền vào Việt Nam và cùng với nó là tiếngPhạn và tiếng Hán thông qua cách đọc Hán Việt Tiếng Phạn được nhà chùa sửdụng trong phạm vi hẹp trong một số trường hợp cầu kinh, thực hiện các nghi lễ(như nhập quan) Trong khi đó, các từ ngữ Phật giáo bằng âm Hán Việt lại chiếmmột số lượng đáng kể và chúng thâm nhập vào đời sống tiếng Việt
Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học Việt Nam, có nhiều
từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật giáo được nhiều người dùng đến kể cảnhững người ít học Trong đó, có những từ ngữ mà khi nhắc đến người ta có thể
nhận ra đó là từ ngữ Phật giáo Ví dụ: Phật, Quan âm bồ tát, Phật tổ, ni cô, hòa thượng v.v… Cũng có những từ ngữ quen thuộc với người Việt Nam đến mức
người ta không nhận ra nguồn gốc Phật giáo của chúng, những từ này đã hòa vào
tiếng Việt cùng với cuộc sống đời thường của vốn từ tiếng Việt Ví dụ: số, thế giới, hiện đại, địa ngục, ma, nhân quả, xuất hiện, phương tiện, giải thoát v.v
Điều đáng chú ý là, những từ ngữ Phật giáo đi vào đời sống tiếng Việt luôn vừa
có nghĩa của Phật giáo vừa có nghĩa của đời sống Chẳng hạn như ăn chay hoặc thành ngữ ăn chay niệm Phật nhiều khi được dùng dể chỉ những người đàn ông
xa lánh các thú vui rượu bia, yêu đương
Trang 34Chương 2ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA TỪ NGỮ PHẬT GIÁO TRONG
TIẾNG HÁN (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
2.1 Khảo sát về từ ngữ Phật giáo
2.1.1 Phân loại từ ngữ Phật giáo trong Từ điển Phật học tiếng Hán
Trong luận văn này, tư liệu được sử dụng là những từ ngữ Phật giáo chuyên
dụng được thống kê trong Đại Từ Điển Phật học (《《《《《) của Đinh Phúc
Bảo (丁丁丁) Nhưng vì số lượng của từ ngữ Phật giáo rất nhiều, nên chúng tôi chỉkhảo sát về những từ đơn tiết và từ song tiết Lý do là vì, từ đơn tiết và từ songtiết có địa vị quan trọng trong hệ thống từ vựng của tiếng Hán và tiếng Việt, đồngthời cũng là những từ ngữ cơ bản trong từ ngữ Phật giáo Chúng tôi đã tham khảokết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hoa, và thu được những kếtquả như sau:
2.1.1.1 Từ đơn tiết
Trong Đại Từ Điển Phật học ( 《《《《《) của Đinh Phúc Bảo (丁丁丁), chúng
tôi thống kê được 401 từ đơn tiết Trong đó, ngoài những từ ghi âm và từ phiên
âm (từ đa tiết được dịch thành từ đơn tiết), đa số từ đơn tiết từ ngữ Phật giáo là
những từ ngữ tiếng Hán Theo ghi chú phân loại của Đại Từ Điển Phật
học (《《《《《), 401 từ đơn tiết có thể chia thành 16 loại.
1 丁丁 địa danh: 1 ví dụ: 丁 (hoạt)
2 丁丁 động vật: 14 ví dụ: 丁 (thổ)丁丁 (hồ) ,丁 (mã)丁丁 (lộc)丁丁 (ngư)丁丁 (thiệt)丁丁 (tượng)丁丁 (nhạn)丁丁 (thử)
Trang 353 丁丁 công án: 1 丁 (Quan)
4 丁丁 giới danh:1 丁 (thiên)
5 丁丁 ẩn dụ: 8 丁 (khuyển)丁丁 (ngưu)丁丁 (hổ)丁丁 (phong)丁丁 (chỉ)丁丁 (diện)丁丁 (nga)丁丁 (khí)
6 丁丁 nhân danh: 2 丁 (hiệp)丁丁 (nhẫm)
12.丁丁 khác loại丁313.丁丁 ẩm thực丁4 丁 (chúc)丁丁 (tô)丁丁 (lạc)14.丁丁 tạp danh: 29
(phòng)丁丁 (viện)丁丁 (am)15.丁丁 tạp ngữ丁38
丁 (môn)
16 丁丁 thực vật: 3 丁 (liên)丁丁 (mật)丁丁 (mạn)
2.1.1.2 Từ song tiết
Trong Đại Từ Điển Phật học ( 《《《《《) của Đinh Phúc Bảo (丁丁丁) đã thu
thập được 10378 từ song tiết, số lượng của chúng chiếm một phần ba của từ ngữPhật giáo Từ vựng tiếng Hán cổ, chủ yếu là các từ đơn tiết, nhưng theo
Trang 36quy luật phát triển của ngôn ngữ để biểu thị phong phú và đầy đủ hơn, từ songtiết đã xuất hiện và thay thế dần địa vị của từ đơn tiết, vì vậy, số lượng của từsong tiết cũng ngày càng nhiều Theo ghi chú phân loại của từ điển này, 10378
từ song tiết được chia thành 35 loại :
1 丁丁 (bản sinh)丁14 丁丁 (tam lượng)丁丁丁 (bất khinh)丁丁丁 (bán kệ)丁丁丁 (độc long),丁丁 (mang long)丁
2 丁丁 (truyền thuyết)丁16 丁丁 (Thất mộng)丁丁丁 (đại ngư)丁丁丁 (thiết
6 丁丁 (công án)丁4 丁丁 (tỉnh lư)丁丁丁 (vong thất)丁丁丁 (vô tự)
7 丁丁 (truyện)丁47 丁丁 (lập tuyết)丁丁丁 (bạch tượng)丁丁丁 (qua bì)丁丁丁 (kimcổ)丁丁丁 (điểu sí)丁
8 丁丁 (giới danh)丁97 丁丁 (sắc giới)丁丁丁 (thiên đạo)丁丁丁 (phật giới)丁丁丁 (sa bà)丁丁丁 (minh giới)
9 丁丁 (kinh danh) 33 丁丁 (đại kinh)丁丁丁 (tâm kinh)丁丁丁 (đại bản)丁丁丁 (chuyên niệm)丁丁丁 (sinh kinh)
10 丁丁 (trường phái) : 46 丁丁 (trung tông)丁丁丁 (bắc tông)丁丁丁 (nam
tông)丁丁丁 (luật tông)丁丁丁 (tương tông)
Trang 3711 丁丁 (danh số)丁623 丁丁 (nhất kiếp)丁丁丁 (nhị nhập)丁丁丁 (thất phật)丁丁丁 (bát đại)丁丁丁 (lục độ)
12 丁丁 (minh vương)丁3 丁丁 (đa linh)丁丁丁 (a già)丁丁丁 (xí thần)
13 丁丁 (ẩn dụ)丁521 丁丁 (tâm lòng)丁丁丁 (thủy nhũ)丁丁丁 (lục kiếm)丁丁丁 (tiểu thảo)丁丁丁 (tỉnh hà)
14 丁丁 (bồ tát)丁44 丁丁 (thiên thủ)丁丁丁 (văn thù)丁丁丁 (địa tang)丁丁丁 (phổ hiền)丁
Trang 3823 丁丁 (hình vi)丁44 丁丁 (an cư)丁丁丁 (phóng sinh)丁丁丁 (dục phât)
Trang 3935 丁丁丁丁丁丁丁丁 (một từ ngữ cùng thuộc với 2 loại): 41 丁丁 tâm trần
丁丁丁 tạp ngữ丁丁丁 thuật ngữ丁丁丁丁 hoằng pháp丁丁丁 thuật ngữ丁丁
丁 tên người丁丁丁丁 hành gỉa丁丁丁 chức vị丁丁丁 thuật ngữ丁丁丁丁 trụ trì
丁丁丁 thuật ngữ丁丁丁 tạp ngữ丁丁丁丁 xả lợi丁丁丁 động vật丁丁丁 thuật
ngữ丁
2.1.2 Phân loại từ ngữ Phật giáo trong Từ điển tiếng Hán hiện đại
Trong luận văn này, những dữ liệu về từ ngữ Phật giáo của tiếng Hán hiện
đại được lựa chọn trong Từ điển tiếng Hán hiện đại (bản thứ sáu), từ ngữ Phật
giáo bao gồm từ đơn tiết, từ đa tiết và cụm từ cố định Do đó, chúng tôi đưa ranhững tiêu chí sau để lựa chọn từ ngữ Phật giáo:
- Từ ngữ Phật giáo có ghi chú bằng tiếng Phạn, chủ yếu là từ ngữ Phật giáochuyên dụng Ví dụ: 丁丁丁丁 A di đà Phật (Amitabha), 丁丁丁 (a la hán) (arhat),
丁丁丁 a lan nhà (arany),丁丁 bối đa丁Pattra丁, 丁丁 ti khâu丁bhiksu丁,丁丁丁 ti
khâu ni丁bhiksuni丁, 丁丁丁 ba la丁paramita), 丁丁 niết bàn丁nirvana丁v.v…
- Những từ ngữ Phật giáo không ghi chú bằng tiếng Phạn, đã được Hánhóa, ngữ nghĩa của chúng có liên quan đến giáo nghĩa hoặc quan niệm của Phậtgiáo, nhưng vẫn chỉ được sử dụng trong lĩnh vực Phật giáo Ví dụ : 丁 丁 (thậpgiới)丁丁丁 (truyển đăng)丁丁丁 (truyển giới), 丁丁 (trụ trì)丁丁丁 (tự miếu)丁丁丁 (phươngtrượng)丁丁丁 (xuống tốc)丁丁丁 (viên tịch) v.v…
- Những từ ngữ có ngồn gốc Phật giáo, và ngữ nghĩa của chúng được giải
thích rõ ràng có liên quan đến Phật giáo trong từ điển tiếng Hán hiện đại (bản thứ sáu) Những từ ngữ này không những được sử dụng trong lĩnh vực Phật giáo,
mà còn xuất hiện trong ngôn ngữ sinh hoạt Ví dụ: 丁丁 (ái hà)丁丁丁丁丁
Trang 40(chẳng vướng bụi trần)丁丁丁丁丁 (bất khả tư nghị)丁丁丁 (thế giới)丁丁丁
(giải thoát)丁丁丁 (chấp trước)丁丁丁丁丁 (hằng hà sa số)丁丁丁丁丁 (đời đời kiếp kiếp) v.v…
Dựa vào các tiêu chí trên, chúng tôi đã thống kê được 261 từ ngữ Phật giáo
trong từ điển tiếng Hán hiện đại (bản thứ sáu), trong đó có 55 từ tố (hình vị)
ngoại lai Phật giáo, trong những từ tố này có 7 từ tố không thể đứng một mình,
mà phải kết hợp với những từ tố khác, có 48 từ tố có thể đứng một mình Cụ thểphân loại như sau:
Ba hình vị (2):丁丁丁 (Ba La Môn)→丁丁丁丁 (đạo Ba La Môn)丁丁丁
丁 (Vu Lan)→丁丁丁丁 (lễ Vu Lan)
+ Có thể đứng một mình
Từ đơn tiết丁12): 丁 (bát)丁丁 (thiền)丁丁 (sám)丁丁 (Phạn)丁丁 (Phật)丁
丁 (kệ)丁丁 (kiếp)丁丁 (ma)丁丁 (tăng)丁丁 (tháp)丁丁 (sát)丁丁 (thích)丁
Từ song tiết (31)丁丁丁 (bát nhã)丁丁丁 (bối đa)丁丁丁 (ti khâu)丁丁丁 (xà lê)丁丁丁(Phạn bối)丁丁丁 (Phạn sát)丁丁丁 (Phật đà)丁丁丁 (phù đồ)丁丁丁 (gia lam)丁丁丁 (hòathượng)丁丁丁 (cà sa)丁丁丁 (lan nhà)丁丁丁 (lưu li)丁丁丁 (la hán)丁丁丁 (di lặc)丁丁丁 (diđà)丁丁丁 (nam mô)丁丁丁 (cõi niết bàn)丁丁丁 (Bồ tát)丁丁丁 (bồ đề)丁丁丁 (tam muội)丁丁
丁 (tăng ni)丁