1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa nhóm từ chỉ các bộ phận cơ thể trong tiếng hán (có so sánh với tiếng việt)

54 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 112,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---NGUYỄN THỊ VUI ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA NHÓM TỪ CHỈ CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ TRONG TIẾNG HÁNCó so

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ VUI

ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA NHÓM TỪ CHỈ CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ

TRONG TIẾNG HÁN(Có so sánh với tiếng Việt).

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ VUI

ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG NGỮ NGHĨANHÓM TỪ CHỈ CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ TRONG TIẾNG HÁN

(Có so sánh với tiếng Việt).

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số: 50408

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS-TS Trần Trí Dõi.

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Văn Khang.

HÀ NỘI - NĂM 2002

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu

CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 Giới thiệu đôi nét về tiếng Hán

1.1 Lịch sử phát triển của tiếng Hán

1.2 Đặc điểm cấu trúc tiếng Hán

1.3 Đặc điểm loại hình của tiếng Hán

2. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ-văn hoá Hán-Việt và sự hình thành lớp

từ ngữ Hán - Việt

2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ là qui luật khách quan của mọi ngôn ngữ

2.2 Các điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếngHán

2.3 Cách đọc Hán-Việt, yếu tố gốc Hán và yếu tố Hán - Việt

3 Lớp từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể

CHƯƠNG II : TRƯỜNG TÊN GỌI CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ TRONG

TIẾNG HÁN: THỐNG KÊ - PHÂN LOẠI - MÔ TẢ

Trang 4

2.2 Phân loại theo cấu trúc thành tố các tên gọi

2.2.1 Cơ sở phân loại

2.2.2 Kết quả phân loại

2.3 Nhận xét về kết quả phân loại các bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán

CHƯƠNG III: SO SÁNH CÁC TỪ CHỈ CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ TRONG

TIẾNG HÁN VỚI CÁC TỪ HÁN - VIỆT TƯƠNG ĐƯƠNG.

1 Khảo sát và miêu tả

1.1 Các đơn vị tương ứng nghĩa 1: 1

1.2 Các đơn vị không tương ứng nghĩa 1: 1

Trang 5

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trong luận văn chúng tôi thực hiện những chữ viết tắt như sau:

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề:

Vay mượn là một hiện tượng tất yếu xảy ra ở tất cả các ngôn ngữ Tiếng Việttrong quá trình hình thành và phát triển, có một thời gian tiếp xúc ngôn ngữ - vănhoá lâu dài với tiếng Hán và tạo thành một bộ phận ngôn ngữ - văn hoá Hán - Việt

Nó đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tiếng Việt Kết quả dẫn tới là trong tiếng Việt đãxuất hiện lớp từ gốc Hán (trong đó có lớp từ Hán - Việt) Đến nay, trong tiếng Việt,trải qua hàng ngàn năm, lớp từ này chịu sự tác động rất lớn của tiếng Việt trên mọiphương diện: ngữ âm, ngữ nghĩa và cấu tạo Sự tác động này làm thay đổi cả diệnmạo lẫn chất "ngoại lai" của từ Hán Việt nói riêng và từ gốc Hán nói chung Hiệnnay, sức sống của lớp từ gốc Hán không những không bị giảm đi mà ngày càngmạnh, chiếm tỉ lệ khá lớn và không thể thiếu được trong đời sống của tiếng Việt.Chính vì bộ phận từ vựng này có tầm quan trọng như vậy, cho nên từ trước đếnnay nhiều nhà Việt ngữ học đã để tâm nghiên cứu chúng trên nhiều bình diện khácnhau, từ những hướng tiếp cận khác nhau Có thể kể ra một số xu hướng chính nhưsau:

1) Đa số các công trình nghiên cứu nhằm vào bình diện từ vựng ngữ nghĩa củalớp từ gốc Hán nói chung hoặc chỉ riêng lớp từ Hán - Việt Các công trình này gồmmột số ít là các giáo trình từ vựng - ngữ nghĩa học, còn lại là các bài tạp chí hoặc kỉyếu khoa học chuyên ngành Ở xu hướng này có các tác giả tiêu biểu như NguyễnVăn Tu (1976), (1981); Đỗ Hữu Châu (1981); Phan Ngọc (1985); Nguyễn ThiệnGiáp (1985); Nguyễn Văn Khang (1988), (1992), (1994); N.V Stankevich (1991);

Trang 7

Nguyễn Đức Tồn (2001), v.v

2) Một vài công trình của các nhà nghiên cứu trong nước nhằm vào bình diệnngữ âm lịch sử của từ ngữ Hán-Việt mà điển hình là các cuốn sách chuyên khảo vàbài báo của tác giả Nguyễn Tài Cẩn (1979); Vương Lộc (1978), (1985); HoàngDũng (1991), v.v

Các công trình nói trên chủ yếu khảo sát lớp từ gốc Hán nói chung hoặc từ ngữHán - Việt hoặc Hán Việt cổ hoặc Hán - Việt Việt hoá nói riêng theo hai bình diện đãtrình bày trên trong đời sống tiếng Việt (tức là ở chính bản thân tiếng Hán - Việtchẳng hạn) mà chưa có sự so sánh đối chiếu với tiếng Hán hiện nay ở Trung Quốc

Sự thiếu vắng những nghiên cứu đối chiếu từ gốc Hán làm cho những người dạy vàhọc tiếng Hán hiện nay cũng như những người Trung Quốc học tiếng Việt gặp nhiềukhó khăn trong công việc của mình Do vậy việc nghiên cứu có so sánh với tiếngHán rất quan trọng đối với chúng tôi, những người giảng dạy tiếng Trung Quốc Đócũng chính là lí do quan trọng nhất để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu này

2 Mục đích nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.

2.1 Mục đích của luận văn này là miêu tả trường tự vựng-ngữ nghĩa tên gọi các

bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán để thấy được ý nghĩa, đặc trưng cấu tạo từphức của tiếng Hán Trên cơ sở đối chiếu với những đơn vị Hán - Việt tương đươngtrong tiếng Việt từ đó chỉ ra các đặc thù riêng của từng ngôn ngữ

2.2 Để đạt được mục đích trên, luận văn cần phải lập được một danh sách cácđơn vị từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán, sau đó miêu tả, đốichiếu với những đơn vị Hán - Việt tương đương để chỉ ra sự khác biệt giữa chúng.2.3 Đối tượng nghiên cứu ở đây là bình diện từ vựng - ngữ nghĩa của các đơn

vị từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán hiện đại và trên cơ sở đốichiếu với tiếng Hán - Việt

Đây là một đề tài khá lớn, với phạm vi khá rộng cần phải đầu tư nhiều côngsức Trong khi đó nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là tầm của một luận văn thạc sĩ nênkhả năng của chúng tôi là rất hạn chế Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi chỉ tập

Trang 8

hợp, phân loại, miêu tả các đơn vị tự vựng chỉ các bộ phận cơ thể trong tiếng Hánhiện đại rồi so sánh chúng với những từ Hán - Việt tương đương (nếu có) Ở đây,chúng tôi cũng chỉ dừng lại ở việc miêu tả theo bình diện từ vựng ngữ nghĩa, chứkhông có điều kiện đi sâu phân tích qui luật phát triển nghĩa cũng như việc sử dụngchúng trong giao tiếp hàng ngày Mỗi đơn vị từ vựng Hán sẽ được miêu tả về đặcđiểm từ vựng - ngữ nghĩa và đối chiếu với từ Hán - Việt tương đương để thực hiệnnhiệm vụ và mục đích của luận văn đã nêu trên.

3 Ý nghĩa của đề tài luận văn.

Thực hiện các mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn hy vọng được góp mộtphần nhỏ bé vào công việc nghiên cứu lớp từ gốc Hán nói chung (lớp từ Hán - Việtnói riêng) đang có mặt và hành chức trong vốn từ tiếng Việt Thông qua việc miêu

tả, đối chiếu các từ chỉ các bộ phận cơ thể giữa tiếng Hán và tiếng Việt giúp chongười Việt học tiếng Hán cũng như người Trung Quốc học tiếng Việt hiểu và vậndụng các đơn vị từ vựng này nhanh hơn, chuẩn xác hơn, giúp ích cho việc nâng caovốn từ vựng, vốn kiến thức cho người học từ đó nâng cao chất lượng dạy học

4 Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu.

Luận văn được tiến hành trên tư liệu gồm các mục từ được xác định là từ chỉcác bộ phận cơ thể trong các từ điển tiếng Hán hiện đại là: Từ điển tiếng Hán hiệnđại (1991); từ điển tiếng Hán ứng dụng (2000); từ điển Việt - Hán (1997); từ điển đồgiải ( ), và chính các mục từ đó trong từ điển tiếng Việt 2000 (nếu có) Các mục từtrong từ điển gốc được thu thập trước và chúng quyết định số lượng mục từ trongdanh sách mục từ Vì dung lượng của luận văn, danh sách này chỉ ghi các mục từ,

âm đọc Hán - Việt, số lượng các nghĩa chứ không ghi phần định nghĩa các từ Cácmiêu tả, phân tích, lý giải cụ thể mà chúng tôi thực hiện đều phải dựa vào nguyênvăn các lời định nghĩa trọn vẹn trong các cuốn từ điển nói trên Sau đó chúng tôi tìmnhững đơn vị Hán - Việt tương ứng với nó tiến hành phân tích so sánh để rút ra nhậnxét

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là miêu tả, phân tích và đối chiếu về mặt

Trang 9

định tính và định lượng của tư liệu để đi đến những nhận xét và kết luận cụ thể.

5 Bố cục của luận văn.

Luận văn gồm các phần và các chương chính như sau:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

* Những đơn vị Hán - Việt này sẽ được lập danh sách ở những chương sau.

Trang 10

Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 Giới thiệu đôi nét về tiếng Hán.

1.1 Lịch sử phát triển của tiếng Hán.

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn nhiều dân tộc trong đó dân tộc Hán chiếmđại đa số (khoảng 92%) Ngôn ngữ mà người Hán ở các vùng khác nhau sử dụngcũng khác nhau Nhìn vào hình thức chúng ta hoàn toàn có thể lý giải rằng tiếngHán là của dân tộc Hán, song thực tế không chỉ đơn giản như vậy Nói đến tiếngHán, người ta có thể nghĩ tới hình thức văn giáp cốt thời cổ đại, đó là thứ ngôn ngữsách vở của các nhà hiền triết cổ, còn có thể nói đến ngôn ngữ trong Đường thi,Tống từ, ngôn ngữ bạch thoại giai đoạn đầu trong các tiểu thuyết cổ điển và cả tiếngphổ thông cùng các phương ngữ hiện đại.v.v

Chữ Hán được xuất hiện rất sớm và có quá trình biến đổi lâu dài Văn tự Hán làloại chữ viết tượng hình duy nhất trên thế giới còn được sử dụng và phát triển chođến ngày nay Một số nước láng giềng như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam đã từngmượn chữ Hán để làm văn tự cho ngôn ngữ nước mình Chữ Hán là thứ chữ viết rấtphức tạp cho nên đã gây không ít khó khăn cho việc nắm bắt chữ Hán và học tiếngHán Vì vậy nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cải cách giản thể chữ Hán Từ đờiĐường đến nay, văn tự Hán dùng trong lĩnh vực hành chính thay đổi không nhiều.Vào thời Minh Thanh mặc dù có nhiều người phản đối, trào lưu giản hoá vẫn bắtđầu xảy ra Đến đầu thế kỷ XX, do nhu cầu giản hoá chữ Hán, cuộc vận động cảicách toàn diện chữ Hán đã chính thức công nhận chữ Hán giản thể là văn tự chínhdùng trong văn bản hành chính của nhà nước Từ sau năm 1949 nhà nước TrungQuốc mới luôn duy trì chữ Hán cải cách, đồng thời vào năm 1955, ở Trung Hoa lụcđịa còn bắt đầu thay đổi cách đọc và viết chữ Hán theo hàng dọc từ phải sang trái

Trang 11

thành cách viết hàng ngang từ trái sang phải như thông lệ của các nước trên thế giới.

Có hai hình thức của ngôn ngữ viết đã tồn tại trong suốt chiều dài phát triểnlịch sử của Trung Quốc Đó là:

1. Văn ngôn từ đời Đông Chu đến đời Hán

2. Văn bạch thoại xuất hiện từ đời Đường

Mặc dù có sự khác nhau giữa các vùng phương ngữ của Trung Quốc nhưng docùng nằm trong một chỉnh thể, cùng sử dụng chung một loại văn tự và có nền vănhoá thống nhất nên khi Trung Quốc phế bỏ hình thức văn ngôn bằng hình thức bútngữ mới, tức lối văn bạch thoại, thì sự thống nhất ấy vẫn không hề mất đi Văn bạchthoại do tính giản dị và phản ánh được đời sống con người hiện đại Trung Hoa đãphát triển trên một nền thống nhất mới

Như vậy trong lịch sử, toàn Trung Quốc đã có một thứ ngôn ngữ chung Nhưngthời Minh Thanh, ngôn ngữ viết vẫn là hình thức văn ngôn, ngôn ngữ nói là tiếngQuan thoại (tiếng Bắc Kinh mang nhiều khẩu âm khác nhau) Cho đến đầu thế kỷ

XX, trước xu thế hoà nhập vào thế giới văn minh, nhiều người Trung Quốc thấyđược tầm quan trọng của việc dùng một ngôn ngữ thống nhất, đã coi tiếng quanthoại là ngôn ngữ chuẩn để đưa vào dạy trong nhà trường và sử dụng phổ biến trongcác lĩnh vực hành chính quốc gia

Việc xác lập một ngôn ngữ thống nhất của toàn dân tộc bao gồm hai phươngdiện: xác lập một hình thức ngôn ngữ viết mới trên cơ sở hình thức văn ngôn truyềnthống, sáng tạo thêm những yếu tố hiện đại; thay thế hình thức khẩu ngữ chưa cótính qui tắc là tiếng Quan thoại bằng một hình thức khẩu ngữ mới toàn dân cùng sửdụng Qua quá trình cải cách, đổi mới dẫn tới kết quả là văn bạch thoại đã đượccông nhận là hình thức ngôn ngữ viết chính thức của Trung Quốc Đến năm 1924

Uỷ ban trù bị thống nhất ngôn ngữ toàn Trung Quốc mới đưa ra quyết định coi ngữ

âm Bắc Kinh là ngữ âm chuẩn để thống nhất cách phát âm

Tiếng Hán phổ thông hiện đại với tư cách là thứ ngôn ngữ chung của dân tộcHán được hình thành trong điều kiện lịch sử như vậy

Trang 12

Tiếng Hán phổ thông hiện đại mà chúng ta nghiên cứu hiện nay chính là tiếngphổ thông lấy ngữ âm Bắc Kinh làm ngữ âm chuẩn, lấy tiếng miền Bắc làm phươngngữ gốc và lấy ngữ pháp của các tác phẩm kinh điển bằng văn bạch thoại làm ngữpháp chuẩn.

Về chữ viết, chữ Hán là loại chữ tượng hình, tức là dùng đường nét, hình vẽ để

mô tả sự vật, sự việc, hiện tượng mà các từ ngữ thể hiện Về mặt cấu tạo một chữHán bao giờ cũng có ba mặt là âm, hình và nghĩa Âm đọc là yếu tố có trước Hình

là hình thể, hình dáng cấu tạo của chữ Hán được tạo thành bởi những đường nét nhấtđịnh nằm trong một ô vuông, nên chữ Hán cũng gọi là chữ vuông Nghĩa của chữHán là nội dung mà âm và hình thể hiện Nghĩa có thể được thể hiện thông qua hìnhdáng cấu tạo của chữ Hán hoặc qua âm đọc Do vậy, nhìn vào mặt chữ người ta cóthể biết được hoặc đoán được phần nào ý nghĩa mà từ đó thể hiện Song chúng ta rấtkhó có thể thấy một mối liên lạc giữa nó với cấu trúc âm tiết có thực trong lời nói.Đây là khó khăn cho những người học tiếng Hán vốn đã quen với các hệ thống văn

tự ghi âm Chính vì vậy mà người Trung Quốc phải sử dụng các con chữ latin để ghi

âm các âm tiết Hán theo nguyên tắc thông thường của một văn tự ghi âm

1.2 Đặc điểm cấu trúc tiếng Hán.

Tiếng Hán cũng giống như nhiều ngôn ngữ Viễn Đông khác thuộc loại đơn tiếttính Có nghĩa là trong tiếng Hán đơn vị có thể mang nghĩa đa số có hình thức là đơn

âm tiết Đặc trưng đơn tiết của tiếng Hán có những đặc điểm sau:

a Đơn vị cơ sở của ngữ pháp tiếng Hán là hình vị trùng với âm tiết.

Hầu hết các âm tiết tiếng Hán đều có nghĩa nên chúng có những đặc điểm vàtính chất của một hình vị Hầu hết các hình vị trong tiếng Hán đều có thể độc lập tạothành từ Từ trong tiếng Hán đại đa số là từ đơn tiết

Tiếng Hán cũng có bộ phận từ đa tiết nhưng những từ đa tiết đó lại do một loạtcác đơn vị biểu nghĩa đơn âm tiết tạo nên, các âm tiết đó đều có nghĩa riêng của nó

Ví dụ: từ " " xiong dì trong đó hai âm tiết "xiong" và "dì" đều có nghĩa riêng nhất

định Còn những từ đa tiết mà các âm tiết không có nghĩa khi tách ra như:

Trang 13

húdié (con bướm), bo li (thuỷ tinh) là rất ít Cương vị của âm

tiết tiếng Hán tương tự như hình vị trong các ngôn ngữ tổng hợp Người ta gọi âmtiết tiếng Hán là các hình tiết

b Về mặt hình thái học, tiếng Hán không có hình thức của từ.

Từ trong tiếng Hán là đơn vị đơn thuần mang nghĩa từ vựng Người ta khôngthể nhìn vào hình thức của từ để phân biệt từ loại hoặc nhận ra các ý nghĩa ngữpháp Do vậy, chúng ta không thể phân chia từ loại tiếng Hán dựa vào các hình thứccủa từ riêng lẻ Ranh giới giữa các từ loại tiếng Hán khá mờ nhạt và luôn xảy ra tìnhtrạng chuyển loại

Ví dụ:

chữ Hán)

Từ " " trong câu 1 là danh từ, còn trong câu 2 là một động từ

Việc phân định ranh giới giữa từ đơn với từ ghép và đặc biệt là từ ghép với từ

tổ rất khó khăn vì mỗi âm tiết đều có nghĩa Có những tổ hợp vừa có đặc điểm của

từ ghép vừa có đặc điểm của từ tổ nên không biết qui chúng thành đơn vị từ ghéphay từ tổ Chẳng hạn như: tổ hợp " " dà yi (áo khoác ngoài) có thể coi là một

danh từ chỉ một loại áo khá dài mặc ở bên ngoài nhưng cũng có thể coi nó là từ tổ vìtách riêng thì và đều là hai từ có nghĩa mà từ + từ = từ tổ

c Ý nghĩa ngữ pháp được biểu hiện bằng các phương tiện ngoài từ Do đặc

điểm của tiếng Hán không có ý nghĩa ngữ pháp trong hình thức từ Do vậy, muốnbiểu thị ý nghĩa ngữ pháp phải dùng các phương tiện ngoài từ như: trật tự từ, hư từ

+ Phương thức dùng trật tự từ: Trật tự từ trong tiếng Hán rất chặt chẽ nó biểuthị ý nghĩa ngữ pháp của từ, vì vậy, nói chung không được phép tuỳ tiện đảo lộn trật

tự từ

Nếu sắp xếp theo thứ tự trên thì là chủ ngữ, là động từ vị ngữ và

Trang 14

là tân ngữ (trong tiếng Việt gọi là bổ ngữ) Nếu ta đảo trật tự các từ trong câu trênthành: thì hoặc không có nghĩa, hoặc nghĩa sẽ thay đổi vì lúc đó ý nghĩa ngữ pháp của các từ thay đổi.

+ Phương thức dùng hư từ: Bên cạnh phương pháp dùng trật tự từ, tiếng Háncòn dùng hư từ để biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp như các liên từ, trợ từ, phó từ.v.v Các hư từ khác nhau nối các từ tạo nên các cấu trúc cú pháp khác nhau Ví dụ: trong

hai tổ hợp học sinh của tôi) và (tôi và học sinh) hai thực từ và nếu nối bằng trợ từ " "thì nó là một kết cấu chính phụ, còn nếu nối bằng liên từ thì nó lại trở

thành một kết cấu liên hợp Trong tiếng Hán, hầu hết các hư từ đều có nguồn gốc làthực từ hư hoá mà thành, vì vậy giữa thực từ và hư từ thường có hiện tượng đồng

d Tiếng Hán là ngôn ngữ đơn lập có thanh điệu.

Tiếng Hán có 4 thanh điệu cơ bản và một khinh thanh (thanh nhẹ) Thanh điệutiếng Hán có những đặc điểm phân biệt về cao độ, trường độ và đường nét Một đặcđiểm quan trọng của thanh điệu tiếng Hán là thanh điệu không cố định ở các âm tiếtkhi nó đứng liền với âm tiết khác trong ngữ lưu Giữa các thanh có sự chuyển đổi

Trang 15

nhau trong ngữ lưu (hiện tượng biến thanh ngữ lưu) Sự biến đổi này có qui luật.Khinh thanh là thanh được tạo thành do sự biến đổi của 4 thanh cơ bản Khinhthanh đôi khi có giá trị khu biệt ngữ nghĩa, nó đã tham gia vào quá trình cấu tạo từ.Cùng một từ song âm tiết nếu âm tiết thứ hai đọc nhẹ thì từ lại có ý nghĩa khác Vídụ:

Hoặc

dong xì dong xi

dà rén

: đông tây: đồ, đồ đạc, đồ vật

: từ kính trọng dùng để xưng hô với người bề

trên

dà ren : người lớnNgoài ra, một số khinh thanh trong một số tổ hợp còn có chức năng phân biệt

từ loại hay tính chất của tổ hợp Ví dụ:

gàn shì : Làm việc, giải quyết công việc (đoản ngữ)

gàn shi : cán sự (danh từ)Như vậy, tiếng Hán cũng như nhiều ngôn ngữ phân tiết tính khác đã sử dụngthanh điệu như một yếu tố âm vị học Các thanh điệu xuất hiện trong từng âm tiết vàmang lại tính phân biệt rõ rệt cho các vỏ từ

e Các yếu tố chắp dính.

Trong tiếng Hán, ở các trường hợp âm tiết khinh thanh xuất hiện ở cuối các từ,

có một số lượng không nhiều các âm tiết thường không có ý nghĩa từ vựng cụ thể

mà chỉ có giá trị cấu tạo từ như những phụ tố trong các ngôn ngữ thuộc loại hìnhchắp dính gọi là từ vĩ ( ) Nghĩa của từ chủ yếu nằm ở âm tiết đầu (gọi là từcăn), nơi xuất hiện một trong 4 thanh cơ bản

VD: " " zi trong " " zhuozi : cái bàn

" " tou trong " " shétou : cái lưỡi

" " ba trong " " zui ba : cái mồmTiếng Hán cũng có một số yếu tố xuất hiện ở đầu cấu trúc từ gọi là từ đầu ( )

Các yếu tố này gần giống với các tiền tố trong ngôn ngữ biến tố Chúng

Trang 16

không có ý nghĩa từ vựng và chỉ xuất hiện trước danh từ hoặc số từ Ví dụ:

1.3 Đặc điểm loại hình của tiếng Hán.

Về mặt loại hình, tiếng Hán cũng như nhiều ngôn ngữ Đông Nam Á khác thuộcloại đơn tiết Hầu hết các đơn vị mang nghĩa đều có hình thức một âm tiết (hìnhtiết) Mỗi âm tiết tiếng Hán đều có một thanh điệu nhất định Thanh điệu có giá trịkhu biệt ngữ nghĩa như các âm vị nguyên âm, phụ âm Về cấu trúc âm tiết, tiếngHán là ngôn ngữ đơn lập phân tiết tính Đa số các từ ghép tiếng Hán tạo thành là do

sự liên kết các hình tiết Các quan hệ ngữ pháp được thể hiện bằng trật tự từ chứkhông phải bằng cách biến hình từ hoặc dùng các phụ tố Đặc điểm này rất giốngvới các ngôn ngữ Đông Nam Á như tiếng Thái, tiếng Việt Mường, tiếng Mèo Dao.Một đặc điểm nữa giống với các ngôn ngữ Đông Nam Á là cách kết hợp, sử dụng số

từ, lượng từ và từ chỉ thị theo một nguyên tắc chung

Về trật tự từ, trật tự giữa động từ và bổ ngữ tiếng Hán cũng ưa đưa động từ lêntrước bổ ngữ (như các ngôn ngữ Mèo Dao và Môn Khơ Me) nhưng trật tự giữa địnhngữ và danh từ thì tiếng Hán lại giống với các ngôn ngữ An Tai chứ không giống cácngôn ngữ Đông Nam Á Đó là định ngữ đặt trước danh từ còn các ngôn ngữ khácthường đặt sau danh từ

Về địa lý, tiếng Hán nằm giữa khu vực các ngôn ngữ đa tiết tính không thanhđiệu họ An Tai ở miền Bắc và khu vực các ngôn ngữ đơn âm tiết tính có thanh điệu

Trang 17

họ Đông Nam Á Cho nên tiếng Hán vừa mang các đặc điểm loại hình của các ngônngữ An Tai vừa mang đặc điểm của các ngôn ngữ Đông Nam Á Nó là loại trunggian giữa hai loại hình ngôn ngữ này.

2. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa Hán - Việt và sự hình thành lớp từ ngữ Hán - Việt.

2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ là qui luật khách quan của mọi ngôn ngữ.

Vay mượn là hiện tượng tất yếu xảy ra ở tất cả các ngôn ngữ khi có sự tiếp xúcgiao lưu văn hóa Tiếp xúc và vay mượn từ vựng để làm giàu thêm vốn từ vựng củangôn ngữ mình Sự tiếp xúc và vay mượn giữa tiếng Việt và tiếng Hán cũng khôngngoại lệ Đó là một quá trình lâu dài, phức tạp, nhiều chiều, đòi hỏi những nghiêncứu công phu Tiếng Hán, thứ ngôn ngữ của một quốc gia đông dân trên thế giới, đã

từ lâu được thừa nhận là một ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu rộng ở Châu Á nói chung

và nhất là ở Đông Nam Á như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào, Thái Lan,Mông Cổ, Singapore, Malaixia Sự tiếp xúc này luôn xảy ra theo cả hai chiều trong

sự tương hỗ lẫn nhau

2.2 Các điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán.

Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ, thì có thể kể đến rất nhiều nhân tố ngoài ngônngữ Đối với tiếp xúc Hán - Việt, có thể thấy một số nhân tố chính như sau:

a Về địa lý.

Việt Nam - Trung Quốc là hai quốc gia "núi liền núi, sông liền sông" Từ xưanhân dân hai nước (nhân dân vùng biên) đã thường xuyên qua lại, buôn bán, trao đổilàm ăn Đó là nhân tố đầu tiên cho quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt

Trang 18

cũng là nhân tố quan trọng cho quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt Kể cả saunày, khi nước nhà giành được độc lập thì cơ cấu bộ máy hành chính của nhà nướcphong kiến Việt Nam vẫn theo mô hình của nhà nước phong kiến Hán ở TrungQuốc.

d Về mặt xã hội.

Trong thời kỳ nước ta bị bọn phong kiến Trung Quốc đô hộ, do sự thiết lậpchính quyền ngày càng chặt chẽ, người Hán đã dần xâm nhập vào hầu hết các hoạtđộng quan trọng của đời sống và xã hội Việt Nam Trong xã hội, ngoài tầng lớpquan lại còn có một lực lượng đông đảo "Hoa kiều" (những người Hoa sống ở ViệtNam) Họ sang Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau và thuộc đủ mọi thànhphần Những người "Hoa kiều" này đã tập hợp thành một lực lượng đông đảo và có

Trang 19

thế lực xã hội thời bấy giờ Họ ở lẫn với người Việt và tham gia mọi hoạt động cùngngười Việt Khi nước nhà giành được độc lập, các cuộc xâm lược của phong kiếnTrung Quốc vẫn tiếp diễn Triều đình Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của mô hìnhphong kiến Trung Quốc Tất cả những điều kiện xã hội trên đã tạo thành một nhân tốquan trọng cho sự tiếp xúc chặt chẽ, sâu sắc và lâu dài giữa hai ngôn ngữ Việt - Hán.

2.3 Sự hình thành lớp từ Hán - Việt.

Do những điều kiện thuận lợi kể trên đã dẫn đến sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt Song sự tiếp xúc đó không chỉ xảy ra trong thời kỳ Bắc thuộc mà nó vẫn còntiếp tục kéo dài đến tận bây giờ Khi nói đến sự tiếp xúc tiếng Hán, các nhà ngônngữ học phân thành hai giai đoạn Giai đoạn đầu là giai đoạn tiếp xúc một cách tựnhiên giữa tiếng Việt với tiếng Hán của đạo quân xâm lược, với tư cách là công cụđồng hóa nhân dân ta Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, chữ Hán được dùng trong hànhchính của nhà nước quan liêu, trong nhà chùa, trong việc thờ cúng, sáng tác vănchương, ghi chép hàng ngày Giai đoạn hai là giai đoạn tiếp xúc có ý thức của ngườiViệt đối với tiếng Hán, một ngôn ngữ của những tri thức về các kiểu mẫu tổ chứcnhà nước và chính quyền, những tri thức về kinh tế văn hóa và tư tưởng phong kiếnđiển hình Sự tiếp xúc ngôn ngữ lúc này không bị ràng buộc bởi yêu cầu chính trịtheo quan hệ chinh phục mà nó đi sâu vào ngôn ngữ Vay mượn lúc này đã đóng vaitrò của chính ngôn ngữ đi vay chứ không phải là sự cưỡng ép Đó chính là lí dotiếng Hán ở Việt Nam thời kỳ này đã tách ra khỏi tiếng Hán ở Trung Quốc và pháttriển theo con đường riêng của mình, theo qui luật riêng của tiếng Việt và cách sửdụng riêng của người Việt Thời kỳ này, Việt Nam tuy đã giành được độc lập nhưng

-ưu thế và chức năng của tiếng Hán vẫn còn khá quan trọng Chữ Hán vẫn được dùnglàm ngôn ngữ chính thức của nhà nước phong kiến, trong giáo dục, hành chính,khoa cử, sáng tác văn học, văn hóa, tế lễ Nó vẫn là thứ ngôn ngữ bác học bên cạnhtiếng Việt, tiếng Nôm; là ngôn ngữ bình dân được dùng trong giao tiếp đời thường

2.4 Về cách đọc Hán - Việt, yếu tố gốc Hán và yếu tố Hán - Việt.

20

Trang 20

Nói đến từ Hán - Việt không thể không nói đến cách đọc Hán - Việt, yếu tố gốcHán và yếu tố Hán - Việt.

Cách đọc Hán - Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán,

mà cụ thể là cách đọc chữ Hán của người Việt bắt nguồn từ cách đọc chữ Hán củangười Hán theo hệ thống Đường âm dạy ở Giao Châu (khoảng thế kỷ VIII - IX).Theo Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn (1979) - "nói đến cách đọc Hán - Việt là nói đến cái

vỏ ngữ âm mà người Việt Nam gán cho hệ thống văn tự Hán, bất luận những chữ đó

là gì" theo nguyên tắc nói trên Ví dụ: Những chữ vốn ghi những tiếng Hán đã du

nhập và được dùng trong tiếng Việt như: tuyết, học, cao, v.v hoặc những chữ không liên quan gì đến tiếng Việt như: chẩm, giá, ma, v.v

Yếu tố gốc Hán là những yếu tố vốn của tiếng Hán nhưng nay đã được du nhập

vào tiếng Việt, bất luận đó là yếu tố như thế nào Ví dụ: quốc, gia, sơn, thủy v.v hay những yếu tố như: mùa, gần, mì chính v.v vốn cùng một gốc với vụ, cận, vị tinh mà ra Yếu tố Hán - Việt là một bộ phận nằm trong yếu tố gốc Hán nhưng trực

tiếp liên quan đến cách đọc Hán - Việt, hay nói cụ thể, đó là những yếu tố gốc Hánđược đọc theo âm Hán - Việt và ghi bằng chữ quốc ngữ hiện hành Có thể hình dung

rõ hơn những điều vừa trình bày trong sơ đồ mà Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã đưa ratrong công trình của ông như sau:

Cách đọc Hán -Việt

(Âm Hán - Việt)

a Khu vực I là những chữ có thể đọc theo âm Hán - Việt nhưng chỉ liên quan đến tiếng Hán, không có trong tiếng Việt Ví dụ: chẩm, giá, ma v.v

b Khu vực II là những chữ người Việt mượn từ tiếng Hán nhưng không trực

tiếp liên quan đến cách đọc Hán - Việt Có thể kể ra ba loại khác nhau:

- Những chữ vào tiếng Việt trước khi có cách đọc Hán - Việt như: mùa, mùi,

Trang 21

buồng, buồm v.v

- Những chữ vào từ đời Đường cùng với cách đọc Hán - Việt nhưng sau có

cách đọc khác Hán - Việt mà người ta thường gọi là Hán - Việt Việt hóa như; gan, gần, vốn, ván v.v

- Những chữ vào tiếng Việt thông qua một phương ngữ Hán như: mì chính, ca

la thầu, vằn thắn, xá xíu v.v

c Khu vực III là những chữ mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc Hán - Việt

được gọi là các yếu tố Hán - Việt Các yếu tố Hán - Việt này có thể chia làm hai loại:

loại là từ, có thể dùng độc lập như: tuyết, học, dân, số, đoàn v.v… và loại không phải là từ, không thể dùng độc lập, chỉ là các yếu tố cấu tạo từ như: quốc, gia, sơn, thủy, giang v.v

Sơ đồ trên có thể cho ta hình dung toàn cảnh những gì có liên quan đến từ ngữHán - Việt trong vốn từ tiếng Việt hiện nay nói chung và vấn đề mà luận đang quantâm nghiên cứu nói riêng

3 Lớp từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể.

3.1 Sự phân tích cơ cấu của toàn bộ hệ thống thường phải bắt đầu từ những bộ

phận không lớn lắm (có tư cách là các tiểu hệ thống) Việc giải thích vốn từ của mộtngôn ngữ cũng vậy, chúng phải được bắt đầu từ sự phân tích các nhóm từ hay lớp từhoặc các trường từ vựng - ngữ nghĩa với tư cách là các phạm vi từ vựng cơ sở Vàchính việc phân lập vốn từ của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng - ngữ nghĩa

đã tạo điều kiện dễ dàng phát hiện ra tính hệ thống cũng như các cơ chế thuộc về kếtcấu và ngữ nghĩa của bản thân ngôn ngữ ấy

3.2 Trong mỗi ngôn ngữ đều có khoảng trên dưới 300 tên gọi các bộ phận cơ

thể con người, chúng lập thành một trường từ vựng - ngữ nghĩa riêng gọi là trường

bộ phận cơ thể người (BPCTN) Tính chất quan trọng của trường từ vựng - ngữnghĩa loại này là thể hiện ở chỗ đa số các tên gọi trong trường đều thuộc vốn từvựng cơ bản của một ngôn ngữ, chúng là lớp từ thuần bản ngữ nhất, ít bị pha tạp bởi

Trang 22

các quá trình ngôn ngữ, đóng vai trò là hạt nhân của hệ thống từ vựng, "là cáinguyên sinh cả về mặt phái sinh ngôn ngữ lẫn phái sinh bản thể" [5; 126] Do đó,chúng đã từng là đối tượng nghiên cứu, khảo sát của nhiều nhà ngôn ngữ học thuộcnhiều lĩnh vực khác nhau "bởi nó cho phép vạch ra hướng giải quyết một số vấn đềcấp thiết về quá trình hình thành và phát triển vốn từ của một ngôn ngữ cũng nhưcác vấn đề về ngữ nghĩa học hoặc dân tộc-tâm lý ngôn ngữ [5; 126].

3.3 Quá trình hình thành tên gọi là sự phạm trù hoá hiện thực khách quan bằngngôn ngữ Đối với các từ là BPCTN, sự phạm trù hoá hiện thực khách quan chính làcách thức chia tách các bộ phận ra thành các phạm trù Nhìn chung, các từ chỉBPCTN trong các ngôn ngữ không hoàn toàn trùng hợp với nhau Tuy nhiên giữacác ngôn ngữ cũng có những nguyên tắc phổ quát chung chi phối cách gọi tên tronglĩnh vực này Cuốn "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng" của Giáo sư Đỗ Hữu Châu đãnêu lên những nguyên tắc chung đó như sau:

a Tất cả các ngôn ngữ đều có từ chỉ cả cơ thể như một toàn bộ, tổng thể TiếngAnh là "body" , tiếng Pháp là "corps", tiếng Việt là "người", tiếng Hán là "

" Tương đương với các từ có phạm vi biểu vật cụ thể hơn trong tiếng Việt như "cơthể", "thân thể", tiếng Hán cũng có các từ như " ", "

"," "," "

b Tất cả các ngôn ngữ đều có các từ chỉ "đầu", "mình", "tay" (chi trên) và

"chân" (chi dưới) Các từ này trực tiếp bị từ chỉ toàn bộ cơ thể khống chế, nó thuộcbậc phân loại thứ hai theo cách phân loại của Elaine S.Adersen Trong tiếng Anh,tương đương với từ "tay" tiếng Việt là hai từ "arm" (cánh tay) và "hand" (bàn tay)

Từ "chân" tiếng Việt tương đương với hai từ tiếng Anh là "leg" (cẳng chân) và

"food" (bàn chân)

c Tất cả các ngôn ngữ đều có từ chỉ "mắt", "mũi", "miệng"

d Tất cả các ngôn ngữ đều có tên riêng chỉ chi trên tức là không được gọi cùngvới "chân" chung một tên

Trang 23

e Các phạm trù ngón [tiếng Anh là "finger" (ngón tay) và "toe" (ngón chân)]nói chung thường được gọi tên.

f Tất cả các ngôn ngữ đều có tên gọi cho "móng" (tay và chân) theo một tronghai cách: hoặc là dùng một từ cơ sở chung cho cả tay và chân kết hợp với một yếu

tố loại biệt chỉ rõ móng của tay hay của chân như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Anhhoặc là dùng một căn tố chung rồi tạo nên các từ phụ gia cho tay và chân

g Nếu đã có một từ để gọi "chân" (thường xảy ra trong các ngôn ngữ) thì nhấtthiết phải có một từ riêng biệt cho "tay" Như vậy trong nhiều ngôn ngữ có từ riêngbiệt cho tay và chân, một số khác chỉ có từ riêng biệt cho tay nhưng không mộtngôn ngữ nào chỉ có từ cho chân mà không có từ chỉ tay

h Nếu đã có từ riêng biệt cho "bàn chân" [foot] thì nhất thiết phải có từ riêngbiệt cho "bàn tay" [hand]

i Nếu ngón chân đã có một tên gọi riêng thì nhất thiết phải có tên riêng chomỗi ngón tay Như vậy, có những ngôn ngữ: 1/không có tên riêng cho mỗi ngón tay

và ngón chân 2/ có tên cho một số ngón tay và ngón chân mà không có tên cho mỗingón chân 3/ có tên gọi cho mỗi ngón tay và mỗi ngón chân

Nhìn chung, các nguyên tắc chi phối trường các từ chỉ BPCTN hầu như là cácnguyên tắc chi phối cách thức gọi tên ở các trường biểu vật khác, phản ánh qui luậttri giác và nhận thức chung của con người về thế giới khách quan từ cụ thể đến trừutượng, từ khái quát đến chi tiết Đó là các nguyên tắc trực tiếp, dễ tri giác và sở dụng(thường xuyên phải dùng đến hơn trong nhận thức và trong giao tiếp), đồng thờinhững bộ phận nào quan trọng hơn cũng thường được chia cắt chi tiết hơn Nhữngnguyên tắc nói trên sẽ chi phối cách chia cắt thực tế khách quan và sự phân bố têngọi đối với các BPCTN ở bất kỳ một ngôn ngữ nào đó: "nhìn một cách tổng quát, cóthể thấy các từ chỉ bộ phận cơ thể trong các ngôn ngữ phân bố như sau: các bộ phận

ở phía trước "đập vào mắt" người đối diện được gọi tên nhiều hơn các bộ phận ởphía sau Các bộ phận ở phía trên được gọi tên nhiều hơn các bộ phận ở phía dưới.Các bộ phận có hình tròn, dài, thon được gọi tên nhiều hơn Nói một cách khác,nguyên tắc chi phối chung trong trường các từ chỉ bộ phận cơ thể là nguyên tắc "cáinổi bật" (saillent): vật nổi bật thì dễ gọi tên hơn" [13; 181-182]

Những nguyên tắc chung nói trên phản ánh qui luật tư duy ngôn ngữ và qui luật

Trang 24

phạm trù hoá hiện thực khách quan bằng ngôn ngữ có tính phổ quát chung đối vớimọi dân tộc ở phạm vi các bộ phận cơ thể con người Tuy nhiên, những qui luậtchung đó chưa nói lên được điều gì nhiều về đặc trưng ngôn ngữ cũng như các đặctrưng văn hoá, tâm lý và tư duy dân tộc trong vấn đề hình thành cấu trúc ngữ nghĩacủa từ, của một ngôn ngữ Điều ấy chỉ có thể được làm sáng tỏ khi đi vào tìm hiểucác đặc thù từ vựng - ngữ nghĩa xét về các phương diện như cách thức phạm trù hoátên gọi riêng của từng ngôn ngữ, đặc biệt khi đặt trong mối tương quan với ngônngữ khác Đó cũng là những nội dung chúng tôi muốn trình bày ở các chương saucủa luận văn.

Chương II

TRƯỜNG TÊN GỌI CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ TRONG TIẾNG HÁN

THỐNG KÊ - PHÂN LOẠI - MIÊU TẢ

1 Nguyên tắc lựa chọn:

1.1 Các đơn vị thống kê xét về mặt cấu tạo.

Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, xét về mặt cấu tạo, từ là những cấu trúc vừa

có tính hoàn chỉnh, vừa có tính độc lập Thông thường các nhà ngôn ngữ học thườngphân vốn từ của một ngôn ngữ thành từ đơn và từ ghép Bởi vậy, nguyên tắc chiphối sự thống kê đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi sẽ thực hiện ở chương 2 cũng

Trang 25

chức năng Cụ thể là trong tiếng Hán, ở khu vực các đơn vị chỉ BPCTN có những từthông thường, những từ thuộc thuật ngữ sinh vật học, giải phẫu học, lại có cả những

từ tiếng địa phương Ngay những từ thông thường lại có những từ dùng trong khẩungữ (văn nói), có những từ chỉ dùng trong bút ngữ (văn viết) Nếu tập hợp tất cả cácđơn vị đó để nghiên cứu thì sẽ có kết quả khác nhau Bởi vậy chúng tôi phải xácđịnh xem các đơn vị về mặt sử dụng thuộc loại phong cách chức năng nào và chỉ lựachọn thống kê đối với những đơn vị phù hợp với mục đích của luận văn Do đó,trong luận văn chúng tôi chỉ tập hợp những đơn vị biểu thị BPCTN trong ngôn ngữ

tự nhiên và trong giao tiếp thông thường hằng ngày của nhân dân Trung Quốc vànhững từ thuộc thuật ngữ sinh vật học, giải phẫu học ở khu vực này Bởi vì giữangôn ngữ tự nhiên và thuật ngữ khoa học luôn có sự chuyển hoá lẫn nhau, đườngranh giới giữa chúng không phải lúc nào cũng dứt khoát cho nên các thuật ngữ khoahọc vẫn được sử dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày của nhân dân Trung

Quốc (chẳng hạn như: " " jía (má), " " jìng zi (tinh dịch), " " yin jing (dương vật), " " jing (cổ), " " yao zhui (sống lưng), v.v

1.3 Các đơn vị thống kê xét về mặt nội dung:

Nội dung của các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu liên quan tới nhiềuphương diện Tuy nhiên, để việc thống kê phân loại phù hợp với mục đích nghiêncứu, chúng tôi sẽ tập hợp các đơn vị chỉ BPCTN theo lý thuyết trường tự vựng - ngữnghĩa Lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa đã được nêu lên cách đây mấy chụcnăm trong ngôn ngữ học đại cương và đã được Giáo sư Đỗ Hữu Châu trình bày mộtcách hệ thống trong hai tác phẩm ở Việt Nam "Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt"(1981) và "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng" (1987) Sau khi đã phân lập được trườngcác đơn vị chỉ BPCTN đối lập với các trường khác của tiếng Hán, chúng tôi tiếnhành phân loại chúng theo quan hệ ngữ nghĩa, chủ yếu là quan hệ cấp loại(hyponymie) tức là quan hệ bao gồm và nằm trong Quan hệ đó đã được Giáo sư ĐỗHữu Châu trình bày trong cuốn "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng" như sau: các từ cóquan hệ cấp loại với nhau bao gồm các quan hệ trên cấp, dưới cấp và đồng cấp Ví

Trang 26

dụ: "hoa" là từ trên cấp đối với "hoa hồng", "hoa hồng" lại là từ trên cấp đối với

"hoa hồng trắng", "hoa hồng vàng" Ngược lại nếu xét từ dưới lên thì "hoa hồngvàng", "hoa hồng trắng" là từ dưới cấp đối với "hoa hồng", "hoa hồng" lại là dướicấp đối với "hoa" Các từ "hoa hồng", "hoa huệ", "hoa cúc", "hoa lan" có quan hệđồng cấp với nhau Việc phân loại theo quan hệ cấp loại như trên trong thực tế làviệc chia những loại lớn thành những loại nhỏ Đây là quan hệ phân loại - loại

Nhưng khi xét quan hệ giữa các từ "mặt", "mắt", "mũi", "mồm", "má" thì lạikhác Đây không phải là quan hệ phân loại - loại "Mắt", "mồm", "mũi", "má" khôngphải là các loại "mặt" khác nhau, chúng chỉ là những bộ phận của "mặt" Bởi vậy,đây là quan hệ toàn bộ-bộ phận mà E.S Andersen đã nêu ra và được dẫn lại trongcuốn "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng" Như vậy, quan hệ cấp loại được chia thành haiquan hệ nhỏ hơn: quan hệ cấp loại phân loại - loại và quan hệ cấp loại phân loại toàn

bộ - bộ phận Chúng tôi sẽ còn trở lại quan hệ ngữ nghĩa này sau khi tiến hành thống

kê phân loại cụ thể đối với các đơn vị thuộc trường chỉ BPCTN tiếng Hán

Để phục vụ cho việc tập hợp các đơn vị thuộc trường BPCTN và phân loạichúng theo quan hệ cấp loại một cách cụ thể hơn chúng tôi dựa vào các quan điểmsau đây:

Thứ nhất, quan điểm của Brent Berlin và Paul Key về từ cơ sở Quan điểm của

hai ông khi nghiên cứu các từ chỉ màu sắc cơ sở đã được Giáo sư Đỗ Hữu Châu tómtắt trong tác phẩm "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng" như sau: các từ chỉ màu sắc cơ sở

là những từ sau:

1) Những từ một nghĩa vị

2) Nghĩa của các từ cơ sở không nằm trong nghĩa của một từ màu sắc khác

3) Nghĩa của chúng không được dùng cho một phạm vi hẹp các sự vật

4) Từ cơ sở phải nổi bật đối với người dùng

Ngoài 4 tiêu chí chủ yếu trên Berlin và Key còn đưa ra 4 tiêu chí bổ sung nữalà:

5) Những từ đáng ngờ về tư cách cơ sở là những từ không có cùng phân bố như

Trang 27

các từ cơ sở.

6) Từ chỉ màu sắc đồng thời cũng là tên của những vật thể mang màu sắc đó một cách điển hình

7) Các từ chỉ màu sắc mới mượn không phải là từ cơ sở

8) Trong trường hợp tiêu chí một từ vị khó xác định thì tiêu chí phức tạp về hình thái học có thể giúp ta các từ đáng ngờ về tư cách cơ sở

Thứ hai, quan điểm của Eleanr Rosh về bậc cơ sở.

Khi phân loại các đơn vị chỉ bộ phận cơ thể của con người theo quan hệ cấploại trong đó có quan hệ phân loại - loại và quan hệ phân loại toàn bộ - bộ phận,chúng ta sẽ được các đơn vị thuộc những bậc phân loại khác nhau Trong cuốn "Cơ

sở ngữ nghĩa học từ vựng", trang 179 Giáo sư Đỗ Hữu Châu có viết: "Cần phân biệt

sự phân loại - loại tức là sự phân chia một loại lớn thành các tiểu loại với sự phânloại - bộ phận tức là sự phân chia một toàn thể thành những bộ phận tạo nên nó Thídụ: sự phân loại "hoa" thành "huệ", "hồng" "lay ơn", rồi "hồng" lại được chia thành

"tầm xuân", "hồng" và "hồng" tiếp tục được chia thành "hồng nhung", "hồng bạch"

là sự phân loại - loại Còn sự phân chia cơ thể thành "đầu", "mình", "tay", "chân" rồi

"đầu" chia thành "mắt", "mũi", "tai" rồi "mắt" được chia thành "lông mày", "mi",

"lòng trắng", "lòng đen", "con ngươi" là sự phân loại bộ phận" [113; 178-179].Tuy nhiên, trong nguyên tắc này, quan hệ giữa các từ về mặt ý nghĩa không chỉ thểhiện cái toàn thể - cái bộ phận mà còn chứa đựng cả quan hệ cấp loại Giữa cái toànthể và cái bộ phận thuộc về hai hay nhiều bậc khác nhau Tác giả cuốn sách trên viếttiếp: "Nguyên tắc phổ quát đằng sau sự phân loại - bộ phận các từ chỉ cơ thể là: sựphân loại bộ phận các từ chỉ cơ thể ít khi vượt quá năm bậc và không bao giờ vượtquá bậc sáu Trong trường hợp có bậc phân loại thứ sáu thì ở bậc phân loại thứ nămkhông bao giờ có hơn hai phạm trù (hai từ) khống chế các phạm trù (các từ) ở bậcsáu Các phạm trù ở bậc thứ sáu thường bị khống chế bởi phạm trù "ngón" (tay vàchân) đó là các từ "móng" (tay và chân) [13; 179]

Khi nói tới quan hệ cấp loại, lại cũng cần phân biệt quan hệ trên cấp, quan hệ

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w