1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng bộ huyện đan phượng (hà nội) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014

114 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 884,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài Đảng bộ huyện Đan Phượng lãnh đạo xây dựng Nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014 để thấy được sự quan tâm của Đảng với nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƯỢNG (HÀ NỘI) LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN

NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƯỢNG (HÀ NỘI) LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu nêu trongluận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được aicông bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới Tiến sĩ Lê Thị MinhHạnh, người đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để em hoànthành luận văn tốt nghiệp này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn toàn thể thầy, giáo trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, thư viện trường, các thầy

cô và các bạn trong tập thể lớp cao học Lịch sử Đảng QH-2013 đã giúp đỡ emtrong quá trình thực hiện luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên kho lưu trữ vănphòng Huyện ủy, Văn phòng HĐND&UBND, Phòng Kinh tế… của huyệnĐan Phượng đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình khai thác và tìm kiếm tưliệu

Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ, độngviên, giúp đỡ em trong suốt quá trình em học tập, nghiên cứu và làm luận văn

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục luận văn 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC 8

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG 8

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội và thực trạng nông thôn huyện Đan Phượng trước năm 2008 8

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội 8

1.1.2 Thực trạng nông thôn huyện Đan Phượng trước năm 2008 13

1.1.2.1 Về nông nghiệp 13

1.1.2.2 Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, xây dựng 15

1.1.2.3.Về văn hóa- xã hội 16

1.1.2.4 Công tác nội chính 17

1.1.2.5 Công tác chính quyền và đoàn thể chính trị xã hội 18

1.1.2.6 Công tác xây dựng Đảng 18

1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Thành phố Hà Nội về xây dựng Nông thôn mới 22

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam 22

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hà Nội 27

CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƯỢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014 32

Trang 7

2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Đan Phượng về xây dựng nông thôn

mới 32

2.1.1 Bối cảnh lịch sử 32

2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Đan Phượng 34

2.2 Quá trình Đảng bộ huyện Đan Phượng chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới 39

2.2.1 Về Quy hoạch 40

2.2.2 Về xây dựng hạ tầngkinh tế-xã hội 41

2.2.3 Về kinh tế và tổ chức sản xuất 47

2.2.4 Về văn hóa, xã hội và môi trường 56

2.2.5 Về hệ thống chính trị 60

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 66

3.1 Nhận xét 66

3.1.1 Ưu điểm 66

3.1.2 Hạn chế 75

3.2 Một số kinh nghiệm 77

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 8

thôn Trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, ngày 11/4/1946, Bác nhấn

mạnh: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế ta lấy canhnông làm gốc Nông dân giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước

ta thịnh” [34, tr 215] Thấm nhuần tư tưởng, quan điểm của Người, trải quacác thời kỳ lịch sử, Đảng luôn quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân,nông thôn Đại hội VI của Đảng (1986) xác định: “Bảo đảm cho nông nghiệp,

kể cả lâm nghiệp, ngư nghiệp thực sự là mặt trận hàng đầu” [24, tr 48] Khiđất nước bước vào thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng ta luôn xác định giảiquyết vấn đề nông nghiêp, nông dân, nông thôn hay còn gọi là vấn đề “tamnông” có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển của đấtnước Đại hội X (2006), Đảng khẳng định: “Hiện nay và trong nhiều năm tớiđây, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược quantrọng” Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/08/2008, về Nông nghiệp,nông dân, nông thôn Nghị quyết số 26 được đánh giá là đã “thực sự tạo raluồng sinh khí mới, thúc đẩy nông nghiệp Việt Nam phát triển mạnh mẽ” và “

là một phần tài sản mới bổ sung vào kho tàng lý luận và thực tiễn của đấtnước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong đó, nét đặc sắc là sự hòaquyện mật thiết, sự tương tác mạnh mẽ giữa lý luận và văn kiện của Đảng vớiphong trào của quần chúng [20, tr46 ] Từ khi Nghị quyết số 26 được banhành, nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và nông nghiệp huyện ĐanPhượng nói riêng có bước phát triển mới, nông thôn Việt Nam mang một

Trang 9

"diện mạo mới”, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn được giải quyết

đồng bộ, hiệu quả Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài Đảng bộ huyện Đan

Phượng lãnh đạo xây dựng Nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014 để

thấy được sự quan tâm của Đảng với nông nghiệp, nông dân và nông thôn và

sự cụ thể hóa đường lối của Đảng trong thực tế, đưa Nghị quyết của Đảng vềnông nghiệp, nông thôn đi vào cuộc sống, đẩy nhanh tốc độ CNH - HĐHnông nghiệp nông thôn ở một đơn vị hành chính cấp huyện

Hà Nội là Thủ đô - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước.Năm 2008, sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, Hà Nội có sự thay đổi lớn

về diện tích, dân số với sự sáp nhập của tỉnh Hà Tây cũ, 4 xã của huyệnLương Sơn, tỉnh Hòa Bình và huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc, chính vìvậy, diện tích khu vực nông thôn của Hà Nội tăng lên Do đó, để thực hiệnnghị quyết của Đảng và thúc đẩy sự phát triển của nông thôn, nâng cao chấtlượng đời sống nông dân, Hà Nội đã sớm thực hiện xây dựng nông thôn mới

Đan Phượng là huyện ven đô ở phía Tây thành phố Hà Nội Thực hiệnNghị quyết số 26-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng về nông nghiệp, nôngdân, nông thôn, xác định nhiệm vụ xây dựng: "Chương trình mục tiêu quốcgia xây dựng nông thôn mới"; Chương trình 02/CTr-TU ngày 31/10/2008 củaThành uỷ Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW và chỉ đạo củaThành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội về xây dựng nông thôn mới, ĐanPhượng đẩy mạnh tiến hành xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Do

đó, nghiên cứu đề tài Đảng bộ huyện Đan Phượng (Hà Nội) lãnh đạo xây

dựng Nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014 là vấn đề có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn sâu sắc Qua nghiên cứu, sẽ thấy được những thành tựu, hạn chế

và rút ra những kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng nông thôn mới củaHuyện cũng như của Thành phố để từ đó, góp phần thực hiện thắng lợi Nghịquyết số 26 của Đảng và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thônmới của Chính phủ ban hành

Trang 10

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một đề tài mang tính truyềnthống, được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu trong đó có thể kể đến một

số nhóm công trình:

Các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Công trình: Nguyễn Xuân Thảo (2004): Góp phần phát triển bền vững

nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia; Đặng Kim Sơn (2007): Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam – 20 năm đổi mới và phát triển, Nxb Chính trị

quốc gia; Bùi Tất Thắng (2006): Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt

Nam, Nxb Khoa học xã hội; Nguyễn Trần Quế (chủ biên) (2004): Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21, Nxb Khoa học

Xã hội; PGS TS Nguyễn Văn Bích (2007): Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

sau hai mươi năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia; TS

Lê Quang Phi (2007): Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

nông thôn trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia; GS.TS Nguyễn Kế Tuấn

(2006): Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam,

con đường và bước đi, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội,… Các công trình này

đã nêu rõ vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, sự tác động của cácyếu tố đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và đời sống ngườinông dân, đồng thời nêu lên phương hướng và một số giải pháp phát triểnnông nghiệp

Các công trình nghiên cứu về chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực Nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp

Công trình Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Lê Ngọc Tòng (2005): Nhìn

lại quá trình đổi mới tư duy, lý luận của Đảng (1986-2005), tập 1, Nxb Lý

luận Chính trị Hà Nôi; Trần Thị Minh Châu (chủ biên): Về chính sách đất

nông nghiệp ở nước ta hiện nay của Nxb Chính trị quốc gia; Lê Quang Phi

Trang 11

(2008): Đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta,

Nxb Chính trị quốc gia; Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ NN&PTNT

(2002): Con đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia… Những công trình này đi sâu nghiên cứu, đánh giá vai trò lãnh

đạo của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Nhóm các công trình nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng với việc xây dựng Nông thôn mới ở các địa phương

Vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng Nông thôn mới là một vấn đề mới, có

thể kể đến một số công trình như: Vũ Thị Mười (2012): Đảng bộ tỉnh Ninh

Bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2001 đến năm 2010, Luận văn

Thạc sĩ ,Trung Tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị; Đỗ Thuỳ

Dung (2013): Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ

năm 2001 đến năm 2012, Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH KHXH&NV; Phạm

Anh Đào (2013): Đảng bộ Bắc Giang lãnh đạo nhân dân xây dựng nông thôn

mới, Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐHKHXH&NV; Nguyễn Thị Nga (2014): Công tác vận động nông dân xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ xã Hiệp Hòa – Bắc Giang của tác giả, Luận văn Thạc sĩ Trường ĐH KHXH&NV, …

Các công trình này đã đi sâu tìm hiểu về thực trạng và nêu nên phương hướng,giải pháp xây dựng nông thôn mới tại các địa phương

Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo các bài viết bài nghiên cứu đượcđăng tải trên báo, tạp chí, các website

Như vậy, vấn đề xây dựng Nông thôn mới mà đề tài xác định đã đượcnghiên cứu ở các góc độ khác nhau, trên phạm vi cả nước hoặc ở những địaphương khác nhau trong những giai đoạn nhất định, song cho đến nay chưa cócông trình nào nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới ở huyện Đan Phượng

từ năm 2008 đến năm 2014

Những công trình trên là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng bổ ích chotác giả khi thực hiện đề tài này

Trang 12

3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Đan Phượng lãnh đạo, tổchức thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện từ năm 2008 đếnnăm 2014

- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Đan Phượnglãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014

4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Đan Phượng lãnh đạo xây dựng nôngthôn mới từ năm 2008 đến năm 2014, đánh giá những thành tựu đạt đượccũng như những hạn chế của quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bànhuyện, trên cơ sở đó bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựngnông thôn mới ở huyện Đan Phượng

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện vàphân tích sự tác động của nó đến sự lãnh đạo của đảng bộ huyện trong thựchiện xây dựng nông thôn mới

- Phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Đan Phượngtrước năm 2008

Trang 13

- Phân tích quá trình Đảng bộ huyện Đan Phượng vận dụng quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong lãnh đạo xâydựng nông thôn mới ở huyện Đan Phượng từ năm 2008 đến năm 2014.

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế, trên cơ sở đó đúc rút những kinhnghiệm phục vụ công tác xây dựng nông thôn mới ở huyện Đan Phượng tronggiai đoạn tiếp theo

5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1. Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nhữngquan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nôngnghiệp, nông dân, nông thôn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết yêu cầu của đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp,trong đó phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu với việc sưu tầm tài liệuliện quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích, hệ thống lại tư liệu Tuy nhiên,bên cạnh các phương pháp trên, tác giả sử dụng phương pháp so sánh, đốichiếu, tổng hợp để có được một cái nhìn tổng thể, toàn diện, chính xác về việclãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện

5.3 Nguồn tư liệu

- Các văn bản có liên quan đến công tác xây dựng nông thôn mới củaTrung ương, Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan, Thành ủy, UBND thànhphố, các sở ngành về xây dựng nông thôn mới

- Các văn bản cụ thể hoá việc tổ chức thực hiện các chính sách trên củaĐảng bộ huyện Đan Phượng

- Các báo cáo tổng kết của Huyện ủy, UBND Huyện liên quan đến vấn

đề xây dựng nông thôn mới

Trang 14

6 Đóng góp của luận văn

Trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân đang tích cực xây dựng nông thônmới, việc phân tích sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Đan Phượng với việc xâydựng nông thôn mới sẽ giúp rút ra những kinh nghiệm cho huyện cũng nhưcác địa phương khác để từ đó thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốcgia về xây dựng nông thôn mới

Trang 15

CHƯƠNG 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN ĐAN

PHƯỢNG 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội và thực trạng nông thôn huyện Đan Phượng trước năm 2008

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội

Đan Phượng là huyện ngoại thành nằm phía Tây của Thủ đô Hà Nội,cách trung tâm Thủ đô gần 20km, có vị trí địa lý: phía Bắc giáp huyện MêLinh (ranh giới tự nhiên là bãi, sông Hồng), phía Nam giáp huyện Hoài Đức;phía Đông giáp huyện Đông Anh (ranh giới tự nhiên là bãi, sông Hồng) vàquận Bắc Từ Liêm; phía Tây giáp huyện Phúc Thọ, là huyện có truyền thốngthâm canh trong nông nghiệp, năng suất lúa đạt 7 tấn/ha đầu tiên của MiềnBắc.Tổng diện tích tự nhiên 7.657,11 ha, trong đó:

Đất nông nghiệp đang khai thác, sử dụng: 3838,21 ha (50,12%);

Đất chuyên dùng: 989,44 ha (12,92%);

Đất ở: 787,65 ha (10,29%);

Đất chưa sử dụng, sông suối: 2041,81 ha (26,68%)

Địa hình của Đan Phượng được chia làm 4 vùng:

Vùng bãi sông Hồng gồm các xã: Phương Đình, Trung Châu, Thọ Xuân,Thọ An, là vùng đất phù sa, màu mỡ, thích hợp cho các loại cây rau, màu,chăn nuôi gia súc và đại gia súc, nuôi thủy sản

Vùng ven sông Đáy gồm các xã, thị trấn: Thị trấn Phùng, Đan Phượng,Song Phượng, Đồng Tháp, là vùng đất phù sa cổ, màu mỡ, thích hợp trồngcây ăn quả, cây rau, màu, chăn nuôi gia súc và gia cầm, thủy sản

Vùng Tiên Tân gồm các xã Liên Trung, Liên Hà, Liên Hồng, Hồng Hà:

có địa hình cao, đất cát pha thịt nhẹ màu mỡ, thuận lợi trồng lúa, rau, màu,cây ăn quả và chăn nuôi

Trang 16

Vùng Đan Hoài gồm các xã: Tân Hội, Tân Lập, Hạ Mỗ, Thượng Mỗ, làvùng đất thịt nhẹ pha sét nhẹ, hàng năm được tưới bằng nước phù sa sôngHồng, qua hệ thống thủy nông Đan Hoài, thích hợp trồng lúa, cây màu, cây ănquả có chất lượng quả ngon, chăn nuôi.

Đặc điểm chia thành các vùng rõ rệt tạo điều kiện cho huyện trong việcđịnh hướng, quy hoạch phát triển kinh tế cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện

tự nhiên của từng vùng, khiến cho nền kinh tế, văn hóa xã hội phát triển đadạng, mỗi cụm lại mang một đặc trưng riêng

Đan Phượng nằm trên vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên đất đaimàu mỡ, điều kiện về thủy văn thuận lợi nên kinh tế nông nghiệp, côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, thương mại, dịch vụ ở đây sớm pháttriển Chính sự phát triển của kinh tế đã tạo điều kiện cho Đan Phượng pháttriển văn hóa, xã hội và đặc biệt là xây dựng nông thôn mới

Nền khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa Mùa hè nóng

ẩm, nhiệt độ trung bình trên 23 độ C, mùa đông khô và lạnh với nhiệt độ trungbình 15 – 16 độ C Độ ẩm tường đối trung bình từ 83 – 85% (tháng ẩm nhấtthường là tháng 3 và 4)

Nắng trong vùng mang tính chất chung của vùng Bắc Bộ Gió theo mùa,mùa đông thường là Đông Nam – Tây Bắc đến Đông Bắc, tốc độ gió trungbình 4m/s; mùa hè thường là Đông Nam – Tây và Tây Bắc, tốc độ gió trungbình 2,5 – 3m/s Bão úng thường xẩy ra vào tháng 5 đến tháng 8 trong năm.Lượng mưa trung bình từ 1600 – 1800 mm, mưa lớn tập trung trong tháng 7,

8, 9 Tháng 1 đến tháng 4 thường có mưa phùn Nhìn chung khí hậu và thờitiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đa dạng các loại cây trồng

Toàn huyện có dân số 162.373 người trong đó số người trong độ tuổi laođộng là 97.592 người chiếm tỷ lệ 61,65% Trong những năm gần đây, cùng vớiviệc quy hoạch mở rộng các khu sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công

Trang 17

nghiệp, ngành nghề sản xuất các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp tăng nhanh,

tỷ lệ lao động chuyển sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp và thương mại – dịch vụ tăng nhanh (ước tính mỗi năm tăng 1 –1,5%) Chất lượng lao động nhìn chung có trình độ văn hóa cao, có khả năngtiếp thu và vận dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thíchứng nhanh với cơ chế thị trường Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt

5 117 000

Huyện có 16 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 1 thị trấn và 15 xã với 49 tổchức cơ sở đảng, trong đó có 16 đảng bộ xã, thị trấn; 7 đảng bộ cơ quan, 26chi bộ trực thuộc với 5.517 đảng viên (tính đến 31/11/2014)

Là huyện có hệ thống giao thông đường thuỷ, bộ thuận lợi cho pháttriển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, thương mại, dịch vụ; đấtđai màu mỡ, nhân dân có truyền thống yêu nước, kiên cường cách mạng, cần

cù, sáng tạo trong lao động sản xuất Huyện đang trong quá trình đô thị hóanhanh, môi trường đầu tư thuận lợi cùng với sự năng động, sáng tạo của cấp

ủy, chính quyền, MTTQ, các ban, ngành đoàn thể các cấp và sự đồng thuậncao trong nhân dân Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, sáng tạo của Huyện

ủy, sự giám sát của HĐND, sự tập trung điều hành sáng tạo, dứt điểm, hiệuquả của chính quyền và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị các cấp, do đó đãhoàn thành các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốcphòng mà nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp đề ra trong đó, một trong nhữngkết quả quan trọng đó là việc xây dựng nông thôn mới

Huyện Đan Phượng ở gần nội thành Hà Nội và các khu công nghiệp,đây là thị trường rộng lớn cho các sản phẩm hàng hóa của Đan Phượng, từ cácsản phẩm lương thực, rau quả, gia súc, gia cầm đến các sản phẩm côngnghiệp, làng nghề được tiêu thụ với số lượng lớn ở nội thành Cùng với sựphát triển của Thủ Đô, nhu cầu về sản phẩm nông sản ngày càng lớn, thị

Trang 18

trường tiêu thụ hàng hóa của huyện sẽ được mở rộng đồng thời Đan Phượng

sẽ là cơ sở gia công các mặt hàng cho các xí nghiệp của thủ đô Thêm vào đó,Đan Phương có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng như: làng nghề chếbiến lâm sản Liên Trung; Mộc xã Liên Hà;chế biến thực phẩm giò chả xã TânHội; nấu rượu, làm đậu xã Hạ Mỗ Đây là tiềm năng lớn để phát triển sảnxuất, kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động

Với đặc điểm trên, Đan Phượng là huyện ven đô, có điều kiện tự nhiênthuận lợi để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Đấtđai màu mỡ, tưới tiêu thuận lợi, có kinh nghiệm thâm canh nông nghiệp, cókhả năng tiếp thu và ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thíchứng nhanh với cơ chế thị trường; Hạ tầng nông nghiệp cơ bản đáp ứng yêucầu phục vụ sản xuát và tiêu thụ sản phẩm

Nhân dân trong huyện có truyền thống yêu nước, kiên cường cáchmạng, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất lại có trình độ dân trí khá caolại luôn có sự đoàn kết, đồng thuận, nhất trí nên thuận lợi cho việc xây dựngnông thôn mới của huyện

Trên địa bàn huyện, chỉ thuần nhất có dân tộc Kinh và có 3 tôn giáochính là Đạo Phật, đạo Tin Lành, Đạo Thiên Chúa, tình hình an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện ổn định Do đó, đây là một điều kiệnthuận lợi cho quá trình xây dựng nông thôn mới

Những điều kiện về vị trí địa lý, tự nhiên, dân cư trên là một lợi thế củaĐan Phượng và có tác động lớn thúc đẩy sự quá trình xây dựng nông thôn mớicủa huyện

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó cũng còn tồn tại nhữngkhó khăn nhất định đó là: từ năm 2008, tình hình kinh tế xã hội thế giới cũngnhư trong nước có nhiều biến động, sự suy thoái kinh tế kéo theo hàng loạtảnh hưởng về chính trị, văn hóa, xã hội Mặc dù từ năm 2008 đến 2014, nền

Trang 19

kinh tế đang thoát dần khỏi khủng hoảng song vẫn còn tồn tại những khó khănnhất định Thực trạng đó tác động không nhỏ tới sự phát triển của huyện ĐanPhượng trong đó trực tiếp nhất là nguồn thu ngân sách gặp nhiều khó khănnên nguồn vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới còn hạn chế.

Quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp - làng nghề làm cho diệntích đất nông nghiệp của huyện dần bị thu hẹp, lao động thiếu việc làm sauthu hồi đất, đời sống của một bộ phận nhân dân khó khăn; Năng suất lao độngthấp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, giá phân bón, thuốc trừ sâu tăng dẫnđến thu nhập của nhân dân khó khăn cùng với đó là vấn đề ô nhiễm môitrường ở các làng nghề

Hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, chậm đượchướng dẫn, bổ sung, sửa đổi như chính sách đầu tư, chính sách đất đai, giảiphóng mặt bằng đã ảnh hưởng đến việc huy động nguồn vốn trong xây dựngnông thôn mới

Cơ chế chính sách cho phát triển nông nghiệp chậm đổi mới chưa cósức thu hút đầu tư của xã hội và nhà nước Một số cơ chế, chính sách, phápluật chưa đồng bộ, chậm được hướng dẫn, sửa đổi Quy hoạch phát triển nôngnghiệp chậm, thiếu ổn định, đầu tư cho nông nghiệp thấp

Đa số người dân nông thôn vẫn còn khó khăn về vốn đầu tư phát triểnnông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, chưa mạnh dạn xây dựng mô hình sảnxuất nông nghiệp quy mô lớn và phát triển mạnh các ngành phi nông nghiệp

để tạo việc làm và nguồn thu nhập

Những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội là

cơ sở quan trọng quyết định đến quá trình xây dựng nông thôn mới của huyệnĐan Phượng Những thuận lợi trên là động lực, là đòn bẩy quan trọng củahuyện trong việc xây dựng nông thôn mới

Trang 20

1.1.2 Thực trạng nông thôn huyện Đan Phượng trước năm 2008

Trước năm 2008, Đan Phượng là huyện thuần nông với cơ cấu kinh tếnông nghiệp chiếm tỷ lệ chủ yếu Từ khi công cuộc đổi mới của Đảng đượckhởi xướng, cùng với cả nước, Đan Phượng đã giành được nhiều thành tựu vềkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Năm 2007, Tổng sản phẩm GDP đạt 645 tỷ đồng trong đó nông nghiệp–thủy sản là 168 tỷ đồng, công nghiệp xây dựng là 217 tỷ đồng và dịch vụ là

260 tỷ đồng Cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng tích cực là tăng tỷ trọngcủa công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, cơ cấu nông nghiệp-thủy sản chiếm 21,4%, công nghiệp- xây dựng chiếm 39,6%, thương mại dịch

vụ chiếm 39% Bình quân thu nhập 7 610 000 đồng/người [37, tr 1]

Sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản phát triển, nếunhư năm 2006 chỉ đạt 357 tỷ đồng thì đến 2007, đã đạt giá trị 426 tỷ đồng [36,

tr 2] Việc xây dựng các cụm công nghiệp, điểm công nghiệp được triển khaiđúng tiến độ như cụm công nghiệp xã Tân Lập, Song Phượng, điểm côngnghiệp Liên Hà trong đó cụm công nghiệp Thị trấn Phùng 35 ha đã được lấpđầy diện tích với 22 nhà đầu tư Các dự án như đô thị Bình Minh, đô thị TânLập được công bố quy hoạch và bắt đầu triển khai xây dựng

1.1.2.1 Về nông nghiệp

Ngành nông nghiệp khẳng định vị trí và vai trò quan trọng trong nềnkinh tế của huyện Mặc dù còn những khó khăn do thiên tai, sâu bệnh songngành nông nghiệp đã có những bước phát triển tốt

Trồng trọt là ngành sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.Cây lương thực như lúa, ngô vẫn là cây trồng chủ yếu, ngoài ra còn có đỗ, lạc

và các loại cây rau màu và cây ăn quả như chuối, bưởi, Cây trồng được gieocấy đúng thời vụ, việc đánh bắt chuột và phòng trừ sâu bệnh được quan

Trang 21

tâm đồng thời đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ được chú trọng ở cả hai vụ nênnăng suất ngày càng tăng Năm 2006, năng suất lúa đạt 117,2 tạ/ha, năng suấtngô 46,53 tạ/ha/vụ, bình quân 1 ha canh tác đạt 35, 8 triệu đồng, đến năm

2007, năng suất lúa đạt 117,8 tạ/ha, năng suất ngô đạt 41.84 tạ/ha/vụ, bìnhquân 1 ha canh tác đạt 52 triệu đồng [36, tr 1] Dự án trồng hoa chất lượngcao, trồng cây ăn quả như cam canh, bưởi diễn được triển khai thực hiện.Sản xuất vườn ruộng, vườn trại tiếp tục phát triển trên địa bàn huyện Đồngthời, những tiến bộ khoa học kĩ thuật về giống cây, phân bón, thiết bị lao độngđược áp dụng và sản xuất

Nhìn chung, năng suất cây trồng và sản lượng lương thực bình quânđầu người trên địa bàn huyện qua các năm đều tăng nên đáp ứng đủ nhu cầulương thực của dân cư trên địa bàn huyện và một số khu vực lân cận Ngànhtrồng trọt của huyện đã có những chuyển biến theo hướng tích cực, khai tháctốt nguồn tài nguyên đất, nước và lao động

Ngành chăn nuôi của huyện đã tận dụng tốt được nguồn lực để pháttriển đó là nguồn tài nguyên đất, nguồn thức ăn dồi dào và thị trường tiêu thụrộng lớn để có những bước phát triển tốt và ngày càng chiếm tỷ trọng cao và

là ngành sản xuất chính trong nông nghiệp, năm 2006, ngành chăn nuôi đãchiếm 52% giá trị sản xuất nông nghiệp và đến năm 2007, ngành chăn nuôi đãchiếm 55,06% Năm 2006, đàn bò có 6207 con, đàn lợn 72

161 con, đàn gia cầm 194 408 con, sản lượng cá 1 031,5 tấn, năm 2007, đàn

bò có 5117 con, đàn lợn có 70 790 con[36, tr 2] Trên địa bàn huyện, nhiềutrang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm được phát triển như nuôi lợn, bò, dê, gà,vịt, ong trong đó, chăn nuôi lợn và bò là hai ngành chiến tỷ trọng lớn trongngành chăn nuôi Các dự án chăn nuôi bò, lợn quy mô lớn, xa khu dân cư bắtđầu được triển khai đồng thời diện tích sông, ao, hồ trên địa bàn huyện trướcchỉ phục vụ tưới, tiêu cho trồng trọt đã được đưa vào nuôi trồng thủy sản

Trang 22

1.1.2.2 Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, xây dựng

Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, xây dựngcủa huyện ngày càng tăng và góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội củahuyện

Trên địa bàn huyện các cụm công nghiệp đều được các doanh nghiệpthuê nên giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện tănglên, năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 357 tỷđồng[36, tr 2], năm 2007 tăng lên 426 tỷ , tăng 19,3% so với năm 2006 Cácsản phẩm công nghiệp của huyện đa dạng gồm thực phẩm, sản xuất các đồ cơkhí, may mặc và các mặt hàng tiêu dùng khác

Đan Phượng là huyện có nhiều làng nghề như làng nghề chế biến lâmsản Liên Trung; Mộc xã Liên Hà; chế biến thực phẩm giò chả xã TânHội Các làng nghề ngày càng được mở rộng về quy mô và chất lượng hànghóa tăng lên Các làng nghề đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nôngthôn, giải quyết việc làm cho lao động đồng thời đẩy nhanh tiến độ chuyểndịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Nhìn chung, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện có sự pháttriển mạnh về số lượng, chất lượng và lao động

Tiến độ xây dựng cơ bản được đẩy mạnh qua từng năm, tổng giá trị xâydựng cơ bản năm 2007 đạt 276,1 tỷ đồng, tăng 40% so với năm 2006 Trongxây dựng, chú trọng phát triển các tuyến đường giao thông đặc biệt các tuyếnđường nối huyện với các quận nội thành và giữa các khu, điểm công nghiệpvới nhau như đường Hoàng Quốc Việt kéo dài, đường Tân Hội-Hạ Mỗ, đườngĐan Phượng- Hạ Mỗ, đường Thị trấn Phùng – Tân Hội

Chính sự phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

đã thúc đẩy dịch vụ phát triển mạnh mẽ Huyện ủy chỉ đạo UBND

Trang 23

huyện ban hành các chương trình hành động về một số chủ trương, giải pháp

để kinh tế của huyện phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viêncủa WTO Hệ thống chợ trên địa bàn huyện được quy hoạch Các hợp tác xãtrên địa bàn huyện chuyển hướng sang kinh doanh dịch vụ cho hộ nông dân

Hệ thống chợ trên địa bàn huyện có vai trò quan trọng đối với sự phát triểnnền kinh tế hàng hoá, kích thích trao đổi hàng hoá giữa các xã, thị trấn vàtrong nội bộ nhân dân trên địa bàn huyện

1.1.2.3.Về văn hóa- xã hội

Song song với phát triển kinh tế, vấn đề văn hóa xã hội luôn được quantâm phát triển Các giá trị văn hóa truyền thống được phát huy bên cạnh việctiếp cận các yếu tố văn hóa mới, đời sống tinh thần của nhân dân ngày càng

đa dạng, phong phú Các hủ tục lạc hậu dần dần được xóa bỏ Tình đoàn kết,gắn bó xóm làng ngày càng khăng khít Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thểdục thể thao được tổ chức

Phát huy tốt truyền thống hiếu học của quê hương đồng thời ngành giáodục thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, trong những năm qua, chấtlượng giáo dục trên địa bàn huyện luôn được nâng cao Xác định giáo dục vàđào tạo là một trong những mục tiêu trọng điểm của vấn đề văn hóa xã hộinên Huyện ủy luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng, cơ sở vật chất củagiáo dục và đội ngũ giáo viên Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường họcđược chú trọng Đến năm 2007, toàn huyện có 23 trường đạt danh hiệu trườngchẩn quốc gia[37, tr 5] Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, số họcsinh khá giỏi, học sinh thi đỗ đại học hàng năm chiếm tỷ lệ cao

Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em trên địa bàn huyện được thựchiện có hiệu quả Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được quantâm Cơ sở vật chất cho ngành y tế được xây dựng và có nhiều tiến bộ, chất

Trang 24

lượng khám chữa bệnh cho nhân dân được nâng lên Trạm y tế của 16/16 xã,thị trấn có bác sĩ, được xây dựng khang trang và trang thiết bị khám chữabệnh được tăng cường Sức khỏe trẻ em luôn được chú trọng, tỷ lệ trẻ suydinh dưỡng giảm qua từng năm Trình độ, chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ

ở bệnh viện đa khoa huyện, trạm y tế được nâng lên

Việc thực hiện các chính sách đối với thương binh, gia định liệt sĩ,người có công với cách mạng và các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bànhuyện được thực hiện tốt Hàng năm đều tổ chức thăm hỏi các đối tượngchính sách, người có công nhân dịp Tết, ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 Quỹ

"Đền ơn đáp nghĩa" được xây dựng và duy trì qua các năm với sự đóng gópcủa các tổ chức và nhân dân Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm đặcbiệt là sau thu hồi đất được quan tâm

1.1.2.4 Công tác nội chính

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định, đảm bảo antoàn cho các sự kiện, ngày kỷ niệm lớn của đất nước, tỉnh Hà Tây cũ và thànhphố cũng như của huyện Công tác quân sự- quốc phòng được thực hiện tốt

Năm 2006, Huyện ủy đã ban hành Chỉ thị về đẩy mạnh cuộc vận động

"Xây dựng lực lượng Công an vì nước quên thân, vì dân phục vụ" và Nghịquyết về nhiệm vụ an ninh quân sự địa phương 5 năm 2006 – 2010 Lựclượng công an huyện đã có nhiều cố gắng trong phát hiện và giải quyết cácmâu thuẫn nội bộ trong nhân dân Tổ chức nhiều đợt tấn công mạnh mẽ cácloại tội phạm nhờ đó tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bảnđảm bảo

Nhiệm vụ quân sự địa phương luôn hoàn thành, đảm bảo sẵn sàng chiếnđấu Chỉ đạo hoàn thành tốt hội thi, hội thao, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡngkiến thức quốc phòng an ninh cho các đối tượng theo quy định Hàng

Trang 25

năm, huyện hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân.

Công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được cấp ủyĐảng, chính quyền coi trọng với phương châm giải quyết kịp thời, hiệu quả,hướng dẫn nhân dân tận tình Huyện có trụ sở tiếp dân và phân công lãnh đạochủ chốt của huyện trực tiếp dân

1.1.2.5 Công tác chính quyền và đoàn thể chính trị xã hội

Hội đồng nhân dân huyện, xã, thị trấn đã thực hiện có chất lượng cáchoạt động theo quy định, đổi mới việc tiếp xúc cử tri tại các kỳ họp việc chấtvấn và trả lời chất vấn được phát huy; ban hành các nghị quyết về phát triểnkinh tế - xã hội sát tình hình ở địa phương Hoạt động giám sát của Thườngtrực HĐND, các ban HĐND có hiệu quả thiết thực góp phần nâng cao hiệulực quyết định của HĐND

UBND các cấp đẩy mạnh cải cách hành chính; tích cực chỉ đạo thựchiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; giải phóng mặt bằng các cụm,điểm công nghiệp, phát triển giao thông, xây dựng khu tái định cư, xử lý các

vi phạm; tăng cường chỉ đạo thu ngân sách, huy động và khai thác nguồn thu

để xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương

Các cấp ủy đã chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể bám sát nhiệm

vụ chính trị tập trung công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên vànhân dân hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh” Tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước lập thànhtích kỷ niệm các ngày lễ lớn

1.1.2.6 Công tác xây dựng Đảng

Công tác xây dựng đảng được cấp ủy quan tâm chỉ đạo Việc tuyêntruyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhândân được chú trọng Các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng được quán triệt trongcán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để đi vào cuộc sống Thực hiện

Trang 26

tốt công tác phát triển đảng và chế độ, chính sách đối với đảng viên Công táckiểm tra được chỉ đạo sát sao để phát hiện kịp thời và khắc phục các cơ sởđảng yếu kém và đảng bộ, chi bộ có mặt yếu kém Để huy động được sức dân,vận động nhân dân tham gia phát triển kinh tế xã hôi, bảo vệ an ninh chính trịđịa phương, các khối dân vận thực hiện tốt nhiệm vụ và phát huy vai trò củamình ở các đơn vị.

Mặc dù kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện trước năm 2008 phát triểntốt song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn

Cơ cấu kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp sangcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại-dịch vụ song còn chậm Tăngtrưởng kinh tế chưa đồng đều, thiếu vững chắc, chất lượng và hiệu quả sảnxuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa cao, sức cạnh tranh yếu Mặtbằng cho phát triển làng nghề, hạ tầng giao thông… còn thiếu đặc biệt đườnggiao thông nông thôn còn yếu đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn Mặttrái của các làng nghề cũng còn nhiều, nhất là tình trạng gây ô nhiễm môitrường: nước thải, chất thải do các làng nghề tạo ra tại các xã gây

ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi vàsức khỏe người dân Công tác quy hoạch xây dựng các dự án cụm, điểm côngnghiệp, làng nghề triển khai chậm Công tác giải phóng mặt bằng còn gặpnhiều khó khăn Trong nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy môcòn nhỉ, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm Việc quy hoạch,lập quy hoạch và triển khai các dự án trong nông nghiệp còn lúng túng Thuhút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp còn ít Việc chỉ đạo công tác dồnđiền đổi thửa gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi ở

một số xã chưa tập trung Hoạt động của HTX nông nghiệp chậm đổi mới, hiệu quả thấp

Trang 27

Trình độ chuyên môn của lao động đã được nâng lên một bước nhưngcòn rất chậm so với yêu cầu sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường.Điều này dẫn đến khả năng chuyển đổi ngành nghề từ khu vực nông nghiệpsang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ còn chậm Lao động dư thừanhiều nhưng còn ít lao động chuyển đổi sang công nghiệp và dịch vụ.

Cơ sở hạ tầng thương mại dịch vụ phát triển chưa đồng bộ, việc xâydựng quy hoạch mạng lưới chợ, bến xe tĩnh, bãi để nguyên vật liệu chưa đượcquan tâm chỉ đạo

Cơ sở vật chất cho y tế đặc biệt là trạm y tế ở các xã, thị trấn còn hạnchế, đội ngũ bác sĩ, y tá thiếu về số lượng, trình độ chưa cao, chưa đáp ứngđược nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên còncao, năm 2007 là 14,63%, tăng 0,26% so với năm 2006

Đời sống văn hóa của nhân dân còn nghèo nàn, nhiều hủ tục cũ vẫnđược duy trì trong đời sống nhân dân như tục lăn đường trong đám tang hay tổchức đám cưới linh đình Có những giá trị văn hóa bị xói mòn do chịu sự tácđộng xấu của cơ chế thị trường

Các trường học còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, chất lượng giáo dụcđào tạo chưa cao, trên địa bàn huyện Tính đến năm 2007, cả huyện có 23trường được công nhận là trường chuẩn quốc gia Cơ sở vật chất cho nhànhhọc mầm non của nhiều xã còn yếu, chưa thực sự được quan tâm

Vấn đề môi trường chưa thực sự được quan tâm Hệ thống thoát nướcchưa tốt, rác thải chưa được thu gom và xử lý đúng quy trình gây ô nhiễm,ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân

Tiến độ giải quyết một số vụ việc khiếu nại, tố cáo còn chậm, tỷ lệ giảiquyết chưa cao Một số cơ sở còn đùn đẩy, né tránh, ngại đối thoại với dân,trách nhiệm chưa cao, có việc còn để kéo dài phức tạp, việc thực hiện cácquyết định kết luận đã có hiệu lực pháp luật còn chưa kịp thời Phong

Trang 28

trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc một số nơi bị lắng xuống, một số loạitội phạm hoạt động ngày càng trắng trợn, tinh vi, xảo quyệt hơn, tình hìnhnông thôn có nơi còn tiềm ẩn mất ổn định.

Mặc dù công tác xây dựng đảng được quan tâm song việc khắc phục cơ

sở đảng yếu kém còn chậm Chất lượng tuyên truyền, quán triệt chủ trương,chính sách, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng có lúc, có nơi còn chưa sâu, chưahiệu quả Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhìn chung chưa tốt nênchưa phát huy được tính sáng tạo, trí tuệ của nhân dân, có nơi còn thiếu tôntrọng nhân dân Ý thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao Một sốviệc, do nắm tình hình, dư luận trong nhân dân chậm nên khi phát hiện giảiquyết không dứt điểm Đội ngũ cán bộ còn bất cập, một số còn thiếu tráchnhiệm và năng lực chuyên môn yếu

Chất lượng hoạt động của một số đại biểu HĐND yếu; công tác tiếpxúc cử tri một số xã chưa thiết thực, chưa phản ánh kịp thời những vấn đề bứcxúc của nhân dân; hoạt động giám sát của HĐND một số xã còn hạn chế chưaphục vụ tốt nhiệm vụ chính trị địa phương Một số phòng, ban của huyện vàUBND xã hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả, ý thức cụ thể hóa và chấp hành

sự chỉ đạo của cấp trên chưa nghiêm Việc cải cách lề lối làm việc, cải cáchhành chính theo cơ chế một cửa ở một số xã yếu Công tác quản lý điều hànhcủa UBND một số xã còn lúng túng nhất là khâu lập và thực hiện dự án pháttriển kinh tế - xã hội; có xã còn buông lỏng công tác quản lý Nhà nước về đấtđai; chậm giải quyết các vụ việc tồn đọng gây bức xúc trong nhân dân

Nội dung phong trào hoạt động của một số đoàn thể chưa sát thực tiễn,còn hành chính hóa Hoạt động của chi hội, chi đoàn ở một số thôn, cụm dân

cư chưa thiết thực, chưa thu hút được nhiều hội viên tham gia, tham gia vậnđộng nhân dân chấp hành giải phóng mặt bằng còn nhiều hạn chế Việc nhânrộng các mô hình, điển hình tiên tiến còn chậm

Trang 29

1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Thành phố

Hà Nội về xây dựng Nông thôn mới

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

X, ngày 05/08/2008, về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nêu rõ quan điểm

về vấn đề xây dựng nông thôn mới, đó là: "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn

có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xãhội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữgìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đấtnước" [69, tr 100] Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã đánh giá cao vị trí và vaitrò quan trọng của nông nghiệp, nông thôn, nông dân đối với đất nước

Từ việc xác định đúng vị trí và vai trò của nông nghiệp, nông thôn,nông dân, Đảng chủ trương: "Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thônphải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân vànông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thônmới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theoquy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là thenchốt" [69, tr 100] Như vậy, người nông dân là chủ thể của quá trình xây dựngnông thôn mới, họ vừa là người thực hiện và là đối tượng thụ hưởng thànhquả

"Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng

Trang 30

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai,rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc

tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huycao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụngnhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nôngthôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân"[69, tr101] Đểxây dựng nông thôn mới cần huy động tất cả những nguồn lực về tự nhiên,kinh tế, xã hội, nguồn lực bên trong và bên ngoài và có sự phối kết hợp giữacác nguồn lực ấy trong đó chú trọng nguồn lực "chất xám" trong sản xuất

“Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của

cả hệ thống chính trị và toàn xã hội [69, tr 101] Vấn đề xây dựng nông thônmới không phải của riêng một cấp, một ngành nào mà của toàn xã hội vàmuốn làm tốt công cuộc này cần phải "khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tựlực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoàthuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạođộng lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đờisống nông dân"[69, tr 101] Đây vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ của việcxây dựng nông thôn mới

Nghị quyết đề ra mục tiêu, nhiệm vụ hết sức quan trọng là: "Khôngngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoàgiữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn;nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiếntrong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bềnvững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năngcạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt

và lâu dài Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện

Trang 31

đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệpvới phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nôngthôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trườngsinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo củaĐảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh côngnhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chínhtrị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [69, tr101]

Từ mục tiêu chung đó, Đảng đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2020 "tốc độtăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5 - 4%/năm; sử dựng đất nông nghiệp tiếtkiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững chắc an ninh lương thựcquốc gia trước mắt và lâu dài Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển côngnghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng caothu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay" [69, tr 102].Cùng với phát triển kinh tế, các vấn đề xã hội cũng được đảm bảo " Lao độngnông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn qua đàotạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%" [69, tr 102]

Để phát triển kinh tế, xã hội vùng nông thôn, việc xây dựng kết cấu hạ tầng đượcchú trọng, Đảng xác định: "Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hộinông thôn, trước hết là hệ thống thuỷ lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộdiện tích đất lúa 2 vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp, cấpthoát nước chủ động cho diện tích nuôi trồng thủy sản, làm muối; đảm bảo giaothông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn,bản; xây dựng cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và hạ tầng nghề cá; cấp điện sinhhoạt cho hầu hết dân cư, các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; đảm bảo

cơ bản điều kiện học tập chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá, thể dục thể thao ở hầu hếtcác vùng nông thôn tiến gần tới mức các đô thị trung bình" [69, tr 102] Nângcao chất lượng cuộc sống của

Trang 32

dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xoá đói, giảmnghèo; nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân, tạođiều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" [69, tr 102] Việc phát triển kinh tế xãhội ở vùng nông thôn cần song song với việc "Nâng cao năng lực phòng chống,giảm nhẹ thiên tai, hoàn chỉnh hệ thống đê sông, đê biển và rừng phòng hộ venbiển, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, cụm dân cư đáp ứng yêu cầuphòng chống bão, lũ, ngăn mặn và chống nước biển dâng; tạo điều kiện sống antoàn cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và các vùng thườngxuyên bị bão, lũ, thiên tai; chủ động triển khai một bước các biện pháp thích ứng

và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu Ngăn chặn, xử lý tình trạng

ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường nông thôn" [69, tr 102] Đây chính là những mục tiêu phục vụ cho phát triển bền vững

Nghị quyết cũng đưa ra con đường xây dựng nông thôn nước ta đếnnăm 2010 đó là: "Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh

tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triểnnông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, nhất là ởcác vùng còn nhiều khó khăn; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao khoahọc - công nghệ tiên tiến, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực; tăng cườngcông tác xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt ở các huyện còn trên 50% hộ nghèo,tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, giữ vững ổn định chính trị - xãhội ở nông thôn Triển khai một bước chương trình xây dựng nông thôn mới.Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản 3 - 3,5%/năm Tốc độ tăng trưởngcông nghiệp và dịch vụ ở nông thôn không thấp hơn mức bình quân của cảnước Lao động nông nghiệp còn dưới 50% lao động xã hội Giảm tỉ lệ hộnghèo theo chuẩn mới, cơ bản không còn hộ dân ở nhà tạm, tăng tỉ lệ che phủrừng và tỉ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch"[69, tr 103]

Trang 33

Nghị quyết 26/NQTW đã nêu một cách tổng quát về mục tiêu, nhiệm

vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng nông thôn mới tronggiai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước.Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệmlịch sử về phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra sứcmạnh tổng hợp xây dựng nông thôn mới Tại hội nghị trực tuyến với các tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương nhằm sơ kết thực hiện Nghị quyết Hội nghịlần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân vànông thôn các đại biểu thống nhất cho rằng Nghị quyết 26 mang tính toàndiện và đầy đủ nhất để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thônnước ta từ trước đến nay

Để Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, Chính phủ đã kịp thời triển

khai Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 về chương trình hành

động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 7 (khóa X); Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày

16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về

xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 và Quyết định số

695/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương

trình XDNTM; Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 498/QĐ-

TTg ngày 21/3/2013 bổ sung cơ chế đầu tư Chương trình mục tiêu Quốc gia

về xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chươngtrình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả cáclĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng Mục tiêuchung của chương trình được Đảng ta xác định là: xây dựng nông thôn mới có

Trang 34

kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hìnhthức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh côngnghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hộinông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinhthái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thầncủa người dân ngày càng được nâng cao.

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hà Nội

Thành phố Hà Nội là thủ đô của cả nước với vai trò trung tâm kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước Sau khi Nghị quyết số 26 được banhành, Thành ủy Hà Nội đã khẩn trương triển khai thực hiện các Nghị quyết vàQuyết định của Chính phủ về chương trình xây dựng nông thôn mới với cáchlàm thận trọng, thực hiện theo lộ trình phù hợp với đều kiện thực tế của địaphương Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chương trình hành động số 02/CTr-

TU ngày 31/10/2008 của Thành ủy Hà Nội (khóa XIV) về nông nghiệp, nông

dân, nông thôn Nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết

Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XV (nhiệm kỳ 2010-2015) Banchấp hành Đảng bộ xây dựng Chương trình số 02-CTr/TU ngày 29/8/2011 về

Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2011-2015 Đây là một trong chín chương trình quan

trọng của Thành ủy Hà Nội khóa XV.

Thành phố Hà Nội xác định vị trí, vai trò quan trọng của khu vực nôngthôn đó là "Nông thôn thành phố Hà Nội với diện tích đất sản xuất nông, lâmnghiệp trên 192 ha, dân số trên 4 triệu người, chiếm trên 60% lực lượng lao độngcủa toàn Thành phố, là nơi cung cấp nguồn nhân lực xây dựng Thủ đô, đất đaicho phát triển, xây dựng hạ tầng và đô thị, cung cấp lương thực, thực phẩm, gópphần quan trọng bảo đảm an ninh, quốc phòng cho Thành phố nên có vị trí, vaitrò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển Thủ đô"

Trang 35

[68, tr 1] do đó, quan tâm tới khu vực nông thôn là cần thiết "để sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa, giá trị, hiệu quả kinh tế cao; xây dựng nông thôn mới phát triển theo quy hoạch, cơ sở hạ tầng được từng bước đầu tư đồng bộ, hiện đại đảm bảo môi trường sinh thái, đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân nông thôn không ngừng được nâng cao" [68, tr1].

Trong chương trình, Hà Nội đã đánh giá những kết quả đạt được vànhững khuyết điểm, hạn chế tồn tại và nguyên nhân Từ đó đề ra mục tiêu là

"Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa tập trung, cónăng suất, chất lượng, hiệu quả cao gắn với bảo vệ môi trường sinh thái" [68,

tr 4] Như vậy nền nông nghiệp hiện đại phải gắn với bảo vệ môi trường, đây

là yêu cầu của phát triển bền vững

Nông thôn cần được xây dựng và phát triển toàn diện về mọi mặt theoquy hoạch và "có cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa dântộc, môi trường sinh thái, cảnh quan sạch đẹp, gắn kết hợp lý giữa phát triểnnông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị"[68, tr 4] Phát triển kinh tế,

xã hội để "Từng bước nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nôngdân Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến để pháttriển sản xuất, xây dựng cuộc sống văn minh, hạnh phúc; chú trọng giải quyếtviệc làm, giảm dần khoảng cách thu nhập, hưởng thụ văn hóa giữa nông thôn

và thành thị" [68, tr 4] Đồng thời "củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của

hệ thống chính trị, giữ vững an ninh chính trị và bảo đảm trật tự an toàn xã hội

ở khu vực nông thôn"[68, tr 4]

Về mục tiêu cụ thể là: "Phấn đấu đến năm 2015, có trên 40% số xã trênđịa bàn Thành phố đạt chuẩn nông thôn mới Hoàn thành quy hoạch các xãxây dựng nông thôn mới trong năm 2012 Tỷ lệ đường giao thông nông thônđược bê tông hóa đạt 87%, trạm y tế được kiên cố hóa đạt khoảng 98%, xã đạtchuẩn quốc gia về y tế 100% Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia từ 50% -

Trang 36

55% Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 100%, trong đó,

tỷ lệ được dùng nước sạch đạt 60% Tỷ lệ thôn, xóm, cụm dân cư đạt tiêuchuẩn làng văn hóa 68%; tỷ lệ thôn, xóm, cụm dân cư có nhà văn hóa – thểthao đạt 92% Có 100% số cơ sở giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xãhội và hoàn thành các chi tiêu về an ninh, quốc phòng"[68, tr 4-5]

Như vậy, mục tiêu cơ bản, trọng tâm của Chương trình số 02-CTr/TU là:

Một là: Thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, tổ chức phát triển sản

xuất (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông-lâm-ngư nghiệp) tạo ra nhiềuloại sản phẩm hàng hoá có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao;

Hai là: Không ngừng nâng cao thu nhập người dân nông thôn; giải

quyết tốt vấn đề cơ cấu lao động trong nông thôn, giải quyết việc làm chongười lao động;

Ba là: Từng bước đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa nông thôn về cơ sở hạ

tầng kinh tế xã hội; xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, phục vụ đờisống văn hóa, tinh thần của nhân dân; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội và an sinh, xã hội… góp phần thay đổi diện mạo, đưa nông thôntiến kịp với thành thị;

Bốn là: Xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư, văn hóa “làng xã” văn

minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc dân tộc; giáo dục truyền thống cách mạng, xâydựng con người mới nông thôn theo định hướng XHCN…

Quán triệt triển khai tinh thần nội dung Nghị quyết của Đảng, Thành ủy

Hà Nội đã thành lập Ban chỉ đạo “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thônmới, từng bước nâng cao đời sống nông dân”, trong đó trọng tâm là “Xâydựng nông thôn mới”; giúp việc Ban chỉ đạo Thành phố có Tổ công tác thànhviên là cán bộ các sở, ngành có liên quan Đối với cấp huyện và xã đều thànhlập Ban chỉ đạo, tổ công tác cấp huyện và xã để tổ chức triển khai thực hiệnChương trình theo kế hoạch đề ra

Trang 37

Để có kinh nghiệm triển khai thực hiện Chương trình, Thành phố HàNội chỉ đạo thực hiện thí điểm tại 19 xã: Xã Thụy Hương (Chương Mỹ) là xãđiểm của Trung ương, đề án được Thành phố phê duyệt thực hiện từ cuối năm

2009, kế hoạch hoàn thành năm 2012 Các xã điểm của Thành phố là xã ĐạiÁng (Thanh Trì), Song Phượng (Đan Phượng), Mai Đình (Sóc Sơn); Thànhphố phê duyệt đề án của xã năm 2010, dự kiến hoàn thành năm 2013 và 15 xãđiểm của các huyện, thị xã là Cổ Đô (Ba Vì), Võng Xuyên (Phúc Thọ), ĐạiĐồng (Thạch Thất), Nghĩa Hương (Quốc Oai), Yên Sở (Hoài Đức), Tây Tựu(Từ Liêm), Phùng Xá (Mỹ Đức), Đồng Tân (Ứng Hòa), Hồng Dương (ThanhOai), Đại Thắng (Phú Xuyên), Nhị Khê (Thường Tín), Đa Tốn (Gia Lâm),Xuân Nộn (Đông Anh), Liên Mạc (Mê Linh) và Sơn Đông (thị xã Sơn Tây);

dự kiến hoàn thành năm 2013 Số còn lại 382 xã Ban chỉ đạo Thành phố chỉđạo triển khai lập đề án từ năm 2011; các huyện, thị xã đăng ký số lượng vàtên xã phân kỳ giai đoạn thực hiện theo Nghị quyết số 03/NQ-HĐND ngày21/4/2010 của Hội đồng nhân dân Thành phố

Có thể nói, Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) ban hành Nghị quyết số

26-NQ/TW về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình 02 của

Thành ủy là chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Thành phố tronglĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tạo niềm tin trong các tầng lớp nhân dân, làmthay đổi bộ mặt của vùng nông thôn

Tiểu kết

Trước khi bắt tay vào thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới,huyện Đan Phượng đã có nhiều thuận lợi đó là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạokịp thời, sáng tạo, hiệu quả của Đảng, Nhà nước và Thành phố Hà Nội Bêncạnh đó, huyện đã đạt nhiều thành tựu trên các lĩnh vực Kinh tế của huyệntăng trưởng khá, ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ đó làtăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiêp, giá trị và chất

Trang 38

lượng sản phẩm tăng lên Quy mô sản xuất được mở rộng Cở sở hạ tầng đượcxây dựng và sửa chữa ngày càng hiện đại, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu của sựphát triển Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và tiến

bộ rõ rệt Các vấn đề an sinh xã hội được chăm lo giải quyết, an ninh chính trị

ổn định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo Trước khu xây dựng nông thôn mới,toàn huyện Đan Phượng đạt bình quân 10 tiêu chí/xã

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản trên, Đan Phượng còn gặp không ítnhững khó khăn đó là quy mô sản xuất còn nhỏ bé, chưa chú trọng đến yếu tốthị trường trong sản xuất, việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất cònhạn chế nên năng suất, chất lượng sản phẩm chưa cao Lực lượng lao động cótrình độ chuyên môn cao còn ít

Những thuận lợi là cơ bản và là nguồn lực quan trong để đảng bộ huyệnĐan Phượng lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục khó khăn, tiến hành xây dựng nôngthôn mới

Trang 39

CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƯỢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014

2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Đan Phượng về xây dựng nông thôn mới

2.1.1 Bối cảnh lịch sử

Năm 2008, sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đấtnước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn mang ý nghĩa sâu sắc Từ một nềnkinh tế tập trung, quan liêu bao cấp dần chuyển sang nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu ngành nghề đa dạng, công nghiệp, dịch

vụ có sự phát triển vượt bậc, khoa học kỹ thuật được ứng dụng vào sản xuấtnên năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng lên Nông nghiệp, nông dân,nông thôn ngày càng được quan tâm, ngành nông nghiệp đã đạt những thànhtựu quan trọng nhờ đó, đời sống nhân dân được cải thiện, an ninh lương thựcquốc gia đảm bảo Từ một nước thiếu ăn, nhập khẩu lương thực, nước ta đãvươn lên trở thành một trong những quốc gia đứng đầu về xuất khẩu lươngthực Cùng với sự phát triển của kinh tế, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ởnông thôn được tăng cường, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc Đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện Các vấn đề an sinh xã hộiđược quan tâm chăm lo Nhân dân đồng thuận, đoàn kết thực hiện tốt chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhờ dân chủ

ở cơ sở được phát huy Hệ thống chính trị các cấp đặc biệt cấp cơ sở đượccủng cố, tăng cường, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đượcnâng cao đáp ứng yêu cầu công việc An ninh chính trị được giữ vững, trật tự

an toàn xã hội đảm bảo Nông thôn ngày càng phát triển và thu hẹp dầnkhoảng cách với khu vực thành thị Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn nhữnghạn chế nhất định đó là nền kinh tế sau một thời gian dài phát triển đangchững lại do sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Trong

Trang 40

nước, sự phát triển giữa các ngành không đều và chưa ổn định Tiến bộ khoahọc kỹ thuật chưa được ứng dụng hiệu quả và trong nông nghiệp nên năngsuất, chất lượng còn thấp, sức cạnh tranh trên thị trường kém Nền sản xuấttrong nông nghiệp quy mô nhỏ bé, chủ yếu là phân tán theo hộ gia đình vàphụ thuộc nhiều điều kiện tự nhiên, khí hậu Nông nghiệp phát triển thiếu quyhoạch dẫn đến ồ ạt, nuôi trồng theo phong trào và "được mùa rớt giá" Đờisống vật chất và tinh thần nhân dân còn thấp Chênh lệch giàu nghèo mặc dù

đã được thu hẹp song vẫn ở mức cao Hoạt động cấp ủy đảng, chính quyền,mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp cơ sở ở nhiều nơi còn hạn chế Có lúc,

có nơi, dân chủ chưa được phát huy nên chưa huy động được tối đa sức mạnhvật chất và trí tuệ của nhân dân

Năm 2008, Theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội về điều

chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh, có hiệu lực từ ngày

1-8-2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộchuyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình được sáp nhập về Hà Nội Từ diện tích gần1.000 km² và dân số khoảng 3,4 triệu người, Hà Nội sau khi mở rộng có diệntích 3.324,92 km² và dân số 6.232.940 người với 30 đơn vị hành chính cấphuyện (bao gồm 12 quận, 17 huyện, 1 thị xã) Theo đó, Đan Phượng cũng làmột huyện của tỉnh Hà Tây sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội Đây là thời cơ đểhuyện phát triển song cũng đặt ra không ít những thách thức Đan Phượng sẽthu hút được nguồn vốn đầu tư lớn và tận dụng được lợi thế của thủ đô đểphát triển cũng như xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đó, cũng còn nhữngkhó khăn đó là sức cạnh tranh gay gắt, quá trình đô thị hóa sẽ dẫn đến nhữngvấn đề xã hội như thu hồi đất nông nghiệp, lao động việc làm, tệ nạn xã hội

Những yếu tố trên có tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng nôngthôn mới của huyện và nó đặt ra yêu cầu cần phải tận dụng thời cơ, vượt quakhó khăn thách thức để tiến hành sự nghiệp xây dựng nông thôn mới

Ngày đăng: 27/10/2020, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đan Phượng (2013), Kết luận số 71- KL/HU ngày 08/3/2013 về việc tập trung đẩy mạnh xây dựng huyện nông thôn mới năm 2013. Lưu trữ văn phòng Huyện ủy Đan Phượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 71-KL/HU ngày 08/3/2013 về việc tập trung đẩy mạnh xây dựng huyện nôngthôn mới năm 2013
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đan Phượng
Năm: 2013
2. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đan Phượng (2013), Kết luận số 72- KL/HU ngày 09/4/2013 về tập trung đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội đối với các xã trọng điểm phục vụ xây dựng huyện nông thôn mới, Lưu trữ văn phòng Huyện ủy Đan Phượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 72-KL/HU ngày 09/4/2013 về tập trung đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội đối vớicác xã trọng điểm phục vụ xây dựng huyện nông thôn mới
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đan Phượng
Năm: 2013
3. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đan Phượng (2014), Kết luận số 96- KL/HU ngày 08/4/2014 về chủ trương kêu gọi đầu tư thực hiện xã hội hóa xây dựng nhà máy cung cấp nước sạch cho nhân dân trên địa bàn huyện Đan Phượng đến năm 2015, Lưu trữ văn phòng Huyện ủy Đan Phượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 96-KL/HU ngày 08/4/2014 về chủ trương kêu gọi đầu tư thực hiện xã hội hóaxây dựng nhà máy cung cấp nước sạch cho nhân dân trên địa bàn huyện ĐanPhượng đến năm 2015
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đan Phượng
Năm: 2014
5. Ban chỉ đạo sơ kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa X) và Chương trình số 02 của Thành ủy về về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (2013), Báo cáo số 04-BC/BCĐ, ngày 17/07/2013, Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) và Chương trình hành động số2 của Thành ủy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên địa bàn huyện Đan Phượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 04-BC/BCĐ, ngày 17/07/2013, Báo cáo sơ kết 05 nămthực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) và Chương trình hành động số"2
Tác giả: Ban chỉ đạo sơ kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa X) và Chương trình số 02 của Thành ủy về về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Năm: 2013
8. Ban Chỉ đạo Chương trình Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân, Kế hoạch số 07-KH/BCĐ ngày 26/5/2014” về xây dựng huyện nông thôn mới năm 2014, Lưu trữ văn phòng Huyện ủy Đan Phượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 07-KH/BCĐ ngày26/5/2014” về xây dựng huyện nông thôn mới năm 2014
10. Ban Kinh tế Trung ương (1994), Chuyển dịch CCKTNN, nông thôn, Đề tài Nghiên cứu khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch CCKTNN, nông thôn
Tác giả: Ban Kinh tế Trung ương
Năm: 1994
13. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ NN&PTNT (2002), Con đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Conđường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ NN&PTNT
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14. Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau haimươi năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
15. Trần Thị Minh Châu (chủ biên) (2007), Về chính sách đất nông nghiệpở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách đất nông nghiệp"ở "nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Thị Minh Châu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
20. Lê Thanh Dung (2014) ,Những dấu ấn trong đầu tư phát triển Tam nông, Tạp chí Tài chính, số ngày 07/05/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dấu ấn trong đầu tư phát triển Tam nông
21. Đỗ Thuỳ Dung (2013), Luận văn Thạc sĩ lịch sử: Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo xây dựng Nông thôn mới từ năm 2001 đến năm 2012, ĐH KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ huyện SócSơn lãnh đạo xây dựng Nông thôn mới từ năm 2001 đến năm 2012
Tác giả: Đỗ Thuỳ Dung
Năm: 2013
22. Phạm Anh Đào (2013), Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị: Đảng bộ Bắc Giang lãnh đạo nhân dân xây dựng nông thôn mới, ĐH KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộBắc Giang lãnh đạo nhân dân xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Phạm Anh Đào
Năm: 2013
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 2006
29. Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng (2009), Nghị quyết số 133/2009/NQ-HĐND, ngày 22/12/2009 về việc tăng cường chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới đến năm 2020 trên địa bàn huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Lưu trữ văn phòng HĐND, UBND huyện Đan Phượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số133/2009/NQ-HĐND, ngày 22/12/2009 về việc tăng cường chỉ đạo xây dựngmô hình nông thôn mới đến năm 2020 trên địa bàn huyện Đan Phượng,Thành phố Hà Nội
Tác giả: Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng
Năm: 2009
30. Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng (2012), Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐND ngày 28/6/2012 về thông qua đề án xây dựng nông thôn mới huyện Đan Phượng giai đoạn 2012 – 2020, Lưu trữ văn phòng HĐND, UBND huyện Đan Phượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết04/2012/NQ-HĐND ngày 28/6/2012 về thông qua đề án xây dựng nông thônmới huyện Đan Phượng giai đoạn 2012 – 2020
Tác giả: Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng
Năm: 2012
31. Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng (2013), Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐND ngày 13/3/2013 về nhiệm vụ trọng tâm xây dựng huyện nông thôn mới 2013, Lưu trữ văn phòng HĐND, UBND huyện Đan Phượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết01/2013/NQ-HĐND ngày 13/3/2013 về nhiệm vụ trọng tâm xây dựng huyệnnông thôn mới 2013
Tác giả: Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng
Năm: 2013
32. Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng (2014), Nghị quyết số 02/2014/NQ-HĐND ngày 27/6/2014 về chính sách hỗ trợ thực hiện xã hội hóa đầu tư xây dựng nhà máy cung cấp nước sạch cho nhân dân trên địa bàn huyện đến năm 2015, Lưu trữ văn phòng HĐND, UBND huyện Đan Phượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số02/2014/NQ-HĐND ngày 27/6/2014 về chính sách hỗ trợ thực hiện xã hộihóa đầu tư xây dựng nhà máy cung cấp nước sạch cho nhân dân trên địa bànhuyện đến năm 2015
Tác giả: Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w