Dẫn chiếu từ những lý thuyết quan hệ quốc tếsẵn có, cụ thể ở đây là chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế, người viết cốgắng lý giải nguyên nhân CHDCND Triều Tiên phát triển vũ khí h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ HUYỀN TRANG
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN HẠT NHÂN CỦA CHDCND TRIỀU TIÊN DƯỚI GÓC NHÌN
CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
VŨ THỊ HUYỀN TRANG
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN HẠT NHÂN CỦA CHDCND TRIỀU TIÊN DƯỚI GÓC NHÌN
CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Khắc Nam
Hà Nội - 2016
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Giả thuyết nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Nguồn tài liệu 9
6 Mục tiêu nghiên cứu 9
7 Cấu trúc luận văn 11
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ CHƯƠNG TRÌNH HẠT NHÂN CỦA CHDCND TRIỀU TIÊN 13
1.1 Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hiện thực 13
1.1.1 Chủ nghĩa hiện thực cổ điển 16
1.1.2 Chủ nghĩa hiện thực mới 16
1.2 Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực 17
1.2.1 Quan điểm quyền lực trong quan hệ quốc tế 20
1.2.2 An ninh và xung đột trong quan hệ quốc tế 23
1.3 Khái quát vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên 25
1.3.1 Quá trình phát triển 25
1.3.2 Quy mô 31
1.4 Tiểu kết 36
CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN CHDCND TRIỀU TIÊN PHÁT TRIỂN HẠT NHÂN DƯỚI GÓC ĐỘ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC 38
2.1 Cấp độ cá nhân 38
2.1.1 Kim Jong Il 39
2.1.2 Kim Jong Un 42
2.2 Cấp độ quốc gia 44
2.2.1 Lợi ích an ninh quốc gia 44
Trang 42.2.2 Lợi ích chính trị 47
2.2.3 Lợi ích kinh tế 51
2.3 Cấp độ liên quốc gia 55
2.4 Cấp độ toàn cầu 71
2.4.1 Sự thay đổi Hệ thống quốc tế 72
2.4.2 Môi trường quốc tế đầy bất ổn 73
2.5 Tiểu kết 76
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH HẠT NHÂN TRIỀU TIÊN TỪ GÓC NHÌN CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC 79
3.1 Tác động của việc CHDCND Triều Tiên phát triển hạt nhân dưới góc nhìn chủ nghĩa hiện thực 79
3.2 Tương lai của bán đảo Triều Tiên nhìn từ góc độ chủ nghĩa hiện thực 82
3.2.1 Chiến tranh xảy ra 82
3.2.2 CHDCND Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân 84
3.2.3 Giữ nguyên hiện trạng hạt nhân của Triều Tiên 86
3.3 Tiểu kết 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 98
Trang 5Xuất phát từ vấn đề này, người viết đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Vì saoCHDCND Triều Tiên lại phát triển vũ khí hạt nhân Đâu là động lực để quốc giaĐông Á này quyết định làm như vậy? Dẫn chiếu từ những lý thuyết quan hệ quốc tếsẵn có, cụ thể ở đây là chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế, người viết cốgắng lý giải nguyên nhân CHDCND Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân với mongmuốn sẽ góp thêm một góc nhìn lý giải và ít nhiều đưa ra dự đoán về triển vọng hòabình của khu vực và thế giới Nghiên cứu này được thực hiện với mong muốn tìm
ra nguyên nhân sâu xa của việc CHDCND Triều Tiên kiên quyết đi theo con đườngphát triển vũ khí hạt nhân, chống lại mục tiêu hòa bình của nhân loại, đánh giá mứcnguy hiểm của vấn đề hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên và khả năng giải quyết kho vũkhí hạt nhân vì một thế giới hòa bình trong tương lai
Trang 6Vấn đề vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên là một vấn đề nhận được sựquan tâm của nhiều nhà nghiên cứu bởi tính cấp thiết trong việc giải quyết và những hậuquả nghiêm trọng nếu nó đi quá giới hạn cho phép Đó là lí do trên thế giới có khá nhiềunghiên cứu về chủ đề này ngay từ khi CHDCND Triều Tiên bắt đầu có những động tháinghiên cứu vũ khí hạt nhân Các nghiên cứu được tiến hành trên nhiều phương diện từquy mô của chương trình hạt nhân đến những chính sách quốc phòng của các nướcxung quanh; từ những đặc điểm nội tại như chính trị, kinh tế, văn hóa CHDCND TriềuTiên đến quan hệ ngoại giao giữa quốc gia này với các nước khác trên thế giới Songcác nghiên cứu chịu một hạn chế chung là phụ thuộc vào nhiều nguồn tài liệu khác nhauchứ thiếu những khảo sát, thực địa từ các nhà khoa học do chính sách nhập cảnh vàoCHDCND Triều Tiên Theo khảo sát sơ bộ, các nguồn tài liệu của những nghiên cứunày đến chủ yếu từ các báo cáo của IAEA, từ các tổ chức quốc tế hiếm hoi được hoạtđộng ở CHDCND Triều Tiên và từ các phát ngôn chính thức của nhà nước Đây đượccoi là một trong những hạn chế khi nghiên cứu về đất nước này, do đó, các nghiên cứu
có tính riêng biệt về lĩnh vực chuyên sâu thường ít, phổ biến là các nghiên cứu có tínhkhái quát hoặc các nghiên cứu trong tương quan mối quan hệ giữa CHDCND TriềuTiên với các quốc gia khác
nước ta chưa có nhiều Các công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ luận án tiến sĩvẫn còn khá ít Vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên chỉ được số ít các học giảquan tâm khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các cường quốc như Mỹ - Trung hay ítnhiều được nhắc đến khi phân tích cục diện chính trị Đông Á cũng như đánh giá vềtriển vọng hợp tác và phát triển của khu vực này Các luận văn thạc sĩ cũng có
những đề tài liên quan tới vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên như “Cuộc
khủng hoảng hạt nhân trên Bán đảo Triều Tiên và tác động đến an ninh khu vực Đông Bắc Á” của Đỗ Anh Tuấn hay “Vai trò của Mỹ và Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân trên Bán đảo Triều Tiên” của Đỗ Thị Thu Hương,
“Chính sách của Mỹ đối với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên những năm đầu thế kỷ XXI” của Đỗ Xuân Kế, … Trên các tạp chí chuyên ngành cũng có nhiều
bài viết về
Trang 7chủ đề này như: “Động thái mới trong việc giải quyết khủng hoảng hạt nhân trên
bán đảo Triều Tiên” của Thạc sĩ Thái Văn Long, “Vấn đề khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên – triển vọng giải quyết” của hai tác giả Phạm Ngọc Uyển
và Nguyễn Thu Hương và cuốn sách được nhà xuất bản Thông tấn xuất bản với
nhan đề “Nóng bỏng bán đảo Triều Tiên” Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn thiếu
những bài viết công phu, hệ thống về vấn đề quan trọng đối với an ninh khu vực,đặc biệt là phân tích vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên dưới góc nhìn lýthuyết quan hệ quốc tế
Trên thế giới đã có nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnhvực khác nhau đề cập một cách sâu sắc và toàn diện về vấn đề này Vì nhiều lí dokhác nhau, tác giả mới tham khảo được một số ít trong các công trình của các học
giả nước ngoài như: “A proposal for a “Bosworth Process” with North Korea:
denuclearization and beyond” của Tiến sĩ Sun-won Park của Trung tâm nghiên cứu
chính sách Đông Á, hay như “The North Korea ballistic missile program” của
Daniel A.Pinkston Ngoài ra còn rất nhiều các bài viết ngắn trên các tạp chí có uytín của các học giả như Andrew Scobell, John M Sanford hay Shen Dingli,…Tất cảcác công trình đấy đã cung cấp một cái nhìn khá đầy đủ về vấn đề hạt nhân trên bánđảo Triều Tiên cũng như vai trò của các bên liên quan, đặc biệt là các thành viêntrong vòng đàm phán như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga.Điều này giúp khá nhiều trong quá trình phân tích vấn đề dưới góc độ lý thuyết bởicác cách nhìn khác nhau của các học giả ở các quốc gia khác nhau trước hết manglại cơ hội tiếp cận đa dạng các cách thức phân tích vấn đề, đồng thời cũng là nguồntài liệu thứ cấp cho người viết giúp giảm bớt hạn chế về khoảng cách ngôn ngữ vàđịa lý khi phân tích đề tài này
Trên cơ sở lý thuyết quan hệ quốc tế về chủ nghĩa hiện thực, tác giả đưa ragiả thuyết lý giải nguyên nhân CHDCND Triều Tiên theo đuổi chương trình pháttriển vũ khí hạt nhân trong nhiều năm qua như sau:
Trang 8Trước hết là góc độ cá nhân người lãnh đạo Người lãnh đạo có vai trò quantrọng trong sách lược hành động quốc gia Lợi ích cá nhân lãnh đạo và lợi ích quốcgia có liên hệ mật thiết với nhau Lợi ích cá nhân lãnh đạo được đảm bảo khi lợi íchquốc gia được duy trì và phát triển Điều này khiến cho các nhà lãnh đạo thường cốgắng để đưa lợi ích quốc gia đạt đến mức cao nhất Dựa trên tình hình thực tế đấtnước, cố vấn của chuyên gia và dự đoán sự phát triển của thế giới, người lãnh đạo,với mong muốn đạt được lợi ích cá nhân cao nhất và lợi ích quốc gia lớn nhất sẽđưa ra chiến lược, sách lược hành động của quốc gia mình và thuyết phục sự đồng
ý của cao tầng lãnh đạo tại quốc gia đó
CHDCND Triều Tiên là một quốc gia có mô hình nhà nước chuyên chế.Điều này khiến cho các nhà lãnh đạo Triều Tiên có được ưu thế về thiết lập chínhsách hơn so với các quốc gia theo hình thức nhà nước dân chủ Từ chủ tịch KimNhật Thành (Kim Il Sung), đến Kim Chính Nhật (Kim Jong Il) và hiện tại là KimChính Ân (Kim Jong Un) đều rất kiên định với lý tưởng phát triển đất nước củamình, trong đó có việc phát triển vũ khí hạt nhân Thêm vào đó, sự ủng hộ của chế
độ gia đình trị càng tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà lãnh đạo này trong việchoạch định chính sách an ninh, quốc phòng đất nước Có thể nói, vai trò của ngườilãnh đạo với sự phát triển chương trình vũ khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên làkhông thể phủ nhận
Song song với việc nghiên cứu vai trò của các cựu lãnh đạo CHDCND TriềuTiên trong quá trình phát triển hạt nhân của đất nước này, người viết cũng khôngquên chú ý tới vai trò của các nhóm lợi ích tại CHDCND Triều Tiên Tại CHDCNDTriều Tiên, các nhóm lợi ích được nhìn nhận có mối quan hệ chặt chẽ với thể chế
có tính gia đình trị của quốc gia Các nhóm lợi ích có gắn bó chặt chẽ với các thànhviên trong gia đình của Chủ tịch Kim Khi Kim Jong Un lên nắm quyền tại đất nướcnày, người ta đã chứng kiến những đợt “thay máu” lãnh đạo cấp cao của CHDCNDTriều Tiên có một phần nguyên nhân từ chính các nhóm lợi ích đã chi phối tớiquyền lực tối cao của chủ tịch nước cũng như gây nguy hại tới đường lối phát triểnđất nước
Trang 9Thứ hai là vai trò của các yếu tố trong nước đối với việc phát triển vũ khí hạtnhân của CHDCND Triều Tiên Với mô hình nhà nước chuyên chế, CHDCNDTriều Tiên gần như đạt được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân trong nước khi xâydựng các lò phản ứng hạt nhân, phát triển vũ khí hạt nhân dù cho đất nước vẫn còntrong tình trạng đói nghèo Một dân tộc thuần nhất với một niềm tin chính trị tuyệtđối vào Đảng Lao động Triều Tiên và người lãnh đạo tối cao là nguyên do của việcbất chấp những khó khăn trước mắt của CHDCND Triều Tiên khi phát triển vũ khíhạt nhân.
Những di chứng của lịch sử cũng nằm trong nhóm nguyên nhân này khiCHDCND Triều Tiên thành lập nhà nước và đi theo mô hình nhà nước xã hội chủnghĩa Cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội của CHDCND Triều Tiên phát triển theohướng có sự tham gia, giám sát, quản lý chặt chẽ của nhà nước khiến cho đời sốngtâm lý, tinh thần của người dân có xu hướng phát triển khác với các nhà nước dânchủ phương Tây Do đó, việc nhà nước phát triển vũ khí hạt nhân để tự cường đấtnước đã nhận được sự ủng hộ của đa số nhân dân
Thứ ba là giả thuyết về những tác động của thế giới bên ngoài, trong đó phải
kể đến sự thay đổi của trật tự thế giới Trong Chiến tranh Lạnh, CHDCND TriềuTiên đi theo con đường xã hội chủ nghĩa nên gặp không ít khó khăn từ sự cấm vậncủa phương Tây và các yếu tố an ninh bất ổn khi có vị trí địa lý ở gần các quốc giathân Mỹ là Hàn Quốc và Nhật Bản Những yếu tố an ninh tiềm ẩn là nguyên nhântrước hết của việc phát triển vũ khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên trong giaiđoạn Chiến tranh Lạnh
Tiếp đó, khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, CHDCND Triều Tiên lại phải đối mặtvới những khó khăn khi khối các nước theo mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa sụp
đổ, Liên bang Xô viết tan rã, niềm tin về lý tưởng và mô hình chủ nghĩa xã hội lunglay Trong thời điểm đó, CHDCND Triều Tiên phải đối mặt với việc lựa chọn conđường phát triển đất nước theo mô hình nào, với những nghi kị từ các nước phươngTây về con đường chính trị của mình Tự lực tự cường về chính trị và an ninh để pháttriển đất nước độc lập hay đi theo một mô hình mới và khó có thể tự
Trang 10chủ chính trị đều là vấn đề khó đối với CHDCND Triều Tiên khi thực tế tình hìnhphát triển kinh tế - xã hội của đất nước không cho phép Cuối cùng, một chính sáchphát triển đất nước tự cường về hạt nhân đã được lựa chọn với một mục tiêu là xâydựng đất nước mạnh mẽ, khiến cho các quốc gia khác phải e dè là lựa chọn củaCHDCND Triều Tiên.
Một nguyên nhân nữa đến từ bên ngoài khiến cho CHDCND Triều Tiên lựachọn con đường phát triển hạt nhân chính là xu thế phát triển của thế giới TrungQuốc ngày một phát triển mạnh mẽ trở thành siêu cường thứ 2 trên thế giới, mởrộng ảnh hưởng của Trung Quốc ra các khu vực lân cận, tăng cường sức ảnhhưởng trên toàn thế giới Do đó, Trung Quốc không còn là chỗ dựa an ninh vữngchắc cho Triều Tiên về phương diện an ninh Trung Quốc mở rộng sức ảnh hưởngcủa mình có nguy cơ làm giảm quyền lực của giới lãnh đạo Triều Tiên cũng nhưgiảm tiếng nói vốn đã không nhiều của Triều Tiên trên thế giới Thêm vào đó, khiTrung Quốc càng lớn mạnh sẽ khiến cho Hoa Kỳ cũng tăng cường sức mạnh chomình để giữ vững vị trí siêu cường số 1 Điều này khiến CHDCND Triều Tiên càngcảm thấy nguy cơ mất an ninh cao hơn, đòi hỏi phải phát triển vũ khí hạt nhân để tựbảo vệ chính mình
Các giả thuyết trên đều được thiết lập trên cơ sở các vấn đề về quyền lực và
an ninh – những vấn đề cơ bản trong lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực Trong quátrình nghiên cứu, tác giả kiểm chứng lại những giả thuyết của mình và hoàn thiệnnhững thiếu sót trong lập luận để tìm ra những nguyên nhân cơ bản của việcCHDCND Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân, từ đó đưa ra đánh giá và dự đoáncủa bản thân về tương lai của quá trình phi hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhânvăn cơ bản Thông qua các cách tiếp cận của chủ nghĩa hiện thực và các cấp độphân tích của chủ nghĩa hiện thực để chỉ ra nguyên nhân vì sao CHDCND TriềuTiên phát triển chương trình hạt nhân Cơ sở lý thuyết được vận dụng và lý giảithông qua các các dữ liệu đã có về chương trình hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên,
Trang 11các yếu tố phát triển đất nước, các văn bản, tuyên bố, công bố của các tổ chức chínhphủ, phi chính phủ, các quốc gia về chương trình hạt nhân của CHDCND TriềuTiên Đồng thời cũng sử dụng phương pháp phân tích chính sách đối ngoại của cácquốc gia để phân tích lợi ích mà CHDCND Triều Tiên cũng như các quốc gia khácđạt được khi phát triển chương trình hạt nhân Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp hệ thống – cấu trúc, phươngpháp so sánh, phương pháp lịch sử để làm rõ vấn đề nghiên cứu
Do đặc thù khoảng cách về địa lý, sự thông hiểu ngôn ngữ và những khókhăn khi tiếp cận đề tài, tài liệu của luận văn chủ yếu xuất phát từ những nguồn sau:
Thứ nhất là các số liệu thống kê của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ vềchương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên Đây là nguồn tài liệu chính thức
uy tín để có thể thiết lập các giả thuyết và các nhận định nghiên cứu
Thứ hai là các sách chuyên khảo về lý thuyết quan hệ quốc tế Các cuốn sáchnày mang lại cơ sở lý luận đầy đủ và phong phú để đưa ra các đánh giá, nhận định
về các vấn đề Các sách chuyên khảo này có khá nhiều là các sách được dịch sangtiếng Việt và một số sách bằng tiếng Anh
Thứ ba là các bài viết phân tích của các học giả trong nước và quốc tế xoayquanh vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên Đây là nguồn tài liệu thứ cấp để cóthêm những ý kiến đóng góp để củng cố hay phản bác các giả thuyết của mình Tuyrằng các nghiên cứu này ít nhiều mang màu sắc cá nhân nhưng do được xuất phát
từ nhiều quốc gia khác nhau với quan điểm chính trị và góc nhìn khác nhau nên đãđóng góp không nhỏ vào việc hoàn thiện luận văn này
Trên cơ sở những lý thuyết quan hệ quốc tế, tác giả đối chiếu vào trường hợpCHDCND Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân nhằm hoàn thiện 3 nội dung nghiêncứu:
Trang 121 Cơ sở lý luận của việc CHDCND Triều Tiên phát triển hạt nhân Cơ
sở này chủ yếu được thiết lập từ các luận điểm nghiên cứu của chủ nghĩahiện thực trong quan hệ quốc tế Trong đó chủ yếu xoay quanh các vấn đề về
an ninh, quyền lực, lợi ích quốc gia để lập luận
của chủ nghĩa hiện thực Các nguyên nhân này được xây dựng trên 4 cấp độphân tích: (1) cấp độ cá nhân – tập trung phân tích vai trò của các thế hệ lãnhđạo Triều Tiên khi quyết định mục tiêu tự cường an ninh quốc gia theohướng phát triển vũ khí hạt nhân; (2) cấp độ trong nước: phân tích các yếu
tố nội tại từ bản thân Triều Tiên như thiết chế xã hội, đặc điểm văn hóa, môhình chính trị, thực lực phát triển kinh tế của Triều Tiên để làm rõ vì saoquốc gia này lại có động lực và nhận được sự ủng hộ khi phát triển hạt nhân;(3) cấp độ quốc tế: nhấn mạnh đến vai trò của 5 quốc gia còn lại trong vòngđàm phán 6 bên – thể chế được lập ra để giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo TriềuTiên, bao gồm: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga,
đây cũng là những cường quốc phát triển trên thế giới và những chính sáchphát triển của các quốc gia này cũng là một trong những nguyên nhân khiếnCHDCND Triều Tiên quyết định duy trì, phát triển hay từ bỏ chương trìnhhạt nhân; (4) cấp độ toàn cầu: tập trung vào phân tích tình hình biến động của
hệ thống quốc tế và thế giới đã tác động như thế nào đến chương trình hạtnhân trên bán đảo Triều Tiên cũng như những biến động của hệ thống quốc
tế trong những năm gần đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnhhưởng đến quyết định chính sách hạt nhân của Triều Tiên
chủ nghĩa hiện thực Dựa trên các phân tích về an ninh, quyền lực, lợi ích
quốc gia và xu thế phát triển thế giới để đưa ra dự đoán về tương lai chươngtrình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên: duy trì hiện trạng, từ bỏ hoàn toànhay sẽ còn phát triển nhiều hơn và tiếp tục trở thành mối quan ngại sâu sắcvới hòa bình thế giới
Trang 137 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn được chia làm 3 chương:
CHƯƠNG 1: Khái quát chủ nghĩa hiện thực và chương trình hạt nhân
của CHDCND Triều Tiên
Chương này đề cập tới hai vấn đề chính: Lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực vàTổng quan về chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên Hai vấn đề nàyđược đề cập một cách khái quát nhất để nhắc nhớ người đọc về những kiến thứcliên quan, giúp người đọc có cái nhìn đa dạng nhất về đề tài luận văn
Với lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực, tác giả soi chiếu theo chiều dọc lịch sửphát triển của lý thuyết này và nhấn mạnh vào một số chủ thể trong quan hệ quốc tếđược chủ nghĩa hiện thực đánh giá có vai trò quyết định, ảnh hưởng tới sự thay đổicục diện chính trị quốc gia, quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình phân tích rõ cácnguyên nhân dẫn tới việc CHDCND Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân, các trọngđiểm lý thuyết vẫn được nhắc lại để thuận tiện cho việc lý giải
Với chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, luận văn nhấnmạnh tới các mốc thời gian đặc biệt liên quan tới sự phát triển/ngừng phát triển vũkhí hạt nhân, các vụ thử vũ khí hạt nhân có tác động thay đổi bàn đàm phán và cụcdiện chính trị thế giới và khu vực; tiềm lực hạt nhân và khả năng quân sự cũngđược phân tích theo những mốc quan trọng để thấy được sức mạnh quốc phòng củaTriều Tiên
CHƯƠNG 2: Nguyên nhân CHDCND Triều Tiên phát triển hạt nhân
dưới góc độ chủ nghĩa hiện thực
Trong chương này, tác giả cố gắng vận dụng tất cả những hiểu biết về lýthuyết QHQT để phân tích các nguyên nhân CHDCND Triều Tiên phát triển vũ khíhạt nhân Các lớp phân tích được tiến hành theo 4 cấp độ: cá nhân người lãnh đạo,cấp độ quốc gia, cấp độ liên quốc gia và cấp độ quốc tế Bốn cấp độ này sẽ lần lượtchỉ ra những yếu tố có tác động đến quá trình phát triển vũ khí hạt nhân của quốcgia này, đặc biệt là các yếu tố liên quốc gia và quốc tế bởi các vấn đề về lợi ích
Trang 14quốc gia, an ninh quốc gia trong lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực được soi chiếu rõnhất khi quốc gia đặt trong môi trường quốc tế vì đảm bảo lợi ích và bảo vệ an ninh
mà tiến hành các hoạt động quân sự tự cường
CHƯƠNG 3: Tác động và triển vọng
Chương cuối luận văn đưa ra những nhận định về tác động đến thế giới vàchính bản thân CHDCND Triều Tiên khi quốc gia này quyết định phá bỏ nhữnghiệp định đã kí để phát triển vũ khí hạt nhân Xa hơn là một số nhận định chủ quan
về triển vọng phi hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên Những triển vọng này đượcnhìn nhận tại thời điểm hoàn thành luận văn theo hướng chủ quan dựa trên nhữngphân tích cá nhân nên có thể có những điều không chính xác theo hiện thực sau này
Trang 15CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ CHƯƠNG
TRÌNH HẠT NHÂN CỦA CHDCND TRIỀU TIÊN
1.1 Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hiện thực 1
Chủ nghĩa hiện thực là một trong những lý thuyết quan hệ quốc tế được hìnhthành sớm nhất Lịch sử ghi nhận những tác phẩm chính trị đầu tiên có “hơi hướng”của chủ nghĩa hiện thực xuất hiện ngay từ những năm trước công nguyên với cuốn
“Lịch sử chiến tranh Peloponnese” của Thucydides (471 – 101TCN) Trong tác
phẩm này, ông đã mô tả 21 trong tổng số 28 năm của cuộc chiến tranh giữa hai quốcgia đô thị Athens và Sparta trong thời kỳ Hi Lạp cổ đại khi còn bị chia cắt thànhnhiều quốc gia đô thị khác nhau Mặc dù là một cuốn sách lịch sử song tác phẩmnày đã đề cập một số hiện tượng QHQT như răn đe, chạy đua vũ trang, liên minh,chiến lược Phát hiện quan trọng nhất của ông là nguyên nhân chiến tranh xuấtphát không chỉ từ xung đột lợi ích mà còn bởi bản chất quan hệ chính trị giữa cácquốc gia Theo đó, chiến tranh có thể xảy ra do nỗi lo sợ trước sự thay đổi tươngquan so sánh quyền lực bất lợi cho mình Thucydides chính là người đầu tiên đề cậpđến quyền lực như nguyên nhân căn bản của xung đột và chiến tranh trong QHQT.Cuốn sách của ông cũng được coi là cuốn đầu tiên mô tả QHQT như cuộc đấutranh giành quyền lực quân sự và chính trị Với những luận điểm về vai trò củaquyền lực trong QHQT, Thucydides được coi là “cha đẻ” của Chủ nghĩa Hiện thực
Đến thế kỷ XV – XVI, “Quân vương” (The Prince) của Nicolo Machiavelli (1469-1527) và “Người quyền uy” (Leviathan) của Thomas Hobbes (1588-1679)
được coi là những tác phẩm đặt nền móng cho cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Hiệnthực khi có những bàn luận về nhà nước, vai trò của người lãnh đạo, quyền lực vàphân chia quyền lực Do sống vào thời ở Italy cũng có sự chia cắt và chiến tranhgiống như Hi Lạp cổ đại Machiavelli nghiên cứu về các hiện tượng có ý nghĩa đốivới QHQT như quyền lực, cán cân quyền lực, liên minh và thay đổi liên minh,
1 Tham khảo Đề tài Các lý thuyết quan hệ quốc tế đương đại, Mã số V.2.21, hoàn thành 2014, PGS TS
Hoàng Khắc Nam chủ nhiệm Đề tài do quỹ Nafosted tài trợ
Trang 16nguyên nhân xung đột giữa các thành quốc Tuy nhiên, ông tập trung nhiều vàomục đích tồn tại của chủ thể, và từ đó nhấn mạnh đến an ninh quốc gia Đối với ông,
an ninh quốc gia là sự sống còn của quốc gia Ông cho rằng quyền lực là cần thiết đểbảo đảm an ninh quốc gia Thậm chí, Machiavelli còn cho rằng để thực hiện mụcđích an ninh quốc gia, chính trị không nhất thiết phải dựa trên đạo lý Giống nhưMachiavelli, Hobbes có cái nhìn bi quan về bản chất ích kỷ, tư lợi của con người.Sống trong bối cảnh hỗn loạn, xung độ và thay đổi chính quyền liên tục thời Cáchmạnh Tư sản Anh, ông cho rằng con người sống trong trạng thái tự nhiên và tìnhtrạng vô chính phủ nên đó là điều kiện để xảy ra xung đột, bạo lực và chết chóc Vìthế, cần có người quyền uy thực sự ở trên để thiết lập luật pháp, duy trì trật tự Mặc
dù tập trung nhiều hơn vào chính trị đối nội nhưng mô hình của ông có ý nghĩa lớnđối với QHQT Theo đó, các quốc gia có “trạng thái tự nhiên” giống như các cánhân và sống trong tình trạng vô chính phủ của thế giới Do đó, các quốc gia luônnghi ngờ, lo ngại và cạnh tranh lẫn nhau “Trạng thái tự nhiên” của quốc gia và tìnhtrạng vô chính phủ của thế giới trở thành cơ sở để Chủ nghĩa Hiện thực giải thíchđộng cơ quyền lực của các chủ thể và tình trạng xung đột giữa chúng trong QHQT.Đồng thời, luận điểm về người quyền uy của Hobbes cũng đem lại gợi ý về việcthiết lập một chính phủ thế giới hay tổ chức siêu quốc gia có hiệu lực ở trên các quốcgia như phương cách ngăn ngừa xung đột, hạn chế chiến tranh trong một số lý luậnQHQT khác
Ngoài ra, còn có những đóng góp quan trọng của các học giả khác như Carlvon Clausewitz Carl von Clausewitz (1780-1831) là một vị tướng người Phổ đãtừng tham gia cuộc chiến tranh chống lại Napoleon đầu thế kỷ 19 ở Châu Âu Tác
phẩm quan trọng của ông là “Về chiến tranh” (On War) Tuy viết về chiến tranh
nhưng quan điểm của ông đã gắn quyền lực với vấn đề an ninh quốc gia và chiếntranh, gắn bó quân sự và chiến tranh với nền chính trị quyền lực Quan điểm củaông có sự tiếp nối đáng kể với quan điểm của Machiavelli Vì thế nhiều người coiông là theo Chủ nghĩa Hiện thực Ông cho rằng quân sự là thành tố quan trọng trongsức mạnh quốc gia và cơ sở cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia Quân sự phụ
Trang 17thuộc vào chính trị và thực ra chỉ là một phương tiện của chính trị Ông có câu nói
nổi tiếng “Chiến tranh là sự tiếp tục chính trị bằng phương tiện khác” Theo đó,
chiến tranh được coi là cách thức sử dụng bạo lực để thực hiện mục tiêu chính trị làgiành quyền lực
Tuy nhiên, cho đến trước thời hiện đại, việc nghiên cứu đề tài này vẫn ít ỏi,các quan điểm vẫn lẻ tẻ và chưa được hệ thống, Chủ nghĩa Hiện thực vẫn chưađược định hình rõ rệt như một lý thuyết chính trị quốc tế riêng
Đến thời hiện đại, Chủ nghĩa Hiện thực mới bắt đầu được hệ thống hóa và
phát triển với cuốn sách “Cuộc khủng hoảng hai mươi năm 1919-1939” (The Twenty years crisis 1919-1939) của E H.Carr và đặc biệt là cuốn “Nền chính trị
giữa các quốc gia” (Politics Among Nations) của Hans Morgenthau xuất bản năm
1948 Trong cuốn sách này, Hans Morgenthau đã tổng kết lý luận và hệ thống hoánhững quan điểm cơ bản để xây dựng Chủ nghĩa Hiện thực thành một lý thuyếttương đối bao quát về QHQT Sau Hans Morgenthau, việc nghiên cứu Chủ nghĩaHiện thực đã phát triển khá mạnh mẽ với nhiều học giả nổi tiếng như R Neibuhr, J.Herz, G Schwarzenberger, M Wight, N.Spykman, G F Kennan… và được nốitiếp bởi R Aron, H Bull, H Kissinger, R E Osgood, R Rosecrance, K W.Thompson, R W Tucker, K N Waltz, Arnold Wolfer Những tác giả này đã đónggóp rất nhiều vào việc phát triển dòng lý thuyết Chủ nghĩa Hiện thực cũng như cốgắng vận dụng lý thuyết này vào giải thích các hiện tượng QHQT Trong đó, nổi bật
là Keneth Waltz với tác phẩm “Lý thuyết Chính trị quốc tế” (Theory of
International Politics) khi ông bổ sung lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực cũ và đưa
ra chủ nghĩa hiện thực mới
Chủ nghĩa Hiện thực là lý thuyết QHQT có lịch sử lâu đời nhất Sự ra đời củaChủ nghĩa Hiện thực trong chừng mực nào đó cũng chính là sự bắt đầu của mônQuan hệ quốc tế Có thể tạm chia lịch sử hình thành và phát triển của Chủ nghĩaHiện thực làm ba thời kỳ chính: Thời kỳ đầu tiên kéo dài từ thời cổ đại đến trướcChiến tranh Thế giới II Đây là thời kỳ xuất hiện của các quan điểm đầu tiên của lýthuyết này với các học giả chính như Thucydides, Nicollo Machiavelli và Thomas
Trang 18Hobbes Thời kỳ thứ hai từ Chiến tranh Thế giới II đến cuối những năm 70 của thế
kỷ 20 Đây là thời kỳ Chủ nghĩa Hiện thực phát triển và trở thành một lý thuyếtQHQT với các đại biểu ưu tú như Edward Carr và Hans Morgenthau Thời kỳ tiếptheo được bắt đầu từ năm 1979 được ghi dấu ấn bằng sự ra đời của trường pháiChủ nghĩa Hiện thực Mới với đại diện là Kenneth Waltz Sau Chiến tranh lạnh, lýthuyết này tiếp tục được làm giàu thêm bằng sự bổ sung thêm các luận điểm vànhững biến thể mới như Chủ nghĩa Hiện thực Tấn công, Chủ nghĩa Hiện thựcPhòng thủ và Chủ nghĩa Hiện thực Tân cổ điển Trong luận văn này, người viết tạmphân chia chủ nghĩa hiện thực theo 2 thời kì chính: chủ nghĩa hiện thực cổ điển vàchủ nghĩa hiện thực mới do những luận điểm về các biến thể của chủ nghĩa hiệnthực đang được nghiên cứu chưa hoàn toàn tách biệt với chủ nghĩa hiện thực mới
1.1.1 Chủ nghĩa hiện thực cổ điển
Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển (Classical Realism) bao gồm các quan điểm có
trước năm 1979 từ Thucydides đến Morgenthau, phản ánh quá trình phát triển từnhững quan điểm lẻ tẻ đến hệ thống thành một lý thuyết QHQT Chủ nghĩa Hiệnthực Cổ điển bao gồm đầy đủ các cơ sở chủ yếu nhất của Chủ nghĩa Hiện thực nhưmôi trường vô chính phủ, vai trò chủ thể cơ bản của quốc gia có lý trí, sự chi phốicủa chủ nghĩa quốc gia, quyền lực là lợi ích cơ bản của mọi quốc gia và sự tranhgiành quyền lực bất tận của các quốc gia quy định nên tình trạng xung đột trongQHQT,…
1.1.2 Chủ nghĩa hiện thực mới
Chủ nghĩa Hiện thực Mới (Neo-realism) được coi là bắt đầu từ năm 1979 với tác phẩm “Lý thuyết Chính trị quốc tế” (Theory of International Politics) của
Kenneth Waltz Về đại thể, Chủ nghĩa Hiện thực Mới vẫn giữ những quan niệm cơbản của Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển trước đó nhưng đã có thêm một số thay đổi,điều chỉnh, bổ sung Kenneth Waltz cho rằng Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển đãkhông giải thích được nhiều hiện tượng trong QHQT bởi không chú ý đến nhữngtác động từ hệ thống quốc tế mà chỉ dựa vào động cơ quyền lực, sự tính toán lý trí.Quốc gia – vốn là những phần tử trong cùng hệ thống quốc tế – vận động trong
Trang 19QHQT dưới sự chi phối đáng kể bởi tác động từ hệ thống quốc tế Hệ thống quốc
tế, đặc biệt là cơ cấu phân bố quyền lực của hệ thống đã tạo ra những tác động quyđịnh động cơ, lợi ích và sự lựa chọn ưu tiên của quốc gia, tạo ra những thúc ép đốivới hành vi quốc gia và ảnh hưởng nhiều đến kết quả của sự tương tác giữa cácquốc gia Theo Waltz, hệ thống quốc tế, đặc biệt là cơ cấu phân bố quyền lực, đóngvai trò quyết định đối với QHQT nhiều hơn động cơ quyền lực, sự tính toán lý trícủa các nhà lãnh đạo hay cơ cấu chính trị trong nước như quan niệm của Chủ nghĩaHiện thực Cổ điển Cũng chính vì nhấn mạnh đến cơ cấu của hệ thống quốc tế nhưyếu tố có khả năng chi phối QHQT nên Chủ nghĩa Hiện thực Mới của Kenneth
Waltz còn được gọi là Chủ nghĩa Hiện thực Cơ cấu (Structural Realism).
Sự khác nhau cơ bản giữa Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển và Chủ nghĩa Hiệnthực Mới là ở chỗ: Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển coi QHQT đơn thuần như sựtương tác giữa các quốc gia bởi lợi ích, ý chí, sự tính toán lý trí và khả năng quyềnlực của chúng Vì thế, cách tiếp cận chủ yếu của Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển là từquốc gia, cụ thể là các nhà cầm quyền hay lãnh đạo quốc gia Còn Chủ nghĩa Hiệnthực Mới nhấn mạnh đến cơ cấu của hệ thống như một thế lực chủ yếu tác động vàchi phối QHQT Từ đó, Kenneth Waltz đã đề ra việc phân tích QHQT theo nhiềucấp độ khác nhau nhưng đặc biệt nhấn mạnh tới việc phân tích QHQT trên cấp độ
hệ thống vốn là thứ mà Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển không có Đây là sự khác nhau
về mặt phương pháp luận giữa Chủ nghĩa Hiện thực Mới và Chủ nghĩa Hiện thực
Cổ điển
1.2 Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực đánh giá cao vai trò quốc gia trong QHQT Để phát triểnhơn, con người cần tập hợp trong những cộng đồng có tổ chức Cộng đồng đó chính
là quốc gia Quốc gia hình thành sẽ nuôi dưỡng chủ nghĩa quốc gia Đến lượt mình,chủ nghĩa quốc gia là cái đã gắn kết các cá nhân vào trong quốc gia-dân tộc Trongquốc gia, có nhà nước được thành lập2 để thực hiện các chức năng đối nội và đối
2 Quốc gia ở đây là quốc gia nói chung bao gồm cả các mô hình quốc gia sơ khai có từ thời cổ trung đại chứ
không phải chỉ mỗi quốc gia theo mẫu hình hiện đại Westphalia thời cận hiện đại, tlđd
Trang 20ngoại của quốc gia Nhà nước chính là đại diện của quốc gia trong việc hoạch địnhchính sách đối ngoại và thực hiện các mục tiêu trong QHQT Vì thế, quốc gia-dântộc chính là chủ thể QHQT cơ bản và quan trọng nhất Điều đó có nghĩa chỉ có quốcgia-dân tộc mới là người làm ra QHQT và có khả năng quyết định sự vận động củaQHQT, quan hệ giữa các quốc gia mới là QHQT Các chủ thể phi quốc gia khác nếu
có cũng chỉ là công cụ của quốc gia và đóng vai trò thứ yếu QHQT của các chủ thểnày nếu có thì cũng chịu chi phối của quan hệ giữa các quốc gia và nhằm thực hiệnlợi ích quốc gia
1.2.1 Vấn đề lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc tế
Theo các nhà Chủ nghĩa Hiện thực, chủ thể quốc gia-dân tộc này có đặc điểm
là chủ thể đơn nhất và có lý trí trong quan hệ với bên ngoài Đơn nhất (Unitary) ở
đây có nghĩa quốc gia là một thực thể thống nhất, luôn hành động vì lợi ích quốc gia,lợi ích quốc gia là rành mạch rõ ràng bất kể nhà lãnh đạo hay lực lượng nào nắmquyền trong nước.3 Trong khi đó, chủ thể có lý trí (Rational) tức là có thể nhận biết
được lợi ích của mình, luôn tính toán để đạt được lợi ích cao nhất, có khả năng phântích hậu quả lợi-hại của các hành vi, biết lựa chọn các ưu tiên, giải pháp và phươngtiện ứng xử thích hợp Tính toán lý trí là tất nhiên có thể đúng, có thể sai Tính toán
lý trí chính là một trong những cơ sở để chuyển hóa các năng lực quốc gia thànhhành động đối ngoại nhằm thực hiện lợi ích quốc gia
Thế giới mà bên trong các quốc gia đang sống có đặc tính là vô chính phủ
(Anarchy) Bởi thế, môi trường của QHQT cũng là vô chính phủ Thuật ngữ “Vô
chính phủ” ở đây là để chỉ tình trạng không có một quyền hành hay chính phủ siêuquốc gia nào ở trên quốc gia Chủ nghĩa Hiện thực cho rằng môi trường vô chínhphủ sẽ là bất biến Đơn giản bởi vì không quốc gia nào lại muốn bị chi phối, bị áp
3 Trong phân tích, Chủ nghĩa Hiện thực Cổ điển xuất phát nhiều từ bản chất con người, đặc biệt là các nhà lãnh đạo hay lực lượng cầm quyền Tuy nhiên, nhà lãnh đạo hay nhóm lợi ích nào thì cũng thường thống nhất với nhau trong những vấn đề đối ngoại cơ bản như chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và nhiều lợi ích quốc gia khác Nói cách khác, khi lên nắm quyền thì họ đều là “tù nhân” của các lợi ích đối ngoại đó Họ suy nghĩ và hành động nhân danh quốc gia, vì lợi ích quốc gia và sử dụng các nguồn lực của quốc gia để thực hiện chính sách đối ngoại Vì thế, Chủ nghĩa Hiện thực vẫn coi chủ thể QHQT ở đây là quốc gia chứ không phải các nhà lãnh đạo hay
nhóm cầm quyền, tlđd
Trang 21chế, bị can thiệp bởi một thế lực bên ngoài khác Luận điểm này còn được chứnggiải thêm bằng quan niệm về chủ quyền quốc gia Đối với mọi quốc gia, chủ quyềnquốc gia chính là sự tự do cao nhất tựa như lẽ sống của quốc gia Vì thế, mọi quốcgia đều tìm mọi cách đấu tranh để bảo vệ chủ quyền quốc gia của mình Khi tất cảquốc gia đều muốn giữ vững chủ quyền quốc gia thì tình trạng vô chính phủ sẽđược duy trì Trong chừng mực nào đó, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia chính
là góp phần duy trì tình trạng vô chính phủ
Môi trường quốc tế vô chính phủ quy định nên tình trạng xung đột giữa cácquốc gia Quốc gia sống trong môi trường vô chính phủ nên phải cạnh tranh vớinhau Vì phải cạnh tranh nên luôn tồn tại những mối đe dọa từ bên ngoài đối với sự
tồn vong (survival) của quốc gia Môi trường vô chính phủ là bất biến nên tình
trạng xung đột này cũng là thường xuyên trong QHQT Vì thế, quốc gia phảithường xuyên tìm cách nâng cao an ninh quốc gia để đảm bảo cho sự tồn vong củamình An ninh quốc gia trở thành sự quan tâm lớn nhất và trở thành lợi ích sống còncủa quốc gia
Sống trong môi trường vô chính phủ vốn không ai lo cho mình, sống trong
sự cạnh tranh thường xuyên với các quốc gia khác, quốc gia phải tự lực hay tự cứu
mình (self-help) chứ không thể trông mong vào sự giúp đỡ của một chính quyền nào
đó ở trên như công dân trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước bên trong quốc gia.Quốc gia cũng không thể trông đợi sự cứu giúp từ các nước khác do đặc tính ích kỷ
tư lợi của mọi quốc gia Ở đây, tính ích kỷ của các cá nhân được gắn kết trong mộtcộng đồng là quốc gia-dân tộc đã trở thành chủ nghĩa vị kỷ của quốc gia Do đó, chủ
nghĩa quốc gia (Nationalism) trở thành nhận thức chính chi phối hành động của
quốc gia Chủ quyền quốc gia là tối cao và lợi ích quốc gia là tối hậu Lợi ích quốcgia trở thành định hướng và ưu tiên cho mọi chính sách đối ngoại Chính sách đốingoại là để thực hiện lợi ích quốc gia và lợi ích quốc gia là tiêu chuẩn để kiểmnghiệm chính sách đối ngoại
Đối với Chủ nghĩa Hiện thực, bảo vệ lợi ích quốc gia là công lý lớn nhất.Quyền lợi và nghĩa vụ của mọi nhà nước hay bất cứ nhà lãnh đạo nào đều là vì quốc
Trang 22gia của mình mà trong đó mình là một phần, “chứ không phải vì “cộng đồng quốc tếtrừu tượng” nào” Vì thế, quốc gia luôn quan tâm tới việc đảm bảo chủ quyền quốcgia và đấu tranh thực hiện lợi ích quốc gia của chính mình và bằng chính thực lựccủa mình Và cũng vì thế, lợi ích chung là khó đạt được Nhà Chủ nghĩa Hiện thựcnổi tiếng Mearsheimer đã từng nhận định: “Các nước vận hành trong thế giới tự cứuhầu như luôn căn cứ vào lợi ích của mình và không đặt lợi ích của mình dưới lợiích của nước khác, hoặc dưới lợi ích của cái gọi là cộng đồng quốc tế Lý do rấtgiản đơn: Chỉ có ích kỷ mới sống được trong một thế giới tự cứu.”
Nói một cách đơn giản nhất, lợi ích quốc gia bao gồm lợi ích chính trị, lợi íchkinh tế Lợi ích chính trị được cụ thể bằng vấn đề quyền lực của quốc gia trongQHQT và quyền lực của chính nhóm lợi ích trong nội tại quốc gia đó Lợi ích chínhtrị đảm bảo sự tồn tại và uy lực của quốc gia với các quốc gia khác, đảm bảo nềnđộc lập của quốc gia trong môi trường vô chính phủ và đảm bảo sức mạnh quốc giatrong tương quan với quốc gia khác Lợi ích kinh tế được coi là “cánh tay phải” củaquốc gia khi kinh tế được coi là mạch máu phát triển đất nước Không có một quốcgia nào có thể phát triển nếu không xây dựng được một nền kinh tế mạnh Quốc gia
sẽ dùng mọi biện pháp để đảm bảo kinh tế phát triển, trong đó có gồm các “biệnpháp cứng” thuộc lĩnh vực quân sự, chính trị và các “biện pháp mềm” thuộc các lĩnhvực văn hóa Khi quốc gia được đảm bảo lợi ích kinh tế, tự nhiên lợi ích chính trịcũng xuất hiện, và tương hỗ lợi ích kinh tế, đưa lợi ích quốc gia nâng cao
1.2.1 Quan điểm quyền lực trong quan hệ quốc tế
Chủ nghĩa Hiện thực có cái nhìn tương đối bi quan về bản chất con người khi
cho rằng con người cơ bản là ích kỷ (Egoism) và thực lợi Mặc dù không hoàn toàn bác
bỏ những tính cách và đặc điểm khác nhưng chủ nghĩa Hiện thực coi ích kỷ và tư lợi làhai đặc tính nổi trội của con người Chính các đặc tính sinh học này đã ảnh hưởngnhiều đến cách xác định lợi ích trong chính sách đối ngoại của quốc gia, đến cách ứng
xử trong quan hệ với các chủ thể khác và và trong cách nhìn nhận về bản chất QHQT.Đồng thời dẫn đến xu hướng tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia, đặt lợi ích
Trang 23riêng lên trên lợi ích của người khác và từ đó góp phần dẫn tới nên sự tranh giànhlợi ích và quyền lực trong QHQT.
Chính vì ích kỷ nên con người luôn ham muốn quyền lực để đảm bảo lợi ích.Chủ nghĩa Hiện thực coi quyền lực như sự tồn tại tất yếu không chỉ bởi sự thôi thúccủa lợi ích quốc gia mà còn là nhu cầu mặc định của con người, và rằng “việc sửdụng sức mạnh và quyền lực hình như bao giờ cũng kích thích người ta thèm muốn
có thêm sức mạnh và quyền lực”.4
Vì bản chất vô chính phủ của thế giới và luôn sống trong môi trường cạnhtranh, vì nhu cầu quyền lực tất yếu của quốc gia, nên mọi quốc gia đều tìm cách cóđược quyền lực để bảo vệ chủ quyền và lợi ích cũng như đảm bảo sự tồn tại lâu dàicủa mình Do đó, mọi quốc gia đều theo đuổi quyền lực trên trường quốc tế và vì thếnền chính trị quốc tế sẽ là “cuộc đấu tranh vì quyền lực” Theo Chủ nghĩa Hiện thực,đấu tranh giành quyền lực là không tránh khỏi do quyền lực nằm trong trò chơi tổng
số bằng không và sự tồn tại của tình trạng lưỡng nan về an ninh Trong đó, trò chơi
tổng số bằng 0 (Zero Sum Game) có nghĩa rằng, sự thăng tiến quyền lực của người
này đồng nghĩa với sự suy giảm quyền lực của người kia Còn sự lưỡng nan về an
ninh (Security Dilemma) là tình trạng mâu thuẫn giữa an ninh và mất an ninh, tức là
càng muốn đảm bảo an ninh thì nguy cơ bị đe doạ an ninh lại càng tăng Quốc giathường xuyên phải đối mặt với bài toán về vòng luẩn quẩn giữa an ninh-mất an ninh
và từ đó luôn phải tìm cách nâng cao quyền lực của mình hơn nữa
Bởi quyền lực là thứ quốc gia nào cũng muốn và không có giới hạn do quốcgia không bao giờ hài lòng với quyền lực mình đang có cho nên quan hệ quyền lực
là luôn biến động Bởi sự gia tăng quyền lực được thực hiện chỉ bằng hai cách hoặcmình mạnh lên hoặc đối phương yếu đi nên đấu tranh quyền lực là không tránh khỏitrong quan hệ giữa các quốc gia Chính hai lý do này đã khiến cuộc đấu tranh giànhquyền lực là thường xuyên và bất tận trong QHQT và vì thế xung đột trở thành bảnchất của QHQT
4 Paul R Vioti & Mark V Kaupi, Lý luận Quan hệ quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội 2001, tr 65
Trang 24Do xung đột và cạnh tranh là những hình thức quan hệ thường xuyên, phổbiến trong QHQT và không loại trừ quốc gia nào cả Như vậy, do mọi quốc gia đềutìm cách tối đa hoá quyền lực của mình, sự cạnh tranh quyền lực rất dễ dẫn đếnxung đột và chiến tranh Thực tế cho thấy các quốc gia đều luôn chuẩn bị cho chiếntranh Hòa bình được coi là tình trạng không có chiến tranh nhưng không có nghĩa
là xung đột chấm dứt Quyền lực và xung đột là logic của chính trị quốc tế TrongQHQT, xung đột là tuyệt đối, là bản chất
Do quan niệm coi xung đột là tuyệt đối, là bản chất nên Chủ nghĩa Hiện thựcnhìn hợp tác trong QHQT chỉ là tương đối và hiện tượng Hợp tác chỉ là trạng tháingưng nghỉ trước khi bước vào cuộc xung đột mới Thậm chí hợp tác chỉ là là bênngoài, còn xung đột là bên trong Ngay trong hợp tác nếu có thì vẫn chứa đựng cạnh
tranh quyền lực khi các quốc gia đều tìm kiếm lợi ích tương đối (relative gains) hơn
là lợi ích tuyệt đối (absolute gains), tức là mong muốn tối đa hóa lợi ích và có được
lợi ích nhiều hơn trong sự so sánh với đối tác với tính toán rằng hợp tác sẽ giúpmình nhiều hơn người khác chứ không đơn thuần chỉ chạy theo cái mình cần mộtcách tách bạch Từ đó, Chủ nghĩa Hiện thực cho rằng thể chế được lập ra và địnhhình bởi các nước mạnh nhất trong hệ thống nhằm “có thể duy trì, hoặc thậm chítăng lên, phần quyền lực của mình trong tổng số quyền lực thế giới.” Nhìn chung,các nhà Chủ nghĩa Hiện thực cho rằng sự quan tâm tới lợi ích tương đối và sự longại bị nước khác lừa dối hay lợi dụng chính là hai yếu tố chính cản trở sự hợp tác.Hai yếu tố này có tính thường xuyên trong thế giới vô chính phủ và cạnh tranh nênhợp tác ổn định, lâu dài là không có được Tuy nhiên, cũng có một số học giả Chủnghĩa Hiện thực cho rằng vẫn có thể duy trì hợp tác nhưng với những điều kiện nhấtđịnh.5
5 Ví dụ Stephen Krasner và một số học giả khác đã cho rằng vẫn có thể duy trì hợp tác nhất định bất chấp sự
thay đổi cán cân so sánh quyền lực Stephen Krasner đã đưa ra thuật ngữ “chế độ” (regime) để chỉ các nguyên tắc
và luật lệ điều chỉnh quan hệ qua lại giữa quốc gia với các chủ thể khác trong một số lĩnh vực vấn đề Theo các học giả này, chế độ có thể giúp đem lại khả năng quản trị nhất định của hệ thống quốc tế, giúp điều chỉnh lợi ích quốc gia và giúp duy trì hợp tác Mặc dù vậy, quan điểm của Krasner vẫn không ra ngoài dòng tư duy của Chủ nghĩa Hiện thực khi thực tế chế độ chỉ tồn tại khi có lợi cho các nước lớn và được các nước này ủng hộ Và thực tế cũng cho thấy, hoàn toàn có khả năng nảy sinh mâu thuẫn ngay trong chế độ,
Trang 25Không chỉ cho rằng quyền lực là nguyên nhân quy định bản chất xung đột và
từ đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chiến tranh, Chủ nghĩa Hiện thực còn dùngquyền lực để xem xét và giải thích nhiều hiện tượng khác nhau trong QHQT.Quyền lực là chìa khóa để lý giải những cách ứng xử trong QHQT và những tínhtoán của các quốc gia Chiến tranh, xung đột, bá quyền, chạy đua vũ trang, sự lưỡngnan an ninh, liên minh, cơ cấu của hệ thống quốc tế, tranh giành khu vực ảnhhưởng,… đều được lý thuyết này quy về nguyên nhân quyền lực Quốc gia có thểđược coi là bình đẳng về mặt pháp lý nhưng lại không bình đẳng về mặt thực tế do
sở hữu quyền lực không như nhau Và chính sự bất bình đẳng về quyền lực đã gây
ra nhiều hiện tượng nói trên trong QHQT Ngay cả Chủ nghĩa Hiện thực Mới khiđưa thêm hệ thống quốc tế vào thì cũng nhấn mạnh sự phân bố quyền lực trong hệthống là yếu tố quan trọng nhất quy định nên loại hình hệ thống quốc tế và tìnhtrạng ổn định hay bất ổn định của QHQT Nói một cách tóm lược, Chủ nghĩa Hiệnthực là một cách nhìn QHQT dưới như lăng kính quyền lực Và chính bởi sự nhấnmạnh đến vai trò quyền lực như vậy nên Chủ nghĩa Hiện thực có xu hướng tậptrung vào vai trò của các cường quốc hơn là các nước vừa và nhỏ Họ cho rằng cáccường quốc mới có khả năng chi phối, tạo ra các đặc điểm của nền chính trị quốc tế
và là lực đẩy cho các xu hướng trong QHQT Vì thế, họ thường quan tâm tới việccác nước lớn hành xử với nhau và với các nước nhỏ như thế nào hơn là ngược lại
1.2.2 An ninh và xung đột trong quan hệ quốc tế
Bởi quyền lực gắn liền với sức mạnh và an ninh nên lực lượng quân sự đượccoi là thành tố quyền lực quan trọng nhất Năng lực quân sự là “trọng tài cuối cùng củacác tranh chấp quốc tế” Sau này, nhiều thành tố khác đã được bổ sung như kinh
giữa chế độ với luật pháp hay lợi ích quốc gia, giữa những nước tham gia chế độ và giữa chế độ này với chế
độ khác Ví dụ khác là thuyết Ổn định bá quyền (Hegemonic Stability Theory) được Charles Kindleberger và
Robert Gilpin ủng hộ Theo đó, bá quyền có thể tạo ra một hệ thống các quy định và quy tắc giúp duy trì ổn định và hợp tác Những cũng như trên, thuyết này vẫn dựa vào quyền lực như quan niệm của Chủ nghĩa Hiện thực Theo đó, bá quyền được tạo dựng bởi quyền lực vượt trội và các quy định, quy tắc nó đề ra cũng
được duy trì và thực thi bằng quyền lực, tlđd.
Trang 26tế, khoa học-công nghệ,…6 nhưng lực lượng quân sự vẫn luôn được coi là thành tố
cơ bản không thể thiếu được Không những thế, sự phát triển kinh tế và khoa công nghệ cũng được coi là nguồn cho sự phát triển lực lượng quân sự khi kinh tếđem lại khả năng chiến thắng lâu dài, còn khoa học-công nghệ đem lại ưu thế về kỹthuật quân sự Tuy nhiên, quân sự và kinh tế vẫn có sự độc lập tương đối với nhaukhi không thay thế được cho nhau Kinh tế có thể chuyển hóa thành quân sự nhưngcần một quá trình lâu dài Tầm quan trọng của lực lượng quân sự đã được chứng tỏbằng sự phát triển vũ khí trong suốt quá trình lịch sử và bằng việc các quốc gia đềutìm cách duy trì lực lượng quân sự kể cả trong thời bình
học-Theo Chủ nghĩa Hiện thực, lực lượng quân sự vẫn được duy trì và phát triểntrong thời bình vẫn có tác dụng răn đe, kiềm chế, gây áp lực,… không chỉ nhằm bảođảm an ninh mà còn nhằm giành quyền lực lớn hơn Tuy nhiên, đến thời hiện đại,
đã có những tranh luận ngay trong chính các nhà theo Chủ nghĩa Hiện thực về mức
độ quan trọng của các thành tố quyền lực Một số người cho rằng quân sự vẫn làthành tố quan trọng nhất trong khi một số người khác lại cho rằng kinh tế và khoahọc-công nghệ đang ngày càng nổi lên và vai trò của lực lượng quân sự đã giảm sútkhi không còn dễ dàng tiến hành chiến tranh như trước
Tình trạng xung đột và chiến tranh vì quyền lực có thể được hạn chế bằngviệc thiết lập cân bằng quyền lực chứ không phải bằng luật pháp quốc tế và thể chếquốc tế Cân bằng quyền lực được coi là có thể ngăn chặn được chiến tranh bởi vìkhông ai dám gây chiến do không chắc chắn sẽ giành được thắng lợi trong cuộcchiến giữa những kẻ “ngang sức” Cân bằng quyền lực có thể giúp đem lại sự ổnđịnh và trật tự bởi các bên đều không muốn tiếp tục chạy đua vũ trang và kéo dàitình trạng căng thẳng dễ dẫn đến chiến tranh Cân bằng tương đối vững có thể giúpduy trì ổn định lâu dài trong QHQT Ngược lại, mất cân bằng hoặc cân bằng khôngvững có thể tạo ra bất ổn trong quan hệ giữa các quốc gia Bên cạnh đó, cân bằngquyền lực còn có ý nghĩa hệ thống khi để nhằm ngăn chặn sự thống trị hay sự vượt
6 Hoàng Khắc Nam, Quyền lực trong quan hệ quốc tế - Lịch sử và Vấn đề, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội
2011.
Trang 27trội quyền lực của quốc gia nào đó Cân bằng quyền lực có thể được thực hiện bằnghai cách: Cân bằng bên trong (xây dựng sức mạnh quốc gia bằng các năng lực bảnthân) và cân bằng bên ngoài (kết hợp sức mạnh của mình với sức mạnh của nướckhác bằng liên minh) Quyền lực mới là thứ đem lại sự cân bằng thực sự còn luật lệhay nguyên tắc thỏa thuận không đem lại điều đó.7 Đối với nhiều nhà Chủ nghĩaHiện thực, cân bằng nhằm đảm bảo an ninh cho các nước nhiều hơn là vì hòa bình.Tuy nhiên, trong vấn đề này, giữa các nhà Chủ nghĩa Hiện thực vẫn tồn tại ít nhấthai tranh luận Một là cân bằng quyền lực được tự động hình thành có tính kháchquan (Kenneth Waltz) hay là do sự sáng tạo của các nhà hoạch định chính sách(Henry Kissinger) Hai là cân bằng hai cực hay đa cực giúp duy trì ổn định quốc tếtốt hơn.
1.3 Khái quát vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên
1.3.1 Quá trình phát triển
CHDCND Triều Tiên khởi đầu quá trình nghiên cứu hạt nhân của mình ngaysau khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953 Tháng 12/1985, CHDCND TriềuTiên tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) Nửa đầu thập kỉ 80(1980-1986), Mỹ phát hiện CHDCND Triều Tiên đã có lò phản ứng hạt nhân có thểsản xuất plutonium dùng cho việc chế tạo vũ khí hạt nhân Năm 1991, CHDCNDTriều Tiên đã thử thành công tên lửa tầm trung Mỹ hết sức lo ngại và đề nghị Cơquan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA tiến hành việc thanh sát vũ khí hạt nhâncủa CHDCND Triều Tiên CHDCND Triều Tiên phản ứng lại bằng cách đòi Mỹphải rút quân khỏi Hàn Quốc, xóa bỏ sự đe dọa đối với CHDCND Triều Tiên mớicho thanh sát vũ khí hạt nhân Sự đối đầu về vấn đề hạt nhân giữa CHDCND TriềuTiên và Mỹ khởi sự từ đó
Ngày 30/11/1992, CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc cùng IAEA kí “Hiệpđịnh Bảo đảm an ninh toàn diện” và ngày 19/2/1993, CHDCND Triều Tiên và Hàn
7 Chủ nghĩa Hiện thực cho rằng luật pháp quốc tế và các thể chế quốc tế thiếu hiệu lực vì không có sức mạnh cưỡng chế Muốn thực thi được luật pháp thì cần có quyền lực Các thể chế quốc tế muốn hoạt động hiệu quả cũng
cần phải có quyền lực, tlđd.
Trang 28Quốc kí Tuyên bố chung phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên Đoàn thanh sát hạtnhân quốc tế của IAEA sau 6 lần thanh sát không phát hiện điều gì trong khi Mỹkhẳng định CHDCND Triều Tiên sở hữu kĩ thuật chế tạo vũ khí hạt nhân.CHDCND Triều Tiên lại tiếp tục phóng vệ tinh, thử tên lửa và tuyên bố thử vũ khíhạt nhân Quan hệ giữa Mỹ và CHDCND Triều Tiên rất căng thẳng.
Đầu thế kỷ 21, vấn đề này một lần nữa thực sự trở thành mối lo ngại của cácnước trên thế giới khi Mỹ tuyên bố CHDCND Triều Tiên sở hữu hạt nhân vàotháng 10/2002 và đang tiếp tục sản xuất hạt nhân nên Mỹ dừng hiệp định năm 1993– 1994 đã ký với nước này Còn CHDCND Triều Tiên cũng rút khỏi Hiệp ướckhông phổ biến vũ khí (NPT), tuyên bố vận hành trở lại các cơ sở hạt nhân, tiếp tụcxây dựng nhà máy điện nguyên tử, trục xuất thanh sát viên của LHQ và tuyên bố trảđũa Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ
06/01/2003, khi CHDCND Triều Tiên tuyên bố rút khỏi Hiệp ước không phổbiến vũ khí hạt nhân (NPT), trong cuộc điện đàm với tổng thống Mỹ G.Bush, chủtịch nước CHDCND Trung Hoa Giang Trạch Dân đã nêu rõ Trung Quốc không tánthành việc CHDCND Triều Tiên rút khỏi NPT và Trung Quốc luôn chủ trương mộtbán đảo Triều Tiên không có vũ khí hạt nhân8 Đứng trước cuộc khủng hoảng hạtnhân trên bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc đã đề xuất việc thiết lập cơ chế đàm phán
6 bên bao gồm: Trung Quốc, Nga, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản và CHDCNDTriều Tiên để giải quyết vấn đề hạt nhân Mục tiêu của các vòng đàm phán này làtiến hành phi hạt nhân hoá trên bán đảo Triều Tiên; chuyển cơ chế đình chiến bánđảo Triều Tiên sang cơ chế hoà bình lâu dài; ngăn chặn những tàn dư của chiếntranh lạnh và đưa ra một cơ chế hợp tác cho khu vực Đông Á trên nhiều phươngdiện: kinh tế, chính trị, an ninh
Từ tháng 08/2003, các vòng đàm phán 6 bên về vấn đề vũ khí hạt nhân trênbán đảo Triều Tiên bắt đầu được tiến hành Trong các vòng đàm phán thứ nhất(08/2003), thứ 2 (02/2004) và thứ 3 (06/2004), những kết quả đạt được là không
8 “10 năm quan hệ Trung - Hàn”, Tạp chí Quan hệ quốc tế hiện đại số tháng 03/2003 TTXVN, tài liệu tham
khảo đặc biệt ngày 08/06/2003.
Trang 29mấy khả quan, tiến trình đàm phán diễn ra chậm chạp do những bất đồng trong quanđiểm và thái độ nghi kỵ lẫn nhau từ cả hai phía CHDCND Triều Tiên và Hoa Kỳ.Thậm chí, vòng đàm phán thứ 4 đã gần như không thể có nếu không có sự can thiệp
từ phía Trung Quốc
Trong vòng đàm phán thứ 4 (2005), Trung Quốc đã bổ nhiệm Nguyên đại sứTrung Quốc tại Nhật Bản, Hàn Quốc Vũ Đại Vĩ là trưởng đoàn đàm phán thay thế choThứ trưởng ngoại giao Vương Nghị trước đây với hi vọng rằng với sự thay thế mộtcựu đại sứ từng làm việc tại Nhật Bản và Hàn Quốc (hai quốc gia trong đàm phán 6bên) sẽ có sự thông hiểu với nhau trong sự trao đổi lợi ích và dẫn tới những biếnchuyển cho vấn đề hạt nhân Cũng trong thời gian này, đối với Mỹ, Trung Quốc cũngtiến hành các hoạt động “ngoại giao con thoi” tới CHDCND Triều Tiên và Mỹ để tìmkiếm những giải pháp thích hợp Cần chú ý rằng trong thời điểm đó, tình hình hạt nhântại bán đảo Triều Tiên có sự căng thằng do tuyên bố của Bộ ngoại giao CHDCNDTriều Tiên: “CHDCND Triều Tiên hiện đã trở thành một nước vũ khí hạt nhân đầy đủ.Các cuộc đàm phán 6 bên nên chuyển thành các cuộc đàm phán về giải pháp vũ khí hạtnhân mà tại đó các nước tham dự sẽ thương lượng về vấn đề này trên cơ sở bìnhđẳng” Tuyên bố đó thực sự đã gây ra chấn động với thế giới và khiến cho đàm phán 6bên có nguy cơ tan rã Trước tình hình đó, song song với những hoạt động ngoại giao,Trung Quốc cũng gây sức ép lên phía CHDCND Triều Tiên như việc huỷ bỏ chuyếnthăm chính thức CHDCND Triều Tiên của Chủ tịch nước CHDCND Trung Hoa HồCẩm Đào vào 05/2005 Tuy nhiên, tháng 07/2005, Uỷ viên quốc vụ viện Trung QuốcĐường Gia Triền đã có chuyến thăm Bình Nhưỡng nhằm thúc đẩy việc nối lại cácvòng đàm phán Những cố gắng đó của Trung Quốc đã dẫn tới kết quả là 26/07/2005,vòng đàm phán thứ 4 được nối lại tại Bắc Kinh Kết quả của vòng đàm phán này làTuyên bố chung 6 điểm được đưa ra với nội dung cơ bản như: CHDCND Triều Tiêncam kết từ bỏ tất cả vũ khí hạt nhân và các kế hoạch hạt nhân hiện thời; Mỹ khẳng địnhtôn trọng chủ quyền của CHDCND Triều Tiên; không có ý định tấn công CHDCNDTriều Tiên
Trang 30và sẽ thảo luận vấn đề xây dựng các lò phản ứng nước nhẹ cho CHDCND TriềuTiên vào thời điểm thích hợp.
Trên cơ sở những thoả thuận đã đạt được trong vòng đàm phán thứ 4, cácvòng đàm phán thứ 5 và thứ 6 cũng có nhiều tiến triển Các vòng đàm phán tiếptheo đó đạt được những thoả thuận đáng kể, trong đó đặc biệt phải kể đến Thoảthuận 13/02 tại vòng đàm phán thứ 5 và đặc biệt, trong vòng đàm phán thứ 6, cácbên đã đạt được thoả thuận về thời hạn chót cho việc CHDCND Triều Tiên đồng ýtiến hành khai báo và vô hiệu hoá các cơ sở hạt nhân trước cuối năm 2007 Phạm vi
vô hiệu hoá được tiến hành ở 3 cơ sở hạt nhân chính là Lò nguyên tử 5MW, cơ sởtái xử lý, nhà máy sản xuất thanh nhiên liệu hạt nhân Mức độ vô hiệu hoá là dỡ bỏmột số thiết bị và áp dụng biện pháp quản lý đặc biệt nhằm đảm bảo nếu muốn khôiphục những cơ sở này thì phải mất một năm Chủ thể tiến hành vô hiệu hoá là 5nước còn lại trong đàm phán 6 bên bao gồm Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, HànQuốc Đổi lại, CHDCND Triều Tiên sẽ nhận được viện trợ năng lượng, Hoa Kỳ sẽ
cố gắng đưa CHDCND Triều Tiên ra khỏi danh sách những nước tài trợ khủng bố
và ngừng áp dụng Luật thương mại với những nước kẻ thù Tuy nhiên đến ngày31/12/2007, tức hạn chót của thoả thuận thì CHDCND Triều Tiên lại trì hoãn việcthực hiện như cam kết, bao gồm việc vô hiệu hoá các nhà máy hạt nhân và công bốtoàn bộ thông tin về chương trình hạt nhân và tuyên bố sẽ làm chậm tiến độ giảigiáp vũ khí hạt nhân do sự chậm trễ của các nước trong việc cung cấp năng lượngcho nước này Trong thời điểm nhạy cảm đó, nhiều nước đã chỉ trích mạnh mẽCHDCND Triều Tiên đã không đáp ứng hạn chót 31/12 thì phát ngôn viên Bộ ngoạigiao Trung Quốc lại đưa ra một phát ngôn vô thưởng vô phạt rằng: việc CHDCNDTriều Tiên “lỗi hẹn là chuyện bình thường”9
Tháng 2/2008, đàm phán 6 bên (gồm Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, HànQuốc, CHDCND Triều Tiên) đã đạt được thỏa thuận phi hạt nhân trên bán đảoTriều Tiên, trên nguyên tắc “hành động đổi lấy hành động”: CHDCND Triều Tiên
9 “Triển vọng giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên”, Th.S Nguyễn Ngọc Hùng – Học viện
Quan hệ quốc tế.
Trang 31tiến hành giải trừ hạt nhân của mình; các nước liên quan thực hiện viện trợ kinh tế
và đảm bảo an ninh cho CHDCND Triều Tiên Theo thỏa thuận, CHDCND TriềuTiên đã dỡ bỏ tháp làm lạnh trong tổ hợp hạt nhân Yongbyon (tổ hợp hạt nhân lớnnhất của nước này); tiếp đến, Bình Nhưỡng đã công khai các tài liệu liên quan đếnchương trình hạt nhân của mình Đổi lại, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc đã cungcấp viện trợ kinh tế cho CHDCND Triều Tiên theo cam kết Ngày 12/10/2008, Mỹ
đã đưa CHDCND Triều Tiên ra khỏi danh sách “các nước tài trợ khủng bố” Đâyđược coi là bước khởi đầu tiến tới việc bình thường hóa quan hệ với Bình Nhưỡng.Tuy nhiên, đàm phán 6 bên ngày 12/12/2008 đã không đạt được thỏa thuận về kếhoạch tiếp theo trong việc kiểm chứng CHDCND Triều Tiên giải trừ hạt nhân; do
đó, tiến trình phi hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên bị gián đoạn
Ngày 6/ 4/2009, CHDCND Triều Tiên tiến hành phóng vệ tinh, mà nước nàytuyên bố là trong chương trình nghiên cứu không gian vì mục đích hòa bình Mỹ vàmột số nước phương Tây lại coi đây là vụ thử nghiệm tên lửa tầm xa và đe dọa tiếnhành các biện pháp trừng phạt nước này, đẩy quan hệ Mỹ và CHDCND Triều Tiênvào tình thế căng thẳng Ngày 25/5/2009, bất chấp sức ép từ phương Tây,CHDCND Triều Tiên đã tiến hành vụ nổ hạt nhân dưới lòng đất lần thứ hai (lần thứnhất vào năm 2006) Hành động này đã gây phản ứng gay gắt trong dư luận thế giới
và làm cho thỏa thuận phi hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên rơi vào bế tắc
Xung đột tiếp diễn đến 19/12/2011, lãnh đạo Kim Jong Il qua đời, con traiông Kim Jong Un trở thành lãnh đạo tối cao CHDCND Triều Tiên Tháng 2/2012,lãnh đạo mới của CHDCND Triều Tiên đã đồng ý dừng các vụ thử nghiệm vũ khíhạt nhân và làm giàu uranium, cho phép thanh tra quốc tế giám sát các hoạt độngnày để đổi lại cam kết viện trợ lương thực của Mỹ Xung đột giữa CHDCND TriềuTiên với thế giới trong việc tìm ra tiếng nói chung để giải quyết vấn đề hạt nhânbước sang giai đoạn hòa dịu Tuy nhiên, nhà lãnh đạo trẻ Kim Jong Un cũng nhanhchóng sử dụng con bài hạt nhân như một cách thể hiện vai trò lãnh đạo tối cao củamình với CHDCND Triều Tiên cũng như với thế giới bằng việc đẩy xung đột leothang trở lại
Trang 32Ngày 23/1/2013, Hội đồng Bảo an LHQ đã lên án vụ phóng sử dụng công nghệ tênlửa đạn đạo của Triều Tiên vào ngày 12/12/2012 Sau đó ngày 12/2/2013, TriềuTiên tiến hành thử hạt nhân lần ba Hội đồng Bảo an LHQ tiếp tục ra Nghị quyết
2094 gia tăng trừng phạt Triều Tiên Triều Tiên liên tục đưa ra tuyên bố đe dọa trảđũa Vài giờ trước khi Hội đồng Bảo an LHQ thông qua Nghị quyết 2094, TriềuTiên đe dọa tấn công hạt nhân phủ đầu đối với Mỹ Từ đây bắt đầu một giai đoạnleo thang căng thẳng liên tục trong quan hệ giữa CHDCND Triều Tiên với HànQuốc và thế giới Ngày 8/3, Triều Tiên tuyên bố hủy bỏ hiệp định đình chiến năm
1953 và cắt đường dây nóng với Hàn Quốc Ngày 11/3, Hàn Quốc và Mỹ tập trậnthường niên Hôm sau, Chủ tịch Kim Jong-un chỉ thị lấy đảo Baengnyeong làmmục tiêu đầu tiên Ngày 20/3, Bộ Quốc phòng Mỹ thông báo đã điều động một pháođài bay B-52 đến Hàn Quốc tập trận Hôm sau, Triều Tiên tuyên bố sẵn sàng tấncông căn cứ Mỹ ở Nhật và đảo Guam Ngày 26/3, Quân đội Triều Tiên nhận chỉ thịsẵn sàng chiến đấu Ngày 30/3, Triều Tiên tuyên bố đặt đất nước trong tình trạngchiến tranh với Hàn Quốc Ngày 7/4, Trung Quốc cảnh báo giới hạn các hành độngcủa các bên liên quan đến cuộc xung đột, đặc biệt là Triều Tiên, Chủ tịch Tập CậnBình đã nói: “không ai có quyền được đẩy khu vực và thậm chí cả thế giới vào tìnhtrạng hỗn loạn vì mục đích ích kỉ của bản thân”
Tháng 2/2013, Triều Tiên thực hiện vụ thử nghiệm hạt nhân lần thứ ba vàtuyên bố quả bom nhỏ và nhẹ hơn hai lần trước, nhưng có sức công phá lớn hơn.Tháng 3/2013, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua lệnh trừng phạt mới đốivới Triều Tiên
Tháng 4/2013, Triều Tiên tuyên bố sẽ tái khởi động Nhà máy hạt nhânYongbyon để cung cấp vật liệu cho chương trình vũ khí và phát điện hạt nhân củanước này
Ngày 18/5/2013, Triều Tiên phóng 3 tên lửa dẫn đường tầm trung vào khuvực biển phía đông của bán đảo Triều Tiên Hôm sau, Triều Tiên lại tiếp tục phóngmột tên lửa tầm ngắn nữa vào khu vực này
Trang 33Cho đến nay, tình hình phát triển hạt nhân của CHDCND Triều Tiên vẫn làkhi nóng, khi lạnh Sau một thời gian, Triều Tiên lại có tuyên bố về thử/phóng vũkhí hạt nhân và rồi thế giới lại tiến hành các nỗ lực ngoại giao để tìm kiếm giải phápcho vấn đề này và Triều Tiên chấp nhận, sau đó tình hình lại tái diễn và vấn đề hạtnhân của CHDCND Triều Tiên vẫn đang ở tình trạng bế tắc, chưa tìm được hướnggiải quyết mới10.
1.3.2 Quy mô
1.3.2.1 Tổ hợp hạt nhân Yongbyon
Cơ sở hạt nhân lớn nhất được biết đến ở CHDCND Triều Tiên được đăt tại
tổ hợp hạt nhân Yongbyon Tổ hợp này gồm 1 lò phản ứng 5- megawatt, được bắtđầu xây dựng vào năm 1980, một cơ sở sản xuất nhiên liệu và một nhà máy xử lýpluton, nơi nguyên liệu ở cấp độ vũ khí được chiết xuất từ các thanh nhiên liệu qua
đã sử dụng Theo nhận định của các chuyên gia, khi được hoạt động hết công suất,Yongbyon có thể sản xuất đủ nhiên liệu cho một quả bom nguyên tử trong vòng mộtnăm Trong thực tế, với khoảng 20 năm phát triển khu tổ hợp này, các công
10 Timeline of North Korea’s nuclear program
http://www.nytimes.com/interactive/2013/02/05/world/asia/northkorea-timeline.html?_r=0
Trang 34nhân đã phân tách thành công lượng Plutonium đủ để sản xuất một số vũ khí hạt nhân.Theo hầu hết các đánh giá, CHDCND Triều Tiên có khoảng 30-50kg Plutonium đãphân tách Chính Triều Tiên cũng tuyên bố lượng Plutonium đã phân tách nằm trongkhoảng gần mức 50kg11 Từ sau năm 2009, do CHDCND Triều Tiên phải tháo dỡ mộtphần lò phản ứng sản xuất hạt nhân theo những điều khoản đã kí kết của vòng đàmphán 6 bên nên lượng dự trữ Plutonium không tăng lên nhiều.
Tuy nhiên, CHDCND Triều Tiên không vì việc đóng cửa cơ sở Yongbyon
mà dừng quá trình làm giàu Uranium của mình Ba vị khách người Mỹ RobertCarlin, Siegfried Hecker và John W Lewis đã phát hiện ra một phần cơ sở làm giàuuranium của Triều Tiên vào tháng 11/2010 Cơ sở này là một bộ phận của cơ sở sảnxuất nhiên liệu hạt nhân ở Yongbyon được xây dựng từ sau tháng 4/2009 (sau lầncuối cùng thanh tra cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA đến thanh trắcTriều Tiên) Cơ sở được cho là có khoảng 2000 máy li tâm và có công suất thiết kế
đủ để sản xuất 40kg Uranium có độ giàu cao (HEU) mỗi năm – đủ để sản xuất 2 vũkhí hạt nhân lắp ráp theo kiểu nổ kín.12
Mục tiêu theo đuổi công nghệ làm giàu Uranium ở qui mô công nghiệp củaCHDCND Triều Tiên ít nhất đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỉ 21 nhưng chứng
cứ về quá trình làm giàu uranium đã có từ trước đó rất lâu.13 Điều này khiến chongoài lần tình cờ bị các khách thăm quan Mỹ phát hiện năm 2010 thì rất khó để ướctính trữ lượng HEU của Triều Tiên
1.3.2.2 Một số vũ khí hạt nhân CHDCND Triều Tiên được cho là đang sở hữu
Thông tin về quy mô hạt nhân của CHDCND Triều Tiên luôn có tính chấttương đối do đây được coi là bí mật quốc gia Theo một số báo cáo và tài liệu, Triều
11 North Korean Security Challenges: A Net Assessment (London: IISS, 2011), ch.5; và David Albright and
Christina Walrond, NorthKorea’s Estimated Stocks of Plutonium and Weapon-Grade Uranium (Washington DC:
Institute for Science and International Security, 16 August 2012)
12 Siegfried S Hecker, A Return Trip to North Korea’s Yongbyon Nuclear Complex, Center for Internationl
Security and Cooperation, Stanford University, 20 November 2010
13 Theo ước tính của CIA trình lên Quốc hội vào ngày 19/11/2002 có nhận định rằng “Cách đây 2 năm, CHDCND Triều Tiên đã bắt tay vào xây dựng chương trình làm giàu uranium dùng máy li tâm”.
Trang 35Tiên được tin là sở hữu hơn 1.000 quả tên lửa khả năng khác nhau, trong đó có cáctên lửa tầm xa có thể tấn công Mỹ một ngày nào đó.
Chương trình tên lửa của Bình Nhưỡng đã tiến bộ trong vài thập niên qua từcác pháo phản lực chiến thuật vào những năm 1960 và 70 tới các tên lửa đạn đạotầm trung và tầm ngắn vào những năm 1980 và 90 Các tên lửa có tầm bắn xa hơnđược tin là đang được nghiên cứu và phát triển Vào năm 1984, Triều Tiên đã thiết
kế các tên lửa Scud của riêng mình, Hwasong-5 và Hwasong-6, cũng như một loạitên lửa tầm trung, Nodong Tên lửa mới nhất của Triều Tiên kết hợp các công nghệnày là một loại tên lửa tầm xa, Taepodong Đến năm 2006 và 2009, Triều Tiên đãbắn thử một loại tên lửa mới tên gọi Taepodong-2 mà các chuyên gia có tầm bắn lêntới nhiều nghìn km
Đồ họa mô phỏng tầm xa của các tên lửa Triều TiênTheo đồ họa trên, từ điểm phóng CHDCND Triều Tiên, nếu sử dụng tên lửaNodong sẽ có bắn trong phạm vi bán kính 1000km, tới được Hàn Quốc, Nhật Bản,một phần Trung Quốc và Mông Cổ Nếu sử dụng tên lửa Taepodong-1 với tầm bắn
Trang 362200km có thể phá hủy Trung Quốc, Nga, toàn bộ khu vực Đông Nam Á Sử dụngtên lửa Musudan với tầm bắn 4000km có thể bắn tới Alaska - Hoa Kỳ, Nga và cácnước Đông Âu, toàn bộ khu vực Nam Á và châu Úc Nếu CHDCND Triều Tiêndùng tên lửa Taepodong-1 với tầm bắn 6000km, toàn bộ châu Á và một nửa châu
Âu có thể bị phá hủy hoàn toàn, Mỹ và Canada có thể chịu tổn thất ở khu bờ Tâykhi tên lửa vượt qua Thái Bình Dương
Các tên lửa chủ chốt của Triều
Tiên Các tên lửa tầm ngắn
Theo Trung tâm nghên cứu không phổ biến vũ khí hạt nhân Hoa Kỳ, TriềuTiên được tin sở hữu nhiều tên lửa tầm ngắn, như KN-02, có thể bay xa 120km vànhắm tới các địa điểm quân sự tại Hàn Quốc Triều Tiên cũng sở hữu các tên lửaHwasong-5 và Hwasong-6, hay còn gọi là Scud-B và C, có tầm bắn xa hơn, 300 và500km Các tên lửa này có thể mang đầu đạn thông thường, nhưng cũng có thể cókhả năng mang đầu đạn hạt nhân, hoá học và sinh học
Tên lửa Nodong
Trang 37Cuối những năm 1980, Triều Tiên đã theo đuổi một chương trình nhằm chếtạo tên lửa mới, được gọi là Nodong, với tầm xa khoảng 1.000km Mục tiêu tiềmnăng của nó là Nhật Bản Theo báo cáo tháng 3/2006 của Trung tâm nghiên cứukhông phổ biến vũ khí hạt nhân Mỹ, kết luận rằng Nodong có sai số khoảng 2-4km,
có nghĩa là 50% số tên lửa được bắn ra có thể rơi ngoài bán kính mục tiêu Do đó,các nhà phân tích tin rằng nếu Nodong được sử dụng như một vũ khí chống lạiNhật Bản, nó có thể dẫn tới thương vong cao đối với các dân thường
Tên lửa Musudan
Tên lửa Musudan, được biết tới là Nodong-B hay Taepodong-X, là tên lửađạn đạo tầm trung Các mục tiêu tiềm năng của nó là Okinawa (Nhật Bản) và cáccăn cứ của Mỹ tại Thái Bình Dương Ước tính tầm bắn của Musudan rất khác nhau.Tình báo Israel tin rằng Musudan có tầm xa 2.500km, trong khi Cơ quan phòng thủtên lửa Mỹ nói Musudan có tầm xa 3.200km, các nguồn tin khác ước tính giới hạncao nhất là 4.000km Do Musudan chưa bao giờ được thử nghiệm công khai nênhiện nay những thông tin về nó còn khá hạn chế
Tên lửa Taepodong-1 và 2 (bao gồm cả tên lửa đẩy Unha)
Dựa vào các bức ảnh vệ tinh, Liên hiệp các nhà khoa học Mỹ (FAS) cho rằngCHDCND Triều Tiên sở hữu tên lửa tầm xa Taepodong-1 - được biết tới làPaektusan-1 tại Triều Tiên - với tầm xa ước tính 2.200km, nhưng được cho là thậmchí còn thiếu chính xác hơn Nodong Taepodong-1 được tin là đã được bắn thử mộtlần vào tháng 8/1998 với chức năng là tên lửa đẩy nhằm đưa một vệ tinh nhỏ vàoquỹ đạo thấp của trái đất Theo một số thông tin thì tên lửa này đã hoạt động khôngnhư mong đợi ban đầu nên chỉ có thể sử dụng như một tên lửa đẩy thay vì một tênlửa quân sự tầm trung
So với Taepodong-1, Taepodong-2 - hay Paektusan-2 - cũng là một tên lửađạn đạo 2-3 tầng được coi là một tiến bộ vượt bậc với tầm xa của nó nước tính từ5.000-15.000km Taepodong-2 được thử nghiệm 2 lần, vào năm 2006 và 2009nhưng cả 2 lần đầu thất bại Nếu tên Taepodong-2 được phóng thành công và đạt
Trang 38tới tầm xa tối đa như dự đoán, sức mạnh của nó có thể đặt Australia và các khu vựccủa nước Mỹ, cùng các nước khác, trong tầm ngắm.
Có thể thấy, quy mô và số lượng vũ khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên
sở hữu không phải là lớn nếu như so với Mỹ, Nga Tuy nhiên, với tính hủy diệtmạnh mẽ của các loại vũ khí hạt nhân này, CHDCND Triều Tiên hoàn toàn có thểphá hủy một phần thế giới Với việc sở hữu các loại tên lửa tầm trung và tầm xa,Triều Tiên có thể đe dọa đến sự tồn tại của nhân loại, làm thay đổi thế giới Đó là lí
do vì sao tuy lượng vũ khí hạt nhân của Triều Tiên không lớn nhưng vẫn làm thếgiới phải đau đầu
1.4 Tiểu kết
Lý thuyết chủ nghĩa hiện thực trong QHQT là một lý thuyết đã có từ lâu đời,được đúc rút từ thực tế các cuộc chiến tranh liên tiếp xảy ra ở phương Tây tronglịch sử Khởi điểm ban đầu của chủ nghĩa hiện thực là những phân tích về quyền lực
và an ninh khi các quốc gia trong quá khứ phải nỗ lực để tự bảo vệ mình trong môitrường vô chính phủ Các nhà hiện thực học đã nhận thấy mục tiêu cao nhất củaquốc gia là tồn tại, và vì tồn tại nên các quốc gia chạy đua vũ trang để đảm bảo anninh Điều này khiến cho việc gia tăng quyền lực trở nên cần thiết bởi quyền lựcđược tăng cường thì khả năng tồn tại của quốc gia càng cao, và để tăng cườngquyền lực thì các quốc gia không ngừng gây ảnh hưởng tới các quốc gia khác, giatăng sức mạnh an ninh quân sự để nâng cao thực lực, đe dọa các quốc gia khác
Tới thời hiện đại, qua hai cuộc đại chiến thế giới và Chiến tranh Lạnh, các lýthuyết QHQT trong đó có lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực được tổng hợp lại vàphân tích sâu hơn Lý thuyết chủ nghĩa hiện thực được sử dụng nhiều để lý giải các
sự kiện quốc tế và các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng: thế giới liên tục bất ổn, cácquốc gia vẫn phải tăng cường sức mạnh an ninh, gia tăng ảnh hưởng của mình đểthu được quyền lợi lớn nhất
Chương trình phát triển hạt nhân của CHDCND Triều Tiên đã có từ trongChiến tranh Lạnh với sự giúp đỡ của các nước trong khối XHCN, tuy nhiên khiLiên bang Xô viết sụp đổ, CHDCND Triều Tiên chịu sức ép to lớn trong việc lựa
Trang 39chọn con đường phát triển trong tương lai dưới bối cảnh của một thế giới đang cangợi sự thắng thế của nhóm các nước TBCN Quyết định giữ vững lập trường tưtưởng đi theo XHCN, CHDCND Triều Tiên quyết định tiếp tục duy trì và phát triểnchương trình hạt nhân để đảm bảo sức mạnh an ninh, tránh nguy cơ tan rã do cácthế lực thù địch gây nên.
Việc CHDCND Triều Tiên phát triển chương trình hạt nhân gây quan ngạicho thế giới Các cường quốc trên thế giới đã nhóm họp để đưa ra những giải pháp
để đảm bảo an ninh chung cho cả nhân loại bởi tính nguy hiểm của vũ khí hạt nhân.Hiện nay, sau nhiều nỗ lực, chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên cũng ítnhiều được kìm giữ về số lượng, các lò phản ứng hạt nhân đã ngừng hoạt độngnhưng các vũ khí hạt nhân hiện đang sở hữu vẫn chưa tìm được hướng giải quyếtthích hợp do chính các quốc gia trên bàn đàm phán cũng vì lợi ích quốc gia mìnhnhiều hơn vì lợi ích an ninh chung của thế giới
Trang 40CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN CHDCND TRIỀU TIÊN PHÁT TRIỂN
HẠT NHÂN DƯỚI GÓC ĐỘ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
2.1 Cấp độ cá nhân
Trong quá trình phát triển vũ khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên, vai tròcủa người lãnh đạo là không thể phủ nhận Khi nhà nước theo mô hình chuyên chếthì ý niệm và hành động của người lãnh đạo có sức ảnh hưởng quan trọng tới chiềuhướng phát triển quốc gia Khởi nguồn của việc lý thuyết QHQT coi trọng vai tròcủa người lãnh đạo là một số nghiên cứu về bản chất con người của thuyết “Người
vĩ đại” (The Great Man) trong triết học khi cho rằng phẩm chất lãnh đạo của con
người là bản sinh với những quyết định chuẩn xác trong những hoàn cảnh ngặtnghèo Sau này, các học giả đã nghiên cứu một số lãnh tụ nổi tiếng trong hai cuộcchiến tranh thế giới đã khái quát lên một cấp độ phân tích trong QHQT Các nhàhiện thực học tập trung nghiên cứu vào việc ra quyết định của người lãnh đạo dựatrên các bối cảnh liên quan: thân thế, quá trình phát triển, môi trường và thế giớiquan xung quanh Dựa trên cách tiếp cận tâm lý học, các nhà hiện thực giải thích vềcác hành vi của các nhà lãnh đạo quốc gia
Quá trình nghiên cứu vai trò người lãnh đạo khi phát triển vũ khí hạt nhân ởCHDCND Triều Tiên còn gặp nhiều khó khăn do giới hạn tiếp cận về tài liệu.Chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên gắn với 3 vị lãnh
tụ của đất nước này: Kim Il Sung (Kim Nhật Thành), Kim Jong Il (Kim ChínhNhật) và Kim Jong Un (Kim Chính Ân) Trong phạm vi luận văn, tác giả chú ý vàquan tâm chủ yếu tới chủ tịch Kim Jong Il và Kim Jong Un bởi những căng thẳng
và mâu thuẫn giữa Triều Tiên với thế giới khi phát triển vũ khí hạt nhân chủ yếu từgiai đoạn của chủ tịch Kim Jong Il và tại sao chủ tịch Kim Jong Un sau khi kếnhiệm cha mình vẫn tiếp tục phát triển con đường này