LỜI CẢM ƠNTrong quá trình triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu “Chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” của Đài Tiếng nói Việt Nam trong bối cảnh truyền thông
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-NGUYỄN LAN PHƯƠNG
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH “DÀNH CHO ĐỒNG BÀO VIỆT NAM Ở XA TỔ QUỐC” CỦA ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG
ĐA PHƯƠNG TIỆN
(Khảo sát từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-NGUYỄN LAN PHƯƠNG
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH “DÀNH CHO ĐỒNG BÀO VIỆT NAM Ở XA TỔ QUỐC” CỦA ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG
ĐA PHƯƠNG TIỆN
(Khảo sát từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016)
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Thị Thu Hương
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Thị Thu Hương Các số liệu, kết quả nêutrong luận văn là trung thực, có nguồn tham khảo rõ ràng và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Lan Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu “Chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” của Đài Tiếng nói Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện (Khảo sát từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016)”, tác giả luận văn luôn nhận
được sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Đặng Thị Thu Hương, Khoa Báo chí vàTruyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốcgia Hà Nội c ng lãnh đạo và các đồng nghiệp đang công tác tại Ph ng Việtkiều, Hệ phát thanh đối ngoại quốc gia, Đài Tiếng nói Việt Nam Trong điềukiện hạn chế về thời gian, địa bàn nghiên cứu lại khá rộng nên luận văn chắcchắn s không tránh khỏi những sơ suất Tác giả rất mong nhận được sự đónggóp của Hội đồng, của thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoànthiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 9
7 Kết cấu đề tài 10
Chương 1 THÔNG TIN DÀNH CHO NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VÀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH “DÀNH CHO ĐỒNG BÀO VIỆT NAM Ở XA TỔ QUỐC” 11
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 11
1.2 Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài 18
1.3 Diện mạo các kênh đối ngoại dành cho người Việt Nam ở nước ngoài 266
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” 34
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2 THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH “DÀNH CHO ĐỒNG BÀO VIỆT NAM Ở XA TỔ QUỐC” CỦA ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 41
2.1 Kết cấu chương trình 41
2.2 Nội dung chính của chương trình 48
2.3 Hình thức thể hiện 57
2.4 Quy trình sản xuất 72
Tiểu kết chương 2 80
Chương 3 ĐÁNH GIÁ THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ VÀ ĐỀ XUẤT KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH 82
Trang 63.1 Thời cơ và thách thức đối với chương trình phát thanh "Dành cho người
Việt Nam ở nước ngoài" trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 82
3.2 Thành công và hạn chế của chương trình 86
3.3 Nguyên nhân thành công và hạn chế của chương trình 94
3.4 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình 96
Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 109
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU TỪ VIẾT TẮT
VOV5 Hệ phát thanh đối ngoại quốc gia
VOV1 Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp
VOV2 Hệ Văn hóa Đời sống Khoa giáo
VOV3 Hệ Âm nhạc Thông tin giải trí
Ban truyền hình đối ngoại, Đài Truyền hình
VTC Đài Truyền hình kỹ thuật số
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG - BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ Danh mục bảng
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát dung lượng dành cho thông tin chính trị trongchương trình 52Bảng 2.2: So sánh chuyên mục trong chương trình phát thanh truyền thống vàchương trình đăng trên trang thông tin điện tử 77
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Nội dung thông tin phản ánh trong chương trình phát thanh
“Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” 48Biểu đồ 2.2: Thống kê số video của trang web tiếng Việt trên vovworld.vn từtháng 10/2015 đến tháng 4 năm 2016 8080
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại b ng nổ thông tin, các phương tiệntruyền thông hiện đại đang có những bước phát triển vượt bậc Chưa bao giờphát thanh, truyền hình, báo điện tử lại phát triển với tốc độ mạnh m như hiệnnay Chính điều này đã tạo cho công chúng nhiều cơ hội thuận lợi trong việctiếp nhận thông tin Song c ng với điều đó, các thế lực th địch cũng ra sức lợidụng sự thuận lợi này h ng thực hiện các mưu đồ chính trị của mình Thôngtin đối ngoại đóng một vai tr vô c ng quan trọng trong thời đại hội nhập ởnước ta hiện nay Việc tăng cường thông tin tuyên truyền cho cộng đồngngười Việt Nam ở nước ngoài giúp cho họ hiểu biết đúng đắn và kịp thời vềđất nước là vấn đề hết sức quan trọng
Nhận thức được điều đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước tađặc biệt quan tâm đến công tác thông tin đối ngoại, trong đó có công tác thôngtin tuyên truyền cho đồng bào Việt Nam sống xa Tổ quốc trên Đài Tiếng nóiViệt Nam Để đáp ứng nhu cầu thông tin của kiều bào sống xa Tổ quốc,chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” của
Hệ phát thanh đối ngoại quốc gia, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV5) đóng mộtvai tr quan trọng trong việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng,Nhà nước tới đông đảo người Việt Nam đang làm ăn, sinh sống, học tập ởnước ngoài Chương trình này nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin hai chiềugiữa cộng đồng người Việt Nam sống xa Tổ quốc và thân nhân sống trongnước, giúp cho bà con kiều bào tiếp nhận được nhiều thông tin về sự pháttriển của đất nước qua những thông tin về chính trị, kinh tế, xã hội của nướcnhà Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều nhóm đối tượng vớinhững đặc điểm khác nhau bởi họ ra đi trong những hoàn cảnh khác nhau Do
đó, việc nghiên cứu đề tài c n nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả đấu tranhchống những luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực th địch và bọn
Trang 10phản động lưu vong với âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” Ngoài chức
năng thông tin, chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa
Tổ quốc” c n có nhiệm vụ quan trọng trong việc duy trì nền văn hóa ViệtNam, trong đó có việc giữ gìn bản sắc tiếng Việt trong cộng đồng người ViệtNam ở nước ngoài đặc biệt là thế hệ trẻ kiều bào
Với sự phát triển của công nghệ truyền thông trong bối cảnh truyềnthông đa phương tiện đặc biệt là áp lực cạnh tranh quyết liệt của các phương
tiện truyền thông đại chúng hiện nay, chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” của VOV5 cần phải kịp thời đổi mới và
nâng cao chất lượng để chương trình trở thành món ăn tinh thần của bà conkiều bào Để làm được điều này, chúng ta cần có sự nghiên cứu, đánh giáthực tiễn chất lượng và hiệu quả chương trình và đề xuất các biện pháp khắcphục những bất cập, c n tồn tại của chương trình
Tác giả chọn và nghiên cứu đề tài: Chương trình phát thanh “Dành cho
đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện với mục đích nâng cao hiệu quả tuyên truyền đối ngoại, cải tiến theo
hướng nâng cao tính đa dạng và tính thuyết phục nhằm tạo được sức thu húttrong thời đại kỷ nguyên số với cuộc đua cạnh tranh về thông tin khốc liệtnhư hiện nay
Là phóng viên của chương trình, khi nghiên cứu đề tài này, tác giảmong muốn góp sức mình trong việc tìm ra những cách thức để chương trìnhngày một sống động, hấp dẫn, thực sự là cầu nối giữa những người Việt Nam
ở nước ngoài với đất nước Tác giả cũng hi vọng, luận văn là cơ sở để ĐàiTiếng nói Việt Nam có những kế hoạch quy hoạch phát triển chương trình trongthời gian tới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong mấy chục năm trở lại đây, có nhiều sách, giáo trình, công trình nghiên cứu và tìm hiểu về phát thanh, chương trình phát thanh, chương trình
Trang 11đối ngoại và chương trình phát thanh dành cho người Việt ở nước ngoài Ởcấp độ luận văn, tác giả chia ra thành những mảng nghiên cứu chính như sau:
Các nghiên cứu về những vấn đề l luận và thực tiễn phát thanh và cácchương trình phát thanh đã được các nhà nghiên cứu, các cơ quan báo chí,các nhà khoa học, giáo viên và sinh viên chuyên ngành phát thanh quan tâm.Những nghiên cứu về phát thanh và chương trình phát thanh có thể kể ra một
số cuốn sách, giáo trình, công trình nghiên cứu như: Lý luận báo phát thanh của tác giả Đức Dũng, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2003; Truyền thông
lý thuyết và kĩ năng cơ bản của tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Nxb
Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2014; Báo phát thanh do một nhóm tác giả thực hiện, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002; Thính giả và quá trình sản
xuất chương trình phát thanh của tác giả Vũ Thúy Bình, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, 2000 Những cuốn sách, giáo trình này nói về những vấn đề cơbản của phát thanh, cách thức tổ chức sản xuất chương trình Hay có thể liệt
kê một số đề tài sau: “Xây dựng mô hình lí thuyết cho kênh phát thanh kinh tế
chuyên biệt trên Đài tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh” của Hoàng
Mai Trân, Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn; “Xu thế phát triển của phát thanh phi truyền thống tại Việt Nam” (khảo
sát trường hợp Viettel Radio và Tuổi Trẻ online) của Đặng Thị Huệ, KhoaBáo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn
thạc sỹ của tác giả Nguyễn Sơn Minh (năm 2002) với đề tài: Phát thanh trên
mạng Internet, trình bày cơ sở khoa học và cơ sở pháp l cho sự phát triển của
hệ thống phát thanh Việt Nam, trong đó có phát thanh trên mạng internet,nghiên cứu về công nghệ số hóa và âm thanh kỹ thuật số, đề xuất một môhình chuẩn cho phát thanh internet Việt Nam
Một số cuốn sách, giáo trình, công trình nghiên cứu về chương trìnhphát thanh khác, tác giả có thể kể đến: Luận văn của tác giả Đồng Mạnh
Hùng: Đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình thời sự Đài Tiếng nói Việt
Trang 12Nam; Luận văn của tác giả Phạm Nguyên Long: Đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh Kinh tế của Đài Tiếng nói Việt Nam đã
nghiên cứu và đề xuất nhiều biện pháp tăng cường hiệu quả các chương trình phát thanh và bước đầu đề cập đến một số phương thức phát thanh hiện đại
Đề tài luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ Trà My (năm 2001) là: Nâng cao hiệu
quả của các chương trình phát thanh tập trung nghiên cứu vấn đề hiệu quả và tìm hướng nâng cao hiệu quả của phát thanh trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng.
Một số luận văn khác liên quan đến chương trình phát thanh dành cho
đối tượng, cụ thể như: “Nâng cao chất lượng chương trình về biển đảo trên
sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam” (Qua thực tế các chương trình
trên Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp VOV1) của Nguyễn Thị H a, Khoa
Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; “Phát thanh
tiếng dân tộc với người dân tộc thiểu số bản địa Kon Tum” của Trịnh Thị Hà
Oanh, Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.Thông qua việc khảo cứu, có thể thấy đây đều là những cuốn sách, giáo trình
và các công trình nghiên cứu đi sâu nghiên cứu về các kỹ năng trong việcsáng tạo tác phẩm cũng như nâng cao chất lượng các chương trình phátthanh Những tài liệu này là những nghiên cứu nền tảng, làm tiền đề cho tácgiả củng cố kiến thức và triển khai đề tài của mình
Liên quan đến những nghiên cứu về thông tin đối ngoại và các chương
trình đối ngoại, có thể kể đến đề tài “Nâng cao chất lượng hiệu quả phát
thanh đối ngoại của Đài tiếng nói Việt Nam” của tác giả Tô Quốc Tuấn thực
hiện năm 2006 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
quốc gia Hà Nội; Công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt
động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta của tác giả Thu Viễn thực hiện tại
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Bản tin đối ngoại phát thanh,
truyền hình – Thực trạng và hiệu quả của tác giả Nguyễn Tiến Long thực hiện
Trang 13năm 2006, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Những đề tài, luận văn, côngtrình nghiên cứu liên quan đến vấn đề thông tin đối ngoại và chương trình đốingoại chiếm một tỉ lệ nhỏ Tuy nhiên, các công trình đã phân tích, đánh giáthành công và hạn chế của các chương trình phát thanh đối ngoại, công tácthông tin tuyên truyền đối ngoại trên báo nói từ đó đề xuất giải pháp, kiếnnghị nhằm đẩy mạnh cả lượng và chất để phục vụ đắc lực cho sự phát triển vàhội nhập của đất nước ta.
Các nghiên cứu về chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt
Nam ở xa Tổ quốc” của Đài Tiếng nói Việt Nam có thể kể đến: Kỷ yếu
“Tiếng nói Việt Nam với đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” (Tài liệu lưu
hành nội bộ 1999) Mặc d chỉ là những bài phát biểu tham luận, được tập hợp
lại nhưng đây là kết quả nghiên cứu đầu tiên, trực tiếp về chương trình phát
thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” Kỷ yếu bước đầu cung
cấp cho người đọc một số thông tin về hoạt động thông tin đối ngoại của ĐàiTiếng nói Việt Nam (VOV) đối với đối tượng thính giả và độc giả là ngườiViệt Nam sống xa Tổ quốc Đây là kết quả nghiên cứu đầu tiên trực tiếp vềchương trình này mặc d chỉ là những bài tham luận được tập hợp lại Đối vớicông trình nghiên cứu dưới dạng tổng kết l luận, có khóa luận tốt nghiệp năm
2003, đề tài mang tên “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương
trình phát thanh Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” của tác giả
Phạm Thị Hồng Yến, Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khóaluận bước đầu đề xuất một vài giải pháp cơ bản, nhằm nâng cao chất lượngchương trình nhưng chưa đi sâu nghiên cứu nét đặc th của chương trình
Luận văn thạc sĩ báo chí “Chương trình phát thanh Dành cho đồng bào
Việt Nam ở xa Tổ quốc trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (khảo sát từ năm
2002 đến 6/2004)” của tác giả Nguyễn Văn Trường, giảng viên Học viện Báo
chí và Tuyên truyền, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, được thực
Trang 14hiện vào năm 2004 Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Trường đã đề cập một
số vấn đề về nội dung và hình thức của chương trình Tuy nhiên, luận văn nàymới dừng lại ở mức độ mô tả và dựng lại cấu trúc của chương trình cách đâygần 15 năm, thời điểm VOV vẫn c n sử dụng hệ thống kỹ thuật băng từ cũ kỹ
(c n gọi là băng cối), thời điểm các tiết mục chuyên sâu về kiều bào của
chương trình chưa được đăng lên trang web Năm 2008, VOV đưa vào sửdụng công nghệ số là phần mềm Netia và Dalet với nhiều tính năng ưu việt,
từ ghi âm đến biên tập, dàn dựng sản xuất chương trình, góp phần nâng caohiệu quả sản xuất, khắc phục nhiều nhược điểm của phát thanh truyền thống.Ngoài ra, sau hơn một thập kỷ, nhiều tiết mục trong chương trình đã có sự sắpxếp và thay đổi đáng kể so với trước để đáp ứng nhu cầu của thính giả trongbối cảnh truyền thông đa phương tiện hiện nay Việc chương trình được đăngtrên trang web vovworld.vn năm 2012 cũng là một dấu mốc mới, một bướcchuyển trong việc kết nối, tương tác với thính giả kiều bào
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đài Tiếng nói Việt Nam “Nâng cao
chương trình phát thanh Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” của tác
giả Lê Quốc Hưng, cán bộ Đài Tiếng nói Việt Nam, thực hiện năm 2008, cónhiều thông tin tư liệu thực tế tuy nhiên, nền tảng về l luận được thực hiệntrong đề tài này hết sức sơ sài, tính l luận chưa cao Bên cạnh đó, các tư liệuthực tế được trình bày dàn trải, chưa khái quát thành các luận điểm rõ nét Đềtài của tác giả cũng chưa đặt chương trình trong bối cảnh truyền thông đaphương tiện
Trong chục năm trở lại đây, c ng với sự phát triển như vũ bão của côngnghệ kỹ thuật số, tình hình truyền thông thế giới và Việt Nam đã có nhiềuthay đổi Truyền thông Internet ra đời tạo ra xu hướng hội tụ truyền thông và
đa phương tiện, đánh dấu bước ngoặt trong sự phát triển của báo chí truyềnthông hiện đại Với sự phát triển ồ ạt của báo điện tử, truyền hình mở rộngdiện phủ sóng, phát thanh đang đứng trước những thách thức không nhỏ C
ng với đó, trong những năm gần đây, cộng đồng người Việt Nam ở nước
Trang 15ngoài đang sinh sống trên khoảng 109 quốc gia và v ng lãnh thổ trên thế giớiđang có những xu hướng biến đổi về bản sắc Việc tập hợp, thu hút kiều bàogắn bó xây dựng đất nước vẫn là một nhiệm vụ quan trọng, là trách nhiệmcủa toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân Cho đến nay, các chương trình
nghiên cứu mới nhất liên quan đến chương trình phát thanh “Dành cho đồng
bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” cũng cách đây gần 10 năm Gần một thập kỷ đã
qua, chương trình có rất nhiều sự biến đổi và thay đổi về kết cấu, nội dung,hình thức, các tiết mục trong chương trình để ph hợp với bối cảnh cạnh tranhthông tin đang diễn ra rất khốc liệt Do vậy, chương trình phát thanh “Dànhcho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” của Đài Tiếng nói Việt Nam cũng cần
có những thay đổi để ph hợp với tình hình mới
Với đề tài Chương trình phát thanh Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa
Tổ quốc của Đài Tiếng nói Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện (khảo sát từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016), tác giả kế thừa
những yếu tố, tư liệu lịch sử của các công trình nghiên cứu đi trước nhưngchúng tôi nhìn nhận, đánh giá lát cắt hiện tại của chương trình, bổ sungnghiên cứu những vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đềcập hoặc đã đề cập nhưng chưa sâu sắc Tác giả đề xuất những giải pháp cụthể, thiết thực nhằm nâng cao chất lượng và vai tr , hiệu quả tác động củachương trình này trong bối cảnh cạnh tranh thông tin đang diễn ra rất quyếtliệt trong thời đại công nghệ số hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề l luận liên quan đến phát thanh
và thông tin đối ngoại trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, luận vănkhảo sát chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổquốc” nhằm khẳng định thành công, chỉ ra những hạn chế của chương trình,
từ đó rút ra khuyến nghị giải pháp nhằm từng bước nâng cao chất lượng
Trang 16chương trình phát thanh, giúp chương trình thực sự là người bạn tin cậy củađồng bào Việt Nam sống xa Tổ quốc.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chương trình phát thanh “Dànhcho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” trong bối cảnh truyền thông đaphương tiện
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn chỉ đề cập chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào ViệtNam ở xa Tổ quốc” của Hệ phát thanh đối ngoại quốc gia, Đài Tiếng nói ViệtNam Thời gian khảo sát từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016, vớitổng số 163 chương trình
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này gồm:Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp; Phương pháp phân tích nội dungthông điệp; Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phỏng vấn sâu; so sánh đốichiếu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp:
- Hệ thống hóa l thuyết thông qua các kiến thức đã được học, được đọc,thông qua các giáo trình, tài liệu có liên quan tới báo chí và phát thanh
- Sử dụng các văn bản báo chí đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứutrong lĩnh vực truyền thông trong sách báo và các công trình đã nghiên cứutrước đây về giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh nóichung và chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổquốc” nói riêng Từ những tiền đề đó, tác giả rút ra những thông tin cần thiết
để phục vụ cho quá trình nghiên cứu của mình
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích nội dung thông điệp nhằm phântích nội dung và hình thức của Chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào
Trang 17Việt Nam ở xa Tổ quốc” của Đài Tiếng nói Việt Nam, từ đó, đánh giá ưuđiểm và hạn chế của chương trình cũng như những vấn đề đặt ra trong bốicảnh cạnh tranh thông tin gay gắt như hiện nay.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: được d ng để phân tích, đánh giá,tổng hợp những kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những luận cứ, luận điểm vàkhái quát
Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện trong luận văn này là 02cuộc trao đổi giữa tác giả với ông Lê Quốc Hưng, Phó Giám đốc Hệ phát
thanh đối ngoại quốc gia (VOV5) và ông Trần H a Phương, Phó Chủ nhiệmthường trực Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thành phố Hồ ChíMinh, 03 cuộc phỏng vấn thính giả nghe chương trình là Ngô Tiến Điệp,người Việt ở Liên bang Nga, Nguyễn Thanh Tâm, giáo viên người Việt ởCHLB Đức, Hà Văn Cảnh, doanh nhân ở CHDCND Lào về chương trình
phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” Qua các cuộc
phỏng vấn, họ đã đưa ra những ý kiến trung thực, khách quan về chươngtrình Trên cơ sở đó, những người thực hiện chương trình s tìm ra phươngthức thông tin thích hợp, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng người ViệtNam sống xa Tổ quốc
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa l luận khi nghiên cứu đề tài là đóng góp thêm luận điểm khoa học
về chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc”
trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu là chương trình cụ thể hoánhững nội dung của Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị; Góp phần hoàn thiện từngbước việc truyền tải thông tin đối ngoại của Đài Tiếng nói Việt Nam; Đáp ứng nhucầu thông tin của thính giả là cộng đồng người Việt sống xa Tổ quốc
Trang 18Kết quả nghiên cứu của đề tài, những đề xuất giải pháp, khuyến nghịtrong đề tài có thể ứng dụng để nâng cao chương trình phát thanh “Dành chođồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc” của Đài Tiếng nói Việt Nam trong thờigian tới nhằm đáp ứng xu thế của phát thanh đa phương tiện.
Đề tài cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong học tập,giảng dạy chuyên ngành Báo chí và Truyền thông tại Trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; là tài liệu tham khảo đốivới những người làm báo phát thanh đặc th dành cho đối tượng là đồng bàoViệt Nam sống xa Tổ quốc
7 Kết cấu đề tài
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thông tin đối ngoại dành cho người Việt Nam ở nước ngoài
và chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc”
Chương 2: Thực trạng chương trình phát thanh “Dành cho đồng bàoViệt Nam ở xa Tổ quốc” của Đài Tiếng nói Việt Nam
Chương 3: Đánh giá thành công, hạn chế và đề xuất khuyến nghị giảipháp nâng cao chất lượng chương trình
Trang 19Chương 1 THÔNG TIN DÀNH CHO NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VÀ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH “DÀNH CHO ĐỒNG
BÀO VIỆT NAM Ở XA TỔ QUỐC”
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Thông tin đối ngoại
Đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta là một bộ phận quan trọngtrong đường lối chính trị của Đảng Đường lối, chính sách đối ngoại đổi mớicủa Đảng ta được khởi xướng từ Đại hội VI và được các Hội nghị Trungương, Nghị quyết của Bộ Chính trị; Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX, X, XI
bổ sung, phát triển Việc tăng cường thông tin đối ngoại là chủ trương, chínhsách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, được thể hiện trong văn kiện Đạihội Đảng các khóa, đặc biệt, được nêu cụ thể trong các văn bản như: Chỉ thị
số 11-CT/TW ngày 13/6/1992 của Ban Bí thư (khóa VII) về đổi mới và tăngcường công tác thông tin đối ngoại; Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày26/3/2004 của Bộ Chính trị ( khóa IX) về công tác đối với người Việt Nam ởnước ngoài; Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 10/9/2008 của Ban Bí thư (Khoá X)
về “Tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tìnhhình mới”
Ngày 26/4/2000, Thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị số 10/2000/CT-TTg
về tăng cường quản l và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại Theo đó, Chỉthị khẳng định: Thông tin đối ngoại là bộ phận rất quan trọng của công tác đốingoại của Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài(gồm cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam), ngườiViệt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, conngười Việt Nam, đường lối, chủ trương chính sách và thành tựu đổi mới củachúng ta trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng gópcủa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Trang 20Cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có định nghĩa thống nhất về thông tinđối ngoại Tuy nhiên, khái niệm thông tin đối ngoại của tác giả Phạm MinhSơn, Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong cuốn sách “Thông tin đối ngoạiViệt Nam: Một số vấn đề l luận và thực tiễn” do Nhà xuất bản Chính trị -Hành chính phát hành năm 2011, sau đây, theo tác giả là tương đối đầy đủ:
“Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng và
đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam; đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá Việt Nam; làm cho nhân dân ta hiểu rõ về thế giới; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc
tế, sự đồng thuận và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[38].
Hiện nay, việc đưa thông tin trong nước đến với thế giới đã trở nên dễdàng hơn nhờ mạng internet Tuy nhiên, làm thế nào để đồng bào ta ở nướcngoài, người dân và chính quyền các nước biết, tiếp nhận hoặc chủ động tiếpnhận thông tin từ nguồn chính thống trong nước đang là vấn đề đặt ra, đ i hỏibáo chí thông tin đối ngoại phải có sự đổi mới cả về nội dung và phương thứctuyên truyền
1.1.2 Phát thanh
Báo phát thanh được hiểu như một kênh truyền thông, một loại hìnhkênh điện tử hiện đại, nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống âmthanh để tác động vào thính giác người nghe
Có nhiều quan điểm về phát thanh của các nhà nghiên cứu về phát thanhcủa thế giới và Việt Nam Trả lời câu hỏi “Radio là gì”, tác giả Lois Baid trong
cuốn sách Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh đã nêu và phân tích 11 đặc điểm của loại hình báo chí này Đó là: Radio hình ảnh; Radio là
Trang 21thân mật riêng tư; Radio dễ tiếp cận và dễ mang; Radio có ngôn ngữ riêng của mình; Radio có tính tức thời; Radio không đắt tiền; Radio có tính lựa chọn; Radio gợi lên cảm xúc; Radio làm công việc thông tin và giáo dục; Radio là âm nhạc[31] Ý kiến này đã đề cập đến những đặc điểm của phát
thanh truyền thống ở tất cả các khía cạnh một cách toàn diện.
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững trong giáo trình “Cơ sở lý luận báo
chí” thì: “Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống hiện thực Thông điệp được mã hóa truyền qua kênh phát thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp”[7, tr111].
C n theo tác giả Đức Dũng trong giáo trình Lý luận báo phát thanh:
“Báo phát thanh được hiểu như một kênh truyền thông, một loại hình báo chí
điện tử hiện đại mà các đặc trưng cơ bản của nó là dung thế giới âm thanh phong phú, sinh động để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện tử và hệ thống truyền thông, tác động vào thính giác của công chúng Nhờ sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc tác động vào tai người nghe cho nên báo phát thanh có những ưu thế đặc biệt và những hạn chế cố hữu”[6,
Trang 22Như vậy, phát thanh là một loại hình truyền thông đại chúng, trong đónội dung thông tin được chuyển tải qua âm thanh Âm thanh trong phát thanhbao gồm ba yếu tố: lời nói, tiếng động, âm nhạc.
Thuật ngữ phát thanh truyền thống, xét từ góc độ phương tiện chuyểntải trong l luận truyền thông bao gồm cả hai loại hình là phát thanh qua lànsóng điện và truyền thanh qua hệ thống dây dẫn Trong đó, loại hình thứ nhất
là căn bản và là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sức mạnh to lớn của phátthanh Phát thanh hiện đại c n có thể truyền dẫn qua internet
1.1.3 Chương trình phát thanh
Trong cuốn “Lý luận báo phát thanh”, tác giả Đức Dũng cho rằng:
“Chương trình phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin, bài, bảng tư liệu
âm nhạc trong một thời lượng nhất định được mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc với lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe” [6,
tr216]
Như vậy, với một cơ quan báo phát thanh, quá trình sản xuất bắt đầu bằngviệc sáng tạo các tác phẩm phát thanh Một đài phát thanh thường bao gồm bốn
bộ phận chính: lãnh đạo quản l , biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên, trong
đó phóng viên là người trực tiếp sáng tạo những tác phẩm báo phát thanh Cáctác phẩm báo chí này thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực nghiệp vụ và tráchnhiệm xã hội của nhà báo phát thanh Tuy nhiên, tác phẩm tin, bài không trựctiếp đến với thính giả Bằng cách lựa chọn chương trình phát thanh các tác phẩmđược sắp xếp, bố trí hợp l giúp thính giả tiếp nhận chương trình một cách đầy
đủ, hệ thống, có chiều sâu Chương trình phát thanh được coi như một số báo.Trong thực tế t y theo tiêu chí phân loại mỗi chương trình phát thanh có đốitượng tác động riêng, có nội dung phản ánh cũng như phương thức hoạt độngriêng Sự phân công và chuyên môn hóa trong quá trình phản ánh hiện thực tạocho các chương trình phát thanh có sự phân định
Trang 23rõ ràng, tránh được tình trạng “lấn sân” hoặc “khung trời riêng” Quá trình
tiếp nhận của công chúng gắn liền với chương trình phát thanh “Người nghe
có thể nắm được thông tin thời sự một cách nhanh nhất qua chương trình phát thanh thời sự nhưng họ lại thực sự tin tưởng và chờ đợi những hướng dẫn cụ thể qua chương trình chuyên đề một cách tỷ mỉ hơn”[6, tr217].
Mỗi chương trình phát thanh đều ổn định về cấu trúc Với chương trìnhthời sự gồm có ba phần: trang tin, bài, tiết mục được phân chia bằng nhữngđoạn nhạc cắt Chương trình chuyên đề thường có hai phần tiết mục trở lênđược phân cách bằng những nhạc cắt Với các chương trình có thời lượnglớn, số tiết mục có thể tăng vì vậy, số lượng nhạc cắt cũng tăng lên
Chương trình phát thanh thể hiện tính chất lao động của tập thể Hiệuquả đạt được của chương trình phát thanh luôn mang dấu ấn của một tập thể
Có thể hiểu, chương trình phát thanh là sự sắp xếp một cách hợp lý các thành
phần tin, bài, băng âm thanh trong một chỉnh thể với khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan phát thanh và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe.
1.1.4 Truyền thông đa phương tiện
PGS.TS Nguyễn Văn Dững đưa ra khái niệm về truyền thông trong
cuốn “Truyền thông lý thuyết và kĩ năng cơ bản” như sau: “Truyền thông là
quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội”[8].
Đa phương tiện là thuật ngữ xuất phát từ một từ trong tiếng Anh
“multimedia” Khái niệm “đa phương tiện” xuất hiện từ khoảng giữa thế kỉ
XX Cho đến nay, khái niệm này đã dần trở nên phổ biến để chỉ nhiều loại sản
phẩm, phần mềm khác nhau trên máy vi tính và mạng Internet Thuật ngữ đa
Trang 24phương tiện được Bob Goldstein đặt ra lần đầu tiên để quảng bá chương trình
biểu diễn của mình hồi tháng 7/1966 ở Southampton (Long Island, Mỹ)
Đa phương tiện (multimedia), theo tác giả hiểu, là một sự kết hợpphương tiện truyền thông (media) và các dạng nội dung (content) khác nhau.Thuật ngữ này có thể được sử dụng như một danh từ (một phương tiện vớinhiều hình thức nội dung) hoặc như một tính từ để mô tả một phương tiện cónhiều hình thức nội dung
Truyền thông đa phương tiện là việc d ng một số phương tiện khácnhau như văn bản, âm thanh, đồ họa, video và khả năng tương tác để chuyểntải thông tin Đa phương tiện, theo nghĩa rộng, là việc tổ hợp các phương tiệnkhác nhau để tạo nên một cách mô tả nhiều mặt tưởng, khái niệm hay tưtưởng Đa phương tiện đơn giản có nghĩa là có khả năng liên lạc, giao tiếptheo nhiều hơn một cách thức Như vậy, đa phương tiện thật ra là liên lạc,giao tiếp theo một số cách thức khác nhau
Như vậy, một sản phẩm thông tin đa phương tiện (multimedia) là sảnphẩm được sản xuất với một số thành phần thông tin được lưu trữ với một sốdạng dữ liệu là chữ viết (text), ảnh (image/ picture), đồ họa (graphics), âmthanh (audio), hình ảnh động (video)
Trong ngành báo chí truyền thông nói riêng, multimedia là một khái
niệm mới xuất hiện chục năm trở lại đây Định nghĩa “truyền thông đa
phương tiện” đang dần thay đổi và phát triển Nhưng nhìn chung, có thể hiểu:
“Truyền thông đa phương tiện” là sự kết hợp của ngôn ngữ viết, ảnh, video,
âm thanh, thiết kế đồ họa và các phương thức tương tác khác trên trang webnhằm truyền tải một câu chuyện/ vấn đề một cách đa diện, mỗi hình thức thểhiện góp phần tạo nên câu chuyện thuyết phục và đầy đủ thông tin nhất
Trong một xã hội hiện đại với sự b ng nổ thông tin, công chúng ngàycàng có những nhu cầu cao hơn đối với nội dung cũng như chất lượng thôngtin Phương thức truyền thông đa phương tiện cho phép công chúng thu nhận
Trang 25thông tin bằng cả hình ảnh, âm thanh, văn bản làm thay đổi cách tiếp cậnthông tin của công chúng, nhất là đối với thế hệ trẻ, thế hệ nhạy bén nhất đốivới khoa học và công nghệ tạo ra sự phát triển của một lớp công chúng mớicủa truyền thông Trái lại, với các loại hình báo chí truyền thống, công chúngđang ngày càng bị phân tâm bởi nhiều hình thức cung cấp thông tin động, hấpdẫn, tiếp cận trên toàn bộ các giác quan, cảm quan: đọc, nghe, nhìn, đối thoại,tham gia trực tiếp Internet phát triển với sự ra đời của vô vàn các trang tinđiện tử, các kênh truyền hình, phát thanh trực tuyến (online) và các giao thứcliên lạc (Email, chat) và thoại (voice) được tích hợp làm thoả mãn tất cả cácnhu cầu thông tin của công chúng, bao gồm cả nghe, nhìn, đọc, nói của côngchúng.
Internet với đặc trưng tương tác của nó, đã thu hẹp những giới hạn vềkhông gian và thời gian trong việc tiếp cận thông tin trên quy mô toàn thếgiới C ng với sự phát triển của hệ thống internet, hàng loạt sản phẩm côngnghệ truyền thông mới được phát triển như công nghệ di động với cácphương thức truyền dữ liệu tốc độ cao, hay các thiết bị đầu cuối được pháttriển theo xu hướng di động hoá, cá nhân hóa cao độ tạo nên một sức mạnhmới mà các loại hình truyền thông truyền thống khó cạnh tranh nổi
Sự phát triển của công nghệ truyền thông cũng đã tạo cho báo chí mộthướng đi mới: tích hợp các phương tiện truyền thông Tính chất đa phươngtiện được biểu hiện rõ ràng nhất qua sự tích hợp này Xu hướng phát triểnnày là ph hợp với nhu cầu thông tin của xã hội, do vậy đi theo sự phát triểnnày là sự lựa chọn đúng đắn của các nhà truyền thông Hay nói cách khác,truyền thông đa phương tiện là xu hướng phát triển mang tính khách quanđáp ứng nhu cầu thông tin của lớp công chúng mới
1.1.5 Người Việt Nam ở nước ngoài
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam đượchiểu tương đối thống nhất Điều 3, khoản 3, Nghị định số 138/2006/NĐ-CP
Trang 26quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch ViệtNam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nướcngoài Khái niệm này được khẳng định lại tại Điều 3, khoản 3 Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 2008 như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”
[47] Như vậy, khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồmhai nhóm chủ thể là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài và người gốc ViệtNam định cư ở nước ngoài
Trong các văn kiện chính thức của nhà nước Việt Nam, cụm từ hay
được sử dụng nhiều nhất là “người Việt Nam ở nước ngoài”, chẳng hạn: “Ủy
ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài”, “Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài” Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ
Chính trị về người Việt Nam ở nước ngoài có ghi rõ “Đảng và Nhà nước taluôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận khôngtách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”
Ngoài cụm từ “người Việt Nam ở nước ngoài” được sử dụng trên cácvăn bản chính thức, người dân trong nước c n sử dụng một số cụm từ như:Việt kiều, kiều bào, người Việt Nam sống xa Tổ quốc, người Việt xa xứ,người Việt xa quê, người Việt ly hương
1.2 Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
1.2.1 Diện mạo cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Với khoảng 4,5 triệu kiều bào sinh sống tại 109 quốc gia và v ng lãnhthổ trên thế giới, Việt Nam được xếp vào nước có số lượng kiều dân đôngnhất tính theo tỷ lệ với dân số trong nước, chỉ sau Trung Quốc Vào cuối thế
kỷ 20, khi dân Trung Quốc có khoảng 1,3 tỷ thì Hoa kiều có khoảng 55 triệu,chiếm tỷ lệ 4,23% C ng thời gian đó, Việt Nam có khoảng 68 triệu dân thìngười Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 2,6 triệu, chiếm 3,82% [21]
Trang 27Có khoảng 2,2 triệu người Việt Nam ở nước ngoài hiện đang làm ănsinh sống tại Mỹ; 98% tổng số người Việt Nam ở nước ngoài sống tại 21nước có đông người Việt Nam (trên 10.000 người), tập trung tại 5 khu vựcchính: đó là Bắc Mỹ, Tây - Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á – ĐôngBắc Á, châu Öc Hiện có khoảng từ 70% kiều bào đã có quốc tịch nước sở tại.Bên cạnh đó, thời gian qua hàng trăm nghìn người Việt Nam đã ra nướcngoài lao động, học tập, đoàn tụ gia đình, hình thành các cộng đồng ngườiViệt Nam tại một số địa bàn như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia
Số người ra đi khỏi đất nước diễn ra trong những giai đoạn và hoàncảnh lịch sử rất khác nhau, do đó suy nghĩ, tình cảm, thái độ của họ với trongnước cũng rất khác nhau Thế kỷ 20 là thế kỷ có nhiều biến động nhất tronglịch sử, cũng là thế kỷ chứng kiến nhiều đợt di cư nhất của người Việt, màmỗi một đợt di cư đó đều gắn liền với những biến cố trọng đại của dân tộc
Có thể kể đến 3 làn sóng di cư lớn: di cư trước năm 1954, di cư trước và sau30/4 năm 1975, và đợt di cư những năm 1978, 1979, 1980
Cụ thể, những năm 30, 40 của thế kỷ XX, ngoài một số người ra đi tựphát sang các nước láng giềng như Lào, Thái Lan, Campuchia để kiếm sống,lánh nạn, thì một phần là do bị thực dân Pháp bắt lính Đông Dương sang châuPhi tham gia vào chiến tranh thuộc địa Pháp Một số khác đi du học, làm côngchức trong chính quyền thực dân, và các nhân sĩ trí thức yêu nước đi tìmđường cứu nước hoặc do bị đàn áp khủng bố ở trong nước phải ra nướcngoài hoạt động Tính đến năm 1945, người Việt Nam di dân chủ yếu sangcác nước láng giềng Lào, Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan, sang Pháp vàcác thuộc địa của Pháp ở châu Phi, châu Đại Dương Sự kiện Pháp bị thất bạithảm hại tại Đông Dương và Việt Nam năm 1954 cũng kéo theo một làn sóngngười Việt di cư sang Pháp và các nước khác
Tiếp sau đó, trong chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam (từ 1954-1975),tại miền Nam Việt Nam số lượng người Việt tới các nước Âu, Mỹ, Australiacũng tăng nhanh Số người này chủ yếu là những người đi du học, đi làm ăn,
Trang 28kinh doanh, tránh chiến tranh, trốn quân dịch hoặc là vợ con người Việt củanhững người nước ngoài tham gia phục vụ chiến tranh ở miền Nam ViệtNam hết hạn về nước Cũng bằng những con đường trên, nhiều người ViệtNam đã tới sinh sống ở nhiều nước khác ở châu Âu, châu Mỹ, châu ĐạiDương Tại miền Bắc, từ năm 1952, có khoảng trên 150.000 lưu học sinh vàcông nhân kỹ thuật được gửi đi đào tạo tại Liên Xô và các nước xã hội chủnghĩa khác (một số nước Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba Phầnlớn những người này đã trở về để phục vụ đất nước, chỉ có một số ít ở lại.Đến trước năm 1975, số lượng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn chỉ vàokhoảng trên dưới 20 vạn người, sinh sống ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Làn sóng người Việt Nam ra đi ồ ạt diễn từ sau ngày miền Nam hoàntoàn giải phóng Số người rời Việt Nam ngay trước hoặc sau ngày giải phóng
vì lo sợ về “một cuộc tắm máu” lên tới khoảng 131.000 người
Những năm 1978 – 1980, có khoảng 230.000 người Việt gốc Hoa vượtbiên bằng đường biển (c n gọi là thuyền nhân – Boat People) do căng thẳngtrong chiến tranh biên giới Việt – Trung Ngoài ra, cộng với những khó khănchồng chất của đất nước sau cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm, sự xúi giụccủa các phần tử phản động đã khiến nhiều người hoang mang và rời bỏ đấtnước
Tại Liên Xô và các nước Đông Âu, từ đầu những năm 1980, sau khicác Hiệp định về đào tạo công nhân kỹ thuật, hợp tác giáo dục và lao độngđược k kết đã có hàng chục vạn công dân Việt Nam đã được đưa sang laođộng, học tập, thực tập Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đa số đã trở về nướcnhưng cũng có một bộ phận ở lại làm ăn, sinh sống Tiếp đó, cuộc khủnghoảng kinh tế chính trị dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã khiếnmột số lượng lớn người Việt Nam ở đây không có khả năng trở về Nhữngngười ở lại định cư sau này c n làm cầu nối đưa một bà con họ hàng, bạn bè
từ Việt Nam sang làm ăn, hình thành nên cộng đồng người Việt khá đông và
Trang 29đặc trưng ở Nga và các nước SNG Trong thời điểm biến động ở Đông Âu,một số người Việt ở Đông Âu chuyển sang các nước Tây Âu sinh sống.
Từ năm 1990 đến nay, người Việt Nam ra nước ngoài cư trú chủ yếu
là những người được thân nhân bảo lãnh, kết hôn với người nước ngoài, laođộng xuất khẩu và du học sinh, ngoài ra c n có một số chuyên gia, người đilàm ăn, đi thăm thân, du lịch rồi ở lại, trẻ em Việt Nam được nhận làm connuôi
Sau năm 1997, tình hình đất nước ta ngày càng ổn định và phát triển,chính sách xuất nhập cảnh cũng trở nên thông thoáng hơn, hàng năm đã cóthêm hàng ngàn công dân của ta sang Nga, Séc, Ba Lan và một số nước Đông
Âu khác theo các hình thức du học, thăm thân, du lịch rồi ở lại định cư.Trong thời gian từ năm 1998 -2005 đã có tổng cộng gần 400.000 lượt laođộng Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng tại các địa bàn HànQuốc, Đài Loan, Malaysia và ở một số quốc gia Trung Đông
Bên cạnh số lao động xuất khẩu, số phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngườinước ngoài trong thời gian qua cũng tăng lên nhanh chóng Theo thống kê, từ1995-2007 có khoảng 180.000 người Việt Nam kết hôn với người của 60nước, trong đó phụ nữ chiếm tới 80% Năm 2014, đã có trên 100.000 phụ nữlấy chồng Đài Loan [21] và khoảng 40.000 phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc [44 –tr.28] Lượng lưu học sinh, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài trong nhữngnăm gần đây cũng ngày một tăng, đưa tổng số người Việt Nam ở nước ngoàicho đến nay khoảng 4,5 triệu người C ng với thời gian, người Việt dần dần
ổn định cuộc sống ở nước ngoài, h a nhập tốt với cộng đồng sở tại và khôngquên hướng về đất nước
Ra đi dưới nhiều hoàn cảnh khác nhau như vậy, suy nghĩ, tình cảm,cách nhìn nhận về đất nước trong cộng đồng rất khác nhau, thái độ chính trịđối với trong nước cũng đa chiều thậm chí rất phức tạp
Đa phần người Việt ở nước ngoài là những người Việt yêu nước Bàcon trong cộng đồng luôn duy trì mối quan hệ gần gũi với quê hương, mong
Trang 30muốn đất nước phát triển và hội nhâp với quốc tế Đây là những môi trườngthuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức sinh hoạt cộng đồng nhưcác lễ hội truyền thống, duy trì ngôn ngữ tiếng Việt nhằm giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc Việt Nam Trừ có một bộ phận đồng bào chưa hiểu đúng về tìnhhình đất nước nên c n thái độ tiêu cực hoặc dè dặt, thậm chí một số ít người
đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu lớn được thunhận thông tin hàng ngày về tình hình đất nước, quê hương, về tình hìnhquốc tế Bà con người Việt ở nước ngoài đều muốn nắm bắt các thông tin vềtình hình phát triển kinh tế xã hội trong nước Hơn thế nữa, là những ngườiViệt giàu tình cảm với quê hương, xứ sở, nhiều người ra đi do những biến cốlịch sử nên người Việt Nam sống xa Tổ quốc lại càng có nhu cầu tiếp nhậnthông tin từ trong nước
Người Việt xa quê hương thường khao khát được nghe tiếng nói củaquê hương Ngoài ra, do thường xuyên tiếp xúc với ngôn ngữ của nước sởtại, tiếng Việt dễ bị mất đi nếu không biết giữ gìn Nên họ muốn nghe cácchương trình tiếng Việt ở trong nước truyền sang để giữ gìn tiếng Việt đồngthời dạy tiếng Việt cho con cháu
Có một bộ phận người Việt Nam đã định cư ở nước ngoài vài chụcnăm nhưng khả năng ngôn ngữ của nước sở tại của họ rất hạn chế Nhiềungười Việt ở Australia thú nhận: họ xem chương trình tivi Australia chủ yếuxem hình ảnh Chính vì vậy, nhu cầu tiếp nhận thông tin về thế giới, về Tổquốc bằng tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn, đặc biệt là những nguồnthông tin qua báo chí chính thức của nước nhà
1.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
Đảng và Nhà nước ta khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một
bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam Chính sách đại
Trang 31đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài bắt nguồn từtruyền thống của dân tộc Việt Nam Đường lối này được thể chế hóa bằngcác văn bản pháp luật như trong Hiến pháp năm 1992, Luật quốc tịch banhành ngày 28/6/1988, Pháp lệnh lãnh sự ban hành ngày 13/11/1990, Pháplệnh về cơ quan đại diện nước Cộng h a xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nướcngoài ban hành ngày 2/12/1993 và nhiều văn bản khác của Ủy ban thường vụquốc hội, Chính phủ.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: “Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Chỉ thị số 11-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII, ngày13/6/1992, về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại nêu rõ:
“Tăng cường đầu tư cho công tác thông tin đối ngoại, tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ quan làm công tác thông tin đối ngoại” “Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam cần được tăng cường Tăng công suất phát sóng và nghiên cứu hình thức hợp tác để tiếp âm cho một số đối tượng; nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh bằng tiếng nước ngoài của Đảng và chương trình phát thanh bằng tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài”.
Chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người Việt Nam định cư
ở nước ngoài thể hiện trên các phương diện sau:
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam sinh sống, làm ăn ởnước sở tại, giúp kiều bào nhanh chóng h a nhập vào xã hội nước sở tại, phát triểnquan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước nơi kiều bào cư trú
- Giúp kiều bào hiểu rõ tình hình đất nước, phát huy khả năng đónggóp xây dựng đất nước trên nhiều lĩnh vực; khuyến khích và tạo điều kiện dễ dàngcho người Việt Nam ở nước ngoài chuyển giao trí thức, công nghệ và kinhnghiệm quản l cũng như đầu tư về nước
Trang 32- Giải quyết thỏa đáng vấn đề quốc tịch và hồi hương; đơn giản hóa thủtục xuất nhập cảnh, cư trú đi lại của kiều bào.
Nhà nước ta cũng quan tâm đến công tác bảo hộ quyền lợi chính đángcủa công dân Việt Nam ở nước ngoài Điều này xuất phát từ bản chất của Nhànước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân Có thể nói, một trọng tâmhoạt động của các đại sứ quán, tổng lãnh sự quán Việt Nam ở nước ngoài làbảo hộ quyền lợi công dân Hiến pháp năm 1992, Luật quốc tịch, Pháp lệnhlãnh sự và Pháp lệnh về cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đều cónhững quy định cụ thể về hoạt động này Ngoài ra, nước ta cũng tham giaCông ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên năm 1963
về quan hệ lãnh sự, cũng như k nhiều hiệp định lãnh sự và các điều ước quốc
tế khác để tạo cơ sở pháp l quốc tế vững chắc cho hoạt động này
Nghị quyết 36 (NQ 36) của Bộ Chính trị ban hành tháng 3/2004 nhưmột bước đột phá về công tác người Việt Nam ở nước ngoài Nghị quyết
khẳng định “người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là
một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước” Ngoài ra, “công tác đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn dân” Tinh thần của NQ 36 là
củng cố và phát triển cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với các mụctiêu: Đoàn kết, thành đạt, trở thành cộng đồng mạnh và luôn hướng về quêhương, đất nước Đây là nội dung cơ bản và nhất quán trong chính sách củaĐảng và Nhà nước Việt Nam
Nghị quyết được triển khai tập trung trên 3 lĩnh vực: Thông tin tuyêntruyền; Hoạch định chính sách; và Vận động cộng đồng Như vậy, có thểthấy, công tác thông tin tuyên truyền được coi là một nhiệm vụ trọng tâm
NQ 36 ban hành công khai là một biểu hiện tư duy đổi mới của Đảng vềcông tác đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Kể từ sau đó, cácchính sách dành cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng cởi
Trang 33mở hơn Một số chính sách cụ thể cũng được ban hành, thể hiện qua các bộLuật quốc tịch (cho phép người Việt Nam có hai quốc tịch), Luật đất đai, nhà
ở, Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Pháp lệnh về ngoại hối, các quy định vềmiễn thị thực nhập xuất cảnh cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài,
về cư trú, hồi hương Công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dânngày càng được các cơ quan chức năng ở trong nước và Cơ quan đại diệnngoại giao Việt Nam ở nước ngoài thực hiện một cách chủ động và hiệu quả.Năm 2003, Quỹ hỗ trợ Cộng đồng do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ởnước ngoài điều phối đã ra đời Năm 2008, Quỹ bảo hộ Công dân Việt Nam ởnước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao được thành lập Nếu Quỹ cộng đồngđóng góp hiệu quả cho công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài, thì mục đích của Quỹ này là bảo trợ, giúp đỡ công dân Việt Nam trongcác trường hợp khẩn cấp và khó khăn (ví dụ như các sự kiện đưa lao độngViệt Nam về nước từ Lebanon, từ Libya trong thời gian vừa qua)
Công tác vận động cộng đồng đã được triển khai tích cực với nhiềuhoạt động mang tính đột phá, nội dung phong phú, huy động được đông đảokiều bào tham gia vào các sự kiện chính trị, xã hội lớn của đất nước; mở rộngnhiều hình thức giao lưu văn hoá giữa cộng đồng với cội nguồn; thu hút ngàycàng nhiều sự hợp tác, đóng góp của kiều bào về khoa học-công nghệ, kinhdoanh, đầu tư, từ thiện nhân đạo Lần đầu tiên, trong nước đã tổ chức một Hộinghị dành cho đại biểu kiều bào khắp nơi trên thế giới (năm 2010) Đến tháng
11 năm 2016, Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới cũngđược tổ chức Ngoài ra, mỗi năm có hàng chục hoạt động dành cho kiều bào
do Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức, như cácchương trình Xuân Quê hương, Giỗ tổ H ng Vương, Trại hè Việt Nam, Khóatập huấn giảng dạy tiếng Việt cho các giáo viên người Việt Nam ở nướcngoài, các chương trình khuyến khích mời trí thức Việt kiều về làm việc trongnước cho thấy chính sách dành cho kiều bào ngày càng thiết thực hơn Đặcbiệt, trong các cuộc tiếp xúc các cấp, các đại diện kiều bào đều nhấn mạnh
Trang 34đến vai tr của các phương tiện truyền thông đại chúng trong nước tuyêntruyền về hoạt động của kiều bào, coi đây như một nguồn động viên tinh thầnđối với họ.
Những năm gần đây, số bà con ta ở nước ngoài về nước thăm thân, dulịch, về đầu tư lên gần 400.000 lượt người mỗi năm Lượng kiều hối gửi vềnước năm 2015 đạt 12,25 tỷ USD, một con số lớn hơn nhiều so với hơn chụcnăm trước là năm 2003 đạt gần 2,7 tỷ USD Kiều hối tiếp tục giữ mức tăngđều đặn trong hơn chục năm qua, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển đấtnước [44- tr.41] Hàng trăm lượt kiều bào trí thức đã về nước đóng góp trithức và chuyển giao công nghệ cho các tổ chức, cơ quan, Viện nghiên cứu vàtrường đại học trong nước
Vượt lên trên những thành tựu kể trên, điều đáng nói là đã có một bướcchuyển căn bản trong nhận thức giữa trong và ngoài nước về vấn đề ngườiViệt Nam ở nước ngoài Sự cởi mở trong – ngoài ấy đang khiến những ngườicon xa xứ d ra đi dưới hoàn cảnh nào cũng cảm thấy được xích lại gần vớiquê hương đất nước hơn, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Trongbước chuyển đó, không thể không kể đến những đóng góp mà báo chí trongnước đã làm được
1.3 Diện mạo các kênh đối ngoại dành cho đồng bào Việt Nam ở nước ngoài
1.3.1 Báo in
Theo Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam khoá 9 về tăng cường một bước công tác vận động kiều
bào giai đoạn phát triển hội nhập của đất nước, “cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”,
do đó đã có nhiều sách báo, ấn phẩm từ trong nước được chuyển ra nướcngoài, đến đối tượng là đồng bào Việt Nam sống xa Tổ quốc Tuy nhiên, một
số cơ quan báo chí trong nước cũng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ
Trang 35tuyên truyền các chính sách, thông tin của đất nước đến bà con người Việt ởnước ngoài Đó là các cơ quan sau:
* Tạp chí Quê Hương
Tạp chí Quê Hương là tạp chí của Uỷ ban Nhà nước về người ViệtNam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao Tạp chí xuất bản 1 số 1 tháng.Đây là Tạp chí chuyên viết về kiều bào và phục vụ kiều bào, với nhữngchuyên mục có bản sắc riêng, nội dung phong phú và bổ ích, hình thức ngàycàng hấp dẫn
Tạp chí Quê Hương thành lập ngày 15/5/1993, mang tiếng nói củaĐảng và Nhà nước ta đến với kiều bào và c n là tiếng nói của kiều bào, phảnánh trí tuệ, tâm tư, nguyện vọng của bà con đối với Đảng và Nhà nước ta trêntinh thần đại đoàn kết dân tộc
Việc thành lập Tạp chí Quê Hương đã bắc thêm nhịp cầu nối giữatrong nước với bà con kiều bào, góp phần gắn kết đồng bào đang làm ăn sinhsống ở bên ngoài với quê hương đất nước
Các chính sách mới đối với kiều bào trên hàng loạt các lĩnh vực từ xuấtnhập khẩu, miễn thị thực, quốc tịch (Luật Quốc tịch 2008 cho phép kiều bàođược giữ quốc tịch Việt Nam trong khi vẫn có quốc tịch nước ngoài) tới cácvấn đề tạo thuận lợi cho kiều bào mua nhà tại Việt Nam, cư trú, thường trú,hồi hương đã và đang được Tạp chí chuyển tải bằng nhiều hình thức tới bạnđọc, góp phần phát huy tác dụng gắn kết cộng đồng người Việt xa quê với đấtnước
Trước đây, Tạp chí Quê Hương là tạp chí chủ lực về những thông tinliên quan đến cộng đồng người Việt ở khắp năm châu nhưng bây giờ Tạp chínày không c n giữ vị trí chủ lực nữa Nhiều báo và tạp chí khác ra đời đã vượtqua Tạp chí Quê Hương về sự nhanh nhạy trong truyền thông tin, nội dungcũng như sự phong phú và đa dạng trong hình thức thể hiện
Trang 36* Báo Thế giới và Việt Nam
Báo Thế giới và Việt Nam là cơ quan trực thuộc Bộ Ngoại giao Tiềnthân của báo Thế giới và Việt Nam là tạp chí Nghiên cứu Quốc tế và báoQuốc tế Báo Thế giới và Việt Nam ra đời năm 1989 Người sáng lập ra tờbáo là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, một chính khách và nhàngoại giao để lại dấu ấn không phai mờ trong sự nghiệp cải cách, mở cửa củaViệt Nam
Báo Thế giới và Việt Nam được xuất bản vào thứ 5 hàng tuần Tiếtmục “Người Việt năm châu” cung cấp những thông tin chính thống về tìnhhình khu vực và thế giới, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, phảnánh về cuộc sống của người Việt ở nước ngoài
Hiện nay, bên cạnh báo in và báo điện tử, báo Thế giới và Việt Nam
c n xuất bản nhiều đặc san, chuyên trang để phục vụ kịp thời các sự kiện đối ngoại và nhân dịp kỷ nhiệm quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước
Tạp chí Nhịp cầu đầu tư thuộc Hội Liên lạc với người Việt Nam ởnước ngoài Nhịp cầu đầu tư là tạp chí kinh doanh cung cấp cho giới doanhnhân, chuyên gia Việt Nam những thông tin, kiến thức sâu rộng về kinh doanh
và đầu tư Bên cạnh đó, Tạp chí c n giúp họ cập nhật những tin tức kinhdoanh, kinh tế trong nước và thế giới, các dự báo tài chính và các biện phápbiến các dự báo đó thành hành động Tạp chí Nhịp cầu đầu tư cũng liên tục cónhững bài viết về các gương kiều bào đầu tư, kinh doanh thành công tại quênhà Ngày phát hành của tạp chí Nhịp cầu đầu tư là vào thứ hai hàng tuần
1.3.2 Phát thanh
Đài Tiếng nói Việt Nam là đài phát thanh quốc gia, là cơ quan thuộcChính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sáchcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước Đài Tiếng nói Việt Nam là đầu tàu của
Trang 37ngành phát thanh cả nước Công tác tuyên truyền về người Việt Nam ở nướcngoài là một trong những thế mạnh của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Đài Tiếng nói Việt Nam là cơ quan báo chí duy nhất của Đảng và Nhà
nước có chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ
quốc” phát sóng hàng ngày ra nước ngoài trên Hệ phát thanh đối ngoại quốc
gia (VOV5) Chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ
quốc” với thời lượng 60 phút, phát sóng ngắn ra nước ngoài theo các múi giờ
khác nhau, phục vụ kiều bào và bạn bè quốc tế ở hơn 100 nước và v ng lãnhthổ trên thế giới Các chương trình phát thanh c n được phát sóng trực tuyếntrên trang thông tin điện tử vovworld.vn của VOV5 Đây là những chươngtrình bà con kiều bào cập nhật được thông tin về tình hình đất nước, hoạtđộng của kiều bào trên thế giới, đặc biệt là những chính sách liên quan đếnkiều bào
Đài Tiếng nói Việt Nam c n có chương trình phát thanh “Người Việt ởnước ngoài với quê hương” có thời lượng 10 phút, phát 2 buổi mỗi tuần trênsóng Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1) đề cập nội dung chủ yếu vềtình cảm của người Việt xa xứ với trong nước thông qua hành động, việc làmcủa họ
Một số chương trình khác của Đài Tiếng nói Việt Nam như chương
trình: Theo dòng thời sự, Tầm nhìn UNESCO, Bạn bè với Việt Nam phát trên
Hệ VOV1 có nhiều thông tin liên quan đến kiều bào cũng thu hút được nhiềungười Việt Nam ở nước ngoài quan tâm
1.3.3 Truyền hình
* VTV4 – Mang giá trị Việt ra khắp năm châu
VTV4 là kênh truyền hình hướng ra nước ngoài của Đài Truyền hìnhViệt Nam được phát sóng ở nhiều quốc gia và v ng lãnh thổ trên thế giới vàchủ yếu dành cho người Việt ở nước ngoài Kênh được phát 24/24 giờ
Trang 38Chương trình đầu tiên của VTV4 được phát sóng vào ngày 1/1/1995.Với những hiệu quả hoạt động của VTV4 trong công tác thông tin đối ngoại
và vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 7/2/2002, Thủtướng Chính phủ k quyết định số 29/2002/QĐ-TTg chính thức thành lập BanTruyền hình đối ngoại trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam Ban Truyềnhình đối ngoại có chức năng sản xuất, khai thác các chương trình truyền hình
để phát trên kênh đối ngoại đáp ứng yêu cầu thông tin, nhu cầu hưởng thụ vănhóa tinh thần của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế,những người quan tâm đến Việt Nam Các chương trình, tiết mục của VTV4
như Bản tin thời sự, Ngày trở về, Talk Việt Nam đã lay thức trái tim của nhiều
người Việt xa xứ, hướng họ về Tổ quốc
Hàng ngày, Hộp thư với khán giả VTV4 vẫn nhận được rất nhiều thư
phản hồi của khán giả Có những thư khen, có những thư góp về điểm nàyđiểm kia chưa ph hợp
Là một kênh phủ sóng trên phạm vi toàn cầu, VTV4 gặp không ít khókhăn trong quá trình phát sóng Qua thư phản ánh của khán giả, cũng nhưcuộc khảo sát vừa qua cho thấy, việc mất tín hiệu hình ảnh khi đang xem tivivẫn thường xuyên xảy ra Hình ảnh nhiễu, không rõ nét cũng là một nguyênnhân khiến công chúng “ngại” xem VTV4
* VTC10 – Kênh văn hóa Việt
VTC10 là kênh truyền hình văn hóa Việt của Đài Truyền hình Kỹ thuật
số VTC Tháng 8/2016, VTC10 trở thành Kênh truyền hình đầu tiên của ViệtNam phát sóng quảng bá tại California (Hoa Kỳ)
Ngay trong những ngày đầu thành lập là một kênh truyền hình “Vănhóa Việt”, VTC10 chọn con đường: lấy văn hóa làm nhịp cầu, lấy trái tim đểnói với trái tim Do đó, một trong những đối tượng mà VTC10 quan tâm vàhướng đến đó là người Việt ở nước ngoài Kênh VTC10 có một số chươngtrình dành cho bà con kiều bào Đó là chương trình “Kết nối cộng đồng” với
Trang 39nhiệm vụ giải đáp các thắc mắc, tâm tư tình cảm của kiều bào Ngoài ra,
“Người Việt 4 phương” giới thiệu chân dung và cuộc sống bà con Việt kiều ởcác nơi trên thế giới, để trong nước kết nối với kiều bào và kiều bào kết nốivới kiều bào
số trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí được cấp phép là248[3] Người Việt Nam ở nước ngoài theo dõi các thông tin trong nước quarất nhiều trang báo điện tử như: vnexpress, vietnamnet, tuoitre, thanhnien.Tuy nhiên có một số tờ báo được giao nhiệm vụ tuyên truyền thông tin chođối tượng là kiều bào, cụ thể là:
* Tạp chí Quê Hương phiên bản điện tử:
Tại Việt Nam, tờ báo trực tuyến đầu tiên là tờ tạp chí Quê Hương điện
tử ra đời vào năm 1997 Đây là tờ tạp chí của Ủy ban Nhà nước về ngườiViệt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao Việt Nam, phát hành số đầu tiên vàongày 6/2/1997, chính thức khai trương ngày 3/12/1997
Khác với Tạp chí Quê Hương (báo in) đi theo hướng phân tích sâu,Tạp chí Quê Hương điện tử với tên miền www.quehuongonline.vn hướngđến việc đưa tin cập nhật nhanh, kịp thời và chính xác để đáp ứng một cáchtốt nhất nhu cầu thông tin của kiều bào
Tạp chí Quê Hương điện tử là trang có tôn chỉ mục đích dành cho cộngđồng người Việt Nam ở nước ngoài Trang web cung cấp một cái nhìn toàn
Trang 40cảnh về Việt Nam, từ đất nước, con người đến bản sắc văn hóa Đặc biệt,trang web c n có 2 mục hữu ích là Học Tiếng Việt (có kèm file ghi âm) vàTìm người thân (dành cho những người muốn tìm lại thân quyến thất lạc) Ởnhững buổi đầu tiên, tạp chí Quê Hương đã thực hiện vai tr là cầu nối giữacộng đồng công chúng Việt Nam với đất nước (có những thời điểm có tới 2triệu lượt truy cập website này/tháng, phần lớn từ nước ngoài) Tuy nhiên,thực tế hiện nay cho thấy tờ báo điện tử này c n nhiều hạn chế như nội dungchưa phong phú, tin tức kém cập nhật, do đó đã không thu hút được sự quantâm của số đông công chúng.
* Báo Thế giới và Việt Nam phiên bản điện tửBáo Thế giới và Việt Nam đã h a mạng phiên bản điện tử từ năm
2000 Tuy nhiên, nhằm đáp lại sự tin tưởng của độc giả cũng như nhu cầu mởrộng phạm vi thông tin, báo điện tử đã được phát triển trên nền trang tin điện
tử, chính thức ra mắt ngày 30/9/2016 tại hai địa chỉ: baoquocte.vn vàtgvn.com.vn Trên trang web này, có một chuyên mục dành cho kiều bào là
mục “Người Việt năm châu” Những thông tin về hoạt động cộng đồng, những
tấm gương đẹp của người Việt xa xứ đã được chuyển tải nhanh chóng trêntrang web này
* Website Phát thanh - Truyền hình Internet dành cho người Việt Nam