Một trong những kết quả nghiên cứu đó là Nhà nước banhành Quyết định số 349/CT ngày 14/12/1983 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởngnay là Thủ tướng Chính phủ về bổ sung 14 nhóm chỉ tiêu thống
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN VĂN THÀNH
CHUẨN HOÁ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ PHỤC VỤ QUẢN LÝ
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Xuân Định
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Lê Xuân Định đãtận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại CụcThông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thu thập tàiliệu, đây là những căn cứ quan trọng để tôi hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên Khoa Sau Đại học, Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức khoa học và kinhnghiệm thực tiễn cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc những người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên tôi vượt qua những khó khăn trong quá trìnhhọc tập, nghiên cứu
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Tôi cũng gặp những khó khăn nhấtđịnh về năng lực, sự hiểu biết của bản thân và thời gian nghiên cứu có hạn nênluận văn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết, tác giả trân trọng vàmong nhận được những góp ý của các nhà khoa học, các giảng viên và các đồngnghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thành
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Tên đề tài 7
2 Lý do nghiên cứu 7
3 Lịch sử nghiên cứu 8
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Phạm vi nghiên cứu 13
6 Mẫu khảo sát 13
7 Câu hỏi nghiên cứu 14
8 Giả thuyết nghiên cứu 14
9 Phương pháp nghiên cứu 14
10 Kết cấu luận văn 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 15
1.1 Khái niệm thông tin KH&CN 15
1.2 Khái niệm quản lý thông tin KH&CN 17
1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về KH&CN 17
1.2.2 Khái niệm quản lý thông tin KH&CN 18
1.3 Khái niệm thống kê KH&CN 18
1.3.1 Khái niệm, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của thống kê 18
1.3.2 Khái niệm về KH&CN 19
1.3.3 Khái niệm về thống kê KH&CN 22
1.4 Khái niệm hệ thống chỉ tiêu thống kê 22
1.5 Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê 26
1.5.1 Khái niệm hệ thống 26
1.5.2 Khái niệm chuẩn hóa 26
1.6 Yêu cầu chính xác và hiệu quả trong thống kê 27
1.6.1 Yêu cầu chính xác trong thống kê 27
1.6.2 Yêu cầu hiệu quả trong thống kê 28
1.7 Mối quan hệ giữa chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê với quản lý thông tin KH&CN 29
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ TRONG
QUẢN LÝ THÔNG TIN KH&CN Ở VIỆT NAM 31
2.1 Cơ bản về thực trạng quản lý thông tin KH&CN ở Việt Nam 31
2.2 Thực trạng thiếu đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu thống kê trong thông tin KH&CN ở Việt Nam 32
2.2.1 Hiện trạng công tác thống kê KH&CN 32
2.2.2 Hiện trạng thu thập và cung cấp các chỉ tiêu thống kê về KH&CN 33 2.3 Những hạn chế trong công tác thống kê KH&CN và sự thiếu đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN hiện nay 43
2.4 Nguyên nhân thiếu đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu thống kê 46
2.5 Kết quả khảo sát 47
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỂ CHUẨN HÓA HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ 55
3.1 Yêu cầu và nguyên tắc chuẩn hóa chỉ tiêu thống kê KH&CN 55
3.1.1 Các vấn đề về chuẩn hóa chỉ tiêu thống kê 55
3.1.2 Nguyên tắc và yêu cầu chuẩn hóa 56
3.1.3 Phương pháp tính toán 58
3.1.4 Nội dung hoàn thiện 58
3.2 Bộ chỉ tiêu chuẩn hóa phục vụ thống kê 59
3.2.1 Chuẩn hóa nhóm chỉ tiêu về nguồn lực thông tin KH&CN 59
3.2.2 Chuẩn hóa chỉ tiêu về tài chính thông tin KH&CN 65
3.2.3 Chuẩn hóa nhóm chỉ tiêu về hạ tầng thông tin KH&CN 67
3.2.4 Chuẩn hóa nhóm chỉ tiêu về chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) 75 3.3 Giải pháp để áp dụng bộ chỉ tiêu chuẩn hóa phục vụ thống kê thông tin KH&CN 80
3.3.1 Giải pháp đảm bảo độ chính xác và hiệu quả của chế độ báo cáo thống kê 80
3.3.2 Giải pháp tin học hóa hoạt động thống kê KH&CN phục vụ quản lý thông tin KH&CN 84
KẾT LUẬN 89
Trang 6KHUYẾN NGHỊ 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Danh mục các chỉ tiêu thống kê KH&CN trong Hệ thống chỉ tiêu
thống kê Quốc gia 35
Bảng 2: Tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ thống kê KH&CN các tổ
chức TT-TV KH&CN 49
Bảng 3: Chuyên môn đƣợc đào tạo của nhân lực cơ quan TT-TV 50
Bảng 4: Thống kê tỷ lệ trung bình chế độ báo cáo thống kê cơ sở về KH&CN
của một tỉnh 52
Bảng 5: Thống kê chế độ báo cáo thống kê tổng hợp về KH&CN với các Sở
KH&CN ……….………53
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 9xã hội nói chung Hiện nay, việc hoạch định nhiệm vụ, tổ chức, kinh phí cho côngtác thống kê khoa học và công nghệ cả ở Trung ương và địa phương còn chưađược quan tâm đúng mức.
Nhiều tỉnh, thành trong cả nước gặp nhiều khó khăn trong việc triển khaicông tác thống kê KH&CN Mặc dù Thông tư số 05/2010/TT-BKHCN của BộKH&CN ban hành ngày 02/7/2010 quy định chế độ báo cáo thống kê cơ sở vềKH&CN, nhưng trên thực tế các đối tượng phải thực hiện chế độ báo cáo thống
kê cơ sở về KH&CN hàng năm chưa nghiêm túc báo cáo hoặc báo cáo chưa đầy
đủ theo đúng yêu cầu Bên cạnh đó, công tác thống kê này đòi hỏi phải có một bộmáy chuyên trách, được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ bài bản và đầu tư ban đầutương xứng với nhiệm vụ để có thể xúc tiến một cách có hiệu quả Một điểm kháquan trọng đó là, hiện nay, các văn bản quy phạm Pháp luật về thống kê KH&CNcòn mới, chưa đồng bộ nên việc thực thi công tác thống kê gặp nhiều khó khăn,bất cập như: Các cơ quan, đơn vị, tổ chức có trách nhiệm báo cáo thống kê cơ sởchưa phân công người chịu trách nhiệm, chưa chủ động tải phần mềm thống kê
cơ sở để nhập dữ liệu; cán bộ thực hiện báo cáo thống kê tổng hợp hiện nay còn ít,
Trang 10chưa được đào tạo, tập huấn về thống kê KH&CN, chưa sử dụng được phần mềmthống kê
Từ trước đến nay hoạt động thống kê KH&CN ứng dụng một cách hạn chếhoặc chưa áp dụng tin học hóa vào công tác thống kê nên dẫn đến kết quả thống
kê chậm, không cập nhật kịp thời các thông tin KH&CN mới, tiên tiến Hệ thốngbáo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê tổng hợp ở các địa phương còn manhmún, cách hiểu và thực hiện các chỉ tiêu thống kê KH&CN còn thiếu nhất quán.Điều bức thiết cần đặt ra là cần có một hệ thống đảm bảo sự nhất quán, thống nhất,chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê từ các cấp Trung ương đến địa phương trong toànquốc Vậy phải tạo nên một hệ thống chuẩn những chỉ tiêu thống kê với đầu raphải đảm bảo thống kê chính xác và hiệu quả về thời gian Do vậy tác giả lựa chọnhướng nghiên cứu “Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ quản lý thôngtin Khoa học và Công nghệ“ để làm luận văn thạc sỹ
3 Lịch sử nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu ở Viêt Nam:
Từ đầu những năm 1980 cho đến nay, Việt Nam đã có một số nghiên cứu vềthống kê KH&CN và chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu về tiềm lực và hoạt độngKH&CN
Hàn Ngọc Lương (1985) đã có nghiên cứu về “Xây dựng kiến nghị và lập hệthống chỉ tiêu, phương pháp và biểu mẫu báo cáo các thống kê tại các cơ sởnghiên cứu, thiết kế, các trường đại học, các cơ sở điều tra khảo sát” Mục tiêu làxây dựng cơ sở khoa học cho việc tổ chức chế độ thống kê KH&CN phù hợp vớichế độ thống kê kinh tế quốc dân, đáp ứng được yêu cầu của công tác kế hoạchhoá và quản lý KH&CN Một trong những kết quả nghiên cứu đó là Nhà nước banhành Quyết định số 349/CT ngày 14/12/1983 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng(nay là Thủ tướng Chính phủ) về bổ sung 14 nhóm chỉ tiêu thống kê hoạt độngKH&CN vào hệ thống chỉ tiêu thống kê chính thức Tuy nhiên, do cách tiếp cận vàbối cảnh kinh tế đặc trưng kế hoạch hoá tập trung của thời kỳ này nên các kết quảkhông thể được tiếp tục áp dụng trong điều kiện hiện nay [21, 22]
Trang 11Tăng Văn Khiên (1995) đã đưa ra phương pháp luận về thống kê tiềm lựcKH&CN và các phương án điều tra tiềm lực KH&CN trong "Nghiên cứu xâydựng phương án điều tra tiềm lực KH&CN" Các kết quả nghiên cứu này tập trungphục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về KH&CN tại thời điểm này [16, 18]
Trần Văn Sinh (1997) cũng trình bày một số vấn đề lý luận và phương phápxây dựng mô hình thông tin thống kê tiềm lực khoa học công nghệ Xây dựng hệthống báo cáo thống kê định kỳ cho các đơn vị KH&CN chuyên nghiệp của Trungương và địa phương trong đề tài "Xây dựng mô hình tổ chức thông tin thống kêtiềm lực KH&CN" [32]
Trần Văn Sinh (1998) đã đưa ra các chỉ tiêu thống kê KH&CN và mô hình tổchức thống kê phục vụ điều tra và báo cáo định kỳ trong "Xây dựng hệ thống chỉtiêu và mô hình tổ chức thống kê tiềm lực KH&CN" Các nhóm chỉ tiêu chính vềKH&CN bao gồm đơn vị KH&CN, lao động, tổng thu chi của đơn vị KH&CN, giátrị TSCĐ và máy móc, kết quả hoạt động KH&CN, hoạt động thông tin và quan hệquốc tế Các chỉ tiêu thống kê này mới chỉ tập trung vào tiềm lực KH&CN và thiếutính tương hợp quốc tế [31]
Nguyễn Võ Hưng (2000) trong "Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống
kê và tổ chức thông tin KH&CN của Việt Nam" đã đưa ra những yêu cầu đối vớithống kê KH&CN và những vấn đề liên quan tới đo lường KH&CN [13] Đề tàinày chủ yếu cung cấp thông tin về phương pháp luận thống kê KH&CN củaOECD và UNESCO, 89 chỉ tiêu thống kê về KH&CN của OECD mà đề tàikhuyến nghị sử dụng cho Việt Nam cần được chọn lọc và bổ sung cho phù hợphoàn cảnh Việt Nam
"Nghiên cứu khai thác, xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu cán bộ KH&CN từphiếu điều tra dân số và nhà ở 01/4/1999" (Nguyễn Văn Tiến, 2001) đã tiến hànhtrích ngang danh sách cán bộ KH&CN 61 tỉnh, thành phố, tiến hành xác minh lại,tổng hợp và phân tích đánh giá hiện trạng đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ theongành nghề đào tạo, vùng kinh tế, thành phần kinh tế, dân tộc
Trang 12Ngoài ra, để bước đầu tìm hiểu khả năng thu thập số liệu thống kê KH&CNphù hợp cung cấp cho hệ thống thống kê KH&CN của ASEAN theo những camkết của Việt Nam, Bộ KH&CN đã giao cho Trung tâm Thông tin KH&CN Quốcgia tiến hành đề án "Nghiên cứu khả thi xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) tiêu chíthống kê KH&CN theo yêu cầu ASEAN" (2000-2001).
Tăng Văn Khiên (2003) trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tinthống kê khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu quản lý theo cơ chế mới” đãđánh giá thực trạng về thông tin thống kê KH&CN ở nước ta những năm qua, đưa
ra hệ thống chỉ tiêu thống kê tổng hợp về KH&CN, hình thành lược đồ tổng quan
về hệ thống thông tin trong việc thu thập, tổng hợp và cung cấp số liệu thống kêKH&CN [19]
Trần Văn Sinh (2003) trong “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh trình độkhoa học công nghệ ở Việt Nam” đã đề cập xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kêtổng hợp về KH&CN, hình thành lược đồ tổng quan về hệ thống thông tin trongviệc thu thập, tổng hợp và cung cấp số liệu thống kê KH&CN Tuy nhiên cáchphân chia loại hình hoạt động KH&CN và lĩnh vực hoạt động KH&CN ở đây lạichưa hoàn toàn tương thích quốc tế, đối tượng thống kê lại bao hàm nhiều chỉ tiêuthuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo [30]
Cao Minh Kiểm (2004) trong “Báo cáo kết quả điều tra nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ quốc gia năm 2002” đã đưa ra những chỉ tiêu thống kê vềchi phí và nhân lực [14, 15] Tuy nhiên, kết quả thống kê này chỉ cho lĩnh vựcnghiên cứu và phát triển mà không phải toàn hệ thống KH&CN
Năm 2005, Hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia, trong đó có 9 chỉ tiêu thống
kê quốc gia về KH&CN đã được ban hành (Quyết định số 305/2005/QĐ-TTgngày 24/11/2005 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu quốc gia) Tuy nhiên, việclàm này cũng mới chỉ dừng ở chỗ nêu tên chỉ tiêu, phân tổ chủ yếu, kỳ công bố và
cơ quan chính chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp
Đào Ngọc Lâm (2005) trong đề tài “Khái niệm, nội dung, phương pháp tínhmột số chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia” đã hoàn thiện khái niệm,
Trang 13nội dung, phương pháp tính 10 nhóm chỉ tiêu trong số 24 nhóm của hệ thống chỉtiêu thống kê quốc gia bao gồm: Dân số; lao động, việc làm; cơ sở kinh tế, hànhchính sự nghiệp; nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thươngmại trong nước; thương mại quốc tế; giá cả; y tế và chăm sóc sức khoẻ và tiến bộphụ nữ [20] Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu chi tiết nhằm chuẩn hoá các chỉ tiêuthống kê Tuy nhiên, trong đề tài này các tác giả cũng chưa đưa ra khái niệm/địnhnghĩa, nội dung, phương pháp tính đối với 9 chỉ tiêu thống kê quốc gia trong nhómkhoa học và công nghệ.
Phan Huy Quế (2008) trong đề tài cấp bộ “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thựctiễn để triển khai hoạt động thống kê khoa học và công nghệ theo nghị định số30/2006/NĐ-CP” đã nghiên cứu đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN chủyếu, nghiên cứu chuẩn hóa khái niệm, định nghĩa và phương pháp tính một số chỉtiêu song cần hoàn thiện và chuẩn hoá thêm [28, 29]
Năm 2008, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Bảng phân loại lĩnh vựcnghiên cứu khoa học và công nghệ và bảng phân loại mục tiêu kinh tế xã hội củahoạt động khoa học và công nghệ (ban hành kèm theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN ngày 4/9/2008 và Quyết định 37/QĐ-BKHCN) [2]
Năm 2008, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kêngành KH&CN (theo Thông tư số 05/2009/TT-BKHCN về việc quy định Hệthống chỉ tiêu thống kê ngành KH&CN ban hành ngày 30/03/2009), tuy nhiênchưa có nghiên cứu về chuẩn hóa chỉ tiêu thống kê KH&CN để triển khai Thông
tư này
Lê Xuân Định và cộng sự (2009) trong đề tài “Nghiên cứu chuẩn hóa các chỉtiêu thống kê khoa học và công nghệ chủ yếu của Việt Nam” đã tổng quan về hoạtđộng thống kê KH&CN, trình bày kết quả nghiên cứu chuẩn hóa các chỉ tiêu thống
kê KH&CN chủ yếu của Việt Nam và đề xuất mô hình tổ chức hoạt động thống kêKH&CN [10, 11] Tuy nhiên, nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở mức đề xuấtchuẩn hoá một vài chỉ tiêu thống kê KH&CN, chưa nghiên cứu chuẩn hoá nhómchỉ tiêu về thông tin KH&CN
Trang 14Mặt khác, trong thời gian gần đây Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Hệ thốngchỉ tiêu thống kê quốc gia mới (Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia),Chế độ báo cáo thống kê áp dụng cho Bộ, ngành mới (Quyết định số 15/2014/QĐ-TTg ngày 17/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chế độ báo cáothống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, ngành), Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnhmới (Thông tư số 02/2011/TT-BKHĐT ban hành ngày 10/01/2011 về quy địnhnội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; danh mục và nội dung Hệ thống chỉtiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã ) Tất cả những điều chỉnh quan trọng này cầnphải được cập nhật và chuẩn hóa trong hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN.
Như vậy, tuy đã đạt một số kết quả nhất định, nhưng về cơ bản cho đếnnay, chúng ta vẫn chưa có nghiên cứu toàn diện đối với các chỉ tiêu thống kê phục
vụ quản lý thông tin KH&CN của Việt Nam, chưa có một nghiên cứu để tạo ra sựthống nhất trong nhận thức về các chỉ tiêu này Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu
đề tài này là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay cũng như ngànhhọc và yêu cầu thực tiễn ở nước ta Tác giả luận văn hy vọng rằng các kết quả đạtđược trong nghiên cứu này sẽ là những đóng góp thiết thực về mặt lý luận cũngnhư thực tiễn nhằm chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ quản lý thôngtin KH&CN
Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Trong hoạt động quản lý KH&CN, nhiều nước trên thế giới đã tiến hành cáchoạt động thống kê KH&CN bằng điều tra nghiên cứu và phát triển (NC&PT).Hàng năm, các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, đềucông bố báo cáo hiện trạng NC&PT của mình thông qua phân tích số liệu điều traNC&PT Những nước này đã chuẩn hóa khái niệm, định nghĩa và phương pháptính các chỉ tiêu thống kê NC&PT Hướng dẫn về thống kê KH&CN của các tổchức quốc tế như OECD và UNESCO thường chỉ tập trung vào các chỉ tiêu vềNC&PT và đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo
Trang 15Nhìn chung những chỉ tiêu thống kê KH&CN của nước ngoài và các tổchức quốc tế đều tập trung vào lĩnh vực NC&PT Do đặc thù về thể chế hànhchính, quản lý nhà nước của Việt Nam, không thể áp dụng trực tiếp và máy móccác chỉ tiêu quốc tế về KH&CN mà cần có quá trình phân tích, so sánh và nghiêncứu áp dụng.
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng thiếu đồng bộ của
hệ thống chỉ tiêu thống kê trong thông tin KH&CN ở Việt Nam, luận văn sẽ từ đó
đề xuất một hệ thống chỉ tiêu thống kê thông tin KH&CN, đảm bảo được tínhchính xác và hiệu quả về thời gian
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận văn sẽ tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuẩn hoá hệ thốngchỉ tiêu thống kê KH&CN, mối quan hệ giữa chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê vớiquản lý thông tin KH&CN
- Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích thực tế, luận văn sẽ khái quát về hiện trạng
hệ thống chỉ tiêu thống kê trong quản lý thông tin KH&CN ở nước ta Thông qua việcphân tích thực trạng, nguyên nhân, luận văn sẽ khái quát hóa sự thiếu đồng bộ của hệthống chỉ tiêu thống kê trong thông tin KH&CN ở Việt Nam
- Từ việc nghiên cứu lý luận và hiện trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê trongquản lý thông tin KH&CN, luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp để chuẩn hoá hệ
thống chỉ tiêu thống kê KH&CN
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong một số đơn vị thuộc mạnglưới các tổ chức thông tin-thư viện KH&CN Bộ/ngành và một số viện nghiên cứu,trường đại học ở Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: Khảo sát hiện trạng sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống
kê KH&CN trong thời gian 5 năm trở lại đây (từ 2009 đến 2013)
6 Mẫu khảo sát
Trang 16Luận văn đã tiến hành điều tra, khảo sát, trao đổi đối với các nhóm đốitượng dùng tin chính sau: Cán bộ lãnh đạo - quản lý, cán bộ nghiên cứu giảng dạy,nghiên cứu sinh, sinh viên.
7 Câu hỏi nghiên cứu
- Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê như thế nào để phục vụ hiệu quảquản lý thông tin KH&CN ?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê là một điều kiện cơ bản để đảm bảocăn cứ khoa học cho quá trình tin học hoá công tác quản lý thông tin KH&CN mộtcách hiệu quả
9 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứutài liệu để tìm hiểu các nội dung liên quan đến cơ sở lý luận và thu thập, phân tích, xử lý,tổng hợp thông tin, tài liệu
- Phương pháp điều tra thăm dò ý kiến để đánh giá tính thống nhất của kháiniệm và tính khả thi của của việc thu thập số liệu thống kê
10 Kết cấu luận văn
Mở đầu Chương 1 Cơ sở lý luận Chương 2 Thực trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê trong quản lý thông tin
KH&CN ở Việt Nam Chương 3 Giải pháp chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê Kết luận
Khuyến nghị
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1 Khái niệm thông tin KH&CN
Lĩnh vực thông tin KH&CN có những thuật ngữ thường được sử dụng phổbiến đó là:
Tài liệu là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản, âm
thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến và sửdụng [3]
Số hóa tài liệu là quá trình sử dụng các phương tiện kỹ thuật để chuyển tài
liệu từ sách, báo, tạp chí in, vật ghi âm, ghi hình sang tài liệu điện tử/tài liệu số đểlưu giữ, sử dụng bằng các phương tiện tin học [35]
Tài liệu điện tử (tài liệu số) là tài liệu đã được số hóa để lưu giữ, sử dụng
trên mạng thông tin máy tính [35]
Thông tin là dữ liệu, tin tức được xem xét trong quá trình tồn tại và vận
động trong không gian và thời gian [23]
Nguồn tin khoa học và công nghệ là các thông tin khoa học và công nghệ
được thể hiện dưới dạng sách, báo, tạp chí khoa học; kỷ yếu hội nghị, hội thảokhoa học; thuyết minh nhiệm vụ, báo cáo kết quả thực hiện, ứng dụng kết quảnhiệm vụ khoa học và công nghệ; tài liệu sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹthuật; catalô công nghiệp; luận án khoa học; tài liệu thiết kế, kỹ thuật; cơ sở dữliệu; trang thông tin điện tử; tài liệu thống kê khoa học và công nghệ; tài liệu đaphương tiện và tài liệu trên các vật mang tin khác [3]
Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ là hoạt động dịch vụ khoa học
và công nghệ, bao gồm các hoạt động liên quan đến thu thập, xử lý, phân tích, lưugiữ, tìm kiếm, phổ biến, sử dụng, chia sẻ và chuyển giao thông tin khoa học vàcông nghệ, các hoạt động khác có liên quan [3]
Tổ chức thực hiện chức năng thông tin khoa học và công nghệ là tổ chức
triển khai thực hiện các hoạt động thông tin khoa học và công nghệ; xây dựng,phát triển, vận hành và khai thác hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu về khoa học vàcông nghệ [3]
Trang 18Thư viện là nơi thu thập, lưu giữ, xử lý, bảo quản tài liệu để đáp ứng nhu cầu thông tin của người đọc [26].
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ,
bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp và quyền đối với giống cây trồng [27]
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng
tạo ra hoặc sở hữu [27]
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tênthương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu vàquyền chống cạnh tranh không lành mạnh [27]
Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ
chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ [27]
Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa
học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào [27]
Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi
âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữthường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử [27]
Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm
giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên [27]
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức,
cá nhân khác nhau [27]
Văn bằng bảo hộ là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ
chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dángcông nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý; quyền đối với giống câytrồng [27]
Thông tin khoa học và công nghệ là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được
tạo ra trong các hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo [3]
Trang 19Các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức KH&CN nói trên là kết quảcủa hoạt động KH&CN, được hình thành trong các quá trình của hoạt động này.Theo cách tiếp cận của thị trường, thông tin KH&CN cũng giống như một loạinguyên liệu hàng hóa bất kỳ, có thể sử dụng ngay ở dạng nguyên liệu thô, hoặc cóthể gia công dưới hình thức các sản phẩm, dịch vụ để trao đổi trên thị trường.
Theo tác giả luận văn, định nghĩa thông tin KH&CN như sau:
Thông tin KH&CN là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo.
1.2 Khái niệm quản lý thông tin KH&CN
1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về KH&CN
Hiểu một cách chung nhất, quản lý nhà nước là sự quản lý của nhà nước đốivới xã hội và công dân và là dạng quản lý xã hội đặc biệt Đó là sự chỉ huy điềuhành để thực thi quyền lực Nhà nước; là tổng thể và thể chế, pháp luật, quy tắc, về
tổ chức cán bộ của bộ máy nhà nước; do tất cả các cơ quan nhà nước - lập pháp,hành pháp và tư pháp - có tư cách pháp nhân công pháp tiến hành bằng các vănbản quy phạm pháp luật, tổ chức, điều hành và kiểm tra, kiểm soát để thực hiện cácchức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao trong quá trình tổ chức vàđiều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân
Tuy nhiên, ở đây khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹphơn, và đồng nghĩa với quản lý hành chính nhà nước Đó là sự thực thi quyền hànhpháp của nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực phápluật của Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
để duy trì và phát triển mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiệnnhững chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, do các cơ quan trong hệ thống hànhchính từ trung ương đến cơ sở tiến hành
Như vậy, Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ là dạng quản lý mà
trong đó, chủ thể quản lý chính là nhà nước Đó là dạng quản lý xã hội mang tínhquyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước bộ máy hành chính nhà
Trang 20nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ [25]
1.2.2 Khái niệm quản lý thông tin KH&CN
Thông tin hiện nay được coi là một trong những loại tài sản quan trọng nhấtđối với bất kỳ tổ chức nào
Theo tác giả, quản lý thông tin KH&CN là việc một tổ chức KH&CN sửdụng các phương thức để lập kế hoạch, tập hợp, tổ chức, tạo mới, sử dụng, kiểmsoát, phổ biến và loại bỏ một cách hiệu quả các thông tin của tổ chức đó Cácthông tin này bao gồm cả các bản ghi đã được cấu trúc lẫn các thông tin chưađược cấu trúc
Thông qua quản lý thông tin, tổ chức có thể đảm bảo rằng giá trị của các thông tin đó được xác lập và sử dụng tối đa để hỗ trợ cho các hoạt động trong nội bộ
tổ chức cũng như góp phần nâng cao hiệu quả của bộ phận cung cấp thông tin
1.3 Khái niệm thống kê KH&CN
1.3.1 Khái niệm, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của thống kê
1.3.1.1 Khái niệm thống kê
Thống kê là một môn khoa học xã hội nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng (tự nhiên, kinh tế - xã hội) số lớn
trong điều kiện thời gian và địa điểm nhất định [24]
Tại sao phải nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất ?
phân biệt hiện tượng này với hiện tượng khác, chất bộc lộ những khía cạnh sâu kín của hiệntượng Nhưng chất không tồn tại độc lập mà được biểu hiện qua
lượng Sở dĩ cần phải xử lý mặt lượng mới tìm hiểu được mặt chất là vì chất thường bị che khuất bởi các yếu tố ngẫu nhiên
- Nghiên cứu số lớn: để triệt tiêu các yếu tố ngẫu nhiên, những hiện tượng
cá biệt, rời rạc thường mang tính ngẫu nhiên
1.3.1.2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê
Trang 21Đối tượng nghiên cứu của thống kê là mặt lượng trong mối liên hệ mậtthiết với mặt chất của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội trong điều kiện thờigian và địa điểm cụ thể.
1.3.1.3 Nhiệm vụ của thống kê
- Phục vụ cho việc lập kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân
- Phục vụ cho việc theo dõi và xây dựng các chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước
- Tổng kết những thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
1.3.2 Khái niệm về KH&CN
1.3.2.1 Khái niệm khoa học
Khoa học được hiểu là ”hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và
phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” (theo Luật KH&CN
trước tự nhiên, biết ứng xử trong các quan hệ xã hội Còn tri thức khoa học là
những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoahọc, là loại hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và được tiếnhành dựa trên những phương pháp khoa học
1.3.2.2 Khái niệm công nghệ
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc
không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản
phẩm (theo Luật KH&CN số 29/2013/QH13 ban hành ngày 18/6/2013).
1.3.2.3 Khái niệm nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất,
quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp
nhằm ứng dụng vào thực tiễn.[25]
Trang 221.3.2.4 Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ
Ở Việt Nam, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm hoạt động nghiêncứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụngcông nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạokhác nhằm phát triển khoa học và công nghệ [25];
UNESCO đưa ra một hệ thống các khái niệm cơ bản phục vụ cho công tácthống kê KH&CN Các khái niệm này được đề cập rõ ràng trong tài liệu cẩm nangcủa UNESCO về thống kê KH&CN
UNESCO định nghĩa "Hoạt động KH&CN 1 là tất cả những hoạt động có tính
hệ thống, liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, phổ biến và áp dụng tri thức khoa học và kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực KH&CN như các khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học y dược và khoa học nông nghiệp, cũng như khoa học xã hội và nhân văn."
Hoạt động KH&CN được chia thành 3 loại hoạt động chính:
- Nghiên cứu khoa học và phát triển thực nghiệm (gọi tắt là NC&PT, tiếng
Anh là Research and Development hoặc R&D): là mọi hoạt động mang tính hệ
thống và sáng tạo thực hiện nhằm tăng cường khối lượng tri thức, bao gồm tri thức của con người, văn hoá và xã hội, và sử dụng những tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới [9]
- Giáo dục và đào tạo KH&CN 2 ở bậc thứ 3 theo nghĩa rộng: gồm tất cả
các hoạt động giáo dục và đào tạo ở bậc chuyên ngành chưa phải cấp đại học, giáo dục và đào tạo ở bậc đại học để có bằng đại học, đào tạo sau đại học và cao hơn, đào tạo suốt đời có tổ chức được thực hiện đối với các nhà khoa học và kỹ sư Những người này chủ yếu tương đương với phân loại chuẩn quốc tế về giáo dục
(ISCED3) ở cấp 5,6 và 7
1 STA - Scientific and Technological Activities.
2 STET - Scientific and Tecnological Education and Training
3 ISCED - International Standard Classification of Education
Trang 23- Dịch vụ KH&CN 4: được định nghĩa là mọi hoạt động liên quan đến hoạt
động nghiên cứu khoa học và phát triển thực nghiệm và đóng góp cho việc tạo ra, phổ biến và áp dụng tri thức KH&CN.
UNESCO chú trọng phân biệt hoạt động NC&PT và những hoạt độngKH&CN nhưng không thuộc phạm trù NC&PT Trên thực tế, việc phân biệt nàynhiều khi không đơn giản vì ranh giới giữa NC&PT và các hoạt động ứng dụngKH&CN hoặc dịch vụ KH&CN không rõ ràng Theo UNESCO, những dạng hoạtđộng KH&CN sau không coi là thuộc hoạt động NC&PT:
- Thu thập dữ liệu thường ngày của các hoạt động quan trắc (như khí tượng,thuỷ văn) Tuy nhiên nếu là thu thập dữ liệu cho một hoạt động nghiên cứu KH lại
được coi là thuộc hoạt động NC&PT;
- Ứng dụng thuần tuý kết quả KH&CN
- Nghiên cứu khả thi, nghiên cứu thị trường, nghiên cứu chính sách
UNESCO phân biệt rõ ràng giữa ý nghĩa của hai thuật ngữ "research" và "studies"5 Nếuviệc nghiên cứu của cơ quan quản lý chỉ nhằm đưa ra căn cứ cho việc hoạch định chínhsách, hoặc chỉ là để chuẩn bị cho việc triển khai một dự án (nghiên cứu khả thi), hoặcđiều tra xã hội học người tiêu dùng, nghiên cứu tiếp thị đều không coi là NC&PT
- Hoạt động KH&CN và sản xuất công nghiệp: Nếu việc nghiên cứu đưa ra
những mẫu sản phẩm và quy trình mới, thì chúng được coi là hoạt động NC&PT,trong khi những hoạt động mở rộng quy mô sản xuất với sản phẩm mới, nghiêncứu thị trường, tiếp thị cho sản phẩm mới lại không được coi là NC&PT
Theo quan niệm của tác giả, hoạt động thống kê KH&CN cần đảm bảo tínhtương hợp quốc tế Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong thống kê
Vì vậy, định nghĩa tác giả đưa ra về hoạt động thống kê KH&CN như sau:
4 STS - Scientific and Technological Services
5 Ở Việt Nam, hai thuật ngữ này đều được dịch là "nghiên cứu" Vì vậy dễ dẫn đến nhầm lẫn.
Trang 24Hoạt động KH&CN 6 là tất cả những hoạt động có tính hệ thống, liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, phổ biến và áp dụng tri thức khoa học và kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực KH&CN như các khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học y dược và khoa học nông nghiệp, cũng như khoa học xã hội và nhân văn.
1.3.3 Khái niệm về thống kê KH&CN Thống kê KH&CN là một lĩnh vực của thống kê học đề cập đến thông tin
liên quan đến nội dung, cơ cấu của hoạt động KH&CN, cung cấp các khái niệm
cơ bản để tổ chức hệ thống chỉ tiêu nhằm đo lường, phân tích và đánh giá các thông tin có liên quan đến các nguồn lực KH&CN (nhân lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật, tài chính, nguồn lực thông tin), các hoạt động KH&CN và các kết quả của các hoạt động KH&CN [4]
1.4 Khái niệm hệ thống chỉ tiêu thống kê
1.4.1 Tổng thể thống kê
Tổng thể thống kê là một tập hợp hay toàn bộ các nhận biết của hiện tượng
cụ thể Tổng thể thống kê là số lượng lớn, gồm những phần tử cấu thành hiện tượng, cần được quan sát, phân tích về mặt lượng của chúng [34] Các phần tử này
gọi là đơn vị tổng thể (hay cá thể) Đơn vị tổng thể gồm có: Tổng thể bộc lộ (như:nhân khẩu, sản phẩm, …), tổng thể tiềm ẩn (như: người đam mê nghiên cứu khoahọc, người thích bóng đá, …)
1.4.2 Tiêu thức thống kê
Các đơn vị tổng thể thường có nhiều đặc điểm khác nhau, nhưng trong nghiêncứu thống kê người ta chỉ chọn ra một số đặc điểm để nghiên cứu Các đặc điểm
được chọn này được gọi là tiêu thức thống kê Như vậy, tiêu thức thống kê là một
khái niệm chỉ đặc điểm của các đơn vị tổng thể được chọn ra để nghiên cứu.
[34] Nếu phân chia theo cách biểu hiện thì tiêu thức thống kê bao gồm hai loại: Tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng:
6 STA - Scientific and Technological Activities.
Trang 25(1)Tiêu thức thuộc tính, là loại tiêu thức không biểu hiện trực tiếp bằng con số, mà
các biểu hiện của nó được dùng để phản ánh loại hoặc tính chất của các đơn vị
tổng thể Ví dụ: Giới tính, dân tộc, thành phần kinh tế là những tiêu thức thuộc
tính
(2)Tiêu thức số lượng, là loại tiêu thức có biểu hiện trực tiếp bằng con số Đây là
những con số phản ánh đặc trưng có thể cân, đong, đo, đếm được của từng đơn vị
tổng thể Ví dụ: Số nhân khẩu trong một gia đình; tiền lương hàng tháng của người lao động; chiều dài của quãng đường
3, Điều 3 Luật Thống kê đã quy định: Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế-xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể [24]
Theo nội dung phản ánh, chỉ tiêu thống kê có thể chia thành:
- Chỉ tiêu khối lượng: phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiêncứu;
- Chỉ tiêu chất lượng: phản ánh đặc điểm về chất của hiện tượng nghiêncứu
Theo vai trò của hiện tượng nghiên cứu, chỉ tiêu thống kê có thể chia thành:
- Chỉ tiêu thống kê đầu vào (input indicator);
- Chỉ tiêu thống kê đầu ra (output indicator);
- Chỉ tiêu thống kê kết quả (outcome indicator);
- Chỉ tiêu thống kê tác động (impact indicator)
Trang 26Chỉ tiêu thống kê ở Việt Nam cần đảm bảo tính đặc thù trong điều kiện kinhtế- xã hội ở Việt Nam Vì vậy, theo tác giả, định nghĩa chỉ tiêu thống kê như sau:
Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế-xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể.
1.4.4 Điều tra chọn mẫu
Thống kê là nghiên cứu hiện tượng số lớn Tuy nhiên việc thu thập thôngtin thường được tiến hành trên nhiều cá thể của tổng thể, phương pháp thu thôngtin là thông qua mẫu số liệu: Điều tra chọn mẫu
Điều tra chọn mẫu là loại điều tra không toàn bộ, trong đó người ta chỉ chọn ra một số đơn vị nhất định trong toàn bộ các đơn vị của tổng thể để tiến hành điều tra thực tế, rồi dùng kết quả thu thập được để tính toán, suy luận thành các đặc điểm của toàn bộ tổng thể [24]
Ví dụ: Trong điều tra năng suất, sản lượng lúa, chỉ tiến hành thu thập sốliệu trên một đơn vị diện tích hay hộ gia đình, sau đó dùng kết quả thu thập đượcsuy luận cho năng suất và sản lượng toàn địa bàn điều tra
- Ưu điểm của điều tra chọn mẫu:
+ Tiến hành nhanh, gọn, đảm bảo tính kịp thời của số liệu
+ Giảm được chi phí và nhân lực cần thiết để thực hiện điều tra
+ Có điều kiện để mở rộng nội dung điều tra, tài liệu thu thập, phản ánh
được nhiều mặt của hiện tượng nghiên cứu
+ Làm giảm sai số khi chọn mẫu (sai số do ghi chép, cân đong, đo đếm,
khai báo, …) Vì điều tra chọn mẫu cần ít nhân viên điều tra nên có thể lựa chọnnhững người am hiểu chuyên môn và có kinh nghiệm điều tra hơn, có điều kiện đểtập huấn nghiệp vụ được tốt hơn; có thời gian để tiếp cận, thu thập thong tin trênmột đơn vị điều tra đầy đủ và cụ thể hơn, có thể kiểm tra được số liệu chặt chẽhơn, … Như vậy, số liệu có được từ các đơn vị điều tra sẽ có độ tin cậy cao hơn.+ Điều tra chọn mẫu áp dụng thay cho điều tra toàn bộ trong những trườnghợp điều tra phức tạp, quy mô lớn mà trong thực tế không thể tiến hành điều tra
Trang 27toàn bộ được Ví dụ: điều tra năng suất, sản lượng lúa; điều tra mức sống của dân cư; điều tra lao động, việc làm, …
+ Trong những trường hợp điều tra phá hủy những đơn vị điều tra như:Điều tra chất lượng đồ hộp, điều tra chất lượng bia, … thì chỉ có thể thực hiện bằng điềutra chọn mẫu
- Nhược điểm:
+ Do chỉ tiến hành trên một số đơn vị điều tra rồi dung kết quả để suy rộngcho toàn bộ tổng thể nên kết quả của điều tra chọn mẫu luôn tồn tại “sai số chọn mẫu”.+ Kết quả điều tra chọn mẫu không thể tiến hành phân nhỏ theo mọi phạm
vi và tiêu thức nghiên cứu như điều tra toàn bộ, mà chỉ có thể thực hiện được ở
mức độ nhất định tùy thuộc vào quy mô, cách rải mẫu, tính chất đồng đều của cácchỉ tiêu điều tra
Với nội dung cơ bản phân tích ở trên, có thể thấy rằng điều tra chọn mẫu làmột phương pháp khoa học, được sử dụng linh hoạt trong công tác nghiên cứuthống kê các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội
1.4.5 Hệ thống chỉ tiêu thống kê
Khoản 4 Điều 3 Luật Thống kê quy định: Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành [24]
Hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm nhiều loại, như hệ thống chỉ tiêu thống
kê quốc gia; hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ/ngành và địa phương; hệ thốngchỉ tiêu thống kê kinh tế; hệ thống chỉ tiêu thống kê xã hội Các hệ thống chỉ tiêuthống kê này hợp thành tổng thể hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất, trong đó hệthống chỉ tiêu quốc gia là hệ thống chỉ tiêu bao trùm nhất và có tính khái quát nhất
Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004 quy định: Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế-xã hội chủ yếu của đất nước để thu thập thông tin thống kê, phục vụ các cơ quan, lãnh đạo Đảng và nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
Trang 28trong từng thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác.
Theo tác giả luận văn, định nghĩa hệ thống chỉ tiêu thống kê như sau:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
1.5 Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê
1.5.1 Khái niệm hệ thống
Hệ thống là một tập hợp nhiều phần tử (đơn vị, bộ phận ) và các phần tử
đó phải có liên kết , tương tác lẫn nhau [5]
Điều kiện cần có ít nhất hai phần tử trở lên
Điều kiện đủ các phần tử này có quan hệ tương tác lẫn nhau
Muốn có hệ thống tốt thì cần nâng cao các mối quan hệ tương tác, ngườiquản lý cần tổ chức cho hệ thống với các bộ phận gắn kết với nhau, điều này có ýnghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý
Trong quá trình quản lý, bất cứ lĩnh vực nào cũng đều phải xử lý Một hệthống có tính phức tạp, tính phức tạp của hệ thống ở chỗ trong hệ thống có nhiềuđơn vị , nhiều bộ phận và mối quan hệ giữa các phần tử đó phải tương tác vớinhau thông qua các quan hệ về kinh tế, hành chính, luật pháp và các quan hệ tâm
lý – xã hội khác
1.5.2 Khái niệm chuẩn hóa
Chuẩn hóa là quá trình nghiên cứu, quy định và đưa vào áp dụng một cáchthống nhất, khoa học và hợp lý các tiêu chí đặc trưng, thông số, của một haynhiều lĩnh vực nhất định nào đó trong cùng một ngành, một địa phương, mộtnước, một khu vực hay trên toàn thế giới.7
Có 4 loại chuẩn hóa chính, bao gồm:
- Chuẩn hóa quốc tế và khu vực: do quốc tế và khu vực quy định, để các
quốc gia dựa vào đó xây dựng chuẩn riêng cho mình
7 Định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO)
Trang 29- Chuẩn hóa quốc gia: được xây dựng trên cơ sở những đặc trưng của từng
nước nhưng phù hợp với các chuẩn quốc tế Ví dụ; chuẩn phần mềm, phông tiếng Việt, giao thức trao đổi thông tin, mã hành chính,
- Chuẩn hóa ngành: được xây dựng trên cơ sở những đặc trưng của từng
ngành nhưng phải thống nhất với chuẩn quốc gia chung Ví dụ chuẩn về các loại thông tin, cấp độ thông tin của ngành đó
- Chuẩn hóa địa phương: được xây dựng trên cơ sở những đặc trưng của
từng địa phương nhưng phải thống nhất với chuẩn quốc gia và ngành Ví dụ: mã hànhchính, loại thông tin, cấp độ quản lý,
1.5.3 Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê
Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê là hoạt động đổi mới và áp dụng đồng
bộ hệ thống chỉ tiêu thống kê, hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc giathống nhất, thông suốt và hiệu quả phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế nhằmcung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời các thông tin thống kê đáp ứng nhu cầu phântích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành củacác cơ quan Đảng, Nhà nước; công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các Bộ, ngành và địa phương và củacác tổ chức, cá nhân [24]
1.6 Yêu cầu chính xác và hiệu quả trong thống kê
1.6.1 Yêu cầu chính xác trong thống kê
Bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời trong việc điều tra, báo cáo, tổng hợp, công bố thông tin thông kê [24]
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong thống kê Bởi vì nó liên quan đếnhai đối tượng chủ yếu nhất của Luật Thống kê là tổ chức, cá nhân có trách nhiệmcung cấp thông tin hoặc làm công tác thống kê Đồng thời nó cũng liên quan đến
cả 3 yêu cầu cơ bản của thông tin thống kê: nếu không đầy đủ sẽ không đánh giáđược toàn diện tình hình, quyết định sẽ không đồng bộ, bị sai lệch; nếu khôngchính xác thì quyết định sẽ sai, chẳng những không đạt kết quả như mong muốn
mà còn ngược lại; nếu không kịp thời sẽ lỡ thời cơ, vì nó bao quát tất cả các khâu
Trang 30của hoạt động thống kê từ điều tra, báo cáo, tổng hợp đến công bố thông tin.Nguyên tắc này có liên quan đến nhiều quy định khác ở trong luật, từ nghĩa vụquyền hạn của tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp thông tin phải trung thực;
tổ chức, cá nhân làm công tác thống kê phải khách quan
Thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, bảng phân loại, đơn vị
đo lường, niên độ thống kê và bảo đảm so sánh quốc tế [24]
Nguyên tắc này là một trong những điều kiện bảo đảm tính chính xác và sự
so sánh của thông tin thống kê theo thời gian và theo không gian ở trong nướccũng như quốc tế Nếu không bảo đảm tính thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu,phương pháp tính, bảng phân loại thống kê, đơn vị đo lường, niên độ thống kê thì số liệu sẽ không thống nhất, không chính xác, không so sánh được Vì số liệuthống kê chỉ có ý nghĩa khi thông qua so sánh về thời gian và không gian Nguyêntắc thống nhất này còn được cụ thể trong các điều của Luật như: giải thích từ ngữ,
hệ thống chỉ tiêu thống kê, bảng phân loại thống kê, chương trình điều tra thống
kê quốc gia, chế độ báo cáo thống kê cơ sở, chế độ báo cáo thống kê tổng hợp,thẩm quyền quyết định, công bố của hệ thống thống kê tập trung, cũng như quyềnnghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được điều tra, báo cáo, công bố, sử dụng thông tin
1.6.2 Yêu cầu hiệu quả trong thống kê
Không trùng lắp, chồng chéo giữa các cuộc điều tra, báo cáo [24]
Việc thu thập thông tin dù bằng hình thức điều tra hay báo cáo đều rất tốnkém về thời gian, công sức, tiền của cho các nhu cầu in ấn tài liệu, biểu mẫu báocáo; thuê điều tra viên; huấn luyện nghiệp vụ; thời gian ghi chép hoặc trả lờiphỏng vấn, thu thập, kiểm ta, xử lý, tổng hợp, công bố thông tin Vì vậy, nếu trùnglắp giữa các cuộc điều tra với báo cáo sẽ làm tăng gánh nặng cho người trả lời,tăng chi phí, giảm hiệu quả hoạt động thống kê Nguyên tắc này cũng đã được thểhiện ở một số điều trong Luật như: nghiêm cấm quyết định điều tra, ban hành chế
độ báo cáo thống kê trái với quy định của pháp luật; chỉ có một số người có thẩmquyền mới được ban hành chế độ báo cáo hay quyết định điều tra; các chế độ báo
Trang 31cáo và phương án điều tra trước khi ban hành đều phải được sự thẩm định về chuyên môn nghiệp vụ của Tổng cục thống kê.
1.7 Mối quan hệ giữa chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê với quản lý thông tin KH&CN
Hoạt động thống kê KH&CN là hoạt động không thể thiếu được trong côngtác phát triển KH&CN Trong quá trình thực hiện quản lý Nhà nước về KH&CN,thống kê có mặt trong tất cả các công đoạn và có vai trò rất lớn
Thống kê đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu vềKH&CN Hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN là bộ công cụ rất quan trọng giúpcho việc quan sát toàn bộ hoạt động KH&CN quốc gia, tạo điều kiện để các nhàphân tích, dự báo, các nhà quản lý nhận biết chính xác về thông tin của từng lĩnhvực KH&CN, đánh giá được phần nào hiệu quả của hệ thống KH&CN, đóng gópcủa KH&CN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội Đây là vai trò quan trọng hàngđầu đối với công tác quản lý thông tin KH&CN
Thống kê cung cấp cơ sở dữ liệu về thông tin KH&CN, góp phần nâng caonhận thức của toàn xã hội về KH&CN Có rất nhiều dạng số liệu, thông tin màthống kê KH&CN có thể cung cấp cho công tác quản lý thông tin KH&CN Đốivới số liệu định kỳ, thường xuyên mà hệ thống quản lý cần có để nhận dạng, phântích, đánh giá thông tin KH&CN, thì việc tổ chức thu thập số liệu được tiến hànhtheo kiểu báo cáo định kỳ [17] Ngoài ra, để định kỳ tổ chức, đánh giá, phân tíchcùng một lúc tổng thể các hoạt động KH&CN, thì việc thu thập số liệu được tiếnhành thông qua các cuộc điều tra Hiện nay, việc thu thập thông tin đang được xúctiến theo Chế độ báo cáo thống kê cơ sở và Chế độ báo cáo thống kê tổng hợpcũng như các cuộc điều tra thống kê quốc gia, điều tra thống kê ngành vềKH&CN
Ngày càng gia tăng nhu cầu thông tin thực tế phục vụ công tác quản lý Nhànước về KH&CN nhằm hỗ trợ các nhà lãnh đạo, quản lý trong việc ra quyết địnhphù hợp, hiệu quả, góp phần nâng cao sự đóng góp quan trọng của KH&CN cho
Trang 32phát triển kinh tế - xã hội Việc chuẩn hóa thống kê KH&CN sẽ góp phần rất quantrọng trong việc đưa ra những thông tin KH&CN chính xác, đầy đủ Từ đó giúpcho việc quản lý thông tin KH&CN được thực hiện một cách dễ dàng và hiệu quả.
Ngày nay, thống kê KH&CN có vai trò quan trọng đặc biệt đối với công tácquản lý Nhà nước về KH&CN phục vụ việc chỉ đạo, điều hành của các cấp quản
lý, xây dựng chiến lược và chính sách phát triển KH&CN Thống kê KH&CN làcông cụ rất quan trọng, cung cấp các số liệu giúp các nhà phân tích, dự báo, cácnhà quản lý có được những nhận biết chính xác về từng lĩnh vực KH&CN, gópphần quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động KH&CN cũng như việc quản
lý thông tin KH&CN
Trong chương 1, đã cung cấp những nội dung lý thuyết về thống kêKH&CN, làm cơ sở cho những phân tích về thực trạng thống kê KH&CN ởchương 2 Sau khi lý giải chi tiết các khái niệm về thông tin KH&CN, phân tíchcác hướng tiếp cận khái niệm thống kê, thống kê KH&CN, chương 1 đã đưa racác đặc điểm, vai trò của công tác thống kê KH&CN đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội
Chương 1 cũng đã đi sâu phân tích các yêu cầu về chính xác và hiệu quảtrong thống kê KH&CN, về tính chính xác đó là yêu cầu về bảo đảm tính kháchquan trong các hoạt động thông tin thông kê cũng như thống nhất về phương phápluận thống kê, về tính hiệu quả đó là không chồng chéo giữa các cuộc điều tra, báo
cáo Ngoài ra, chương 1 cũng đã nêu ra các khái niệm về quản lý thông tin
KH&CN, chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN và mối quan hệ giữa việcchuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN với quản lý thông tin KH&CN
Trang 33Mạng lưới thông tin KH&CN đã được triển khai rộng khắp bao gồm các cơquan thông tin KH&CN, thuộc các Bộ, ngành, các tổng công ty và các địaphương Nguồn thông tin KH&CN, bao gồm cả các tài liệu sáng chế và tiêuchuẩn, không ngừng được bổ sung, cập nhật Việc ứng dụng công nghệ thông tinhiện đại trong hoạt động thông tin- thư viện được đẩy mạnh Hàng loạt các cơ sở
dữ liệu và các mạng thông tin KH&CN đa ngành như VISTA, CESTI hoặc cácmạng chuyên ngành về nông nghiệp, y tế, công thương được đầu tư và phát huyhiệu quả Các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN từng bước được đa dạnghóa và đáp ứng ngày càng hiệu quả nhu cầu thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý,nghiên cứu, đào tạo, sản xuất, kinh doanh của xã hội Nhiều văn bản pháp quyquan trọng đã dược xây dựng tạo cơ sở pháp lý phục vụ quản lý nhà nước vềthông tin, thư viện, thống kê KH&CN [36]
Tuy nhiên, công tác quản lý thông tin, thống kê KH&CN vẫn còn tồn tại một
số bất cập như: Nguồn thông tin KH&CN còn hạn chế, tản mạn, chưa được khaithác một cách rộng rãi và hiệu quả, nhất là nguồn tin KH&CN nội sinh Hạ tầng cơ
sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, nhiều nơi còn lạc hậu Sự liên kết, phối hợpgiữa các tổ chức thông tin KH&CN trong mạng lưới còn lỏng lẻo Việc ứng dụngCNTT và các thành tựu KH&CN tiên tiến trong hoạt động thông tin KH&CN cònnhiều bất cập Đội ngũ cán bộ thông tin KH&CN và cộng tác viên mỏng, trình độ
Trang 34chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ còn hạn chế, một số cán bộ chưa thực sự gắn
bó với nghề nghiệp Văn hóa sử dụng thông tin KH&CN trong giới nghiên cứu vàđào tạo cũng như trong xã hội còn thấp so với nhu cầu phát triển của đất nướctrong thời kỳ hội nhập quốc tế Đặc biệt là cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN cònmới, vừa mới được đưa vào Nghị định 11/2014/NĐ-CP nên còn sơ khai, ở bướckhởi đầu, các cơ sở dữ liệu thông tin KH&CN còn độc lập, chưa liên kết thànhmạng lưới với nhau để phục vụ tốt cho công tác quản lý thông tin KH&CN
2.2 Thực trạng thiếu đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu thống kê trong thông tin KH&CN ở Việt Nam
2.2.1 Hiện trạng công tác thống kê KH&CN
Thống kê KH&CN là việc vô cùng quan trọng nên được tất cả các quốc giaphát triển, đang phát triển cũng như các tổ chức quốc tế quan tâm Hầu hết cácnước phát triển, và một số nước khu vực ASEAN, hằng năm đều xuất bản sáchtrắng/các chỉ tiêu cơ bản về KH&CN Mới đây, việc Đại Hội đồng Liên Hợp Quốcquyết định chọn 20 tháng 10 hằng năm làm ngày Thống kê Thế giới đã khẳng địnhtầm quan trọng của công tác thống kê đối với quá trình phát triển của các quốc gianói chung và của từng ngành, từng lĩnh vực nói riêng
Thống kê KH&CN có tầm quan trọng đặc biệt, là cơ sở cho việc đánh giá,hoạch định chính sách chiến lược KH&CN của mỗi quốc gia, mỗi địa phương ỞViệt Nam, ngoài hệ thống thống kê tập trung, việc xây dựng hệ thống thống kêchuyên ngành KH&CN đã được xác định là nhiệm vụ cấp thiết Nghị định30/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thống kê KH&CN đã được ban hành Do vậy,tăng cường công tác thống kê KH&CN hiện là một trong những nhiệm vụ cấpthiết không chỉ cho ngành KH&CN mà còn cho tất cả các cấp, các ngành Hiệnnay, công tác thống kê KH&CN hầu như mới bắt đầu được phát triển, vì vậy phải
nỗ lực lớn về mọi mặt: xây dựng cơ chế, vận động nguồn lực, tổ chức thực hiện vàkiểm tra hiệu quả [7]
Đối với Bộ KH&CN, tuy là cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN trênphạm vi cả nước nhưng những thông tin thống kê về KH&CN mà hàng năm Bộ
Trang 35KH&CN thu thập được là rất hạn hẹp về nội dung và nhỏ bé về phạm vi bao quát.(số liệu chứng minh điều này xem ở 2.4 Kết quả khảo sát).Với thực trạng nàychúng ta không thể nói thống kê KH&CN đã phục vụ được cho nhu cầu quản lý vàphát triển nền KH&CN của nước nhà.
Thông tin thống kê KH&CN trong những năm qua và hiện nay, tuy cónhững cố gắng đáng trân trọng để thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đápứng nhu cầu xây dựng, phát triển và quản lý nền KH&CN nước nhà, nhưng nhữngthông tin thu thập được còn manh mún, tản mạn, sơ sài, không đồng bộ đặc biệt làkhông có tính liên tục và hệ thống (số liệu chứng minh điều này xem ở 2.4 Kếtquả khảo sát) Vì thế mà không thể có cơ sở đáng tin cậy để phân tích và đánh giátrình độ KH&CN của đất nước
2.2.2 Hiện trạng thu thập và cung cấp các chỉ tiêu thống kê về KH&CN 2.2.2.1 Hiện trạng xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan thống kê nói chung
và thống kê KH&CN nói riêng đã quy định về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu
thống kê KH&CN Điều 74 Luật KH&CN năm 2013 quy định "Xây dựng hệ thống thống kê khoa học và công nghệ và tiêu chí thống kê thống nhất trong cả nước".
Điều 8 Luật Thống kê (Luật số 04/2003/QH11, thông qua tại Kỳ họp thứ III,Quốc hội khoá XI) cũng quy định về Hệ thống chỉ tiêu thống kê như sau:
1 Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là căn cứ để phân công, phối hợp trong hoạt động thống kê, xây dựng chương trình điều tra thống kê quốc gia, xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và chế độ báo cáo thống
kê cơ sở.
2 Căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành các chỉ tiêu thống kê phục vụ yêu cầu quản lý, sử dụng thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách."
Trang 36Điều 4 của Nghị định 30/2006/NĐ-CP về thống kê KH&CN đã quy định "Bộ KH&CN chủ trì, phối hợp với Tổng cục Thống kê xây dựng, ban hành chi tiết Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành KH&CN, các phân tổ chính, hình thức thu thập, kỳ thu thập, phương pháp tính các chỉ tiêu".
Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê(HTCTTK) quốc gia (Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005), trong
đó giao Bộ KH&CN chủ trì thu thập và tổng hợp 9 chỉ tiêu thống kê về KH&CN
để báo cáo Chính phủ Đây là một căn cứ quan trọng để Bộ KH&CN triển khai cáchoạt động liên quan đến chỉ tiêu thống kê KH&CN
Ngày 2/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kêQuốc gia theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg (thay thế QĐ 305/2005/QĐ-TTg)trong đó có 11 chỉ tiêu thống kê về KH&CN (Bảng 1)
Trang 37Bảng 1 Danh mục các chỉ tiêu thống kê KH&CN trong Hệ thống chỉ
tiêu thống kê Quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số
43/2010/QĐ-TTg ngày 2/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
Số người trong các tổ khoa học, loại
lĩnh vực hoạtcông nghệ
động, lĩnh vựcđào tạo, trình
độ chuyên môn,chức danhCấp đề tài, dự
225 1503 Số đề tài, dự án, án, chương Năm A Bộ KH&CN
chương trình nghiên trình; lĩnh vực
Trang 3835
Trang 39triển công nghệ tình trạng tiến
hành, nguồn vàmức kinh phíthực hiệnLĩnh vực khoa
Số giải thưởng khoa vực khoa học,
227 1505 học và công nghệ cá nhân (giới Năm A Bộ KH&CN
được trao tặng tính)/tập thể,
quốc gia/quốctế
- Chủ trì: Bộ
228 1506 khoa học và công chi, lĩnh vực Năm A - Phối hợp:
TCTKNgành kinh tế,
Chi cho đổi mới công loại hình kinh
Tổng cục
229 1507 nghệ trong doanh tế, nguồn cấp Năm A
Thống kê
iá trị mua, bán Ngành kinh tế, - Chủ trì: Bộ
Trang 40Số quy chuẩn kỹ
Loại/lĩnh vực
quy chuẩnban hành (QCVN)
Chú thích:
A: Áp dụng bắt đầu từ năm 2010
B: Áp dụng bắt đầu từ năm 2015
HTCTTK ngành KH&CN là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh tình
hình KH&CN chủ yếu của đất nước phục vụ việc đánh giá, dự báo tình hình,
hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển KH&CN từng
thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê về KH&CN của các tổ chức, cá
nhân HTCTTK ngành KH&CN bao gồm danh mục chỉ tiêu, những phân tổ chủ
yếu và kỳ hạn công bố của các chỉ tiêu hoặc nhóm chỉ tiêu thống kê chủ yếu của
ngành HTCTTK ngành KH&CN bao gồm 60 chỉ tiêu/nhóm chỉ tiêu chủ yếu về
hoạt động KH&CN và được xếp vào 12 chỉ tiêu (Xem Phụ lục I):
1 Nhân lực cho KH&CN: 4 chỉ tiêu;
2 Tài chính cho hoạt động KH&CN: 4 chỉ tiêu;
3 Cơ sở hạ tầng cho KH&CN: 3 chỉ tiêu;
4 Hợp tác quốc tế trong KH&CN: 6 chỉ tiêu.
5 Hoạt động NC&PT: 3 chỉ tiêu;