Phải thừa nhận rằng, văn họcsau 1975 đã có sự vận động, đổi mới trong cách tiếp cận đề tài chiến tranhvà bên cạnh sự xuất hiện của các tác phẩm văn học là sự quan tâm sâu sắccủa các n
Trang 1ĐAỊ HOCC̣ QUÔ ́
N TRONGC̣ OÁNH VÀBẢO NINH
LUÂṆ VĂN THACC̣ SI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 01
PHẦN MỞ ĐẦU ……… 03
1 lý do chọn đề tài ……… 03
2 Lịch sử vấn đề……… 06
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3.2 Phạm vi nghiên cứu 4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Kết cấu của luận văn 13
CHƯƠNG 1: NGUYỄN TRỌNG OÁNH, BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI 14
1.1 Chủ đề chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu hòa bình 14
1.1.1 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau năm 1975… 15
1.1.2 Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975- những dấu hiệu vận động và đổi mới 18
1.2 Nguyễn Trọng Oánh, Bảo Ninh với những dấu ấn của sự đột phá 27
1.2.1 Đất trắng, Mây cuối chân trời - Một cách nhìn mới về thực tế chiến trận 28
1.2.2 Nỗi buồn chiến tranh - Một tác phẩm có số phận đặc biệt 34
CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ ĐỀ CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYÊN TRỌNG OÁNH VÀ BẢO NINH 40
2.1 Quan niệm mới về hiện thực chiến tranh 41
2.2 Chân dung người lính với những chuẩn mực thẩm mỹ mới 55
Trang 32.2.1 Mối quan hệ giữa khái niệm chủ nghĩa anh hùng và chủ nghĩa yêu
nước 55
2.2.2 Sự biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng với những chuẩn mực thẩm mỹ mới 59
2.3 Chủ nghĩa nhân văn với những khuynh hướng biểu hiện mới 66
2.3.1 Những vết thương chiến tranh để lại nơi số phận con người 67
2.3.2 Những giá trị văn hóa tinh thần và ước vọng hòa giải sau chiến tranh 76
CHƯƠNG 3: NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN TRỌNG OÁNH VÀ BẢO NINH 85
3.1 Những tìm kiếm, đổi mới trong kết cấu tác phẩm 85
3.2 Những cách tân trong giọng điệu và điểm nhìn trần thuật 94
3.3 Sự đổi mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 103
PHẦN KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong văn học thế giới, chiến tranh là một đề tài thường trực, có ý nghĩatrung tâm và gần như trường cửu, phản ánh một cách sâu sắc toàn cảnhhiện thực đấu tranh và sinh tồn của toàn nhân loại trong tiến trình lịch sửphát triển loài người Trong lịch sử văn học phương Tây cũng nhưphương Đông, đề tài văn học viết về chiến tranh nổi lên như là một “siêu
đề tài” với hàng loạt các tác phẩm có giá trị Văn học viết về chiến tranh ở
phương Tây có thể tính từ Anh hùng ca Iliat - Odice của Homer thời cổ Hy-La đến các tác phẩm nổi tiếng như Chiến tranh và hòa bình của Leptônxtôi, Sông đêm êm đềm của Sô lô khôp, Đêm Lisbone, Khải hoàn
môn của E.M Remarque, Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai của
Hêminhway Còn ở phương Đông có thể kể đến Tam quốc diễn nghĩa của
La Quán Trung, Thủy Hử của Thi Nại Am…
Văn học Việt Nam là một bộ phận vận động trong quỹ đạo chung của văn họcthế giới và quan trọng hơn là luôn song hành với lịch sử dân tộc, gắn liền vớivận mệnh của đất nước, dân tộc, gắn liền với lịch sử của những cuộc chiếntranh vệ quốc vĩ đại Có thể nói, đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam đãphản ánh rất tự nhiên và sinh động chặng đường phát triển của lịch sử dân tộcvà bản thân đề tài đó từng bước trưởng thành qua mỗi chặng đường pháttriển đó Với mỗi chặng đường phát triển khác nhau của lịch sử, chiến tranhđược phản ánh và tiếp cận với những phương thức, góc nhìn và cảm hứngkhác nhau Đất nước Việt Nam đau thương máu lửa đã trải qua bao cuộcchiến tranh giữ nước Ba mươi năm “gian lao mà anh dũng” với hai cuộcchiến tranh giải phóng dân tộc chống Pháp, chống Mĩ đã đem lại tự do dântộc, đồng thời cũng tạo dựng nên một nền văn học
Trang 5hiện đại viết về chiến tranh Sống trong chiến tranh, nhìn về chiến tranh vàviết về chiến tranh là một lẽ thường tình bởi lẽ đất nước có chiến tranh thì
sẽ có văn học viết về chiến tranh Nhưng viết về chiến tranh, cảm nhận vềchiến tranh như thế nào khi chiến tranh đã dần lùi vào quá khứ lại là mộtvấn đề mới được đặt ra Tiếp tục dòng mạch văn xuôi cách mạng, từ saunăm 1975, đề tài chiến tranh vẫn thu hút sự quan tâm của những người
cầm bút Có thể kể một số tác phẩm tiêu biểu như : Năm 1975 họ đã sống
như thế-1978 (Nguyễn Trí Huân), Ký sự miền đất lửa-1978 (Nguyễn Sinh
và Vũ Kì Lân), Họ cùng thời với những ai- 1981(Thái Bá Lợi), Đất không
giấu mặt-1983 (Hào Vũ), Đất trắng - 1979-1984(Nguyễn Trọng Oánh), Miền cháy - 1977(Nguyễn Minh Châu), Nỗi buồn chiến tranh-1990 (Bảo
Ninh)…
Nhìn nhận, đánh giá lại cuộc kháng chiến đã qua là một nhu cầu tâm lýthường trực của các nhà văn Trong hoàn cảnh không còn phải trực tiếpđối đầu với bom đạn, chết chóc, ở mỗi nhà văn, cách nhìn nhận và tái hiệnthực tại chiến tranh qua từng tác phẩm đã có chiều sâu lắng, chân thựchơn
Có thể nói, văn học viết về đề tài chiến tranh là một trong những bộ phậnquan trọng nhất của nền văn học Việt Nam sau 1975 bởi lẽ chiến tranh làmột hiện thực lớn, quan trọng của đất nước Phải thừa nhận rằng, văn họcsau 1975 đã có sự vận động, đổi mới trong cách tiếp cận đề tài chiến tranhvà bên cạnh sự xuất hiện của các tác phẩm văn học là sự quan tâm sâu sắccủa các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.Đã có rất nhiều các công trìnhnghiên cứu, các luận văn, khóa luận, các bài viết về đề tài chiến tranh trongvăn học sau 1975 Tuy vậy, bạn đọc cũng như người nghiên cứu về đề tàichiến tranh trong văn xuôi tự sự Việt Nam thường tập trung vào nghiêncứu chủ yếu đi sâu vào vấn đề tác giả, tác phẩm, những phương
Trang 6diện cơ bản thể hiện quy luật phát triển của văn học Khi đặt vấn đề nghiêncứu về văn xuôi tự sự Việt Nam viết về chiến tranh sau 1975, chúng tôichú trọng về những đặc điểm thẩm mĩ và đặt trong tính liên tục với vănhọc trước 1975.
Những cơ sở để tìm hiểu về vấn đề này được chúng tôi nghiên cứu và khảosát qua các sáng tác của hai tác giả là Nguyễn Trọng Oánh , và Bảo Ninh Đây chính làhai nhà văn thuộc hai thế hệ khác nhau nhưng lại là những dấu mốc biểu hiện được tính liên tục của nền văn học viết về chiến tranh trước và sau 1975 Những sáng tác văn học Nguyễn Trọng Oánh có chiều dài liên tục từ trong chiến tranh chống Mĩ, qua giai đoạn 1975-1985 và vắt sang đến đổi mới với những sáng tác tiêu biểu của nền văn học hiện thực
xã hội chủ nghĩa theo khuynh hướng sưử thi với sư C̣ngơị ca phẩm chất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng cũng như những sáng tác nổi bật mang xu hướng cách tân của văn học sau 1975
Đối với Nguyễn Trọng Oánh, giới nghiên cứu nhắc nhiều đến với tư cáchnhà văn đầu tiên đưa ra dấu hiệu thay đổi về sự nhận thức lại hiện thực,
đặc biệt là hiện thực về chiến tranh Từ tập I của Đất trắng, với tiêu đề
Ngã ba đến tập II với tiêu đề Đất đứng chân là cả một chặng đường dài
đầy thử thách Đọc tập một Đất trắng có người cho rằng đó là một câuchuyện viết về một tên phản bội nhưng đến những trang cuối của tác phẩmthì vấn đề mà nhà văn đề cập đã vươn lên một tầm cao khái quát Trongkhi đó nhà văn Bảo Ninh lại là một nhà văn tiêu biểu cho thời kỳ đầu, mộtgiai đoạn vô cùng quan trọng của nền văn học đổi mới với tiểu thuyết Nỗibuồn chiến tranh Viết về chiến tranh, suy ngẫm về chiến tranh với cái nhìnkhoan dung nhân ái, giàu tính nhân văn là một nét độc đáo trong ngòi bútBảo Ninh Thái độ đón nhận ồn ào rồi quên lãng và lại chân thành mê đắm
phần nào nói lên được sự thành công của Nỗi buồn chiến tranh.
Trang 7Việc nghiên cứu và khảo sát hai nhà văn này sẽ cho thấy tính liên tục củavăn học viết về chiến tranh, tính kế thừa của các thế hệ qua các giai đoạnvà quan trọng hơn là những biểu hiện mới về chủ đề chiến tranh và cáchmạng trong một giai đoạn văn học mới.
Xuất phát từ thực tế đó và những khả năng đó, chúng tôi chọn đề tài : Chủ
đề chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 qua sáng tác của Nguyễn Trọng Oánh và Bảo Ninh với mục đích làm rõ những khía
cạnh đổi mới trong văn học viết về chiến tranh của các nhà văn đương đại
2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
Có thể nói, chiến tranh đối với văn học nói chung không còn mang ý nghĩa
đề tài một cách thuần túy Chiến tranh chiếm một phần lớn thực tại đời sống dân tộc suốt nhiều thế kỷ Nhâṇ đinḥ vềvấn đềnày , nhà nghiên cứu Đinh Xuân Dũng đa ̃cónhư ̃ng nhâṇ xét xác đáng: “Đềtài chiến tranh trong văn hocC̣ ViêṭNam cóđô C̣ dài ngang với chính độ dài của lịch sử văn học dân
tài chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc là nguồn chủ lực, là nguồn mạch phong phú nhấ t, không bao giờvơi của văn hocC̣ ViêṭNam tưừ khi hìnhthành đến nay” [8] Lẽ đương nhiên là khi đất nước có chiến tranh thì cuộc sống và con người sẽ bị chi phối bởi quy luật chiến tranh nhưng vấn
đề đặt ra ở đây là sau 1975, khi đất nước toàn vẹn, văn học thống nhất, đờisống hòa bình thường nhật, cuộc sống và con người trở về với đời thường
sẽ bị chi phối bởi quy luật sinh kế thì vấn đề viết về chiến tranh thời hậu chiến có gì khác trước, văn học trong đó có tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh nhận diện quá khứ như thế nào? Điều đó phản ánh sự đổi mới và trưởng thành hơn trong quan niệm thẩm mỹ , trong tư duy nghê C̣thuâṭcủa nhà văn qua các thời kỳ Nằm trong xu hướng đó, tiểu thuyết viết về chủ
Trang 8đề chiến tranh cũng không nằm ngoài sự vận động chung của văn học sau1975.
Nhìn chung, đối với văn học Việt Nam sau 1975 viết về đề tài chiếntranh, giới nghiên cứu và phê bình đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu trêncác tạp chí cũng như trong các công trình nghiên cứu Về cơ bản đa số cácý kiến nghiên cứu phê bình đều gặp nhau ở sự khẳng định thành tựu cáchtân và đổi mới Tại hội nghị lần thứ 19 những người lãnh đạo các hội nhàvăn các nước xã hội chủ nghĩa tại Hà Nội ngày 11 và 12-3-1983, trong báo
cáo Đôi nét về tình hình văn học và công việc của những người cầm bút
Việt Nam thời gian qua, nhà văn Nguyên Ngọc đã cho rằng : “Có thể thấy,
một đặc điểm rõ rệt ở những tác phẩm viết về đề tài đó xuất hiện mấy nămgần đây, ấy là xu hướng dựng lên những bức tranh toàn cảnh bao quát mộtkhông gian hay một thời điểm quan trọng nhất của chiến tranh hoặc cũng
có khi cả một thế hệ đã cống hiến phần chủ yếu nhất của cuộc đời mìnhcho cuộc chiến đấu mất còn của dân tộc Cũng có những tác giả ngược lại,không triển khai tác phẩm của mình theo chiều rộng mà chú trọng khaithác theo chiều sâu, trong khi miêu tả tập trung một sự kiện thoáng trôngkhông có gì to tát, vang dội thì tìm hiểu sự xung đột và chuyển hóa của cácgiai cấp và tầng lớp xã hội, trong những chấn động xã hội ấy diễn ra cuộcvật lộn căng thẳng của con người về tư tưởng và đạo đức Và dù là mộtbức tranh toàn cảnh hay đột phá vào chỉ một điểm tập trung, thì ở đây nhàvăn đều muốn cuộc chiến đấu đã qua mà tìm lấy và nhắn nhủ một điều tâmhuyết, một bài học nào đấy về đạo đức, về trách nhiệm, về ý nghĩa sự sốngvà cống hiến của con người hôm nay…”[28].Ý kiến của nhà văn NguyênNgọc tuy chưa định hình rõ một khuynh hướng mới trong nhận thức lạihiện thực chiến tranh và những lối viết mới nhưng phần nào đã cho thấy
sự thay đổi trong mối tương quan giữa lối viết cũ và
Trang 9mới Nhà văn Hữu Mai trong bài Viết về đề tài chiến tranh giải phóng
cũng nhận định: “Bình diện viết về chiến tranh đã được mở rộng Chúng ta
đã có điều kiện đi vào nhiều vấn đề trước đây do những yêu cầu của chiếnthắng, của giai đoạn lịch sử ta còn chưa đề cập tới” và “Một tầm nhìn mớicủa nhà văn là điều kiện không thể thiếu để đào sâu những vấn đề triết học,đạo đức nâng cao khả năng miêu tả biện chứng những mặt khác nhau củahiện thực chiến tranh: anh hùng và hèn nhát, yêu thương và căm thù, trungthành và phản bội, ý thức trách nhiệm và bản năng sợ chết của con người,chiến thắng và những hi sinh, mất mát, cái đẹp và cái tàn phá, ác liệt củachiến tranh…”[26] Phải nói rằng, nhà văn Hữu Mai đã rất thẳng thắntrong việc chỉ ra những hạn chế của văn học viết về chiến tranh trước đây
Đó phải chăng là những né tránh hiện thực mà nay người viết phải mạnhdạn nhìn thẳng vào sự thật mà cụ thể là những măṭkhác nhau của hiện thựcchiến tranh Cũng trong xu hướng thống nhất về một sự đổi mới cần thiếtcho văn học Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh cách mạng, trong bài
viết Mấy vấn đề của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng, Giáo sư Phan Cự Đệ cũng khẳng định “ Bây giờ đây, sau khi cuộc kháng
chiến chống Mỹ đã kết thúc, trong những điều kiện mới, các nhà tiểuthuyết đang đặt vấn đề nâng cao chất lượng hiện thực của những tác phẩmviết về đề tài chiến tranh” Tiếp tục nhấn mạnh thêm vấn đề này, nhà
nghiên cứu Nguyễn Văn Long trong bài Văn xuôi sau 1975 viết về cuộc
kháng chiến chống Mỹ đã cho rằng: “Trong nhiều sáng tác gần đây, bên
cạnh ý nghĩa lịch sử của cuộc chiến tranh, đã thấy gia tăng sự chú ý củanhà văn đến việc trình bày con người trong biến diễn lịch sử Nhiều tácphẩm đã đặc biệt chú ý xây dựng những hoàn cảnh quyết liệt, đầy xung độtphức tạp, đưa nhân vật của mình vào những tình huống hết sức khó khăn,trình bày những diễn biêñ và sốphận không giản đơn của con người”[23]
Trang 10Trong bài viết Chiến tranh trong các tác phẩm văn chương được giải ,
Tôn Phương Lan đã nhận xét: “Văn học viết về đề tài chiến tranh trongnhững năm chiến tranh ít nói về buồn vui của cuộc sống thường nhật, ítnói về những đau thương, mất mát, hy sinh trên chiến trường, ít quan tâmđến số phận con người mà tập trung quan tâm đến số phận đất nước Sauchiến tranh, văn học viết về đề tài này mới có xu hướng viết về sự thật củađời sống, viết về những khó khăn, ác liệt, những sai lầm, vấp ngã, thiếu xótcủa người lính trong chiến tranh cũng như trước sự cám dỗ của cuộc sốngđời thường”[20] Ý kiến của nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan đã kháiquát những vấn đề cần khai thác trong xu thế mới viết về chiến tranh.Trước đây trong văn học trước 1975, khó khăn quyết liệt không phảikhông có, nhưng những sai lầm hay vấp váp hầu như không được đề cập
đến, hiêṇ thưcC̣ chiến tranh dường như chưa thưcC̣ sư C̣làhiêṇ thưcC̣ theo đúngý nghĩa của nó , nói chung chiến tranh chỉ đơn giản được nhìn nhận thuầntúy một chiều , ở bên một phía và mang đậm hào quang chiến thắng mà
chưa phản án h hết như ̃ng hy sinh , mất mát Bên canḥ đó, nhà văn Hồ
văn hocC̣ sau 1975 chủ yếu là kh ám phá và biểu hiện tâm hồn , tính cách ,
sư C̣kiêṇ xay ra trong cuôcC̣ sống va “cang đi sâu vao con ngươi
́ử
càng gần tới bản chất cuộc sống , do đót ính nhân văn cũng cao hơn ”[37]
sâu sắc những vấn đề của văn học viết về đề tài chiến tranh trong sự tương
quan của văn học trước và sau 1975 Trong bài viết Mấy suy nghĩ về
mảng văn học chiến tranh cách mạng, nhà văn nhận định: “Nhân dân ta
đã trải qua nửa thế kỷ chiến tranh, nên sự biến động xã hội sẽ vô cùng lớn
Trang 11lao Nó chi phối số phận từng con người, cả trong chiến tranh và thời hậuchiến Nó vẫn là một vấn đề lớn của con người Việt Nam không chỉ trongquá khứ mà còn trong cả hiện tại và cả tương lai nữa”[51] Tác giả cũngrất sắc sảo khi đưa ra đánh giá về những tác phẩm viết về chiến tranhtrong sự đổi mới: “Những tác phẩm viết về chiến tranh của họ đã kháctrước kia, ngòi bút nhà văn đã dấn sâu đến tận cùng hiện thực chiến tranh,đào sâu vào tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, phát hiện những vẻđẹp khác nhau, tái hiện lại khuôn mặt chiến tranh đúng như nó vốn có”.Phân tích và nâng lên tầm lý luận, Nhà nghiên cứu Đinh Xuân Dũng trong
bài Văn học Việt Nam về chiến tranh, hai giai đoạn của sự phát triển đã khẳng định: “Khuynh hướng chính của sự phát triển, mặc dầu trải qua
không ít khó khăn, nhiều nhà văn trong số những người nhiều năm viết vềchiến tranh trong chiến tranh, đã bứt lên, tự đổi mới chính mình, đặc biệtcác nhà văn hình thành vào cuối thời kỳ chống Mỹ, đã cho ra đời nhữngtác phẩm thực sự đổi mới, đáp ứng nhu cầu xã hội và minh chứng cho mộtnhu cầu xã hội không thể né tránh của mảng văn học viết về chiến tranhsau chiến tranh Đó là sự đào sâu mới, đó là khả năng phân tích bình giá và
mổ xẻ hiện thực đa chiều của chiến tranh, đó là sự phân tích mối quan hệcực kỳ phức tạp giữa số phận từng con người với biến cố chiến tranh, đólà năng lực khám phá và đặt ra những vấn đề nóng bỏng nhất trong chiếntranh và sau chiến tranh do tác động dai dẳng của chiến tranh trong đờisống của từng cá nhân và toàn xã hội”[7] Có thể nói, đây là một sự kháiquát khá đầy đủ và sâu sắc về sự thay đổi trong sự cảm nhận về chiến tranhkhi viết về chiến tranh
Như vậy, qua khảo sát một số bài viết, nghiên cứu trong các thờiđiểm khác nhau của tiến trình phát triển văn học Việt nam sau 1975, chúngtôi nhận thấy tiểu thuyết Việt Nam viết về chiến tranh có sự đổi mới về
Trang 12căn bản và phát triển thành khuynh hướng rõ rệt Tuy vậy, để cụ thể hơn,xác đáng hơn trong việc khẳng định sự đổi mới đó, chúng tôi tiến hành sựkhảo sát trực tiếp qua hai tác giả tiêu biểu của văn học viết về chiến tranhsau 1975 là Nguyễn Trọng Oánh và Bảo Ninh.
Cùng trong xu thế nghiên cứu đánh giá về sự đổi mới của văn học viết vềchiến tranh sau 1975 cũng đã có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu về haitác giả tiêu biểu này
Đối với Nguyễn Trọng Oánh, nhà văn đem đến những dấu hiệu của sự đổimới cũng được nhận sự quan tâm của giới nghiên cứu, đặc biệt là tiểu
thuyết Đất trắng và Mây cuối chân trời.
Cùng với Nguyễn Trọng Oánh, nhà văn Bảo Ninh cũng nhận được khánhiều sự đánh giá về đóng góp vào sự đổi mới của văn xuôi tự sự ViêtNam viết về chiến tranh sau 1975 Đã có những cuộc thảo luận về tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh hay còn gọi là Thân phận của tình yêu.
Có thể nói, những đánh giá, nghiên cứu về sự đổi mới của tiểu thuyết ViệtNam viết về chiến tranh sau 1975 cũng như những nghiên cứu về hai tácgiả Nguyễn Trọng Oánh, Bảo Ninh là rất đa dạng và phong phú Nhìnchung các nghiên cứu đó đều chú ý đề cập đến những vấn đề cơ bản sau:
Một là, Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 đã có sự thay đổi vềnhiều phương diện do nhu cầu đổi mới đặt ra từ cả những đòi hỏi cấp báchcủa đời sống xã hội và cả phía chủ thể sáng tạo Sau 1975, mặc dù chưa cómột sự thay đổi rõ ràng nhưng đã bắt đầu xuất hiện những tác phẩm viếttheo xu hướng nhận chân mang đến những dấu hiệu của một cuộc cáchmạng văn học
Hai là, giá trị nhân văn, giá trị nhân bản được khám phá và đánh giátrên bình diện cao hơn, chân thực và sâu sắc hơn Nó hướng con người ta
Trang 13đến thái độ và cách nhìn vấn đề thời cuộc cũng như con người một cáchnhân bản và toàn vẹn hơn.
Ba là, hiện thực chiến tranh được đào sâu hơn, con người trongchiến tranh được nhìn nhận nhân bản, bộc lộ sâu sắc hơn trọn vẹn sự khốcliệt của chiến tranh, do đó người viết có điều kiện phơi bày đầy đủ và toàndiện sự khốc liệt của hiện thực cũng như tình người trong chiến tranh Vàcũng từ đó đã xuất hiện những người anh hùng với những tiêu chí thẩm mĩmới, phù hợp với cuộc sống xã hội, đời sống chiến tranh trong sự đa dạng,
đa chiều của nó
Những nhận định trên đây có đầy đủ cơ sở để xác lập hệ thống quan điểmcho đề tài của luận văn Sự đổi mới của văn học Việt Nam sau năm 1975
đã dẫn đến sự thay đổi gì trong sự biểu hiện của chủ đề chiến tranh? Khiquan niệm về hiện thực chiến tranh thay đổi dẫn tới quan niệm về số phậncon người như thế nào? Những chuẩn mực thẩm mỹ mới về người anhhùng cũng như quan niệm về đời sống tinh thần, giá trị văn hóa con ngườitrong khuynh hướng biểu hiện mới của chủ nghĩa nhân văn cũng sẽ đổithay ra sao? Các nhà văn mà cụ thể là qua hai tác giả tiêu biểu NguyễnTrọng Oánh và Bảo Ninh đã khai thác những giá trị truyền thống và nhậnthức theo điểm nhìn mới ra sao, dưới góc độ nghệ thuật nào? Tất cả nhữngvấn đề này sẽ được lần lượt kiến giải trong các phần của luận văn
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN
CỨU 3.1.Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chọn sáng tác của hai tác giả như những dấu mốc quan trọng viết
về đề tài chiến tranh là Nguyễn Trọng Oánh và Bảo Ninh làm đối tượngnghiên cứu và khảo sát
3.2.Phạm vi nghiên cứu
Trang 14Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu khảo sát tiểu thuyết và trọngtâm của luận văn là hướng tới nghiên cứu chủ đề chiến tranh từ góc nhìncủa những phạm trù thẩm mỹ chứ không xem xét từ góc độ thể loại Về tácphẩm, chúng tôi lấy những tác phẩm của hai nhà văn Nguyễn Trọng Oánhvà Bảo Ninh viết sau năm 1975 để khảo sát, trong đó, tiêu biểu nhất là tiểu
thuyết Đất trắng, Mây cuối chân trời của Nguyễn Trọng Oánh, tiểu thuyết
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Đồng thời trong quá trình tìm hiểu,
nghiên cứu, luận văn cũng tìm hiểu thêm một số sáng tác trước năm 1975và một số các tác phẩm cùng thời để so sánh đối chiếu để nhận diện rõ néthơn những biểu hiện mới của chủ đề chiến tranh và cách mạng trong tiểuthuyết Việt Nam sau 1975 cũng như hình dung một cách cụ thể sự thay đổimột cách cơ bản của nền văn học thời hậu chiến
4- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứulịch sử- xã hội, kết hợp với các thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp, qua
đó đặt sáng tác trong mối quan hệ với sự vận động lịch sử – xã hội và đờisống văn học Ngoài ra có kết hợp các nghiên cứu tiếp cận thi pháp học đểtìm hiểu, phân tích tác phẩm
5 KẾT CẤU LUẬN VĂN.
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
triển khai thành 3 chương
Chương I: Nguyễn Trọng Oánh, Bảo Ninh trong đời sống văn học đương
đại
Chương II: Những biểu hiện mới của chủ đề chiến tranh trong tiểu thuyết
của Nguyễn Trọng Oánh và Bảo Ninh
Chương III: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Trọng
Oánh và Bảo Ninh
Trang 15CHƯƠNG 1
NGUYỄN TRỌNG OÁNH, BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Chủ đề chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu hòa bình
của cả đất nước , của dân tôcC̣, văn hocC̣ ViêṭNam đa ̃tiếp nối truyền thống của văn học cách mạng tiếp tục phản ánh sự nghiệp cách mạng to lớn và vinh quang của đất nước , trong đócódòng văn hocC̣ viết vềchiến tranh với như ̃ng tác phẩm mang đâṃ nét sưử thi, giàu tính chiến đấu và ngợi ca Bướcvào thời kỳ đổi mới , cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, tình hình phát triển của đời sống văn hóa , văn nghê C̣cũng cónhư ̃ng thay đổi tiến tới bắt nhipC̣ vàphùhơpC̣ với sư C̣phát triển manḥ me ̃của đất nước , hòa mình vào đời sống văn hocC̣ chung của nền văn hocC̣ thếgiới Căn cứ vào nhu cầu thưcC̣ tiêñ của đời sống văn hóa văn nghê C̣trong giai đoaṇ licḥ sưử mới , với sư C̣đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, Nghị quyết 05 của Bộ chính trị đã đề ra chủ trương đúng đắn về văn hóa văn nghệ tại Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI của Đảng , đólà: “ ThưcC̣ hiêṇ chủtrương đổi mới Đảng trong hoàn cảnh cá ch mangC̣ khoa hocC̣ kỹthuâṭđang diêñ ra với quy mô , tốc đô C̣ chưa tưừng thấy trên thếgiới vàviêcC̣ giao lưu giư ̃a các nước vàcác nền văn hóa ngày càng mở rộng , văn hóa văn nghê C̣nước ta càng phải đổi mới , đổi mới
tư duy , đổi mới cách nghĩ , cách làm”[2] và “ Đảng khuyến khích văn nghê
và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuâṭ, các hình thức biểu hiện”[3]
Trang 16Có thể nói , ánh sáng của Nghị quyết 05 của Bộ chính trị trung ươngĐảng vềvăn hóa văn nghê C̣đa ̃ đăṭnền móng cho đổi mới của nền văn hocC̣
mốc vô cung quan trongC̣ va mang tinh tất yếu , phù hợp với yêu cầu của xã
́ừ
hôịva thơi đaịtrong
́ừ ừ
Cùng với nền văn học nước nhà
dấu hiêụ thay đổi mang tinh tiềm tang tư sau năm
mạnh mẽ, đào sâu hiêṇ thưcC̣ trên tinh thần nhân bản vànhân văn, phản ánhsâu sắc sốphâṇ con người với như ̃ng phương thức biểu hiê C̣ n nghê C̣thuâṭmới mẻvàtáo baọ
1.1.1.Hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau năm 1975
Đại thắng mùa Xuân 1975 đã đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới,
kỷ nguyên độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, kết thúc hơn 20năm kháng chiến trường kỳ chống Mĩ Có thể nói với chiến thắng lịch sửnày, dân tộc ta đã giành được thành quả hết sức to lớn đó là giải phónghoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước Tuy vậy, những vấn đề lớn vềviệc khắc phục hậu quả của 20 năm chiến tranh, ổn định và khôi phục kinhtế-văn hóa là những vấn đề cấp thiết
Ngay trong tháng 9-1975, bốn tháng sau ngày miền Nam hoàn toàn giảiphóng, khi nhân dân trên cả hai miền đất nước đang tập trung ra sức khắcphục hâu quả của chiến tranh, ổn định tình hình miền Nam, tiến tới thốngnhất đất nước về mặt Nhà nước, Đảng họp Hội nghị toàn thể Ban chấp hànhTrung ương lần thứ 24 để quyết định những nhiệm vụ của cách mạng tronggiai đoạn mới, nhằm đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Hội nghị của Đảngnêu rõ: “ Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiếnmạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”[13] Để đưa đất
Trang 17nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi Đảng phải xác định đường lốicách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội Yêu cầu kháchquan đó được Đảng đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đại hộinêu rõ tầm quan trọng của việc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội: “ Chỉ
có chủ nghĩa xã hội mới thực hiện được ước mơ lâu đời của nhân dân laođộng và vĩnh viễn thoát khỏi cảnh bị áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu,
để sống một cuộc đời no cơm, ấm áo, ngày mai được đảm bảo một cuộcđời văn minh, hạnh phúc…Có chủ nghĩa xã hội, Tổ quốc ta mới có kinh tếhiện đại, văn hóa, khoa học tiên tiến, quốc phòng vững mạnh; do đó bảođảm cho đất nước ta vĩnh viễn độc lập, tự do và ngày càng phát triển phồnvinh” [9] Vận dụng đường lối chung và đường lối xây dựng kinh tế củaĐảng trong tình hình cụ thể, Đại hội đã quyết định phương hướng, nhiệm
vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch nhà nước 5 năm (1976-1980) là :pháttriển và cải tạo kinh tế, văn hóa, phát triển khoa học nhằm xây dựng mộtbước cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, bước đầu hình thành
cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, mà bộ phận chủ yếu là cơ cấu công nông nghiệp, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhândân lao động Kế hoạch 5 năm (1976-1980) được thực hiện trong hoàncảnh nước ta còn nhiều khó khăn: nhân dân ta vừa trải qua cuộc chiếntranh chống Mĩ hai chục năm và tiếp tục phải chiến đấu chống lại cuộcchiến tranh lấn chiếm ở biên giới Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc, chưa
-kể các hoạt động khống chế, phá hoại của các lực lượng phản động thùđịch cùng chính sách cấm vận của Mĩ làm cản trở quan hệ kinh tế giữanước ta với các nước Bên cạnh đó, chúng ta cũng có những sai lầm nhấtđịnh trong chủ trương cải tạo, xây dựng kinh tế do đó thời kỳ này đấtnước chưa thoát khỏi sự khủng hoảng về kinh tế - xã hội Sự khủng hoảng
Trang 18về kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ này đã tác động đến mọimặt, mọi lĩnh vực trong đó có đời sống văn học nước nhà.
Với chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội trong chặng đường cácnăm tiếp theo, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã kiểmđiểm toàn diện sự lãnh đạo của Đảng từ Đại hội lần thứ IV, xác định nhữngnhiệm vụ chiến lược cho cách mạng trong tình hình mới Đại hội khẳngđịnh: “ Trong giai đoạn mới của cách mạng, toàn dân toàn quân ta…đoànkết một lòng, ra sức phấn đấu làm hai nhiệm vụ chiến lược: Một là xâydựng thành công chủ nghĩa xã hội; hai là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[10] Đại hội V khẳng định tiếptục đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xâydựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ do Đại hội IV đề ra.Tuy nhiên, đến Đại hội V, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời
kỳ qua độ của Đảng bắt đầu có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển, cụ thểhóa cho từng chặng đường, từng giai đoạn phù hợp với những điều kiệnlịch sử cụ thể Trong kế hoạch 5 năm (1981- 1985), Đảng chủ trương đẩymạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển thêm một bước và sắp xếp lại cơcấu kinh tế, nhằm đạt được sự ổn định tình hình kinh tế - xã hội, đáp ứngcác nhu cầu cấp thiết của đời sống xã hội
Để giữ vững ổn định tình hình kinh tế xã hội, ổn định đời sống củanhân dân, đưa đất nước thực sự vượt qua khỏi khủng hoảng về kinh tế -
xã hội, đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội, điều chỉnhlại đường hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội theo từng chặng đường trêncon đường dài lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình, đặc điểm củađất nước Trách nhiệm lịch sử đó đặt ra với Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ VI của Đảng
Trang 19Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra nhiệm vụchung cho cả chặng đường phát triển đổi mới đất nước với những chủtrương đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế chính trị đến văn hóa tưtưởng Đại hội nhấn mạnh: “ Trong khi không ngừng chăm lo nhiệm vụbảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân ta tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụxây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập thể, nền kinh tếmới, nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa”[11] Phảikhẳng định rằng Đại hội VI của Đảng là một bước ngoặt, một mốc son vĩđại thể hiện sự chèo lái sáng suốt con thuyền cách mạng của Đảng ta, đưalại sự phát triển mạnh mẽ và tươi mới cho đất nước về mọi mặt, có tácđộng quan trọng và to lớn đến sự ổn định và phát triển của đời sống xã hội,trong đó có đời sống văn hóa nói chung và văn học nói riêng.
Có thể nói, xã hội Việt Nam thời kỳsau 1975 đầy như ̃ng cam go vàthử thách Trong nước, nền kinh tế khủng hoảng trì trệ Hai đầu biên giớiphía Bắc và Tây Nam vẫn đối mặt với chiến tranh.Trên thế giới hệ thống
Xã hội chủ nghĩa đi vào khủng hoảng và bế tắc Tuy vậy, với sự sáng suốtvà nhận định tình hình chính xác, Đảng ta đã kịp thời có những bước điềuchỉnh chiến lược, dần đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, ổn định vàphát triển Riêng về mặt văn học nghệ thuật, giai đoạn này bắt đầu có sựchuyển mình với khuynh hướng nhận thức lại hiện thực Đây là những dấuhiệu, những làn sóng mới mẻ của một sự đổi mới thật sự Một sự chuyểnmình của “Đêm trước đổi mới”
1.1.2.Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 - những dấu hiệu vận động và đổi mới
Đaịthắng mùa Xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống
Mĩ cứu nước thần thánh của dân tộc , mởra môṭthời kỳmới trong licḥ sưử
Trang 20nước nhà, đồng thời cũng đưa tới chăngC̣ đường mới của nền văn hocC̣ Viêṭ Nam Tưừ sau chiến thắng vi ̃đaị 1975, nền văn hocC̣ ViêṭNam kếthưừa và phát huy truyền thống của mình , vâñ đồng hành vàgắn bóvới vâṇ mênḥ của dân tộc, đi qua như ̃ng bước thăng trầm vàthưcC̣ sư C̣đa ̃taọ ra như ̃ng biến đổi sâu sắc, toàn diện, làm nên diện mạo của một nền văn hocC̣ mới.Mười năm đầu sau chiến thắng 30 tháng 4, là chặng đường chuyển tiếp tưừ nền văn hocC̣ cách mangC̣ trong chiến tranh sang nền văn hocC̣ thời kỳ hâụ chiến Sư C̣chuyển tiếp đólàrất toàn diêṇ , biểu hiêṇ sâu sắc trên tất cả các mặt từ nội dung phản ánh , cảm hứng sáng tác , đề tài chủ đề , phương thức phản ánh nghê C̣thuâṭvàrất quan trongC̣ làquy luâṭvâṇ đôngC̣ của vănhọc Trong như ̃ng năm đầu kết thúc chiến tranh , chủ đề xuyên suố t trong
Bước vào như ̃ng năm 1980, trong tình hình khó khăn chung của đất
nước , với sư C̣khủng hoảng vềkinh tế – xã hội, với nhiều khókhăn vàthưử thách , nền văn hocC̣ códấu hiêụ chư ̃ng laị, chưa chuyển biến bắt kipC̣ với thưcC̣ tiêñ xã hội, với các quan niêṃ hiêṇ thưcC̣ mới vàcách tiếp câṇ đời sống xa ̃hôị mới
Nhâṇ đinḥ vềtinhừ hinhừ này, Tổng Bíthư Nguyêñ Văn Linh nói: “Tôi có cảm giác trong hơn mười năm qua (tưừ khi nước nhàthống nhất , cả nước đi
vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ), so với hai cuôcC̣ kháng chiến trước đó , thành tựu văn học của chúng ta con nghèo” [22] Nhà văn Nguyên Ngọccũng cónhâṇ đinḥ xác đáng: “Trong khi các nhàvăn chúng ta say sưa : bây
muốn đẻlắm rồi, thì thừa mứa ra đó , bom đaṇ căng thẳng hết rồi , vâṭchất
bỗng dưng cái mối quan hê C̣máu thiṭgiư ̃a công chúng vàvăn hocC̣ đôṭnhiên lại nhạt đi , hụt hẫng hẳn đi…Người đọc vừa mới hôm qua còn mặn mà
Trang 21bỗng dưng bây giờqu ay lưng laịvới anh Họ không thèm đọc anh
mẽ của đất nước , nền văn hocC̣ ViêṭNam cósư C̣biến chuyển mới Đaịhôịlần thứ VI của Đảng (1986) đa ̃xác đinḥ đ ường lối đổi mới toàn diện , mở
ra môṭthời kỳmới cho đất nước vươṭ qua thời kỳkhủng hoảng đểbước vào một giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc Tưừ đường lối đổi mới của Đảng , môṭluồng giómới đã thổi vào đời sống văn hocC̣ nước
vềvăn hocC̣, cách tiếp cận c on ngươi va đơi sốn g xa hôị cũng như sự thay
mạnh mẽ Chính xu hướng dân chủ hóa và sự thức
nhưng yếu tốchu đaọ taọ ra sư C̣phat triển phong phu
́ ̃
của văn học nước nhà
trong xu thếhôịnhâpC̣ va giao lưu vơi nền văn hoa
Có thể thấy văn học Việt Nam sau năm 1975 ở thời kỳ đầu sau những nămchiến tranh mới kết thúc đã phát triển theo quy luật của sự hồi sinh Mặc
dù chưa có những biểu hiện rõ rệt của một thời kỳ văn học đổi mới nhưngbản thân cuộc sống mới bộn bề những vấn đề bức xúc đã có một sự chiphối, hấp dẫn đối với nền văn học Từ đó đã xuất hiện những tác phẩm códấu hiệu thay đổi, biểu hiện xu hướng phản ánh hiện thực cuộc sống đang
mở rộng, đi vào chiều sâu của những vấn đề nhân sinh nóng bỏng Và đặcbiêṭ là, sau đại hội VI (1986) của Đảng, Văn học được sống trong bầu
Trang 22không khí mới và phát triển theo hướng hiện đại, dân chủ hoá Văn học đổimới có nghĩa là một nền văn học cởi mở, được đụng chạm đến những đềtài, những vấn đề mà văn học trước đó chưa được đề cập đến Điều quantrọng là văn học đổi mới thay đổi quan niệm về hiện thực, nhận ra tính đadạng của hiện thực Thay đổi quan niệm về con người và nhận ra tính phứctạp của con người Bên cạnh đó văn học đổi mới đã nhấn mạnh đến nhữnggiá trị nhân văn và dân chủ hoá nền văn học Nhâṇ đinḥ vềxu thếmới trong văn hocC̣ sau 1986, Phương Lưụ viết: “ Tôi muốn nói đến sư C̣tôn trongC̣ sư
môṭchiều, chúng ta đã bỏ qua hoặc rất coi nhẹ sự thật Mấy năm qua , nóithẳng, nói thật đã khôi phục uy tín rất nhiều cho phê bình vànhất làcho sáng tác” [25] Nguyêñ Quang Thân hào hứng : “Chưa bao giờvăn xuôiphát triển manḥ như bây giờ” , “chưa bao giờnhàvăn đươcC̣ thành thâṭnhưbây giờ” [39] Bàn về văn học từ 1975 đến 1990, Hoàng Ngọc Hiến nhậnxét: “Điều đăcC̣ biêṭquan trongC̣ làtrong 15 năm qua kinh nghiêṃ văn hocC̣của người sáng tá c cũng như công chúng văn hocC̣ làmôṭsư C̣kinh nghiêṃbưừng tinhử rõràng làcómôṭsư C̣thay đổi trong thi hiếụ vànhu cầu văn
học”[17] Nhà văn Nguyên Ngọc nói về văn học đổi mới khẳng định : văn học đã cố gắng rút khỏi số p hâṇ chung của cảcôngC̣ đồng dân tôcC̣ , đi đến
cùng” [30] Vũ Tuấn Anh trong bà i viết Văn hocC̣ đổi mới vàphát tri ển [1]
văn hocC̣ sau 1975 và chỉ ra rằng chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và chủ nghĩayêu nước lànhư ̃ng thước đo cơ bản nhằm đánh giávăn hocC̣ suốt môṭthời gian dài đươcC̣ vâṇ dungC̣ môṭcách uyển chuyển vàmởrôngC̣ hơn , chủ nghĩa nhân văn cũng đa ̃taọ ra môṭsư C̣đánh giámôṭsư C̣đánh giávăn chương mới ;
Trang 23chính sự thay đổi tiêu chí đánh giá đã tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc
đẩy nhưng thểnghiêṃ nghê
́ ̃
Là một bộ phận lớn và rất quan trọng của nền văn học Việt Nam
học viết về chiến tranh cũng phát triển theo đúng quy lu
văn hocC̣ đất nươc
́́tranh, vấn đềnhin laịcuôcC̣ chiến tranh cua nhưng con ngươi vưa bươc ra
́ừkhỏi bom đạn đã bùng nổ với một loạt các tác phẩm văn xuôi ở thể
súng trong chiến tranh như Chu Lai , Thái Bá Lợi , Xuân Đưc, Nguyêñ TriHuân, Khuất Quang Thuỵ…: Chính đội ngũ nhà văn này đã đưa vào vănhọc viết về chiến tranh sau 1975 nhưng trai nghiêṃ cua ca nhân cung như
cả một thế hệ cầm súng trong chiến tranh
sau năm 1975, trong khoang mươi năm đầu ,
vâñ la mang gây đươcC̣ nhưng tiếng vang nhất đinḥ trong công chung
Ngươi đocC̣ hồhơi đon nhâṇ
cơn giólốc của Khuất Quang Thụy, Năm 75 họ đã sống như thếnào của
của Chu Lai…Cũng rất dễ hiểu cho thái độ nồng nhiệt của bạn đọc đối với
thời sư C̣của nóvâñ còn nóng hổi , dư âm của chiến tranh đang còn sức lan tỏa rộng lớn trong lòng xã hội Và một điều khá quan trọng là phần đông các độc giả tiếp nhận văn học viết về chiến tranh là những người đa ̃trưcC̣ tiếp hoăcC̣ gián tiếp tham gia chiến đấu trong chiến tranh và có những trải
Trang 24nghiêṃ sâu sắc vềchiến tranh ViêcC̣ đón nhâṇ các tác phẩm văn hocC̣ viết về chiến tranh làmôṭsư C̣chia sẻ, cảm thông và đầy lòng tự hào, bởi lẽ mặc dù
phẩm nay đa thểhiêṇ nhiều ấn tươngC̣ sinh đôngC̣ đâṃ net cua nhưng ngươi
́ừ
đa trai qua cuôcC̣ chiến va bươc đầu đăṭra nhưng cach tiếp câṇ mơ
mới của đất nước sau cuôcC̣ chiến Tuy vâỵ, phải nói rằng, văn hocC̣ Viêṭ
Nam sau 1975 viết vềchiến tranh trong thơi ky đầu vâñ la cac tac ph ẩm
thểhiêṇ chiến tranh theo khuynh hương sư thi
biêṭnhất đinḥ so vơi loaịhinh ấy ơ gia
hiêṇ laịlicḥ sư
́ử
cũng bước đầu tâpC̣ trung vao xây dưngC̣ tinh cach nhân vâṭ
giải về các sự kiện, biến cốlicḥ sư
Có thể nói những bước đầu trong sự khác biệt của văn học viết về
chiến tranh sau 1975 mơi chi la nhưng net chấm pha mang tinh sơ khai bơi
do đưng trươc nhưng đoi hoi cua cuôcC̣ sống mơi
hiếu đa ̃cósư C̣thay đổi thiừvăn hocC̣ nói chung trong đócóvăn hocC̣ viết về
chiến tranh phai có sự đổi mới , cách tân sao cho hoa nhâpC̣ cung vơi sư C̣đổimơi cua đất nươc va dân tôcC̣ Nhu cầu đổi mơi
văn in trên Bao Quân đôịnhân dân (1971), nhà văn Nguyễn Minh Châu –
ngờ vực” Sau này trong bài viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai
Trang 25đoaṇ văn nghê ̣minh hoa, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nghiêm khắc đòi
hỏi thay đổi tư duy văn học : “ Hinhừ như nhân dân , cái nhân dân Việt Nam đầy trầm tinh ̃ vàkiừtài , hình ảnh đã được nghệ thuật điêu khắc từ hàng trăm năm nay chạm khắc trên gỗ thành bức tượng ngàn mắt ngàn tay đến
hôm nay vâñ không ngưừng sáng suốt lưạ choṇ giúp cho chúng ta như ̃ng cái
gì đích thực của nghệ thuật giữa những đồ giả , để bỏ vào cái gia tài văn
hóa từ Đinh, Lý, Trần, Lê Và cũng nhân dân, cái nhân dân Việt Nam dũngcảm, sau mỗi lần đánh giăcC̣ xong lại lặng lẽ và lầm lụi làm ăn, đang giươngbàn tay chai sạn vẫy chúng ta lại , kểcho chúng ta nghe vềcái nhất thời trong cái muôn đời , cái đôcC̣ ác nằm giư ̃a cái nhân hâụ , cái cực đoan nằm giư ̃a tinh thần xởi lởi , cởi mở, cái nhẫy cẫng lên lấc lá o giư ̃a cái dung di C̣,thái độ bình thản chịu đựng và tinh thần trách nhiệm đầy suy nghĩ ”[5].Với
sư C̣nhaỵ cam va đầy trách nhiệm của đội ngũ sáng tác trong cách viết , cách
́ử
nghĩ, có thể thấy trong văn học Việt Nam nói chung và văn học viết vềchiến tranh đa co nhưng dấu hiêụ cua sư C̣thay đổi
́ ̃
Có thể thấy sau năm
mơi”, trong văn hocC̣ ViêṭNam noi chung cung như văn hocC̣ viết vềchiến
́́
tranh xuất hiêṇ khuynh hương nhâṇ thưc laịhiêṇ thưcC̣
nhìn thẳng vào sự thật Quan điểm vềchưc năng phan a
văn nghê C̣đa đươcC̣ nêu ro trong bao cao chinh tri C̣cua Ban chấp hanh Trung
́ ̃ương Đang tại Đại hội VI: “ Thai đô C̣cua Đang ta
́ử
hình là nhìn thẳng vào sự thật , đanh gia đung sư C̣thâṭ, nói rõ đúng sự thật”
[12], và trong N ghị quyết 05 của Bộ chính trị : “ Tiếng noi cua văn nghêhiêṇ thưcC̣ xa hôịchu nghia
Trang 26Trên tinh thần đo , văn hocC̣ viết vềchiến tra
́́
như ̃ng tác đôngC̣ ghê gớm , khủng khiếp của chiến tranh với các tính cách , các số phận của con người trong và sau chiến tranh với bao nỗi éo le và nỗi buồn dai dẳng Các tác phẩm văn học viết về chiến tranh đã từng bướ c
đi sâu khai thac cac vấn đềmang y nghia nhân văn
khám phá mang tính
nỗi niềm xot xa , nhưc nhối Có thể nói , khi chiến tranh cang lui xa thi ky
́́
ức về chiến tranh cang hiêṇ ro va cô
đa đi vao trang sach laịphai đươcC̣ mơ rôngC̣ vơi cac chiều kich khac nhau
của nó, bơi le đôcC̣ gia đa hương tơi viêcC̣ nhâṇ thưc laịmôṭcach toan diêṇ
́ử
hiện thực về cuộc chiến tranh khốc liệt đã qua như chính cuộc chiến tranh
đa tưng hiêṇ diêṇ Đap ưng yêu cầu , này các nhà văn đã từng bước nỗ lực
mơ rôngC̣ phaṃ vi hiêṇ thưcC̣ trong cac tac phẩm
́ử
hiêṇ thưcC̣ gây ấn tươngC̣ thâṭdư dôị , trong đo ,
tổn thất, có sự phản bội bên cạnh vinh quang
nhiều phương diêṇ khac cua chiến tranh Xuất phat tư quan điểm hiêṇ thưcC̣mơi, văn hocC̣ viết vềchiến tranh sau
́́
măṭkhung khiếp như no vốn co Không con la nhưng đoan quân măcC̣ quân
́ử
phục mới tinh ,
hủy diệt tàn
Tất ca nhưng vấn đềđo cho thấy , văn hocC̣ viết vềchiến tranh sau
tranh truyền thống trên những khía cạnh mới Nhưng chuẩn mưcC̣
Trang 27hiêṇ thưcC̣ chiến tranh, vềngười anh hùng, vềnhư ̃ng giátri tinḥ thần vàgiá
trị nhân văn Như ̃ng tác phẩm như Nôĩ buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay
Ăn mày di ̃vãng của Chu Lai đã không theo lối mòn của diễn biến sự kiện
Đất trắng của nhà văn Nguyêñ TrongC̣ Oánh, tác phẩm được coi như là dấu
buồn chiến tranh của Bảo Ninh , văn hocC̣ ViêṭNam viết vềchiến tranh sau
1975 đa ̃cho thấy sư C̣đổi mới sâu sắc vàtoàn diêṇ
Môṭvấn đềkhámới mẻtrong văn hocC̣ viết vềchiến tranh giai đoaṇ này là vấn đề về số phận con người trong chiến tranh cũng đã từng bướcđươcC̣ đềcâpC̣ kha thấu đao Sốphâṇ con ngươi tron g chiến tranh đươcC̣ nhinnhâṇ trong nhưng net ban thểnhất cua no
không con đơn thuần
́ừ
chiều ma la nhưng con ngươi toan diêṇ vơi đầy đu phẩm chất t
́ừ ừ
của con người trong cuộc sống thường nhật, trong hiêṇ thưcC̣ nghiêṭnga ̃của
chiến tranh Trong cuốn Văn hoc ̣ ViêṭNam trong thời đaị mới , ở phần văn
xuôi những năm 1975-1985 viết vềcuôc ̣ kháng chiến chống xâm lươc ̣ Mĩ,
khi bàn vềnhư ̃ng thành tưụ xây dưngC̣ nhân vâṭcủa các nhàtiểu thuyết về đề tài chiến tranh , Nguyêñ Văn Long cónhâṇ xét : “ Trong nhiều sáng tác gần đây, bên canḥ ýnghiã licḥ sưử của cuôcC̣ chiến tranh, đa ̃thấy gia tăng sư C̣ chú ý của nhà văn đến việc trình bày “con người trong diễn biến lịch sử” Nhiều tac phẩm đa đăcC̣ biêṭchu y
Trang 28trung đoàn của Thái Bá Lợi, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Đất miền Đông của Nam Hà , Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu , Nôĩ buồn chiến tranh
của Bảo Ninh… Nhìn chung, với viêcC̣ đi sâu khai thác khám phá số phậncon người, văn hocC̣ viết vềchiến tranh sau 1975 đa ̃cóbước ngoăṭrất lớntrong viêcC̣ phản ánh vấn đềthếsư C̣đời tư
như ̃ng dấu hiêụ thay đổi vàsư C̣đổi mới theo quy luâṭvâṇ đôngC̣ vàphát
triển của nó Đólàsư C̣thay đổi trong cách phản ánh vàtiếp câṇ hiêṇ thưcC̣ ,
cầu đổi mới đăṭra tưừ môṭđời sống văn hóa mới vàbên canḥ đólàsư C̣đổi mới vềcác phương thức biểu hiêṇ của nghê C̣thuâṭ…Tất cả đa ̃đem đến môṭ sư C̣thay đổi cơ bản của văn hocC̣ viết vềchiến tranh sau 1975
1.2 Nguyễn Trọng Oánh, Bảo Ninh với những dấu ấn của sự đột phá
Nguyêñ TrongC̣ Oanh va Bao Ninh không phai la hai nha văn cung thếhê C̣
́́
Nếu so về tuổi tác và sự nghiệp văn học
chung đo la ca hai đều it nhiều trưcC̣ tiếp tham gia vao cuôcC̣ chiến tranh giai
́́ ừ ử
phóng dân tộc với tư cách là những người lính
như ̃ng sáng tác của Nguyễn Trọng Oánh và tiểu thuyết viết vềchiến tranhcủa Bảo Ninh cũng cách nhau hơ n chucC̣ năm , với yêu cầu của thời đaịvà
xã hội có những cách nhìn nhận khác nhau Khoảng thời gian mười nămkhông phải làdài nhưng cóle ̃nócũng làkhoảng thời gian quan trongC̣ vàđang ghi nhơ cho bươc chu yển mình của vă n hocC̣ ViêṭNam viết vềchiến
́́
tranh sau năm 1975 Nếu như ởtiểu thuyết
cuối chân trơi
thấy nhưng tin hiêụ đầu tiên cua sư C̣thay đổi trong cach
́ ̃
nhâṇ, suy ngẫm về chiến tranh thì với Nôĩ buồn chiến tranh , nhà văn Bảo
Trang 29Ninh đa ̃cho thấy sư C̣đổi mới đáng kinh ngacC̣ của tiểu thuyết viết vềchiếntranh thơi hâụ chiến vơi nhưng trai nghiêṃ va tinh tếvề số phận con người
́ừ
bơi nhưng phương thưc nghê
tiểu thuyết viết vềchu đềchiến tranh cua hai nha văn nay
kết, sư C̣vắt nối mang tinh́ liên tucC̣ , thểhiêṇ quy luâṭ vâṇ đôngC̣ vàphát triển
của văn học Có thể nói , Nguyêñ TrongC̣ Oánh vàBảo Ninh xứng đáng lànhư ̃ng nhàvăn đăṭnhư ̃ng dấu mốc quan trongC̣ với như ̃ng dấu ấn tiêu biểu
Mây cuối chân trời là dấu mốc thứ nhất với những tín hiệu , như ̃ng mầm
non trổmầm , còn Nôĩ buồn chiến tranh là dấu mốc thứ hai với sự chuyển
mình mạnh mẽ , đưa nhưng tin hiêụ ban đầu trơ nên ro rang va xa c đinḥ ,đanh dấu môṭthai đô,C̣môṭcach nhin công bằng vềchiến tranh
́́
1.2.1 Đất trắng, Mây cuối chân trời - Một cách nhìn mới về thực tế
chiến trận
người hôm nay b ằng câu chuyện của hôm qua…Nói về quá khứ một cách
nay”
gia chiến đấu , nhà văn Nguyêñ TrongC̣ Oánh đa ̃cónhiều sáng tác văn hocC̣ viết vềchiến tranh Đáng chúýlàtrong các tác phầm viết vềchiến tranh ,Nguyêñ TrongC̣ Oanh đa bôcC̣ lô C̣môṭcach nhin vềchiến tranh rất đăcC̣ biêṭ Ông nhin va viết vềchiến tranh theo môṭquan điểm thống nhất ,
́ừ
qua nhưng trai nghiêṃ rất sâu sắc
́ ̃
đầy chất nhân văn , tinh tế Vơi cach nhin va
đăcC̣ biêṭcua minh ,
́ử
Trang 30môṭsư C̣thay đổi kỳdiêụ , đem lại cái nhìn toàn diện , sinh đôngC̣ vàđa chiềucho đôcC̣ giảkhi chiêm nghiêṃ vềmôṭkýức hào hùng nhưng cũng vô cùng
văn Nguyêñ TrongC̣ Oánh làmôṭtrong như ̃ng ngôi sao sáng soi đường cho như ̃ng đồng nghiêpC̣ nhiều thếhê C̣kếtiếp trong mảng đềtài chiến tranh Ông xứng đáng đươcC̣ coi làngười đăṭ dấu mốc cho sư C̣thay đổi của dòng văn học này thời kỳ hậu chiến
Nhà văn Nguyêñ TrongC̣ Oánh sinh năm 1929, quê taịxa ̃Nghi Long,huyêṇ Nghi LôcC̣ , tỉnh Nghệ An Ông tham gia kháng chiến vàhoaṭđôngC̣văn nghê C̣tưừ khi còn là học sinh trung học Nguyêñ TrongC̣ Oánh nhâpC̣ ngũ
chiến trường miền Bắc, sau đươcC̣ điều vềtraịsáng tác viết truyêṇ anh hùng
môṭtrong như ̃ng thành viên đầu tiên Trong chiến tranh chống Mỹ , ông công tác chủyếu ởtuyến lưửa khu 4 Khi đất nước thống nhất , NguyêñTrọng Oánh ra Hà Nội tiếp tục sáng tác Năm 1980, ông làPhótổng biên
mất taịHàNôịnăm 1993
Nguyêñ TrongC̣ Oánh mởđầu sư C̣nghiêpC̣ văn chương bằng con đường
Oánh chuyển hướ ng sang viết tiểu thuyết với môṭsốtác phẩm đươcC̣ đán h
giá cao như : Con tốt sang sô ng (1989), Đất trắng (1979-1984), Mây cuối
chân trời (1985)…; Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đã được tặng thưởng
Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1977, Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm
1984 cho tiểu thuyết Đất trắng Nhìn chung , như ̃ng tiểu thuyết của
Nguyêñ TrongC̣ Oánh t hểhiêṇ sư C̣vâṇ đôngC̣ vàtrưởng thành của nhàvăn
Trang 31qua tưng thơi ky va đăṭnhưng dấu ấn kha tiêu biểu cho sư C̣phat triển cua
tiểu thuyết hiêṇ đaịViêṭNam
Cũng như hầu hết các nhà văn khác
Oánh vẫn hăng say dồn sức cho sáng tác
vềchiến tranh, môṭcuôcC̣ chiến màông đa ̃gắn bótrong sư C̣nghiêpC̣ viết văn ,
làm thơ của mình Với hai tâpC̣ tiểu thuyết Đất trắng, Nguyêñ TrongC̣ Oánh
văn xuôi, cho tiểu thuyết Tiểu thuyết Đất trắng trình làng với bạn đọc tập
môṭnăm 1979, lâpC̣ tức đươcC̣ dư luâṇ đón nhâṇ bởi lối kểchuyêṇ trần truị,
khắc nghiêṭ, mô tảcuôcC̣ chiến đấu khốc liêṭ , đề cập đến những khó khăn vô
bờbến vànhư ̃ng mất mát , hy sinh mànếu không phải làngười trong
cuôcC̣ co le se không thểviết nổi Tiểu thuyết Đất trắng viết vềTrung đoan
́́ ̃ ̃
16 với nhiệm vụ
giành lại dân , giành lại địa bàn Được sự giúp đỡ , phối hơpC̣ của lưcC̣ lươngC̣
điạ phương vàcủa như ̃ng người dân yêu nước , trung đoàn 16 đa ̃bám đất,
bám dân, đâpC̣ tan âm mưu biến vùng đất ven đô thành vùng đất trắng của
đicḥ, tạo thế bàn đạp cho cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975 đaịthắng
Tác phẩm đã tái hiện lại một hiện thực chiến tranh đúng theo nghĩa
đươcC̣ lôṭta đa chiều , chân xac va toan diêṇ hơn hẳn nếu không noi la vươṭ
́ửbâcC̣ so vơi tất ca cac cuốn tiểu thuyết viết vềchiến tranh trươc đo
́́
thưcC̣ chiến tranh đa không đươcC̣ nha văn mô ta đơn gian
vâṭtrong tác phẩm dâũ làphia ́ ta hay phia ́ đối phương luôn phải trải qua
hết thư thach na y đến thư thach khac Trong Đất trắng, Trung đoan 16 và
Trang 32ngôṭngaṭmànhiều khi tưởng chưừng đólàmôṭchuỗi bi kicḥ se ̃không ai có thểvươṭ qua đươcC̣ Phía ta thì quyết tâm bám đất bám dân , môṭtấc không
triển chiến đấu tiếp theo, còn phía địch, quyết dồn lưcC̣ lươngC̣ tâpC̣ trungtiêu diêṭtrung đoan vơi sư C̣huy diêṭkhung khiếp nhất co thể
luôn ơ trong tinh
́ử
trong nhưng tinh thếc ực kỳ khó khăn khi mỗi ngày lại
́ ̃
sinh, tổn thất Chính trong giờ phút khó khăn đó mà ngay một chỉ huy cao
thếcủa trung doàn đa ̃khókhăn laịcàng thêm chồng chất khó khăn Trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh trước đó , nếu cósư C̣đầu hàng , chiêu hồi
thì cũng mới chỉ dừng ở cấp độ chiến sĩ , nhưng Đất trắng là tiểu thuyết
quan cao cấp , không như ̃ng thếcòn làngười chiụ trách nhiêṃ vềcông tác
điều đómàngay khi Đất trắng ra đời, bên canḥ như ̃ng lời khen ngơị cũng
Trọng Oánh vẫn kiên trì , nhâñ naị, và năm năm sau , năm 1984, ông hoànthành tập hai của cuốn tiểu thuyết trứ danh này
Có thể nói, sư C̣tồn taịcủa tiểu thuyết Đất trắng cho đến ngày hôm nay
và viêcC̣ tác phẩm đươcC̣ vinh danh như làmôṭtác phẩm văn hocC̣ đầu tiên
sư C̣thâṭtất yếu như no vốn tồn taị , khẳng đinḥ sư C̣bất tư cua hiêṇ thưcC̣ vachính hiêṇ thưcC̣ la nền tang , là đòn bẩy cho những
́ừ
Trang 33sắc vẻđepC̣ của chủnghiã anh hùng Ông đa ̃đềcâpC̣ đến măṭtrái của chiến
tranh khi màtrung đoàn 16 câṇ kềbên sư C̣tiêu diêṭ Trong cuôcC̣ chiến đấu
đó, bên canḥ sư C̣anh dũng quên thân cócảsư C̣dao đôngC̣, đầu hàng, bên canḥ
nhưng tấm gương anh hung co ca sư C̣phan bôị , hèn nhát…Với tiểu t huyết
́ ̃
Đất trắng, Nguyễn Trọng Oanh đa khơi nguồn cho môṭlối viết mơi
suy nghi mơi cho tiểu thuyết viết vềchiến tranh thơi ky hâụ chiến
trắng đa đềcâpC̣ đến môṭhiêṇ thưcC̣ vềchiến tranh ơ mưc đô C̣quyết liêṭ
́ ̃
và chính trong sự quyết liệt ấy sự thật và sự giả dối được phơi bày , bôcC̣ lô.C̣
Phải nói rằng , đây làmột tiểu thuyết có giá trị như bước đột phá tiên
phong trong đổi mới viết về hiện thực chiến tranh Đất trắng của Nguyễn
Trọng Oánh như là một tín hiệu cho sự xuất hiện những tác phẩm theo
khuynh hướng phân tích đào sâu thực tại Nhâṇ xét vềbô C̣tiểu thuyết này , nhà
nghiên cứu Trần Duy Thanh đã đánh giá: “Đất trắng nằm trong số tiểu thuyết
viết về chiến tranh xuất hiện sau chiến tranh đã có chặng đường dài
một thập kỷ Một thử thách với tác giả cũng như nhiều cây bút khác là: yêu
cầu của bạn đọc khắt khe hơn; không thể miêu tả chiến tranh một cách dễ
dãi, toàn những chuyện ngọt ngào, suôn sẻ Và ai cũng thấy là tiểu thuyết
với đề tài chiến tranh sau 1975 đã có những khởi sắc”[48] Cùng với hai
tâpC̣ tiểu thuyết Đất trắng, tiểu thuyết Mây cuối chân trời cũng đã đem đến
cho đôcC̣ gia nhưng lan gio mơi cua tiểu thuyết viết vềchu đềchiến tranh
́ử
Có thể nó i Mây cuối chân trơi
bản thảo tiểu thuyết ma nha văn Nguyêñ TrongC̣ Oanh chưa xuất ban khi
sinh thơi Nguyêñ TrongC̣ Oanh viết
́ừ
1985, sau khi cuôcC̣ chiến kết thúc mười năm, và chính quãng thời gian này
toàn diện hơn ĐocC̣ Mây cuối chân trời có cảm giác đây là cuốn tiểu thuyết
đươcC̣ nén chăṭbởi liều lươngC̣ thời gian vàkhông gian bao trùm nó Mây
Trang 34cuối chân trơi không mô ta cuôcC̣ chiến ơ tầm vi mô
̀̀
chiến laịđươcC̣ mô tảnhư làmôṭđinḥ mênḥ vàcómôṭcấp đô C̣rất khốc liêṭ
Không gian chiến tranh của Mây cuối chân trời bao trùm tưừ Bùi Chu , Phát
Diêṃ vào tâṇ đến Tây Ninh vàtâpC̣ trung vòng xoáy taịVinh ̃ Trinh vànga ̃ tư
Bảy Hiền-Sài Gòn Thời gian của Mây cuối chân trời là một phần tư thế kỷ
với hai thế hệ của cả hai bên và với nhiều giai tầng xa ̃hôị Điểm mới mẻ
của Mây cuối chân trời là tác giả đã đề cập đến mức độ khốc liệt của chiến
phẩm không phải làởsốl ượng người tham gia , không phải làsố
lươngC̣ bom đaṇ đươcC̣ trut xuống ma mưc đô C̣khốc liêṭcua chiến tranh bắt rê ̃
tư long hâṇ thu , là ý thức và thậm chí là ý thức hệ
́ừ ừ
miêu tảnhư làmôṭsư C̣trớtrêu
mũi súng của nhau , là địch thủ của nhau lại là những người một thời thân
thuôcC̣ vơi tinh ba con lối xom
đau xot hơn, là từng có cả thời gia n yêu nhau hay si mê nhau Tư nhưng gi
́́
thân thuôcC̣ thân yêu nhất , nhưng con ngươi ấy bỗng trơ thanh ke thu cua
nhau vơi nhiều sốphâṇ khac nhau va cung tu C̣vềtâm bao la nga tư Bay
́́
Hiền-Sài Gòn Dương như , vơi Mây cuối chân t rơi, Nguyêñ TrongC̣ Oanh
đa xây dưngC̣ va sắp đăṭmôṭcuôcC̣ hôịngô C̣cua chiến tranh
́ ̃
tang thương cua chiến tranh trong Mây cuối chân trơi đa
họa không phải theo phương pháp truyền thống, ký sự biên niên Nó không
còn là những trận càn ác liệt như trong Đất trắng với máu chảy đầu rơi
hay tên bay đaṇ lacC̣ mànólànhư ̃ng macḥ ngầm tuôn chảy lăngC̣ le ̃theo môṭ
dòng ý thức Có thể nói cùng với Đất trắng, Mây cuối chân trời đa ̃đem laị
và người tôn trọng sự thật Ông đa ̃đưa laịcho ta môṭcái nhìn sâu hơn, thâṭ
Trang 35hơn vềchiến tranh vàđồng thời đưa đến môṭthủpháp nghê C̣thuâṭmới chotiểu thuyết”[52].
1.2.2 Nỗi buồn chiến tranh - một tác phẩm có số phận đặc biệt
ông – Giáo sư ngôn ngữ học Hoàng Tuệ đưa ông đến gặp Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến (Trường viết văn Nguyêñ Du ) và cuộc đời của Bảo Ninh bước
sang môṭtrang mơi Ngày ấy , dù điểm thi vào trường viết văn của Bảo
́́
Ninh la kha thấp , nhưng vơi con mắt xanh cua minh
́ừ ́
quyết đinḥ nhâṇ ông
hiêṇ môṭtai năng văn chương cho đất nươc sau nay
́ừ
thảo truyện ngắn đầu tay viết về đề tài chiến tranh của Bảo Ninh , Giáo sưHiến đa ̃khuyên nhàvăn chưa nên công bốvôị, hãy viết lại cho kỹ hơn vàhay hơn Quả không sai , chỉ sau đó một thời gian , ngay khi còn theo hocC̣
dưới mái trường viết văn Nguyêñ Du , bản thảo cuốn tiểu thuyết Nôĩ buồn
chiến tranh đa đươcC̣ Bao Ninh hoan tha nh môṭcach xuất sắc va gây sư C̣bất
́ ̃ngơ lơn vơi ngay ca ngươi thầy đang diu dắt ông la Giao
́ừ ́ ́
Hiến Ngay sau khi tiểu thuyết
tuổi Bao Ninh lâpC̣ tưc gây sư C̣chu y cua ca văn
́ử
đấy làsư C̣ghi dấu của nền văn hocC̣ ViêṭNam thời đổi mới , thời kỳvăn hocC̣
có những thay đổi sâu sắc nên một tác giả mới như tôi vâñ đươcC̣ chúý”.Nhà văn Bảo Ninh là một tác giả thuộc thế hệ sau so với NguyễnTrọng Oánh Bảo Ninh sinh năm 1952, quê ơ tinh Quang Binh , vào bộ đội
́ử ử
năm 1969 Thơi chiến tranh , Bảo Ninh chiến đấu ở mặt trận
́ừ
Trang 36Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10 Năm 1975, ông giảingũ và học Đại học từ năm 1976 - 1971 và sau đó làm việc tại Viện Khoahọc Việt Nam Tưừ năm 1984-1986, học khóa 2 trường viết văn Nguyêñ
Du, sau đócông tác taịbáo Văn nghê C̣trẻ, là Hội viên Hội Nhà văn ViệtNam tưừ năm 1997
Trong tất cảcác cuốn tiểu thuyết ViêṭNam hiêṇ đaị nói chung và tiểu
tranh của Bảo Ninh là một tác phẩm có thân phận đặc biêṭ Tác phẩm được in
lần đầu năm 1990 do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành với cái tên là “Thânphận của tình yêu”, một cái tên khá sến và vô nghĩa với nội dung tác phẩm.Ngay nhà văn Nguyễn Phan Hách trong buổi thảo luận về tiểu thuyết này củatuần báo Văn nghệ ngày 24.8.1991 cũng đã thừa nhận là: “Đã ép tác giả phảiđổi tên từ “Nỗi buồn chiến tranh” sang “Thân phận của tình yêu” dù tôi biếttên mới không hay”[32] Năm 1991, tác phẩm được tặng Giải thưởng HộiNhà Văn Việt Nam và được đón chào nồng nhiệt ,
đươcC̣ coi làmôṭhiêṇ tươngC̣ đăcC̣ biêṭcủa văn hocC̣ ViêṭNam Có thể nói, vớiNỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã miêu tả chiến tranh từ một góc độkhác, góc độ cá nhân, thân phận con người, đi sâu vào nỗi niềm cá nhân.Khi thảo luận về cuốn tiểu thuyết này , nhà văn Cao Tiến Lê đa ̃nhâṇ đinḥrất sâu sắc : “ Nhưng
mêṭmỏi đưa thương binh tưử si ̃vềtuyến sau…Trong tiểu thuyết Thân
Trang 37phâṇ của tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh ) Bảo Ninh đa ̃sưử dungC̣ vốn liếng
bằng chất liêụ ởcon đường thứ hai của trâṇ đánh tức làcon đường rời khỏi
trâṇ điạ vàBảo Ninh đa ̃ởtư thế nằm trên vong̃ để viết chứ không phải nằm
tâpC̣ thểtổba người hoăcC̣ toàn tiểu đôi”[33]C̣ Cũng trong buổi thảo luận đó, nhà văn Nguyên NgocC̣ cho rằng : “ Đây làmôṭcuốn sách nghiền ngâm ̃ vềhiêṇ thưcC̣ – hiêṇ thưcC̣ chiến tranh vàhâụ chiến” [34] Khác với các sáng
tác văn học về chủ đề chiến tranh , tiểu thuyết Nôĩ buồn chiến tranh đa ̃tìm
cho minh môṭ hương đi kha mơi me va ở đó tác giả tỏ ra không sợ né tránh
́ừ
sư C̣thâṭđau đơn phu phang vơi
́́
trong chiến tranh va đanh gia no trong mối quan hê C̣
tình người, mối quan hê C̣giư ̃a tinhừ yêu vànhân cách , nhân tinh́, như ̃ng khátvọng và cả sự thể nghiệm nghệ thuật Phải nói rằng sau 15 năm khi chiến
tranh kết thúc và cũng sau 15 năm bươn chải với thưcC̣ tếcuôcC̣ sống thời hâụ chiến , nhà văn Bảo Ninh đã nghiền ngẫm khá tỉ mỉ về sự trở lại của
trong chiến tranh và sau chiến tranh Nôĩ buồn chiến tranh không chỉlà
môṭcuốn tiểu thuyết nói vềthời đa ̃qua màcòn nói vềcái hôm nay , giai đoaṇđầy khókhăn vàthách thức khi mà người lính bước vào cuộc mưu
sinh mới trong cuôcC̣ sống thường n hâṭ Thành công của Bảo Ninh khôngchỉ là thể hiện ở sư C̣chân thưcC̣ , ở cách nhìn mới về chiến tranh mà nó cònbiểu hi ện ở cách cảm thụ , cách cắt nghĩa và lý giải mới về đề tài chiến
mạng Việt Nam Nét đổi mới đặc sắc của Nôĩ buồn chiến tranh không
chỉ bôcC̣ lô C̣ởchiều sâu tư tưởng màcòn ởchiều sâu nghê C̣thuâṭ Đólànỗi đau,
chiến tranh Lớn hơn nỗi đau vềthểxác , đólànỗi đau vềtinh thần , điều
màngười ta hay goịlà“ hôịchứng chiến tranh” Nhâṇ xét về Nôĩ
Trang 38buồn chiến tranh , Giáo s ư Trần Đinh Sư cho rằng : “ Văn hocC̣ noi nhiều
quân đôị, môṭnhân chứng bước ra tưừ cuôcC̣ chiến dùthuôcC̣ thếhê C̣sau so vớicác nhà văn lớp trước , Bảo Ninh không nhìn chiến tranh b ằng những tấmhuân chương, như ̃ng bản anh hùng ca…Chiến tranh hiêṇ lên trong tácphẩm vơi tất ca sư C̣tan khốc , sư C̣bi tham , sư C̣ghê rơṇ Sư C̣tăm tối cua chiến
điểm đó Nỗi buồn chiến tranh là tiểu thuyết đầu tiên viết về chiến tranh
với một kĩ thuật lạ và sự mới mẻ về nội dung Nếu như các tác phẩm viết
về chiến tranh trước 1975 được viết với góc độ của tập thể, cái riêng đặt
trong cái chung, hòa tan với cái chung, ngùn ngụt ý chí cứu nước thì Nỗi
buồn chiến tranh có cái nhìn sâu hơn về thân phận con người trải qua trận
mạc, sự mất mát của cái cá nhân thời chiến, cái bi quan của cá nhân đốivới cuộc chiến, chiến tranh không chỉ có vinh quang, hay đấu tranh chínhnghĩa mà chiến tranh tóm gọn lại là sự chết chóc, sự hủy diêt Những vấn
đề đó với một xã hội chập chững đi bên lề của sự đổi mới thật khó được
chấp nhận Cần nhớrằng , vào thời điểm nhạy cảm đó , Nôĩ buồn chiến
Trang 39tranh đa ̃đungC̣ chaṃ đến như ̃ng vấn đềcũng rất nhaỵ cảm màtrước đóhầu
như chưa đươcC̣ đềcâpC̣ đến Bảo Ninh đã dấn thân khai thác chiều sâu nôịtâm đời sống của con người theo dòng tâm lýýthức , phơi bày chiều sâu hiêṇ thưcC̣ trần truịmàcác cuốn tiểu thuyết viết vềchiến tranh trước đóné
tranh đa vấp phai không it y kiến trai chiều Chẳng hạn, trong bài viết
́ ̃
Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, nhà nghiên cứu Đỗ
Văn Khang đã lên tiếng phê phán gay gắt rằng Bảo Ninh đã lầm lẫn quálớn về phương pháp lịch sử và phương pháp nghệ thuật đối với phươngdiện chiến tranh và kết luận “ Thật đáng tiếc, lẽ ra không nên in vội Thânphận của tình yêu”[18]
thắng” cho nên viêcC̣ môṭcuốn tiểu thuy ết luận về chiều sâu cuộc chiến vớinhư ̃ng vấn đềsâu xa thuôcC̣ vềtâm trangC̣ người trong cuôcC̣ vàhiêṇ thưcC̣ của
cuôcC̣ chiến như Nôĩ buồn chiến tr anh xuất hiêṇ không d ễ được lối tư duy
đề tiếp nhận cho nên trong một thời gian dài , Nôĩ buồn chiến tranh ít
được nhắc đến và có thời điểm bị rơi vào quên lãng Mặc dù vậy, với làn
sóng đổi mới tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh vẫn được yêu thích, là một
dấu mốc quan trọng trong văn học viết về chiến tranh sau 1975 của nềnvăn học đương đại
Nhìn chung, có thể thấy, khó có cuốn sách nào có số phận đặc biệt và kỳ
lạ như tiểu thuyết Nôĩ buồn chiến tranh , nó giống như sốphâṇ của như ̃ng cô
gái trong các truyêṇ nôm dân gian trong văn hocC̣ trung đaịvới hai chư ̃truân
chuyên Ban đầu, sư C̣xuất hiêṇ của Nôĩ buồn chiến tranh tưạ như tiếng sét
giư ̃a trời quang , đươcC̣ in ra rôngC̣ raĩ, đươcC̣ mang ra thảo luâṇ
Trang 40và được nhận nhiều lời khen ngợi thực lòng Cùng với Mảnh đất lắm
ngươi nhiều ma của Nguyễn Khắc Trương va Bến không chồng của Dương
̀̀
Hương, năm ấy Thân phâṇ tinh yêu
́́
thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Và cũng chỉ khoảng một năm sau khi
nước ngoài đểrồi bắt đầu môṭcuôcC̣ sống tưng bưừng màcóle ̃làchưa cótác phẩm văn hocC̣ hiêṇ đaịViêṭNam nào làm nổi ĐocC̣ Nỗi buồn chiến tranh
khiến người ta nhớlaịnhư ̃ng Phía Tây không có gì la của E.M.Remarque và Măṭ trời vâñ moc ̣ của E.Hemingway Như ̃ng cũng thâṭkỳla ,C̣ gian truân
đa ̃âpC̣ tới với Nỗi buồn chiến tranh Tưừ lẻtẻvài lời chê bai ban đầu đa ̃thổi bùng thành một phong trào phê phán và cuốn sách rơi vào im lặng trongmôṭquang ̃ thời gian dài, và nếu như ở thời kỳ trước thì có lẽ đã mất đi một
may của Nỗi buồn chiến tranh làtiểu thuyết này ra đời vào thời kỳhôị nhâpC̣ và trong sự cởi trói , đổi mới tư duy , giá trị đích thực của Nỗi buồn chiến
văn Nguyễn Phan Hách “ Đây là ký ức chân thực của người lính Tác giả, anh binh nhì nhiều năm ở chiến trường, rồi viết nó ra chắt lọc từ máu thịt của mình Đây không phải là sản phẩm của óc tưởng tượng sa đàcùng với
sự uốn éo ngôn từ Có thể nói ngòi bút này có những phút giây được nhập thần” [35]