1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học để thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học tại trường cao đẳng nghề hải dương

99 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 206,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi làm công tác quản lý nghiên cứu khoa học và triển khai các ứngdụng công nghệ tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương, chúng tôi được trực tiếptham gia đánh giá các nội dung của quá trình

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Tên đề tài 7

2 Lý do nghiên cứu 7

3 Lịch sử nghiên cứu 8

4 Mục tiêu nghiên cứu 10

5 Phạm vi nghiên cứ 11

6 Mẫu khảo sát 11

7 Câu hỏi nghiên cứu 12

8 Giả thuyết khoa học 12

9 Phương pháp nghiên cứu 12

10 Luận cứ 13

11 Giới thiệu cấu trúc của luận văn 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 15

I Vai trò của NCKH trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Cao đẳng nghề 15

1 Nghiên cứu khoa học để xây dựng chương trình đào tạo nghề tiên tiến, đáp ứng nhu cầu của xã hội 16

2 Nghiên cứu khoa học để bồi dưỡng và nâng cao năng lực giảng dạy, khả năng tư duy của đội ngũ giảng viên 19

3 Nghiên cứu khoa học để xây dựng chiến lược đầu tư hệ thống trang thiết bị dạy học phù hợp với chương trình đào tạo 20

4 Nghiên cứu khoa học để giải quyết những nhiệm vụ mà thực tiến đặt ra trong hoạt động đào tạo của các trường cao đẳng nghề 21

II Tiêu chí đánh giá 22

1 Khái niệm tiêu chí 22

2 Khái niệm đánh giá 22

III Nghiên cứu khoa học 22

1 Khoa học 22

Trang 2

IV Đánh giá kết quả và hiệu quả nghiên cứu khoa học 25

1 Đánh giá nghiên cứu khoa học 25

2 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 26

3 Đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học 31

4 Chức năng nghiên cứu khoa học 34

Kết luận chương I 36

CHƯƠNG 2 38

THỰC TRẠNG VIỆC ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HẢI DƯƠNG 38

I Thực trạng công tác tổ chức và quản lý nghiên cứu khoa học của nhà trường 38

1 Thực trạng các nguồn lực đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học tại trường cao đẳng nghề Hải Dương 38

2 Thực trạng triển khai các đề tài nghiên cứu tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương 41

II Hiện trạng công tác đánh giá nghiên cứu khoa học của nhà trường 44

1 Những hạn chế trong công tác đánh giá nghiên cứu khoa học 44

2 Nguyên nhân hạn chế của công tác đánh giá nghiên cứu khoa học 45 Kết luận chương 2 47

CHƯƠNG 3 48

XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NCKH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HẢI DƯƠNG 48

I Nội dung nghiên cứu khoa học của các trường cao đẳng nghề 48

1 Tổng hợp ý kiến phỏng vấn sâu các chuyên gia/ giảng viên 48

2 Phân tích nội dung các đề tài nghiên cứu khoa học tại 4 trường cao đẳng nghề và có hoạt động dạy nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương 62

II Xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương 76

2 Tổng hợp kết quả thăm dò theo Phiếu điều tra các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 77

3 Các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương 80

4 Kiểm nghiệm các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu 84

Trang 3

III Xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học tại

trường Cao đẳng nghề Hải Dương 85

1 Lựa chọn hướng tiếp cận để xây dựng bảng hỏi đánh giá hiệu quả nghiên cứu 85

2 Tổng hợp kết quả thăm dò theo phiếu điều tra các tiêu chí đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học 86

3 Xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương 87

4 Kiểm nghiệm các tiêu chí đánh giá hiệu quả nghiên cứu 92

Kết luận chương 3 93

KẾT LUẬN 95

1 Các kết quả đạt được 95

2 Những vấn đề tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu 96

KHUYẾN NGHỊ 97

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Trong điều kiện các trường cao đẳng nghề vừa mới được hình thành,phải đối mặt với rất nhiều vấn đề có tính chất phương pháp luận như: quanđiểm đào tạo nghề hiện nay? Chương trình đào tạo phát triển theo hướng nào?Phương pháp giảng dạy trong đào tạo nghề cần phải khác với các lĩnh vực đàotạo khác ra sao? Nó đặt ra cho trường cao đẳng nghề, trong đó có trường Caođẳng nghề Hải Dương nhiệm vụ: phải tổ chức tốt công tác nghiên cứu khoa học

và triển khai các ứng dụng công nghệ

Khi làm công tác quản lý nghiên cứu khoa học và triển khai các ứngdụng công nghệ tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương, chúng tôi được trực tiếptham gia đánh giá các nội dung của quá trình nghiên cứu như: đề cương nghiêncứu, đánh giá kết quả nghiên cứu, đánh giá hiệu quả nghiên cứu, chúng tôi đãgặp không ít những khó khăn trong việc xác định chuẩn đánh giá Trong cácdịp được làm việc với các đồng nghiệp tại các trường cao đẳng nghề khác,chúng tôi cũng nhận được những chia sẻ khó khăn tương tự

Trước những khó khăn mang tính thực tiễn này, đã gợi ý cho chúng tôi

chọn đề tài: “Xây dựng các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học để thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương”

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã vận dụng phương phápluận nhận thức của chủ nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sửcủa K Marx, cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận phân tích, tiếp cận tổng hợp vàcác cách tiếp cận khoa học khác để nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết về các nộidung nghiên cứu khoa học, các tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu, đánh giáhiệu quả nghiên cứu; tiến hành thực nghiệm, khảo sát tính đúng đắn, tính thựctiễn của các tiêu chí xây dựng khi áp dụng đánh giá nghiên cứu khoa học tại cáctrường đào tạo nghề

Vì nhiều lý do khách quan (như hạn chế về thông tin, thời gian…) và chủquan, nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Do vậy, chúngtôi cho rằng đây mới chỉ được coi là những khảo nghiệm ban đầu, rất mongnhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô, chuyên gia, ý kiến trao đổi mangtính học thuật của các đồng nghiệp trong lĩnh vực này, để đi sâu hơn nữa vàhoàn thiện kết quả nghiên cứu Giúp các trường cao đẳng nghề, trong đó có

Trang 5

trường Cao đẳng nghề Hải Dương, thực hiện tốt chức năng nghiên cứu khoahọc, nâng cao chất lượng đào tạo của mình, đáp ứng được những yêu cầu ngàycàng cao của thị trường lao động trong nước và Quốc tế.

Nghiên cứu đã được thực hiện với sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của

PGS-TS Vũ Cao Đàm, cùng toàn thể các thày cô trong khoa Quản lý Khoa học &

Công nghệ, thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại họcQuốc gia Hà Nội Nghiên cứu cũng nhận được nhiều thông tin, ý kiến đánh giá

và sự giúp đỡ nhiệt tình, đầy hiệu quả của các giảng viên, các chuyên gia vàđồng nghiệp (đã đề nghị không nêu tên) đã hoặc đang làm việc trong cáctrường cao đẳng nghề mà chúng tôi khảo sát

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, chuyên gia vàđồng nghiệp về sự giúp đỡ quý báu đó

TÁC GIẢ

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NXB KHKT Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật

Trang 7

Để thực hiện tốt chức năng nghiên cứu khoa học, phụ thuộc vào nhiềuyếu tố “ đầu vào” như:

- Yếu tố con người: Đó là năng lực, trình độ nghiên cứu; lòng say mê nhiệt tình; phản ứng cá nhân trước những sự kiện khoa học,

- Yếu tố về điều kiện nghiên cứu: Điều kiện về tài chính, thông tin, vật tư,

- Yếu tố môi trường nghiên cứu: Có tạo được các tác nhân kích thích trísáng tạo, đánh giá đúng mức những thành quả do đề tài nghiên cứu mang lại, từ

đó mà có những hành vi đối xử công bằng với người nghiên cứu…

Khi tất cả các yếu tố “đầu vào” đã được đảm bảo, thì việc đánh giá sảnphẩm của quá trình nghiên cứu, tức là “ đầu ra” giữ một vai trò hết sức quantrọng “Đầu ra” này không thể được đánh giá một cách tuỳ tiện, ước lệ, chủquan, mà phải trên cơ sở các tiêu chí đánh giá mang tính khoa học, chuẩn xác

Các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học được xây dựng, coi như nhữngchuẩn mực để thẩm định đề cương nghiên cứu, để đánh giá kết quả nghiên cứu,đánh giá hiệu quả nghiên cứu, để nhận dạng áp dụng kết quả nghiên cứu và để

Trang 8

nghiên cứu khoa học một cách tường minh, khách quan hơn trong suốt quátrình thực hiện và kết thúc, nghiệm thu đề tài Từ đó làm cơ sở để đảm bảoquyền lợi vật chất, tinh thần và tôn vinh những người làm nghiên cứu khoa học.

Tất cả các trường cao đẳng nghề hiện nay đều mới được thành lập hoặcđược nâng cấp từ các trường công nhân kỹ thuật, nên việc nghiên cứu khoa họccòn rất mới mẻ, chưa có các tiêu chí đánh giá các đề tài nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu khoa học tại các trường cao đẳng nghề để phục vụcông tác dạy nghề, nó khác với nội dung nghiên cứu tại các trường đại học, caođẳng của ngành giáo dục và đào tạo Chính vì vậy không thể áp dụng toàn bộcác tiêu chí đánh giá nghiên cứu tại các trường này cho các trường cao đẳngnghề Về một mặt nào đó thì hiện tại, bản thân việc xây dựng các tiêu chí đánhgiá nghiên cứu khoa học tại các trường đại học và cao đẳng cũng còn đang là

đề tài gây rất nhiều tranh cãi, chưa có hồi kết

Các trường cao đẳng nghề, cần phải có các tiêu chí đánh giá nghiên cứumang tính đặc thù riêng, có tác dụng giúp nhà trường thực hiện được chức năngnghiên cứu khoa học, phục vụ công tác dạy nghề trình độ cao, hướng đến nhucầu lao động kỹ thuật của thị trường lao động trong nước và Quốc tế

Trường Cao đẳng nghề Hải Dương là một cơ sở dạy nghề trình độ caođẳng mới được thành lập, nghiên cứu khoa học sẽ là chìa khoá giúp nhà trườngphát triển, nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng thương hiệu của mình Muốnlàm được điều đó, thì việc xây dựng các tiêu chí đánh giá nghiên cứu là điềucần phải làm ngay đối với nhà trường, vì chính các tiêu chí nghiên cứu khoahọc sẽ là động lực thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học của Nhà trường

3 Lịch sử nghiên cứu

Trong lịch sử và hiện tại công tác nghiên cứu khoa học trên Thế giới,theo thông tin mà chúng tôi có được, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu xâydựng các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học Song lĩnh vực nghiên cứu thì

vô cùng rộng lớn, địa điểm áp dụng, quan điểm đánh giá đề tài nghiên cứu cònrộng lớn hơn Chính vì vậy đánh giá nghiên cứu khoa học hiện nay vẫn lànhững vấn đề tranh luận bất tận

Ở Việt Nam, đã có nhiều Nhà khoa học có công trình nghiên cứu và chocông bố về đánh giá nghiên cứu khoa học, như PGS-TS Vũ Cao Đàm, TS Trần

Trang 9

Ngọc Ca; Nguyễn Tử Qua, Trần Chí Đức, PGS-TS Đặng Bá Lãm, v.v , Đặcbiệt trong cuốn sách “ Đánh giá nghiên cứu khoa học”- NXB KHKT-Hà Nội

2005, Vũ Cao Đàm đã đưa ra cơ sở phương pháp luận của đánh giá Nghiên cưúkhoa học Trong những lần được làm việc trực tiếp với Ông, chúng tôi đã được

Ông đưa ra ý kiến: “việc đánh giá nghiên cứu khoa học là một việc cần thiết cho công tác nghiên cứu và quản lý khoa học, nhưng lại là vấn đề rất khó, cho đến nay việc đánh giá vẫn chủ yếu là dựa vào cảm tính của người đánh giá”.

Mới đây, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã có Quyết định số 19 /2007/QĐ-BKHCN ngày 18 tháng 9 năm 2007, quy định đánh giá nghiệm thu

đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản trong khoa học tự nhiên, trong đó đưa ra tiêuchí đánh giá thông qua: (1) Kết quả nghiên cứu; (2)Kết quả tham gia đào tạotrên đại học; (3)Tiến độ thực hiện đề tài; (4) Tình hình sử dụng kinh phí

Trong Quyết định này chỉ giới hạn cho các nghiên cứu cơ bản trong khoahọc tự nhiên, đánh giá kết quả nghiên cứu được thể hiện bằng các công trình(bài báo, báo cáo khoa học, v.v ) đã công bố hoặc đã được nhận đăng (có giấynhận đăng của Ban biên tập tạp chí, của Ban tổ chức hội nghị, hội thảo khoahọc, của nhà xuất bản về khoa học kỹ thuật) trên các ấn phẩm khoa học gồm:Tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín Quốc tế hoặc các tạp chí khoa họcquốc gia hàng đầu do Hội đồng xác định, v.v Một tiêu chí còn gây rất nhiềutranh cãi trong giới khoa học nước nhà

Ngoài ra còn những công trình nghiên cứu của một số tác giả nêu trênTạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ ( www.tiasang.com.vn ) đã

đề cập rất nhiều đến việc đánh giá, hoặc định giá đề tài nghiên cứu khoa họcnói chung

Trong bài viết của Nguyễn Anh Thư, đăng trên tạp chí Bưu chính viễnthông của Bộ Thông tin và truyền thông, đã đề cập đến vấn đề đánh giá và địnhgiá các sản phẩm nghiên cứu ứng dụng, tác giả đã đưa ra các tiêu chí sau đây đểđánh giá công trình: (a) Khối lượng và tiến độ thực hiện đề tài; (b) Điểm mớitrong kết quả: Sản phẩm khoa học công nghệ đã giải quyết được những vấn đề lýluận và thực tiễn nào của đời sống kinh tế xã hội; (c) Tính hiệu quả: khả năng triểnkhai vào sản xuất kinh doanh và hiệu quả về kinh tế- xã hội.; (d) Tầm ảnh hưởng

Trang 10

trình Đồng thời tác giả cũng đưa ra ý kiến “Quá trình vận dụng các tiêu chí nói trên để đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học gặp nhiều khó khăn bởi lẽ các tiêu chí chỉ mang tính chất định tính, phụ thuộc vào quan điểm, trình

độ chuyên sâu của người đánh giá Bởi vậy, cần thống nhất một số quan điểm

về đánh giá các sản phẩm nghiên cứu khoa học”.

Chúng tôi đồng ý với những ý kiến đánh giá của tác giả Nguyễn AnhThư, tuy nhiên những ý kiến đưa ra mang tính chất chung cho các đề tài nghiêncứu ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực, nếu đem áp dụng vào đề tài nghiên cứumang tính thời sự hiện nay của các trường cao đẳng nghề thì sẽ gặp không ítkhó khăn

Theo Luật dạy nghề đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/6/2007, đến nay đã có trên 80 trường cao đẳng nghề được thành lập.Nhiệm vụ chính của các trường cao đẳng nghề là đào tạo nguồn nhân lực côngnghệ ở trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề Đồng thời thựchiện chức năng nghiên cứu khoa học, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ, nâng caochất lượng, hiệu quả đào tạo

Do nhu cầu thực tế mà các đề tài nghiên cứu khoa học của các trườngcao đẳng nghề thường tập trung vào các đề tài nghiên cứu ứng dụng, nó giảiquyết những vấn đề liên quan đến xây dựng chương trình đào tạo, đề xuấtphương pháp giảng dạy tiên tiến, đề xuất đầu tư trang thiết bị thực hành,v.v

Để thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học tại các trường cao đẳng nghề,một việc còn rất mới mẻ nhưng cấp thiết, đòi hỏi phải có các tiêu chí đánh giánghiên cứu khoa học, nhưng cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu để xâydựng các tiêu chí đánh giá một cách thoả mãn, đầy đủ và hoàn thiện

4 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng các tiêu chí đánh giá các đề tài nghiên cứu khoa học, để nhậndạng chất lượng của kết quả nghiên cứu, nhận dạng hiệu quả đầu tư cho nghiêncứu, hiệu quả áp dụng kết quả nghiên cứu và làm cơ sở để nghiệm thu đề tàinghiên cứu Từ đó, khuyến khích cán bộ, giáo viên tham gia hoạt động nghiêncứu, phục vụ công tác đào tạo của trường cao đẳng nghề

Các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học, được coi là cơ sở định hướngnội dung các đề tài nghiên cứu khoa học, tập trung giải quyết những nhiệm vụ

Trang 11

cấp thiết của đào tạo nghề hiện nay như chương trình đào tạo, phương pháp,thiết bị dạy nghề,…Nhưng phải trên quan điểm quan hệ cung- cầu, tương tácgiữa cơ sở đào tạo nghề với thị trường lao động Các tiêu chí đánh giá nghiêncứu khoa học, không chỉ được áp dụng tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương,

mà còn tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, có thể được áp dụng trong khối cáctrường cao đẳng nghề, phục vụ tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ

5 Phạm vi nghiên cứu

Về quy mô và không gian nghiên cứu:

Khảo sát toàn bộ các nội dung nghiên cứu khoa học, việc đánh giá kếtquả và hiệu quả các đề tài nghiên cứu tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương,các trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có đào tạo nghề phù hợp vớilĩnh vực đào tạo của trường Cao đẳng nghề Hải Dương, một số doang nghiệp

đã và đang sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo bởi các trường cao đẳng trênđịa bàn Hải Dương

Đối tượng khảo sát là các cán bộ quản lý, các giảng viên trường Cao đẳngnghề Hải Dương, các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp có đào tạonghề, cán bộ quản lý doanh nghiệp Từ đó nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánhgiá nghiên cứu, để thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học phục vụ công tác đàotạo nguồn nhân lực công nghệ tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương

Về thời gian: Khảo sát qua các đề tài nghiên cứu trong 3 năm trở lại đây

6 Mẫu khảo sát

Khảo sát các nội dung nghiên cứu khoa học, việc đánh giá các đề tàinghiên cứu khoa học của 4 trường cao đẳng nghề hoặc trường cao đẳng, trungcấp chuyên nghiệp có đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Phỏng vấn sâu 12 cán bộ quản lý các trường có đào tạo nghề, các doanhnghiệp hoặc quản lý nhà nước về lĩnh vực đào tạo nghề, quản lý nghiên cứukhoa học

Gửi 100 phiếu điều tra ( Bảng hỏi) đến các cán bộ quản lý, giảng viêncác trường đào tạo nghề, các cán bộ quản lý các doanh nghiệp có nhiều quantâm đến lĩnh vực đào tạo nghề Trong đó tập trung số lượng lớn hơn với cáccán bộ, giảng viên trường Cao đẳng nghề Hải Dương, là nơi thực hiện đề tài

Trang 12

Trên cơ sở đó tổng hợp các nội dung nghiên cứu khoa học, đề xuất các tỉêuchí đánh giá nghiên cứu khoa học, thực nghiệm các tiêu chí này để nhận dạng chấtlượng của kết quả nghiên cứu, nhận dạng hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu và đểnghiệm thu các đề tài nghiên cứu tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương.

7 Câu hỏi nghiên cứu

Các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học của trường Cao đẳng nghềHải Dương gồm những nội dung gì để nhà trường thực hiện được chức năngnghiên cứu khoa học, phục vụ công tác đào tạo nghề?

8 Giả thuyết khoa học

Các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học phải bao hàm những nội dung

để nhận dạng chất lượng của kết quả nghiên cứu, nhận dạng hiệu quả đầu tưcho nghiên cứu và để nghiệm thu được các đề tài nghiên cứu khoa học

Tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học của các trường cao đẳng nghềphải là cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo ( Thông qua kỹ năng tay nghề củangười học); định hướng đổi mới, hoàn thiện nội dung đào tạo; Đảm bảo tínhlinh hoạt về hình thức và phương pháp đào tạo, nhằm giảm chi phí và thời giancho người học, đồng thời đáp ứng nhu cầu và tuân thủ theo các quy luật của thịtrường lao động

9 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp phi thực nghiệm, bao gồm:

+ Phương pháp quan sát: chúng tôi đã khảo sát và tham dự với tư cách

Trang 13

vừa là người quản lý, vừa là người nghiên cứu để quan sát thực tế và đề xuất các nội dung nghiên cứu, các tiêu chí đánh giá.

+ Phương pháp phỏng vấn: Do điều kiện về thời gian, chúng tôi chỉ giớihạn phỏng vấn các đối tượng là những người quản lý nghiên cứu khoa học,quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại địa phương, các cán bộ quản lý doanhnghiệp, các chuyên gia, cán bộ quản lý và giảng viên các trường đào tạo nghề,

là những người có tâm huyết, tìm được tiếng nói chung trong nghiên cứu khoahọc vì mục tiêu phát triển nhiệm vụ đào tạo nghề

+ Điều tra bằng phiếu (bảng hỏi): Phát bảng hỏi đến các chuyên gia, cán

bộ, giảng viên, sinh viên trường Cao đẳng nghề Hải Dương và một số trườngcao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp có đào tạo nghề

- Các phương pháp xử lý thông tin:

+ Đối với các thông tin định lượng: xử lý toán học các tập hợp số liệuthu thập bằng phương pháp thống kê để xác định những nội dung chính các đềtài nghiên cứu khoa học tại các trường cao đẳng nghề, đồng thời đưa ra các tiêuchí đánh giá nghiên cứu được đề xuất

+ Các thông tin định tính: xử lý logic, tức là đưa ra những ý kiến phântích về bản chất của các tiêu chí, đồng thời thể hiện những liên hệ logic của cácnội dung nghiên cứu, các tiêu chí đánh giá của từng nội dung cụ thể

10 Luận cứ

* Luận cứ lý thuyết:

- Để thực hiện được chức năng nghiên cứu khoa học trong nhà trường,trước hết cần phải có các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học, đó là cácchuẩn mực để thực hiện đánh giá nghiên cứu

Các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học bao gồm các chỉ tiêu đánh giákết quả nghiên cứu và các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả nghiên cứu

"Đánh giá kết quả nghiên cứu là một công việc hết sức cần thiết trong tổ chức nghiên cứu khoa học", "Đánh giá để hiểu được giá trị khoa học đích thực của kết quả nghiên cứu, sau đó là xem xét ý nghĩa ứng dụng" 1

Cùng với việc đánh giá kết quả nghiên cứu, thì các chỉ tiêu đánh giá về hiệu

quả nghiên cứu đối với một cơ sở đào tạo là rất cần thiết, vì " Hiệu quả của

Trang 14

nghiên cứu khoa học là lợi ích thu được sau khi áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học" 2 Đánh giá nghiên cứu khoa học "Là cơ sở để trả công cho người nghiên cứu và tôn vinh người nghiên cứu" 3 Từ đó thu hút cán bộ, giảng viên

tham gia nghiên cứu khoa học phục vụ công tác đào tạo nghề của nhà trường

* Luận cứ thực tế:

Xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu khoa học, giải quyết những vấn đề cấpthiết được đặt ra trong quá trình đào tạo nghề, hình thành nên bảng tổng hợpnhững nội dung cần nghiên cứu mang tính chất phổ biến tại các trường caođẳng nghề

Từ mục tiêu nghiên cứu của từng nội dung đề tài nghiên cứu, đề xuất cáctiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu và hiệu quả nghiên cứu Áp dụng các tiêuchí đánh giá vào công tác quản lý, phát triển nghiên cứu khoa học, để thực hiệnchức năng nghiên cứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương

Trên cơ sở kết quả đạt được, tổ chức thực nghiệm, đánh giá, rút kinhnghiệm hiệu chỉnh cho phù hợp, phổ biến kết quả nghiên cứu trong phạm vi cáctrường Cao đẳng nghề khác

11 Giới thiệu cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm ba phần chính là:

Phần I Mở đầu trình bày lý do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu, ý nghĩa lý

luận và thực tiễn, mục tiêu, phạm vi, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu cũng nhưcác phương pháp nghiên cứu được áp dụng và giới thiệu cấu trúc của luận văn

Phần II Nội dung chính gồm 3 chương là

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Thực trạng việc đánh giá nghiên cứu khoa học tại trường Caođẳng nghề Hải Dương

Chương 3 Xây dựng các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học tại trườngCao đẳng nghề Hải Dương

Phần kết luận và khuyến nghị: trình bày kết luận nghiên cứu và các khuyến

nghị đối với Nhà nước, những người làm khoa học, các trường cao đẳng nghềtrong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học nói chung

2Vũ Cao Đàm: Sđd, Tr 97

3 Vũ Cao Đàm: Sđd, Tr 98

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

I Vai trò của NCKH trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Cao đẳng nghề

Việt Nam có tốc độ tăng trưởng GDP liên tục trong nhiều năm từ 7– 8%đây là một trong những tín hiệu tốt đẹp trong quá trình phát triển của đất nước.Thế nhưng, nền kinh tế vẫn đang tồn tại những bất cập lớn để tiếp tục giữ vững

và ổn định tốc độ tăng trưởng này, trong đó có những đòi hỏi về khả năng cungcấp và phát triển nguồn nhân lực

Nguồn vốn cùng với công nghệ mới được đầu tư từ nước ngoài vào ViệtNam ngày càng tăng Các dự án sản xuất công nghiệp, dịch vụ liên tục đượctriển khai và đi vào hoạt động, vấn đề cung cấp nguồn nhân lực công nghệ chấtlượng cao cho các dự án trở nên bức thiết Đòi hỏi các trường đào tạo nghề phảitạo được những bước chuyển biến mạnh mẽ, mang tính đột phá, nâng cao chấtlượng đào tạo của mình

Trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới WTO,nền kinh tế Việt Nam ngày càng thâm nhập sâu vào nền kinh tế Quốc tế, laođộng Việt Nam hoà nhập vào thị trường lao động Quốc tế là điều tất yếu Bêncạnh những ưu điểm nổi bật của lao động Việt Nam là tính cần cù, khá sángtạo, tiếp thu nhanh, thì lao động Việt Nam còn bộc lộ nhiều nhược điểm, đó là

kỹ năng tay nghề, tính chuyên môn hoá, tác phong công nghiệp thấp, trình độngoại ngữ yếu và đặc biệt là khả năng làm việc nhóm rất hạn chế Làm thế nào

để lao động Việt Nam thực sự trở thành những sản phẩm hàng hoá có giá trịcao trên thị trường lao động Quốc tế, đó là nhiệm vụ đào tạo của cả nước, trong

đó có các trường cao đẳng nghề

Xuất phát từ mục tiêu đào tạo những người thợ có kỹ năng thực hànhnghề cao, nên chương trình đào tạo của các trường cao đẳng nghề cần phảidành 65-70% thời gian đào tạo để thực hành kỹ năng tay nghề cho người học.Chính vì vậy mà chất lượng đào tạo của các trường cao đẳng nghề, trước hết vàcần phải được đánh giá thông qua kỹ năng tay nghề của người học sau đào tạo

Muốn nâng cao chất lượng đào tạo, ngoài cơ sở hạ tầng, các trường Cao

Trang 16

đội ngũ giảng viên, trang thiết bị dạy nghề Trên từng khía cạnh được đề cập,các trường cao đẳng nghề cần phải đi sâu phân tích toàn diện, khách quan,thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học.

1 Nghiên cứu khoa học để xây dựng chương trình đào tạo nghề tiên tiến, đáp ứng nhu cầu của xã hội

Chương trình đào tạo là nhân tố hàng đầu đảm bảo chất lượng đào tạo, khi xây dựng chương trình thường có 3 cách tiếp cận sau:

+ Tiếp cận nội dung (content approach): Cách tiếp cận này chú trọng đếnnội dung kiến thức cần truyền thụ, đây là cách tiếp cận kinh điển và truyềnthống Theo cách tiếp cận này chương trình nặng về lý thuyết, phương phápcũng nặng về truyền thụ kiến thức và hậu quả là người học trở nên thụ động,phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên Trong bối cảnh thay đổi liên tục của khoahọc kỹ thuật, mà thời lượng không thay đổi thì dễ dẫn đến tình trạng nhồi nhétkiến thức Mặt khác cách tiếp cận này không cho phép đánh giá hiệu quả củaquá trình đào tạo mà chỉ tập trung đánh giá những gì mà người học “tiêu hoá”được về kiến thức, kỹ năng Trong đào tạo nghề hiện nay, cách tiếp cận này đãtrở nên lạc hậu, không còn phù hợp

+ Tiếp cận theo mục tiêu (the objective approach): Cách tiếp cận nàynhấn mạnh đến mục tiêu đào tạo là tiêu chí để lựa chọn nội dung, phương pháp,cách thức thi, kiểm tra và đánh giá kết quả đào tạo Cách tiếp cận này quan tâmđến sự thay đổi của người học sau khi kết thúc khoá học về kiến thức, kỹ năng,thái độ Ưu điểm của cách tiếp cận này là do xác định mục tiêu cụ thể nên việcđánh giá hiệu quả và chất lượng chương trình đào tạo được tiến hành thuận lợi,giáo viên biết được khối lượng kiến thức cần truyền đạt cho người học, đồngthời dễ dàng chuẩn hoá quy trình, công nghệ đào tạo với các bước thiết kế chặtchẽ cũng như xác định các hình thức đánh giá kết quả học tập, rèn luyện củangười học Tuy nhiên, có nhược điểm là nếu tiếp cận theo mục tiêu đầu ra thìngười học dễ có nguy cơ trở nên khuôn cứng, máy móc, thiếu tính sáng tạo,năng lực tiềm ẩn của mỗi cá nhân khó được phát huy vì phải rèn theo chuẩn,khuôn mẫu chung

+ Tiếp cận phát triển (developmnet approach): Cách tiếp cận này chútrọng đến năng lực tiềm ẩn của cá nhân, phát triển sự hiểu biết của người họchơn là quan tâm đến việc họ nắm được kiến thức như thế nào Theo cách tiếp

Trang 17

cận này đào tạo nghề cũng được xem là quá trình phát triển không hạn chếnăng lực tiềm ẩn trong con người, làm cho họ biết tư duy, sáng tạo, có năng lựclàm chủ các tình huống, đương đầu với sự thay đổi nghề nghiệp liên tục và đốidiện với các thách thức trong đời sống, sản phẩm của quá trình đào tạo đa dạngchứ không theo khuôn mẫu Người học xem như là trung tâm, như thực thể chủđộng, độc lập trong suy nghĩ, sáng tạo trong cách đặt và giải quyết vấn đề, pháttriển hiểu biết cả chiều sâu và bề rộng, có khả năng tự cập nhật kiến thức.Chương trình đào tạo thường được thiết kế theo module để đáp ứng nhu cầuhọc tập của người học Vai trò của giáo viên sẽ có thay đổi, họ không chỉ làngười truyền thụ mà trở thành người cố vấn, cung cấp thông tin, gợi mở vấn đề,hướng dẫn học sinh tìm kiếm, phát hiện cách học và chủ động tích cực tham giavào quá trình đào tạo.

Tuy nhiên chương trình đào tạo như vậy có nhược điểm là quá chú trọngđến nhu cầu sở thích cá nhân mà ít chú ý tới lợi ích cộng đồng, mặt khác nhucầu sở thích cá nhân rất đa dạng và luôn biến đổi nên chương trình đào tạo khóđáp ứng được cá nhân người học

Mỗi cách tiếp cận trong xây dựng chương trình đều có ưu, nhược khácnhau Vì vậy khi xây dựng chương trình đào tạo cần xác định rõ hướng tiếp cậnnào, tại sao lại đi theo hướng như vậy và cũng cần có cái nhìn tổng thể, baoquát toàn bộ quá trình đào tạo, chương trình đào tạo phải có độ mềm dẻo, linhhoạt, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn nhằm đạt mục tiêu đề ra Xu hướngchung hiện nay trong xây dựng chương trình đào tạo nghề là xây dựng chươngtrình theo môn học kết hợp các module

Hàng năm, các trường nghề đào tạo ra hàng vạn lao động nhưng rấtnhiều trong số đó khi ra trường chưa làm việc được ngay, mà các doanh nghiệpphải đào tạo lại Chứng tỏ chương trình đào tạo hiện nay của nhiều trường đàotạo nghề còn có những bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội

Có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân khách quan như:

Do sự phát triển nhanh của công nghệ, hoặc do tính đa dạng của nhu cầu xãhội Nhưng nguyên nhân chủ quan là việc tiếp cận với công nghệ mới tại cáctrường cao đẳng nghề còn nhiều hạn chế, dẫn đến chương trình đào tạo còn

Trang 18

Mặt khác, khi tiếp cận với quan niệm về quản lý đảm bảo chất lượng, thìchất lượng đào tạo được hiểu là sự phù hợp và đáp ứng nhu cầu của thị trườnglao động Chất lượng của các chương trình đào tạo nghề có thể được phân làm

Năm 2008 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành phần cứngchương trình khung ( khoảng 65% thời lượng) hệ đào tạo cao đẳng nghề và trungcấp nghề cho hầu hết các nghề Tuy nhiên đây cũng chỉ được coi là những nộidung cốt lõi, mang tính chất định hướng, phần còn lại do các trường tự nghiên cứuxây dựng cho phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường là không nhỏ

Thực tế hiện nay nguồn vốn cùng với công nghệ mới được đầu tư từnước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, trên tất cả các lĩnh vực sản xuấtcông nghiệp, công nghệ hiện nay rất phong phú và đa dạng, nhiều ngành nghềmới đã và đang xuất hiện

Để xây dựng được những chương trình đào tạo tiên tiến, sát với nhu cầuthực tế, đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội Trong bối cảnh công nghệ thế giớiđang đổi mới không ngừng thì việc cập nhật thông tin, cải tiến chương trình đàotạo đáp ứng được sự thay đổi của công nghệ và đảm bảo sự phù hợp giữa phầncứng và phần mềm là vấn đề lớn của tất cả các trường cao đẳng nghề

Về quan điểm của đào tạo là phải đi trước, đón đầu các hướng phát triểncủa công nghệ, có vậy mới đào tạo được những người thợ đáp ứng kịp nhu cầucủa công nghệ

Xét trên góc độ thị trường lao động thì sản phẩm của các trường caođẳng nghề là một loại sản phẩm đặc biệt, đó là người lao động có tay nghề, và

Trang 19

chất lượng sản phẩm của các trường nghề chính là chất lượng tay nghề củangười học Chủng loại, mẫu mã ở đây chính là các ngành nghề đào tạo, cầnphải liên tục đổi mới cả về hình thức và nội dung theo thị hiếu của thị trườnglao động, đó cũng chính là nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội Hạ giá thànhsản phẩm chính là giảm chi phí đào tạo, có thể hiểu thông qua việc linh hoạthoá hình thức đào tạo, theo quan điểm: Chỉ dạy những gì người lao động cầncho lĩnh vực nghề mà họ sẽ tham gia sau đào tạo Đảm bảo tiết kiệm chi phí vàthời gian cho người học, họ có thể học suốt đời, học làm nhiều khoá, mỗi khoáchỉ trang bị một lượng kiến thức và kỹ năng nhất định, đủ cho họ hành nghề.

Để đến khi họ hoặc đổi nghề, hoặc cần bổ sung thêm kỹ năng thì lại tiếp tụcđào tạo Nghĩa là chương trình đào tạo phải mang tính mở cao, không gò bó,cứng nhắc Đây cũng là quan điểm đào tạo nghề mà hiện nay nhiều nước trênThế giới đã và đang áp dụng

Để có nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng được yêu cầu của côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải phát triển một hệ thống đào tạo có khả năngcung cấp cho xã hội một đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ cần thiết theomột cơ cấu thích hợp, có khả năng thích ứng nhanh với mọi biến đổi của môitrường có trình độ toàn cầu hóa ngày càng cao Đồng thời có khả năng thườngxuyên cập nhật các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho đội ngũ lao động của đấtnước Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống đào tạonguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Mặt khác để có sản phẩm đào tạo là những lao động có kỹ năng tay nghềcao, có các kiến thức toàn diện, đủ tham gia vào thị trường lao động Quốc tế,thì chương trình đào tạo nghề cũng phải mang tính Quốc tế, nghĩa là hướng vàocông nghệ tiên tiến mà các nước đang sử dụng, đào tạo những ngành nghề đangthu hút lao động trong các nước công nghiệp phát triển

Để có thể giải quyết được những vấn đề trên, thì các trường cao đẳngnghề chỉ có thể thông qua nghiên cứu khoa học, sửa đổi những chương trìnhđào tạo đã có hoặc xây dựng các chương trình đào tạo nghề mới phù hợp

2 Nghiên cứu khoa học để bồi dưỡng và nâng cao năng lực giảng dạy, khả năng tư duy của đội ngũ giảng viên

Trang 20

làm chủ thị hiếu của người tiêu dùng thì người đó sẽ chiến thắng Ở Việt Nam,trong những năm gần đây, rất nhiều công nghệ mới đã được du nhập, đặt ra nhucầu làm chủ và sáng tạo những công nghệ mới ngày càng bức thiết đối vớinhững người làm khoa học và công nghệ cả nước.

Để đào tạo được nhân lực công nghệ chất lượng cao, có khả năng làmchủ công nghệ mới, cần phải có đội ngũ giảng viên vững về kiến thức, có kinhnghiệm và phải biết tự đổi mới thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, cậpnhật kiến thức thường xuyên, làm chủ được những trang thiết bị giảng dạy tiêntiến, truyền tải được những thông tin mới nhất về công nghệ của chương trìnhđào tạo đến người học Đồng thời bản thân các giảng viên cũng phải là nhữngngười am hiểu trình độ phát triển của công nghệ trên Thế giới

Thông qua nghiên cứu khoa học, các trường đại học và cao đẳng sẽ rènluyện được đội ngũ giảng viên có khả năng tư duy sáng tạo, nâng cao trình độchuyên môn kỹ thuật và kỹ năng sư phạm, cơ sở để nâng cao chất lượng đàotạo Một vấn đề cần thiết khác là thông qua nghiên cứu khoa học để đổi mới vềquan điểm đào tạo nghề trong ngay chính những người giảng viên của cáctrường cao đẳng nghề

Đối với trường Cao đẳng nghề, việc thu hút học sinh tham gia nghiêncứu khoa học, được coi là một biện pháp để rèn luyện tư duy, tự nghiên cứu vàhọc tập để hoàn thiện bản thân, hình thành và phát triển nhân cách người thợ,giúp các em có khả năng tiếp nhận những kiến thức công nghệ mới một cáchthuận lợi, hướng các em vào những hoạt động lành mạnh bổ ích

3 Nghiên cứu khoa học để xây dựng chiến lược đầu tư hệ thống trang thiết bị dạy học phù hợp với chương trình đào tạo

Đối với các trường cao đẳng nghề, do đặc thù thời lượng thực hành củasinh viên chiếm tỷ trọng lớn ( khoảng 65-70 %), do vậy đòi hỏi với một chươngtrình đào tạo tiên tiến, phù hợp, phải được đồng bộ trên cơ sở một hệ thốngtrang thiết bị thực hành tương thích Thiết bị thực hành phải đảm bảo tính tiêntiến, phù hợp với dây truyền công nghệ mà các doanh nghiệp hiện nay đang và

sẽ sử dụng, muốn vậy các trường Cao đẳng cần xác định được mục tiêu, nộidung đầu tư mua sắm trang thiết bị dạy nghề Việc nghiên cứu tư vấn, lựa chọnđầu tư, phân kỳ đầu tư là hết sức cần thiết, nó đáp ứng được cả nhu cầu trướcmắt cũng như lâu dài quá trình phát triển đào tạo của Nhà trường

Trang 21

Mặt khác để lao động Việt Nam có đủ năng lực tham gia vào thị trườnglao động Quốc tế, thì cùng với chương trình đào tạo nghề, các trang thiết bị dạynghề cũng phải có tính Quốc tế cao Đó là những thiết bị phù hợp với côngnghệ đương đại của các nước công nghiệp phát triển, đặt ra những thách thứckhông nhỏ cho các trường cao đẳng nghề trong điều kiện kinh phí đầu tư có rấtdàn chải, nhỏ giọt, giá cả thiết bị của các nước lại rất cao, nhiều khi vượt cả sứcchịu đựng của các cơ sở đào tạo.

4 Nghiên cứu khoa học để giải quyết những nhiệm vụ mà thực tiến đặt ra trong hoạt động đào tạo của các trường cao đẳng nghề

Mục tiêu đào tạo của các trường cao đẳng nghề không chỉ dừng lại ởtrang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho người học, mà còn đòi hỏi một quátrình giáo dục toàn diện, như đạo đức nghề nghiệp, sức khoẻ, nhân cách ngườithợ,…và quan trọng hơn là rèn luyện khả năng phát triển không hạn chế nănglực tiềm ẩn trong họ, rèn luyện cho họ biết tư duy, sáng tạo, có năng lực làmchủ các tình huống, thích ứng với sự thay đổi nghề nghiệp liên tục và đối diệnvới các thách thức trong đời sống

Là những cơ sở trực tiếp đào tạo và cung cấp nguồn lao động cho cácdoanh nghiệp, các trường cao đẳng nghề có mối quan hệ đặc biệt với các doanhnghiệp trong việc sử dụng lao động, phát triển công nghệ

Với tư cách là một ngành đào tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượngcao cho thị trường lao động trong nước và Quốc tế, các trường cao đẳng nghềchủ động tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính trị, xã hộikhác như: Điều tra xã hội học về nhu cầu đào tạo nghề, đánh giá thực trạngnguồn nhân lực,

Trường Cao đẳng nghề Hải Dương là một cơ sở dạy nghề trình độ caođẳng mới được thành lập, cần có những chương trình đào tạo tiên tiến, một độingũ giảng viên có năng lực giảng dạy, khả năng tư duy tốt, trên cơ sở một hệthống thiết bị dạy nghề phù hợp, đồng bộ, chuẩn bị đầy đủ mọi nguồn lực đểchủ động tham gia vào thị trường lao động Chính vì vậy, việc quản lý hoạtđộng nghiên cứu khoa học, sẽ là chìa khoá giúp nhà trường nâng cao chấtlượng đào tạo, xây dựng và củng cố thương hiệu đào tạo của mình

Trang 22

này cũng đồng nghĩa với việc cho thấy vai trò của các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học khi thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học của các trường đó.

Để tiếp cận một cách hệ thống, sau đây tác giả đi sâu phân tích, làm rõ các khái niệm được đề cập trong luận văn nghiên cứu

II Tiêu chí đánh giá

1 Khái niệm tiêu chí

Theo Tiếng Việt, tiêu chí được hiểu là: Tính chất, dấu hiệu để làm căn cứnhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm

Mỗi một tiêu chí phải phản ánh được một yêu cầu của nội dung cần đánhgiá, một chỉ báo cụ thể, một tính chất của sự vật, hiện tượng hoặc một dấu hiệunhận biết sự vật, hiện tượng đó

2 Khái niệm đánh giá

Theo Tiếng Việt, đánh giá được hiểu là một hoạt động nhằm nhận địnhgiá trị ( Nói chung) Trong một số trường hợp cụ thể, đánh giá được hiểu theocác nghĩa sau:

- Xem xét một công việc sau khi đã hoàn tất, xem mức độ đạt yêu cầu sovới đã dự kiến ban đầu

- Xem xét một con người theo một tiêu chuẩn đã đặt ra

- Xem xét đề tài nghiên cứu sau khi đã hoàn thành kế hoạch nghiên cứu, xem xét về mặt số lượng và chất lượng kết quả nghiên cứu (KQNC), hiệu quả nghiên cứu (HQNC), đồng thời là cơ sở để xem xét có nghiệm thu KQNC hay không.

Vũ Cao Đàm đưa ra khái niệm đánh giá: “ Là sự so sánh dựa trên một chuẩn mực nào đó để xem xét một sự vật là tốt hơn hoặc xấu hơn một sự vật làm chuẩn” 4

Như vậy có thể hiểu: Đánh giá là những hoạt động nhằm xem xét, sosánh sự vật cần đánh giá với những tiêu chí chuẩn mực để xác định giá trị của

sự vật đó Cần phân biệt giữa đánh giá với thẩm định Thẩm định có thể đượccoi là sự "đánh giá trước", còn đánh giá là "đánh giá sau"

III Nghiên cứu khoa học

1 Khoa học

Theo Luật Khoa học và công nghệ: Khoa học là hệ thống tri thức và các

4Vũ Cao Đàm: Sđd, Tr 83

Trang 23

hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy.

Theo Triết học xem khoa học là một hình thái ý thức xã hội “Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học cùng tồn tại bên cạnh các hình thái ý thức xã hôi khác như một hình thức phản ánh thế giới khách quan và tồn tại xã hội vào ý thức của con người như một sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn” 5

Khoa học là một hoạt động xã hội " Đó là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, hướng vào việc tìm hiểu những điều chưa biết, là một loại hoạt động gian khổ, nhiều rủi ro” 6

Như vậy khoa học trước hết là tri thức, mang tính hệ thống, phản ánhkhách quan, mà không mang tính chủ quan, áp đặt của con người

2 Nghiên cứu khoa học ( Hay hoạt động NCKH).

Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhậnthức khoa học về Thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện

kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật, phục vụ cho mục đích hoạt động của con

người.“Về mặt thao tác, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luậnđiểm khoa học về một sự vật, hoặc hiện tượng cần khám phá” 7

Để đánh giá một cách khách quan, chính xác một đề tài nghiên cứu khoahọc, chúng tôi quan tâm đến các đặc điểm của nghiên cứu khoa học do Vũ CaoĐàm đưa ra Cụ thể:

a) Tính mới: Luôn hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới

Hoạt động NCKH là một loại lao động trí óc mang tính sáng tạo, đặcđiểm nổi bật của nó là ở tính sáng tạo, thể hiện ở chỗ không lặp lại những nộidung đã được biết trước đó, có những nét riêng so với nội dung nghiên cứutương tự đã được thực hiện trước đó, là điểm cơ bản nhất phân biệt nó với laođộng sản xuất bình thường

Quá trình NCKH là quá trình mà tri thức vận động từ không đến có, đitìm cái chưa biết, từ ít đến nhiều, từ ý tưởng đơn lẻ đến hệ thống lý thuyết, từ

lý luận đến thực tiễn NCKH và sáng tạo có mối liên hệ mật thiết với nhau,qúa trình NCKH là quá trình sáng tạo ra cái mới

5Vũ Cao Đàm: Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB GD,Hà Nội 2005,Tr 15.

Trang 24

Do vậy đánh giá NCKH cần đặc biệt chú trọng đánh giá được Tính mới,

nó thể hiện tính khoa học của đề tài, đồng thời thể hiện năng lực, sức sáng tạocủa người nghiên cứu

b) Tính tin cậy: Kết quả kiểm chứng lại phải chính xác trong những điều

kiện quan sát, các nhân tố và phương tiện thực hiện đã được chỉ ra

Đặc điểm này loại bỏ hoàn toàn những kết quả không trung thực, có tính nhào nặn hoặc ngẫu nhiên

c) Tính thông tin: Là đặc trưng của sản phẩm khoa học, đó là những

thông tin về quy luật vận động của sự vật, về quy trình công nghệ và các tham

số đi kèm quy trình đó

Mọi sản phẩm của nghiên cứu khoa học đều mang tính thông tin Đó lànhững thông tin về quy luật vận động của sự vật, về quy trình công nghệ, tínhnăng sản phẩm mới

d) Tính khách quan: Được xem là một chuẩn mực giá trị của nghiên cứu

khoa học và của bản thân người nghiên cứu Nó trái ngược với những nhậnđịnh vội vã, những kết luận mang nặng cảm tính mà thiếu xác nhận của nhữngchứng cứ khoa học

e) Tính rủi ro: Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới

do đó có thể thành công mà cũng có thể thất bại Tuy nhiên tỷ lệ không thànhcông trong nghiên cứu thường là khá lớn Trong hoạt động khoa học thất bạicũng được xem là một kết quả, vì đó là bài học cho người tiếp tục nghiên cứu

về sau

* Hiểu được đặc thù này khi đánh giá NCKH, cần phải có cái nhìn kháchquan, không định kiến hoặc nhạo báng người nghiên cứu thất bại

f) Tính Kế thừa: Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu

trong các kết quả nghiên cứu của các lĩnh vực khoa học khác nhau rất xa

Lao động sáng tạo của trí thức thường xuất phát từ sự kế thừa của laođộng sáng tạo của những người đi trước để phát triển tri thức mới Những trithức mới mà thế hệ đương thời tạo ra cũng sẽ được người khác hoặc thế hệ sau

kế thừa, phát triển Cứ như vậy hoạt động khoa học sản sinh ra tri thức, là mộtquá trình liên tục, bổ sung, tích lũy vào kho tàng tri thức của nhân loại Mặtkhác từ đó có thể thấy rằng hoạt động NCKH cần được tiến hành liên tục, nhiệttình, say mê thì mới có thể mang lại hiệu quả

Trang 25

* Vì vậy khi đánh giá đề tài NCKH cần hết sức phân biệt giữa "đạo văn" với "kế thừa", tránh gây nên những ức chế cho người nghiên cứu.

g) Tính cá nhân: Thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá

nhân, tức luận điểm khoa học của cá nhân, mang tính quyết định ngay cả cho

dù công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực hiện

Tính cá nhân thể hiện khả năng độc lập và tự chủ trong khám phá, sángtạo, mang đậm nét cá tính và năng lực của cá nhân nhà khoa học Tuỳ theotrình độ học vấn, tư chất di truyền, thể lực và môi trường xã hội mà cá tính vànăng lực cá nhân hình thành và phát huy khác nhau

* Do vậy trong đánh giá NCKH phải tôn trọng ý kiến đề xuất khoa họccủa một cá nhân mới xuất hiện, thậm chí chưa được thử nghiệm một cách đầy

đủ, chính khí chất và tính cách khác nhau của cá nhân những người nghiên cứu

là yếu tố quan trọng tạo nên phát triển không ngừng cho nền khoa học

h) Tính trễ trong áp dụng: Một kết quả nghiên cứu thường không thể áp

dụng ngay vào sản xuất và đời sống vì nhiều lý do như điều kiện kinh tế, vănhóa, tâm lý xã hội…, Có khi phải qua nhiều năm mới thấy được kết quả và hiệuquả của nó, đó là " Độ trễ"

Như vậy, hiểu đúng về nghiên cứu khoa học cùng những đặc điểm mangtính đặc thù của công việc nghiên cứu là một việc hết sức cần thiết đối vớingười nghiên cứu cũng như người quản lý nghiên cứu khi xử lý những vấn đề

cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu, giúp họ chủđộng, tự tin, loại bỏ được những tư tưởng phi khoa học

IV Đánh giá kết quả và hiệu quả nghiên cứu khoa

học 1 Đánh giá nghiên cứu khoa học

Từ khái niệm chung về đánh giá nêu ở phần II trên, chúng tôi hiểu đánh

giá nghiên cứu khoa học là: “Xem xét đề tài nghiên cứu sau khi đã hoàn thành

kế hoạch nghiên cứu, xem xét về mặt số lượng và chất lượng kết quả nghiên cứu, hiệu quả nghiên cứu, đồng thời là cơ sở để xem xét có nghiệm thu kết quả nghiên cứu hay không” 8

Việc đánh giá nghiên cứu khoa học hiện nay trên thế giới cũng như trongnước còn đang tồn tại rất nhiều quan điểm, phương pháp đánh giá rất khác nhau

Trang 26

và " Không có một khuôn mẫu sẵn", mà chủ yếu vẫn mang tính chất định tính,rất khó định lượng được.

Trong khuôn khổ hạn chế của các đề tài nghiên cứu khoa học của mộttrường Cao đẳng nghề, chủ yếu tập trung vào nghiên cứu ứng dụng phục vụcông tác giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Chúng tôi cốgắng đưa ra được những tiêu chí đánh giá, sử dụng như một công cụ đánh giá,phần nào giúp cho công việc đánh giá nghiên cứu trong nhà trường thuận lợi,công bằng và khách quan hơn

Về phương pháp đánh giá, dựa trên 2 phương pháp: phương phápChuyên gia và phương pháp Hội đồng

a) Phương pháp Chuyên gia: là một phương pháp đánh giá dựa trên ý

kiến nhận xét cá nhân của chuyên gia trong ngành Trong phương pháp này,một số chuyên gia được mời nhận xét kết quả nghiên cứu

Sử dụng phương pháp chuyên gia, có thể thực

hiện: - Phản biện công khai;

- Phản biện kín;

- Phản biện kết hợp

Tuỳ từng trường hợp cụ thể, có thể sử dụng một trong ba phương pháp trên, hoặc có thể kết hợp, để thu được kết quả khách quan trong đánh giá

b) Phương pháp Hội đồng: Là phương pháp đánh giá, trong đó một nhóm

chuyên gia được mời thảo luận, phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu

Khi sử dụng phương pháp hội đồng cần chú ý đến các nhược điểm( Khách quan và chủ quan) để tìm cách hạn chế nó, phát huy được những ưuđiểm của phương pháp này

2 Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học

(1).Kết quả nghiên cứu khoa học: “Là những sản phẩm được tạo ra trong hoạt động nghiên cứu khoa học Bản chất của kết quả nghiên cứu là những thông tin về bản chất của sự vật - Đối tượng nghiên cứu” 9

Do bản chất của sản phẩm nghiên cứu là thông tin, do đó chúng ta chỉ cóthể tiếp xúc với các sản phẩm của nghiên cứu khoa học thông qua các loại vậtmang thông tin khác nhau, chẳng hạn: Các báo cáo khoa học, băng ghi hình, ghi

âm, các bản mô tả quy trình, công thức, kỹ năng, bí quyết, hay các vật mẫu,

9 Vũ Cao Đàm: Sđd, Tr 73.

Trang 27

Với quan điểm đánh giá trên, giúp chúng ta hiểu một cách cụ thể, đầy đủ

về kết quả nghiên cứu khoa học mà không mơ hồ, trừu tượng

(2) Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học.

a) Quan điểm đánh giá kết quả nghiên cứu.

Trong phần này chúng tôi sử dụng quan điểm về đánh giá kết quả nghiên

cứu do Vũ Cao Đàm đưa ra: "Đánh giá kết quả nghiên cứu là lượng định giá trị của kết quả nghiên cứu", trong đó " Lượng định giá trị trong là chủ yếu

".Trong quá trình đánh giá, nghĩa là quá trình "lượng định giá trị" của đề tài,

cần phải thống nhất các quan điểm sau:

- Giá trị của KQNC trước hết ở giá trị tri thức: thể hiện ở các tri thức mớichứa đựng trong kết quả của đề tài, đây cũng chính là đặc điểm cơ bản của hoạtđộng nghiên cứu khoa học đã được đề cập ở phần III trên Cái mới của tri thức

ở đây không thể được "đong" bằng số trang báo cáo khoa học của đề tài, hoặc

số " bít" thông tin, hoặc hoàn toàn dựa vào số lần trích dẫn đề tài, vì trích dẫntrong trường hợp này rất có thể chỉ đơn thuần là trích dẫn để phê phán

- Không lấy tiêu chuẩn " Đã được áp dụng" để đánh giá KQNC: Vì một đềtài nghiên cứu có giá trị khoa học lớn không nhất thiết phải là một đề tài được ápdụng ngay và mang lại giá trị kinh tế lớn, như ở phần III trên đã đề cập đến mộtđặc điểm cơ bản nữa của hoạt động nghiên cứu khoa học là " Tính trễ"

- Không dựa theo cấp hành chính để đánh giá KQNC đề tài: đây là quanđiểm rất đúng đắn trong đánh giá KQNC khoa học, nó lọai bỏ tư tưởng hành chínhhoá NCKH, dễ dẫn đến những sai lầm, " méo mó" trong cộng đồng khoa học

Như vậy: Khi đánh giá KQNC một đề tài trong lĩnh vực khoa học "

Trước hết phải được xem xét về ý nghĩa khoa học; tiếp đó, đối với những đề tài công nghệ, đương nhiên phải được xem xét thêm ý nghĩa kỹ thuật" 10

Trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm tài liệu phục vụ cho đề tài luận văncủa mình, chúng tôi nhận thấy một điều: việc đánh giá KQNC, qua kinhnghiệm các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là một việc làm luôn gặpphải những khó khăn, mặc dù cộng đồng các nhà khoa học đã có rất nhiều cốgắng, nhưng vẫn rất khó định lượng, mà chủ yếu vẫn mang tính định tính nhiềuhơn Điều đó đòi hỏi mỗi người chúng ta khi được vinh dự nắm giữ vai trò

Trang 28

đánh giá một đề tài khoa học, cần phải có những nhận thức đúng đắn về đặcđiểm của nghiên cứu khoa học, đồng thời phải có cái tâm của một nhà khoahọc, đó là tính trong sáng, khách quan Có vậy mới tránh được những tổn thất,thiệt thòi cho bản thân những người nghiên cứu.

b) Tiếp cận đánh giá kết quả nghiên cứu.

Trong phần này chúng tôi sử dụng các phương pháp tiếp cận do Vũ CaoĐàm đưa ra, đó là phương pháp tiếp cận phân tích và tiếp cận tổng hợp

* Tiếp cận phân tích: " Được thực hiện trên cơ sở chia nhỏ công trình nghiên cứu theo cấu trúc logic, tính bắt đầu từ sự kiện khoa học, sau đó xem xét giá trị của KQNC theo từng yếu tố cấu thành cấu trúc logic" 11

Các yếu tố của cấu trúc logic của một đề tài nghiên cứu khoa học bao gồm:

- Sự kiện khoa học: Sự kiện có thực sự mang tính khoa học hay không, cómang một giá trị khoa học hay không? Có tồn tại khách quan, không áp đặt chủquan? Đây được xem là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng nghiên cứu

Đối với một trường cao đẳng nghề thì sự kiện khoa học ở đây là nhữngvấn đề được nảy sinh trong thực tế hoạt động của nhà trường (trong giảng dạy,quản lý, đối nội, đối ngoại v.v ) thể hiện qua các mâu thuẫn: giữa dạy và học,giữa phương pháp quản lý hiện tại với kết quả thu được, giữa mong muốn vớikhả năng đáp ứng của người quản lý và người lao động, giữa chương trình đàotạo với nhu cầu xã hội, giữa công cụ, phương tiện dạy học với chương tình đàotạo, giữa nhu cầu về phương tiện, thiết bị giảng dạy với khả năng nguồn vốn tàichính, nhu cầu giải quyết những vấn đề về công nghệ của các cơ sở sản xuấtngoài trường, giữa nhu cầu của xã hội với tay nghề người học sau đào tạo, giữanhững cố gắng của nhà trường với kết quả đạt được, thể hiện qua kiến thức và

kỹ năng của người học sau đào tạo,v.v

- Vấn đề khoa học: Là câu hỏi đặt ra liên quan đến sự kiện khoa học, làcâu hỏi mà người nghiên cứu phải trả lời trong quá trình nghiên cứu của mình.Vấn đề nêu ra có thực sự là vấn đề khoa học, có tính cấp thiết không? Đâyđược xem là yếu tố quyết định ý nghĩa của toàn bộ công trình nghiên cứu, là cơ

sở để đặt ra các giả thuyết khoa học và cũng chính là kết quả của công trìnhnghiên cứu

11 Vũ Cao Đàm: Sđd, Tr 86

Trang 29

. Vấn đề nghiên cứu được lựa chọn có thể hiện đúng mâu thuẫn của sự kiện khoa học mà người nghiên cứu lựa chọn giải quyết không ?

+Tại sao mong muốn (lý thuyết) là A, nhưng kết quả (thực tế) lại chỉ là B?+ Để đạt được A thì cần phải có những gì? ( tư duy, hành động, cách thức ) - Luận điểm khoa học: Là kết quả chứng minh giả thuyết khoa học, là

câu trả lời vào vấn đề khoa học được đặt ra ở trên, thông qua lập luận logichoặc kết quả quan sát/thực nghiệm, thể hiện tính mới về khoa học, không ăn

cắp Đây được xem là " Yếu tố cốt lõi nhất đặc trưng cho giá trị tri thức của một công trình nghiên cứu, là phần đóng góp trí tuệ quyết định nhất của tác giả…" 12

Những luận điểm đưa ra của người nghiên cứu có trả lời được câu hỏinêu ra ở vấn đề khoa học không ?

+ Để đạt được A thì cần phải có C

+ Nội dung của C là ( Cách thức, tư duy, hành động)

- Luận cứ khoa học: " Là kết quả nghiên cứu của tác giả, là bằng cứ được sử dụng để chứng minh luận điểm khoa học" 13 Đảm bảo tính khách

quan, không ăn cắp gian lận

- Phương pháp: là cách thức mà tác giả sử dụng trong quá trình nghiêncứu, " Là cơ sở đảm bảo độ tin cậy của các luận cứ" Muốn vậy thì bản thânphương pháp được sử dụng cũng phải đảm bảo đưa ra được những luận cứ tincậy Phương pháp được sử dụng phải đảm bảo chính xác, logic, đảm bảo độ tincậy của các luận cứ

Trên đây là 5 yếu tố của cấu trúc logic một đề tài nghiên cứu khoa họcđược đưa ra theo phương pháp tiếp cận phân tích Các yếu tố này có một thuộctính riêng, chúng độc lập với nhau, nhưng lại mang tính logic rất chặt chẽ, cùnghướng vào một mục tiêu nghiên cứu của đề taì, yếu tồ này là tiền đề cho yếu tốkia, làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, đảm bảo tính nhất quán cao của đề tài Nếukhông đảm bảo được điều đó thì đề tài sẽ rất có thể mắc phải lỗi logic, làmhỏng toàn bộ kết quả nghiên cứu

- Các chỉ báo đánh giá theo tiếp cận phân tích: Từ các yếu tố của cấu trúclogic trên, chúng tôi sử dụng các chỉ báo đánh giá theo tiếp cận phân tích do Vũ

Trang 30

Cao Đàm đưa ra như sau :

+ Sự kiện: Có dựa trên quan sát khách quan hay không?

+ Vấn đề: Có thực sự cấp thiết hay không?

+ Giả thuyết: Có dẫn đến một luận điểm khoa học mới hay không? Có ăncắp của đồng nghiệp hay không?

+ Luận cứ: Có thực sự khách quan và đủ chứng minh giả thuyết haykhông? Có ăn cắp của đồng nghiệp hay không? Có bịa đặt hoặc nhào nặn sốliệu để làm luận cứ hay không?

+ Phương pháp: Các phương pháp được sử dụng có đủ đảm bảo cho luận

cứ đáng tin cậy hay không?

* Tiếp cận tổng hợp: Đây là cách tiếp cận đánh giá kết quả một đề tài nghiên cứu khoa học trong cả 2 trường hợp thành công hoặc thất bại

- Một kết quả nghiên cứu được đánh giá thành công thể hiện ở các yếu tố:+ Tính mới: Phải được thể hiện trong Sự kiện khoa học; Vấn đề khoa học và Luận điểm khoa học

+ Tính tin cậy: được kiểm tra qua các chỉ tiêu: Luận cứ ( Có đủ tin cậy hay không?) và Phương pháp ( Có đảm bảo rằng những luận cứ đưa ra là đúng đắn về mặt khoa học hay không?).

+ Tính khách quan: được kiểm tra qua các chỉ tiêu: Luận cứ và phương pháp.+ Tính trung thực: Kiểm tra thông qua tính đúng đắn trong trích dẫn cácluận cứ, trong sử dụng các luận cứ thực tiễn, trong phép suy luận của ngườinghiên cứu

- Một kết quả nghiên cứu được xem là thất bại, cần phải được xem xét ở các khái cạnh:

+ Thất bại ở những yếu tố nào trong cấu trúc logic, do khách quan hoặc chủ quan;

+ Nguyên nhân của thất bại trong nghiên cứu;

+ Luận cứ để kết luận một kết quả nghiên cứu thất bại: Phải đủ tin cậy Tuynhiên, như trên đã đề cập, trong nghiên cứu khoa học, một nghiên cứu

thất bại cũng được xem là một kết quả Vì đó là bài học cho người tiếp tụcnghiên cứu về sau Đó cũng chính là Tính rủi ro, một đặc điểm trong nghiêncứu khoa học

Trang 31

3 Đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học

(1) Hiệu quả nghiên cứu khoa học: là lợi ích thu được sau khi áp dụng

kết quả nghiên cứu khoa học

Như vậy một kết quả nghiên cứu có thể đưa lại hiệu quả sau khi áp dụng

và sẽ không đưa lại hiệu quả gì nếu không đưa vào áp dụng

* Tuỳ thuộc vào việc xem xét hiệu quả nghiên cứu trên các giác độ khác nhau mà ta có các loại hiệu quả nghiên cứu khác nhau:

- Hiệu qủa tri thức: Làm tăng thêm những hiểu biết mới của con người đối với tự nhiên và xã hội

- Hiệu quả đào tạo: Tạo sự phát triển nội dung và phương pháp đào tạo

- Hiệu quả công nghệ: Phát triển những công nghệ mới

- Hiệu quả môi trường: Việc chống ô nhiễm môi trường, làm sạch môi trường, phát triển một nền sản xuất không gây ô nhiễm môi trường

- Hiệu quả kinh tế: Phát triển sản xuất, phát triển kinh tế đưa lại lợi nhuận hoặc làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ xã hội

- Hiệu quả xã hội: Làm biến đổi xã hội theo nghĩa rộng nhất: Nâng cao dân trí, phát triển văn hoá, tăng cường quốc phòng,

Trên cơ sở xem xét hiệu quả nghiên cứu khoa học một cách toàn diệnkhách quan, giúp chúng ta đánh giá một cách đầy đủ hiệu quả của một đề tàinghiên cứu, làm cơ sở đảm bảo cho tính chính xác, công bằng trong đánh giá

* Tuy nhiên, để đảm bảo được tính chính xác, công bằng khi đánh giáhiệu quả, trong điều kiện bản thân khái niệm hiệu qủa nghiên cứu lại rất phứctạp, theo chúng tôi cần phải xuất phát từ một số quan điểm mà Vũ Cao Đàm đãđưa ra như sau:

- Không phải mọi KQNC đều đưa đến hiệu quả kinh tế: Nghĩa là khôngthể hiểu một cách đơn giản hiệu quả phải là tiền, mà phải nhìn nhận hiệu quảnghiên cứu ở những lĩnh vực khác như: văn hoá, chính trị, xã hội,

- Không phải mọi KQNC đều thấy được ngay: đây chính là "Tính trễ" trong NCKH

- Không có hiệu quả kinh tế thuần tuý khi áp dụng một KQNC: Thôngthường khi áp dụng một KQNC, có thể có nhiều tác dụng song hành, thậm chí

Trang 32

- Khó bóc tách hiệu quả kinh tế của một HQNC: vì " Trong những KQNC đưa lại hiệu quả kinh tế, thì luôn có những yếu tố ảnh hưởng mà chúng

ta không phải khi nào cũng bóc tách ra được để xem xét" 14

(2) Đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học

a) Các hướng tiếp cận đánh giá hiệu quả

Trong phần này chúng tôi sử dụng các hướng tiếp cận đánh giá hiệu quả thông dụng do Vũ Cao Đàm tập hợp, đó là:

- Tiếp cận thông tin: Đánh giá bởi Hiệu qủa thông tin, " Là kết quả đóng góp vào sự tăng lượng thông tin trong lĩnh vực nghiên cứu được xem xét".

- Tiếp cận công nghệ: Đánh giá bởi Hiệu qủa công nghệ, " Là kết quả đóng góp vào sự xuất hiện một công nghệ mới trong lĩnh vực nghiên cứu được xem xét".

- Tiếp cận kinh tế: Đánh giá bởi Hiệu qủa kinh tế, "Là kết quả tính bằng tiền sau khi áp dụng kết quả nghiên cứu"

- Tiếp cận môi trường: Đánh giá bởi Hiệu qủa môi trường " Là xét đến tác động của kết quả nghiên cứu vào điều kiện môi trường sau khi áp dụng kết quả nghiên cứu".

- Tiếp cận xã hội: Đánh giá bởi Hiệu qủa xã hội " Là xét đến tác động của kết quả nghiên cứu vào những biến đổi xã hội, tốt lên hoặc xấu đi sau khi

áp dụng kết quả nghiên cứu".

Trên đây là 5 hướng tiếp cận đánh giá kết quả nghiên cứu Mỗi hướng tiếp cận lại có những chuẩn mực riêng để đánh giá

b) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

Qua nghiên cứu tài liệu, tìm tòi trên các mạng thông tin, chúng tôi được biếthiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, việc đánh giá hiệu quả nghiên cứukhoa học còn rất hạn chế, nhất là định lượng được hiệu quả Ở phần này chúng tôi

sử dụng 10 nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả do Vũ Cao Đàm đưa ra: 15

- Chỉ tiêu về hiệu qủa thông tin: Thể hiện ở chỗ: Đề tài nghiên cứu có đưa lại thông tin mới cho khoa học nói chung/ cho chính ngành khoa học được xem xét/ cho ngành khoa học khác/ Số lần được trích dẫn trên các tạp chí quan trọng nhất của thế giới.

14 Vũ Cao Đàm: Sđd, Tr 101.

15 Vũ Cao Đàm: Sđd, Tr 105

Trang 33

- Chỉ tiêu hiệu quả khoa học: Đề tài nghiên cứu có đưa ra những khái niệm hoặc phạm trù mới/ những phát hiện mới về bản chất sự vật/ những giải pháp mới cho các hoạt động xã hội.

- Chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật: Đề tài nghiên cứu có đóng góp vào việc tạo

ra một giải pháp kỹ thuật mới/ một công nghệ mới/ một loại vật liệu mới/ một phương pháp kỹ thuật mới/ một sản phẩm mới ( Chưa xét đến giá trị kinh tế).

- Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế: Đề tài nghiên cứu có sự đóng góp vào hoạt động kinh tế, cả định tính và định lượng:

+ Chỉ tiêu định tính: Đưa ra một sản phẩm mới có ý nghĩa mới về giá trị kinh tế/ Triển vọng làm biến đổi cơ cấu một ngành kinh tế/ Phát triển một ngành kinh tế mới.

+ Chỉ tiêu định lượng: Tính toán giá trị thu được bằng tiền/ phần tăng doanh số/ tăng lợi nhuận do sử dụng công nghệ mới, sản phẩm mới.

- Chỉ tiêu hiệu quả môi trường: Khả năng gây ô nhiễm môi trường/ cải thiện

môi trường/ làm tốt môi trường của công nghệ do kết quả nghiên cứu đưa lại.

- Chỉ tiêu hiệu quả đạo đức: Tác động gây hiệu ứng tích cực/ tiêu cực đến truyền thống đạo đức.

- Chỉ tiêu hiệu qủa văn hoá: Tác động gây hiệu ứng tích cực/ hậu quả tiêu cực đến truyền thống văn hoá/ hậu quả ngoại biên đến sự hình thành những truyền thống văn hoá mới.

- Chỉ tiêu hiệu quả đào tạo: Đóng góp của kết quả nghiên cứu vào việc thay đổi hoặc bổ sung vào chương trình đào tạo những tri thức mới/những nội dung mới/ những phương pháp mới trong công nghệ giáo dục/ những công cụ, phương tiện mới trong giảng dạy.

- Chỉ tiêu hiệu quả an ninh, quốc phòng: Đóng góp của kết quả nghiên cứu

vào việc phát triển các phương pháp, phương tiện mới phục vụ an ninh, quốc phòng.

- Chỉ tiêu hiệu quả xã hội: Tác động của kết quả nghiên cứu vào nâng cao dân

trí/ xoá đói giảm nghèo/ khắc phục bất bình đẳng xã hội/ đến sức khoẻ cộng đồng.

Tóm lại: Tuân thủ theo 10 chỉ tiêu trên trong việc phân tích đánh giá hiệuquả nghiên cứu khoa học, giúp cho công việc đánh giá một đề tài nghiên cứu khoahọc được toàn diện, khách quan Tuy nhiên như phân tích trên, việc đánh giá

Trang 34

quan của người đánh giá, điều này giúp cho kết quả đánh giá tiếp cận với độ chính xác cao nhất.

4 Chức năng nghiên cứu khoa

học a) Khái niệm chức năng.

Theo Tiếng Việt: “Chức năng là tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người, một cái gì đó” 16

b) Chức năng nghiên cứu khoa học trong các trường đại học và cao đẳng

Như vậy theo nghĩa Chức năng trong Tiếng Việt nêu trên, thì chức năngnghiên cứu khoa học được coi là một nhiệm vụ đặc trưng của các trường đạihọc và cao đẳng, nó song hành cùng với nhiệm vụ đào tạo, là yếu tố quyết địnhchất lượng và uy tín đào tạo của các trường

Đối với các trường đại học và cao đẳng nói chung, hoạt động NCKHgiúp cho các trường có một nền kiến thức cơ bản rộng, tạo điều kiện cho cáctrường tiến hành các hoạt động đào tạo thường xuyên, đào tạo lại hoặc đào tạonâng cao, đây là điều kiện vô cùng thiết yếu để giúp các trường đại học, caođẳng nâng cao chất lượng, năng lực đào tạo trong sự biến động và phát triểnkhông ngừng của thế giới

Sự hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi bản thân các trường đại học, caođẳng phải nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc nâng cao chất lượngđào tạo Để chất lượng đào tạo thoả mãn yêu cầu của quốc tế thì người thàytrong các trường phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có sự hiểu biếtsâu rộng về khoa học và công nghệ, muốn vậy người thầy phải không ngừnghọc hỏi, cập nhật kiến thức khoa học mới, luôn tìm tòi sáng tạo thông qua hoạtđộng NCKH, vì thế hoạt động NCKH trong các trường đại học, cao đẳng làmột trong hai nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với bản thân các trường

Hoạt động NCKH giúp các trường đại học, cao đẳng thực hiện tốt chứcnăng đào tạo của mình Hoạt động NCKH, giúp cho việc tìm kiếm các tri thứckhoa học mới, tạo điều kiện cho sự phát triển các bộ môn khoa học hay cácngành nghề mới, các trường phái khoa học, các lĩnh vực nghiên cứu mới, đảmbảo cho trình độ khoa học của nhà trường theo kịp trình độ phát triển khoa họctiên tiến trên thế giới

16.Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển học-Hà nội-Đà Nẵng, 2001

Trang 35

Hoạt động NCKH là một phương thức tăng cường hiệu quả cho quá trìnhgiảng dạy - học tập, giúp cho chất lượng đội ngũ giảng viên được cải thiện vàphát triển, làm cho đội ngũ giảng viên trở thành những chuyên gia khoa học vàcông nghệ giỏi có uy tín trong giáo dục đào tạo, đây là yếu tố quan trọng tạonên chất lượng cao cho công tác đào tạo Từ đó đem lại cho sinh viên khốilượng kiến thức sâu, rộng, phong phú với các phương pháp luận chắc, giúp sinhviên vững vàng trong hoạt động nghề nghiệp khi ra trường, sẵn sàng hội nhậptrong điều kiện toàn cầu hóa.

Hoạt động NCKH trong trường đại học, cao đẳng là chiếc cầu nối gắn nhàtrường với xã hội Thông qua các hoạt động NCKH và phát trển công nghệ củamình, nhà trường có thể quảng bá sản phẩm nghiên cứu đến các doanh nghiệp, các

cơ sở sản xuất tạo nên sự hợp tác trong hoạt động khoa học và công nghệ, giúp cácdoanh nghiệp, cơ sở sản xuất tiếp cận được những sự phát triển mới trong các lĩnhvực khoa học và công nghệ mới để định hướng phát triển Ngược lại căn cứ vàonhu cầu của xã hội và các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhà trường cũng có nhữngđịnh hướng cho hoạt động NCKH và công nghệ của mình

Hoạt động NCKH là môi trường rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phương phápnghiên cứu giúp cho sinh viên nắm vững chuyên môn đáp ứng được yêu cầuthực tiễn đòi hỏi khi ra trường, bảo đảm cho sinh viên mới tốt nghiệp có thểlàm được đúng ngành nghề đã đào tạo

Hoạt động NCKH tạo cơ sở vững chắc cho các trường đại học, cao đẳng

có vị trí xứng đáng trong hệ thống các cơ quan NCKH quốc gia, giúp cáctrường thực hiện tốt chức năng nghiên cứu khoa học và công nghệ của mình, vìchính hoạt động NCKH là môi trường để phát triển năng lực khoa học và côngnghệ của nhà trường kể cả về lượng và chất, đảm bảo cho sự phát triển của nhàtrường giữ vững uy tín và vị thế trong xã hội

Hoạt động NCKH của các trường đại học, cao đẳng cung cấp cho mọingười một vốn kiến thức đủ rộng và vững chắc với một số kỹ năng nghề nghiệpnhất định, đồng thời nâng cao khả năng tự học thích ứng với những thay đổicủa hoàn cảnh Mở rộng cơ hội học tập của mọi người, thúc đẩy cuộc cáchmạng trong dạy và học, tạo ra những con người có trình độ chuyên môn cao có

Trang 36

như: vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập kinh tế quốc tế; tác động của khủng hoảng kinh tế khu vực tới tăng trưởngcủa Việt Nam; các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, vấn đề tôn giáo, phát huybản sắc văn hóa dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Các kết quả củahoạt động NCKH còn được coi như những ý kiến phản biện khoa học, gópphần hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý, đảm bảo sự phát triển bền vững củaquốc gia.

Như vậy, hoạt động NCKH trong các trường đại học, cao đẳng có vai tròđặc biệt quan trọng, nó giúp cho các trường nâng cao chất lượng đào tạo và uytín nhà trường, để thực hiện tốt mục tiêu của giáo dục và đào tạo trong giaiđoạn hiện nay Chỉ có phát triển hoạt động NCKH các trường đại học, cao đẳngmới có thể tồn tại và phát triển được trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóađầy cạnh tranh

Kết luận chương I

Trên đây chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận của luận văn nghiên cứu,gồm khái niệm Tiêu chí đánh giá, Nghiên cứu khoa học, Đánh giá kết quả vàhiệu quả nghiên cứu khoa học và phân tích vai trò của NCKH trong việc nângcao chất lượng đào tạo của các trường Cao đẳng nghề, trên cơ sở một số quanđiểm nghiên cứu chính sau đây:

1 Tiêu chí đánh giá phải thể hiện được tính khách quan, logic, phù hợpvới định hướng các nội dung nghiên cứu khoa học của các trường cao đẳngnghề, cập nhật được những tư duy khoa học về đào tạo và cung cấp nguồn nhânlực trong các điều kiện của thị trường lao động

2 Nghiên cứu khoa học trong các trường cao đẳng nghề để giải quyếtnhững nhiệm vụ cấp thiết mà công tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ đặtra: (1)Nâng cao chất lượng của sản phẩm của quá trình đào tạo nghề - Một loạisản phẩm đặc biệt, đó là người lao động có kỹ năng tay nghề tốt, sẵn sàng thamgia vào thị trường lao động; (2) Đa dạng hoá loại hình đào tạo, theo hướng thoảmãn nhu cầu học nghề của người học, chuyển hướng đào tạo từ “ Cung” sang “Cầu”; (3) Giảm thiểu đào tạo trên các góc độ: Thời gian, kinh phí; (4) Huyđộng được mọi nguồn lực của nhà trường phục vụ sự nghiệp đào tạo nguồnnhân lực và phát triển công nghệ

Trang 37

3 Tổ chức, quản lý nghiên cứu khoa học là chìa khoá thành công chocác trường cao đẳng nghề chinh phục thị trường lao động “ ngày càng tỏ ra khótính”, giúp lao động Việt nam hoà nhập sâu rộng vào thị trường lao động Thếgiới, tham gia bình đẳng vào sân chơi Quốc tế.

Các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học là cơ sở, là “ đòn bẩy” chophát triển nghiên cứu khoa học trong các trường Cao đẳng nghề nói chung vàtrường Cao đẳng nghề Hải Dương thực hiện chức năng nghiên cứu khoa họccủa mình

Chương 2 và Chương 3 tiếp theo đây sẽ trình bày kết quả nghiên cứu vàđưa ra các tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học, nhằm thực hiện chức năngnghiên cứu khoa học tại trường Cao đẳng nghề Hải Dương và có thể áp dụngđối với các trường cao đẳng nghề khác trên toàn quốc

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI

TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HẢI DƯƠNG

I Thực trạng công tác tổ chức và quản lý nghiên cứu khoa học của nhà trường

Trong nhiều năm qua, nhà trường đã có những quan tâm nhất định đếncông tác quản lý, điều hành nghiên cứu khoa học, đồng thời động viên, khuyếnkhích cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên tham gia nghiên cứu Nhưng cóthể đánh giá từ bước đầu tư, tổ chức, đánh giá chưa tương xứng với nhiệm vụnghiên cứu mà một trường cao đẳng nghề phải đặt ra, thể hiện ở các điểm sau:

1 Thực trạng các nguồn lực đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học tại trường cao đẳng nghề Hải Dương

a) Thực trạng nguồn nhân lực cho nghiên cứu khoa học

Trường Cao đẳng nghề Hải Dương được thành lập ngày 15/2/2007, trên

cơ sở nâng cấp từ Trường Công nhân kỹ thuật Hải Dương Qua 8 năm xâydựng và phát triển, đội ngũ cán bộ giảng viên của trường tăng chưa nhiều, tínhđến tháng 8 năm 2008 toàn trường có 5 phòng, 2 trung tâm, 5 khoa chuyên môn

và 1 tổ trực thuộc, với tổng số 125 cán bộ, giảng viên trong đó có 86 giảng viêntrực tiếp giảng dạy chiếm 69%, số còn lại làm công việc hành chính tại cáckhoa ngành, phòng ban Nguồn nhân lực của trường còn nhiều hạn chế, trong

số 86 giảng viên có 10 giảng viên đang học trình độ thạc sĩ chiếm 11,6%; sốcòn lại trình độ cử nhân chiếm 88,4%, hầu hết các giảng viên đề có độ tuổi cònrất trẻ, tuổi trung bình 30, họ có những ưu điểm nổi bật là nhanh tiếp thu nhữngtri thức mới, có trình độ tin học khá tốt, nhiều giảng viên có trình độ tay nghềkhá, bước đầu khẳng định được khả năng sư phạm Nhưng do được hình thành

từ một trường chuyên đào tạo công nhân kỹ thuật, nên yếu điểm lớn nhất củađội ngũ giảng viên nhà trường là trình độ ngoại ngữ kém, chưa có kinh nghiệmtrong nghiên cứu khoa học, thậm chí còn ngại nghiên cứu Cơ cấu nhân lựctrường Cao đẳng nghề Hải Dương được thể hiện trên Bảng 1 Cho thấy số cán

bộ giảng viên có trình độ từ Thạc sỹ, có khả năng nghiên cứu khoa học còn rấtkhiêm tốn Số giảng viên ở các khoa ngành ít, làm công tác giảng dạy nhiều

Trang 39

Đặc điểm của sinh viên các trường cao đẳng nghề là chỉ tập trung vàohọc tập, rèn luyện kỹ năng để sau khi tốt nghiệp có thể dễ dàng tìm kiếm mộtviệc làm ổn định Vì vậy nghiên cứu khoa học là rất xa lạ đối với các em.

Từ thực tế trên cho thấy nguồn lực về con người phục vụ cho NCKH củatrường Cao đẳng nghề Hải Dương còn rất hạn chế

Bảng 1 Cơ cấu nhân lực trường Cao đẳng nghề Hải Dương

viện

(Nguồn: Phòng TC-HC trường Cao đẳng nghề Hải Dương)

Từ khi được nâng cấp thành trường cao đẳng nghề, nhằm tăng cườngnghiên cứu khoa học phục vụ công tác đào tạo, nhà trường đã có quyết địnhthành lập phòng nghiên cứu khoa học và kiểm định chất lượng, với nhiệm vụ tổchức, quản lý công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; là đơn vịtham mưu cho lãnh đạo trường đề ra và thực thi các chế độ chính sách kích

Trang 40

thích phát triển nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ toàn trường Làmcầu nối cho liên doanh liên kết giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất, cơ sởđào tạo khác để đưa khoa học và công nghệ (KH&CN) vào cuộc sống Nhưng

do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên cho đến nay công tác nghiên cứu khoahọc của nhà trường chưa mang lại hiệu quả như mong muốn

Đây là vấn đề mà trường Cao đẳng nghề Hải Dương cần sớm khắc phụcnếu muốn phát triển nguồn nhân lực cho nghiên cứu khoa học

b) Thực trạng nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học

Nguồn tài chính của nhà trường được hình thành từ 4 nguồn: (a) Nguồnngân sách nhà nước cấp cho chi thường xuyên; xây dựng cơ bản; (b) Nguồn thu

từ học phí của sinh viên; (c) Nguồn từ chương trình mục tiêu Quốc gia “ Tăngcường năng lực đào tạo nghề”; (d) Các nguồn thu khác Nguồn thu này chủ yếuđược chi vào các khoản: Xây dựng cơ sở vật chất, trả lương cho cán bộ, giảngviên, nhân viên; chi cho nguyên, nhiên, vật liệu đào tạo, đầu tư trang thiết bịphục vụ đào tạo , nhưng chưa có một khoản chi chính thức nào dành cho hoạtđộng nghiên cứu khoa học

Để hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển, trường cao đẳng nghề HảiDương cần có đầu tư phát triển nguồn tài lực xứng đáng cho nghiên cứu khoa học

c) Thực trạng nguồn vật lực cho nghiên cứu khoa học

Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu còn rất ít, thiếu các thiết

bị thí nghiệm, chưa có xưởng thực nghiệm tương tự như một Pilot để nghiêncứu triển khai các công nghệ mới Các cán bộ giảng viên chủ yếu là làm việctại phòng làm việc hoặc văn phòng các khoa, mà chưa có phòng làm việc riêngcho thời gian tư duy nghiên cứu, chưa có các phòng đọc chuyên môn,…Những

cơ sở vật chất hiện có của nhà trường chỉ phù hợp với công tác giảng dạy màchưa đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu

d) Thực trạng nguồn tin lực cho nghiên cứu khoa học

Thông tin là một yếu tố vô cùng quan trọng trong tất cả mọi lĩnh vực,trong hoạt động nghiên cứu khoa học thì thông tin KH&CN là một trong nhữngyếu tố không thể thiếu, hoạt động nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất nhiều vàokhả năng cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời của thông tin Hiện nay trườngCao đẳng nghề Hải Dương đã có hệ thống máy tính nối mạng khá đầy đủ đếncác khoa, phòng, nhưng việc sử dụng và khai thác chưa đem lại hiệu quả cao

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w