1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình việt nam hiện nay

155 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 335,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đẩy lùi vấn nạn này, cần có nhiều giải pháp đồng bộ và liênngành trong đó có vai trò của báo chí Việt Nam.Trước bối cảnh bức thiết của xã hội, xâm hại trẻ em trở thành đề tài nóng trê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-HẠ THỊ THANH TÂM

VẤN ĐỀ XÂM HẠI TRẺ EM TRÊN

TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-HẠ THỊ THANH TÂM

VẤN ĐỀ XÂM HẠI TRẺ EM TRÊN

TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Chí Trung

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cánhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Chí Trung

Các số liệu, những đánh giá, phân tích, nhận xét, nghiên cứu được trình bàytrong luận văn này là hoàn toàn trung thực và khách quan, chưa từng được công bốdưới bất cứ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Hạ Thị Thanh Tâm

Trang 4

Tiếp đến, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong Viện Đào tạoBáo chí và Truyền thông – Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia HàNội) Các thầy cô đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọiđiều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bà Nguyễn Thị Nga, Cục PhóCục trẻ em, Bộ lao động -Thương binh và Xã hội và PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh,nhà báo, nhà giáo, chuyên gia về báo chí cho trẻ em Tôi xin trân trọng cảm ơn banlãnh đạo, nhà báo, phóng viên, quay phim thuộc Trung tâm tin tức VTV24, ĐàiTruyền hình Việt Nam; chuyên mục Chào buổi tối - Kênh VTC 14, Đài Truyền hình

Kỹ thuật số VTC, một thành viên của Đài Tiếng nói Việt Nam; Trung tâm Tư vấn vàDịch vụ truyền thông, Cục trẻ em, Bộ lao động-Thương binh và Xã hội Nhữngthông tin, ý kiến, quan điểm của quý vị là tư liệu quý giúp tôi hoàn thiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các anh/chị, các bạn đồng nghiệp vàgia đình đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoànthành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Hạ Thị Thanh Tâm

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ XÂM HẠI TRẺ EM TRÊN TRUYỀN HÌNH 13

1.1 Vấn đề xâm hại trẻ em trong xã hội hiện đại 13

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình 13

1.1.2 Vấn đề xâm hại trẻ em ở Việt Nam hiện nay 17

1.1.3 Cơ sở pháp lý trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em 21

1.1.4 Vai trò của báo chí trong việc bảo vệ trẻ em, quyền trẻ em 23

1.2 Truyền hình với vấn đề xâm hại trẻ em 26

1.2.1 Thế mạnh của truyền hình trong hoạt động thông tin, tuyên truyền phòng, chống xâm hại trẻ em. 26

1.2.2 Vấn đề xâm hại trẻ em nhìn từ các chức năng của truyền hình 28

1.2.3 Hình thức thông tin vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình 31

1.3 Vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình nhìn từ lý thuyết trách nhiệm xã hội và thiết lập các chương trình nghị sự 32

1.4 Tiêu chí đánh giá tác phẩm truyền hình phản ánh về vấn đề xâm hại trẻ em. 34

1.4.1 Tiêu chí đánh giá nội dung tác phẩm 34

1.4.2 Tiêu chí đánh giá hình thức tác phẩm 35

Tiểu kết chương 1 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ XÂM HẠI TRẺ EM TRÊN TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY 40

2.1 Khái quát về các chương trình truyền hình trong diện khảo sát 40

2.1.1 Giới thiệu một số chương trình khảo sát 40

2.1.2 Số lượng, thời lượng và tần suất phát sóng nội dung về xâm hại trẻ em trên các chương trình khảo sát 42

2.2 Nội dung các chương trình về xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam

Trang 6

2.2.1 Đăng tải các thông tin thời sự về vấn đề xâm hại trẻ em 45

2.2.2 Nội dung thứ hai: Chức năng giáo dục của truyền hình về phòng, chống xâm hại trẻ em 48

2.2.3 Thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội của truyền hình Việt Nam về vấn đề xâm hại trẻ em 50

2.2.4 Tạo lập và phản ánh dư luận xã hội về vấn đề xâm hại trẻ em 52

2.3 Hình thức thể hiện tác phẩm 53

2.3.1 Hình ảnh, âm thanh 53

2.3.2 Tiêu đề (title) của các tác phẩm về vấn đề xâm hại trẻ em 57

2.3.3 Người dẫn chương trình 57

2.3.4 Khung giờ phát sóng 58

2.4 Đánh giá thành công và hạn chế 59

2.4.1 Về thành công 59

2.4.2 Về những hạn chế 63

Tiểu kết chương 2 72

CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ, CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH VỀ VẤN ĐỀ XÂM HẠI TRẺ EM HIỆN NAY. 74

3.1 Những vấn đề đặt ra trong hoạt động thông tin tuyên truyền chống xâm hại trẻ em trên truyền hình 74

3.2 Một số kiến nghị trong công tác thông tin, tuyên truyền phòng, chống xâm hại trẻ em trên truyền hình 76

3.2.1 Đề xuất đối với cơ quan báo chí 76

3.2.2 Đề xuất đối với đội ngũ phóng viên, biên tập viên và ekip sản xuất chương trình 79

3.3 Giải pháp, khuyến nghị trực tiếp dành cho chương trình truyền hình có nội dung về xâm hại trẻ em 87

3.3.1 Điều chỉnh phù hợp số lượng, thời lượng và tần suất phát sóng các chương trình có nội dung về phòng, chống xâm hại trẻ em 87

Trang 7

3.3.2 Đổi mới sáng tạo nội dung tác phẩm 88

3.3.3 Đổi mới sáng tạo hình thức tác phẩm truyền hình. 97

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC

Trang 8

Người dẫn chương trình (Master of Ceremonies)Nhà xuất bản

Phó giáo sư, tiến sỹPhóng viên

Thạc sỹTrung học cơ sởTrung học phổ thôngTrung học phổ thông Dân tộcThành phố Hồ Chí MinhTiến sỹ

Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (United NationsInternational Children's Emergency Fund)Viện kiểm sát Nhân dân

Đài Truyền hình Kỹ thuật số Việt Nam

Trang 9

CÁC BẢNG, BIỂU SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

1 Biểu đồ 1.1: Số lượng trung bình trẻ em Việt Nam bị xâm hại từ

năm 2006 – 2018Bảng, biểu 2.1: Thống kê số lượng tác phẩm có nội dung về xâm

2 hại trẻ em trên 3 chương trình truyền hình (từ tháng 1/2018 đến

tháng 5/2019)

3 Bảng, biểu 2.2: Thống kê thời lượng phát sóng về xâm hại trẻ em

trên 3 chuyên mục khảo sát (từ tháng 1/2018 – 5/2019)Bảng 2.3: Thống kê các sự việc xâm hại trẻ em điển hình trên 34

chương trình truyền hình (từ tháng 1/2018 đến tháng 5/2019)

5 Bảng 2.4: Tổng hợp một số nội dung phổ biến kiến thức trên 3

chương trình truyền hình (từ tháng 1/2018 đến tháng 5/2019)Bảng, biểu 3.1: Tỉ lệ và số lượng số vụ việc xâm hại trẻ em trong

6 thực tế và trên truyền hình Việt Nam ở 3 kênh khảo sát từ tháng

1/2018 – 5/2019

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xâm hại trẻ em là vấn nạn của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có ViệtNam Theo thống kê của quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF), trên thế giới, trungbình cứ 7 phút thì có một trẻ em tử vong do nạn bạo hành Tại Việt Nam, sau 8 giờ trôiqua thì lại có thêm một nạn nhân bị xâm hại tình dục trong độ tuổi trẻ em [42]

Xâm hại trẻ em là câu chuyện không mới ở nước ta tuy nhiên trong những nămgần đây, xâm hại trẻ em đã trở thành vấn đề báo động của toàn xã hội Số vụ việc xâmhại trẻ em tăng nhanh, tính chất vụ việc nguy hiểm dẫn đến nhiều trẻ em chịu tổnthương nghiêm trọng hoặc tử vong Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH)cho biết, trung bình mỗi năm Việt Nam có gần 2000 trẻ em bị xâm hại Từ năm 2006đến nay, Việt Nam có 24 nghìn trẻ em bị xâm hại trong đó hơn 60% là trẻ em bị xâmhại tình dục [61a] [52] [53] [44] [67] Phó Thủ tướng Vũ ĐứcĐam khẳng định: “Con

số 2.000 trường hợp/năm trẻ em bị xâm hại,con số 1.300 đến 1.500 trẻ em/năm bị xâm hại tình dục chỉ là phần nổi rất nhỏ của tảng băng chìm”

[60] vì các sự việc xâm hại trẻ em chỉ được phát hiện khi có dấu hiệu vi phạm hình

sự hoặc gia đình nạn nhân tố cáo

Không những tăng nhanh về số lượng mà các sự việc xâm hại trẻ em những năm gần đây có tính nguy hiểm, nghiêm trọng về hành vi xâm hại Đó là các hànhvi:chôn sống con mới đẻ do mâu thuẫn gia đình, ném con mới đẻ từ tòa nhà chung

cư, cô giáo tát học sinh 231 cái, thầy hiệu trưởng dâm ô nhiều học sinh nam ở PhúThọ Không dừng lại ở đó, nhiều giá trị đạo đức gia đình, đạo đức xã hội bị phá vỡbởi 60% đối tượng xâm hại tình dục là người thân, người quen như: ông nội, bố đẻ,

bố dượng, chú rể, hàng xóm, thầy giáo Không gian an toàn của trẻ em bị thu hẹpbởi trẻ có nguy cơ bị xâm hại ở bất cứ nơi đâu, đối tượng xâm hại trẻ em trải dài ởnhiều độ tuổi, nhiều nghề nghiệp khác nhau, rất khó để phân biệt và phòng tránh.Xâm hại trẻ em là điểm nóng thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội thời gian qua.Những mô tả trên cho thấy sự nguy hiểm, cấp bách của xã hội Việt Nam về vấn đề

Trang 11

xâm hại trẻ em Để đẩy lùi vấn nạn này, cần có nhiều giải pháp đồng bộ và liênngành trong đó có vai trò của báo chí Việt Nam.

Trước bối cảnh bức thiết của xã hội, xâm hại trẻ em trở thành đề tài nóng trênnhiều trang báo, kênh phát thanh, truyền hình với mục đích nâng cao nhận thức từ đóthúc đẩy hành vi phòng, chống xâm hại trẻ em trên thực tế Nhờ có báo chí, những nămqua, nhiều vụ việc xâm hại bị phát hiện, nhiều đối tượng tình nghi bị bắt giữ, nhiều giađình chia sẻ câu chuyện của mình Đó là bước tiến lớn của ngành truyền thông quốcgia trong vấn đề tuyên truyền phòng, chống xâm hại trẻ em Song, thành công ấy cóphần khiêm tốn khi đối chiếu với thực trạng xã hội hiện tại Hàng ngày, hàng giờ, sốlượng trẻ em bị xâm hại vẫn tăng lên, đối tượng xâm hại ngày càng có hành vi nguyhiểm và thủ ác, nhiều sự việc có chứng cứ nhưng đối tượng tình nghi vẫn thách thức dưluận, không bị pháp luật xử lý Con số gần 2000 nghìn trẻ em bị xâm hại mỗi năm vẫnchưa có dấu hiệu giảm trong nhiều năm gần đây [48] Trách nhiệm của hệ quả xã hộinày thuộc về nhiều người, nhiều ngành trong đó có báo chí, cụ thể hơn là truyền hìnhViệt Nam Vậy, với vai trò định hướng tư tưởng để thúc đẩy hành vi thực tế, báo chíViệt Nam thời gian qua đã tác động nhận thức người dân như thế nào về vấn đề xâmhại trẻ em, nhận thức đó đã đáp ứng nhu cầu thực tế chưa? Báo chí trong đó có truyềnhình cần phải thay đổi như thế nào để đi đúng và trúng với mục tiêu thực tế? Tác giảnghiên cứu luận văn với mục đích tìm hiểu và trả lời những câu hỏi trên từ một sốchương trình truyền hình

Mỗi loại hình báo chí đều có điểm mạnh riêng khi khai thác về đề tài xâm hạitrẻ em Tuy nhiên, với thế mạnh chuyển tải thông điệp đồng thời bằng hình ảnh và

âm thanh, truyền hình có lợi thế hơn các phương tiện truyền thông khác khi thể hiệnvấn đề này Đó là lợi thế về tính sinh động, khách quan và chuyển tải được nhiềuthông điệp mang giá trị thông tin, giá trị cảm xúc đến với công chúng Có thể nói,truyền hình là loại hình báo chí phát huy được nhiều hiệu quả khi khai thác đề tàixâm hại trẻ em Từ nhận định này, tác giả lựa chọn truyền hình làm đối tượng đểnghiên cứu về vấn đề xâm hại trẻ em

Trang 12

Bên cạnh lợi thế thông tin, cũng như các phương tiện truyền thông khác,truyền hình đang đối mặt với ý kiến cho rằng: Vấn đề xâm hại trẻ em có bị truyềnhình Việt Nam lạm dụng thành đề tài “giật gân”, “câu khách”? Đây là ý kiến cầnđược ghi nhận tuy nhiên trước tình hình nguy cấp như hiện nay thì việc phản ánhvấn đề xâm hại trẻ em hoàn toàn cần thiết Truyền hình Việt Nam phản ánh vấn đềtrẻ em chính là thực hiện chức năng thông tin, phản ánh và giám sát xã hội Trongbối cảnh cạnh tranh truyền thông, truyền hình càng bám sát vấn đề nóng của xã hộithì truyền hình càng khẳng định được vị trí của mình, vị trí của một cơ quan báo chíchính thống trong lòng khán giả Đây cũng là cơ hội để truyền hình Việt Nam thểhiện trách nhiệm xã hội của mình, trách nhiệm chung tay cùng cộng đồng đẩy lùicác vấn nạn xã hội, vì sự tiến bộ của nhân loại.

Những yếu tố trên là động lực, tiền đề để tác giả quyết định thực hiện luận

văn “Vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam hiện nay” Luận văn được

nghiên cứu trong bối cảnh xâm hại trẻ em trở thành vấn đề nguy hiểm của quốc gia,tác động tiêu cực đến lợi ích, hạnh phúc trực tiếp của hàng triệu gia đình Việt Nam

và gián tiếp để lại nhiều hệ quả xã hội Báo chí Việt Nam có trách nhiệm tác độngnhận thức, tạo lập tư tưởng đúng và đủ về vấn đề xâm hại trẻ em để thúc đẩy hành

vi đúng đắn của cộng đồng Truyền hình Việt Nam có nhiều lợi thế để thực hiệnchức năng này so với các loại hình truyền thông khác Đó là lý do tác giả nhận định

“Vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam hiện nay” là đề tài xứng đáng

được nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của xã hội nên trong nhiều năm qua nhữngvấn đề liên quan đến trẻ em trong đó có xâm hại trẻ em đã thu hút được sự chú ýcủa nhiều người, nhiều ngành, nhiều giới bằng các công trình nghiên cứu, các tácphẩm báo chí, các đầu sách và các bài bình luận cá nhân được thể hiện dưới nhiềugóc độ khác nhau Nguồn tài liệu phong phú này là cơ hội để tác giả có thể tiếp cậnvấn đề sâu hơn, đa chiều hơn từ đó kế thừa và phát triển nghiên cứu vấn đề trong

luận văn “Vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam hiện nay”.

Trang 13

Đầu tiên là tác giả tiếp cận nhóm tài liệu giáo trình báo chí, truyền hình nhằmxây dựng cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu Một số tác phẩm đại diện như:

“Ngôn ngữ báo chí” của tác giả Vũ Quang Hào, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004; “Giáo trình Báo chí truyền hình”, tác giả Dương Xuân Sơn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009; “Sản xuất chương trình truyền hình”, tác giả Trần Bảo Khánh, Nxb Văn hóa Thông tin năm 2009, “Chính luận truyền hình, lý thuyết và kỹ năng sáng tạo tác phẩm”, tác giả Nguyễn Ngọc Oanh, Nxb Thông tấn năm 2015

Trong quá trình khảo sát, tác giả nhận thấy, tài liệu về vấn đề xâm hại trẻ emđược các chuyên gia nghiên cứu ở hai góc độ: Tài liệu cung cấp kỹ năng cho phóngviên tác nghiệp với trẻ em và tài liệu nghiên cứu nội dung các chương trình có liênquan đến xâm hại trẻ em

Nhóm tài liệu cung cấp kỹ năng tác nghiệp báo chí với trẻ em

Để có cái nhìn toàn diện về kỹ năng làm báo cho trẻ em, phải kể đến một số

công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả trong và ngoài nước như: “Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em” của tác giả Helena Thorfinn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2003 [40]; “Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em”, (2001) và “Báo chí với trẻ em” (2004), Nxb Lao Động ấn hành do tác giả Nguyễn Văn Dững chủ biên [4] [5]; tác giả Nguyễn Ngọc Oanh với cuốn sách“Nhà báo với trẻ em - Kiến thức và Kỹ năng” Nxb Thông Tấn ấn hành năm 2014 [20]…

Nhóm tác phẩm này đi sâu nghiên cứu ứng dụng các quy tắc đạo đức báo chí trong

hoạt động sáng tạo báo chí có liên quan đến trẻ em Helena Thorfinn đã đặt ra vấn

đề xây dựng và hoàn chỉnh các quy tắc ứng xử của phóng viên báo chí với trẻ em trước các phương tiện truyền nhằm mục đích giảm tác hại, tăng lợi ích của các phương tiện truyền thông đối với trẻ Tác giả Nguyễn Ngọc Oanh cho rằng kỹ năng

làm báo cho trẻ em có sự khác biệt cơ bản với kỹ năng làm báo cho các đối tượng

khác Đó là: “Khả năng và cách thức nhà báo xác định đề tài, chủ đề và có cách khác biệt khi tiếp cận trẻ em để khai thác thông tin Quá trình giao tiếp, phỏng vấn

và thu thập thông tin từ trẻ em đòi hỏi phải có sự hiểu biết về tâm lý lứa tuổi, biết dành thời gian và có phương pháp khai thác thông tin phù hợp [20, tr 64] Nhấn

Trang 14

mạnh về nhóm đề tài trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên báo chí, tác giả Nguyễn VănDững cho rằng: Việc phân chia tỉ lệ tin tốt, tin xấu trong các tác phẩm báo chí phụ

thuộc vào dư luận xã hội “Kết quả tác động của dư luận sẽ là những tiêu chí để nhà báo và các cơ quan báo chí viết về trẻ em và cho trẻ em quyết định chính xác rằng nên hay không nên, đưa cái tốt và cái xấu với tỉ lệ nào trên báo chí nhằm bảo

vệ và tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền trẻ em” [4, tr 112].

Nhóm tài liệu về kỹ năng báo chí cho trẻ em cung cấp toàn diện những yếu tốcần thiết từ kỹ năng, đạo đức đến giải pháp nội dung nâng cao chất lượng và hiệuquả các tác phẩm báo chí về trẻ em Có thể nói đây là những cuốn từ điển bổ ích đểcác nhà báo tác nghiệp về trẻ em tham khảo và thực hiện Tài liệu này là cơ sở đểtác giả xây dựng bảng tiêu chí đánh giá nội dung và hình thức chương trình đảm bảocác nguyên tắc về quyền trẻ em, đạo đức nhà báo khi thông tin về vấn đề xâm hạitrẻ em

Nhóm tài liệu nghiên cứu nội dung về vấn đề xâm hại trẻ em trên báo chí

Trong những năm gần đây, vấn đề xâm hại trẻ em trên báo chí được quantâm nhiều trong các công trình nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹvới cách tiếp cận đa dạng và phong phú Mỗi góc nhìn là một miếng ghép tạo ra bứctranh tổng thể về vấn đề xâm hại trẻ em

Trước hết, vấn đề xâm hại trẻ em trên báo chí được tiếp cận từ góc nhìn tổng

quan về quyền lợi của trẻ em theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1989) thông qua luận văn: “Bảo vệ quyền trẻ em trên báo mạng điện tử hiện nay” của tác giả Vũ

Thanh Loan, luận văn thạc sỹ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền năm

2015 Tác giả đã nghiên cứu 324 bài báo điện tử tiếp cận vấn đề từ góc độ bảo vệcác quyền của trẻ em theo Công ước Quốc tế về quyền trẻ em: quyền được sốngcòn, quyền được bảo vệ, quyền được tham gia, quyền được phát triển Nghiên cứunày được coi như hành lang pháp lý để đảm bảo quyền lợi của trẻ em theo tinh thầnchung của công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam [14]

Từ góc nhìn pháp lý, nội dung về vấn đề xâm hại trẻ em trên báo chí được

nhiều tác giả đề cập trực tiếp vào các hành vi xâm hại trẻ em Cụ thể như: Luận văn

Trang 15

“Báo chí với vấn đề phòng chống bạo lực trẻ em hiện nay”, tác giả Vũ Thị Thúy

Huyền, luận văn thạc sỹ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền năm 2012 [12];

“Tuyên truyền phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em trên báo in của lực lượng công an nhân dân”của tác giả Đỗ Trần Quân, luận văn thạc sỹ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền năm 2014 [22]; “ Đấu tranh phòng chống bạo lực gia đình trên các ấn phẩm của báo phụ nữ” tác giả Nguyễn Ngọc Hạnh, Luận văn thạc

sỹ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền năm 2015 [7]; “Báo in cơ quan lao động, thương binh và xã hội với vấn đề phòng, chống bạo lực trẻ em (Khảo sát báo Lao động, tạp chí Lao động và Xã hội, tạp chí Gia đình và Trẻ em, từ năm 2013- 2015)” của tác giả Lương Minh Hiền, Luận văn thạc sỹ báo chí, Học viện Báo chí

và Tuyên Truyền năm 2016 [9]; “Thông điệp phòng chống xâm hại tình dục trẻ em trên sóng FM 103.7 MHZ – Đài Phát thanh Quốc gia Lào” của tác giả

Monphaphone Khongphasith, Luận văn thạc sỹ báo chí, Học viện Báo chí và TuyênTruyền năm 2019… [15]

Đặc biệt có hai tác phẩm truyền hình về vấn đề xâm hại trẻ em là : “Vấn đề buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới phía bắc trên sóng truyền hình” (Khảo sát

trên Kênh VTV1, ANTV và Đài PT-TH Lạng Sơn từ tháng 5/2014 đến tháng5/2015), tác giả Đào Thị Hiền, luận văn thạc sỹ báo chí, trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn năm 2015 Luận văn nghiên cứu thực trạng của truyền hình vềvấn đề phổ biến pháp luật, làm rõ các thủ đoạn của đối tượng cũng như lời khuyên

để bà con nêu cao tinh thần cảnh giác trước tội phạm buôn bán người qua biên giới

[10]… Mới đây nhất là tác phẩm “Vấn đề phòng chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em trên truyền hình Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Việt Nam, Luận văn

thạc sỹ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền năm 2019 [18] Luận văn nghiêncứu vấn đề phòng, chống xâm hại trẻ em từ góc độ truyền hình phản ánh các hành vixâm hại trẻ em…

Những liệt kê trên cho thấy, xâm hại trẻ em trên báo chí là vấn đề được nhiềutác giả quan tâm và nghiên cứu trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Sự đadạng, phong phú của tài liệu tham khảo là vô cùng cần thiết và quý báu để tác giả có

Trang 16

thể hoàn thành luận văn của mình Đây là điều kiện thuận lợi đồng thời cũng là áplực để tác giả phải tìm hướng đi mới cho luận văn của mình.

Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả nhận thấy: Vấn đề xâm hại trẻ emtrên truyền hình Việt Nam nhìn từ góc độ trách nhiệm và chức năng còn là mảngtrống trong các công trình nghiên cứu Vì vậy, tác giả sẽ chọn mảng trống này làmhướng đi mới của luận văn Tại luận văn, tác giả sẽ đi sâu phân tích 4 chức năngchính của truyền hình trong công tác truyền thông về phòng, chống xâm hại trẻ emgiai đoạn từ tháng 1/2018 – 5/2019 Từ đó tìm ra các ưu, nhược điểm trên cơ sở sosánh với điều kiện thực tế Những đánh giá này sẽ là nền tảng để tác giả đề xuấtkiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của truyền hình trong công tác đẩy lùinạn xâm hại trẻ em

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn xác định mục tiêu là nghiên cứu thực trạng nội dung thông tin, tuyêntruyền về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam hiện nay Từ đó, chỉ ranhững thành công và hạn chế, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng caochất lượng chương trình để chương trình đạt hiệu quả truyền thông tốt nhất

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Hệ thống hóa một số khái niệm có liên quan đến đề tài “Vấn đề xâm hại trẻ

em trên truyền hình Việt Nam hiện nay” Vị trí, vai trò của truyền hình, trách nhiệm

xã hội của báo chí trong công tác tuyên truyền chống xâm hại trẻ em hiện nay

Khảo sát nội dung thông tin về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình ViệtNam hiện nay Phân tích kết quả, đưa ra nhận xét về thành công, hạn chế của cácchương trình khi phát sóng tin, bài về vấn đề này

Từ kết quả khảo sát, tác giả đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả truyền thông của chương trình liên quan đến các vấn đề xâm hại trẻ

em trên truyền hình

Trang 17

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu:

Với tên đề tài “Vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam hiện nay”, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là: Vấn đề xâm hại trẻ em

ở 3 chương trình truyền hình trên

Có một số lý do để tác giả lựa chọn 3 chương trình trên làm phạm vi nghiêncứu cho luận văn Cụ thể như sau:

- Đầu tiên, đây là 3 chương trình truyền hình có lượng khán giả đông đảo hiện nay so với các chương trình truyền hình khác

- Thứ hai, 3 đơn vị truyền hình này có nhiều tác phẩm về vấn đề xâm hại trẻ

em hơn các chương trình khác Điều kiện thuận lợi này cung cấp cho luận văn lượngtài liệu dồi dào để nghiên cứu nội dung

- Thứ ba, tác giả lựa chọn 3 chương trình khác biệt nhau về tiêu chí như:

bản tin gia đình của kênh truyền hình chuyên biệt (Chào buổi tối – VTC 14), bản tindân sinh của kênh thời sự tổng hợp (Chuyển động 24h – VTV1) và chương trìnhchuyên biệt về trẻ em (Truyền hình Vì Trẻ em – VTV1) Sự khác nhau này đượcluận văn phân tích, so sánh để thấy được sự đóng góp tổng thể của truyền hình ViệtNam cũng như các dấu ấn riêng của từng chương trình trong công tác truyền thông

Trang 18

về vấn đề xâm hại trẻ em Đó sẽ là cơ sở để luận văn nghiên cứu tìm ra các giảipháp phù hợp nhằm phát huy thế mạnh và hạn chế điểm yếu của từng chương trìnhtrong mối liên hệ chung nhằm đạt kết quả cao trong công tác truyền thông về phòng,chống xâm hại trẻ em.

5 Phương pháp nghiên cứu

Thiết lập các chương trình nghị sự là học thuyết hay và hiệu quả, thể hiện rõnhất thông điệp của các nhà truyền thông khi áp dụng trong các chương trình vềtuyên truyền phòng, chống xâm hại trẻ em Bởi vậy, tác giả sử dụng học thuyết nàytrong luận văn để thấy rõ mức độ, cường độ thông tin về vấn đề xâm hại trẻ em của

Trang 19

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trước hết, để có định hướng về phương pháp nghiên cứu sẽ áp dụng trong

luận văn, tác giả đã tham khảo tài liệu từ bài giảng môn học “Các Phương pháp thiết kế và triển khai nghiên cứu truyền thông” do PGS.TS Mai Quỳnh Nam giảng dạy [17] Ngoài ra tài liệu “Phương pháp nghiên cứu xã hội học” của nhóm tác giả

Phạm Văn Quyết - Nguyễn Quý Thanh cũng giúp ích cho tác giả trong việc chọnlựa phương pháp này [32] Sau khi tham khảo tài liệu, tác giả đã chọn được một số

phương pháp nghiên cứu phù hợp với đề tài “Vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam hiện nay” Các phương pháp bao gồm:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả dùng để tra cứu, tổng hợp, phân

tích những tài liệu liên quan đến đề tài nhằm tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề,tránh trùng lặp với các công trình đã nghiên cứu trước đó Đồng thời phân tích làm

rõ đặc điểm của các chương trình, sau đó rút ra dữ liệu để đối chiếu, so sánh

Phương pháp phân tích nội dung: Tác giả sử dụng thao tác mô tả, phân tích,

so sánh, đánh giá nội dung và hình thức các tác phẩm đã phát sóng trên “Chào buổitối”, Chuyển động 24h” và Truyền hình Vì trẻ em” về vấn đề xâm hại trẻ em Từ đóđưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông

Để phương pháp phân tích nội dung đạt hiệu quả, tác giả đã xây dựng bảng

mã phân tích nội dung các chương trình có nội dung liên quan về vấn đề xâm hại trẻ

em phát sóng trên 3 nguồn khảo sát Cụ thể là tác giả đã liệt kê tên tác phẩm, thờilượng, thể loại trong phần mềm excel (tạm gọi là bảng code book), sau đó tác giảtiến hành mã hóa các tác phẩm này theo đặc điểm của 4 loại hình xâm hại trẻ em vàmột số đặc điểm nhỏ hơn Kết quả là tác giả thu được 1540 tác phẩm về vấn đề xâmhại trẻ em cùng với nhiều đặc điểm mã hóa Kết quả này là cơ sở vững chắc, hỗ trợtác giả lập luận, chứng minh khi thực hiện luận văn

Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Tác giả sử dụng một số

trường hợp xâm hại trẻ em điển hình nhằm chứng minh, diễn giải cho một số lập luậnhoặc nhận định trong quá trình phân tích luận văn Chẳng hạn: Trường hợp ông ĐinhBằng My, nguyên hiệu trưởng trường THPTDT nội trú THCS Thanh Sơn, Phú Thọ

Trang 20

dâm ô nhiều nam sinh trong nhiều năm được tác giả dùng để phân tích kỹ năng tácnghiệp truyền hình Hay trường hợp ông Nguyễn Hữu Linh, nguyên Viện phó VKSNDthành phố Đà Nẵng dâm ô bé gái 4 tuổi trong thang máy được dùng để diễn giải choquá trình tạo lập và phản ánh dư luận trên truyền hình Việt Nam hiện nay

Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu được tác giả tiến hành với một số nhóm khách

mời sau:

- Nhóm chuyên gia: Tác giả phỏng vấn sâu các chuyên gia ở lĩnh vực bảo vệ

chăm sóc trẻ em, chuyên gia về lĩnh vực báo chí viết về các vấn đề xã hội, viết về trẻ

em nhằm đánh giá hiệu quả của truyền hình Việt Nam về vấn đề xâm hại trẻ em so với tình hình thực tế Gợi ý giải pháp để truyền hình làm tốt hơn trong thời gian tới

- Nhóm lãnh đạo các cơ quan báo chí truyền hình: Nội dung phỏng

vấn đề

cập đến những đóng góp và đường hướng phát triển của các đơn vị về công tácphòng, chống xâm hại trẻ em Đồng thời tác giả khai thác những câu hỏi liên quanđến nội dung tác phẩm nhằm bổ trợ cho quá trình phân tích, nhận định chương trìnhđược chính xác hơn

- Nhóm các nhà báo, phóng viên, biên tập: Câu hỏi dành cho nhóm

khách

mời này đề cập đến kỹ năng tác nghiệp của đội ngũ sản xuất chương trình về vấn đềxâm hại trẻ em Từ khâu tìm đề tài, tiếp cận nhân vật đến việc ghi hình, tái hiện bốicảnh, sử dụng thủ pháp nghệ thuật trong quá trình tác nghiệp truyền hình…

Tác giả đánh giá những phương pháp này cần thiết và phù hợp với luận văn.Đây là những phương pháp mang lại nhiều giá trị cho luận văn về tính khách quan,sinh động cũng như giúp tác giả có những nhận định chuẩn xác hơn về nội dungnghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài góp phần hệ thống hóa, làm rõ hơn một số vấn đề lý luận liên quanđến trẻ em, quyền của trẻ em, bảo vệ trẻ em trước nguy cơ bị xâm hại nhìn từ góc

Trang 21

11

Trang 22

Bên cạnh đó, đề tài cũng góp phần làm sáng tỏ thêm vai trò của việc thôngtin về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp củanhà báo khi đưa tin về trẻ em bị xâm hại.

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là kết quả thu được từ quá trình khảo sát cácchương trình truyền hình về vấn đề xâm hại trẻ em Đó là những đánh giá về thànhcông, hạn chế và các kiến nghị về giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quảtuyên truyền của các chương trình truyền hình tại “Chào buổi tối”, “Chuyển động24h” và “Truyền hình Vì trẻ em”

Tác giả mong rằng, luận văn sẽ hữu dụng đối với sinh viên chuyên ngành truyền hình nói riêng, sinh viên báo chí nói chung và cho những ai quan tâm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình.

Chương 2: Thực trạng về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam Chương 3: Những kiến nghị, khuyến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng chương trình về vấn đề xâm hại trẻ em hiện nay.

Trang 23

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ XÂM HẠI TRẺ EM TRÊN TRUYỀN HÌNH

1.1 Vấn đề xâm hại trẻ em trong xã hội hiện đại

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình

Với mục đích tạo cơ sở vững chắc cho việc nhận diện vấn đề nghiên cứu,luận văn trình bày, tổng hợp một số khái niệm có liên quan đến đề tài Cụ thể là cáckhái niệm dưới đây:

2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [31, tr 1].

Qua quá trình nghiên cứu, tham khảo các tài liệu về trẻ em, tác giả mạo muộitổng hợp lại khái niệm về trẻ em theo quan điểm cá nhân để sử dụng trong phạm vi

luận văn này Đó là: “Trẻ em là những người từ 0 đến 16 tuổi Đây là độ tuổi chưa trưởng thành về tâm sinh lý, dễ bị tổn thương Trẻ em cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”.

Như vậy, nếu căn cứ vào độ tuổi thì trong quá trình khảo sát, phân tích luậnvăn, tác giả sẽ sử dụng một số từ ngữ đồng nghĩa với từ “trẻ em” như: Trẻ sơ sinh,con mới đẻ, em bé, bé trai, bé gái, nam sinh, nữ sinh, cháu bé,

- Xâm hại trẻ em

Vấn đề xâm hại trẻ em không còn mới đối với các nước trên thế giới đặc biệt

là những nước đang phát triển Thuật ngữ “Xâm hại trẻ em” cũng chỉ mang tính

tương đối bởi cùng chỉ sự việc trẻ em bị xâm hại nhưng lại có nhiều thuật ngữ khácnhau

Trang 24

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong Báo cáo về Bạo lực và Sức khoẻ Thế giới

năm 2002 định nghĩa “Xâm hại trẻ em” là: “Tất cả các hình thức ngược đãi về tình cảm, thân thể, tình dục, sao nhãng hoặc đối xử lơ đãng, hay bóc lột vì mục đích thương mại hoặc các bóc lột khác dẫn đến nguy hại hoặc nguy cơ về sức khoẻ, sự sống còn, phát triển hoặc nhân cách của trẻ trong bối cảnh của mối quan hệ hoặc trách nhiệm, sự tin cậy hoặc quyền lực" [46, tr 59].

Luật Trẻ em của Việt Nam năm 2016 giải thích: “Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác” [31, tr 2].

Như vậy, tất cả các định nghĩa trên đều chỉ ra rằng “xâm hại trẻ em” là tất cả những hành vi dẫn đến nguy cơ hoặc hành vi thực sự gây hại cho trẻ em về sức khỏe, tính mạng, môi trường phát triển hoặc nhân cách của trẻ Những người xâm

hại trẻ em có thể là người thân, người quen đủ để các em tin tưởng, tin cậy hoặcnhững người có quyền lực khiến trẻ em sợ hãi Tác giả sẽ sử dụng cách hiểu này đểnhận diện hành vi xâm hại trong các chương trình khảo sát và sử dụng một số thuậtngữ có cùng tính chất để sử dụng trong luận văn như: bạo hành, bạo lực, lạm dụng,ngược đãi

- Phân loại các hành vi xâm hại trẻ em

Phân loại hình thức xâm hại trẻ em là thao tác liệt kê các hành vi xâm hại vàxếp vào các nhóm có đặc điểm tương đồng về hành vi hoặc vị trí tổn thương của trẻ.Mục đích của phân loại hình thức xâm hại phục vụ cho quá trình khảo sát đượcthuận lợi và trình bày kết quả trong luận văn được gọn và rõ ràng hơn

Thông thường, các loại hình xâm hại trẻ em thường gắn liền với hành vi xâm

hại Theo quy định của Luật Trẻ em, 2016 thì các hành vi xâm hại gồm: “ bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác” [31, tr 2] Cách chia này rất cụ thể, chi tiết và rõ ràng theo từng hành vi

tuy nhiên, nếu sử dụng tất cả các hành vi này vào luận văn thì rườm rà

Trang 25

Cũng biểu đạt tổn thương của trẻ em qua các hành vi xâm hại, WHO phânloại xâm hại trẻ em thành 4 loại: Xâm hại thể chất, xâm hại tinh thần, xâm hại tìnhdục và bỏ bê xao nhãng [46, tr 60] Tác giả nhận thấy cách phân chia này hợp lýbởi vì cách phân loại này đảm bảo tính khoa học, bao quát hành vi xâm hại và thuậnlợi trong quá trình khảo sát, trình bày luận văn Vì vậy, tác giả lựa chọn cách phânchia xâm hại trẻ em theo 4 loại hình xâm hại ở luận văn này.

Xét về hành vi, vấn đề xâm hại trẻ em ở luận văn này chia thành 4 loại hìnhxâm hại: Xâm hại thể chất, xâm hại tinh thần, xâm hại tình dục và bỏ bê, xaonhãng.Cách chia này chỉ mang tính chất tương đối vì một trẻ em có thể chịu đa xâmhại song luận văn vẫn cần thiết phải chia để thuận lợi cho việc so sánh Trẻ em bị đaxâm hại sẽ được tính theo loại hình xâm hại để lại tổn thương nặng nề nhất

Xâm hại thể chất (Physical abuse): được định nghĩa là những hành vi có khả năng gây thương tổn hoặc thực sự gây tổn thương thể chất cho trẻ em Điều này bao gồm: đánh, đập, đá, lắc, cắn, bóp cổ, bỏng, đốt, ngộ độc và nghẹt thở…

Xâm hại tinh thần (emotional abuse) là người chăm sóc không cung cấp cho trẻ môi trường sống lành mạnh, phù hợp Xâm hại tinh thần còn bao gồm các hành

vi gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tình cảm và sự phát triển của một đứa trẻ như: hạn chế di chuyển, xúc phạm danh dự, nhạo báng, hăm dọa, phân biệt đối xử , từ chối yêu thương và các hình thức ngược đãi phi thể chất khác.

Xâm hại tình dục (Sexual abuse) là sự tham gia của một đứa trẻ vào hoạt động

tình dục mà đứa trẻ đó không có ý thức đầy đủ, không có khả năng đưa ra sự chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó chưa đủ phát triển cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc các thuần phong mĩ tục của xã hội.

Khái niệm “Xao nhãng, bỏ bê” (Neglect) đề cập đến sự thiếu hụt trong việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của trẻ Nó diễn ra ở một hoặc nhiều lĩnh vực sau: Giám sát, vật lý, y tế, phát triển cảm xúc, giáo dục, từ bỏ [46, tr 60].

Trang 26

Bốn loại hình xâm hại trên đều xảy ra ở Việt Nam và tác giả sử dụng cáchphân loại này vào chương 2, phân tích thực trạng các loại hình xâm hại trẻ em trêntruyền hình Việt Nam.

Tác giả đã trình bày một số khái niệm liên quan đến vấn đề xâm hại trẻ em: Trẻ

em, xâm hại trẻ em, loại hình xâm hại trẻ em Từ các khái niệm trên, tác giả nhận diện

về vấn đề xâm hại trẻ em là : Tất cả những hành vi có nguy cơ gây tổn thương và hành

vi gây tổn thương thực sự cho người dưới 16 tuổi ở cả 4 loại hình: Xâm hại thể chất, xâm hại tinh thần, xâm hại tình dục và bỏ bê, xao nhãng được gọi là xâm hại trẻ em trong phạm vi luận văn này Mức độ tổn thương và quy định về hành vi gây tổn thương

được xét theo Luật Trẻ em của Việt Nam (2016) hoặc luật của quốc gia mà Việt Nam

khai thác thông tin sự việc về xâm hại trẻ em ở quốc gia đó.

- Truyền hình

Mở đầu tác phẩm Giáo trình truyền hình, tác giả Dương Xuân Sơn cho rằng :

“Truyền hình là một loại truyền thông đại chúng, chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và

âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện” [34, tr 9]

- Chương trình truyền hình

Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Giáo trình Truyền thông đại chúng” khẳng định: “Thuật ngữ chương trình truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất, người ta dùng chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần hay trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của cả đài truyền hình Trường hợp thứ hai, chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát đi theo định kỳ [35, tr 142].

Tại luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ “Chương trình truyền hình” với

cả 2 hàm nghĩa Thứ nhất, chương trình truyền hình dùng để chỉ toàn bộ nội dungphát sóng đó là: Chương trình bản tin Chuyển động 24h, chương trình bản tin Chàobuổi tối và chương trình chuyên đề Truyền hình Vì trẻ em Thứ hai, chương trìnhtruyền hình được hiểu như một tác phẩm báo chí truyền hình hoàn chỉnh, riêng biệt

Trang 27

- Tác phẩm báo chí truyền hình

Điều 3, Luật báo chí 2016 quy định: “Tác phẩm báo chí là đơn vị cấu thành nhỏ nhất của sản phẩm báo chí, có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, gồm tin, bài được thể hiện bằng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh.” [28].

Căn cứ từ khái niệm trên, tác giả nhận định tác phẩm truyền hình là đơn vị nhỏ nhất cấu thành tổng thể nội dung thông tin trong một chương trình truyền hình.Tác phẩm truyền hình có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, được thể

hiện bằng âm thanh và hình ảnh

Như vậy, các khái niệm trên đã chỉ ra những yếu tố cốt lõi mà tên đề tài luận

văn thể hiện Bản chất của đề tài “Vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam hiện nay” là nghiên cứu thực trạng thông tin của truyền hình Việt Nam về vấn đề

xâm hại trẻ em Cụ thể hơn là luận văn chọn các tác phẩm truyền hình có nội dung liên quan đến các hành vi xâm hại trẻ em làm đối tượng khảo sát

1.1.2 Vấn đề xâm hại trẻ em ở Việt Nam hiện nay

Thể hiện khái quát vấn đề xâm hại trẻ em trên thực tế là việc làm cần thiết vàquan trọng trong luận văn này Bởi vì bối cảnh xâm hại trẻ em trong thực tế khôngchỉ là cơ sở để truyền hình phản ánh mà còn là hệ quy chiếu đánh giá kết quả củatruyền hình trong nỗ lực truyền thông phòng, chống xâm hại trẻ em Nội dung này,tác giả đề cập đến tình hình xâm hại trẻ em, hậu quả và nguyên nhân của các sự việcxâm hại trẻ em

Trong những năm gần đây, xâm hại trẻ em không chỉ gia tăng về số vụ việc, sốnạn nhân mà còn gia tăng về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi Có những vụ án

vi phạm nghiêm trọng giá trị đạo đức, khó có thể chấp nhận được ở xã hội ngày nay

Số lượng sự việc xâm hại trẻ em luôn ở mức cao

Hơn 10 năm (2006 – 2018), Việt Nam có 23.400 trẻ em bị xâm hại theothống kê từ những vụ việc bị phát hiện Mỗi năm, Việt Nam có gần 2 nghìn trẻ emmới bị xâm hại trong đó trẻ em bị xâm hại tình dục chiếm hơn 60% như biểu đồdưới đây

Trang 28

Số lƣợng trẻ em Việt Nam bị xâm hại

0

Số trẻ em bị xâm hại trung bình một năm (người)

Số trẻ em bị xâm hại tình dục trung bình một năm (người)

Biểu đồ 1.1: Số lượng trung bình trẻ em Việt Nam bị xâm hại từ năm 2006 –

2018 [61] [52] [53] [44] [67]

Biểu đồ cho thấy có sự gia tăng đột biến về trẻ em bị xâm hại tình dục ở giaiđoạn 2006 – 2015 từ 31% lên 76% và có sự tăng giảm nhẹ ở giai đoạn tiếp theo tuynhiên hơn 1200 trẻ bị xâm hại tình dục/năm là con số khó chấp nhận ở xã hội hiệntại Bởi vậy, xâm hại trẻ em đặc biệt là xâm hại tình dục cần được giảm thiểu số trẻ

em bị xâm hại mới và xử lý các vụ việc xâm hại cũ còn tồn đọng về pháp lý cũngnhư hồi phục tinh thần, sức khỏe cho trẻ em

Trong quá trình khảo sát, tác giả nhận thấy rằng con số gần 2000 vụ/ năm khôngchỉ dành cho khu vực trẻ em bị xâm hại nói chung mà đây là con số biểu hiện với nhiềuthương tích trẻ em ở các khu vực khác Cụ thể như: Trung bình mỗi năm, tại Việt Nam

xảy ra gần 2.000 vụ học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học (khoảng 5 vụ/ngày) [50] Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của trẻ em Việt Nam với 2.000 trẻ em/năm Theo số liệu thống kê của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia,

Trang 29

18

Trang 30

Hành vi xâm hại trẻ em có tính chất nguy hiểm và hung ác

Chôn sống, giết, ném con, đánh con thương tích 24%, hiếp dâm con ruột,cháu ruột là những hành vi được phát hiện nhiều trong những năm gần đây bêncạnh các hành vi xâm hại trẻ em truyền thống là đánh, tát, mắng, bỏ rơi trẻ em Hậu quả của các hành vi này là trẻ bị thương nặng hoặc tử vong Những hành vi nàycho thấy sự hung ác của đối tượng và rất cần sự can thiệp kịp thời của cơ quan chứcnăng để giảm thiểu thương tích cho trẻ em

Những liệt kê trên cho thấy cuộc sống an toàn của trẻ em Việt Nam đang bị đe dọa.Gia đình, nhà trường, xã hội đều tiềm ẩn những nguy cơ gây xâm hại với trẻ Trẻ em

là đối tượng còn non nớt về thể chất và tinh thần, vì vậy sức chịu đựng, phản kháng,

đối phó của các em khi gặp các trường hợp xâm hại hầu nhưkhông có Hậu quả của xâm hại trẻ em để lại tổn thương nặng nề gấp nhiều lần sovới hành vi xâm hại người lớn Nếu sự việc không sớm được phát hiện, ngăn chặn

và có cách xử lý đúng đắn, kịp thời thì hành vi xâm hại sẽ gây hậu quả khó lườngcho bản thân nạn nhân cũng như xã hội Các tổn thương về thể chất để lại nỗi đau,sợhãi và bệnh tật [44] [43], tổn thương tinh thần khó nhận biết nhưng tác động tiêucực đến hiện tại và tương lai [57] Xâm hại trẻ em để lại ảnh hưởng tiêu cực đến xãhội đó là tâm lý hoang mang, lo lắng về tính nguy hiểm của xâm hại trẻ em Cáchành vi xâm hại về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và hình thành nhân cáchcủa trẻ em đó là việc bạo hành, làm nhục có thể khiến trẻ trở nên mất lòng tự trọng

Gs Nguyễn Viết Thiêm, Phó chủ tịch Hội Tâm thần Học Việt Nam nhấn mạnh: “Trẻ sẵn sàng không tôn trọng người khác nơi công cộng, có những hành vi mà người có lòng tự trọng không bao giờ làm Trẻ cũng trở nên vô cảm, không biết lên án những hành vi phi đạo đức của người khác” [68].

Xâm hại trẻ em không chỉ làm đau đớn về thể chất, tinh thần nạn nhân mà nócòn ảnh hưởng tiêu cực đến nhân cách, tương lai của nạn nhân Những sự việc này

sẽ được lặp lại ở các thế hệ tiếp theo nếu hành vi xâm hại trẻ em không loại bỏ kịpthời và hiệu quả

Trang 31

Xác định nguyên nhân dẫn đến hành vi xâm hại và loại bỏ các nguy cơ dẫnđến nguyên nhân này là phương pháp hiệu quả nhất để giải quyết tình trạng xâm hạitrẻ em ở Việt Nam hiện nay Trên thực tế, có nhiều nguyên nhân và cách sắp xếpnguyên nhân xâm hại trẻ em Trong phạm vi luận văn này, tác giả xếp nguyên nhânxâm hại trẻ em thành 4 nhóm: Xã hội, gia đình, nhà trường và bản thân các em Đây

là những nhân tố quan trọng để tạo cho trẻ em môi trường sống an toàn, lành mạnh

Thứ nhất nhóm nguyên nhân xã hội: Pháp luật Việt Nam lỏng lẻo về chính

sách lẫn người thực thi pháp luật chưa nghiêm là nguyên nhân xã hội đầu tiên dẫn

đến tính răn đe pháp luật ở Việt Nam chưa cao, gia tăng đối tượng xâm hại Công tác quản lý và an sinh xã hội thiếu đồng bộ nên trẻ em không được đảm bảo an toàn

từ trung ương đến địa phương Công tác truyền thông cộng đồng yếu kém dẫn đến

dân trí của cộng đồng về xâm hại trẻ em thấp và đây là hệ quả tất yếu của hành vi

xâm hại trẻ em Trẻ em là nạn nhân của quan niệm nuôi con lạc hậu của xã hội cũ, nhiều trẻ em bị dạy dỗ bằng bạo lực, bỏ bê y tế Đạo đức xã hội xuống cấp là

nguyên nhân xảy ra xâm hại tình dục trẻ em ở nhiều nơi, nhiều vụ việc bị cộng đồngthờ ơ, không tố cáo

Thứ hai, nhóm nguyên nhân gia đình: Có nhiều yếu tố từ phía gia đình là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi xâm hại trẻ em Đó là: Kinh tế gia đình nghèo đói khiến nhiều cha mẹ bỏ bê giám sát trẻ Cha mẹ không có kiến thức đầy đủ và khoa học để dạy con thoát khỏi các tình huống xấu Đạo đức gia đình xuống cấp, mâu thuẫn gia đình khiến trẻ em trở thành nạn nhân vô tội.

Thứ ba, nhóm nguyên nhân trường học: Học sinh là nạn nhân của áp lực thành tích của thầy cô giáo Thầy cô không được trang bị kiến thức, kỹ năng về ứng

xử với học sinh dẫn đến nhiều hành vi đi quá chuẩn mực cho phép Giá trị đạo đức

của một số thầy cô xuống cấp dẫn đến các hành vi lệch chuẩn với học sinh đặc biệt

là thầy giáo xâm hại tình dục học sinh Đời sống kinh tế của giáo viên còn thấp,

khối lượng công việc nhiều cũng là nguyên nhân tạo áp lực cho các thầy cô dẫn đếnmất kiểm soát hành vi đặc biệt là giáo viên khối mầm non

Trang 32

Thứ tư: Nhóm nguyên nhân từ phía trẻ em: Trẻ em Việt Nam thiếu hiểu biết,kiến thức, kỹ năng nhận diện các tình huống, nguy cơ gây tổn thương để phòngtránh và tố cáo hành vi xâm hại Nhóm nguyên nhân này phải được gia đình, nhàtrường, xã hội có trách nhiệm hướng dẫn, giáo dục cho các em.

Như vậy, 4 yếu tố trên là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xâm hại tìnhdục trẻ em gia tăng về số lượng lẫn tính chất phức tạp, nguy hiểm của sự việc Thựctrạng xâm hại trẻ em sẽ được thay đổi nếu như các nhóm nguyên nhân này được hạnchế và loại trừ Đây cũng là cơ hội và thử thách của báo chí Việt Nam trong việcngăn ngừa tình trạng xâm hại trẻ em

1.1.3 Cơ sở pháp lý trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em

Tại Việt Nam, công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em được Đảng Cộng sản ViệtNam chỉ đạo thông qua đường lối, chủ trương, chính sách thông qua các văn kiện vànghị quyết đại hội đảng từ các kỳ đại hội Ngay từ khi mới thành lập và thông qua

Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta đã đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc “nam

nữ bình quyền” [1, tr 1] như là cơ sở của sự giải phóng phụ nữ, trao quyền bình

đẳng cho phụ nữ, đồng thời cũng khẳng định quyền bình đẳng giữa trẻ em gái và trẻ

em trai, chống mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên giới tính và lứa tuổi Những

tư tưởng tiến bộ về quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử - một trong nhữngnguyên tắc nền tảng của chuẩn mực quốc tế và Liên hợp quốc về quyền con người -

đã tiếp tục được khẳng định trong những văn kiện tiếp theo của Đảng Mới đây nhất

là báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện tốt chiến lược dân số, gia đình, chương trình hành động vì trẻ em , đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người, bảo đảm tổng tỉ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân bằng tỉ lệ giới tính khi sinh và bảo đảm quyền trẻ em” [54] Như vậy, có thể khẳng định rằng công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bảo vệ quyền trẻ em là nhiệm

vụ trọng tâm của Đảng, nhiệm vụ này được thể hiện xuyên suốt, gắn liền với cácnhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Trang 33

Nhà nước là đơn vị có trách nhiệm cụ thể hóa chính sách, đường lối củaĐảng thông qua pháp luật, kế hoạch, chương trình hành động để thực hiện trongtoàn xã hội Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm

1946 đã ghi nhận sự bảo đảm quyền trẻ em, đó là: “Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” [27, tr 3] Quan điểm nhất quán về chăm lo và bảo đảm quyền trẻ em

được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổsung năm 2001), 2013 [26] [25] [24] [23] Cụ thể như tại khoản 1, điều 20, Hiến

pháp 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm [23].

Thực hiện đường lối của Đảng, công tác về bảo vệ trẻ em được cụ thể hóatrong các quy định pháp luật, bộ luật dành riêng cho trẻ em Có thể kể đến như: LuậtBảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật Giáo dục sửa đổi (2006), LuậtBình đẳng giới (2006), Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Hônnhân và gia đình năm 2014 và Luật trẻ em năm 2016 [29] [30] [31]… và các quyđịnh liên quan đến trẻ em trong các bộ luật khác Tất cả những quy định trong các

bộ luật này đều có mục đích tạo hành lang pháp lý an toàn để trẻ em phát triển thểchất và tâm hồn, phẩm cách

Để tăng cường các biện pháp bảo vệ và chăm sóc trẻ em, năm 1989, Việt Namtham gia ký kết các điều ước quốc tế về quyền con người nói chung và quyền trẻ emnói riêng, đặc biệt là Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc năm 1989 và haiNghị định thư bổ sung năm 2000, Nhà nước Việt Nam đã tích cực nội luật hóa các quyđịnh của hệ thống pháp luật quốc tế về quyền trẻ em vào trong hệ thống pháp luật quốcgia, đồng thời đẩy mạnh triển khai, thực thi chính sách bảo đảm quyền trẻ em [45]

Đường lối của Đảng, chính sách pháp luật, quy định, nghị quyết của Nhànước, chỉ đạo thực hiện của các ban ngành, công ước quốc tế về quyền trẻ em đềuhướng đến mục tiêu chung là bảo vệ trẻ em, chống lại các hành vi xâm hại đến thểchất và tinh thần của trẻ em Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cộng đồng cũngnhư báo chí tăng cường các hoạt động thiết thực ngăn ngừa hành vi xâm hại trẻ em

Trang 34

1.1.4 Vai trò của báo chí trong việc bảo vệ trẻ em, quyền trẻ em

Cùng với những thành tựu to lớn của đất nước sau hơn 30 năm thực hiệncông cuộc đổi mới toàn diện, báo chí đã có những chuyển biến tích cực, đạt nhiềukết quả tiến bộ Nền báo chí đã phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, cả vềcông nghệ làm báo và trình độ chính trị, chuyên môn, phục vụ đắc lực cho côngcuộc đổi mới đất nước, góp phần vào thành tựu chung của đất nước

Cả nước hiện có 849 cơ quan báo chí, tạp chí in, trong đó có 86 báo Trungương, 99 báo địa phương, 664 tạp chí và 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương

và địa phương, năm đơn vị hoạt động truyền hình với tổng số kênh phát thanh,truyền hình trong nước được cấp phép là 281 kênh; 195 cơ quan báo chí điện tử đãđược cấp phép, trong đó có 171 cơ quan báo chí, đài, tạp chí thực hiện loại hình báochí điện tử; 178 giấy phép được thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp được cấpcho các cơ quan báo chí in, phát thanh, truyền hình để khai thác thế mạnh của loạihình thông tin hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin trong tình hình mới, nhất là khithông tin trên mạng xã hội ngày càng có ảnh hưởng đến xã hội [65]

Phòng, chống xâm hại trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội trong đó có các cơquan báo chí Trong tổng số 849 cơ quan báo chí ở Việt Nam, tùy vào mục đích tôn chỉhoạt động của từng cơ quan báo chí mà số lượng tin bài về vấn đề xâm hại trẻ em thôngtin ít nhiều Tuy nhiên có thể thấy các thông tin về xâm hại trẻ em được cập nhật liêntục, hàng ngày ở cả 4 loại hình báo chí đã cung cấp cho công chúng lượng thông tinkhổng lồ, toàn diện về vấn đề cấp bách của quốc gia hiện nay

Là một bộ phận quan trọng của hệ thống các phương tiện truyền thông đạichúng, truyền hình đóng góp vai trò đáng kể trong việc thông tin tuyên truyền chốngxâm hại trẻ em Các chương trình về vấn đề này xuất hiện nhiều về số lượng, đadạng về hình thức và phong phú về nội dung ở tất cả 67 cơ quan phát thanh truyềnhình trong cả nước

Nhìn chung, thời gian qua, báo chí Việt Nam đã cung cấp cho công chúngbức tranh toàn diện, đa dạng về thực trạng xâm hại trẻ em Từ sự khẩn trương, liêntục đó mà xâm hại trẻ em đã trở thành mối quan tâm của nhiều người, nhiều ngành

Trang 35

và nhiều gia đình Thông tin báo chí đưa ra phần nào đã tác động đến nhận thức vàlàm thay đổi hành vi của người dân về vấn đề nghiêm trọng này Để có được kết quảnày, chúng ta phải khẳng định vai trò to lớn của báo chí trong công cuộc đấu tranhchống xâm hại trẻ em Vai trò của báo chí chính là báo chí thực hiện các chức năngcủa nghề báo đối với vấn đề xâm hại trẻ em.

- Thứ nhất, chức năng thông tin của báo chí

Báo chí nhanh chóng, kịp thời bám sát sự kiện, đối tượng để cung cấp chocông chúng những thông tin nhanh nhất về sự việc đã và đang diễn ra có liên quanđến xâm hại trẻ em Chức năng thông tin đóng vai trò quan trọng và quyết định đốivới sự phát triển của mỗi cơ quan báo chí Trong thời đại bùng nổ thông tin nhưngày nay, cuộc cạnh tranh trong việc đưa tin của các loại hình báo chí ngày càng trởnên quyết liệt Trên thực tế, cơ quan báo chí nào đưa tin nhanh nhất về một sự kiệnmới nhất, thu hút được sự quan tâm của công chúng, thì cơ quan đó giành đượcthắng lợi trong sự cạnh tranh độc giả và bán báo Vì vậy, thông tin báo chí phải đáp

ứng yêu cầu nhanh chóng, chính xác, đảm bảo tính thời sự “Nhanh chóng và hợp thời là yếu tố làm nên giá trị thông tin báo chí” [34, tr.40].

- Thứ hai, chức năng tuyên truyền, giáo dục

Tuyên truyền phổ biến pháp luật và cung cấp kiến thức, kỹ năng, tạo lập tưtưởng cho người dân về vấn đề phòng, chống xâm hại trẻ em là chức năng quantrọng nhất của truyền hình trong bối cảnh hiện nay

Xuất phát từ thực tế xã hội, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xâm hại trẻ

em tăng cao như hiện nay là người dân thiếu kiến thức về nhiều mặt như: pháp luật,

kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em, ứng xử học đường Chính vì vậy, chức năngtuyên truyền, giáo dục của báo chí sẽ là công cụ để giảm thiểu vấn đề xâm hại trẻ

em nhờ hiệu quả của công tác truyền thông

- Thứ ba, chức năng giám sát và phản biện xã hội

Bên cạnh thông tin, giáo dục, chức năng giám sát xã hội của báo chí là công

cụ để đưa các vụ việc xâm hại trẻ em ra ánh sáng, truy tìm trách nhiệm của cơ quanchức năng trong việc chậm trễ xử lý các vụ việc xâm hại trẻ em

Trang 36

Trong quá trình giám sát, báo chí khuyến khích người dân phản biện xã hội,đóng góp ý kiến để hoàn thiện chính sách của Đảng, dự thảo luật của Nhà nước,phát huy vai trò của công dân đối với vấn đề lớn của đất nước.

- Thứ tư, báo chí tạo lập và phản ánh luận xã hội

Dư luận xã hội theo định nghĩa của tác giả Mai Quỳnh Nam tại bài báo

“Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” là: “Sự thể hiện tâm trạng xã hội, phản ánh sự đánh giá của những nhóm xã hội lớn của nhân dân nói chung về các sự kiện, các hiện tượng tạo nên mối quan tâm chung của người dân Mối quan tâm này phản ánh lợi ích có tính chất cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại” [16].

Theo định nghĩa này: Dư luận xã hội là sự đánh giá tốt, xấu, hay, dở về một vấn đềnào đó được truyền thông đăng tải thông tin Như vậy, trước bối cảnh thông tinnhiều luồng như hiện nay, trách nhiệm của báo chí là đăng tải thông tin chính thốngđồng thời định hướng thông tin nhằm khuyến khích dư luận xã hội bày tỏ quan điểmlên án hành vi xấu và lan tỏa hành động tích cực trong công tác bảo vệ và chăm sóctrẻ em

Phản ánh dư luận xã hội là việc làm cần thiết của quá trình truyền thông haichiều về vấn đề xâm hại trẻ em Dư luận xã hội thể hiện nguyện vọng của đại đa sốcông chúng đồng thời cũng là cơ sở để đối chiếu kết quả của công tác tạo lập dưluận trước đó

Như vậy, những yếu tố trên đã khẳng định vai trò và sức mạnh to lớn của báochí trong công tác đấu tranh chống xâm hại trẻ em thời gian qua Nhờ công táctruyền thông mà vấn đề xâm hại trẻ em đã tác động một cách mạnh mẽ và sâu rộngđến nhận thức và hành vi của nhiều người, nhiều ngành, nhiều gia đình trong xã hội

Truyền hình là một bộ phận của báo chí vì vậy vai trò của truyền hình đối vớicông tác chống xâm hại trẻ em chính là chức năng của báo chí đã được phân tích ởtrên, bao gồm: chức năng thông tin, chức năng tuyên truyền, giáo dục, chức nănggiám sát và phản biện xã hội, chức năng tạo lập và phản ánh dư luận xã hội

Trang 37

1.2 Truyền hình với vấn đề xâm hại trẻ em

1.2.1 Thế mạnh của truyền hình trong hoạt động thông tin, tuyên truyền phòng, chống xâm hại trẻ em.

Tại Việt Nam, truyền hình ra đời muộn hơn so với các loại hình báo chí khác,song ngay từ khi ra đời, truyền hình đã chứng tỏ ưu thế vượt trội của mình, thu hút

sự quan tâm đông đảo của công chúng

Phòng, chống xâm hại trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội trong đó có giớitruyền thông Vì vậy, mỗi loại hình báo chí đều có cách khai thác riêng để đạt hiệuquả truyền thông tốt nhất Tuy nhiên, do đặc trưng về loại hình nên truyền hình có

ưu thế hơn các phương tiện truyền khác trong việc đưa tin về các vấn đề xâm hại trẻ

em Điều đó được thể hiện như sau:

Thứ nhất, thế mạnh truyền tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh

Khoa học chứng minh “70 % lượng thông tin con người thu được là qua thịgiác, 20% là qua thính giác” [34, tr.15] Thế mạnh của truyền hình chính là việctruyền tải thông tin đồng thời đến người xem bằng cả hình ảnh và âm thanh Do đó,truyền hình cùng lúc tác động đến thị giác và thính giác của người xem Đây là điểmkhác biệt của truyền hình so với các loại hình phương tiện khác

- Lợi thế tạo ấn tượng hình ảnh, tác động mạnh đến cảm xúc của công chúng.

Những hình ảnh động về xâm hại trẻ em luôn có sức hút, ám ảnh người xem

về nội dung, hình ảnh cũng như cảm xúc, hoàn cảnh của nhân vật Phát huy được lợithế này, truyền hình sẽ có nhiều tác phẩm thành công và hiệu quả tác động đến nhận

thức của công chúng PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh khẳng định: “Truyền hình là loại hình truyền thông tác động vào cảm tính của con người rất mạnh mẽ Cho nên với bất cứ một hình ảnh nào khi đưa về vấn đề phòng chống xâm hại trẻ em nó đều có tác động trực tiếp đến nhận thức của công chúng Truyền hình là loại truyền thông hiệu quả nhất khi đưa bất cứ vấn đề gì đặc biệt là vấn đề phòng chống xâm hại trẻ em” (Phỏng vấn sâu, PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh, HV Báo chí và Tuyên truyền).

- Lợi thế âm thanh và hình ảnh tạo sự chân thực, khách quan, sống động của truyền hình trong vấn đề xâm hại trẻ em.

Trang 38

Nếu như công chúng muốn tiếp nhận thông tin về xâm hại trẻ em từ báo inhay báo phát thanh thì công chúng phải đọc, phải nghe sau đó hình dung ra sự kiện.Truyền hình thì khác, truyền hình cung cấp ngay cho công chúng sự kiện một cáchchân thực qua hình ảnh và âm thanh sống động Tính chân thực đã tạo cho người

xem độ tin cậy lớn khi đón nhận thông tin mà truyền hình truyền tải “Thế mạnh của truyền hình là cho khán giả nhìn thấy hình ảnh của sự kiện, đó là chất liệu thông tin nguyên chất nhất của cuộc sống” [33, tr.202] Những hình ảnh, âm thanh được ghi

lại từ nhiều góc độ khác nhau của ống kính máy quay khiến người xem có cảm giácnhư trực tiếp tham gia vào sự kiện Thế mạnh về hình ảnh và âm thanh đã làm việctuyên truyền chống xâm hại trẻ em trên truyền hình tạo được sự tin cậy và có sứcthuyết phục khán thính giả hơn

Như vậy, bằng thế mạnh về hình ảnh và âm thanh, truyền hình đã tạo độ tincậy, cung thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhậnthức của con người

Thứ hai, thế mạnh về tầng thông tin thứ hai của truyền hình

Tầng thông tin thứ hai là một trong hai yếu tố quan trọng của giao tiếp trên

truyền hình Tác giả Dương Xuân Sơn trong “Giáo trình truyền hình” đưa ra quan

niệm rằng: Giao tiếp trên truyền hình là dạng đặc biệt, nó hàm chứa cả yếu tố giaotiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp Giao tiếp trên truyền hình thông qua hai tầngthông tin :

Tầng thông tin thứ nhất: Chủ yếu là lời nói, nó có thể là lời nói của người

dẫn, người trả lời phỏng vấn, người phát biểu trên truyền hình…

Tầng thông tin thứ hai là các yếu tố biểu cảm như gương mặt, cảm xúc, cử

chỉ, bối cảnh… điều này trên báo viết và phát thanh có rất ít [34, tr.195]

Đối với các vấn đề xã hội đặc biệt là vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hìnhthì việc gửi thông điệp đến khán giả qua tầng thông tin thứ hai là điều cần thiết vàquan trọng bởi đó là chất liệu tạo cảm xúc cho khán giả Tầng thông tin thứ hai là

“chất liệu đặc biệt” kết nối đặc biệt cảm xúc của khán giả với nội dung phản ánh.

Trang 39

Bằng thế mạnh truyền tải thông tin qua hình ảnh, âm thanh đồng thời biểu đạttầng thông tin thứ hai, truyền hình để lại nhiều dấu ấn riêng biệt Thời gian qua, vớiviệc ngày càng bám sát các vấn đề nóng của đất nước, nâng cao tính chiến đấu với cácvấn nạn quốc gia, truyền hình đã và đang ngày càng khẳng định sứ mệnh, trách nhiệmcủa mình với cộng đồng xã hội Điều này đã tạo nên thương hiệu riêng của truyền hìnhtrong lòng khán giả nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thông tin hiện nay.

1.2.2 Vấn đề xâm hại trẻ em nhìn từ các chức năng của truyền hình

Tác giả xác định xây dựng khung lý thuyết về vấn đề xâm hại trẻ em nhìn từchức năng của truyền hình là nội dung chính của chương 1 cũng như một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm của luận văn bởi vì khung lý thuyết này sẽ là cơ sở nềntảng để tác giả thực hiện công tác nghiên cứu, khảo sát, phân tích vấn đề và rút ragiải pháp ở các chương sau Đồng thời đây cũng là thước đo để tác giả so sánh,đánh giá kết quả của truyền hình Việt Nam về vấn đề xâm hại trẻ em với tình hìnhthực tế

Truyền hình thực hiện 4 chức năng khi thông tin về vấn đề xâm hại trẻ em,

đó là: Chức năng thông tin, giáo dục, giám sát và phản biện xã hội; truyền hình tạolập và phản ánh dư luận xã hội Đặc điểm và yêu cầu của các chức năng được thểhiện lần lượt dưới đây:

Thứ nhất, truyền hình thực hiện chức năng thông tin vấn đề xâm hại trẻ em

Thông tin là điều kiện tồn tại tiên quyết của truyền hình trong hoạt động truyềnthông Vì vậy, thông tin về vấn đề xâm hại trẻ em là chức năng đồng thời cũng là tráchnhiệm của truyền hình trong vấn đề xâm hại trẻ em Tùy vào điều kiện, đặc điểm củatừng cơ quan báo chí mà truyền hình có các cách thông tin khác nhau Tuy nhiên, thôngtin trên truyền hình về vấn đề xâm hại trẻ em phải đảm bảo các yếu tố sau:

- Thông tin về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình phải ý nghĩa, đảm bảo tính thời sự, khách quan và chính xác Đây là điều kiện cần và đủ của bất kỳ

chương trình thời sự nào tuy nhiên trong bối cảnh cạnh tranh thông tin mạnh mẽ củangành truyền thông như hiện nay đặc biệt với mạng xã thì truyền hình cần phải nhanh nhạy hơn nữa để đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng Truyền hình

Trang 40

càng có tính chính xác cao thì càng khẳng định được lợi thế của kênh truyền hình quốc gia trong lòng khán giả.

- Thông tin về xâm hại trẻ em phải đa dạng, thể hiện được tính nguy hiểm, cấp bách của thực trạng xã hội Trong bối cảnh xâm hại trẻ em đang tăng nhanh và

nguy hiểm như hiện nay thì việc phản ánh đúng tinh thần thực tế có ý nghĩa rất lớnđối với công tác phòng, chống xâm hại trẻ em Truyền hình Việt Nam cần phát huylợi thế sẵn có về ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh để chuyển tải nội dung nhằm tácđộng đến nhận thức của công chúng về thực trạng từ đó khích lệ hành vi thực tiễn

Thứ hai, truyền hình thực hiện chức năng giáo dục về phòng, chống xâm hại trẻ em

Trước thực trạng nguy hiểm và cấp bách của vấn đề xâm hại trẻ em hiện naythì việc nâng cao kiến thức, kỹ năng để phòng, chống xâm hại trẻ em là điều cầnthiết và quan trọng đối với toàn xã hội Chức năng giáo dục của truyền hình đượcthể hiện ở việc tuyên truyền kiến thức pháp luật và cung cấp kiến thức, kỹ năngphòng, chống xâm hại trẻ em.Yêu cầu chung của nhóm chức năng này là:

- Kiến thức tuyên truyền chính xác, đáp ứng đúng nhu cầu xã hội

Đây là

yếu tố quan trọng trong chức năng giáo dục bởi nếu không đáp ứng đúng nhu cầu xãhội thì chức năng này không đạt được hiệu quả truyền thông

- Thông tin cần được lập trình cho nhiều nhóm đối tượng bởi vì xâm hại trẻ

em là vấn đề cần sự giải quyết của nhiều ban ngành, nhiều đối tượng

- Thông điệp, bài học tuyên truyền phải đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ và

dễ làm

theo Điều này xuất phát từ trình độ dân trí nước ta chưa đồng đều nên thông tin về

giáo dục trên truyền hình cần đa dạng để phục vụ được đại đa số khán giả

Thứ ba, truyền hình giám sát và phản biện xã hội về vấn đề xâm hại trẻ em

Truyền hình tham gia giám sát và phản biện xã hội về vấn đề xâm hại trẻ emvới tư cách là một tổ chức xã hội thường xuyên theo dõi tính thực tế, hiệu quả từ cácchính sách của Đảng, Nhà nước về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em Đồng thời,truyền hình đứng về phía quyền lợi của trẻ em bị xâm hại, tham gia giám sát

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w