1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm của các công ty truyền thông cát tiên sa, LASTA, hoa hồng vàng

122 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 202,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ******* TRẦN THỊ HỒNG VÂN XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH QUA SẢN PHẨM CỦA CÁC CÔNG TY TRUYỀN THÔNG: CÁT TI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*******

TRẦN THỊ HỒNG VÂN

XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH

TRUYỀN HÌNH QUA SẢN PHẨM CỦA CÁC

CÔNG TY TRUYỀN THÔNG: CÁT TIÊN SA, LASTA, HOA HỒNG VÀNG TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010 TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH

Mã số: 60 32 01

LUẬN VĂN THẠC SĨChuyên ngành: BÁO CHÍ HỌC

TP.HCM, 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*******

TRẦN THỊ HỒNG VÂN

XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH

TRUYỀN HÌNH QUA SẢN PHẨM CỦA CÁC

CÔNG TY TRUYỀN THÔNG: CÁT TIÊN SA, LASTA, HOA HỒNG VÀNG TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010 TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của tôi, với sựhướng dẫn của PGS.TS Dương Xuân Sơn Các nội dung nghiên cứu và kếtquả trong đề tài này là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từngđược công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào

Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đượcchính tác giả ghi nhận từ thực tế hoặc thu thập từ các nguồn đáng tin cậy

Luận văn có tham khảo và trích dẫn một số sách báo và tài liệu, đượcthể hiện trong phần tài liệu tham khảo

Người thực hiện luận văn

Trần Thị Hồng Vân

Trang 4

Xin cảm ơn nhà báo Nguyễn Chí Tân-Nguyên Phó Tổng Giám đốc ĐàiTruyền hình TP.HCM, nhà báo, luật sư, Tiến sĩ Phan Đăng Thanh, các anh chịđồng nghiệp đã nhiệt tình trả lời phỏng vấn, cung cấp thông tin cho tôi trongthời gian tôi tiến hành thu thập thông tin về xã hội hóa sản xuất chương trìnhtruyền hình.

Xin cảm ơn gia đình, bè bạn, những người đã luôn theo dõi, động viên

và hỗ trợ vô điều kiện trong thời gian tôi học tập và thực hiện luận văn

Xin tri ân tất cả

Trang 5

Công ty TNHH Truyền thông Hoa Hồng Vàng

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÃ HỘI HÓA VÀ XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỜI KÌ HỘI NHẬP 12 1.1 Vấn đề xã hội hóa và xã hội hóa truyền hình 12

1.1.1 Xã hội hóa là gì 12

1.1.2 Sự phát triển của xu hướng xã hội hóa ở TP.HCM 13

1.2 Báo chí TP.HCM trong thời kỳ hội nhập 15

1.2.1 Sự tác động của kinh tế thị trường đối với hoạt động báo chí 15

1.2.2 TP.HCM có những điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động báo chí 19

1.2.3 Truyền hình trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân TP.HCM 20

1.3 Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình là một xu hướng tất yếu 22

1.3.1 Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình đáp ứng yêu cầu phát triển của truyền hình 22

1.3.2 Các yếu tố tác động đến xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 25

1.3.3 Đối tượng tham gia vào xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 30

Tiểu kết chương 1 34

Trang 7

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH

TRUYỀN HÌNH CỦA CÁC CÔNG TY TRUYỀN THÔNG TẠI

TP.HCM (TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010) 36

2.1 Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trên sóng của HTV 36

2.1.1 Vài nét về sự hình thành và phát triển của HTV 36

2.1.2 Sự tham gia của các công ty truyền thông 38

2.1.3 Phương thức phối hợp giữa HTV và công ty truyền thông 42

2.2 Ưu thế của các chương trình truyền hình của Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm 2008 đến năm 2010 47

2.2.1 Cát Tiên Sa-công ty truyền thông hàng đầu của các chương trình truyền hình giài trí 47

2.2.2 Lasta-nhà sản xuất truyền hình chuyên nghiệp 54

2.2.3 Hoa Hồng Vàng-công ty truyền thông mới trong lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình 62

2.3 Hạn chế trong xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 65 2.3.1 Chất lượng không đồng đều 65

2.3.2 Nhân lực làm truyền hình còn nhiều hạn chế 68

2.3.3 Lợi nhuận kinh doanh chi phối chất lượng chương trình 70

Tiểu kết chương 2 72

Trang 8

CHƯƠNG 3:

KINH NGHIỆM, GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA SẢN

XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 74

3.1 Một số kinh nghiệm rút ra trong xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 74

3.1.1 Về nội dung 74

3.1.2 Về tổ chức sản xuất 78

3.1.3 Về quản lý 79

3.2 Các giải pháp và khuyến nghị để nâng cao chất lượng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 81

3.2.1 HTV phải giữ vai trò quyết định trong hoạt động liên kết sản xuất chương trình 82

3.2.2 Nâng cao năng lực sản xuất chương trình của các công ty truyền thông 86

3.3 Mô hình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 90

3.3.1 Mô hình về phương thức phối hợp giữa đài truyền hình và công ty truyền thông 91

3.3.2 Mô hình tổ chức sản xuất chương trình truyền hìn ở công ty truyền thông 93

Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xã hội hiện đại, truyền hình là một kênh thông tin quan trọng Sovới nhiều nước trên thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia có sốlượng lớn các đài truyền hình Theo Bộ Thông tin-Truyền thông, hiện cả nước

có 67 đài phát thanh-truyền hình, trong đó có 3 đài phủ sóng toàn quốc là ĐàiTiếng nói Việt Nam-VOV, Đài Truyền hình Việt Nam-VTV và Đài Truyềnhình kỹ thuật số VTC 64 đài phát thanh truyền hình địa phương gồm 62 đàiphát thanh truyền hình của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, riêngTP.HCM có 2 đài: Đài Truyền hình TP.HCM- HTV và Đài Tiếng nói nhândân TP.HCM-VOH Số lượng các kênh truyền hình tại Việt Nam lên tới gần

200 kênh, trong đó có gần 100 chương trình truyền hình quảng bá Bên cạnh

đó, nhiều chương trình truyền hình quốc gia và một số chương trình truyềnhình quảng bá khác được phát sóng trên mạng internet đến các khu vực, cácnước trên thế giới phục vụ thông tin đối ngoại

Hiện nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, việc cạnh tranh thôngtin giữa các đài truyền hình, kênh truyền hình cũng là một xu thế tất yếu.Công chúng ngày càng có trình độ cao và luôn đòi hỏi cao về chất lượng, nộidung các chương trình truyền hình, đặc biệt là các chương trình truyền hìnhgiải trí Bên cạnh đó, dưới sức ép của hàng trăm, hàng ngàn kênh truyền hìnhcũng như sự phát triển chóng mặt của các loại hình internet bắt buộc nhữngngười làm truyền hình phải luôn tìm những hướng đi mới cho sự phát triểncủa truyền hình

Nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối vớicác hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môitrường cho thấy Nhà nước khuyến khích các thành viên trong xã hội tham gia

Trang 10

vào các hoạt động mang lợi ích cộng đồng TP HCM với vai trò là đầu tàukinh tế của đất nước, cũng là đơn vị đi tiên phong về XHH trên các lĩnh vựckinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao TP HCM đã thực hiện XHH trongbối cảnh đất nước và thành phố đang trong quá trình phát triển nhanh, hộinhập với thế giới, tạo thêm những điều kiện, yếu tố tích cực cho công tácXHH triển khai nhanh, mạnh TP HCM đã thành công trong XHH sân khấu,

và trở thành điểm sáng trong XHH giáo dục, y tế Những thành công bướcđầu trong các lĩnh vực trên đã cho thấy xu hướng XHH các hoạt động xã hội

là một xu hướng tất yếu của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là ở các đô thị lớnnhư TP.HCM Trong xu thế đó, XHH sản xuất chương trình truyền hình củaHTV cũng đã thu được những kết quả đáng ghi nhận

Sự hợp tác giữa HTV và các công ty truyền thông đã góp phần mangđến diện mạo mới cho HTV, chương trình phong phú, đa dạng, phục vụ đượcnhiều đối tượng, nhiều mục đích trong giáo dục, giải trí, dân sinh, xã hội,nâng cao chất lượng trong thưởng thức văn hóa của công chúng Tuy là đàiđịa phương, trực thuộc Ủy ban nhân dân TP.HCM nhưng HTV đã có đến 41điểm phủ sóng rộng khắp cả nước, đặc biệt ở miền Tây Nam bộ, HTV trởthành một đài truyền hình nhận được nhiều sự yêu mến của khán giả

Khái niệm XHH trong lĩnh vực truyền hình vẫn gây nhiều tranh cãitrong giới chuyên môn, các nhà khoa học nói riêng và dư luận nói chung.XHH truyền hình được hiểu là XHH sản xuất chương trình truyền hình, ởnước ta phương thức và phạm vi thực hiện XHH khá đa dạng Các công tytruyền thông trong cuộc hợp tác với HTV đã thể hiện sự nhanh nhạy, năngđộng và khả năng làm việc hiệu quả qua các chương trình truyền hình Thếnhưng, không phải chương trình nào cũng thành công như mong đợi Phươngthức XHH sản xuất chương trình truyền hình nào thực sự hiệu quả, và làm saohoạt động này không bị thao túng bởi quyền lợi cá nhân đang là vấn đề bức

Trang 11

xúc của công luận, vướng mắc của các công ty truyền thông và là sức nặngđối với HTV trong tiến trình XHH.

Tìm hiểu vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình trên sóng củaHTV để hoàn thiện, nâng cao chất lượng cho các chương trình đang phát sóng

do công ty truyền thông sản xuất đang là vấn đề cấp thiết Chính vì vậy, người

viết chọn đề tài: “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm 2008 đến năm 2010 trên sóng Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Báo chí học, Trường Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới, các kênh truyền hình tư nhân hay các tập đoàn truyềnthông đã không còn xa lạ Rất nhiều các kênh truyền hình nổi tiếng, hãngtruyền hình lớn của nước ngoài đã được “tư nhân hóa” và mang tính thươngmại Ở các nước Tư Bản có hẳn ngành công nghiệp truyền thông Nhữnghãng: BBC, AP đã vươn tầm hoạt động khắp thế giới Trung Quốc cho phépthành lập tập đoàn truyền thông năm 1996 và đến năm 2008 đã có 56 tập đoàntruyền thông Thực tế hoạt động của các hãng thông tấn, các tập đoàn truyềnthông nước ngoài có sự khác biệt với điều kiện ở Việt Nam, do đó tính chấtXHH ở các nước khác với thực tế ở Việt Nam

XHH sản xuất chương trình truyền hình qua hoạt động của các công tytruyền thông đã có từ nhiều năm trước và đến khi Việt Nam gia nhập WTOthì hoạt động này ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, mang tính hiệuquả rõ rệt

Thuật ngữ “xã hội hóa” sản xuất chương trình truyền hình cũng đượcbàn luận nhiều Việt Nam cũng đã có những tài liệu nghiên cứu về vấn đềnày Tại Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (ngày 05/01/2006) tại

Trang 12

Nha Trang-Khánh Hòa với nội dung: Sản xuất chương trình sẽ được xã hội hóa như thế nào?

Trong Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 26 (ngày 11/01/2007)

đã tổ chức các buổi hội thảo với chủ đề chính là sản xuất chương trình truyềnhình sẽ được XHH như thế nào thu hút được rất nhiều các đài truyền hìnhtrong cả nước và các đơn vị, tổ chức ngoài ngành truyền hình tham gia

Hoạt động liên kết sản xuất chương trình phần nào được thể hiện quaThông tư 19/2009/TT-BTTTT qui định về việc liên kết trong hoạt động sảnxuất chương trình phát thanh, truyền hình của Bộ Thông tin Truyền thông

Đề cập đến vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình có Luận vănThạc sĩ của học viên Học viện Báo chí-Tuyên truyền Lê Thị Thu Hòa với đề

tài “Xã hội hoá sản xuất các chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Việt Nam (Khảo sát kênh VTV1-VTV3 từ tháng 1-2007 đến tháng 6-2008)” và Luận án Tiến sĩ “Xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam nhìn từ góc

độ kinh tế học truyền thông” (2011) của Bùi Chí Trung, Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Đề cập đến sự phát triển củatruyền hình và nhu cầu thưởng thức chương trình nghe nhìn của công chúngtruyền hình, qua đó phần nào lý giải vì sao các công ty truyền thông lại thànhcông trong lĩnh vực sản xuất chương trình ở nhóm các chương trình truyền

hình giải trí, văn hóa nghệ thuật có Luận án Tiến sĩ “Đặc điểm công chúng truyền hình Việt Nam giai đoạn hiện nay” (2007) của Trần Bảo Khánh, Học

viện Báo chí-Tuyên truyền

Xung quanh vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình cũng cómột số tài liệu nghiên cứu có đề cập tới như: xu hướng phát triển truyền hìnhnói chung, nghiên cứu kinh tế báo chí, nhân lực làm truyền hình cùng nhiềubài viết trên các báo, các trang mạng điện tử về vấn đề này như: “Xã hội hóatruyền hình: Đã đến lúc” trên vtv.vn, “Xã hội hóa truyền hình-Hay là bán

Trang 13

sóng” trên tuanvietnam.net, “Xã hội hóa truyền hình: Cuộc cạnh tranh củađẳng cấp” trên laodongonline.com, “Truyền hình được xã hội hóa mạnh mẽ”trên ITCnews

Như vậy, chưa có đề tài nào đi sâu, khảo sát nghiên cứu vấn đề XHHsản xuất chương trình truyền hình với sự tham gia của các công ty truyềnthông trên sóng HTV

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

-Luận văn có mục đích tìm hiểu về vấn đề XHH sản xuất chương trìnhtruyền hình tại HTV, khảo sát đánh giá chất lượng sản phẩm truyền hình củacác công ty truyền thông Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng

3.2 Nhiệm vụ

-Làm rõ vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình với sự tham giacủa các công ty truyền thông Trong đó, làm nổi bật mối quan hệ giữa HTV vàcác công ty truyền thông tham gia sản xuất chương trình truyền hình

-Phân tích các chương trình do công ty truyền thông sản xuất trên HTV

từ năm 2008 đến năm 2010 Đồng thời, tiến hành khảo sát thực tế các chươngtrình đang phát sóng trên HTV của các công ty Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa HồngVàng

-Từ đó, đưa ra những giải pháp hữu dụng cho việc cải tiến và nâng caochất lượng chương trình liên kết sản xuất trên HTV trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các công ty truyền thông tạiTP.HCM đang liên kết sản xuất chương trình truyền hình với HTV

-Luận văn chú trọng khảo sát hiện trạng XHH sản xuất chương trìnhtruyền hình của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng

từ năm 2008 đến năm 2010 trên sóng HTV

Trang 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài: “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm

2008 đến năm 2010 trên sóng Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh” dựa

trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, xem xét đánh giácác chương trình truyền hình được XHH ở khâu sản xuất dựa vào hoàn cảnhthực tế của vấn đề trong các mối liên hệ khách quan

Luật Báo chí được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 28 tháng 12 năm 1989 đã qui định tại chương 1, điều 2 nhưsau: “Bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí Nhànước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí,quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để phát huy đúng vai trò của mình”.Thông tư 19/2009/TT-BTTTT qui định về việc liên kết trong hoạt động sảnxuất chương trình phát thanh, truyền hình Việc nghiên cứu đề tài XHH sảnxuất các chương trình truyền hình cũng phải dựa trên quan điểm của Đảng vàNhà nước trong sự phát triển sự nghiệp truyền hình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận báo chí truyền thông, đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệp thông tin-báochí, các tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, báo và tạp chí có liên quan đếnnội dung nghiên cứu Luận văn vận dụng những nghiên cứu thực tế cácchương trình truyền hình của các công ty truyền thông trên sóng HTV

Để việc nghiên cứu đề tài có cơ sở và phương pháp luận vững chắc,luận văn còn vận dụng một số phương pháp như: phương pháp thống kê,phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích, phương pháp miêu

tả, tổng hợp, so sánh Người thực hiện luận văn đã thực hiện nhiều phỏng vấn

Trang 15

sâu với các nhà báo, những giám đốc của các công ty truyền thông tư nhân,những người làm truyền hình lâu năm để thu thập thông tin, số liệu phục vụviệc phân tích, đánh giá.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn bổ sung thêm một số vấn đề lý luận báo chí về xu hướngXHH truyền hình qua hoạt động thực tiễn của các công ty truyền thông trênsóng HTV

về hoạt động XHH trên truyền hình hiện nay, đề xuất một số ý kiến, giải phápnâng cao chất lượng chương trình truyền hình của các công ty truyền thôngkhi tham gia sản xuất chương trình cho HTV

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm có 3 chương và 9 mục, 84 trang

Chương 1: Lý luận chung về xã hội hóa và xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình thời kì hội nhập

Chương này giới thiệu các khái niệm về XHH và XHH sản xuấtchương trình truyền hình Những điều kiện thuận lợi cho XHH sản xuấtchương trình ở TP.HCM như: điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa, trình độ vàthói quen tiếp nhận thông tin của người dân Chương 1 cũng chứng minh

Trang 16

XHH sản xuất chương trình truyền hình là một yêu cầu tất yếu, phù hợp với

sự phát triển của truyền hình

Chương 2: Thực trạng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của các công ty truyền thông tại TP.HCM (từ năm 2008 đến năm 2010)

Chương 2 mô tả khái quát phương thức phối hợp thực hiện giữa HTV

và công ty truyền thông trong việc XHH sản xuất chương trình truyền hình.Phân tích các chương trình truyền hình phát trên HTV của các công ty truyềnthông tại TP.HCM, những thành công cũng như hạn chế Từ đó, khái quátthành những điểm mạnh cũng như hạn chế của các chương trình truyền hình

do công ty truyền thông sản xuất

Chương 3: Kinh nghiệm, giải pháp và mô hình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Từ thực trạng XHH sản xuất chương trình truyền hình đã mô tả ởchương 2, chương này sẽ nêu ra một số giải pháp nâng cao chất lượng chươngtrình truyền hình do công ty truyền thông sản xuất Các giải pháp kêu gọi sựphối hợp chặt chẽ giữa đài truyền hình và công ty truyền thông từ định hướng,xây dựng nguồn nhân lực, cải tiến nội dung và phương thức thực hiện chươngtrình cho đến chọn lựa giải pháp công nghệ phù hợp Chương 3 sẽ đưa ra các

mô hình XHH sản xuất chương trình truyền hình từ những kết quả đã khảo sátđược

Trang 17

Theo Macionis John, J XHH là : “một khái niệm của nhân loại học và

xã hội học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đờiqua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa củamình” [37,tr.154]

Khi chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, Đảng

và Nhà nước ta thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế.Nền kinh tế thị trường nước ta phát triển trên hình thức sở hữu nhiều thànhphần kinh tế, trong đó kinh tế thị trường hình thành từ quá trình XHH laođộng và sản xuất lấy giá trị sức lao động và hiệu quả của nó làm thước đo, nêntiến trình XHH diễn ra theo quy luật giá trị thặng dư Sự phát triển của XHHdựa trên những tiến bộ kỹ thuật Còn trình độ XHH cao hay thấp lại dựa vàocách mạng khoa học-kỹ thuật đi đôi với tiến bộ trong cải cách tổ chức và quản

lý, tạo ra sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội Quá trìnhXHH trong kinh tế thị trường mang tính chất cạnh tranh để tồn tại và pháttriển giữa các tư nhân, cá thể, giữa các doanh nghiệp, tập đoàn và đang pháttriển sự cạnh tranh giữa các quốc gia Cạnh tranh trong kinh tế thị trường cótác dụng như một động lực phát triển cho nền kinh tế Việt Nam phát triển vàtăng trưởng Cùng với quá trình này, khái niệm XHH không còn xa lạ Nó

Trang 18

được hiểu là “làm cho mang tính xã hội” hay “huy động toàn xã hội tham gia”.

Ở nước ta, cụm từ XHH xuất hiện khoảng cuối thập niên 90 của thế kỉtrước và trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, phố biến và thịnh hànhtrong xã hội hiện nay Có thể hiểu XHH là huy động nguồn lực xã hội, các tầng lớpnhân dân tham gia vào một lĩnh vực, một hoạt động nào đó mà

trước kia chỉ có các đơn vị Nhà nước tham gia

XHH theo cách hiểu thuật ngữ kinh tế thị trường là tư nhân tham giavào một số lĩnh vực thuộc Nhà nước quản lý để phát huy những tiềm năng,chất xám và khả năng của họ, tạo ra những sản phẩm có giá trị phục vụ cho sựnghiệp phát triển của đất nước, phục vụ cộng đồng, góp phần làm cho dângiàu, nước mạnh

1.1.2 Sự phát triển của xu hướng xã hội hóa ở TP.HCM

Sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta hơn 20 năm qua đã giànhđược những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Những thành tựu đó tạo ra xuthế mới của Việt Nam trên trường quốc tế, mở ra một cục diện mới đối với sựphát triển của đất nước ta, là cơ sở quan trọng để hội nhập sâu hơn và toàndiện hơn vào nền kinh tế thế giới

Trong điều kiện nước ta đã là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thươngmại thế giới (WTO), với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là mở cửa vàhội nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, xây dựng xã hội dânchủ, công bằng, văn minh, đậm đà bản sắc dân tộc trong việc xây dựng cácchiến lược, chính sách và hoạch định về vấn đề XHH một số lĩnh vực như:kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế được coi là động lực cho sự phát triển của xãhội

TP.HCM là thành phố trẻ trung và hiện đại, là cửa ngỏ của đất phươngNam Từ rất sớm, nơi đây đã trở thành trung tâm thương mại sầm uất, giao

Trang 19

lưu với nước ngoài rất nhộn nhịp TP.HCM đã trở thành một trung tâm côngnghiệp,văn hóa, khoa học kĩ thuật, trung tâm giao dịch quốc tế, đầu mối giaothông quan trọng, một trung tâm du lịch và là khu kinh tế trọng điểm của phíaNam và của cả nước Theo chỉ tiêu tổng hợp trên trang web của thành phố giaiđoạn 2000-2006: nền kinh tế của TP.HCM đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác

mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tàichính Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực Nhà nước chiếm 33,3%, ngoàiquốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại,công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sảnchỉ chiếm 1,2%

Trong 5 năm qua (từ năm 2005), TP.HCM là đơn vị đi đầu trong nhiềulĩnh vực, đặc biệt là công tác XHH giáo dục XHH giáo dục đã khuyến khích

và tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế đầu tư nhằm đa dạng hóa cácloại hình đào tạo như trường dân lập, trường tư thục, trường có yếu tố nướcngoài Nhờ đó, XHH giáo dục ở TP.HCM bước đầu đã có những thành côngnhất định khi số lượng trường ngoài công lập đã gần 100 và chiếm khoảng 1/6lượng học sinh theo học Không chỉ là học sinh ở TP.HCM mà các tỉnh lâncận, các tỉnh miền Trung đều có học sinh theo học tại các trường này Nhờ đó,TP.HCM luôn được coi là điểm sáng đi đầu trong XHH giáo dục

Sau hơn 10 năm triển khai XHH chăm sóc sức khỏe nhân dân,TP.HCM hiện được đánh giá là một trong những địa phương gặt hái thànhcông chủ trương này Với 28 bệnh viện và hàng ngàn cơ sở hành nghề y dược

tư nhân, hệ thống y tế ngoài công lập này đang góp phần không nhỏ bảo vệsức khỏe người dân thành phố và các tỉnh lân cận Một số bệnh viện tạo được

uy tín như: bệnh viện Triều An, Hoàn Mỹ, bệnh viện đa khoa quốc tế Vũ Anh,bệnh viện Vạn Hạnh, bệnh viện liên doanh Pháp-Việt Về chuyên khoa

Trang 20

phải kể đến sự đóng góp của bệnh viện Phụ sản quốc tế Sài Gòn, bệnh việnTim Tâm Đức Theo Sở Y tế TP.HCM, tính đến cuối năm 2008, toàn thànhphố đã có hơn 13.000 cơ sở y dược hành nghề tư nhân với hơn 90 phòngkhám đa khoa và 28 bệnh viện tư nhân với tổng cộng gần 20.000 giường bệnhnội trú.

Ở địa hạt sân khấu, XHH sân khấu đã làm nên một sân khấu kịch tươimới và hấp dẫn nhất cả nước Ở sân khấu phía Nam, những cái tên sân khấu

XHH: Sân khấu 5B Võ Văn Tần, sân khấu Phú Nhuận, sân khấu IDECAP vàgần đây là sân khấu Hoàng Thái Thanh, thường xuyên xuất hiện trên trangvăn hóa nghệ thuật của nhiều phương tiện thông tin đại chúng bởi họ liên tục

có những vở diễn mới Chính sân khấu XHH góp phần mang lại đời sống tinhthần phong phú cho người dân, đồng thời làm nên diện mạo sân khấu đa hình,

đa sắc của TP Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung

1.2 Báo chí TP.HCM trong thời kì hội nhập

1.2.1 Sự tác động của kinh tế thị trường đối với hoạt động báo chí

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở giai đoạncao Nói đến kinh tế thị trường là nói đến hàng hóa Giai cấp tư sản có ý thứcrất rõ việc xây dựng, khai thác và sử dụng báo chí như một loại hàng hóa cókhả năng đem lại lợi nhuận cao

Lợi nhuận từ kinh doanh báo chí chủ yếu từ bán báo và bán quảng cáo.Báo càng có số lượng phát hành lớn, lợi nhuận càng cao Các doanh nghiệpcần quảng cáo sản phẩm hàng hóa và dịch vụ thường điều tra, tìm hiểu mức

độ, phạm vi ảnh hưởng của các sản phẩm báo chí và tìm tới các tờ báo có sốlượng công chúng đông để hợp đồng đăng, phát quảng cáo Quảng cáo trongnhiều trường hợp đó chính là sự đầu tư mang lại hiệu quả cao Các chủ báocũng hiểu điều mà các doanh nghiệp, các nhà sản xuất cần ở họ Chính vì vậy,

Trang 21

bất cứ chủ báo nào cũng nỗ lực tìm cách nâng số lượng phát hành càng caocàng tốt và các thành viên của tòa soạn cũng ý thức rõ về vấn đề cốt tử này.

Thị trường báo chí là nơi diễn ra quá trình mua bán sản phẩm báo chí,thực hiện những hợp đồng quảng cáo hoặc những cam kết tài trợ để thông qua

đó quảng bá cho thương hiệu các sản phẩm Việc ra đời thị trường báo chíluôn có ý nghĩa lớn với mỗi nền báo chí, đánh dấu bước phát triển của báochí

Là sản phẩm hàng hóa, báo chí chịu tác động của quy luật cạnh tranhnhư bất cứ loại hàng hóa nào khác Bán báo tức là bán thông tin Các loạicông chúng khác nhau có nhu cầu khác nhau về thông tin Mua báo tức là muagiá trị thông tin in, phát trên tờ báo hoặc trên chương trình phát thanh, truyềnhình Công chúng là khách hàng của báo chí, do vậy, họ có quyền lựa chọncho mình loại sản phẩm báo chí mà họ cảm thấy cần thiết, bổ ích

Tầm quan trọng của thông tin thị trường có tác động tích cực hay tiêucực tới hiệu quả của một nền kinh tế Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiệnnay, thông tin thị trường càng được nhìn nhận như một yếu tố quan trọnghàng đầu Các hoạt động thông tin kinh doanh trong thương mại là bước điđầu tiên mà bất cứ nhà doanh nghiệp nào cũng cần phải có trước khi triển khaicác hoạt động sản xuất kinh doanh Sự phong phú hay nghèo nàn của thôngtin thị trường phụ thuộc vào mức độ sôi động hay trầm lắng của bản thân nềnkinh tế

Những thành quả của công cuộc đổi mới trên đất nước ta chính là cơhội cho báo chí phát triển ngày càng mạnh mẽ Điều đó thể hiện ở số lượng,chất lượng sản phẩm báo chí và đội ngũ cán bộ báo chí Tất cả những điềutrên đã khiến cho diện mạo báo chí nước ta ngày càng phong phú và đa dạnghơn

Trang 22

Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tác độngmạnh mẽ và sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có báo chí

Nó tạo điều kiện để báo chí phát triển, tự đổi mới để thích ứng với yêu cầucủa cơ chế mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao quyền được thông tin củanhân dân và đã thực sự thu hút được nhiều người đọc, người xem hơn

Cùng với cuộc cách mạng công nghệ thông tin, sự phát triển đa dạng,sôi động của nền kinh tế thị trường không những tác động mạnh mẽ, toàn diệnđến hoạt động kinh tế, đời sống xã hội mà còn tác động to lớn đến hoạt độngbáo chí Việc giải phóng sức sản xuất, kích thích những năng lực tiềm năng,khuyến khích khát vọng làm giàu, tạo điều kiện cho mọi nhu cầu sản xuất,kinh doanh, làm kinh tế để tạo nên nhu cầu thông tin phong phú, làm xuấthiện thị trường thông tin, đưa báo chí nước ta từng bước trở thành một bộphận của kinh tế thị trường, thành một loại hàng hóa đặc biệt Cũng từ đó, yêucầu cạnh tranh báo chí xuất hiện và trở thành động lực quan trọng đối với báochí

Chủ trương xóa bao cấp về tài chính trong hoạt động báo chí, yêu cầubáo chí vừa đảm bảo vai trò vừa là một bộ phận công tác tư tưởng-văn hóacủa Đảng, vừa làm kinh tế theo luật định khiến mỗi tờ báo buộc phải khôngngừng đổi mới, xem đó là điều kiện để tồn tại Chính nhờ chủ động được vềtài chính, nhiều tờ báo và cơ quan báo chí trong cơ chế thị trường đã có điềukiện để cải thiện đời sống phóng viên, biên tập viên và mở rộng quan hệ giaolưu trong nước và ngoài nước, từng bước hiện đại hóa cơ sở thiết bị phươngtiện nghiệp vụ, đổi mới cách thức hành nghề để có thể hòa nhập với báo chíkhu vực và thế giới

Nền kinh tế thị trường ở nước ta đã tạo ra một môi trường báo chí gồmnhiều lĩnh vực phong phú, đa dạng, làm cho báo chí nước ta phát triển một

Trang 23

cách vượt bậc và đầy hứa hẹn Cơ chế thị trường đã mở rộng cánh cửa khotàng thông tin của cuộc sống làm cho thông tin như những dòng chảy từ khắpmọi ngõ ngách đổ về với báo chí, tạo điều kiện cho báo chí khai thác nguồnchất liệu dồi dào này Do tác động của sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường

đã làm cho chất lượng của báo chí nâng cao, số lượng ngày càng tăng, đadạng về chủng loại, phong phú về hình thức, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu củangười tiêu dùng báo chí

Cơ chế thị trường đã tham gia lựa chọn các nhà quản lý báo chí giỏi vànhững nhà báo có tài Cơ chế thị trường còn tạo điều kiện cho báo chí tháo gỡkhó khăn để phát triển, đã kích thích mạnh mẽ được tính chủ động, sáng tạocủa người làm báo và của cơ quan báo chí Báo chí trong cơ chế thị trường cósức hút mạnh mẽ, góp phần thỏa mãn những nhu cầu thông tin đa dạng, nhiềuchiều, cấp bách trên nhiều lĩnh vực mà người tiêu dùng đòi hỏi Thêm nữa,các phương tiện thông tin đại chúng luôn phải cạnh tranh nhau để chiếm được

sự quan tâm của công chúng Trong quá trình cạnh tranh thì những nội dungthông tin hấp dẫn luôn là những tài nguyên khan hiếm với bất kì một cơ quanbáo chí nào Mỗi tờ báo đều được cải tiến về nội dung và hình thức thông tin,cải tiến trong cách in ấn và trình bày, cố gắng nắm bắt nhu cầu bạn đọc, chủđộng phát hành nhanh và rộng, quan tâm hơn đến hiệu quả trực tiếp của hoạtđộng báo chí Các tờ báo phải luôn luôn quan tâm đến độc giả, phải tính đếnhiệu quả của việc sử dụng đồng vốn bỏ ra, phải quản lý và tính toán chặt chẽ

có hiệu quả các chi phí sản xuất, bố trí hợp lý và mở rộng việc tiêu thụ các sảnphẩm của mình

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nghề làm báo cũng trở thànhlực lượng sản xuất trực tiếp Trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa, báo chí cũng trở thành một loại hàng hóa nhưng là một loại hànghóa đặc biệt Nó phải trở thành món ăn tinh thần bổ ích, thiết thực của quần

Trang 24

chúng đang thực hiện công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Nếu để cho mặt tiêu cực của cơ chế thị trường lấn át, trướchết là để cho mặt trái của xu hướng thương mại chi phối, báo chí sẽ mất đi sứcmạnh của mình.

1.2.2 TP.HCM có những điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động báo chí

TP.HCM là đô thị lớn nhất cả nước với dân số khoảng 8 triệu người,chiếm hơn 9% dân số cả nước Là nơi hội tụ văn hóa đông tây, do ảnh hưởngcủa quá trình hình thành và phát triển, TP.HCM là nơi hội tụ nhiều dòng chảyvăn hóa, có nền văn hóa mang dấu ấn của người Việt Nam, người Hoa, Chăm,Khơ me rồi Sài Gòn trở thành một trong những trung tâm của cả nước đónnhận những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua các giai đoạn thăng trầmcủa đất nước

TP.HCM là đô thị có bề dày của hoạt động báo chí, xuất bản, là cái nôikhai sinh ra báo chí Việt Nam hiện đại Xưa nay, TP.HCM bao giờ cũng lànơi hội tụ đông đúc dân cư với quy mô đô thị lớn nhất của cả nước Cùng vớicác đô thị lớn Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ thì TP.HCM là mộttrong những đô thị nhiều tiềm năng của báo chí: đây là nơi có tốc độ phát triểnhoạt động báo chí-hoạt động truyền thông xếp hàng đầu cả nước Đây là nơibáo chí luôn có sự phát triển sôi động và mạnh mẽ Theo website của SởThông tin Truyền thông TP.HCM, thành phố hiện có 41 đơn vị báo chí thànhphố, 113 văn phòng đại diện báo chí Trung Ương và địa phương, mạng lướithông tấn xã, đài phát thanh, đài truyền hình Tại TP.HCM đã xuất hiện những

mô hình báo chí giống như những tổ hợp truyền thông Có những trường hợpmột tờ báo, tạp chí nhưng có thể xuất bản nhiều phụ trương, ấn phẩm bao gồm

cả tiếng Anh như: Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Thời báo kinh tế Sài Gòn Đây cũng

là nơi đặt trụ sở của các cơ quan báo chí có hoạt động mạnh mẽ, có số

Trang 25

phát hành, số công chúng lớn nhất cả nước như báo Tuổi Trẻ, báo ThanhNiên, báo Công an TPHCM và hàng loạt các hoạt động truyền thông của cáccông ty truyền thông với đầy đủ các lĩnh vực hoạt động trong ngành báo chítruyền thông ở nước ta.

Người dân thành phố thuộc mọi thành phần xã hội, mọi giới đều hầunhư có tính, có nếp quen thuộc trong đời sống thường nhật là đọc báo, xemtivi và nghe radio Nhịp sống ở đây năng động, trẻ trung, sôi nổi, luôn đòi hỏinhững món ăn tinh thần mới lạ, phong phú, đa dạng Khán giả tại TP.HCM cóthể xem được khá nhiều kênh truyền hình Chủ yếu là Đài Truyền hình ViệtNam-VTV, HTV, sau đó là một số đài địa phương lân cận như: Bình Dương,Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Tây Ninh chưa kể đến hệ thống truyền hình cáp,truyền hình kĩ thuật số với hàng trăm kênh truyền hình Hoạt động của HTV

là một dẫn chứng cụ thể và sinh động nhất cho hoạt động hiệu quả của truyềnthông Ở khu vực miền Tây Nam bộ, có thể nói HTV là Đài truyền hình có

tầm ảnh hưởng nhất Những chương trình như: Vượt lên chính mình, Ngôi nhà

mơ ước, Câu chuyện ước mơ, Vì ngày mai tươi sáng… tạo được sự đồng

thuận mạnh mẽ từ phía người xem HTV luôn chú trọng đến nhu cầu, thị hiếucủa người xem, luôn luôn đổi mới các chương trình của mình nhằm hướngđến mọi đối tượng công chúng: vừa là doanh nghiệp, vừa là người lao động,người cao tuổi, giới trí thức Chính vì lẽ đó, HTV luôn có một lượng khán giảđông đảo đủ mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi Chịu khó đầu tư, luôn mới mẻ làđiều mà công chúng ghi nhận từ hoạt động của HTV

1.2.3 Truyền hình trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân TP.HCM

Kể từ những năm cuối thập niên 30 của thế kỉ XX-thời điểm đánh dấu

sự ra đời của truyền hình ở Anh và Mỹ đến nay, vô tuyến truyền hình ngàycàng phổ biến và trở thành phương tiện truyền thông mang tính quần chúng

Trang 26

rộng rãi Kỹ thuật ngày càng hiện đại truyền hình trở thành phương tiệntruyền tin nhanh nhạy và hấp dẫn nhất Nếu như cách đây vài chục năm, sựphát triển tiến bộ của truyền hình được lấy mốc là thập kỉ, thì ngày nay chỉcòn được tính bằng năm, hay thậm chí bằng tháng Sự phát triển này khôngchỉ dựa vào những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ mà còn dựavào những thay đổi tâm lý thưởng ngoạn và việc cải tiến liên tục về mặt nộidung chương trình.

Bên cạnh các chức năng cơ bản của truyền hình như: chức năng thôngtin, chức năng tư tưởng, chức năng tổ chức-quản lý xã hội, chức năng giámsát xã hội thì chức năng phát triển văn hóa và giải trí của truyền hình là mộtchức năng quan trọng và ngày càng được xem trọng, đặc biệt là ở đô thị lớnnhư TP.HCM Ưu thế số một của truyền hình hiện nay đó là đáp ứng đượcmột cách cao nhất nhu cầu thông tin giải trí cho khán giả xem truyền hình.Chính vì thế, truyền hình trở thành phương tiện truyền thông quan trọng nhấttrong các phương tiện truyền thông hiện nay Ngoài việc cung cấp thông tin,truyền hình còn là phương tiện giải trí quan trọng đối với công chúng Thôngqua các chương trình truyền hình, khán giả vừa có điều kiện giải trí, vừa cóđiều kiện nâng cao kiến thức của mình trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội Nhờ vào khoa học-kĩ thuật công nghệ ngày càng hiện đại, người dân cóthể ngồi tại nhà và lựa chọn tất cả những kênh truyền hình mà họ yêu thích

Ca nhạc, phim ảnh tất cả những loại hình nghệ thuật đáp ứng nhu cầu giải trí

và nâng cao kiến thức của con người đều được đáp ứng trên truyền hình Đây

là một ưu điểm đặc biệt mà không phải loại hình báo chí nào cũng có được.Chính vì vậy mà mặc dù xuất hiện sau các loại hình báo chí khác nhưngtruyền hình đã nhanh chóng khẳng định được vị trí và có được một lượngkhán giả đông đảo

Trang 27

Ở TP.HCM, đa số cư dân thành phố đều sử dụng truyền hình và một sốphương tiện nghe nhìn phổ biến như đầu video, đầu đĩa hình, nên các phương tiệnnày thực sự là công cụ thông tin, truyền bá kiến thức cũng như nhu cầu giải trí của

số đông dân cư Công chúng TP.HCM có mức sống tương đối cao

so với công chúng ở các đô thị khác, nên có điều kiện quan tâm đến nhu cầugiải trí, văn hóa nghe-nhìn Văn hóa nghe-nhìn là một hình thức văn hóa mớicủa xã hội công nghiệp hiện đại, nó hình thành và phát triển dựa trên cơ sởcủa tiến bộ trong các kỹ thuật truyền thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình vàtrên cơ sở xu hướng tâm lý mong muốn sử dụng thời gian rảnh rỗi một cáchhiệu quả nhất cho sự nghỉ ngơi, thư giãn về tâm lý cũng như thể chất và đồngthời đem lại những lợi ích thiết thực khác Các hoạt động trong thời gian rỗingoài mục tiêu giải trí và nghỉ ngơi còn hướng đến mục tiêu học tập để khôngngừng nâng cao sự hiểu biết, đến sự thưởng thức văn hóa-nghệ thuật Sự thayđổi cách thức sử dụng thời gian rỗi đó phản ánh những đặc điểm văn hóa mớicủa xã hội, nó tạo ra tập quán, thói quen mới: học thêm, đọc báo, đọc sách,chơi thể thao, nghe xem băng, nghe radio, xem truyền hình

1.3 Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình là một xu hướng tất yếu

1.3.1 Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình đáp ứng yêu cầu phát triển của truyền hình

Bất cứ tờ báo nào hoạt động hiệu quả đều phải huy động đội ngũ cộngtác viên có chất lượng, huy động sự đóng góp năng lực, chất xám ngoài xã hội

để làm cho thông tin phong phú, đa dạng hơn

Từ khoảng những năm 90 của thế kỷ XX, các đài truyền hình từ Trungương đến địa phương đã tiến những bước dài trong mọi lĩnh vực, từ kỹ thuật,công nghệ truyền hình đến việc cải tiến nội dung chương trình, từ việc tăngthời lượng phát sóng, tăng kênh đến việc đổi mới bộ máy cơ cấu tổ chức nhân

Trang 28

sự Nếu so với báo viết thì báo hình ngày nay có những ưu thế quan trọng hơn: thông tin nhanh nhạy hơn với những hình ảnh cụ thể, tác động ngay vào

ý thức của người xem, nhiều trò chơi mang tính giải trí với những giải thưởngthiết thực, nhiều chương trình khoa học giáo dục có ích Cũng trên truyền hình, sựtham gia của cá nhân là khán giả đã trở nên phổ biến Họ có thể gửi bài trực tiếpcho các tờ báo, gọi điện phản ánh và gửi những đoạn phim tự quay về những vấn

đề nóng của xã hội nơi họ sinh sống Trong lĩnh vực truyền hình, cộng tác viênchính là nguồn nhân lực quan trọng góp phần cho

sự phát triển của XHH sản xuất các chương trình truyền hình

Truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng quan trọng đểgóp phần nâng cao dân trí, trình độ thẩm mỹ của nhân dân, cung cấp nhữngthông tin cần thiết và bổ ích trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Tuy nhiên, dotài lực và nhân lực còn nhiều thiếu thốn nên truyền hình chưa thể phát huy hếtvai trò của mình Hiện nay, với số lượng đông đảo các đài truyền hình Trungương, đài truyền hình khu vực, đài truyền hình địa phương và hàng trăm kênhtruyền hình khác đã đặt ra một vấn đề là với số lượng đông đảo các đài truyềnhình như vậy, việc xây dựng chương trình phong phú, hấp dẫn luôn là mộtthách thức lớn đối với những người làm truyền hình Nội dung các chươngtrình không tránh khỏi nghèo nàn, thiếu phong phú bởi trang thiết bị kỹ thuậtkhông đầy đủ, thiếu hiện đại, đội ngũ người làm công tác truyền hình cònthiếu và yếu về trình độ chuyên môn, việc chạy đua phát sóng với thời lượnglớn dẫn đến việc thiếu chương trình phát sóng Việc các đài tự mình sản xuất

và lấp đầy thời lượng phát sóng sẽ khiến tổng chi phí đội lên rất cao Thay vì

tự sản xuất, các đài có thể trực tiếp mua thành phẩm từ các cá nhân hay đơn vịkhác Khi liên kết với các nhà sản xuất bên ngoài, các đài truyền hình sẽ cắtgiảm được giá thành đầu tư, lại vừa có chương trình hay để phát Đây là một

Trang 29

ưu thế của XHH sản xuất các chương trình truyền hình mà các đài đã nhậnthấy và áp dụng trong thời gian qua.

XHH sản xuất chương trình truyền hình đã manh nha tại Việt Nam từnhững năm 90 của thế kỉ trước đến khi Việt Nam gia nhập WTO thì hoạt độngnày ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và mang hiệu quả rõ rệt Cùng vớiĐài Truyền hình Việt Nam (VTV), HTV đã đi tiên phong trong XHH sản xuấtchương trình

Ở các kì Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 25 và lần thứ 26, vấn

đề XHH sản xuất chương trình truyền hình cũng đã được bàn thảo và đi đến thốngnhất cách hiểu Khái niệm XHH truyền hình đã hàm chứa trong nó cả mục tiêu xâydựng một nền truyền hình hiện đại nhờ phát huy tối đa các nguồn lực của xã hội.Đây cũng là con đường để việc sản xuất các chương trình truyền hình đi theohướng chuyên môn hóa, chất lượng và năng suất hơn XHH hoạt động truyền hìnhxuất phát từ yêu cầu thực tiễn và là xu thế phát triển tất yếu của ngành truyền hình,đây là hướng đi hợp với qui luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Nhận định tính đúng đắn của hướng đi này, chủ trương XHH truyền hìnhđược Nhà nước hoàn toàn khuyến khích Thậm chí, nhằm đẩy nhanh quá trìnhXHH, Đài Truyền hình Việt Nam đã được giao nhiệm vụ là đơn vị chủ chốt thựchiện nhiệm vụ này

XHH truyền hình được hiểu là xã hội hóa hoạt động sản xuất chương trình Hiểu theo nghĩa rộng, XHH việc sản xuất các chương trình truyền hình

là huy động các nguồn lực của xã hội, bao gồm nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật chất từ các tổ chức, đơn vị, cá nhân ngoài đài truyền hình để sản xuất chương trình truyền hình Theo ý nghĩa này thì việc sản xuất sản phẩm

(chương trình) truyền hình đã diễn ra từ lâu, với các hình thức rất khác nhau

XHH sản xuất các chương trình truyền hình là tạo những điều kiện tốtnhất để các tổ chức, cá nhân có thể hợp tác bình đẳng với các đài truyền hình

Trang 30

để sản xuất các chương trình truyền hình XHH tận dụng được những nănglực tư duy của xã hội đóng góp vào việc sản xuất chương trình truyền hình vàtận dụng được những năng lực kinh tế của các thành phần kinh tế khác nhautrong xã hội có khả năng đóng góp cho truyền hình ở từng lĩnh vực khác nhau.Việc cạnh tranh giữa các chương trình của các đài truyền hình với các đối táckhông nằm trong hệ thống truyền hình hiện nay sẽ thúc đẩy việc nâng caochất lượng, hiệu quả các chương trình truyền hình Đây có thể coi là một tưduy mới, một cách làm mới, một bước tiến mới của những người làm truyềnhình ở nước ta hiện nay.

Như vậy, XHH sản xuất chương trình truyền hình đã huy động trí lực

và tài lực ngoài xã hội Đài vừa có kinh phí hoạt động và tái đầu tư, nâng caochất lượng chương trình phát sóng, vừa có nhiều chương trình hay, thiết thực

đó, việc liên kết sản xuất giữa nhà đài và các công ty truyền thông vừa đảmbảo tối ưu hóa hiệu quả thông tin tuyên truyền vừa tiết kiệm được nguồn lựcđầu tư từ ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, cốt lõi của vấn đề XHH sản xuấtcác chương trình truyền hình không phải là vì tiền mà là sự huy động nguồn

Trang 31

lực của các đơn vị, tổ chức, cá nhân không thuộc đài truyền hình tham gia vàoquá trình sản xuất chương trình, nhằm giảm bớt áp lực cho các đài cũng nhưtạo hiệu quả tốt cho các chương trình truyền hình Và tất cả những yếu tố nàyphải hướng đến một mục tiêu là nâng cao chất lượng các chương trình, thu hút

sự quan tâm và ủng hộ của công chúng

Tác động đến XHH sản xuất các chương trình truyền hình còn có cácyếu tố:

 Bản quyền chương trình truyền hình

Mua bản quyền là việc làm phổ biến hiện nay mà các đài truyền hình,các công ty truyền thông đang áp dụng Việc mua bản quyền từ các nước có

kỹ thuật sản xuất truyền hình tiên tiến là phù hợp với điều kiện còn thiếu kinhnghiệm ở truyền hình Việt Nam những năm qua Các nguyên nhân như: độingũ làm chương trình còn hạn chế, chủ yếu phục vụ cho công tác tuyêntruyền, chưa có kinh nghiệm trong sản xuất các chương trình truyền hình giảitrí, kinh phí sản xuất thấp, thiết bị kỹ thuật quá lạc hậu đã khiến cho cácchương trình truyền hình do các đài sản xuất chưa hấp dẫn, chưa thu hút được

sự quan tâm của công chúng Từ những chương trình mua bản quyền nướcngoài và thay đổi một số nội dung cho phù hợp với văn hóa của Việt Nam,truyền hình giải trí ở nước ta đã có sự thay đổi rõ rệt Các chương trình thựchiện theo công thức nước ngoài đã khiến công chúng háo hức theo dõi và hàohứng tham gia chương trình Theo dõi các chương trình truyền hình đang phát

sóng thu hút được nhiều sự quan tâm của công chúng hiện nay như: Chiếc nón kì diệu, Đi tìm triệu phú, Vietnam Idol, Bước nhảy hoàn vũ…đều có thể

nhận thấy các chương trình này được thực hiện hoàn toàn theo phiên bản nướcngoài từ hình hiệu, nhạc hiệu cho đến thiết kế sân khấu

Trong quá trình XHH sản xuất các chương trình truyền hình có hai mốiquan hệ chủ yếu được đặt ra với vấn đề bản quyền truyền hình là: quan hệ về

Trang 32

bản quyền giữa các đài truyền hình và các đơn vị ngoài đài truyền hình ởtrong nước; quan hệ về bản quyền truyền hình trong nước và truyền hình quốctế.

Hiện nay, trong sự phát triển đa dạng của các kênh truyền hình, cácchương trình truyền hình giải trí nở rộ thì việc bảo vệ bản quyền các chươngtrình truyền hình là vấn đề sống còn đối với nhà đài, kênh truyền hình và cáccông ty truyền thông Mỗi đài truyền hình phải tuân thủ nguyên tắc: bảo vệsản phẩm trí tuệ của mình Đơn vị nào làm ra chương trình thì phải đăng kýbản quyền để khẳng định bản quyền chương trình do mình sáng tạo và sảnxuất ra

Những chương trình truyền hình giải trí như trò chơi truyền hình làmảnh đất màu mỡ để các công ty truyền thông khai thác Thời điểm năm2004-2005 được coi là bùng nổ các chương trình trò chơi truyền hình với sựtham gia đông đảo các công ty truyền thông trên HTV Những chương trình:

Nhịp sống sôi động, Trúc Xanh, Nốt nhạc vui, Chung sức, Rồng Vàng, Vượt lên chính mình đều được mua bản quyền của các nước: Thái Lan, Mexico,

Malaysia Những chương trình này khi thực hiện tại Việt Nam phải phù hợpvới đất nước, con người, văn hóa Việt Nam Phần nội dung thường được điềuchỉnh, biến tấu cho phù hợp, còn cách thể hiện và hình thức thể hiện thì đúng

mẫu bản quyền quốc tế Ví dụ: chương trình Ai là triệu phú phát sóng trên

VTV3 sử dụng thống nhất từ hình hiệu, nhạc hiệu, vị trí người dẫn chươngtrình, vị trí người chơi, cách thiết kế sân khấu theo đúng phiên bản quốc tế,còn nội dung câu hỏi được thay đổi cho phù hợp với trình độ, cách thứcthưởng thức của công chúng Những chương trình này thường có giá bảnquyền trung bình 150.000 USD/năm, những năm về sau tiền bản quyền sẽtăng lên, cá biệt có những chương trình chào giá tại Việt Nam với giá rất đắt1,5 triệu USD/ sử dụng trong một năm Nếu mua bản quyền cộng với toàn bộ

Trang 33

trang thiết bị máy móc, camera chuyên dùng thì có thể lên đến gần 1 triệu

USD như trường hợp của chương trình Rồng Vàng mua trọn gói từ Tập đoàn

Kantana Thái Lan Như vậy, các chương trình trò chơi truyền hình đòi hỏi sựđầu tư khá cao về công sức lẫn kinh phí, HTV đã chọn cách mở rộng hợp tácthực hiện với các công ty, đơn vị có khả năng tìm kiếm và tổ chức thực hiện.Những công ty, đơn vị ngoài đài truyền hình sẽ góp thêm thế mạnh về sựchuyên nghiệp và năng động trong việc thương thảo mua bản quyền, xúc tiếnthực hiện chương trình lẫn tạo hiệu quả kinh tế Đài truyền hình vừa cóchương trình hay để phát, vừa đảm bảo quy định tuân thủ theo đúng phiên bảnnước ngoài mà chi phí để trả cho công ty truyền thông lại thấp hơn nhiều sovới chi phí đài truyền hình trực tiếp thực hiện

 Sự phát triển của quảng cáo trên truyền hình

Trên thế giới, quảng cáo xuất hiện ở khắp nơi, dưới mọi hình thức,bằng mọi phương tiện như: quảng cáo trên báo in, phát thanh, ngoài trời…Đặc biệt, quảng cáo trên truyền hình có sức hút lớn đối với những đơn vị kinhdoanh Ở Việt Nam, vào giữa những năm 80 của thế kỉ XX cùng với đườnglối đổi mới của Đảng, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xãhội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, quảng cáo thương mại bắt đầu cómặt trên các trang báo, tạp chí, trong các chương trình phát thanh truyền hình.Nguồn kinh phí quảng cáo dần dần tăng lên và đóng vai trò ngày càng quantrọng đối với các cơ quan báo chí

Quảng cáo là hoạt động kinh doanh chủ yếu của truyền hình, vì thế thờilượng phát sóng quảng cáo của các đài truyền hình trong nước ngày càng giatăng, các chương trình nhằm mục đích phục vụ và thu hút quảng cáo ngàycàng chiếm ưu thế Khi XHH sản xuất các chương trình truyền hình, quảngcáo còn phát triển hơn nữa theo xu thế chung và do sự năng động của các đơn

vị tham gia làm truyền hình Nhà quảng cáo sẵn sàng đầu tư cho các chương

Trang 34

trình có chất lượng cao hơn để thu hút đông đảo khán giả Qua truyền hình,hình ảnh các đơn vị quảng cáo đến với khán giả một cách thân thiện và đángtin cậy hơn.

Quảng cáo cũng chính là cách thức trao đổi quyền lợi khi nhà đài vàcông ty hợp tác sản xuất chương trình truyền hình Các công ty truyền thông

sẽ được hưởng quyền lợi quảng cáo từ việc tham gia vào sản xuất hay muabản quyền các chương trình nước ngoài Việc phát sóng quảng cáo để thu lợinhuận từ đó lấy kinh phí để sản xuất các chương trình truyền hình là việc làmrất phổ biến và hợp lý của hầu hết các đài truyền hình đang áp dụng hiện nay

 Sự tích hợp các phương tiện truyền thông

Con người của xã hội hiện nay là con người của xã hội hiện đại đã vàđang chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại thông tin từ các phương tiện truyềnthông khác nhau Một cá nhân có thể sẽ là công chúng của các phương tiệntruyền thông đại chúng khác nhau như: báo in, phát thanh, truyền hình, báomạng điện tử Một người, nhất là người có trình độ văn hóa cao thì sẽ khôngnhất thiết là công chúng của riêng một loại hình báo chí nào Từ đây, cùng với

sự xuất hiện của internet, báo in, báo hình, báo nói đã bước vào một cuộc đuamới- cuộc đua chinh phục công chúng truyền thông hiện đại

Đặc điểm của truyền thông hiện đại là sự tích hợp nhiều phương tiệntruyền thông khác nhau nhằm làm tăng hiệu quả truyền thông Một tờ báo invừa có trang tin điện tử, vừa kết hợp phát thanh và truyền hình Ngược lại mộtđài truyền hình cũng có thể xuất bản ấn phẩm báo in, có trang tin điện tửriêng Hoạt động liên kết sản xuất chương trình cũng bị tác động bởi các yếu

Trang 35

nhờ đến sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông khác, từ họp báo ra mắtchương trình, cho đến mời các báo tham gia bảo trợ thông tin, đưa tin trongsuốt thời gian chương trình phát sóng Người xem có cơ hội xem, nghe, nhìnnhững thông điệp của chương trình, những chuyện hậu kì, những thông tin vềchương trình, nhờ đó chương trình vẫn duy trì được độ “nóng” đối với ngườixem.

Hơn nữa, hầu hết các công ty đều có trang web riêng để cập nhật tin tức

và tình hình hoạt động, sản xuất của công ty Các chương trình truyền hìnhsau khi phát sóng nhanh chóng được công ty đưa lên web để những khán giảnào không xem được chương trình ngay thời điểm phát sóng có thể xem lại.Như vậy, người xem sẽ không bỏ lỡ chương trình mình yêu thích Không chỉđưa chương trình lên web của mình, các công ty còn liên kết với các trang tinđiện tử, truyền hình online để đưa chương trình lên Đặc biệt là các chươngtrình văn hóa, nghệ thuật luôn nhận được sự quan tâm của đông đảo côngchúng Kèm theo những thông tin về chương trình là các video clip liên tụcđược cập nhận trên các trang báo mạng Chính vì thế “sức nóng” của cácchương trình luôn được cộng hưởng thêm, chương trình đạt tỉ suất người xemcao

1.3.3 Đối tượng tham gia vào xã hội hóa sản xuất chương trình

Công ty truyền thông-đối tượng trực tiếp tham gia XHH sản xuất chương trình truyền hình

Đảng và Nhà nước ta vẫn thừa nhận và khuyến khích tạo điều kiện, chophép báo chí hoạt động kinh tế-kinh doanh Thông tư số 19/2009/TT-BTTTTgiải thích hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình là hình thứchợp tác giữa một bên là đài truyền hình với một bên là đối tác liên kết Đối tácchính là tổ chức có tư cách pháp nhân, có đăng kí kinh doanh đang hoạt động

Trang 36

theo pháp luật Việt Nam tham gia hợp tác với đài truyền hình để tạo ra mộtphần hoặc toàn bộ sản phẩm liên kết.

Chủ trương XHH sản xuất chương trình truyền hình như một bướcngoặt mở ra thời cơ cũng như thách thức cho những nhà làm truyền hình tạiViệt Nam Khi Nhà nước có chủ trương XHH hoạt động truyền hình, cácdoanh nghiệp tư nhân vốn yêu thích ngành nghề này có cơ hội tham gia tíchcực Đón đầu xu hướng XHH, các công ty truyền thông ra đời ngày càngnhiều Họ mạnh dạn trong đầu tư, năng động trong cơ cấu và hoạt động Họ

bỏ vốn sản xuất chương trình để đổi lấy quảng cáo và kinh doanh thươngquyền quảng cáo Trong cuộc hợp tác này, nhà đài vừa giảm được chi phí sảnxuất vừa đảm bảo được chương trình phát sóng Ngân sách Nhà nước dànhcho các đài chỉ đủ đáp ứng nhiệm vụ chính trị trong khi nhu cầu thông tin, giảitrí của người dân ngày càng cao nên xu thế XHH truyền hình là hướng điđúng trong giai đoạn hội nhập Nhiều chương trình ra đời (chủ yếu là cácchương trình giải trí, văn nghệ) từ sự liên kết này Màn ảnh nhỏ vốn đã thuhút người xem, nay lại càng phong phú hơn Những chương trình thuộc thể

loại trò chơi đầu tiên trên truyền hình: Chuyện nhỏ, Rồng Vàng, Vượt lên chính mình, Đi tìm ẩn số, Ai là ai, Chiếc nón kì diệu do các công ty truyền

thông thực hiện đã thổi bùng một luồng sinh khí mới cho truyền hình Nối tiếpthành công của những những chương trình này, hàng loạt các chương trình tròchơi truyền hình khác đã ra đời và phủ sóng rộng khắp, trở thành một trongnhững chương trình ăn khách của nhà đài

Các công ty truyền thông là những đơn vị năng động trong cơ chế thịtrường, biết thu hút nguồn nhân lực có trình độ, biết cách đầu tư những trangthiết bị hiện đại Họ biết cách đón đầu xu hướng, thị hiếu nghe nhìn của khángiả, biết khán giả cần gì và muốn gì ở một chương trình truyền hình Thêmvào đó, họ có khả năng thực hiện chương trình ngày càng chuyên nghiệp với

Trang 37

chất lượng và nội dung khá ấn tượng phù hợp để phát sóng tại các đài truyềnhình trong cả nước Lĩnh vực hoạt động của các công ty truyền thông baogồm: xây dựng và sản xuất chương trình truyền hình, sản xuất phim truyềnhình, sản xuất phim quảng cáo trên truyền hình (TVC), khai thác, trao đổiphim truyện nước ngoài, cung cấp các sự kiện truyền hình trực tiếp trongnước và quốc tế, tổ chức sự kiện, xây dựng giải pháp thị trường trọn gói thôngqua truyền thông, thiết kế và nhận diện thương hiệu…

Những công ty truyền thông đi tiên phong trong XHH sản xuất chươngtrình truyền hình có thể kế đến: Công ty cổ phần truyền thông Việt Ba, Công

ty BHD (Hãng phim Việt), Công ty Tổ hợp thị trường Hoàng Gia Việt Nam,Công ty cổ phần TV Cộng (TV Plus), Công ty quảng cáo Đất Việt, Công tyTNHH Đầu tư và Quảng cáo Cát Tiên Sa, Công ty Lasta Số lượng kênhtruyền hình càng phát triển, số chương trình càng tăng lên thì sự tham gia sảnxuất chương trình truyền hình của các công ty càng tăng lên Sự có mặt củacác công ty đã làm phong phú và đa dạng các chương trình truyền hình Cáccông ty ngoài đài tổ chức sản xuất từ nội dung kịch bản chương trình cho đếnphần hậu kì hay kết hợp với một bộ phận thuộc đài để thực hiện các khâutrong quá trình sản xuất

Vai trò của HTV trong hoạt động liên kết

Báo chí truyền thông nước ta trước những năm đổi mới thực hiện chứcnăng tuyên truyền chính trị-tư tưởng là chính Sau khi đổi mới, nền kinh tếchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và báochí truyền thông cũng hoạt động trong cơ chế đó có sự quản lý của Nhà nước

Chủ trương XHH được đưa vào thực hiện ở các lĩnh vực văn hóa, nghệthuật, thể thao đã thu được những kết quả đáng mừng Đối với truyền hình,XHH chỉ nên dừng ở khâu sản xuất chương trình truyền hình nhằm đảm bảo

“báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu của đời sống xã hội, là

Trang 38

cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, xãhội nghề nghiệp và là diễn đàn của nhân dân” theo đúng quy định của LuậtBáo chí năm 1989 và Luật Báo chí sửa đổi năm 1999.

Trong hoạt động liên kết sản xuất chương trình, đối tượng quản lý sảnxuất các chương trình do công ty truyền thông hợp tác thực hiện phải là cácđài truyền hình XHH đem lại cho đài các chương trình phong phú, đa dạngnhưng nếu không được thẩm định chặt chẽ về định hướng, tư tưởng, nội dung,chất lượng rất có thể sẽ xảy ra những sai sót Vì vậy, đối tượng quản lý sảnxuất các chương trình truyền hình đầu tiên chính là các nhà quản lý, lãnh đạođài Ngày 1/3/2005, trong Hội nghị sơ kết hai năm thực hiện Thông báo kếtluận 162 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về công tác lãnh đạo, quản lý báo chícũng đã nhấn mạnh tăng cường quản lý báo chí trong tình hình hiện nay.Trong đó, vấn đề XHH hoạt động truyền hình đã được khẳng định là một chủtrương đúng, phù hợp với xu hướng phát triển của truyền hình Tuy nhiên, cácchương trình được thực hiện, sản xuất với các đối tác vẫn phải đảm bảo cácyêu cầu cơ bản của sản phẩm văn hóa có chất lượng nội dung và tính thẩm mỹcao Công tác biên tập phải được các đài thực hiện nghiêm túc

Vì vậy, để có được những chương trình hấp dẫn, được công chúng đónnhận đối tượng trực tiếp là các nhà sản xuất, các doanh nghiệp sản xuấtchương trình cần hợp tác chặt chẽ với các đài truyền hình để có động tháithăm dò nhu cầu công chúng trước khi sản xuất Mặt khác, đài cũng cầnkhuyến khích các đơn vị tham gia, hợp tác sản xuất các chương trình để thuhút thêm lượng khán giả và tăng sức hấp dẫn của phương tiện truyền thôngđang được công chúng yêu mến hàng đầu này

Trang 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Truyền hình những năm gần đây đã phát triển nhanh chóng, đáp ứngngày càng cao nhu cầu của công chúng hiện đại HTV tuy là một đài địaphương, trực thuộc Ủy ban Nhân dân TPHCM nhưng là đài có hoạt độngtruyền hình sôi nổi, các chương trình đa dạng, phong phú, đáp ứng được mụctiêu tuyên truyền các đường lối, chính sách của Đảng, các mục tiêu kinh tế xãhội của TPHCM, góp phần nâng cao dân trí, nâng cao đời sống văn hóa tinhthần của người dân HTV với hai kênh phát sóng quảng bá là HTV7 và HTV9

là đài có ảnh hưởng khá lớn đến công chúng trong thành phố và các tỉnh lâncận trong khu vực XHH sản xuất chương trình truyền hình trên sóng HTVcũng không nằm ngoài quy luật phát triển của nền kinh tế năng động và hoàntoàn phù hợp với xu hướng phát triển của truyền hình hiện nay

Chương 1 đã chỉ ra những điều kiện thuận lợi để XHH sản xuất chươngtrình được thực hiện sớm nhất ở HTV như: TP.HCM là địa phương có kinh tếphát triển đa ngành, đa nghề; có hoạt động báo chí sôi nổi nhất cả nước, đờisống văn hóa tinh thần đa dạng, nhu cầu thưởng thức văn hóa, giải trí củangười dân thành phố cao nhất cả nước, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật sôinổi… Hơn nữa, trong những năm qua, TP.HCM cũng là đơn vị đi đầu tronghoạt động XHH ở nhiều lĩnh vực như: giáo dục, y tế, sân khấu Điều đó chothấy XHH đã huy động và tận dụng được nhân lực và tài lực của toàn xã hộitham gia Những thành công của những lĩnh vực đó tạo tiền đề cho XHH sảnxuất chương trình truyền hình

Những yếu tố tác động đến XHH sản xuất chương trình như: chi phísản xuất, vấn đề bản quyền truyền hình, quảng cáo, sự liên kết giữa cácphương tiện truyền thông cũng đã được đề cập đến Trong phạm vi nghiêncứu của đề tài, luận văn đã tập trung làm rõ đối tượng tham gia trực tiếp vào

Trang 40

XHH sản xuất chương trình hiện nay là các công ty truyền thông, đối tượngtham gia quản lý sản xuất là đài truyền hình Các công ty truyền thông lànhững đơn vị năng động trong cơ chế thị trường, biết thu hút nguồn nhân lực

có trình độ, biết cách đầu tư những trang thiết bị hiện đại Chính vì thế, cáccông ty truyền thông có khả năng thực hiện chương trình ngày càng chuyênnghiệp với chất lượng và nội dung khá ấn tượng phù hợp để phát sóng tại cácđài truyền hình trong cả nước Như vậy, XHH sản xuất chương trình truyềnhình đã huy động trí lực và tài lực ngoài xã hội Đài vừa có kinh phí hoạtđộng và tái đầu tư, nâng cao chất lượng chương trình phát sóng, vừa có nhiềuchương trình hay, thiết thực để phục vụ khán giả tốt hơn Trong hoạt độngliên kết sản xuất chương trình, Đài truyền hình có vai trò quan trọng trongcông tác biên tập, thẩm định, đánh giá nội dung, chất lượng của các chươngtrình truyền hình do công ty truyền thông sản xuất

Những nghiên cứu tổng kết được từ chương 1 là cơ sở để phân tích sâuhơn thực trạng các chương trình truyền hình được XHH ở khâu sản xuất trênsóng HTV, sự tham gia của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, HoaHồng Vàng qua sản phẩm truyền hình từ năm 2008 đến năm 2010

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w