Được sự đồng ý của cán bộ hướng dẫn là Tiến sĩ Trần Ngọc Châu, người viết đã thống nhất chọn đề tài “Việt hóa các chương trình thiếu nhi trên kênh truyền hình HTV3” để tìm hiểu, phân tíc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN
“VIỆT HÓA” CÁC CHƯƠNG TRÌNH THIẾU NHI
TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH HTV3
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN
“VIỆT HÓA” CÁC CHƯƠNG TRÌNH THIẾU NHI
TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH HTV3
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01
Người hướng dẫn khoa học: TS.Trần Ngọc Châu
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
0.1 Lý do chọn đề tài 7
0.2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 8
0.3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
0.5 Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu 13
0.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 14
0.7 Bố cục của luận văn 15
Chương 1 “VIỆT HÓA” CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THIẾU NHI – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 1.1 Vấn đề “Việt hóa” chương trình truyền hình 16
1.1.1 Khái niệm “Việt hóa” 16
1.1.2 “Việt hóa” chương trình truyền hình 17
1.1.3 Những khía cạnh kỹ thuật của vấn đề “Việt hoá” chương trình truyền hình 21
1.1.4 Các mức độ “Việt hoá” 23
1.2 Những khía cạnh đặc thù về đối tượng thiếu nhi trong xã hội truyền hình 25
1.3 Chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi ở Việt Nam 35
1.4 Chương trình mua bản quyền nước ngoài 38
1.5 Vấn đề chất lượng chương trình truyền hình 39
1.6 Tiểu kết 42
Chương 2 KHẢO SÁT NỘI DUNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH “VIỆT HÓA” DÀNH CHO THIẾU NHI TRÊN KÊNH HTV3 2.1 Tổng quan về kênh HTV3 44
2.1.1 Giới thiệu Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) 44
2.1.2 Các thể loại chương trình chính trên kênh HTV3 45
Trang 42.1.3 Hợp tác giữa HTV và TVM để phát triển chương trình trên kênh HTV3 46
2.2 Các hình thức “Việt hóa” chương trình truyền hình 50
2.2.1.Các chương trình “Việt hóa” đơn giản 50
2.2.2 Các chương trình “Việt hoá” một phần 65
2.2.3.Các chương trình “Việt hoá” toàn phần 74
2.3 Tiểu kết 81
Chương 3 ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH “VIỆT HÓA” DÀNH CHO THIẾU NHI TRÊN KÊNH HTV3 3.1 Đề xuất nâng cao chất lượng chương trình 85
3.1.1 Xây dựng chiến lược phát triển kênh trên quan điểm hội nhập quốc tế 85
3.1.2 Tiếp nhận văn hoá có chọn lọc 88
3.1.3 Định hướng phát triển chương trình theo hướng giáo dục kết hợp giải trí 89
3.1.4 Đa dạng hóa nội dung 90
3.1.5 Tăng cường đào tạo đội ngũ sản xuất chương trình 92
3.1.6 Nghiên cứu điều chỉnh lịch phát sóng phù hợp với công chúng thiếu nhi 93
3.1.7 Xây dựng và áp dụng định dạng về phong cách ngôn ngữ phù hợp với công chúng mục tiêu 96 3.1.8 Tổ chức nghiên cứu đối thủ để học hỏi và cạnh tranh 97
3.2 Kiến nghị 98
3.2.1 Kiến nghị đối với nhà sản xuất truyền hình 98
3.2.2 Kiến nghị đối với xã hội 101
3.2.3 Kiến nghị đối với các bậc cha mẹ 105
3.3 Tiểu kết 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 5MỞ ĐẦU
0.1 Lý do chọn đề tài
Thời gian qua, trong xu thế phát triển chung của xã hội truyền hình ViệtNam, số lượng kênh truyền hình và chương trình truyền hình dành cho thiếunhi ở nước ta nói chung và ở HTV nói riêng cũng đã tăng lên rõ rệt Đối tượngcông chúng truyền hình là thiếu nhi chiếm giữ một góc quan trọng trong xãhội truyền hình và đòi hỏi những chương trình có tính chuyên biệt rất cao Đểđáp ứng được yêu cầu đó, một bộ phận không nhỏ các chương trình truyềnhình dành cho thiếu nhi ở Việt Nam là những chương trình mua bản quyềnnước ngoài Thực tế này giúp các đài truyền hình có thể nhanh chóng đa dạnghóa về thể loại, nội dung lẫn hình thức thể hiện cho các chương trình truyềnhình dành cho thiếu nhi để đáp ứng nhu cầu thực tế trong khi chờ đợi sựtrưởng thành về kinh nghiệm thiết kế chương trình truyền hình thiếu nhi củađội ngũ làm truyền hình trong nước HTV3 - kênh truyền hình dành cho thiếunhi duy nhất của HTV cũng không ngoại lệ
Các chương trình nước ngoài nổi tiếng phát sóng trên kênh HTV3 đượcmua bản quyền từ nhiều nước trên thế giới như Hàn Quốc, Trung Quốc, NhậtBản, Mỹ… nhằm tạo thêm nhiều sự lựa chọn, nhiều sản phẩm tinh thần đáp ứngnhu cầu thưởng thức của trẻ em Việt Nam HTV cũng như nhiều đơn vị sản xuấtchương trình truyền hình khác đã chọn lựa, nhập khẩu nhiều chương trình truyền
hình hay, nổi tiếng với đủ các thể loại: phim hoạt hình (Đôrêmon– Chú mèo máy
đến từ tương lai, Ben 10, Thám tử lừng danh Conan, Thủ lĩnh thẻ bài,…), trò
chơi truyền hình, Phim truyền hình (Tuổi ô mai, Tây du ký, Cẩm nang của Ned,
…), phim điện ảnh (Kỷ băng hà, Mèo siêu quậy Garfield, Garfield ở thế giới thực, Horton và thế giới tí hon, Barbie – Công chúa thiên
Trang 6nga,…) các chương trình giải trí dành cho thiếu nhi (Vui cùng Giggles, Các
em bé Teletubbies, Vũ điệu hồn nhiên, Yoga cho bé, Học làm giàu, Giới trẻ vào bếp,…), chương trình giải trí truyền hình thực tế (Con đã lớn khôn)… Các
chương trình được chọn mang tính giải trí lành mạnh, có đặc điểm, màu sắcvăn hóa phù hợp với Việt Nam Hơn nữa, vì là những sản phẩm hướng tới đốitượng khán giả nhỏ tuổi nên quá trình “Việt hóa” được thực hiện rất cẩn trọng
về ngôn từ và được biên tập một cách kỹ lưỡng, đảm bảo về mặt nội dungmang tính giáo dục cũng như giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt, đồngthời giúp trẻ em dễ tiếp thu, phù hợp với khả năng nắm bắt và thấu hiểu củatrẻ em
Chính vì vậy, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu cách chọn chương trình, xử
lý chuyển đổi ngôn ngữ gốc sang tiếng Việt một số chương trình nước ngoài(đa số đã được quốc tế hoá sang tiếng Anh) dành cho thiếu nhi càng cần thiếthơn Được sự đồng ý của cán bộ hướng dẫn là Tiến sĩ Trần Ngọc Châu, người
viết đã thống nhất chọn đề tài “Việt hóa các chương trình thiếu nhi trên
kênh truyền hình HTV3” để tìm hiểu, phân tích về sự hấp dẫn cũng như tác
động của các chương trình dành cho đối tượng khán giả là thiếu nhi Trước khiquyết định thực hiện đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu tài liệu lưu trữ về những đềtài, công trình nghiên cứu đã thực hiện trước đây với đề tài tương tự
0.2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Để thực hiện đề tài chúng tôi đã tham khảo, nghiên cứu một số luận án,luận văn, sách, dự án, công trình nghiên cứu,… liên quan đến vấn đề ở cáckhía cạnh: các thể loại chương trình dành cho thiếu nhi hiện nay, tâm lý khángiả, nhất là khán giả trẻ em và cả những người cùng xem với các em, văn hóaxem truyền hình,…
Trong giới hạn tìm hiểu của tác giả, đã có khá nhiều công trình nghiêncứu về vấn đề “Việt hoá” mảng tin tức Việc chuyển dịch tin quốc tế vào tiếng
Trang 7Việt đã được Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), cơ quan thông tấn duy nhất và
chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng) và Nhà nước Việt Nam, thựchiện ngay từ những năm đầu thành lập Có thể nói, cơ quan này đã đạt đượcnhững thành công to lớn về thực hành chuyển dịch tin quốc tế sang tiếng Việtphục vụ cho nhiều cơ quan truyền thông đại chúng khác và đặc biệt là phục vụcông chúng báo chí Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua Gần đây, một số
cơ quan truyền thông như Đài tiếng nói Việt Nam (Đài TNVN), Đài truyền
hình Việt Nam (Đài THVN), Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (Đài
PT-TH Hà Nội), báo Nhân dân và một số tờ báo khác, ngoài việc sử dụng tin quốc
tế đối nội của TTXVN, đã tự tổ chức chuyển dịch tin quốc tế theo nhu cầu
riêng
Bắt đầu từ năm 1995, PGS TS Vũ Quang Hào đã có ý tưởng nghiêncứu quá trình chuyển dịch sản phẩm báo chí từ nước ngoài sang tiếng Việt Ýtưởng này đã được thể hiện thông qua việc hướng dẫn một số luận văn cửnhân ngành báo chí học Và trong khuôn khổ lúc bấy giờ, PGS TS Vũ QuangHào mới chỉ tập trung hướng dẫn sinh viên nghiên cứu về chuyển dịch tin thếgiới chứ chưa mở rộng ra các loại sản phẩm báo chí khác
Đầu tiên phải kể đến luận văn của Hồ Hương Giang, Quá trình xử lí tin
quốc tế vào Việt Nam và sự thể hiện trên mặt báo của tin quốc tế, Khoa báo
chí, Đại học tổng hợp Hà Nội, 1995; Trần Long Hải, Dịch tin – Tin dịch, Khoa Báo chí, Đại học tổng hợp Hà Nội, 1996; Mai Thị Thanh Hà, Vấn đề thể hiện
tin quốc tế bằng tiếng Việt trên Đài truyền hình Việt nam, Khoa Báo chí, Đại
học KHXH và NV, 1998; Cai Ánh Nguyệt, Vấn đề biên tập tin quốc tế tiếng
Việt ở Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, Khoa Báo chí, Đại học KHXH
và NV, 1998; Nguyễn Phương Anh, Sự tương đồng và khác biệt giữa ngôn
ngữ tin quốc tế và ngôn ngữ tin trong nước, Khoa Báo chí, Đại học KHXH và
NV, 2000; Nguyễn Thị Thu Hường, Chuyển dịch tin quốc tế và sự
Trang 8thể hiện tin quốc tế bằng tiếng Việt trên báo Nhân Dân, Khoa Báo chí, Đại
học KHXH và NV, 2000
Những công trình nói trên tuy đã nói đến quá trình “Việt hóa” nhưngvẫn xem xét trên phương diện “Việt hóa” tin tức Phải chờ đến khóa luận tốt
nghiệp của Nguyễn Thị Thanh Hằng thực hiện vào năm 2011 đề tài Cách xử
lý Tạp chí Công chúa sang tiếng Việt từ bản gốc tiếng Anh Princess, Khóa
luận tốt nghiệp ngành báo chí, Đại học KHXH&NV Hà Nội, do PGS TS VũQuang Hào hướng dẫn, một loại sản phẩm báo chí khác ngoài tin mới đượcnghiên cứu xem cách thức chuyển dịch và “Việt hóa” như thế nào để phù hợpvới đối tượng công chúng Việt Nam Tuy nhiên đây là đề tài về “Việt hoá”trên báo in, tác giả đã đưa ra được một số kết luận về nội dung, cách trình bàycũng như mức độ, thể loại bài được “Việt hoá” sao cho phù hợp với độc giả làthiếu nhi ở Việt Nam
Tuy nhiên vấn đề mà Thanh Hằng nghiên cứu ở đây vẫn là sản phẩmbáo in Về sản phẩm truyền hình (ngoài tin quốc tế bằng hình) hiện chưa cócông trình nghiên cứu nào đề cập đến Luận văn của chứng tôi là tài liệu đầutiên xem xét vấn đề “Việt hóa” sản phẩm truyền hình từ nước ngoài vào ViệtNam
Một số đề tài về truyền hình đã được tác giả tham khảo:
- Khóa luận tốt nghiệp ngành báo chí Các chương trình thiếu nhi trên
HTV hiện nay của tác giả Nguyễn Viên An, thực hiện năm 2007, Đại
học KHXH&NV TPHCM đã đề cập đến một số chương trình dànhcho thiếu nhi trên HTV, những điểm mạnh và chưa đạt được của một
số chương trình dành cho thiếu nhi
- Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí, Đại họcKHXH&VN Hà Nội của tác giả Trần Thị Hồng Vân năm 2011 với
Trang 9của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, LASTA, Hoa Hồng Vàng
từ năm 2008 đến năm 2010 trên sóng Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh cũng là một tài liệu tham khảo chi tiết về vấn đề hợp
tác sản xuất chương trình truyền hình để phát triển các kênh củaHTV trong những năm gần đây
Như vậy, chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề “Việt hóa” cácchương trình truyền hình, nhất là chương trình dành cho thiếu nhi Cái mới vàcái không trùng lắp của luận văn này chính là việc phân tích quy trình tổ chứcsản xuất, “Việt hoá” cho đến phát sóng các chương trình truyền hình dành chothiếu nhi như thế nào để vừa có ý nghĩa giáo dục vừa mang tính giải trí caocho nhóm đối tượng đặc biệt này
0.3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là tìm hiểu về “Việt hoá” của các chương trìnhthiếu nhi mua bản quyền nước ngoài phát sóng trên kênh HTV3 Không chỉtìm hiểu về nội dung các chương trình, tác giả còn tìm hiểu các quy trình đánhgiá, mua bản quyền và những cách thức “Việt hoá” một chương trình truyềnhình hiện nay
Trên cơ sở đó, tác giả chọn khảo sát, phân tích, đánh giá 5 chương trìnhthiếu nhi mua bản quyền nước ngoài đã được “Việt hoá” ở nhiều thể loại, hìnhthức thể hiện khác nhau đã phát sóng trên kênh HTV3: 1 Hoạt cảnh:
Teletubbies – Các em bé rối Teletubbies, 2 Phim hoạt hình: Đôrêmon – Chú mèo máy đến từ tương lai, 3 Chương trình giải trí: Yoga cho trẻ em, 4 Giáo
dục: Dạy từ vựng tiếng Anh, 5 Truyền hình thực tế (Reality): Con đã lớn
khôn.
Sau khi khảo sát, tác giả tiến hành đánh giá chất lượng, hiệu ứng củatừng chương trình đối với khán giả trẻ em, đặc biệt là ý kiến của phụ huynh
Trang 10(có thể là ông bà, cha mẹ, những người cùng xem (co-watchers) với con,cháu…) về những chương trình “Việt hóa” này.
Trên cơ sở thực tiễn đó tác giả đưa ra một số đề xuất về cách chọn và tổchức sản xuất “Việt hóa” và giờ phát sóng các chương trình nước ngoài trênkênh HTV3 cho phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi Sau cùng là một vài kiến nghị
để các chương trình “Việt hoá” có thể kết hợp hài hòa giữa tính giáo dục vàtính giải trí, kết hợp giữa sự bảo tồn văn hóa dân tộc về bản sắc với sự hộinhập quốc tế một cách uyển chuyển, phù hợp với đối tượng thiếu nhi ViệtNam
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề “Việt hoá” các chươngtrình truyền hình nước ngoài trên một một nhóm sản phẩm truyền hình dànhcho nhóm công chúng đặc thù là thiếu nhi phát sóng trên kênh HTV3 của ĐàiTruyền hình TP.HCM
Với điều kiện nghiên cứu giới hạn, trong hàng trăm chương trình nướcngoài đã được “Việt hóa” và phát sóng mới trên kênh HTV3 từ năm 2010 đến6/2012, chúng tôi chỉ chọn khảo sát chính 5 chương trình nhận được nhiều sựquan tâm, ảnh hưởng xã hội cũng như phản hồi từ phía khán giả (Qua khảo sátthực tế và thống kê khán giả xem Đài của HTV) với nhiều thể loại khác nhaunhư:
1. Hoạt cảnh: Teletubbies – Các em bé rối Teletubbies
2. Phim hoạt hình: Đôrêmon – Chú mèo máy đến từ tương lai
3. Chương trình giải trí: Yoga cho trẻ em
4. Giáo dục: Dạy từ vựng tiếng Anh
5. Truyền hình thực tế (Reality): Con đã lớn khôn
Trang 11Công chúng khảo sát của luận văn tập trung chủ yếu vào đối tượng là trẻ
em lứa tuổi mầm non từ 3 - 6 tuổi, phụ huynh và những chương trình thiếu nhi
có yếu tố nước ngoài đã được “Việt hóa” và phát sóng trên kênh truyền hìnhHTV3 từ năm 2010 đến 6/2012 Sau khi thống kê chương trình; phỏng vấncác nhà sản xuất và khán giả; thu thập thông tin từ các trang mạng và xét mức
độ ảnh hưởng của từng chương trình ra toàn xã hội (ảnh hưởng của hình ảnhcác nhân vật trong phim tới mọi sinh hoạt của các em như Siêu nhân, NgườiNhện, Robot trái cây, xe hơi, người máy biến hình, Ben 10, các em béTeletubbies, mèo máy Đôrêmon…) Hiện nay chúng ta dễ dàng tìm thấy hìnhảnh của những nhân vật tưởng tượng này trên quần áo, giày dép, cặp sách, vởhọc sinh, viết, thước, thú nhồi bông, đồ chơi bằng nhựa… Qua khảo sát chúngtôi sẽ lấy ý kiến của phụ huynh về ảnh hưởng của các nhân vật trong cácchương trình thiếu nhi hiện nay đến các em
0.5 Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận báo chí truyềnthông, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệpthông tin - báo chí; các tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, báo và tạp chítrong và ngoài nước, các tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu vềtruyền thông đối với trẻ em Luận văn vận dụng những nghiên cứu thực tế cácchương trình truyền hình “Việt hoá” dành cho thiếu nhi phát sóng trên kênhHTV3
Để việc nghiên cứu đề tài có cơ sở và phương pháp luận vững chắc,luận văn sử dụng 3 phương pháp chủ đạo:
- Phương pháp thống kê (định lượng)
- Phương pháp phỏng vấn Tác giả đã thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi(an-ket, diary) đối với các em thiếu nhi, phụ huynh và phỏng vấn sâu cácchuyên gia, các nhà quản lý, những người trực tiếp thực hiện chương trình…
Trang 12- Phương pháp phân tích (đối chiếu, so sánh; định tính)
0.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Thành công và cũng là kết quả nghiên cứu mới của tác giả chính là ởchỗ đã tìm ra một số quá trình riêng của HTV3 trong việc “Việt hoá” chươngtrình truyền hình cho thiếu nhi, kết hợp hài hòa giữa tính giáo dục và tính giảitrí, kết hợp giữa sự bảo tồn văn hóa dân tộc về bản sắc, với sự hội nhập quốc
tế một cách uyển chuyển, phù hợp với đối tượng thiếu nhi Và không chỉ vớiđối tượng thiếu nhi ở thành phố Hồ Chí Minh mà theo tôi nghĩ còn có thể ápdụng cho thiếu nhi ở thủ đô Hà Nội và một số thành phố khác Nhận thấy đây
là một đề tài hay và là vấn đề được nhiều người quan tâm, người viết hy vọngviệc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần cho sự tìm hiểu, nghiên cứu về công táctruyền bá thông tin mà đối tượng nghiên cứu là chương trình nước ngoài đãđược “Việt hóa” trên kênh HTV3 Sau khi nghiên cứu, khảo sát, chúng tôi sẽtiến hành đánh giá chất lượng, hiệu ứng đối với khán giả, đặc biệt là phụhuynh đối với những chương trình nước ngoài dành cho thiếu nhi Việt Namhiện nay
Qua những ưu khuyết điểm của từng chương trình truyền hình được
“Việt hóa” trên kênh HTV3, tác giả tổng kết và đưa ra những đề xuất, kiếnnghị tối ưu nhất đóng góp cho những người trực tiếp tạo ra sản phẩm truyềnhình dành cho thiếu nhi Từ đó phát huy tính sáng tạo cũng như nâng cao khảnăng tự sản xuất của đội ngũ làm truyền hình cho thiếu nhi Việt Nam, nhữngngười trực tiếp làm ra những sản phẩm thuần Việt cho khán giả nhỏ Việt Nambên cạnh các chương trình nước ngoài được “Việt hoá” Điều này cũng làhướng phát triển tất yếu của truyền hình dành cho thiếu nhi khi mà ngày càng
có nhiều kênh truyền hình dành cho thiếu nhi trong và ngoài nước ra đời cạnhtranh như BiBi, Cartoon Network (CN), Disney Chanel, Disney Junior…
Trang 13Trên cơ sở thực tiễn đó chúng tôi sẽ đề cập và kiến nghị về cách chọn và
tổ chức sản xuất “Việt hóa”, các chương trình nước ngoài trên kênh HTV3 chophù hợp với lứa tuổi thiếu nhi, cập nhật được những tiến bộ về công nghệ sảnxuất chương trình truyền hình của thế giới nhưng vẫn bảo đảm phù hợp vớiphong tục tập quán của người Việt Nam
Chúng tôi cũng hy vọng đề tài sẽ đóng góp được một vài tư liệu, tài liệutham khảo cho các cơ quan truyền thông, đặc biệt là những người đang côngtác trong lĩnh vực truyền hình, truyền thông và những ai quan tâm đến lĩnhvực này
0.7 Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được tổ chức thành 3chương
Chương 1 tập trung trình bày một số vấn đề lý thuyết và thuật ngữ liênquan đến vấn đề “Việt hoá” chương trình truyền hình, đặc biệt là chương trìnhtruyền hình dành cho lứa tuổi thiếu nhi, làm cơ sở những nội dung phân tích,khảo sát và đề xuất giải pháp ở những chương tiếp theo
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát cụ thể về nội dung và cách thức tổchức “Việt hoá” các chương trình truyền hình thiếu nhi trên kênh HTV3 củaĐài Truyền hình TP.HCM Cụ thể, chúng tôi trình bày kết quả khảo sát 5chương trình truyền hình có mức độ “Việt hoá” khác nhau
Trên cơ sở lý thuyết ở chương 1 và kết quả khảo sát ở chương 2, chương 3của luận văn trình bày các ý kiến đề xuất và kiến nghị nâng cao chất lượng các
“Việt hoá” các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi trên kênh
HTV3
Trang 14Chương 1
“VIỆT HÓA” CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO THIẾU NHI – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
1.1 Vấn đề “Việt hóa” chương trình truyền hình
1.1.1 Khái niệm “Việt hóa”
“Việt hóa” thật ra là cách nói thông dụng để chỉ quá trình điều chỉnh,biến đổi một đối tượng có nguồn gốc nước ngoài sao cho phù hợp với môitrường ngôn ngữ, xã hội, văn hóa Việt Nam Quá trình này, trước hết, có liênquan đến hiện tượng bản địa hóa ngôn ngữ (language localization)
Theo Wikipedia, bản địa hóa ngôn ngữ là giai đoạn tiếp theo của mộtquá trình lớn hơn diễn ra trước đó (quá trình quốc tế hóa), bao gồm việc dịchsản phẩm và giúp sản phẩm đó thích ứng văn hóa (đối với quốc gia, khu vực,hoặc nhóm cụ thể) cho thị trường riêng biệt Bản địa hóa ngôn ngữ không chỉ
là một hoạt động dịch thuật thuần túy, mà nó liên quan đến việc nghiên cứutoàn diện về nền văn hóa bản địa để giúp sản phẩm thích ứng một cách chínhxác với nhu cầu địa phương”
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam nhận diện hiện tượng “Việt hóa”dưới góc độ giao lưu ngôn ngữ, xem đó là mức độ cao nhất (kết quả cuốicùng) của quá trình nhập hệ các yếu tố ngôn ngữ được vay mượn vào tiếng
Việt Ví dụ, từ commissaire của tiếng Pháp được “Việt hóa” thành từ “cẩm”,
“cò” (cảnh sát trưởng thời Pháp thuộc), từ chambre “Việt hóa” thành “săm”,
từ enveloppe “Việt hóa” thành “lốp”, từ gare “Việt hóa” thành “ga”, … Bản
thân tiến trình đi từ yếu tố xa lạ tới yếu tố được người Việt chấp nhận, trong
đó vừa có sự đồng hóa yếu tố xa lạ (quá trình thuận), vừa có sự biến đổi cácđặc điểm cấu trúc của bản thân tiếng Việt để đủ tiềm năng vật chất hấp thụ yếu
tố xa lạ (quá trình ngược – tự biến đổi) Trên thực tế, “Việt hóa” không
Trang 15chỉ là quá trình diễn ra ở bình diện giao lưu ngôn ngữ, mà còn diễn ra ở nhiềulĩnh vực khác, cần được nhận diện như là một quá trình tiếp biến văn hóa(acculturation) Sự tiếp xúc, giao thoa giữa các nền văn hoá luôn luôn diễn ratrong quá trình phát triển của nhân loại Đó là một nhu cầu tất yếu, một quyluật của phát triển Trong quá trình giao thoa văn hóa, có thể xảy ra hiện tượngcác yếu tố của nền văn hoá này thâm nhập vào nền văn hoá kia hoặc nền vănhóa này vay mượn các yếu tố của nền văn hoá kia rồi cải biến điều chỉnh chophù hợp dẫn đến sự tiếp biến văn hóa.
Như vậy, “Việt hóa” không chỉ đơn thuần là quá trình chuyển dịch ngônngữ cho một đối tượng nào đó đến từ bên ngoài nền văn hóa – ngôn ngữ ViệtNam, mà còn là quá trình biến đổi đối tượng ấy sao cho phù hợp với năng lựcthấu cảm văn hóa và nhu cầu của người Việt, phù hợp với môi trường văn hóa– nhân văn Việt Nam mà vẫn giữ được những nét tiêu biểu của đối tượng gốc
1.1.2 “Việt hóa” chương trình truyền hình
Để đáp ứng nhu cầu giải trí ngày càng cao của khán giả truyền hình,nhiều Đài truyền hình cũng như các nhà sản xuất chương trình truyền hìnhViệt Nam đã chọn phương án mua bản quyền và nhập khẩu nhiều chươngtrình truyền hình hay, nổi tiếng với đủ các thể loại: trò chơi truyền hình, phimtruyện, phim hoạt hình, các chương trình giải trí, truyền hình thực tế,…Những chương trình truyền hình này thường được thiết kế và sản xuất vớimức độ chuyên nghiệp rất cao và với sự đầu tư công phu về công nghệ tổchức, sản xuất Đây cũng là những chương trình đã giành được sự thành côngtrên thị trường truyền hình ở các nước, thu hút được người xem truyền hìnhvới tỷ lệ theo dõi rất cao Việc mua bản quyền và nhập khẩu các chương trìnhtruyền hình nước ngoài có những khía cạnh hấp dẫn về nội dung văn hóa lẫn
về phương diện tài chính đối với các đài truyền hình trong nước vốn chưa theokịp trình độ sản xuất truyền hình so với các nước phát triển
Trang 16Tuy nhiên, những chương trình “Việt hóa” phải lệ thuộc nhiều vào địnhdạng chương trình nên đôi khi những người thực hiện gặp khó khăn trong việc
xử lý sự khác biệt giữa văn hóa Việt Nam với những nền văn hóa khác trên thếgiới Điều chỉnh chương trình để phù hợp với văn hóa Việt Nam nhưng vẫngiữ được khung thiết kế (format) của chương trình là một thử thách lớn đốivới người tham gia sản xuất chương trình truyền hình dạng này, vì chắc chắnnhững ràng buộc trong cam kết bản quyền với đối tác nước ngoài sẽ khôngcho phép có những thay đổi tùy tiện làm biến dạng format chương trình
Thông số đầu vào quan trọng cho quá trình cải biến này chắc chắn là cácvấn đề liên quan đến xu thế toàn cầu hóa văn hóa hiện nay – một xu thế đanghậu thuẫn cho sự phát triển xuyên biên giới của nhiều giá trị văn hóa địaphương, đưa những giá trị ấy đến nhiều vùng đất mới và nhờ đó mà được biếtđến, được chia sẻ Các sản phẩm truyền hình cũng không nằm ngoài xu thế
đó Tuy nhiên, cũng nên nhất trí đôi điều về quan điểm toàn cầu hóa văn hóatrong bối cảnh hiện nay
Văn hóa là một thực tế cực kỳ đa dạng của đời sống nhân loại Bứctranh văn hóa nhân loại là một bức tranh được ghép nên bổ nhiều mảng màusắc, hình ảnh, đường nét đầy khác biệt bản sắc của các nền văn hóa dân tộc,văn hóa khu vực, văn hóa quốc gia Nhưng bối cảnh xã hội hiện đại đang tạo
ra những tiền đề về kỹ thuật và xã hội hết sức đặc biệt để các bộ phận văn hóa
ấy tiến nhanh đến tương lai mới của nền văn hóa nhân loại – tương lai toàncầu hóa văn hóa
Toàn cầu hóa tạo điều kiện hiện đại hóa các nền kinh tế và văn hóa lạchậu, dân chủ hóa các nền chính trị, thúc đẩy việc trao đổi lao động và tiêu thụhàng hóa giữa các quốc gia Một người dân nước này dùng sản phẩm, ăn món
ăn, uống thức uống, dùng thuốc men, mặc quần áo do những dân tộc khác làm
ra Cả thế giới đồng thời được xem một chương trình tivi, xem một bộ phim,
Trang 17nghe một bản nhạc… Điều đó cũng có nghĩa là, một sản phẩm có chất lượngtốt được làm ra ở một dân tộc nào đó sẽ nhanh chóng được tiêu thụ ở nhiềunước trên toàn thế giới.
Toàn cầu hóa là xu thế phù hợp quy luật phát triển của xã hội loài người.Trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản đã hàmchứa quan niệm về toàn cầu hóa như là con đường giải phóng con người thoátkhỏi những ràng buộc địa phương, dân tộc, liên hệ với nền văn minh toàn thếgiới và hưởng thụ tất cả những thành quả vật chất và tinh thần mà nhân loạisáng tạo ra Trong Hệ tư tưởng Đức, các ông viết: "Chỉ có như vậy thì các cánhân riêng rẽ mới được giải thoát ra khỏi những khuôn khổ dân tộc và địaphương khác nhau của mình, mới có được những liên hệ thực tiễn với nền sảnxuất (kể cả sản xuất tinh thần) của toàn thế giới và mới có được khả nănghưởng thụ nền sản xuất của toàn thế giới về mọi lĩnh vực (tất cả những sángtạo của con người)"
Về khía cạnh văn hóa, toàn cầu hóa là quá trình xích lại gần nhau giữacác nền văn hóa vốn trước đây hoàn toàn khác biệt nhau.Toàn cầu hóa văn hóakhông có nghĩa là xóa bỏ văn hóa dân tộc để tiếp thu một nền văn hóa khác cótính chất "mẫu mực" cho toàn thế giới Thực ra, không thể có một nền văn hóamẫu mực như vậy Trái lại, toàn cầu hóa là sự mở rộng biên giới văn hóa từphạm vi địa phương, dân tộc, quốc gia ra phạm vi toàn thế giới Toàn cầu hóatạo điều kiện giới thiệu những thành tựu, những nét độc đáo của văn hóa dântộc, xuất khẩu những sản phẩm văn hóa của dân tộc này cho các dân tộc khác,đồng thời tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác đểlàm giàu, làm phong phú nền văn hóa dân tộc mình
Kết quả của toàn cầu hóa văn hóa là, một mặt, duy trì, củng cố, hiện đạihóa văn hóa dân tộc, phát huy bản sắc của văn hóa dân tộc, mặt khác, tiếp thutất cả những gì quý giá, tiên tiến, hiện đại của các dân tộc khác để làm giàu
Trang 18Và cũng trong kịch bản mới mẻ ấy của văn hóa nhân loại, vấn đề giữgìn và bảo vệ các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc cũng được đặt ra như mộtthách thức to lớn Những di sản văn hóa vật chất và tinh thần của một dân tộcđược bảo vệ và tôn vinh không chỉ vì lợi ích của dân tộc đó, mà còn vì lợi íchcủa cả nhân loại Bằng chứng là không ít người, kể cả những nhà chính trị,khoa học, văn hóa từ các dân tộc văn minh đã rất quan tâm tìm hiểu, nghiêncứu, thưởng thức những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc khác, kể
cả những dân tộc lạc hậu hơn dân tộc mình Một thế giới đa dạng về văn hóamới thực sự là môi trường sống lý tưởng, tốt đẹp của nhân loại
Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộngsản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Đảng) đã nêu rõ: “Xây dựng nền văn hoá ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong
đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho vănhoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nềntảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Kếthừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dântộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hộidân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người,với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao Phát triển,nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; khẳng định và biểu dươngcác giá trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranhchống những biểu hiện phản văn hoá Bảo đảm quyền được thông tin, quyền
tự do sáng tạo của công dân Phát triển các phương tiện thông tin đại chúngđồng bộ, hiện đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời, phục vụ có hiệu quả
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
Những phân tích vừa nêu cho thấy, trong lĩnh vực truyền thông nóichung và truyền hình nói riêng, việc du nhập những chương trình truyền hìnhnước ngoài vào Việt Nam cũng là một trong những cách giúp khán giả tiếp
Trang 19cận văn hoá các nước khác nhau trên thế giới một cách công khai, có chọn lọc,kiểm duyệt của các cơ quan, đơn vị chức năng có thẩm quyền.
Như vậy, có thể nói, “Việt hóa” chương trình truyền hình là hoạt độngchuyển dịch ngôn ngữ và cải biến nội dung trong giới hạn cam kết về bảnquyền để vừa phù hợp với môi trường ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam vừakhông làm biến dạng format của chương trình truyền hình bản quyền
1.1.3 Những khía cạnh kỹ thuật của vấn đề “Việt hoá” chương trình truyền
hình
Những chương trình được chọn mua bản quyền thường là nhữngchương trình có giá trị giáo dục tốt, bổ ích và ít nhiều được biết đến tại nơi sảnxuất chương trình hay kênh phát sóng chính của chương trình Số lượngchương trình mới của các Đài, đơn vị sản xuất hàng năm thì rất nhiều nhưng
để chọn mua một chương trình còn phải dựa trên nhiều yếu tố: tiêu chí củakênh phát sóng, nguồn tài chính, nơi có thể phát sóng chương trình…
Sau khi đã hoàn tất thủ tục mua bản quyền chương trình thì phần chuyểnngữ, biên tập lại nội dung chương trình đóng vai trò quan trọng không kém.Đội ngũ biên dịch, biên tập viên chịu trách nhiệm thực hiện phần hậu kỳ củachương trình phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền hình, nắm bắt đượcngôn ngữ truyền hình và đặc biệt là ngôn ngữ phù hợp với trẻ em – đối tượngchính của kênh
“Việt hóa” chương trình nước ngoài dễ dàng bộc lộ những yếu kém vềtay nghề, kém chuyên nghiệp cũng như những hạn chế về công nghệ sản xuất
và đôi khi không mang lại hiệu quả cũng như tác động xã hội như mongmuốn Đặc biệt là khán giả cũng như giới chuyên môn thường trông đợi rấtnhiều với những chương trình đã và đang nổi tiếng, được nhiều người trên thếgiới quan tâm, theo dõi Đội ngũ thực hiện đôi khi bị hạn chế về khả năng
Trang 20sáng tạo, khả năng diễn đạt ý tưởng cũng như khả năng thao tác kỹ thuật, kỹxảo sao cho phù hợp với phong cách và nội dung của chương trình.
Vì vậy, chương trình được chọn để “Việt hóa” thường là chương trìnhgiải trí, có đặc điểm, văn hóa phù hợp với Việt Nam Và “Việt hóa” cái gì?
“Việt hóa” như thế nào? Việc này sẽ được quyết định dựa trên nội dung củachương trình, sự quan tâm của xã hội (độ hot – sức hấp dẫn của chương trìnhgốc) ở từng thời điểm Việc này nhằm giúp khán giả có thể hiểu trọn vẹn ý tứcủa những người thực hiện cũng như tạo thêm sự hấp dẫn của chương trình.Hiện nay có 3 cấp độ “Việt hóa” đang được thực hiện đối với các chương trìnhmua bản quyền nước ngoài tại HTV, người viết tạm gọi là: “Việt hóa” đơngiản, “Việt hóa” một phần và “Việt hóa” toàn phần
Về xử lý kỹ thuật, các tệp (tập tin) chương trinh̀ cần “Viêṭhóa” sẽ đượctách riêng thành tệp video (hình ảnh) và audio (âm thanh) Đồng thời được taọ
ra môṭphiên bản đ ộ phân giải thấp (low-res), có dung lượng nhỏ giúp thuậntiêṇ về mặt thời gian cho viêcc̣ trao đổi n ội dung cần “Việt hóa” Tệp low-resnày được và gửi tới bô c̣phâṇ “Viêṭhóa” Bô c̣phâṇ “Viêṭhóa” sẽ dựa trên t ệpnày để thực hiện dịch phụ đề hoặc đọc thuyết minh Tệp phu c̣đềhoăcc̣ tệp tiếngthuyết minh se đươcc̣ gưi tra vềbô c̣phâṇ ky thuâṭva thưcc̣ hiêṇ ghep vơi t
video gốc để hoàn thành một chương trình “Viêṭhóa”
Quy trinh̀ k ỹ thuật này cóthểđư ợc thực hiện hoàn toàn tư c̣đôngc̣ vàcó ưuđiểm lớn làhê c̣thống không can thiêpc̣ gìvào t ệp video gốc nên chất lươngc̣ củachương trình được đảm bảo , không bị suy giảm do quy trình xử lý của hệthống
Quy trình “Việt hóa” được thực hiện trên dây chuyền sản xuất truyềnhình kỹ thuật số nên cho phép các bộ phận khác nhau có thể tham gia vào quytrình can thiệp đến file chương trình thông qua các bước trung gian rồi hợpnhất trên hệ thống lữu trữ NAS trước khi chuyển lên máy chủ Bô c̣phâṇ kiểm
Trang 21tra nội dung chương trình đươcc̣ trang bi hệ c̣thống giám sát v ề hình ảnh , âmthanh đểđanh gia chất lươngc̣ nôịdung và ky thuâṭ(quan trọng nhất là âm
thanh) các chương trình trước khi phát sóng
chuẩn phát sóng của file đã được lên lịch phát sóng Môṭchương trinh̀ đươcc̣đánh giálàđaṭse ̃đươcc̣ chuyển từ hê c̣thống lưu trữNAS (Network attachedstorage) vào server (máy chủ) phát sóng để sẵn sàng phát sóng theo lịch phát sóng
Hình 1: Sơ đồ tổng quát mô tả nguyên lý hoạt động của trung tâm sản xuất chương trình truyền hình số
1.1.4 Các mức độ “Việt hoá”
a)“Việt hóa” đơn giản
“Việt hóa” ở cấp độ đơn giản nhất là dịch từ ngôn ngữ gốc của chươngtrình nước ngoài sang tiếng Việt (bao gồm các hình thức thể hiện: thuyếtminh, lồng tiếng, phụ đề) Vì là mức độ đơn giản nhất nên các chương trìnhđược “Việt hóa” ở cấp độ này cũng bộc lộ một số hạn chế về diễn đạt ý nghĩa,
về ngôn từ Đơn giản hơn có thể nói là dịch thuật thuần túy, dịch nguyên bản,
Trang 22trình này thường là được giữ nguyên bản gốc, trừ một số hình ảnh nhạy cảmquá hay không phù hợp để phát sóng ở Việt Nam thì mới cần phải biên tập, cắt
b)“Việt hóa” một phần
Đây là dạng “Việt hóa” phức tạp hơn, bao gồm việc sản xuất các đoạntóm lược, giới thiệu ở phần đầu và cuối chương trình bằng tiếng Việt để khángiả tiện theo dõi Có thể gọi đây là cấp độ “Việt hóa” một phần Phần đầu vàcuối chương trình sẽ có người dẫn chương trình dẫn chuyện giúp khán giảhình dung những nội dung sẽ xem và có thể lồng thêm vào là nội dung nhữngphần đã xem Tùy theo thể loại và nội dung chương trình mà chọn người dẫnchương trình cho phù hợp, hấp dẫn đối tượng sẽ xem chương trình
Chương trình “Em yêu khoa học” dành cho thiếu nhi thì sẽ có 1 hoặc 2
bạn thiếu nhi dẫn chương trình (ví dụ: bé Quỳnh Như,…); hoạt cảnh Các em
bé rối Teletubbies thì được lồng vào những phóng sự về hoạt động của các em
thiếu nhi Việt Nam như chơi đồ chơi, đi học, đi công viên cùng nhiều chương
Trang 23trình giáo dục về màu sắc, con số cho các em một cách sinh động (phiên bảngốc thì những phóng sự này là giới thiệu hoạt động của các em bé nướcngoài); Chương trình Khám phá thì giới thiệu cho các em về nơi, địa danh sẽđược xem hay nhân vật giao lưu với các em trong chương trình.
c)“Việt hóa” toàn phần
Cấp độ “Việt hóa” toàn phần hiện nay có thể hiểu là mua định dạngchương trình nước ngoài, sản xuất trong nước với phiên bản chương trình đãđược nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp về mặt giáo dục, văn hóa, truyềnthống, thị hiếu thẩm mỹ… của đối tượng khán giả là thiếu nhi Việt Nam Đây
là cấp độ phức tạp nhất nhưng cũng mang lại hiệu quả cao nhất, chất lượngchương trình hấp dẫn nhất hiện nay
Ví dụ như các chương trình Dạy từ vựng tiếng Anh (Anh Quốc), chương trình truyền hình thực tế Con đã lớn khôn (Nhật Bản), phim truyện Gia đình
phép thuật (Hàn Quốc)… Đây là những chương trình được thực hiện dựa trên
định dạng chương trình được mua từ nước ngoài và thực hiện phần quay, diễnviên và những người thực hiện đa số là người Việt Nam, có một số ít người là
cố vấn cho chương trình hay chuyên gia giám sát định dạng, cộng tác viênngười nước ngoài cùng tham gia để đảm bảo một số tiêu chí nhất định mà chủ
sở hữu bản quyền mong muốn
1.2 Những khía cạnh đặc thù về đối tượng thiếu nhi trong xã hội truyền hình
Trẻ em là đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của xã hội Côngước về Quyền trẻ em (Luật quốc tế để bảo vệ Quyền trẻ em) quy định trẻ em
là những người dưới 18 tuổi và được định nghĩa một đứa trẻ là "mọi conngười dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởngthành được quy định sớm hơn." Công ước đề ra các Quyền cơ bản của con
Trang 24thông qua năm 1989 Công ước đã được hầu hết các nước trên thế giới đồngtình và phê chuẩn Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trênthế giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày20/2/1990 Từ đó đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã đạt nhiềutiến bộ trong việc đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc gia.
Thiếu niên nhi đồng nước ta đã và đang được Đảng, Nhà nước, các đoànthể và toàn xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đã được thể hiệnbằng luật định
Thấm nhuần tư tưởng của Bác “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu lànhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đãthường xuyên quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.Năm 1991, Quốc hội đã thông qua “Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻem” Ngày 30-5-1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) đã ra Chỉ thị
số 38CT/TW “Về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” Ngày
30-7-1998, Thường vụ Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ra thông tri “Về việc tăng cườnglãnh đạo công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” Và, ngày 28/6/2000,
Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 55-CT/TW "Về tăng cường sự lãnh đạocủa các cấp ủy Đảng cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻem" Đây là một sự nghiệp lớn lao và hệ trọng, nó đòi hỏi “các Đảng ủy, Ủyban thiếu niên nhi đồng, Đoàn thanh niên, ngành Giáo dục và các ngành, cácđoàn thể phải có kế hoạch thật cụ thể chăm sóc các cháu ngày càng khỏemạnh và tiến bộ Các tỉnh ủy, thành ủy cần phải phụ trách, đôn đốc việc nàycho có kết quả tốt…”
Cùng với một số luật khác như Luật phổ cập giáo dục tiểu học, Luật laođộng, Luật dân sự, Luật tố tụng hình sự… được ban hành và sửa đổi đềuquan tâm thích đáng đến quyền lợi của trẻ em Các bộ, ban ngành, Ủy ban
Trang 25nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện tốt các chương trình liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở các điểm chính:
- Nhà nước và toàn xã hội phải hỗ trợ cha mẹ và người chịu trách nhiệmnuôi nấng, chăm sóc trẻ để họ làm tròn trách nhiệm của mình
- Cộng đồng phải đảm bảo các chính sách, chế độ của nhà nước dànhcho trẻ Tham gia phong trào toàn dân bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, huyđộng các nguồn lực, vật chất và tình cảm sẵn có trong cộng đồng chăm lo chotrẻ em Phối hợp, đoàn kết bảo vệ trẻ em trước các nguy cơ ảnh hưởng sứckhỏe, tâm lý, nguy cơ bị xâm hại và tệ nạn xã hội
- Gia đình là môi trường đầu tiên chăm sóc và bảo vệ trẻ em Không cócha mẹ và người thân, đứa trẻ sẽ cảm thấy cô đơn và rất dễ bị lôi cuốn vào cácnguy cơ sa ngã, hư hỏng và đi vào con đường phạm tội Môi trường gia đìnhlành mạnh giúp trẻ em phát triển đầy đủ và hài hòa cả về thể chất và tinh thần,giúp cho việc hình thành nhân cách toàn diện của trẻ
Bên cạnh đó, tại kỳ họp Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh lần thứ
19, khóa VII, các đại biểu thống nhất chủ đề hành động trong năm 2011 là
“Năm vì trẻ em” Để đi đến việc thống nhất chủ đề này, các đại biểu tại kỳ họp
đã biểu quyết thông qua các báo cáo, tờ trình của Uỷ ban Nhân dân Thành phố
về xây dựng các khu vui chơi giải trí phục vụ trẻ em Thành phố cũng triểnkhai thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới và Đề án phổ cập giáo dụcmầm non cho trẻ 5 tuổi Tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻkhuyết tật…
Trẻ em như cây non cần được bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng chu đáo.Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ khi còn nhỏ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đốivới sự phát triển và trưởng thành của trẻ trong tương lai Nhiều nghiên cứukhoa học và thực tế đã chứng minh điều đó Việc nuôi dạy trẻ ngay từ khi mớisinh và những năm đầu đời sẽ giúp trẻ phát triển tốt nhất cả về thể chất, trí tuệ,
Trang 26nhân cách, phát huy tối đa mọi tiềm năng của trẻ Từ 0 đến 5 tuổi là giai đoạntrẻ phát triển rất nhanh và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển
và thành đạt của trẻ trong tương lai (1, tr.5)
Đặc biệt, trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo là đối tượng có đặc thù tâm sinh lýcần được những người làm chương trình truyền hình nghiên cứu cụ thể để có
cơ sở thiết kế và sản xuất các chương trình truyền hình thích hợp
Tại buổi tọa đàm “Giải pháp cải thiện khả năng học hỏi ở trẻ” ngày15/9/2011, các chuyên gia về dinh dưỡng cho biết từ khi còn trong bụng mẹcho đến hết 6 năm đầu đời là khoảng thời gian bộ não của trẻ hình thành vàphát triển đến mức 80% và đây cũng là thời gian não phát triển mạnh nhất.Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy phần não trước có vai trò rất quantrọng Não trước là trung tâm của sự thông minh và việc học hỏi ở mức độcao Có nhiệm vụ tập hợp quá trình suy nghĩ, lên kế hoạch và hoạt động của
cơ thể; là nền tảng của tiềm năng phát triển nhiều lĩnh vực quan trọng ảnhhưởng đến cuộc sống tương lai của trẻ Như vậy, ở giai đoạn tuổi mẫu giáo trẻ
em không chỉ phát triển mạnh về thể chất mà còn là giai đoạn quyết định sựphát triển của não bộ, định hình phần lớn tính cách và hoạt động về sau nàycủa trẻ Nếu được dạy học đặc biệt, trẻ mẫu giáo có khả năng lĩnh hội cáchành động ghi nhớ ý nghĩa dựa trên việc thiết lập các mối liên hệ giữa sự kiệncần nhớ với kinh nghiệm cũ đã có trong trí nhớ Hiệu suất ghi nhớ của trẻ phụthuộc vào việc người lớn hướng dẫn trẻ tổ chức quá trình tri giác những sựkiện cần nhớ (quan sát và chú ý có chủ định) và phụ thuộc vào các thao tác trí
óc như phân biệt, phân loại, xếp nhóm tạo ra chuỗi liên tưởng giữa các sự kiệncần nhớ (9, tr.191)
Trong khuôn khổ luận văn chuyên ngành Báo chí học, người viết sẽ tậptrung quan sát vấn đề sản xuất chương trình truyền hình dành cho trẻ em phátsóng trên kênh HTV3, đặc biệt là các em ở độ tuổi mẫu giáo, từ 3 đến 6 tuổi
Trang 27là trẻ em giai đoạn tuổi mẫu giáo của các em được xem là giai đoạn phát triển mạnh cả về thể chất lẫn trí tuệ.
Ngôn ngữ phát triển mạnh
Khả năng ngôn ngữ của trẻ 3-5 tuổi phát triển mạnh, bé nóinhiều, tham gia vào các cuộc thảo luận bằng thái độ nghiêm túc,đặt ra nhiều câu hỏi “tại sao” và “như thế nào” Trong vốn từvựng của bé bắt đầu có các từ vô nghĩa và từ “lóng” Bạn nêngiúp bé tìm hiểu một số khái niệm cơ bản như: số, kích thước,khối lượng, màu sắc, chất liệu, khoảng cách, thời gian và vị trí.(1, tr.173)
Tƣ duy dựa vào hình ảnh
Ở độ tuổi từ 3 đến 5, một bước ngoặc lớn đối với sự phát triển trítuệ của trẻ là tư duy dựa vào những hình ảnh của sự vật – hiệntượng đã có trong đầu, tư duy trực quan hình tượng Trẻ đã có thểtìm ra đặc điểm, thuộc tính của đồ vật không bằng sự tác độngtrực tiếp với vật đó mà bằng những phép thử, phép so sánh trong
óc Chỉ có các hình tượng sinh động cụ thể, rõ rệt mới gây nên sựchú ý theo dõi của trẻ, cho nên chúng thích nghe kể chuyện, xemtranh vẽ, xem hoạt hình hoặc múa rối (1, tr.174)
Khả năng ghi nhớ
Trẻ ghi nhớ đồ vật không theo thứ tự một cách máy móc mà nhớtheo mối liên hệ, ý nghĩa của sự việc Vì vậy, trong huấn luyện trínhớ cho trẻ, cách tốt nhất là giảng giải cho bé hiểu ý nghĩa và cácmối liên hệ giữa các sự vật, còn hơn là ghi nhớ máy móc màkhông hiểu về cái mình cần nhớ (1, tr.175)
Trang 28Phát triển tình cảm
Những tình cảm của đứa trẻ đối với những người khác dễ dàngđược trẻ em chuyển sang cả những nhân vật của các tác phẩmnghệ thuật, những truyện cổ tích, truyện kể: đứa trẻ thông cảmvới nỗi bất hạnh của cô bé Mũ đỏ không kém gì nỗi bất hạnh cóthực Đứa trẻ có thể nghe đi nghe lại nhiều lần cùng một câuchuyện, nhưng những tình cảm do câu chuyện đó gây ra không vìthế mà yếu đi, ngược lại còn trở nên mạnh hơn: đứa trẻ thâmnhập vào câu chuyện, bắt đầu tri giác các nhân vật trong truyệnnhư là người quen biết và những người thân của mình (15,tr.110)
Những nhân vật tích cực gây ra sự thông cảm đặc biệt của đứatrẻ, nhưng đôi khi đứa trẻ cũng có thể tiếc thương cho cả những
kẻ độc ác nếu như họ bị rơi vào hoàn cảnh rất xấu Tuy nhiênthông thường hơn cả là, trẻ em tức giận về những hành động củacác nhân vật tiêu cực, mong muốn bảo vệ nhân vật mà chúng yêuthích để chống lại các nhân vật tiêu cực Những tình cảm xuấthiện ở đứa trẻ từ một khán thính giả thụ động thành một ngườitham gia tích cực vào các sự kiện, lo sợ trước những sự kiện sắptới (15, tr.111)
là rất lớn Mỗi trẻ em tuổi mầm non là một chủ
Trang 29thể tích cực, sự phát triển của trẻ mang bản chất văn hóa – xã hội,
có tính duy nhất, phụ thuộc nhiều vào tình huống và là kết quảcủa quá trình nội tâm hóa những gì chúng trải nghiệm, học đượcnhờ sự tương tác với người khác (cha mẹ, người thân trong giađình, cô giáo, trẻ cùng lớp…) (1, tr.176)
Tuổi mầm non là giai đoạn đặc biệt quan trọng để phát triển cảmxúc, khám phá các mối quan hệ và là nền tảng để hình thành nhâncách của trẻ
Đến cuối thời kỳ tuổi mẫu giáo, đứa trẻ hiểu được ý nghĩa củaviệc thực hiện các chuẩn mực đạo đức trong hành vi của mình,cũng như trong việc chúng đánh giá những hành động của cácnhân vật trong sách Bé Bôria 5 tuổi sau khi nghe truyện ngắn
“Khúc xương nhỏ” của Lep Tônxtôi đã nói” “Nó thật đáng xấu
hổ, nó đã khóc Nó đã nói dối bố Như thế không tốt.” (15, tr.97)
Bé phân biệt đƣợc giới tính
Trẻ ở tuổi này đã nhận biết giới tính của mình và sẽ bắt chướcngười lớn cùng giới để thực hiện các hành vi, vai trò phù hợp Ví
dụ như bé gái thích mặc quần áo của mẹ, đi giày của mẹ, dùngson phấn, đeo túi xách của mẹ; bé trai lại bắt chước bố, đeo đồng
hồ, đội mũ của bố, tập sửa chữa những đồ vật trong nhà… (1,tr.176)
Độ tuổi mẫu giáo, bé tỏ ra khá hòa đồng khi vui chơi với mộtnhóm bạn Bé có thể hào hứng ngồi chơi cả ngày với cha mẹ lúc
2 tuổi thì đến tuổi này, bé thích tham gia vào một nhóm đônghơn Khả năng ngôn ngữ của bé cũng dần hoàn chỉnh Bé tìmthấy sự gần gũi, đồng cảm khi giao tiếp với các bạn cùng lứa tuổihơn là với bố mẹ (1, tr.177)
Trang 30Trẻ em là một đối tượng công chúng hết sức đặc thù trong xã hội truyềnhình Các nghiên cứu nghiêm túc về mối liên hệ giữa đối tượng trẻ em và xãhội truyền hình cho thấy, xem tivi và chơi game (trò chơi điện tử, trò chơi vitính) đều có lợi cho sự phát triển của trẻ nhưng nếu xem và chơi không đúngcách, tác hại sẽ khôn lường Xem tivi và chơi game có ý nghĩa khi trẻ thựchiện điều này có chừng mực và người lớn phải biết chọn chương trình phùhợp cho trẻ, đồng thời hướng dẫn cách tiếp cận kiến thức Nếu không, trẻ sẽ
có suy nghĩ và hành vi hoàn toàn lệch lạc (1, tr.219)
Ở trẻ 3 tuổi, cha mẹ cần đặt câu hỏi về những điều trẻ thấy trên màn ảnhtruyền hình, trên máy vi tính và trong sách, truyện giải trí Khi trẻ nói một từ,cha mẹ nên thêm từ khác vào Ví dụ như trẻ nhìn thấy con chó, phụ huynh nênthêm vào những đặc điểm khác như “chó đốm”, “chó sủa”… để góp phần chothế giới ngôn từ của trẻ thêm phong phú
Nên chọn chương trình ca nhạc phù hợp và động viên trẻ hát theo, múatheo, thay vì chỉ ngồi yên thụ động Nếu cần, cha mẹ cũng nên múa hát theocon Cũng cần chỉ cho trẻ biết màu sắc bằng cách chỉ vào những gì có trongtivi, trong game như “Con số đó là số mấy?”, “Cửa này hình chữ nhật hayhình tròn?”, “Đôi giày kia màu gì?”… Qua cách hướng dẫn này, trẻ sẽ mởrộng hiểu biết và có thể áp dụng kiến thức này vào thực tế (1, tr.220)
Khi con nảy ra những nghi vấn trong lúc xem hoặc chơi như: “Ai?”,
“Cái gì?”, “Tại sao?”, phụ huynh cần tỉ mỉ giải thích, nhất là việc tại sao nhânvật đó lại làm như vậy? Tại sao hai người trong phim lại cãi nhau, yêu thươngnhau… Trong lúc xem, cần khuyến khích trẻ nên làm theo những điều tốt vàngược lại Việc hướng dẫn bé trai làm cả những công việc của bé gái và ngượclại là thật sự cần thiết
Trang 31Với trẻ 4 tuổi, việc tìm các chương trình dạy số, dạy xếp chữ, dạy xếp
đồ vật từ lớn nhất đến nhỏ nhất, từ xa đến gần là hết sức cần thiết vì giai đoạnnày, trẻ có nhu cầu tìm hiểu những kiến thức cao hơn (1, tr.220)
Không nên cho trẻ xem những bộ phim, những chương trình có nộidung gây sợ hãi, nhất là trước giờ ngủ Nếu trẻ sợ, nên trấn an bằng cách ômtrẻ vào lòng… Việc cho các cháu xem các chương trình quá đáng sợ sẽ khiếntrẻ không có giấc ngủ ngon
Khi trẻ thấy một nhân vật nào đó trong các chương trình có bản chấthung hăng, bạo lực, hoặc những tình huống xung đột quá căng thẳng, rồimang những hành động này áp dụng với cha mẹ, anh chị, phụ huynh nên giảithích bằng lời cho trẻ hiểu Hướng dẫn cho con cách giải quyết bằng lời lẽthay vì dùng tay chân Nếu được, nên cho trẻ đóng vai nhân vật đó để trẻ cóthể phát huy trí tưởng tượng (1, tr.221)
Khi lên 5 tuổi, trí não của bé đã phát triển ở mức cao hơn, phụ huynhnên yêu cầu con kể lại câu chuyện đang xem hoặc đang chơi; chọn những tròchơi mà trẻ có thể đặt ra luật chơi Đây cũng là thời điểm mà phụ huynh có thểchọn những chương trình có nội dung giúp trẻ biết được quy luật “nguyênnhân – hậu quả” như: làm điều tốt thì sẽ được giúp đỡ; làm điều xấu là khôngnên; giải thích những hành động đúng – sai của nhân vật, từ đó giúp trẻ xâydựng hành vi tốt (1, tr.221)
Cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận tác động truyềnhình của trẻ em Lời khuyên của các nhà nghiên cứu cho thấy, phụ huynh cầntránh những điều có thể khiến trẻ hình thành nhân cách xấu, hoặc có nhữnghành vi bạo lực thông qua tiếp nhận truyền hình (1, tr.221)
- Đầu tiên là việc kiểm duyệt nội dung chương trình xem và chơi Bố mẹphải tuyệt đối không con xem hoặc chơi những phim, game có tính bạolực hoặc tình cảm ướt át vì ở độ tuổi này trẻ rất dễ bắt chước
Trang 32- Thời lượng xem tivi hoặc chơi giame cần phải được khống chế đến mứctối đa Đặc biệt, không nên cho trẻ thức khuya xem hoặc chơi vàonhững ngày cuối tuần, vì có thể ảnh hưởng đến việc học hành ở ngàyhôm sau.
- Cha mẹ cũng cần tránh dùng tivi hoặc game để thưởng phạt Ví dụ cáchdạy: “Con ngoan mẹ sẽ cho xem tivi”, hoặc “Nếu không ngoan mẹkhông cho chơi game.” Vì cách dạy này khiến trẻ hành động không còn
do tự ý thức, tự nguyện Muốn dỗ trẻ ăn không quấy mà cho trẻ xemtivi trong lúc ăn cũng là một sai lầm vì việc ăn sẽ không còn hiệu quả,hoặc kéo dài thời gian khiến sau này trẻ sẽ ăn chậm, hoặc không có tivithì không chịu ăn
- Điều tối kỵ tiếp theo là không được đặt tivi ở phòng ngủ của trẻ Việclàm này sẽ khiến trẻ nhanh chóng bị nghiện, khi mà các chương trìnhtruyền hình ngày nay quá phong phú và cha mẹ không thể kiểm soát hếtđược
- Cuối cùng, để hạn chế việc trẻ nghiện xem tivi hoặc chơi game, ngoàiviệc tổ chức cho trẻ tham gia những hoạt động khác như vẽ tranh, đọctruyện, chơi thể thao, cha mẹ cần phải làm gương cho con cái Một sốngười con không xem tivi hoặc chơi game mà mình thì cứ chơi, cứ xem,
cứ mở tivi suốt ngày, thậm chí còn xem những chương trình có nộidung không phù hợp với trẻ sẽ khiến trẻ trở nên bất trị và dễ có suynghĩ “cha mẹ làm được tại sao lại cấm con” (1, tr.222)
Việc xem truyền hình với trẻ cũng là một cách dạy trẻ một cách hiệuquả, trẻ luôn cần có sự quan tâm, chia sẻ của cha mẹ, những người gần gũi với
bé để bé phát triển một cách toàn diện Vừa được giao tiếp với những sự vật,hiện tượng trên tivi vừa được giao tiếp với cha mẹ thì việc học ngôn ngữ vàgia tăng vốn từ bằng cách lắng nghe, trao đổi rất có lợi cho trẻ, giúp ngôn ngữ
Trang 33cá nhân của trẻ càng phát triển tốt hơn Điều đó còn giúp củng cố các mốiquan hệ và tăng thêm niềm hạnh phúc trong gia đình, đây cũng là một yếu tốquan trọng trong quá trình phát triển nhân cách, tâm hồn của trẻ thơ.
1.3 Chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi ở Việt Nam
Một nghiên cứu thực nghiệm của trường Đại học Briston và Đại họcKinh tế Luân Đôn, theo ủy nhiệm của UNICEF đã tiến hành khảo sát ảnhhưởng đối với trẻ em các nước đang phát triển từ những thiệt thòi nghiêmtrọng trên nhiều lĩnh vực trong đó kết luận: Trẻ em đang bị thiệt thòi về thôngtin: Hơn 30 triệu trẻ em ở các quốc gia đang phát triển bị thiếu thông tin,không hề được sử dụng TV, đài, điện thoại hay báo chí Thiếu thông tin xéttheo nghĩa rộng có nghĩa là trẻ em đã bị thiệt thòi về giáo dục, bao gồm cảviệc thiếu các cơ chế cho phép các em được thông tin về các quyền và cơ hộicủa mình, cũng như khả năng để có thể hòa nhập tích cực vào xã hội (3, tr.27)
Ngày nay nhiều trẻ em có cơ hội tiếp xúc với truyền hình trước khi được
đi học và hàng ngày phương tiện truyền thông đại chúng cung cấp một sốlượng thông tin đa dạng và có tác động lớn đến suy nghĩ cũng như hành vi củacác em Truyền thông mang lại cho con người những kinh nghiệm xã hội,những mẫu văn hóa mang tính tiêu chuẩn dưới cách nhìn phổ biến Các thànhviên của xã hội đều chịu ảnh hưởng ở mức độ khác nhau do những gì mà cácphương tiện truyền thông coi trọng hoặc xem nhẹ, đánh giá tích cực hay tiêucực Đây cũng là một kênh quan trọng để phổ biến văn hóa, giúp cho conngười trên toàn thế giới có thể hiểu được những mẫu văn hóa, những nền vănhóa khác nhau và qua nhiều thời kỳ phát triển Truyền thông cũng làm cho cácthành viên trong một xã hội gắn kết với nhau hơn thông qua những mối quantâm chung, những giá trị chung đặc biệt là khi có những sự kiện nổi bật nhưmột thảm họa, một cuộc chiến tranh bùng nổ hay một vinh quang mà độituyển quốc gia giành được
Trang 34Các phương tiện truyền thông trước đây đã có rất ít hoặc không mangtính tương tác, trước đây khán thính giả không thể thảo luận hay bày tỏ thái độtrực tiếp với những người làm ra chương trình truyền thông Chính vì thế,truyền thông ngày nay đặc biệt là truyền hình vượt xa rất nhiều những gì màtruyền thông đưa đến như một nguồn giải trí, nó là một phương tiện lập trìnhthái độ và niềm tin của chúng ta Vì lý do đó, các vấn đề như quảng cáo, bạolực, lối sống trên truyền hình thường là chủ đề gây tranh cãi.
Chương trình truyền hình dành cho các em thiếu nhi ngoài việc có nộidung hay, phong phú, phù hợp với lứa tuổi các em thì cách thể hiện củachương trình cũng phải đa dạng, sinh động hơn thì mới hấp dẫn được các em.Bên cạnh thể loại được các em yêu thích nhất như phim hoạt hình thì nhiềuchương trình thể loại khác nhau được phát sóng xen kẽ để tạo nên sự cân bằngcũng như “giãn” sự tập trung của các em vào máy thu hình quá lâu Thườngthì sau một phim truyện sẽ là phim hoạt hình, sau đó là chương trình khoagiáo, ca nhạc, phim hoạt hình, trò chơi truyền hình, phim truyện, khoa giáo…các chương trình thường không theo một quy định hay định dạng nào mà đượcsắp xếp xen kẽ để tạo sự đa dạng và thu hút nhiều đối tượng khán giả Tuynhiên, số lượng chương trình dành cho thiếu nhi tạo được nhiều tiếng vang,thu hút nhiều khán giả trên các kênh truyền hình Việt Nam hiện nay rất ít;
trong số đó có thể kể đến trên HTV: Chuyện nhỏ, Chào bé yêu, Ước mơ của
em, Con đã lớn khôn,… VTV thì có: Chúc bé ngủ ngon, Đồ rê mí, Trẻ em luôn đúng, Những bông hoa nhỏ,…
Theo thống kê năm 2010 của Đài Truyền hình TPHCM, các Đài truyềnhình địa phương thực hiện các chương trình thiếu nhi để phát sóng trên cáckênh thông tin, tuyên truyền chỉ ở mức bình quân 1% trong tổng số chươngtrình sản xuất mới hàng năm Chỉ một số Đài có tỉ lệ sản xuất và phát sóngchương trình thiếu nhi cao như Đà Nẵng: 10,3%, Hà Nội: 9,1%, HTV: 3,8%,Đài Truyền hình Việt Nam: 5,8% còn hầu hết đài truyền hình khác có tỉ lệ
Trang 35chương trình dành cho thiếu nhi từ dưới 1% đến trên dưới 2% Những con sốcho thấy một sự bất hợp lý là dân số trẻ của Việt Nam chiếm đến 40%, trongkhi đó thời lượng các chương trình dành cho thiếu nhi - những chủ nhân tươnglai của đất nước chỉ chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn trong tổng thời lượng phátsóng.
Thời gian phát sóng chương trình truyền hình thiếu nhi chủ yếu ởnhững khung giờ: 6 giờ 30 phút, 7 giờ 30 phút, 14 giờ 30 phút, 16 giờ 30 phút
là khoảng thời gian mà các bé còn ở trường Đó là lý do, kết quả khảo sát tạiTP.HCM và vùng lân cận ở nửa năm đầu 2011 cho thấy chỉ có 30% - 45% trẻ
em có xem chương trình thiếu nhi và hầu hết các chương trình thiếu nhi hiệntại không còn gắn kết với trẻ em như trước nên số lượng chương trình liên tụcgiảm
Năm 2011, VTV đã có cuộc thăm dò ý kiến các khán giả nhỏ Kết quả,chỉ có khoảng 45% các em xem truyền hình thiếu nhi mà phần lớn là hoạthình hoặc giải trí của nước ngoài Đa số các em đều cho rằng chương trìnhtruyền hình thiếu nhi (dành cho độ tuổi từ 15 trở xuống) còn chung chung,chưa phân theo độ tuổi, chưa phong phú, hấp dẫn Các em mong muốn cóthêm nhiều chương trình chất lượng hơn, sinh động, hấp dẫn, phong phú cả vềchủ đề và thể loại, phù hợp từng lứa tuổi tâm sinh lý của các em
Với số lượng 27 đầu mục chương trình dành cho thiếu nhi hiện nay củaHTV thì có đến 15 chương trình được các công ty truyền thông, đối tác củaHTV phối hợp thực hiện Việc các đối tác tham gia sản xuất chương trìnhthường xuyên hơn đã tạo thêm sự đa dạng về nội dung, chất lượng chươngtrình cũng như giảm được chi phí bản quyền, chi phí sản xuất chương trìnhcho HTV Hiện nay HTV không mở rộng đầu tư mua bản quyền chương trìnhnước ngoài mà do các đối tác tự chủ động, cân đối kinh phí đầu tư, thực hiện
và sau đó phối hợp phát sóng trên các kênh phù hợp với tiêu chí đôi bên cùng
Trang 36Bên cạnh việc đầu tư vào chương trình thì đội ngũ một phóng viên, biêntập viên, những người thực hiện các chương trình truyền hình dành cho thiếunhi ngoài việc vững chuyên môn còn phải nắm được những đặc điểm tâm lýcủa từng lứa tuổi để thể hiện trên tác phẩm của mình Cuối cùng là việc sắpxếp giờ phát sóng sao cho phù hợp với các em, khán giả chính của chươngtrình, có những chương trình có nội dung hay, giá trị nhưng giờ phát sóngkhông phù hợp cũng chưa phổ biến được tới số đông khán giả Nghe thì có vẻlàm chương trình dành cho thiếu nhi xem thì dễ nhưng để giữ được khán giảnhỏ tuổi lẫn những người cùng xem với các em để họ cùng con/ cháu đón chờxem một chương trình hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng thì lại là một bàitoán cần phải được tính toán kỹ cả về nội dung, hình thức thể hiện và giờ phátsóng phù hợp.
1.4 Chương trình mua bản quyền nước ngoài
Chương trình truyền hình mua bản quyền nước ngoài ở Việt Nam hiệnnay rất phong phú về nội dung và thể loại Trong thời điểm nhiều kênh truyềnhình dành cho thiếu nhi ra đời như hiện nay, kênh HTV3 cũng đã phát triển,tìm cách thu hút khán giả bằng nhiều chương trình mới lạ chỉ phát sóng trên
kênh HTV3 như phim điện ảnh dành cho thiếu nhi (loạt phim về Búp bê
Barbie, Alvin và những chú sóc chuột, Mèo siêu quậy…), phim hoạt hình
(Đôrêmon - Chú mèo máy đến từ tương lai, Vườn chim vui nhộn…), bên cạnh
những chương trình giải trí khác như trò chơi truyền hình, truyền hình thực tếdành riêng cho khán giả thiếu nhi
Có thể nói những chương trình mua bản quyền nước ngoài chiếm lĩnhkhung giờ vàng vào tất cả các ngày trong tuần và cả cuối tuần trên các kênhtruyền hình quốc gia và truyền hình địa phương hiện nay… Thể loại truyềnhình thực tế dành cho thiếu nhi cũng đã và đang tạo được sự chú ý của khán
giả cả nước qua chương trình Con đã lớn khôn Con đã lớn khôn hiện đang
Trang 37phát sóng trên các kênh: HTV7, HN1, HTV3, HTVC_Phụ Nữ, HTVC_Giađình, HP8, NTV, DVTV, CVTV1, VTC7 với nhiều khung giờ khác nhau.
Điều không thể phủ nhận là hầu hết các trò chơi truyền hình, chươngtrình truyền hình thực tế của nước ngoài được phát sóng tại Việt Nam đều rấtnổi tiếng, đã cuốn hút đông đảo khán giả tại nhiều quốc gia trên thế giới Với
sự nổi tiếng sẵn có, cộng thêm với việc quảng bá rộng rãi, giới thiệu liên tụctrên các kênh truyền hình, cùng với việc phát sóng trong khung giờ vàng nêncác chương trình này đã thu hút được khối lượng người xem đông đảo
Tuy nhiên, được sản xuất ở nước ngoài, cho khán giả nước ngoài, và bởingười nước ngoài, nên không phải chương trình nước ngoài được “Việt hóa”nào cũng nhuần nhuyễn, và thích hợp với thị hiếu của người Việt Thực tế làkhi các chương trình mua bản quyền ở nước ngoài về đến Việt Nam vẫn phảituân thủ theo những nguyên tắc bắt buộc của đối tác nước ngoài như giữ đúngđịnh dạng về sân khấu, cách thức chơi, quy tắc tuyển chọn người chơi…
Cũng vì phải tuân thủ một cách máy móc, rập khuôn này mà một sốchương trình đã ít nhiều làm cho khán giả Việt khó chịu Có những chươngtrình gây phản cảm với người xem, và được nhà sản xuất lý giải rằng: Muabản quyền, nên phải theo kịch bản của họ, kể cả phong thái, lời thoại củangười dẫn chương trình sao cho phù hợp với văn hóa vùng miền… có trườnghợp cũng không được thay đổi và lý do được quy vào chuyện tuân thủ bảnquyền Tuy có một số hạn chế nhất định khi nhập chương trình nước ngoài vềphát tại Việt Nam như tốn kém về tài chính, đặc biệt là điểm khó dung hòagiữa văn hóa của mỗi đất nước, thì doanh thu thu được từ các chương trìnhnày thường cao do thu hút được nhiều đối tượng khán giả
1.5 Vấn đề chất lượng chương trình truyền hình
Theo Wikipedia, chất lượng chương trình truyền hình (hoặc chất lượngTV) là một thuật ngữ được sử dụng bởi các học giả truyền hình, các nhà phê
Trang 38bình truyền hình, và các nhóm vận động phát thanh truyền hình sử dụng để
mô tả một thể loại hay phong cách của chương trình truyền hình mà họ tranhluận để quyết định xem chương trình nào có chất lượng cao hơn, dựa trên cácvấn đề: chủ đề, phong cách, hoặc nội dung
Tại Mỹ, một tổ chức được gọi là “Người xem truyền hình chất lượng”được thành lập vào những năm 1980 để khuyến khích sản xuất và phát sóngcho thấy rằng nhóm tranh luận nhiều nhất là về "chất lượng truyền hình".Nhóm có các cuộc thăm dò thành viên của họ và xây dựng sự đồng thuậnthông qua một bản tin hàng tháng của nhóm Người sáng lập DorothySwanson lập luận rằng "Một chương trình chất lượng là một cái gì đó chúngtôi dự đoán trước và thưởng thức sau khi chương trình tập trung nhiều hơnvào mối quan hệ hơn các tình huống; khám phá nhân vật, soi sáng, thách thức,liên quan đến việc đối mặt với người xem, nó được nhớ và kích động suy nghĩvào hôm sau Một chương trình chất lượng có màu sắc cuộc sống trong sắcthái của trí tuệ"
Tại Anh, “Chiến dịch cho chất lượng truyền hình” được thành lập vàonăm 1988 Chiến dịch này nhằm thúc đẩy dịch vụ truyền hình công cộng, sựlựa chọn và chất lượng cho tất cả các khán giả ở Anh, thúc đẩy chương trìnhtruyền hình thông tin và giáo dục cho mọi người từ tất cả các lĩnh vực của xãhội Họ gọi đó là một "bề rộng thực sự của chất lượng" và ủng hộ cho đủ kinhphí để truyền hình dịch vụ công cộng phát triển Năm 1999, chiến dịch đã xuấtbản Iceberg thu hẹp lại từ từ du lịch miền Nam, kiểm tra áp lực của phát thanhtruyền hình và tác động của chương trình
Đài phát thanh truyền hình ở Canada đang ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các
hệ thống phát thanh truyền hình Anh và Mỹ Nền tảng pháp lý của hệ thốngphát thanh truyền hình Canada, Luật Phát thanh Truyền hình, và đài truyềnhình công cộng của nó, Tổng Công ty Phát thanh truyền hình Canada, là cả hai
Trang 39truyền hình công cộng do chính phủ tài trợ Chương trình được coi là "chấtlượng truyền hình" ở Canada thường được sản xuất và phát sóng của ĐàiTruyền hình công cộng (CBC) hoặc bởi các đài truyền hình giáo dục tỉnh,chẳng hạn như TVO của Ontario, Saskatchewan của SCN, BC Kiến thức, vàQuebec của Tele-Québec.
Liên minh vì Trẻ em và truyền hình (ACT) là một tổ chức phi lợi nhuậnCanada ACT vận động hành lang chính phủ về vấn đề giải trí màn hình củatrẻ em ACT khuyến khích sản xuất các chương trình chất lượng cao và ủng
hộ sản xuất và phát sóng số lượng lớn nhất các chương trình chất lượng caocho trẻ em và thanh thiếu niên Canada
"Tuyên bố về chất lượng" của ACT cung cấp nền tảng cho Điều lệtruyền hình của trẻ em, hiện đang được phê chuẩn bởi các chính phủ và đàitruyền hình trên khắp thế giới ACT lập luận rằng "chất lượng truyền hình làtruyền hình được coi là xuất sắc trong cả hai hình thức và nội dung, hướngđến nhu cầu và mong đợi của khán giả mục tiêu của mình Hơn nữa, tổ chứctuyên bố rằng "nội dung của chương trình có liên quan và giải trí, kích thíchtrí tuệ và trí tưởng tượng, và thúc đẩy sự cởi mở đối với người khác cũng phải
là một sự phản ánh chính xác của thế giới, trong đó trẻ em lớn lên, tôn trọngphẩm giá của họ và thúc đẩy học tập"
Và như vậy, một chương trình truyền hình nếu như giải quyết được tất
cả các yếu tố về nội dung và công nghệ, đồng nghĩa với việc thu hút đượclượng khán giả cao sẽ trở thành một chương trình truyền hình chất lượng Nộidung chương trình hay, hấp dẫn, gắn kết được với người xem là một trongnhững yếu tố quyết định sự thành công của một chương trình Với một kênhchương trình thì việc sắp xếp các nội dung lại với nhau sao cho hợp lý, giữđược khán giả thì mới thành công
Trang 401.6 Tiểu kết
Trong lĩnh vực truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng, việc dunhập những chương trình truyền hình nước ngoài vào Việt Nam cũng là mộttrong những cách giúp khán giả tiếp cận văn hoá các nước khác nhau trên thếgiới một cách công khai, có chọn lọc, kiểm duyệt của các cơ quan, đơn vịchức năng có thẩm quyền Với những đặc thù trong việc hình thành và pháttriển nhân cách, lớp khán giả nhỏ tuổi mong chờ đón nhận nhiều hơn nữa từcác chương trình dành cho trẻ em, nhưng thực tế các chương trình truyền hình
do các đài truyền hình tại Việt Nam thực hiện vẫn chưa thoát khỏi lối mòn,nhiều chương trình còn đơn điệu về nội dung lẫn hình thức
Như vậy, có thể nói, “Việt hóa” chương trình truyền hình là hoạt độngchuyển dịch ngôn ngữ và cải biến nội dung trong giới hạn cam kết về bảnquyền để vừa phù hợp với môi trường ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam vừakhông làm biến dạng format của chương trình truyền hình bản quyền Hiệnnay HTV nói chung, kênh HTV3 nói riêng đã thực hiện tốt các khâu kiểmduyệt nội dung, đảm bảo về mặt bản quyền các chương trình nước ngoài phátsóng trên kênh Những chương trình “Việt hoá” trên kênh HTV3 đã được thựchiện ngày một phong phú, đa dạng về thể loại, về cách thực hiện “Việt hoá” đểchương trình có thể đến với khán giả nhỏ một cách dễ hiểu, nhanh nhất Vớithể loại chương trình “Việt hoá” thì từ công tác biên tập, biên dịch, thẩm địnhnội dung, chất lượng cho tới việc thực hiện các công tác hậu kỳ “Việt hoá”như lồng tiếng, thuyết minh đều giữ vai trò quan trọng tới sự thành công củachương trình