Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và điện thần kinh cơ của bệnh nhân (BN) mắc hội chứng Guillain-Barré. Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang đặc điểm lâm sàng và kết quả điện thần kinh cơ ở BN được chẩn đoán mắc hội chứng Guillain-Barré tại Khoa Nội Thần kinh của hai bệnh viện quân đội ở miền Bắc Việt Nam. K
Trang 1ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐIỆN THẦN KINH CƠ Ở BỆNH NHÂN MẮC HỘI CHỨNG GUILLAIN-BARRÉ Ở HAI BỆNH VIỆN
QUÂN ĐỘI MIỀN BẮC VIỆT NAM
Phan Việt Nga 1
, Nguyễn Minh Đức 2 Nguyễn Mạnh Tuyên 1 , Lê Trung Đức 1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và điện thần kinh cơ của bệnh nhân (BN) mắc hội
chứng Guillain-Barré Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang đặc điểm lâm sàng và kết
quả điện thần kinh cơ ở BN được chẩn đoán mắc hội chứng Guillain-Barré tại Khoa Nội Thần
kinh của hai bệnh viện quân đội ở miền Bắc Việt Nam Kết quả: Thể hủy myelin cấp tính chiếm
tỷ lệ cao nhất (75,3%) Nhiễm trùng đường hô hấp là yếu tố tiền nhiễm phổ biến nhất (34,4%) ở
BN thể hủy myelin 51,6% BN thể hủy myelin bắt đầu bằng triệu chứng cảm giác, trong khi đó hầu hết BN thể hủy sợi trục bắt đầu bằng triệu chứng vận động (66,6%) Hầu hết BN mắc hội chứng Guillain-Barré có triệu chứng đau tại thời điểm nhập viện Ở cả hai thể của hội chứng Guillain-Barré, phổ biến nhất là liệt một hoặc nhiều hơn các dây thần kinh vận nhãn (III, IV, VI), trong đó liệt dây thần kinh số VII chỉ chiếm 7,8 - 13,3% Điểm Hughes tại thời điểm nhập viện của thể hủy myelin (3,39 ± 0,85) thấp hơn đáng kể so với thể hủy sợi trục (3,93 ± 0,59) Trong
số các biến thể khác, tại thời điểm nhập viện, 16,5% BN có kết quả xét nghiệm dịch não tủy (DNT) bình thường Bất thường trên điện thần kinh cơ phổ biến nhất là phản xạ H (91,8%) và các bất
thường về chỉ số dẫn truyền cảm giác, vận động Kết luận: Hội chứng Guillain-Barré gặp ở hầu
hết các lứa tuổi Triệu chứng lâm sàng rất đa dạng và phong phú, triệu chứng và xét nghiệm tùy thuộc vào các biến thể Thể hủy sợi trục ảnh hưởng đến chức năng nhiều hơn thể hủy myelin Hầu hết BN đều có bất thường về các chỉ số dẫn truyền thần kinh, phổ biến nhất là phản xạ H (91,8%)
* Từ khóa: Hội chứng Guillain-Barré; Điện thần kinh cơ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng Guillain-Barré là bệnh lý
hiếm gặp, trong đó hệ thống miễn dịch
của cơ thể tấn công các dây và rễ thần
kinh gây ra các triệu chứng lâm sàng
Gần đây, hội chứng Guillain-Barré không
còn được xem như một rối loạn đơn độc
và không còn đồng nghĩa với bệnh đa rễ
dây thần kinh mất myelin do viêm cấp tính
mà chúng được mở rộng như một hội chứng
đa thể với các biểu hiện lâm sàng giống
và khác nhau liên quan với các biểu hiện điện sinh lý và giải phẫu bệnh Chính sự xuất hiện ngày càng đa dạng các biến thể của hội chứng Guillain-Barré, cùng với tính chất phức tạp của các triệu chứng khiến chúng không đồng nhất và có sự đan xen chồng lấn giữa các biến thể với nhau càng làm cho việc chẩn đoán trở nên khó khăn hơn Ngoài ra, sự khác nhau về
1 Bệnh viện Quân y 103
2 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Người phản hồi (Corresponding author): Phan Việt Nga (dr.vietnga@gmail.com)
Ngày nhận bài: 07/02/2020; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 18/02/2020
Ngày bài báo được đăng: 15/03/2020
Trang 2phân bố địa lý của các biến thể của hội
chứng Guillain-Barré cũng đã được ghi
nhận, báo cáo trong một số nghiên cứu
[1] Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu
mô tả trên một nhóm BN mắc hội chứng
Guillain-Barré lớn hơn tại Khoa Thần kinh
của hai bệnh viện quân đội ở miền Bắc
Việt Nam để xác định rõ hơn các đặc
điểm lâm sàng và cận lâm sàng của
những BN này
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
85 BN mắc hội chứng Guillain-Barré
được chẩn đoán và điều trị ở Khoa Nội
Thần kinh, Bệnh viện TWQĐ 108 và Khoa
Nội Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103 từ
2009 - 2019 BN mắc hội chứng
Guillain-Barré được chẩn đoán dựa trên tiêu
chuẩn của Asbury A.K và CS (1990) [2]
Tiêu chuẩn loại trừ: Liệt chu kỳ, viêm
tủy, nhược cơ, bệnh porphyrin cấp tính,
bán cấp tính (> 4 tuần) hoặc các trường
hợp bị liệt kéo dài
BN được phân loại thành các biến thể
khác nhau gồm: Thể hủy myelin cấp tính,
thể hủy sợi trục cấp tính, Miller-Fisher và
biến thể khác tùy thuộc vào đặc điểm
tương ứng của điện thần kinh cơ
2 Phương pháp nghiên cứu
Tất cả trường hợp được thực hiện
chẩn đoán điện bởi các bác sỹ thần kinh
với các tiêu chuẩn chẩn đoán của thể hủy
myelin và thể hủy sợi trục Nghiên cứu
dẫn truyền thần kinh được thực hiện ít nhất trên 3 dây thần kinh vận động và
3 dây thần kinh cảm giác Chẩn đoán điện được thực hiện lại ít nhất một lần đối với các trường hợp khó phân loại các biến thể lâm sàng hoặc ở giai đoạn đầu của bệnh khi các tiêu chuẩn chẩn đoán không đầy đủ
Dữ liệu thu thập gồm: Tuổi, giới, yếu tố tiền nhiễm, thời gian khởi phát, triệu chứng khởi phát, triệu chứng vận động, triệu chứng cảm giác, liệt dây thần kinh sọ não, điểm sức cơ, điểm Hughes và đặc điểm biến đổi DNT, chẩn đoán điện Các chỉ số dẫn truyền được đánh giá một cách nhất quán
để xác định những biến đổi thường gặp nhất của các chỉ số dẫn truyền thần kinh khi nhập viện
Đánh giá yếu cơ dựa vào điểm sức cơ (từ 0 - 5)
Đánh giá mức độ tàn tật dựa trên thang điểm tàn tật Hughes [3]
* Xử lý số liệu: Bằng thuật toán thống
kê, sử dụng thử nghiệm t để so sánh trung bình các biến định lượng, kết quả có ý nghĩa khi p < 0,05
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu trên 85 BN, thể hủy myelin cấp tính chiếm 75,3%, thể hủy sợi trục 17,6% (p < 0,05) Ngoài ra, có 6 BN với các biến thể khác không phổ biến (5 BN thể Miller-Fisher,
1 BN thể đơn thuần cảm giác, vì BN ở các biến thể này không phổ biến nên chúng tôi chỉ tập trung phân tích hai nhóm chính: Nhóm hủy myelin cấp và nhóm hủy sợi trục
Trang 3Bảng 1: Đặc điểm chung của BN mắc hội chứng Guillain-Barré
Giới tính
Tuổi
> 0,05
Khu vực
Điều trị
Có 54 BN nam, chiếm 68,3% (p > 0,05) Nhóm tuổi gặp nhiều nhất ≥ 61 tuổi (31,6%)
Tỷ lệ BN sống ở nông thôn và thành thị không có sự khác biệt (p > 0,05)
Biểu đồ 1: Thời gian mắc bệnh theo các tháng trong năm
Hội chứng Guillain-Barré xuất hiện ở hầu hết các tháng trong năm, cao nhất là tháng 4 (17,6%)
Trang 4Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng BN mắc hội chứng Guillain-Barré
Thể hủy myelin (n = 64)
Thể hủy sợi trục
Yếu tố tiền nhiễm (n, %)
> 0,05
Thời gian khởi phát (n, %)
Triệu chứng khởi phát (n, %)
> 0,05
Yếu cơ (n, %)
Rối loạn cảm giác (n, %)
Liệt dây thần kinh sọ não (n, %)
Ở BN thể hủy myelin cấp, nhiễm khuẩn hô hấp là yếu tố tiền nhiễm thường gặp nhất (34,4%) Ở thể hủy sợi trục, nhiễm khuẩn tiêu hóa chiếm 20,0% Phần lớn BN có thời gian khởi phát bệnh 7 ngày (79,7%) Hội chứng Guillain-Barré khởi đầu bằng triệu chứng cảm giác thường gặp ở BN thể hủy myelin cấp (51,6%) Trong khi đó, triệu chứng vận động thường gặp ở thể hủy sợi trục (66,6%) Ở thể hủy myelin cấp, đau và liệt dây thần kinh sọ não là triệu chứng khởi phát thường gặp hơn Ở nhóm có triệu chứng
Trang 5yếu cơ, tính chất đối xứng gặp ở hầu hết BN Guillain-Barré, chúng tôi chỉ ghi nhận 1,6% BN yếu cơ không đối xứng, với điểm sức cơ trung bình ở BN thể hủy myelin cấp
là 38,17 ± 10,65, nhóm hủy sợi trục là 32,93 ± 12,56 Trong các trường hợp liệt dây thần kinh sọ não, ở cả hai nhóm, liệt dây thần kinh vận nhãn thường gặp nhất (42,2% ở thể hủy myelin cấp, 40,0% ở thể hủy sợi trục), tiếp theo là liệt dây VII (7,8% và 13,3%) Triệu chứng đau ở thể hủy myelin (65,6%) cao hơn so với thể hủy sợi trục (60,0%) Điểm đau trung bình ở thể hủy myelin và thể hủy sợi trục tương ứng 3,39 ± 2,71 và 3,07 ± 2,76 (p > 0,05) Rối loạn thần kinh thực vật ở thể hủy myelin là 73,4%, ở thể hủy sợi trục là 80,0% Tỷ lệ suy hô hấp ở thể hủy sợi trục (13,3%) cao hơn so với thể hủy myelin (4,6%) (p > 0,05) Điểm Hughes trung bình ở thể hủy sợi trục cao hơn so với thể hủy myelin, tương ứng 3,93 ± 0,59 và 3,39 ± 0,85 (p < 0,05)
Bảng 3: Đặc điểm biến đổi DNT và điện thần kinh cơ ở BN Guillain-Barré
DNT
Điện thần kinh cơ
Thời gian tiềm vận động
Biên độ vận động
Tốc độ dẫn truyền vận động
Thời gian tiềm sóng F
Thời gian tiềm cảm giác
Biên độ cảm giác
Tốc độ dẫn truyền cảm giác
Phản xạ H
Trang 683,5% BN có tăng protein trong DNT
trong khi tế bào bình thường (phân ly
protein - tế bào), 16,5% BN có kết quả
DNT bình thường tại thời điểm nhập viện
Về điện thần kinh cơ, tại thời điểm nhập
viện, bất thường gặp nhiều nhất ở BN
Guillain-Barré là phản xạ H (91,8%),
bất thường biên độ và tốc độ dẫn truyền
cảm giác cũng gặp > 80%, tiếp theo là
bất thường biên độ vận động và thời gian
tiềm sóng F (tương ứng 77,6% và 72,9%)
Bất thường ít gặp nhất là tốc độ dẫn
truyền vận động (63,5%)
BÀN LUẬN
Bệnh nhân trong nghiên cứu của
chúng tôi chủ yếu ở thể hủy myelin
(75,3%), BN thể hủy sợi trục (bao gồm
thể hủy sợi trục vận động cấp tính và thể
hủy sợi trục vận động - cảm giác cấp tính)
chiếm 17,6% Hội chứng Miller-Fisher chỉ
chiếm 5% các trường hợp Guillain-Barré
với tam chứng cổ điển là liệt dây thần
kinh vận nhãn, thất điều và mất phản xạ
gân xương Bệnh khởi phát cấp tính và
được biết đến với tên khác là hội chứng
Fisher Trong một thống kê khác, chúng
tôi gặp 5,9% trường hợp Guillain-Barré là
hội chứng Miller-Fisher Sự khác biệt về
cơ chế bệnh sinh trong mỗi quần thể và
sự phơi nhiễm với các yếu tố tiền nhiễm
khác nhau có thể liên quan đến sự khác
biệt trong các biến thể của hội chứng
Guillain-Barré
Nghiên cứu đặc điểm phổ biến của hội
chứng Guillain-Barré, kết quả cho thấy
bệnh gặp ở hầu hết các độ tuổi, trẻ nhất
là 16 tuổi, cao nhất 75 tuổi Nhóm tuổi
> 61 chiếm tỷ lệ cao nhất (29,7%) với thể
hủy myelin và 40,0% với thể hủy sợi trục, tuổi trung bình tương ứng 49,33 ± 15,77
và 50,73 ± 15,66 Tương tự, nghiên cứu của Chroni E (2004) gặp tuổi trung bình 47,6 ± 23,0 [6] Các nghiên cứu khác cũng cho thấy bệnh gặp ở hầu hết các lứa tuổi, với tuổi trung bình 52,2, cao nhất
ở nhóm tuổi 50 và 69 Như vậy, mặc dù
có sự khác biệt, nhưng tất cả các nghiên cứu đều cho thấy tuổi mắc bệnh của BN Guillain-Barré tập trung chủ yếu ở độ tuổi 40 và 50
Về nơi cư trú, nghiên cứu của Dourado M.E [7] cho kết quả khác, có thể
do sự khác biệt về nơi cư trú cũng như phương pháp phân loại đối tượng theo khu vực cư trú Nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ BN Guillain-Barré ở nông thôn và thành thị tương đương nhau Địa điểm cư trú có thể liên quan đến yếu tố tiền nhiễm
Ở những khu vực đông dân cư, điều kiện sống và vệ sinh kém có thể dễ dẫn đến các bệnh truyền nhiễm qua đường tiêu hóa và đường hô hấp, trong khi đây là những yếu tố tiền nhiễm thường gặp trước khi khởi phát hội chứng Guillain-Barré Chroni E (2004) [6] lưu ý đến những trường hợp Guillain-Barré mới mắc trong các tháng của năm, tỷ lệ cao nhất ở BN nam là tháng 6, nữ là tháng 4 Nguy cơ mắc hội chứng Guillain-Barré cao nhất đối với những người trẻ tuổi (< 40 tuổi)
là tháng 4, người cao tuổi là tháng 5 Biểu đồ 1 cho thấy kết quả tương tự, cho thấy tỷ lệ mắc Guillain-Barré quanh năm, cao nhất là tháng 4 (17,6%), thấp nhất là
tháng 10 và tháng 11 (3,5%)
Đặc điểm lâm sàng của hội chứng
Guillain-Barré (bảng 2) Các nghiên cứu
trước đây cho rằng khoảng 2/3 BN có
Trang 7yếu tố tiền nhiễm trong vòng 1 - 3 tuần
(11 ngày) trước khi khởi phát triệu chứng
yếu cơ Trong nghiên cứu này, yếu tố tiền
nhiễm thường gặp nhất ở nhóm hủy
myelin là nhiễm khuẩn hô hấp (34,4%),
trong khi ở nhóm hủy sợi trục không thấy
yếu tố tiền nhiễm nào nổi trội (dao động
từ 13,3 - 20,0%) Nghiên cứu của Sipila
J.O (2015) [8]: Nhiễm khuẩn hô hấp và
tiêu hóa trước khởi phát bệnh là hai yếu
tố tiền nhiễm thường gặp nhất Tác giả
cũng lưu ý, có thể có sự kết hợp các yếu
tố tiền nhiễm trên cùng một BN
Nghiên cứu về triệu chứng khởi phát
cho thấy, đối với thể hủy myelin, rối loạn
cảm giác là triệu chứng khởi phát thường
gặp nhất (51,6%), trong khi đó, triệu
chứng vận động thường gặp ở thể hủy
sợi trục (66,6%) So sánh đặc điểm triệu
chứng khởi phát bệnh với các nghiên cứu
trong nước và quốc tế, nghiên cứu của
chúng tôi có khác biệt về tỷ lệ các triệu
chứng khởi phát Tuy nhiên, các tác giả
đều cho rằng triệu chứng cảm giác là
triệu chứng khởi phát thường gặp nhất,
tiếp theo là triệu chứng vận động, đau và
liệt dây thần kinh sọ não
Yếu cơ là triệu chứng phổ biến khi
nhập viện, thường là yếu cơ gốc chi nặng
hơn ngọn chi và đối xứng hai bên
Dourado (2012) [7] cũng gặp phần lớn BN
có yếu cơ gốc chi, đặc biệt ở BN thể hủy
myelin (p < 0,01) Với thể sợi trục vận
động cấp tính, yếu cơ ngọn chi nổi trội
hơn (p < 0,01) Ở BN thể sợi trục vận
động - cảm giác cấp tính, yếu cơ gốc chi
và ngọn chi tương đương nhau (p = 0,04)
Về tính chất yếu cơ, ở cả nhóm hủy
myelin và nhóm hủy sợi trục, hầu hết các
trường hợp yếu cơ là đối xứng hai bên,
với việc sử dụng thang điểm khảo sát trên
6 nhóm cơ (chi trên, chi dưới hai bên) Nghiên cứu của Chen W.H.: Điểm sức cơ trung bình tại thời điểm nhập viện là 36,1 ± 15,2 [9] Trong nghiên cứu này, điểm sức cơ ở thể hủy myelin cao hơn so với thể hủy sợi trục (p > 0,05)
Mặc dù yếu cơ là triệu chứng nổi bật của hội chứng Guillain-Barré, nhưng bất thường cảm giác lại là triệu chứng xuất hiện đầu tiên Một số nghiên cứu cho thấy khoảng 50 - 70% BN có bất thường cảm giác với các dạng rối loạn cảm giác khác nhau Tại thời điểm nhập viện, rối loạn cảm giác gặp ở 100% BN thể hủy myelin và 73,3% BN thể hủy sợi trục Như vậy, kết quả của chúng tôi có tỷ lệ cao hơn các nghiên cứu trước đây Điều này có thể được giải thích do rối loạn cảm giác là triệu chứng chủ quan Việc đánh giá các triệu chứng cảm giác phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phối hợp của BN và sẽ khó khăn hơn đối với BN bị suy hô hấp Do đó, những kết quả này có thể không phản ánh chính xác rối loạn của BN
Đau trong giai đoạn cấp tính của hội chứng Guillain-Barré đã được nhiều tác giả đề cập đến với tần suất xuất hiện khác nhau Đau thường dễ bị bỏ qua, thậm chí cản trở chẩn đoán sớm hội chứng Guillain-Barré Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đau là triệu chứng khá phổ biến, chiếm 65,6% ở nhóm hủy myelin
và 60,0% ở nhóm sợi trục (p > 0,05) Điểm VAS tại thời điểm nhập viện, đánh giá triệu chứng đau cho thấy điểm đau trung bình của thể hủy myelin cao hơn thể hủy sợi trục Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Trang 8Trong nhiều nghiên cứu trước đây,
liệt dây thần kinh sọ não khá phổ biến,
nhất là liệt dây thần kinh số VII (44,7%),
tiếp theo là liệt dây thần kinh vận nhãn III,
IV, VI (26,3%), dây thần kinh IX, X (21,1%)
Tuy nhiên, chúng tôi thấy tỷ lệ BN bị liệt
một hoặc nhiều dây thần kinh vận nhãn
cao hơn tỷ lệ liệt dây thần kinh số VII,
tương ứng 42,2% và 7,8% với thể hủy
myelin, 40,0% và 13,3% với thể hủy sợi
trục Rối loạn thần kinh thực vật cũng
thường gặp với > 70% trường hợp 5 BN
bị suy hô hấp (3 ở thể hủy myelin và 2 ở
thể hủy sợi trục) ở cả hai nhóm Trong số
BN không được phân loại ở hai nhóm
trên, chúng tôi gặp 1 BN bị rối loạn ý thức
liên quan đến hội chứng rối loạn bài tiết
ADH, không BN nào có triệu chứng loạn
thần và sốt khi khởi phát
Để hiểu về những thay đổi trên DNT
và điện thần kinh cơ của BN
Guillain-Barré tại thời điểm nhập viện, chúng tôi
tiến hành đánh giá trên tất cả 85 BN,
không phân biệt biến thể Kết quả: 83,5%
BN có tăng protein trong DNT, còn tế bào
bình thường Nghiên cứu của Akbayram
(2011) [10] cho thấy việc phát hiện mức
độ protein tương tự nhau trong DNT ở cả
hai nhóm hủy sợi trục và hủy myelin là
một phát hiện đáng chú ý Nồng độ protein
tăng cao trong DNT có thể liên quan đến
tình trạng viêm của rễ thần kinh Những
kết quả này khẳng định viêm rễ thần kinh
có thể quan sát thấy ở cả thể hủy myelin
và thể hủy sợi trục Tương tự, những thay
đổi trên điện thần kinh cơ được ghi nhận
với những bất thường nổi bật như: Bất
thường phản xạ H, biên độ và tốc độ dẫn
truyền cảm giác, tiếp theo là bất thường
thời gian tiềm sóng F, bất thường tốc độ
dẫn truyền vận động ít phổ biến hơn Nghiên cứu dấu hiệu trên điện thần kinh
cơ ở giai đoạn sớm của hội chứng Guillain-Barré, Baraba R (2011) [11] cũng gặp mất phản xạ H ở hầu hết BN (90,7% BN thể hủy myelin) và cũng là bất thường phổ biến nhất được tìm thấy Thêm vào đó, giảm tần số, kéo dài thời gian tiềm sóng F gặp ở 24/39 BN (61,5%) Theo Markoula S (2007) [12], 60% các dây thần kinh được khảo sát có bất thường thời gian tiềm ngoại vi, 72% bất thường thời gian tiềm sóng F và 25% có nghẽn dẫn truyền thần kinh
KẾT LUẬN
Hội chứng Guillain-Barré gặp ở tất cả các nhóm tuổi, nam giới dễ mắc bệnh hơn nữ, bệnh có thể xảy ra quanh năm với đỉnh khởi phát là tháng 4 (17,6%) Yếu tố tiền nhiễm gặp ở 54,4% BN Hầu hết BN có yếu cơ đối xứng hai bên Liệt dây thần kinh vận nhãn và rối loạn thần kinh thực vật là triệu chứng thường gặp ở
cả hai nhóm Phân ly protein - tế bào trong DNT gặp ở hầu hết BN tại thời điểm nhập viện (83,5%) Điện thần kinh cơ có bất thường phản xạ H chiếm tỷ lệ cao (91,8%), biên độ vận động và cảm giác, thời gian tiềm sóng F, tốc độ dẫn truyền vận động và thời gian tiềm cảm giác gặp
ở > 60 - 80% BN tại thời điểm nhập viện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hughes R.A., Cornblath D.R
Guillain-Barré sydrome Lancet 2005, 366 (9497), pp.1652-1666
2 Asbury A.K., Cornblath D.R Assessment
of current diagnostic criteria for Guillain-Barré syndrome Ann Neurol 1990, 27, pp.21-24
Trang 93 Hughes R.A., Swan A.V., van Doorn
P.A Intravenous immunoglobulin for
Guillain-Barré syndrome Cochrane Database Syst
Rev 2010, CD002063
4 Khean Jin G.O.H., Wai Keong N.G.,
Manonmani Vaithialigam et al A clinical and
electrophysiologiacal study of Guillain-Barré
syndrome in Malaysia Neurol J Southeast
Asia 1999, 4, pp.67-72
5 The Italian Guillain-Barre Study Group
The prognosis and main prognostic indicators
of Guillain-Barre syndrome: A multicentre
prospective study of 297 patients Brain
1996, 119, pp.2053-2061
6 Chroni E., Papapetropoulos S.,
Gioldasis G et al Guillain-Barre syndrome
in Greece: Seasonality and other
clinico-epidemiological features Eur J Neurol 2004,
11 (6), pp.383-388
7 Dourado M.E., Felix R.H., da Silva W.K
et al Clinical characteristics of Guillain-Barre
syndrome in a tropical country: A Brazilian
experience Acta Neurol Scand 2012, 125 (1), pp.47-53
8 Sipila J.O., Soilu-Hanninen M The incidence
and triggers of adult-onset Guillain-Barre syndrome in southwestern Finland 2004 -
2013 Eur J Neurol 2015, 22 (2), pp.292-298
9 Chen W.H., Yeh J.H., Chiu H.C
Experience of double filtration plasmapheresis
in the treatment of Guillain-Barre syndrome
J Clin Apher 1999, 14 (3), pp.126-129
10 Akbayram S., Doğan M., Akgün C et al
Clinical features and prognosis with Guillain-Barré syndrome Ann Indian Acad Neurol
2011, 14 (2), pp.98-102
11 Baraba R., Sruk A., Sragalj L et al
Electrophysiological findings in early Guillain-Barre syndrome Acta Clin Croat 2011, 50 (2), pp.201-207
12 Markoula S., Giannopoulos S., Sarmas
I et al Guillain-Barre syndrome in northwest
Greece Acta Neurol Scand 2007, 115 (3), pp.167-173.