Chúng ta đang nói về từ với tư cách là một đơn vị tách rời của ngônngữ và mối quan hệ của nó với các cấp độ khác của ngôn ngữ cũng như vớicon người và hiện thực mà nó quan hệ.. Ở mặt biể
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN CAO HỌC
ĐỀ TÀI: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NHỮNG LIÊN HỆ VỀ ÂM VÀ NGHĨA
TRONG VỐN HÌNH TIẾT TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 5.04.08
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS HOÀNG CAO CƯƠNG
HỌC VIÊN THỰC HIỆN: LÊ THỊ THANH NGÀ
1
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………
1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI……… 5
2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ………
3 CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI………
4 BỐ CỤC ………
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT ………
1.1 TỪ VÀ NGHĨA CỦA TỪ ………
1.1.1 Đặc trưng tín hiệu của từ ………
1.1.2 Đặc trưng hệ thống của từ ……… 10
1.1.3 Hai quá trình từ vựng học cơ bản………
1.1.3.1 Đồng âm ………
1.1.3.2 Đồng nghĩa……… ………. 14
1.1.4 Từ tương tự ……… 15
1.1.4.1 Định nghĩa……… 15
1.1.4.2 Phân loại ……… 19
1.2 ÂM VỊ VÀ NÉT KHU BIỆT TRONG ÂM VỊ HỌC TIẾNG VIỆT ……… 23
1.2.1 Âm tiết ……… 23
1.2.2 Cấu trúc âm tiết……… 23
1.2.3 Âm vị và hệ thống nét khu biệt……… 27
1.2.3.1 Âm đầu ……… 27
1.2.3.2 Âm chính ……… 28
1.2.3.3 Âm cuối ……… 29
1.2.3 4 Các điệu vị ……… 30
1.2.3.4.1 Thanh điệu……… 30
1.2.3.4.2 Tròn môi hoá âm tiết……… 31
1 3.TIỂUKẾT ………
31 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ DỮ LIỆU……… 32
2.1 NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN ……… 32
2.1.1 Nhóm nguyên tắc 1……… 33
2.1.2 Nhóm nguyên tắc 2……… 33
2.2 NGUYÊN TẮC PHÂN LOẠI ……… 36
2.3 PHÂN TÍCH BẢNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ……… 39
2.3.1 Nhận xét chung……… 39
2.3.2 Đặc điểm từ loại của các yếu tố……… 40
2
Trang 32.3.3 Cấu tạo của các đơn vị song tiết……… 41
2.3.4 Các biểu hiện về sự chuyển biến hình thức âm thanh……
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG TƯƠNG TỰ TỪ VỰNG HỌC TRONG TIẾNG VIỆT ……… 46
3.1 NHÓM TƯƠNG TỰ TỪ VỰNG HỌC LOẠI 1……… 46
3.1.1 Âm đầu……… 47
3.1.1.1 Cơ sở ngữ âm học lịch sử……… 47
3.1.1.2 Mô tả một số tương ứng âm đầu ……… 48
3.1 1.2.1 Phương thức……… 48
3.1 1.2.2 Bộ vị ……… 58
3.1.2 Âm chính……… 69
3.1.2.1 Cơ sở ngữ âm học lịch sử……… 69
3.1 2.2 Mô tả một số tương ứng âm chính……… 70
3.1.2.3 Tiểu kết ……… 81
3.1.3 Âm cuối……… 81
3.1.3.1 Cơ sở ngữ âm học lịch sử……… 81
3.1.3.2 Mô tả một số tương ứng âm cuối ……… 82
3.1.3.2.1 Phương thức……… 82
3.1.3.2.2 Bộ vị……… 85
3.1.3.3 Tiểu kết……… 89
3.1.4 Điệu vị……… 89
3.1.4.1 Thanh điệu……… 89
3.1.4.1.1 Cơ sở ngữ âm lịch sử……… 90
3.1.4.1 2 Mô tả một số tương ứng thanh điệu……… 99
3.1.4.1 3 Tiểu kết……… 100
3.1.4.2.Tròn môi hoá âm tiết (âm đệm) ……… 102
3.2 NHÓM TƯƠNG TỰ TỪ VỰNG HỌC LOẠI 2 ……… 102
3 2.1 Tiểu nhóm A……….
103 3 2.2 Tiểu nhóm B………
105 3 2.3 Tiểu nhóm C………
108 3 2.4 Tiểu nhóm D……….
109 3 2.5 Tiểu nhóm E……….
111 KẾT LUẬN……… 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 115
Trang 43
Trang 5MỞ ĐẦU
1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có một hiện tượng rất đáng chú ý
Đó là hàng loạt các hình tiết tương tự nhau về ngữ âm đồng thời lại có nhữngtương tự nào đó về nghĩa, hiểu theo nghĩa rộng của từ này Chẳng hạn như:
bủn – mủn, vấu – mấu, vắn – ngắn; đàm - đờm, ngóc - ngách, rạ - rựa; bệt – bết, lén – lẻn, ngưng – ngừng; phản – ván, giun – trùn, vỗ – phổ,…
Đối với Việt ngữ học, các nguyên nhân của hiện tượng này đã đượcnhiều học giả đề cập đến từ nhiều phương diện khác nhau Có học giả coi đó
là từ đặc điểm biểu trưng âm thanh (sound symbolism), có người lại tìmtrong bản chất của đơn vị ngữ pháp dưới âm tiết và cũng có người cho đó làkết quả của một phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt và trong một số ngônngữ đơn lập khác
Những giải thích có tính cấu trúc như vậy đều có một vùng ứng dụngriêng và đều có hạt nhân chân lí của mình Tuy nhiên, với những giải pháp cótính lâm thời như vậy, các tác giả mới chỉ chú ý đến những hiện tượng lẻ tẻ
mà chưa thật sự vươn tới một cách nhìn hệ thống và nhất là chưa hề có ýthức thiết lập một cơ sở dữ liệu đủ tin cậy cho rộng đường bàn luận
Trong khuôn khổ một luận văn, chúng tôi mong muốn trước tiên là thuthập đủ dữ liệu cho hiện tượng liên quan Trên cơ sở dữ liệu này, luận văntiến hành phân tích và bước đầu đưa ra vài kết luận về chúng Tuy nhiên dokhuôn khổ luân văn và trình độ của học viên, nên tất cả các phân tích và nhậnđịnh ở đây mới chỉ dừng ở mức ướm thử mà chưa phải là những khẳng địnhcuối cùng về hiện tượng vô cùng phức tạp này
2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5
Trang 6Chúng ta có thể gọi hiện tượng tương tự nhau về âm cũng như về
nghĩa này là các đơn vị từ vựng tương tự Theo Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ
học, đơn vị từ vựng tương tự có thể được hiểu theo hai cách khác nhau:
1/ Đó là “những từ có những đặc điểm tương tự nhau về cấu tạo và ýnghĩa trong cùng một ngôn ngữ - là những từ rất gần nhau, nhưng không hoàntoàn trùng nhau về mặt ngữ âm và ý nghĩa, thường khác nhau về đặc điểmngữ pháp, khả năng kết hợp từ vựng Ví dụ: quăn, xoăn, vặn; cái, nái, mái,
Cơ sở dữ liệu chính được lấy từ Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ
học, xuất bản năm 2000 Các đơn vị từ vựng tương tự nhau về hình thức và
về nội dung nghĩa Những thông tin khác về thuộc tính ngữ pháp hoặc đặcđiểm sử dụng cũng được ghi lại Số lượng các đơn vị từ vựng được đưa vào
cơ sở dữ liệu là:
Khi xử lí tư liệu chúng tôi đã tận dụng những kiến thức chung về Việtngữ học, đặc biệt là các kiến thức về âm vị học tiếng Việt, về từ vựng họctiếng Việt và phương ngữ học tiếng Việt Một số các tri thức có liên quan đến
lớp từ Hán Việt được tham khảo từ Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh và hai tác phẩm quan trọng của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn: Nguồn gốc cách đọc Hán
Việt và Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (Sơ thảo).
3 CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Các yếu tố từ vựng được tập hợp lại theo cả hai tiêu chí gần gũi nhau
về ngữ âm và ngữ nghĩa, hiểu theo nghĩa rộng Cơ sở dữ liệu được phân tíchtheo hướng phân tích âm vị học nét và ngữ nghĩa học nét nhằm đi tìm lấy cơ
sở về ngôn ngữ học cho hiện tượng đặc thù này của từ tiếng Việt
6
Trang 74 BỐ CỤC
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí thuyết
Chương II: Cơ sở dữ liệu
Chương III: Phân tích một số đặc điểm ngữ âm - ngữ nghĩa của các nhóm từ tương tự tiếng Việt
7
Trang 8CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 TỪ VÀ NGHĨA CỦA TỪ
1.1.1 Đặc trưng tín hiệu của từ
Dựa trên các cơ sở của ngôn ngữ học cấu trúc ta có thể nghiên cứu từ theo các đặc trưng tín hiệu của nó Mỗi từ tách riêng ra đều có mặt biểu hiện (bằng âm thanh hay bằng chữ viết) và mặt được biểu hiện (là các khái niệm,
hình ảnh về sự vật và hiện tượng, tồn tại bên trong từ đó) Mặt biểu hiện của
từ được hiểu là các thuộc tính vật chất của nó, cái mà người dùng có thể cảmnhận được thông qua các giác quan của mình Còn mặt được biểu hiện của từchính là cái nội dung mà từ đó chuyên chở nhằm thoả mãn các nhu cầu traođổi tư tưởng và tình cảm của con người qua hoạt động giao tiếp đặc trưng làbằng ngôn ngữ Theo J Lyons, từ là một loại đơn vị tín hiệu điển hình nhấtcho một hệ thống ngôn ngữ Từ là đơn vị ngôn ngữ mà người sử dụng nó cảmnhận được tự nhiên nhất
Tuy nhiên, khi đặt từ trong một mối quan hệ của con người và thực tại thì vấn đề nội dung của từ trở nên quan trọng và có nhiều cách tiếp cận khá
khác nhau Theo L Wittgenstain, vấn đề của từ chính là vấn đề tương tác của
mối quan hệ bộ ba: ngôn ngữ, hiện thực và tư duy Từ là khả năng phản ánh
thực tại của con người thông qua tư duy Bởi vì ngôn ngữ là biểu hiện của tưduy mà tư duy lại chính là sự phản ánh thực tế khách quan tồn tại ngoài conngười nên mỗi từ chính là sự hiện thực hoá của mối quan hệ sau đây:
Thực tế khách quan
Đa số các từ trong một ngôn ngữ đều hàm chứa đầy đủ cả ba mặt khác
nhau này Chẳng hạn các từ cơ bản như: bàn, ghế, tủ, ăn, đẹp có cả thực tế
8
Trang 9khách quan để phản ánh, có cả nội dung khái niệm mà nó ghi lại và bản thân
âm thanh mà nó được chứa trong đó Nhưng lại có những từ không thể hiện
được đầy đủ như vậy Chẳng hạn các từ như ma, thần, thánh có khái niệm
về các sự tình trong tưởng tượng, nhưng lại không có các hiện thực tương ứng trong thực tế Ngược lại các từ như: cúc cu, gâu gâu, độp, soạt lại chỉ
có những hiện thực trong thực tế mà chúng phản ánh nhưng không thể tạonên những hình ảnh ý niệm thật rõ ràng về chúng
Chính trong mối quan hệ bộ ba mà hai mặt của tín hiệu tác động, hỗ trợ
và bù trừ lẫn cho nhau tạo nên tính đa dạng và phức tạp của bản chất tín hiệuquen gọi là từ Trên cơ sở tam giác ngữ nghĩa ở trên, có thể đi tới việc khẳngđịnh: không thể đồng nhất nghĩa của từ với khái niệm cũng như các thuộctính khách quan của hiện tượng, sự vật mà từ phản ánh Các phương thứcquan hệ giữa nội dung và bản thân từ là vô cùng đa dạng và về mặt lí thuyếtrất khó kiểm soát đơn thuần chỉ bằng tư duy thuần lí như cách vẫn được sửdụng trong các phân ngành của khoa học tự nhiên
Chúng ta đang nói về từ với tư cách là một đơn vị tách rời của ngônngữ và mối quan hệ của nó với các cấp độ khác của ngôn ngữ cũng như vớicon người và hiện thực mà nó quan hệ Tuy nhiên, các từ của một ngôn ngữlại không tồn tại một cách biệt lập mà thường xuyên được cố kết và có cácquan hệ đa chiều với nhau Các quan hệ này tạo nên tính hệ thống của một
vốn từ của một ngôn ngữ Cấu tạo của một từ trong ngôn ngữ là một tổ hợp
phức tạp các quan hệ Thứ nhất từ ngữ âm đóng vai trò là cái ký hiệu của ý nghĩa (cái biểu hiệu) Thứ hai, từ ngữ âm với ý nghĩa của mình (cái biểu hiệu) lại đóng vai trò là ký hiệu của sự vật (cái biểu vật) Thứ ba, trong những phát ngôn cụ thể, trong lời nói, trong toàn bộ tổ hợp (toàn bộ tam giác ngữ nghĩa) còn có thể đóng vai trò là ký hiệu của một sự vật khác, một sự vật mới Các quan hệ có tính chất ký hiệu ở trong từ như vậy là có nhiều bậc [39;
34]
9
Trang 10Quan niệm về tính tín hiệu của một từ không đơn giản là việc coi nó chỉnhư là một cấu trúc bao gồm hai bộ phận: cái biểu hiện và cái được biểu hiện.Trong cấu trúc ngôn ngữ, đây là một phức thể của những quan hệ giữa nhữngthành phần biểu hiện và những thành phần được biểu hiện Mức độ phức tạp củamột cấu trúc từ được nảy sinh từ mối quan hệ giữa biểu hiện và được biểu hiện
sẽ được nhân lên và lặp đi lặp lại nhiều lần do sự phản ánh nhiều lần các tươngtác trong mối quan hệ bộ ba: ngôn ngữ, tư duy và hiện thực Ju X Xtepanov
khẳng định: Đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể có đặc trưng như là ký hiệu, đó
là từ Các quan hệ ký hiệu trong từ có nhiều bậc [39; 458].
1.1.2 Đặc trưng hệ thống của từ
Các từ được tập hợp thành những tiểu hệ thống dựa trên các đặc điểm ởmặt biểu hiện và ở mặt được biểu hiện Ở mặt biểu hiện, các từ có thể đượcphân theo các đặc điểm về hình thức cấu tạo như: số lượng âm tiết trong mộtcấu trúc từ, tính chất của mối quan hệ giữa các yếu tố cấu tạo từ Vì các thuộctính này bộc lộ từ trên cơ sở các yếu tố hình thức (ngữ âm, ngữ pháp), nên khi
gom lại thành từng nhóm, ta có các kiểu cấu tạo từ, ví dụ: từ đơn tiết/ từ đa
tiết, từ ghép đẳng lập/ chính phụ, từ láy/ ngẫu hợp, từ phái sinh/ từ ghép thôngthường, từ hư/ từ thực Ở mặt được biểu hiện, tuỳ theo các mối quan hệ vềmặt nội dung mà các từ lại được gom nhóm theo các trường từ vựng - ngữnghĩa khác nhau Khi các thuộc tính nội dung ngữ nghĩa được tập hợp lại theo
hệ thống nét nghĩa có trong một từ, ta có các trường đa nghĩa của một từ Khi
các nét nghĩa làm nhiệm vụ thống nhất các từ lại thành một nhóm lớn hơn
trong vốn từ một ngôn ngữ, ta có các trường đồng nghĩa hay trái nghĩa.
Mặt khác, các từ có thể được cấp cho đặc trưng hệ thống khi thamchiếu cấp độ này với những cấp độ khác nó trong một hệ thống ngôn ngữ.Chẳng hạn, khi đối chiếu từ với các chức năng tạo thành phần câu, người taliền chia các từ thành các phạm trù từ vựng - ngữ pháp Theo thuật ngữ ngôn
ngữ học thường dùng, đó là các hệ thống từ loại của một ngôn ngữ Khi đối
10
Trang 11chiếu từ với các thầnh phần âm thanh tạo nên vỏ từ, người ta liên chia các từ
thành các nhóm đồng âm và đa nghĩa.
Vì ngôn ngữ là hệ thống hoàn chỉnh và luôn luôn có gắn kết hữu cơ,nên bản thân việc phân cấp độ đã là việc làm mang tính tương đối Chính vìthế, các đặc trưng từ loại theo cách nhìn của cú pháp lại có cơ sở ngay từtrong các đặc điểm nghĩa của từ, ở cấp độ từ vựng Chẳng hạn, các danh từ làcác từ mang ý nghĩa thực thể trong khi các động từ lại mang ý nghĩa hoạtđộng trạng thái Hoặc khi phân từ thành các phạm trù đồng âm và đa nghĩa
từ cách nhìn ngữ âm học, thì bản thân tiến trình từ vựng hoá các yếu tố từvựng, như Xtepanov đã từng nhận xét, lại là tiến trình liên tục, đi từ đa nghĩađến đồng âm! Sự phát triển nghĩa của nội bộ một từ đến một lúc nào đó, theonguyên tắc tín hiệu học, được tách ra do nhu cầu dùng và từ một nét nghĩa cótrong một hệ thống các nét nghĩa của một từ đã tách riêng ra, sinh hoạt độc lậpvới vỏ từ đã có sẵn để trở thành một từ độc lập với từ trước đó Từ đồng âm
ra đời
Trở lên trên, chúng ta đã xét đến các phạm trù từ vựng học thôngthường Những phạm trù này có một đặc điểm chung là có sự đều đặn giữamặt biểu hiện và mặt được biểu hiện, theo cách hiểu về tính võ đoán trongmột hệ thống tín hiệu Bản chất của tín hiệu ngôn ngữ là dựa trực tiếp trêntính võ đoán, tính không lí do giữa mặt biểu hiện và được biểu hiện, do chỗ
nó là một hệ thống sử dụng phổ biến cho một tập thể cộng đồng, trong lát cắtđồng đại Tuy nhiên, ở ngôn ngữ nào cũng có hàng loạt các từ không đảm bảođược cái đặc trưng điển hình tín hiệu học về mối tương ứng một - đối mộtmột cách võ đoán, không có lí do này Đó là các từ mà trước nay được gọi là
nhóm biểu trưng âm thanh Trong các nhóm từ này, dường như xuất hiện một
liên hệ nào đó giữa hình thức và nội dung Những cơ sở của mối liên hệ nhưvậy có thể phải tìm trên những đặc điểm tâm lí mà một tộc người đã hìnhthành nên trong suốt chiều dài lịch sử Thay vào tính võ đoán phổ biến là tính
11
Trang 12có lí do tương đối, cái chỉ những người bản ngữ mới nhận cảm và sử dụngđược Trong một cách nhìn nhận như vậy, bên cạnh tư duy thuần lí cần phảitính đến các cơ sở tâm lí tộc người khi nghiên cứu về một vốn từ.
1.1.3 Hai quá trình từ vựng học cơ bản
Như trên đã nói, hệ thống từ vựng học của một ngôn ngữ có thể đượcxem xét theo mối quan hệ giữa cái biểu hiện và được biểu hiện một cáchriêng rẽ cho từng nhóm từ hoặc cho từng từ một Nhưng mặt khác, cũng cóthể được xem xét trong chính mối quan hệ của các từ ở từng mặt biểu hiện vàđược biểu hiện Cách thứ hai đưa đến tiếp cận từ ngữ theo quan điểm tiếntrình
Khi nhấn mạnh đến tính tiến trình của một hệ thống từ vựng học, ta cóthể nhìn hệ thống đó theo tương tác giữa mặt biểu hiện và mặt được biểu hiệntheo sự vận động của các đặc điểm hay các đặc trưng hình thức (âm thanh) và
ý nghĩa (nội dung mà từ bao hàm) Như đã được các lí thuyết về từ khẳngđịnh, trong bất kì một hệ thống từ vựng học nào cũng có hai quá trình từ vựnghọc điển hình Đó là quá trình đồng âm hoá và quá trình đồng nghĩa hoá Quátrình đồng âm tập trung vào đặc tả mặt biểu hiện của từ còn quá trình đồngnghĩa thì lại tập trung vào đặc tả mặt được biểu hiện của từ
1.1.3.1 Đồng âm
Âm thanh mà con người có thể phát là hữu hạn còn cái mà con ngườimuốn diễn đạt, biểu hiện lại là vô hạn Do đó, việc phải dùng những hình thứcvật chất giống nhau để thể hiện, diễn đạt những nội dung ngữ nghĩa khác nhau
là một tất yếu Sự tất yếu này tạo ra trong ngôn ngữ hiện tương đồng âm.Đồng âm là một hiện tượng phổ biến trong mọi ngôn ngữ Các ngôn ngữ càngphát triển thì hiện tượng đồng âm càng nhiều Những đơn vị của hiện tươngđồng âm là những đơn vị có vỏ vật chất giống nhau nhưng khác nhau về ýnghĩa
12
Trang 13Hiện tượng đồng âm trong từ vựng là hiện tượng của các từ đồng âm.
Theo Ju.X.Xtepanov: “Hiện tượng đồng âm nói chung được định nghĩa là sự
trùng nhau về âm thanh của các từ có ý nghiã khác nhau” [39;66]
Như vậy, dưới cái nhìn đồng đại, hiện tượng đồng âm là hiện tượngtrùng hợp ngẫu nhiên về hình thức của một số đơn vị ngữ nghĩa khác nhauhoàn toàn
Trong tiếng Việt, hiện tượng đồng âm từ vựng xảy ra rất phổ biến Cóthể thống kê số lượng âm tiết có âm đầu “b” và số lượng từ đơn có âm đầu
“b” như một ví dụ cho điều này Chỉ với 261 âm tiết có âm đầu “b” tạo được
493 từ đơn có âm đầu “b” Như vậy, trung bình cứ 1 âm tiết sẽ tạo được 2từ
Hiện tượng đồng âm là phổ biến với một số lượng lớn các đơn vị songđại bộ phận các đơn vị này không được giải thích về nguồn gốc Đã có một số
lý giải được các nhà ngôn ngữ học đưa song mới chỉ giải thích được cho một
số lượng rất ít các trường hợp Các nhà Việt ngữ học cũng đã đưa ra một số
lý giải cho hiện tượng từ đồng âm trong tiếng Việt:
- Do vay mượn từ ở các ngôn ngữ khác và những từ này lại có hìnhthức âm thanh trùng với hình thức âm thanh của các từ đã có trong hệ thống
từ vựng tiếng Việt
- Do sự biến đổi hình thức ngữ âm của một từ nào đó và kết quả của
sự biến đổi đó tạo ra một hình thức âm thanh trùng với hình thức âm thanhcủa một từ đã có trước đó
- Do sự đứt rời – tách biệt một ý nghĩa nào đó của một từ đa nghĩa với các ý nghĩa khác song ý nghĩa bị tách biệt ra đó vẫn mang hình thức cũ
- Do sự cấu tạo từ ghép từ các yếu tố có sẵn là các đơn vị của hiện tượng đồng âm
Như vậy, sự giống nhau về hình thức âm thanh của các đơn vị thuộchiện tượng đồng âm không hoàn toàn do nhu cầu “tiết kiệm” mà do sự hạn
13
Trang 14chế trong cơ chế phát âm (sự hữu hạn của hệ thống âm thanh do con ngườiphát ra hay nói đúng hơn là sự hạn chế trong khả năng tri nhận âm thanh).Hiện tượng đồng âm dường như đã tạo ra sự phức tạp trong hệ thống từ vựng– ngữ nghĩa, bởi những ý nghĩa khác nhau đã bị “che lấp” bằng những hìnhthức vật chất cùng “kiểu” Và khi hình thức vật chất không phân biệt đượcnghĩa thì “trách nhiệm” này được chuyển sang cho khả năng kết hợp Chúng
ta không thể biết nghĩa của các đơn vị thuộc hiện đồng âm khi tiếp nhận hìnhthức âm thanh của chúng Chỉ khi đưa chúng vào các kết hợp thì nghĩa củachúng mới lộ rõ Đặc biệt trong tiếng Việt đồng âm cũng có nghĩa là đồng tự(trừ một số trường hợp phát âm không phân biệt âm đầu hoặc âm cuối, phát
âm thiếu thanh điệu ở một số phương ngữ), nên không thể nhận thấy nghiãcủa các từ đồng âm được khi chỉ tiếp nhận vỏ vật chất của chúng là tất yếusong kể cả khi đi vào trong kết hợp thì nghĩa của chúng cũng không được rõnét, thậm chí nhiều yếu tố khi trở thành từ tố thì ý nghĩa đã bị mờ và dầnkhông còn được phân biệt
1.1.3.2 Đồng nghĩa
Đồng nghĩa đi ngược lại tiến trình đồng âm trong một ngôn ngữ Cácđơn vị có sự khác nhau hoàn toàn về nghĩa song có hình thức vật chất giốngnhau thì ở hiện tượng đồng nghĩa các đơn vị có sự khác nhau hoàn toàn về vỏngữ âm song lại cùng chứa đựng một nội dung ngữ nghĩa hoặc chứa đựngnhững nội dung ngữ nghĩa tương tự nhau
Theo Đỗ Hữu Châu: “Hiện tựơng đồng nghĩa là quan hệ về ngữ nghĩa
giữa các từ trong toàn bộ từ vựng Đó là quan hệ giữa các từ ít nhất có chung một nét nghĩa” [3; 196].
Các từ chỉ đồng nghĩa với nhau khi đã cùng thuộc một trường nghĩa.Điều kiện tiên quyết để phát hiện ra các đơn vị đồng nghĩa là dựng ra đượccác trường nghĩa Một số từ có nhiều nghĩa (biểu vật hay biểu niệm) tức làmột từ có thể thuộc nhiều trường nghĩa, do đó có thể đồng nghĩa với nhiều
14
Trang 15nhóm từ khác nhau Các nhóm từ khác nhau đồng nghĩa với một từ nhiềunghĩa là những nhóm từ ở các trường nghĩa khác nhau.
Hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tuỳ theo sốlượng các nét nghĩa chung các từ Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ chỉ
có chung một nét nghĩa đồng nhất Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lênthì từ càng đồng nghĩa với nhau Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các
từ đó có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉkhác ở một vài nét nghĩa cụ thể nào đó
Điều này cũng có nghĩa là, khi chúng ta phân chia các trường lớn thànhcác trường nhỏ và nhóm nghĩa nhỏ thì đồng thời chúng ta cũng tiến gần tớicác nhóm đồng nghĩa có mức độ đồng nghĩa mỗi lúc một cao
Tuy nhiên, không chỉ riêng số lượng các nét nghĩa chung là đủ quyếtđịnh các từ đồng nghĩa trong trường Phải nói thêm rằng các nét nghĩa đó phảikhông laọi trừ lẫn nhau Nếu như hai từ trong cùng một trường đồng nhất vềtất cả các nét nghĩa trừ hai nét nghĩa nào đó chống nhau, loại trừ lẫn nhau thìlập tức, với sự xuất hiện nét nghĩa loại trừ lẫn nhau chúng không còn là từđồng nghĩa
Như vậy có thể thấy hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng xảy ra giữamột nhóm các từ trong cùng một trường nghĩa, có ít nhất một nét nghĩa chung
và không có nét nghĩa nào loại trừ lẫn nhau
Mối quan hệ đồng nghĩa giữa các từ là rất phức tạp, bởi chính sự phứctạp trong cơ cấu nghĩa của từ
1.1.4 Từ tương tự
1.1.4.1 Định nghĩa
Khi tách rời hai mặt biểu hiện và được biểu hiện để nghiên cứu về từchúng ta nhận được hai quá trình từ vựng học đặc trưng là: đồng âm hoá vàđồng nghĩa hoá Việc tách rời như vậy chỉ cốt để tiện cho làm việc Trongthực tế, như Saussure đã nói, mặt biểu hiện và được biểu hiện trong một tín
15
Trang 16hiệu (trong trường hợp này là từ) khăng khít với nhau như hai mặt của một tờgiấy Ở giai đoạn hoàng kim của cấu trúc luận, sự gắn kết chặt chẽ này đượccoi là phải mang tính võ đoán nghiêm ngặt Chính tính không lí do của gắnkết mới làm cho số lượng từ là hữu hạn có thể phản ánh được vô hạn các kháiniệm và thực tế khách quan, đủ cho người dùng trong giao tiếp xã hội Mặtkhác, nhờ tính võ đoán, các bình diện, cấp độ khác nhau trong cấu trúc ngônngữ mới đủ đảm bảo trở thành các đối tượng khoa học cho các ngành ngônngữ học độc lập Chẳng hạn: ở mặt ngữ nghĩa có ngành Ngữ nghĩa học; ở mặt
âm thanh có ngành Âm vị học; ở mặt từ ngữ có Từ vựng học Như vậy, tính
võ đoán là tiền đề có tính nguyên tắc trong khi nhìn hệ thống ngôn ngữ như làcác tầng bậc cấu trúc có tính độc lập tương đối theo nguyên tắc cấu trúc luận
Nó cho phép khẳng định đơn vị tín hiệu đang xét như là một loại tín hiệu điểnhình, do quy ước mà thành
Ngày nay, ngôn ngữ học hiện đại không còn làm việc với một khung líthuyết cứng nhắc như vậy nữa Khi xét bản chất ngôn ngữ theo mối quan hệbiểu hiện và được biểu hiện và giữa ngôn ngữ với thực tại mà nó phản ánh,các nhà tín hiệu học hiện đại chia các đơn vị tín hiệu từ ngữ của một ngôn ngữ
ra là nhiều loại khác nhau Những loại này được xác định nhờ mức độ gắn kết
tự nhiên hay không tự nhiên giữa hai mặt và giữa ngôn ngữ và thực tại Vềtính chất của mối quan hệ này, R Keller cho rằng, trong thực tế tồn tại hai cực
đối ngược nhau: phỏng hình tính (iconicity) và phù hiệu tính (symbolicity) Ở
cực phỏng hình, các đơn vị tín hiệu chưa đánh mất mối liên hệ tự nhiên giữamặt biểu hiện và được biểu hiện và giữa ngôn ngữ và thực tại Còn ở cực phùhiệu, chúng đã hoàn toàn đánh mất mối liên hệ tự nhiên giữa các mặt và hiệntượng này Các từ ngữ như Saussure và những nhà cấu trúc luận cực đoanquan tâm là các từ đã đủ tư cách phù hiệu và tín hiệu Chúng cơ giới trongmối quan hệ biểu hiện và được biểu hiện Chính ở khu vực này, việc tách rađồng âm và đồng nghĩa mang lại kết quả khả quan trong
16
Trang 17nhìn nhận tính hệ thống của một khối từ vựng Tuy nhiên, khi các từ chưađánh mất hoàn toàn mối liên hệ giữa hình thưc và nối dung, giữa nhận thức
và thực tại, tức là các từ còn mang tính phỏng hình nhiều, thì việc xét tínhđồng âm và tính đồng nghĩa của chúng dường như là thật khiên cưỡng vàmáy móc Sự gần giống nhau về hình thức cũng như sự tương tự về mặt nộidung do những ấn tượng, những liên tưởng tâm lí đưa lại, tạo cho chúng mộtthang độ nào đó về tính đồng nhất và mối liên hệ giữa các đồng nhất có mức
độ đó ở mặt hình thức và nội dung Điều này cho phép nghiên cứu các từ cóđặc trưng phỏng hình theo tiếp cận của quá trình từ tương tự
Ở 1.1.3.1 và 1.1.3.2 chúng ta đã xem xét tới hai hiện tượng đồng âm
và đồng nghĩa Ở hiện tượng đồng âm, tiêu chí hình thức ngữ âm được quantâm và xét đến trước nhất Còn ở hiện tượng đồng nghĩa thì tiêu chí được xétđến trước nhất là nội dung Hiện tượng từ tương được Ju.X.Xtepanov địnhnghĩa như một hiện tượng thực sự trung gian giữa hiện tượng đồng âm và
đồng nghĩa: “hiện tượng từ tương tự là hiện tượng hai từ trùng nhau từng bộ
phận của vỏ ngữ âm: cách trùng nhau như thế không thể quy vào hiện tượng đồng âm, cũng không thể nói là hai từ trùng nhau về từng thành phần cấu tạo của chúng (trùng gốc từ, về tiếp đầu tố, hậu tố, vĩ tố) Ý nghĩa của hai từ cũng giống nhau, nhưng trên thực tế sự giống nhau đó không thể xác định một cách hoàn toàn tách biệt là hiện tượng đồng âm hay là một biến dạng”[39;
82]
Có thể khai triển ý tưởng lí thuyết này cho khu vực thực tế mà chúng ta
đang quan tâm Trước hết, việc xem xét và miêu tả các thuộc tính hình thức
(ngữ âm) và thuộc tính nội dung (ngữ nghĩa) của các nhóm từ tương tự phảixuất phát từ quan niệm đồng đại Trong khi hoạt động, ngôn ngữ luôn vậnđộng và phát triển Quá trình vận động đó dẫn đến những thay đổi về hệ thốngngữ âm và thay đổi về hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, quen gọi là ngữ
âm học lịch sử hay từ vựng học lịch sử Dưới quan điểm lịch đại, các từ, cácthuộc tính ngữ âm cũng được nối lại với nhau theo các nguyên tắc phục
17
Trang 18nguyên (hay tái lập) Chúng cũng được gọi là các phép nối có tính hệ thống,nhưng là hệ thống của tiến trình lịch sử (theo chiều dọc) Chẳng hạn, tronglịch sử ngữ âm tiếng Việt, các thanh điệu thấp có mối quan hệ hệ thống vớiđối lập hữu/ vô thanh của phụ âm đầu Tuy nhiên, không thể nói như vậytrong lát cắt đồng đại về một mối quan hệ giữa các thanh thấp với các phụ âmđầu hữu thanh được, vì trong lát cắt đồng đại, thanh và phụ âm đầu là hai tiểu
hệ khác nhau và có chức năng khu biệt nghĩa khác nhau! Cũng như vậy, các
từ ngữ luôn bị biến động trong lịch sử phát triển Chẳng hạn, trong lịch sử từ
vựng học tiếng Việt, từ lấm có thời kì đã được dùng như là từ có nghĩa bùn,
từ han có thời kì đã được dùng như từ hỏi ngày nay Theo quan điểm lịch sử, các từ này có quan hệ hệ thống về nguồn gốc Tuy nhiên, trong thời đương đại, lấm và bùn là hai từ khác nhau Chúng có trạng thái ngữ pháp khác nhau
và nghĩa khác nhau Tương tự, han và hỏi trong thời hiện đại không có tính
hệ thống vì han đã mất tư cách độc lập mà chỉ còn là một yếu tố cấu tạo từ
không độc lập mà thôi Chính vì thế, khi tập hợp các từ ngữ vào hệ các từtương tự, chúng ta phải xuất phát từ cách nhìn đồng đại: chúng đang tồn tại
và được người bản ngữ hiểu và sử dụng tự nhiên
Thứ hai, khu vực xét hệ thống từ vựng theo tính tương tự cần mở rộng
ra cả ở các đơn vị từ vựng lẫn các yếu tố từ vựng Chẳng hạn: ngang, thẳng,
bằng, thoang thoảng, quàng, tthoáng, choàng, loạng choạng là các yếu tố
từ vựng chung nhau nét hiện diện (hoặc làm cho hiện diện) theo bề ngang
Trong nhóm tương tự này có những đơn vị là các từ, ví dụ: ngang, thẳng,
bằng, quàng, thoáng, choàng Đồng thời lại có các đơn vị là các yếu tố cấu
tạo từ: thoang, choạng
Thứ ba, vì các nét nghĩa liên hội tâm lí này là nét từ vựng học - tâm lí,
nên không nhất thiết chúng phải cùng nằm trong một phạm trù từ vựng học ngữ pháp: từ loại Chẳng hạn, trong nhóm vừa dẫn ra có thể thấy có các từ làdanh từ, động từ và cả là tính từ Chính vì những đặc điểm này mà khi tập hợp
-18
Trang 19vào nhóm tương tự từ vựng học, chúng ta có cả hai loại đơn vị: từ và yếu tốcấu tạo từ Do vậy, từ đây chúng ta gọi các yếu tố có trong hệ thống tương tự
từ vựng học là các yếu tố từ vựng học tương tự để tiện làm việc
Cuối cùng, về mặt tiêu chuẩn tập hợp nhóm Có thể coi là các yếu tố từ
vựng tương tự, khi chúng thoả mãn những tương tự đồng thời ở cả hai bìnhdiện:
a./ nội dung ngữ nghĩa
b./ hình thức ngữ âm
Chẳng hạn, được coi là có sự tương tự về mặt nội dung ngữ nghĩa là các
từ hoặc yếu tố từ vựng có những nét nghĩa nào đó gần nhau hoặc có sự liên hội
tâm lí về cái được biểu hiện Ví dụ ngâm, ngầm, ngấm, ngẩm, ngậm, và ngẫm có nét chung về mặt ngữ nghĩa là: sự kéo dài và không bộc lộ ra ngoài Còn được coi là có sự tương tự về mặt hình thức ngữ âm là các từ hoặc yếu tố từ vựng có
những nét ngữ âm nào đó gần gụi nhau hoặc có thể tìm ra mối dây liên hệ về âm
vị học qua biểu diễn âm vị học Ví dụ cong queo, khoèo, co, vặn, khoảnh,
khoang có một đặc điểm ngữ âm chung nhau và có
một mối liên hệ về âm vị học là: nét tròn môi Nét này khi thì nằm ở khu vực
điệu vị tính, khi thì nằm ở khu vực chiết đoạn tính; khi thì nằm ở phụ âm, khithì nằm ở nguyên âm
Dựa trên các đặc điểm vừa xác lập đối với hiện tượng tương tự từvựng học, chúng ta đi tới định nghĩa để làm việc như sau:
Một hệ thống có tính tương tự về mặt từ vựng học bao gồm các thành viên là các yếu tố từ vựng học có những đặc trưng ngữ âm tương tự nhau và (từ đó hay do vậy mà) có những san sẻ (với nhau) về đặc trưng ngữ nghĩa Các yếu tố từ vựng học này không nhất thiết phải được đồng nhất nhau về mặt từ loại hay tư cách đơn vị ở cấp độ từ Vì hiện tượng tương tự là hiện tượng ngôn ngữ học của diện đồng đại nên các yếu tố được xét phải được
19
Trang 20nằm trong ngữ năng (compentence) của người dùng đương đại và được người bản ngữ cảm nhận như một hiện tượng tâm lí ngôn ngữ học trực cảm.
1.1.4.2 Phân loại
Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có trong mọi ngôn ngữ Đối với mỗi
cá nhân, việc cảm nhận và hiểu từ như là một kết quả tự nhiên mang tính trựccảm, chứ không phải là kết quả suy luận thuần lí như khi đối diện với cáckhái niệm Việc nhận cảm từ ngữ ở tiếng mẹ đẻ là khác xa với việc nghe hiểu
và sử dụng từ ngữ ở ngôn ngữ thứ hai Ở ngôn ngữ mẹ đẻ, cá nhân sử dụng từtheo trực cảm, theo kinh nghiệm đã có sẵn như là một hành vi vô thức Trong
khi ở ngôn ngữ thứ hai, cá nhân buộc phải sử dụng từ theo cách diễn dịch: đi
từ nghĩa, từ hiệu lực của từ tới việc chọn từ ngữ thích hợp [D Abercrombie].Quá trình này ở ngôn ngữ thứ hai dựa trên cơ sở thuần suy lí hơn là từ trựccảm Do vậy các quá trình từ vựng của các cá nhân trong ngôn ngữ thứ haikhông mang tính tự nhiên như ở ngôn ngữ thứ nhất Một trong những nguyênnhân gây nên sự khác biệt trong cảm thức về vốn từ vựng học như vậy là domối quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ và các đặc trưng của một ngônngữ mà anh ta sử dụng Trong trường hợp đang xét là khả năng thụ đắc từthông qua các đặc điểm phức tạp sẵn có bên trong một cấu trúc từ vựng họccủa một ngôn ngữ Các từ được nối lại với nhau một cách có hệ thống bằngtoàn bộ các thuộc tính vốn có bên trong và bên ngoài nó Trong các thuộc tínhnày, có những thuộc tính thuộc về tín hiệu tính (hay phù hiệu tính) và cónhững thuộc tính thuộc về phỏng hình tính (hay cụ tượng tính) Khi cá nhân
là người ngoài cộng đồng nói năng, sử dụng ngôn ngữ như là một ngôn ngữthứ hai, các thuộc tính thứ nhất (tín hiệu tính) nổi lên, trong khi nếu là ngườibản ngữ thì thuộc tính thứ hai lại mạnh hơn Đó cũng chính là bản chất củahiện tượng ngữ cảm (intitution ) của người bản ngữ huyền bí mà nhà ngônngữ học nào cũng cảm nhận được nhưng ít người giải thích thấu đáo!
20
Trang 21Vốn từ của một ngôn ngữ là một sự tích tụ kinh nghiệm sử dụng ngôn
từ trong cả tiến trình hình thành và phát triển của một tộc người Nó là sự kếthừa, lưư đọng những lớp từ khác nhau đã tồn tại từ trước đó qua sự lựa chọncủa cộng đồng người dùng Chính vì thế, ở bất kì ngôn ngữ nào, vốn từ cũng
là những lớp ánh xạ của các lớp lang, tầng bậc theo cả hai chiều mặt biểu hiện
và được biểu hiện từ bên trong cấu trúc ngôn ngữ với hiện thực bên ngoàingôn ngữ mà nó phải có nhiệm vụ chuyên tải Khi một sự vật, một ý tưởng,một biểu trưng tâm lí của một tộc người được phản ánh lên cấu trúc ngônngữ theo nguyên tắc ánh xạ nhiều lớp như vậy, tất nhiên sẽ tạo ra hiện tượngnhiều biểu hiện na ná như nhau đối với nhiều được biểu hiện na ná như nhau
ở mặt được biểu hiện, cái mà chúng ta đang gọi chúng là hiện tượng tương tựtheo lí thuết tín hiệu học hiện đại Do nguyên lí ánh xạ nhiều đợt như vậy, ởmột lát cắt đồng đại, vốn từ theo hiện tượng tương tự từ vựng học được chiathành nhiều lớp khác nhau theo các đặc điểm cấu trúc Những hiện tượng từngữ mà trước đây được quan niệm là tập hợp các biến thể từ vựng là kiểu sơcấp trong nguyên lí từ tương tự này Được gọi là sơ cấp, bởi vì thực chất cảnhóm được hoạt động theo nguyên tắc: nội dung nghĩa được giữa nguyêntrong khi bề mặt biểu hiện có những luân phiên ngữ âm học nhất định Nhữngluân phiên này có thể tìm ra dễ dàng nhờ một phép chuyển đơn tuyến của biểudiễn âm vị học Chẳng hạn, những từ sau đây được thể hiện chỉ bằng một luậtchuyển âm vị học có ở vần:
đàng - đường tràng - trường cang - cương đang - đương
Luật chuyển âm vị học: [a|] [Ư|].
21
Trang 22Trong trường hợp vừa trích dẫn, nghĩa trong hai từ cùng cặp dườngnhư đồng nhất sự khác nhau thuộc về phong cách dùng Những chuyển đổi
về hình thức ngữ âm của chúng có thể dễ dàng tìm thấy trong vài đặc điểmngữ âm lịch sử nào đó của tiếng Việt Trong trường hợp cụ thể này, đó là đặc
điểm có trong Nguồn gốc của cách đọc Hán Việt.
Loại tương tự thứ hai không đơn thuần là sự bảo lưu nét nghĩa theo cấutrúc, theo nguyên lí đơn thuần tín hiệu học cổ điển, mà phức tạp hơn Cả haimặt nghĩa và ngữ âm đều có những chuyển dịch nhất định Những chuyểndịch này cho một cách nhìn tâm lí đối với hiện tượng ngôn ngữ Chẳng hạn
giữa các từ sau đây hình thành một tương tự từ vựng học: cong queo, khồe,
co, vặn, khoảnh, khoang Về nội dung ngữ nghĩa, chúng đều xoay quanh
biểu tượng tâm lí về hình tròn Còn về biểu hiện, chúng đều có một nét [+trònmôi], nét ngữ âm này có thể được âm vị học hoá vào đơn vị chiết đoạn hayđơn vị siêu đoạn Cái khó khăn của việc thâu thập hiện tượng tương tự loạithứ hai này là ở khả năng trừu xuất nội dung nghĩa của các từ có liên hệ Côngviệc này do mang tính tâm lí thẩm nhận nên chỉ người nói tiếng Việt nhưtiếng mẹ đẻ mới có thể cảm nhận được đầy đủ và tự nhiên
Tóm lại, theo lí thuyết Tín hiệu học hiện đại, hiện tượng tương tự từvựng học bao gồm hai loại Hai loại phân biệt nhau theo:
a./ theo tính chất của tín hiệu
b./ theo số lượng thành viên trong nhóm
Theo tính chất tín hiệu:
a/ giữa mặt biểu hiện và được biểu hiện có mối liên hệ thuần võ đoán:các từ tương tự tách rời giữa mặt biểu hiện và được biểu hiện Cái được biểuhiện dường như ổn định và đồng nhất, trong khi cái biểu hiện thì trượt trêncác đặc điểm luân phiên về ngữ âm Chúng là các đơn vị tín hiệu điển hìnhtheo nguyên lí tín hiệu học có từ thời Saussure
22
Trang 23b./ giữa mặt biểu hiện và được biểu hiện dường như có một mối liên
hệ tâm lí nào đó, Mối liên hệ của các từ trong nhóm là có lí do Trong trườnghợp này cả mặt biểu hiện và được biểu hiện đều xê dịch Các từ trong nhóm
có sự chia sẻ về nội dung và hình thức Nhưng sự chia sẻ về mặt được biểuhiện là một nét nghĩa chung nào đó, thông thường không được từ điển chú ýtới và tường minh Sự chia sẻ về mặt biểu hiện thông thường là một nét ngữ
âm nào đó Nét ngữ âm này về mặt chức năng không nhất thiết phải bị gánvào một đơn vị âm vị học cụ thể như âm vị học cổ điển thường quan niệm.Các đặc điểm như vừa nếu có lẽ là do đặc điểm loại hình của tiếng Việt.Chính vì vậy, để hiểu triệt để về nó phải là người bản ngữ
Theo số lượng thành viên:
a./ Có sự tương ứng theo cặp - nguyên tắc của hệ thống đóng Số lượngthành viên hạn chế,
b./ Có sự tập hợp theo nhóm - nguyên tắc của hệ thống mở Số lượngthành viên không hạn chế
Theo hai đặc điểm này, chúng ta chia các tương tự từ vựng học tiếngViệt thành hai loại:
Loại 1: tương tự của tín hiệu (signes) Các từ trong nhóm có mặt đượcbiểu hiện ổn định và mặt biểu hiện xê dịch Số lượng thành viên trong nhómhạn chế
Loại 2: tương tự của phỏng hình (incon) Các từ trong nhóm có sự xêdịch cả về mặt biểu hiện lẫn được biểu hiện Số lượng thành viên trong nhómkhống hạn chế
1.2 ÂM VỊ VÀ NÉT KHU BIỆT TRONG ÂM VỊ HỌC TIẾNG VIỆT
1.2.1 Âm tiết
Như chúng ta đã biết, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập.Trong tiếng Việt, âm tiết là đơn vị ngôn ngữ hết sức đặc biệt, có tính độc lậpcao Nó là đơn vị rất dễ nhận diện trong phát âm (âm thanh hoá) lẫn trong
23
Trang 24cách viết (ký tự hoá) Khi phát âm, mỗi âm tiết bao giờ cũng được thể hiện rất
rõ ràng và được phát âm tách rời với các tiếng đi cạnh nó Khi viết, mỗi âm
tiết được ghi thành một chữ rời với các chữ khác Ví dụ, trong câu: “Mẹ đi
chợ mới về” bất kì người Việt nào cũng nhận ra có 5 tiếng tách rời nhau, cũng
tức là có 5 khối chữ tách rời nhau được thể hiện khi viết Đó là: “mẹ” “đi”
“chợ” “mới” “về”.
1.2.2 Cấu trúc âm tiết
Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất Nó là khúc đoạn âm thanh nhỏ nhất
có thể phân cắt được trong chuỗi lời nói được con người phát ra Tuy nhiên,nhờ vào các thủ tục phân xuất âm vị học và hình thái học, mỗi âm tiết tiếngViệt còn có thể được chia tách thành các bộ phận nhỏ hơn âm tiết Các bộphận này được gọi là các thành phần âm tiết Theo GS Đoàn Thiện Thuật,việc chia tách này được tiến hành theo hai bậc như mô hình sau:
THANH ĐIỆU
VẦN
ÂM ĐỆM ÂM CHÍNH ÂM CUỐI
ÂM ĐẦU
Ví dụ một âm tiết như “hoan” có cấu trúc gồm 5 yếu tố như sau:
1/ Thanh điệu 1 (không dấu): là thành tố có chức năng phân biệt vớicác âm tiết khác về cao độ
2/ Âm đầu /h-/: là thành tố có chức năng mở đầu âm tiết
3/ Âm đệm /-w-/: là thành tố có chức năng thay đổi âm sắc của âm tiếtsau lúc mở đầu
4/ Âm chính /-a-/: là thành tố quyết định âm sắc chủ yếu của âm tiết, làhạt nhân của âm tiết
5/ Âm cuối /-n/: thành phần đảm nhiệm chức năng kết thúc âm tiết
24
Trang 25Trong thực tế, không phải âm tiết tiếng Việt nào cũng bao gồm đủ cả 5thành phần cấu tạo như trình bày ở dụ trên Sự vắng mặt các thành phần âmtiết trên bình diện phát âm và chữ viết là không như nhau Trên hình thức chữviết thì chỉ có 5 ký hiệu biểu diễn 5 thanh điệu (từ thanh 2 đến thanh 6: huyền,hỏi, ngã, sắc, nặng) còn thanh điệu 1 không có hình thức biểu hiện, song trênbình diện âm thanh thì nó vẫn tồn tại Bất cứ âm tiết tiếng Việt nào cũng có sự
mở đầu của mình song trên hình thức chữ viết cũng có một âm vị làm âm đầukhông được ký hiệu hoá, đó là âm vị / K/ Âm chính là thanh phần không thểthiếu của bất cứ âm tiết tiếng Việt nào trên cả hai bình diện: phát âm và chữviết Một âm tiết có thể có hoặc không có âm đệm và âm cuối trong bình diệnphát âm Sự vắng mặt của âm đệm và âm cuối trên bình diện phát âm đượcthể hiện bằng sự vắng mặt hình thức biểu hiện trên chữ viết
Âm tiết tiếng Việt bao gồm nhiều thành phần khác nhau, và đườngphân chia các thành phần này cũng đậm nhạt khác nhau hay nói đúng hơn thìchúng thuộc vào các tầng bậc cấu trúc khác nhau Đường ranh giới phân chiagiữa âm đầu, vần và thanh điệu là rất rõ ràng, còn đường ranh giới phân chiacác bộ phận bên trong vần (âm đệm, âm chính và âm cuối) hết sức mờ nhạt.Tuỳ thuộc vào mức độ đậm nhạt, hay khả năng độc lập của các yếu tố âm tiếttiếng Việt được chia thành hai bậc cấu trúc:
- Bậc 1 gồm thanh điệu, âm đầu và vần là các yếu tố có tính độc lập cao, kết hợp lỏng
- Bậc 2 gồm các thành tố của vần: âm đệm, âm chính và âm cuối là các yếu tố có tính độc lập thấp, kết hợp khá chặt
Có thể hình dung cấu trúc 2 bậc của âm tiết tiếng Việt qua sơ đồ sau:
Âm tiết
Âm đầu
Âm đệm
25
Trang 26Âm vị học hiện đại đi sâu vào nghiên cứu các thuộc tính có bên trongtừng âm vị và mối liên kết của chúng để cấu trúc nên các đơn vị âm vị học lớnhơn như âm vị hoặc tiết vị Trong quan niệm này, âm tiết được coi là sự cốkết của hai đường phân bố của các nét siêu đoạn và chiết đoạn vốn có trongtừng cấu trúc tiết vị ( đối với các ngôn ngữ Đông phương, nhất là các ngônngữ có thanh điệu).
Mô hình sau đây cho phép thấy rõ đặc trưng phân bố các nét âm vị học
có trong một âm tiết (hình tiết):
N
C 1
Chú thích:
N: Mức năng lượng cho nét khu biệt
T: Thời gian để thể hiện một âm tiết
C1, V, C2: Cấu trúc khung âm tiết
Âm tiết tiếng Việt được phân chia làm hai cấu trúc nhỏ đó là cấu trúcchiết đoạn và cấu trúc siêu đoạn Cấu trúc chiết đoạn là cấu trúc phổ niệm chobất kỳ một ngôn ngữ nào trên thế giới Còn cấu trúc siêu đoạn thì mang tínhđặc thù cho từng ngôn ngữ cụ thể Cấu trúc chiết đoạn trong âm tiết bao gồmcác thành tố:
- Âm đầu
26
Trang 27cấu tạo vần (đối lập ngắn/dài ở nguyên âm)…)
Ví dụ: Phân tích cấu trúc các âm tiết “thiền” và thuyền”:
CẤU TRÚC CHIẾT ĐOẠN
27
Trang 28Đặc trưng quan trọng nhất của tiểu hệ phụ âm đầu là nét [+PAT] (phụ
âm tính) Nét [+PAT] là nét âm vị học được bộc lộ qua các đặc điểm sau đây:
a [+chặn] xét về mặt cấu âm
b Chứa năng lượng ít
c Trường độ ngắnTiếng Việt có 23 phụ âm là âm đầu được phân bố như sau:
Trang 29Các nguyên âm có chung đặc điểm [- chặn] Biều diễn âm vị học cho
đặc điểm này, các nguyên âm đều gồm nét [ + NAT] Nhờ các đặc điểm về vị
trí và độ nâng của lƣỡi mà các nguyên âm đƣợc khu biệt hoá Hệ thống
nguyên âm tiếng Việt đƣợc thể hiện ở bảng sau:
Trang 31Về mặt âm vị học, có các nét sau đây ở hệ thống âm cuối:
- trước
- sau
/j/ =
+ PAT+ NAT+ trước
1.2.3 4 Các điệu vị
Các điệu vị có chung một đặc điểm là vùng chức năng không nằm trọntrong một chiết đoạn âm vị học Điệu vị tiếng Việt bao gồm: thanh điệu, trònmôi hoá âm tiết và căng hoá âm tiết Tuy nhiên, trong công trình này, cho đơn
30
Trang 32giản và tiện theo dõi, chúng tôi trả đối lập trường độ nguyên âm lại cho khu
vực chiết đoạn (xem bảng chính âm ở 3.2.2 ở trên)
Vì thế, biểu diễn âm vị học ở đây chỉ quan tâm đến 2 điệu vị quan trọng
nhất trong tiếng Việt là: thanh điệu và tròn môi hoá âm tiết.
1.2.3.4.1 Thanh điệu
Tiếng Việt là ngôn ngữ có hệ thống thanh điệu tương đối phức tạp, bao
gồm sáu đơn vị Chúng khu biệt nhau theo các đặc điểm cao độ và đường nét
cao độ Sau đây là danh sách các thanh điệu tiếng Việt:
Sau đây là hệ nét khu biệt của thanh điệu tiếng Việt:
1.2.3.4.2 Tròn môi hoá âm tiết:
Về tròn môi hoá âm tiết tiếng Việt có 2 điệu vị:
ĐIỆU VỊ
31
Trang 33từ vựng học Các từ được nhìn theo quá trình tương tự từ vựng học đượcphân thành hai nhóm lớn: nhóm đảm bảo đặc trưng tín hiệu điển hình vànhóm thể hiện đặc trưng phỏng hình Chính nhóm thứ hai thể hiện đượcnhiều đặc điểm loại hình của tiếng Việt hơn loại thứ nhất.
32
Trang 34CHƯƠNG 2 CƠ SỞ DỮ LIỆU
2.1 NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN
Các đơn vị ngôn ngữ ở mọi cấp độ luôn tồn tại như những tín hiệu - tínhiệu đặc biệt Hình tiết tiếng Việt là đơn vị như vậy Những liên hệ giữa haimặt: âm thanh và ngữ nghĩa của các hình tiết tiếng Việt đã, đang được nghiêncứu, đánh giá và xem xét dưới nhiều góc độ với những tiêu chí khác nhau.Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm tới cả hai loại hình tiết: hình tiết độclập và hình tiết phụ thuộc (không độc lập) Hình tiết độc lập là các hình tiết
hoạt động và được sử dụng hoàn toàn độc lập như những từ đơn, ví dụ: nước,
cây, buồn, chạy, đẹp, à, ừ Hình tiết phụ thuộc là những hình tiết được tồn tại
trong các cấu trúc từ ghép, từ láy Các hình tiết loại này được chia thành hailoại nhỏ: 1/.các hình tiết có khả năng hoạt động độc lập và được sử dụng tự
do như các từ đơn, song vì chúng tồn tại trong các cấu trúc từ ghép và từ láy
nên lúc này chúng có tư cách là các yếu tố cấu tạo từ, ví dụ: đất và nước trong
đất nước, đen trong đen nhánh, buồn trong buồn xo 2./ các hình tiết phụ
thuộc hoàn toàn – hoàn toàn không có khả năng hoạt động độc lập, ví dụ: lắc trong xa lắc, thỗn và thện trong thỗn thện, xì trong đen xì Như vậy, có thể thấy, tư liệu đầu vào của luận văn sẽ là tất cả những hình tiết có thể có trong
hệ thống âm thanh và chữ viết tiếng Việt
Mặt khác, liên hệ về âm và nghĩa của các hình tiết tiếng Việt là một vấn
đề phức tạp Từ lâu, việc phân tích từ vựng học theo những tiêu chí nhất định
đã sắp xếp các đơn vị từ vựng vào các nhóm Đưa tiêu chí ngữ nghĩa lêntrước tiên để đánh giá và phân nhóm từ ngữ, có hiện tượng đồng nghĩa vàhiện tượng trái nghĩa; đưa tiêu chí ngữ âm lên trước tiên, có hiện tượng đồngâm; đưa tiêu chí hình thức chữ viết vào xem xét, có hiện tượng đồng tự Luận văn của chúng tôi xem xét vấn đề trên đồng thời cả hai tiêu chí âm thanh
và ngữ nghĩa, do đó những hình tiết được khảo sát lại phải một lần nữa đượclựa chọn để thoả mãn đồng thời cả hai tiêu chí âm và nghĩa
33
Trang 35Tóm lại, các đơn hình tiết được khảo sát trong luận văn của chúng tôi được lựa chọn theo hai nhóm nguyên tắc:
- Nhóm 1: nhóm nguyên tắc đầu vào
- Nhóm 2: nhóm nguyên tắc làm thoả mãn tư liệu
2.1.1 Nhóm nguyên tắc 1
2.1.1.1 Như đã nói ở trên, tư liệu đầu vào của luận văn sẽ là tất cảnhững hình tiết có thể có trong hệ thống âm thanh và chữ viết tiếng Việt Do
đó, để đảm bảo sự đầy đủ tương đối về mặt số lượng các hình tiết chúng tôi
sử dụng cuốn Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2000) làm cơ sở chính
H’mông, Siu black, … từ của các ngôn ngữ nước ngoài chưa nhập hệ, ví dụ: maketing, bolling, …
2.1.1.3 Trong hệ thống từ vựng của bất cứ ngôn ngữ nào cũng khôngtránh khỏi hiện tượng vay mượn Sự vay mượn thường được nhắc tới đó là
sự vay mượn từ của ngôn ngữ ngoài, được nhập hệ và trở thành đơn vị từvựng chính thức của ngôn ngữ được tiếp nhận Song sự vay mượn còn phải
kể tới sự vay mượn từ của một phương ngữ (chủ yếu lầ tên gọi các sản vậtcủa riêng địa phương nào đó) và được sử dụng phổ biến trong từ vựng toàn
dân, ví dụ: mãng cầu, măng cụt, hủ tiếu… Trong luận văn của chúng tôi cũng quan tâm tới cả những đơn vị như vậy.
Như vậy, dựa trên 3 nguyên tắc thuộc nhóm nguyên tắc 1, nguồn tưliệu đầu vào của luận văn là tất cả những hình tiết độc lập và phụ thuộc được
sử dụng phổ biến trong giao tiếp hàng ngày của người Việt đương đại
34
Trang 362.1.2 Nhóm nguyên tắc 2
Dựa vào nhóm nguyên tắc 1, chúng ta sẽ có một số lượng vô cùng lớncác hình tiết song không phải tất cả chúng là những đơn vị có quan hệ vớinhau về âm và nghĩa hoặc mối quan hệ âm và nghĩa của chúng không thuộcđịa hạt luận văn quan tâm Nhóm nguyên tắc 2 đảm bảo cho những đơn vịđược lựa chọn khảo sát thoả mãn yêu cầu
2.1.2.1 Trước hết lựa chọn những đơn vị có sự giống nhau hoặc gầngiống nhau về nghĩa Sự giống nhau hoặc gần giống nhau về âm và nghĩa củacác đơn vị được lựa chọn có nhiều cấp độ:
- Những đơn vị có nghĩa hoàn toàn như nhau nhưng được sử dụng không
như nhau trên phương diện phạm vi và mức độ sử dụng Ví dụ: giở quẻ
và trở quẻ là hai từ có nghĩa hoàn toàn trùng nhau Song giở quẻ là từ thuộc nhóm từ vựng toàn dân còn trở quẻ thuộc nhóm từ vựng địa phương; vinh dự
và vinh diệu cũng là hai từ có nghĩa hoàn toàn như nhau song vinh dự được
sử dụng phổ biến còn vinh dự lại thuộc lớp từ cổ, ít được sử dụng
- Những đơn vị có nghĩa như nhau song được sử dụng ở những thể loại
phong cách khác nhau Ví du: hảo hán và hảo hớn là hai từ có nghĩa hoàn toàn trùng nhau Song hảo hán là từ trung hoà về phong cách, còn hảo hớn thuộc phong cách khẩu ngữ; giữ gìn và giữ giàng cũng là hai đơn vị như vậy,
giữ gìn là đơn vị trung hoà về phong cách còn giữ giàng lại là đơn vị thuộc
lớp từ ngữ văn chương
- Những đơn vị có nghĩa như nhau song không như nhau trong khả
năng kết hợp Ví dụ, hai từ bồng và bế có nghĩa như nhau, song khả năng kết
hợp của chúng trong cấu tạo các đơn vị thuộc cấp độ cao hơn lại không như
nhau Chúng ta có thể nói bế con, bồng con, bế ẵm, bồng ẵm song chỉ có thể nói bồng súng mà không thể nói *bế súng Hai từ gầm và gậm với nghĩa là
khoảng trống kể từ mặt đất đến đáy của một số đồ vật được xây dựng hoặc kê
lên trên thì gầm có khả năng kết hợp rộng rãi hơn gậm Chúng ta có kết hợp
35
Trang 37gầm bàn, gậm bàn; gầm giường, gậm giường; gầm cầu thang song không có
kết hợp *gậm cầu thang; gầm cầu, *gậm cầu.
- Những đơn vị có nét nghĩa sắc thái khác nhau Ví dụ dơ và nhơ đều có chung nét nghĩa như bẩn, song nhơ có thêm nét nghĩa chỉ sự xấu xa về phẩm chất, tư cách, còn dơ có nét nghĩa là không biết hổ thẹn Hai từ cành và nhành
có nghĩa như nhau song nhành là từ dùng để chỉ những cành non, mềm mại.
2.1.2.2 Song nếu chỉ lựa chọn đối tượng khảo sát theo nguyên tắcnghĩa ở trên thì mới chỉ dừng lại ở sự phân tích nghĩa từ vựng Đơn vị đượcchọn để khảo sát trong luận văn còn được xét trên tiêu chuẩn ngữ âm Vàchúng tôi đặt tiêu chuẩn ngữ nghĩa và ngữ âm ngang nhau trong khi lựa chọnđơn vị khảo sát Như vậy luận văn sẽ chỉ quan tâm tới những đơn vị có nghĩagiống nhau hoặc gần giống nhau song lại phải có sự tương ứng nhất định vềhình thức - đặc điểm ngữ âm Các đơn vị này phải có sự tương ứng về đặcđiểm ngữ âm của ít nhất một bộ phận nào đó của cấu trúc âm tiết Có một sốtrường hợp tương ứng ngữ âm xảy ra trên thực tế, song trong luận văn nàychúng tôi quan tâm trước hết tới ba trường hợp:
- Khác nhau ở âm đầu, các bộ phận khác (tương đối) đồng nhất, ví dụ:
hóp, lóp; bạ, vạ; giương, trương
- Khác nhau ở phần vần, các bộ phận khác (tương đối) đồng nhất, ví
dụ: hứng, hóng; luồn, lòn; búi, bối, bới
- Khác nhau ở thanh điệu, các bộ phận khác (tương đối) đồng nhất, ví
du: hẻm, hẽm, hoà, hoạ, phà, phả
Xét về hình thức âm thanh của các đơn vị ngôn ngữ tức là xét tới thóiquen phát âm các đơn vị ngôn ngữ đó của người bản ngữ, của tuyệt đại bộphận người trong xã hội Do đó, bên cạnh việc sử dụng cuốn Từ điển tiếngViệt của Viện Ngôn ngữ học, 2000 làm nguồn tư liệu chính Bên cạnh đóchúng tôi cũng sử dụng thêm một số cuốn từ điển phương ngữ: Từ điểnphương ngữ Nam bộ, Từ điển tiếng Nghệ để đưa vào khảo sát một số các
Trang 3836
Trang 39cách phát âm đã được sử dụng phổ biến trong một số địa phương lớn nào đó
và có từ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân, ví dụ: dô trong phương ngữ Nam có nghĩa như vô ở phương ngữ Trung hay vào trong nhóm từ vựng toàn dân; du tương ứng với dâu;… Chúng tôi cũng đưa vào tư liệu những cách
phát âm đã rất phổ biến trong ngôn ngữ toàn dân song chưa được đưa vào từ
điển, ví dụ: với với nghĩa như mới trong các kết hợp đi mới, ăn mới; ngúng
ngoảy với nghĩa như ngúng nguẩy; Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các ví
dụ trong những cuốn sách viết về phương ngữ, các bài báo viết về phươngngữ để đưa vào tư liệu của mình
2.1.2.3 Trong tiếng Việt có một số âm vị khác nhau song được phát âmnhư nhau ở một số địa phương (kể cả ở phương ngữ Hà Nội - phương ngữđược coi là chuẩn), do đó, dẫn đến hiện tượng trong tiếng Việt có một sốlượng lớn các hình tiết có hình thức âm thanh như nhau song hình thức chữ
viết khác nhau, ví dụ: chây, trây; trí mạng, chí mạng; sù sì, xù xì… Mặt khác,
tiếng Việt còn có những âm vị duy nhất song lại được văn tự hoá bằng nhữngcon chữ khác nhau do đó một điều tất yếu xảy ra là chúng có hình thức âmthanh như nhau song chữ viết lại khác nhau Đây là những yếu tố chỉ khác
nhau ở hình thức chữ viết còn âm và nghĩa trùng nhau hoàn toàn, ví dụ: bút
kí, bút ký; dùi, giùi; Tìm hiểu về hiện tượng này cũng là một việc làm rất
thú vị song trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi chưa thể đi sâu tìm hiểu.
2.2 NGUYÊN TẮC PHÂN LOẠI
2.2.1 Dựa trên tiêu chí độc lập tạo thành từ, hình tiết tiếng Việt đượcphân làm hai loại:
- Loại 1: hình tiết độc lập - từ đơn
- Loại 2: hình tiết phụ thuộc (không độc lập) - từ tố
Trong luận văn này chúng tôi cũng theo tiêu chí này để phân loại các hình tiết Các hình tiết loại 1 sẽ được khảo sát trong sự tương ứng với hình tiết
37
Trang 40loại 1; hình tiết loại 2 sẽ được khảo sát trong sự tương ứng với các hình tiếtloại 2.
2.2.2 Các yếu tố trong các cặp/nhóm đối ứng về âm và nghĩa như vậylại được xác định (nếu có thể) về vị trí - tư cách các yếu tố để đưa chúng vềhai nhóm Trong đó yếu tố/các yếu tố thuộc nhóm A có những đặc tính cơ bảnsau:
- Là những đơn vị được sử dụng phổ biến trong giao tiếp hiện đại mộtcách hết sức tự nhiên trong ngôn ngữ có văn hoá (ngôn ngữ phổ cập) và trunghoà về phong cách
- Thường xuất hiện trong các văn bản, các diễn ngôn có tính chấtchính
và các từ ngữ này được ngầm định là các yếu tố thuộc về tiếng Việt Văn hoá
Ngược lại, các yếu tố thuộc nhóm B là những yếu tố có các thuộc tính:
- Được sử dụng không phổ biến, không tự nhiên, không xuất hiệnthường xuyên trong các văn bản chính thức, thường chỉ xuất hiện trong khẩungữ và khi tiếp nhận văn bản và diễn ngôn người tiếp nhận thường có ấntượng về đặc tính cổ và sắc thái điạ phương của các yếu tố đó
- Là những yếu tố rất hạn chế về khả năng kết hợp
- Có cấu trúc ngữ nghĩa không tường minh, thường mang ý nghĩa phong cách, mang ý nghĩa phụ, phái sinh