Với những bước phát triển rực rỡ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáodục… đất nước Đại Việt đã có sự chuyển biến từ chế độ quân chủ phong kiến quýtộc thời Lý, Trần sang quân chủ quan
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -
NGUYỄN HỒNG HẢI
MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Hòa Hới
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Một số chính sách xã hội của Lê ThánhTông” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được đưa ratrong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ côngtrình nào khác Mọi tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn rõ nguồn,đảm bảo tính khách quan của tư liệu và bản quyền tác giả
Học viên
Nguyễn Hồng Hải
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Một số chính sách xã hội của Lê Thánh Tông” là một côngtrình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, là kết quả của quá trình học tập tạitrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội củatác giả dưới sự hướng của các thầy cô bộ môn, sự giúp đỡ của các thầy côtrong ban chủ nhiệm khoa Triết học Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đếnnhững sự giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến PGS TS Đỗ Thị HòaHới là giáo viên trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi, người đã luôn tận tìnhhướng dẫn, dành nhiều thời gian quý báu để trao đổi và định hướng nghiêncứu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đãluôn động viên và là chỗ dựa tinh thần để tôi học tập và thực hiện thành công
đề tài luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 10/2014Học viên
Nguyễn Hồng Hải
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 7
8 Kết cấu 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA LÊ THÁNH TÔNG 8
1.1 Điều kiện khách quan cho sự hình thành các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 9
1.1.1 Điều kiện chính trị 9
1.1.2 Điều kiện kinh tế 15
1.1.3 Điều kiện xã hội, văn hóa 22
1.2 Nhân tố chủ quan cho sự hình thành chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 32
Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ 41
2.1 Một số nội dung cơ bản trong chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 41
2.1.1 Chính sách của Lê Thánh Tông đối với một số tầng lớp trong xã hội 41
2.1.2 Biện pháp thực hiện chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 68
2.2 Ý nghĩa của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 83
2.2.1 Những giá trị tích cực của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 83
2.2.2 Hạn chế của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 88
2.2.3 Giá trị của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay 89
Trang 6v
Trang 7MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam nhà nước đã xuất hiện từ rất sớm, tuy nhiên phải đến khiđất nước ta giành được độc lập tự chủ vào thế kỷ X, nhà Ngô thành lập thì văn hóa,văn minh Việt Nam mới dần đạt được những thành tựu rực rỡ Trải qua các triềuđại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần và tới thế kỷ XV phát triển mạnh mẽ dưới triềuđại Lê sơ Với những bước phát triển rực rỡ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáodục… đất nước Đại Việt đã có sự chuyển biến từ chế độ quân chủ phong kiến quýtộc thời Lý, Trần sang quân chủ quan liêu thời Lê sơ, hoàn chỉnh và rõ ràng nhất làdưới thời trị vì của Lê Thánh Tông (1460 -
1497) Chuyển biến này đã kéo theo rất nhiều những thay đổi về thể chế chínhtrị, kết cấu kinh tế, xã hội, tư tưởng
Trong suốt 38 năm trị vì đất nước (1460 - 1497), với sự anh minh,quyết đoán và tài thao lược của một vị vua, Lê Thánh Tông đã xây dựng nênmột xã hội thái bình, thịnh trị, một quốc gia văn minh và hùng cường Đặcbiệt, ông đã xây dựng và thực thi các chính sách với các tầng lớp khác nhautrong xã hội, với từng vấn đề đặt ra của xã hội, điều này được nêu ra trong
Quốc triều hình luật, Hiệu định quan chế, Huấn điều, Hồng Đức thiện chính thư, thơ văn, các chỉ dụ, văn bia… Đó là những di sản vô cùng quý giá cho
chúng ta
Đã có nhiều tác giả cùng với các công trình khác nhau nghiên cứu về
Lê Thánh Tông, về đất nước Đại Việt dưới thời trị vì của ông từ nhiều góc độtrong đó chủ yếu là tập trung về các vấn đề như tư tưởng, chính trị - xã hội nóichung, mà chưa có nhiều sự nghiên cứu hệ thống về phương diện tư tưởng củaông đối với vấn đề chính sách xã hội nói riêng Trong phạm vi luận văn này,tôi chọn các chính sách xã hội - một lĩnh vực hoạt động chính trị - xã hội có vịtrí quan trọng, biểu hiện sự liên hệ mật thiết giữa nhà nước với các tầng
Trang 8lớp nhân dân, là một trong các chính sách góp phần ổn định xã hội để nghiêncứu về tư tưởng Lê Thánh Tông Từ đó góp phần bổ sung, xác lập thêm căn
cứ để có những nhận thức sâu sắc hơn về Lê Thánh Tông cùng với một triềuđại phát triển rực rỡ trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam Đồng thời, qua
đề tài này ta thấy được ý nghĩa của chính sách xã hội đối với sự ổn định vàphát triển của đất nước Đại Việt thế kỷ XV; gợi ý đối với việc hoạch địnhchính sách xã hội trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay
Vì những lý do đó tôi đã chọn “Một số chính sách xã hội của Lê Thánh Tông” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Lê Thánh Tông là một vị vua thông minh, tài giỏi Với sự kết hợp giữa
“học” và “hành”, tư tưởng của ông được triển khai và thực thi, từ đó đã xâydựng nên một trong những triều đại thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiếnViệt Nam Vì vậy đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu chung về LêThánh Tông
- Nghiên cứu về Lê Thánh Tông: tiêu biểu như các cuốn sách Lê Thánh Tông vị vua anh minh, nhà canh tân xuất sắc (Lê Đức Tiết), Hoàng đế Lê Thánh Tông - Nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn (Nguyễn Huệ Chi), Nhân vật họ Lê trong lịch sử Việt Nam (Phạm Ngô Minh)
… Các tác phẩm này đã có những nghiên cứu, đánh giá về vai trò, đóng gópcủa Lê Thánh Tông ở nhiều lĩnh vực khác nhau dựa trên những tư tưởng vàhoạt động của ông Ông đã xây dựng nên một nước Đại Việt hùng mạnh, toàndiện cả về kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa Tư tưởng Lê Thánh Tôngđem lại một diện mạo mới cho đời sống tinh thần nước ta, đó là hướng đi theoNho giáo được Việt hóa, được ông kết hợp với truyền thống văn hóa lâu đờicủa đất nước - tính dân tộc và tính nhân văn sâu sắc
Trang 9Hai tập kỷ yếu Lê Thánh Tông (1442 1497): con người và sự nghiệp
-kỷ yếu Hội thảo khoa học -kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông dotrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ
chức năm 1997 và Kỷ yếu hội thảo khoa học về hoàng đế Lê Thánh Tông (1442 - 1497): chào mừng 5 năm thành lập trường Đại học Hồng Đức (1997
- 2002) Hai kỷ yếu này tập trung các bài viết của rất nhiều tác giả ở các lĩnh
vực khác nhau như triết học, luật học, sử học, kinh tế học trình bày khá toàndiện và đầy đủ về con người cùng sự nghiệp của Lê Thánh Tông Các bài báocáo tập trung vào các vấn đề lớn như thân thế, sự nghiệp của ông; những đónggóp chủ yếu của Lê Thánh Tông ở các lĩnh vực như chính trị, phát triển kinh
tế - xã hội, củng cố quốc phòng, mở mang văn hóa, pháp luật Các tác giảcũng chỉ ra những nét hạn chế, nhưng nổi bật lên là đề cao công lao của ôngtrong việc đưa Đại Việt trở nên thái bình, thịnh trị, thành cường quốc ở ĐôngNam Á thế kỷ XV
Một số tác giả đã lấy Lê Thánh Tông làm đề tài nghiên cứu luận văn
của mình như Trần Thị Thúy Ngọc với luận văn “Tư tưởng Nho giáo trong Quốc triều hình luật”, Trần Việt Thắng có luận văn “Vai trò của Nho giáo dưới triều đại Lê Thánh Tông”… Các tác giả chủ yếu nghiên cứu về nội
dung, sự ảnh hưởng của Nho giáo dưới triều Lê Thánh Tông
- Vấn đề chính sách xã hội được một số tác giả đề cập đến: tác phẩm
Trang 10Lê sơ, khởi đầu là Lê Thái Tổ đã quan tâm chăm lo đời sống nhân dân, đề ramột số biện pháp cứu tế xã hội Các triều vua sau, đặc biệt là Lê Thánh Tôngtiếp tục chính sách quan tâm tới đời sống nhân dân, nhất là những người dânnghèo khổ như lập nhà tế bần để nuôi dưỡng những người đau yếu, không nơinương tựa; bắt quan lại địa phương phải nuôi dưỡng những người tàn phế, neođơn Những chính sách này tuy chưa được thực hiện một cách triệt để nhưngphần nào đã thể hiện thái độ, trách nhiệm của nhà nước đối với quần chúngnhân dân.
Trong tác phẩm Việt Nam sử lược, tác giả Trần Trọng Kim khi ghi chép
về Lê Thánh Tông đã đề cập đến việc nhà vua đặt ra Huấn điều để giảng trong
nhân dân, giữ gìn những phong tục tốt đẹp của xã hội
Trong tác phẩm Chính sách đào tạo sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông và công tác cán bộ hiện nay, tác giả đã nêu ra các chính sách khác nhau
của Lê Thánh Tông từ việc lựa chọn đào tạo, cho tới việc sử dụng quan lạitrong bộ máy nhà nước Bước đầu đưa ra những đánh giá và chỉ ra bài họccho công tác đào tạo cán bộ hiện nay ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập,phải làm sao để lựa chọn được quan lại vừa có đức lại vừa có tài, vừa hồng lạivừa chuyên
Tác giả Lê Ngọc Tạo với đề tài luận án “Các chính sách về xã hội của nhà nước thời Lê sơ (1428 - 1527)”, dưới góc độ nghiên cứu của nhà sử học,
tác giả đã nêu ra cơ sở hình thành các chính sách về xã hội của nhà nước thời
Lê sơ, nội dung các chính sách về xã hội, vai trò và tác dụng của chúng trongquản lý, xây dựng đất nước thời Lê sơ
Nhìn chung, vấn đề về các chính sách xã hội thời Lê Thánh Tông đã cónhiều tác giả cùng những công trình nghiên cứu khác nhau nhưng chỉ là đềcập một cách gián tiếp ở các góc độ khác nhau, thông qua việc nghiên cứu vềcác lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng Qua tìm hiểu chúng
Trang 11tôi nhận thấy tới nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp vàtập trung vào các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông Tuy nhiên, nhữngcông trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích trong quá trìnhtôi thực hiện đề tài này.
- Mục đích: góp phần làm rõ một số nội dung cơ bản trong chính sách
xã hội mà Lê Thánh Tông đã áp dụng dưới thời trị vì của ông (1460 - 1497)
tập trung trong chính sách với quan lại, phụ nữ, người già, người neo đơn, trẻ
mồ côi và đồng bào dân tộc thiểu số; biện pháp để thực hiện các chính sách xãhội đó
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Thứ nhất, phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan cho sự hình thành chính sách xã hội của Lê Thánh Tông
+ Thứ hai, nêu và phân tích một số nội dung cơ bản trong chính sách xãhội của Lê Thánh Tông
+ Thứ ba, luận văn đưa ra một số đánh giá về giá trị và hạn chế củachính sách xã hội của Lê Thánh Tông đối với xã hội Đại Việt thế kỷ XV Qua đó,đưa ra một số giá trị tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm củaĐảng và Nhà nước về kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống trong lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng các phương pháp logic
-lịch sử, phân tích, tổng hợp… của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thông qua các sựkiện lịch sử và các di sản để làm rõ nội dung và ý nghĩa các chính sách xã
5
Trang 12hội thời Lê Thánh Tông trị vì Vấn đề đó sẽ được xem xét theo một trật tự cùngvới quá trình vận động, phát triển và biến đổi của nó Luận văn còn có sự kết hợpvận dụng các phương pháp cụ thể như phân loại, so sánh, thống kê nhằm xácđịnh nội dung cơ bản trong các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông.
- Đối tượng nghiên cứu: làm rõ các điểu kiện cho sự hình thành và nội
dung cơ bản của một số chính sách xã hội do Lê Thánh Tông đề ra trong thời gianông cai trị đất nước
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu điều kiện hình
thành và một số nội dung cơ bản trong chính sách xã hội của Lê Thánh Tông đốivới quan lại, phụ nữ, người già, người neo đơn, trẻ mồ côi và đồng bào các dân tộcthiểu số
6 Đóng góp của luận văn
Từ các nguồn tài liệu thu thập được, luận văn nêu lên một cách có hệthống điều kiện hình thành và nội dung cơ bản trong một số chính sách xã hộinổi bật của Lê Thánh Tông Luận văn nêu rõ một số chính sách xã hội thời LêThánh Tông có sự phát triển cả về phạm vi, hình thức biểu hiện, tính chất, cácchính sách này thể hiện một bước phát triển lớn trong nhận thức về chính sách
xã hội so với thời kỳ trước đó
Luận văn chỉ ra rằng chính thông qua một số chính sách xã hội đó mà tahiểu rõ hơn về bản chất xã hội Đại Việt thời Lê Thánh Tông Các chính sách
đó phản ánh bản chất của bộ máy nhà nước dưới triều đại Lê Thánh Tông, đó
là một nhà nước phong kiến quan liêu với chế độ quân chủ tập quyền đạt đếnmức cao độ nhất trong các triều đại của phong kiến Việt Nam, song vẫn cóyếu tố tích cực Mục tiêu của Lê Thánh Tông trong việc xây dựng nhà nướctheo hình mẫu này là đảm bảo trật tự, kỷ cương xã hội theo khuôn mẫu củaNho giáo, nhưng đằng sau khuôn mẫu của Nho giáo thì vẫn có những nétnhân văn mang đậm giá trị truyền thống Việt Nam
Trang 13Luận văn bước đầu có những đánh giá về tính tích cực cũng như nhữngđiều còn hạn chế trong chính sách xã hội do Lê Thánh Tông đề ra đối với thờiđại mà ông trị vì, cũng như bước đầu có những gợi ý có giá trị cho công cuộcxây dựng đất nước Việt Nam hiện nay.
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: luận văn góp phần làm rõ hơn nội dung và ý nghĩa
của chính sách xã hội trong hệ thống chính sách chung của nhà nước dưới triều đại
Lê Thánh Tông
- Ý nghĩa thực tiễn: đất nước ta đang trong quá trình vận động, phát triển,
thực hiện công cuộc đổi mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, côngbằng, dân chủ, văn minh Quá trình này đã đem lại một diện mạo mới cho đất nước,đồng thời sẽ nảy sinh rất nhiều các vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta phải quan tâm.Việc nghiên cứu, tìm hiểu chính sách xã hội của Lê Thánh Tông, một triều đại pháttriển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam, cùng với những kinh nghiệm và bài học lịch
sử của nó sẽ có tác dụng là những gợi ý thiết thực góp phần phục vụ cho công cuộcđổi mới đất nước mà Đảng và nhân dân ta đang thực hiện, bổ sung những gợi ý choviệc hoàn thiện chính sách xã hội hiện nay
Trang 14NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông và các triều đại trước đó đều chưa
sử dụng khái niệm “chính sách xã hội” nhưng các nội dung thể hiện chínhsách xã hội lại là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách cai trịcủa mọi nhà nước phong kiến Ở nước ta, khái niệm “chính sách xã hội” lầnđầu tiên được sử dụng phổ biến trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách xã hội trong các côngtrình nghiên cứu khác nhau song trong đó có một quan niệm chung nhất đó là:
“Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật nhữngđường lối, chủ trương, những biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội dựatrên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo và quản lý, phùhợp với bản chất chế độ xã hội - chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm củacộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đíchcao nhất là thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân về đời sốngvật chất và văn hóa Chính sách xã hội là một động lực quan trọng của sảnxuất xã hội, tiến bộ xã hội” [67, tr 23] Theo nghĩa hẹp: “Chính sách xã hội làchính sách của Nhà nước cho những ngành lao động xã hội được coi là đốitượng chính sách, nhóm cần được hỗ trợ của Nhà nước” [67, tr 10] Theokhái niệm này thì nội dung của chính sách xã hội gồm nhiều chính sách, cơbản là chính sách với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội (công nhân, nôngdân, trí thức…), chính sách an sinh xã hội (chống tệ nạn xã hội, thamnhũng…), chính sách đối với các lứa tuổi, giới (thanh, thiếu niên, phụ nữ,đồng bào dân tộc…)
Từ việc nắm bắt các nội hàm chính trong các quan niệm trên chúng ta
có thể nhận thấy rằng nội dung chính sách xã hội vào thời Lê Thánh Tông trị
Trang 15vì chưa hoàn toàn thể hiện đầy đủ theo đúng cách hiểu hiện đại này nhưngcũng có điểm tương đồng, là những biểu hiện sớm, chưa hoàn chỉnh của chínhsách xã hội trong lịch sử; bởi lẽ các chính sách đó có cơ sở khách quan và chủquan của nó do điều kiện lịch sử lúc đó quy định Lê Thánh Tông đã xuất phát
từ những tiền đề khách quan cùng với những nhân tố chủ quan của chính bảnthân mình để xây dựng, đưa ra và thực thi những chính sách xã hội mà về cơbản phù hợp với yêu cầu của xã hội Đại Việt nửa sau thế kỷ XV Đó là yêucầu tiếp tục ổn định, hoàn thiện, phát triển thể chế nhà nước quân chủ tậpquyền quan liêu làm lực lượng hiện thực hóa các đường lối cai trị Đức trị kếthợp với Pháp trị nhằm ổn định, phát triển quốc gia phong kiến Đại Việt.Trong giới hạn luận văn, tác giả nghiên cứu chính sách xã hội của Lê ThánhTông với một số tầng lớp đặc biệt trong xã hội là quan lại, phụ nữ, người già,người neo đơn, trẻ mồ côi và đồng bào dân tộc thiểu số; biện pháp để ôngthực hiện các chính sách xã hội đó
1.1 Điều kiện khách quan cho sự hình thành các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông
1.1.1 Điều kiện chính trị
Vào nửa sau thế kỷ XIV, bộ máy nhà nước quân chủ quý tộc tôn quyềnnhà Trần sau những chiến công vang dội trong sự nghiệp bình Nguyên và xâydựng quốc gia Đại Việt hùng mạnh đã đi vào suy yếu Nạn đói và các cuộckhởi nghĩa liên tiếp nổ ra làm nhà Trần lâm vào khủng hoảng trầm trọng.Thiên tai dồn dập, nạn đói thường xuyên diễn ra vào các năm như 1362, 1370,1375 khiến triều đình phải kêu gọi các nhà giàu trong lộ, phủ nộp thóc đểcấp cho dân đói tránh tình trạng nổi loạn Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩanông dân vẫn liên tiếp diễn ra, tiêu biểu như khởi nghĩa của Ngô Bệ (1344)với khẩu hiệu "cứu giúp dân nghèo", khởi nghĩa của Nguyễn Bổ (1379), khởinghĩa của Nguyễn Thanh (1389) Mặc dù đã có một số biện pháp để
Trang 16củng cố nhưng nhà Trần vẫn không thể khắc phục được tình trạng khủnghoảng trầm trọng này.
Giữa lúc ấy, một viên quan ngoại thích của nhà Trần là Hồ Quý Ly đãnhanh chóng thâu tóm quyền lực, ép vua Trần nhường ngôi Nhà Hồ thay nhàTrần (1400) cố gắng thực hiện một loạt các cải cách Những chính sách củanhà Hồ chưa phát huy được tác dụng thì giặc Minh đã xâm lược Đại Việt
Lợi dụng tình hình nước ta đang rối ren, giặc Minh đem quân sang xâmlược nước ta với quy mô lớn Cha con Hồ Quý Ly đã lãnh đạo nhân dân ĐạiViệt kháng chiến chống Minh nhưng do tương quan lực lượng không cân sứcnên nhà Hồ nhanh chóng thất bại, Đại Việt rơi vào tay nhà Minh Nước ta bịđặt dưới ách đô hộ của nhà Minh, chúng chia nước ta thành 15 phủ, mỗi phủchia làm nhiều huyện và châu
Năm 1418, giữa núi rừng Lam Sơn - Thanh Hóa, dưới sự lãnh đạo của
Lê Lợi, quân dân ta đứng lên thực hiện khởi nghĩa Lam Sơn chống quânMinh Trải qua 10 năm “nằm gai nếm mật”, chịu nhiều tổn thất nặng nề; năm
1428, khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, đập tan ách thống trị suốt 20 nămcủa nhà Minh, đưa nước ta bước sang trang sử mới Ý chí xâm lược củaphong kiến Trung Quốc cơ bản đã bị đè bẹp Nền an ninh quốc gia, phía Bắcđược bảo đảm một cách vững chắc; phía Nam vào thời Lý, Trần, nước Chăm
- pa thường hay đến quấy nhiễu biên giới, thì nay một mặt nước Đại Việt lạitrở nên hùng cường, mặt khác thì nội bộ Chăm - pa đang ở thời kỳ khó khăn, suyvong cho nên không có mưu đồ quấy phá Đại Việt như trước
Tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là ThuậnThiên, nhà Lê sơ chính thức được thành lập Trong hơn 5 năm trị vì đất nước(1428 - 1433), Lê Thái Tổ đã chủ trương và triển khai xây dựng một bộ máynhà nước theo mô hình nhà nước phong kiến quan liêu tập quyền thay thế chochế độ nhà nước quân chủ quý tộc thời Trần; quyền lực được tập trung toàn
Trang 17bộ vào triều đình, đứng đầu là nhà vua theo tinh thần “tôn quân quyền” củaNho giáo Với tinh thần “tôn quân quyền” tất cả quyền lực bộ máy nhà nướcđược tập trung trong tay nhà vua, vua nắm vị trí độc tôn, tất cả mọi người đềuphải phục tùng theo nhà vua Lê Thái Tổ đã thực hiện một loạt các cải cáchdựa trên sự quân sư của Nguyễn Trãi Ông ban hành một số văn bản pháp luậtdưới dạng các chiếu, chỉ, dụ, lệnh và thi hành các chính sách nhằm củng cố,phát triển kinh tế cùng một số biện pháp an sinh xã hội, tạo ra sự ổn định vàhứng khởi bước đầu cho đất nước sau hơn 20 năm bị giặc Minh đô hộ.
Lê Thái Tổ đã thực hiện cải cách hành chính, chia đất nước thành 5 đạo(Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây) Đứng đầu mỗi đạo có chức hành khiển, bêncạnh có tổng quản chỉ huy các vệ quân trong đạo Dưới đạo có các đơn vịhành chính: trấn, lộ, phủ, huyện, châu Đứng đầu trấn là trấn phủ sứ, tuyên úysứ; ở lộ là an phủ sứ, tổng quản; ở phủ là tri phủ, đồng tri phủ; ở huyện làchuyển vận sứ; ở châu là phòng ngự sứ Riêng miền núi có tri châu và đại trichâu Đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã Năm 1428, Lê Lợi chia xã làm baloại: đại xã, trung xã và tiểu xã, do các quan đứng đầu; số lượng xã quan quyđịnh: đại xã có ba người, trung xã có hai người và tiểu xã có một người
Hệ thống chính quyền phong kiến ngay từ thời Lê Lợi đã được tổ chứckhá chặt chẽ, chi phối xuống tận cấp xã Lê Thái Tổ cho xây dựng một bộ máynhà nước mà tất cả quyền lực đều tập trung về triều đình trung ương Đứng đầu
là vua, rồi đến các chức tả, hữu tướng quốc, kiểm hiệu bình chương quân quốctrọng sự, tam thái, tam thiếu, tam tư dành riêng cho những tôn thất và đại côngthần Dưới đó là hai ngạch ban văn và ban võ Ban văn có các chức Đại hànhkhiển, Thượng thư các bộ (lúc này có hai bộ là Lại bộ và Lễ bộ) và các cơ quanchuyên trách như Nội mật viện, Ngũ hành viện, Bí thư giám, Hàn lâm viện…Ban võ có các chức Đại tổng quản, Đại đô đốc, Đô tổng quản chỉ huy quânthường trực ở kinh thành và các vệ quân ở các đạo Nhìn chung, bộ máy nhà
Trang 18nước phong kiến thời Lê Thái Tổ còn sơ sài và vẫn phải dựa trên nền tảng quychế tổ chức của các triều đại trước Tuy nhiên, so với thời Lý, Trần bộ máynhà nước thời Lê Thái Tổ đã là một bước tiến về mức độ tập trung quyền lực.
Bộ máy nhà nước mà Lê Thái Tổ thiết lập cũng dần bộc lộ một số hạn chếnhư việc trọng đãi công thần mà hầu hết họ là những người ít học, giao cho họnắm giữ các chức vụ quan trọng của đất nước đã làm nảy sinh những mâuthuẫn cung đình, tình trạng công thần lộng hành, tranh giành, vu khống và sáthại lẫn nhau trong nội bộ quý tộc, nguy cơ cát cứ đang dần diễn ra
Sử cũ đã ghi về Lê Thái Tổ: “Khi lên ngôi vua đã ấn định luật lệ, chếtác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủhuyện, thu thập sách vở, mở mang trường học có thể nói là có mưu kế xarộng, mở mang cơ nghiệp [16, tr 308]
Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, Lê Thái Tông lên ngôi (1433 - 1442) LêThái Tông lên ngôi lúc 11 tuổi nên mọi việc đều do Đại tư đồ Lê Sát phụchính cùng với Tư khấu đô tổng quản Lê Ngân chuyên quyền nắm giữ Năm
1437, Lê Thái Tông trực tiếp lên nắm chính quyền, song Lê Thái Tông làngười ưa xu nịnh, xung quanh ông lại là một lũ hoạn quan đầy mưu mô, xảoquyệt Ông do say đắm lời xiểm nịnh của thứ phi Nguyễn Thị Anh cùng lũhoạn quan nên đã phế truất con cả là Nghi Dân, lập con thứ là Bang Cơ lênngôi Thái tử, điều này đã gây nên hậu họa về sau Tuy nhiên, trong 9 nămnắm thực quyền, Lê Thái Tông cũng đã đề ra được nhiều chính sách góp phầnchỉnh đốn lại hệ thống tổ chức quan lại, đặt ra những nguyên tắc, thể chế cho
chế độ thi cử Đại Việt sử ký toàn thư có đưa ra nhận xét về vua Lê Thái
Tông: “bên trong chế ngự quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch, trọng đạo,sùng nho, mở khoa thi, kén hiền sĩ…” [16, tr 355]
Năm 1442, Lê Thái Tông mất, thái tử Bang Cơ lên ngôi khi vừa mới 2tuổi, triều chính nước Đại Việt dấn sâu vào cảnh khốn đốn Thái hậu Nguyễn
Trang 19Thị Anh buông rèm nhiếp chính Thái hậu vì tư lợi chém giết công thần, mặccho quan lại tham ô, hối lộ; đời sống nhân dân khổ cực Đến năm 1453, LêNhân Tông mới thực sự nắm chính quyền; ông đã đề ra một số quy định dầnđưa đất nước ổn định hơn.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư và nhiều bộ sử khác cho thấy, trong các
triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông đã thực hiện các biệnpháp khác nhau để có thể ổn định và phát triển đất nước nhưng bên trong hệthống chính quyền ấy vẫn còn có những hạn chế Tệ nạn tham ô, nhận hối lộ,lợi dụng chức quyền để trục lợi riêng diễn ra khá phổ biến trong giới quan lại;quan lại trong triều kéo bè kết đảng, lập thành phe phái khống chế, chi phối,lũng đoạn mọi công việc đại sự của triều đình; người có đức, có tài thì bị hãmhại hoặc lui về ở ẩn, còn bọn bất tài, không có đức thì được dịp lộng hành,nhũng nhiễu dân lành
Năm 1459, xảy ra chính biến Nghi Dân, mẹ con vua Lê Nhân Tông bịgiết, Nghi Dân lên ngôi và đổi niên hiệu là Thiên Hưng Trong 8 tháng ngắnngủi, Lê Nghi Dân cũng đã có một số quy định củng cố đối với quyền lựctriều đình trung ương Ông chia đặt quan chức trong triều thành 6 bộ Nhưvậy, đến thời Nghi Dân triều đình đã đủ 6 bộ là Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình,Công Ông còn cho đặt 6 khoa gồm Trung thư khoa, Hải khoa, Đông khoa,Tây khoa, Nam khoa, Bắc khoa Các quan chức ở các phủ, huyện, châu cũngđược ông sắp xếp lại Theo sử cũ ghi lại thì trong nửa năm đầu trị vì của ôngvua tiếm ngôi này, tình hình triều chính vẫn "bình lặng", không có một thayđổi nào trong quan hệ giữa vua và các quan đại thần, giữa hàng ngũ các quanđại thần thuộc phái "quân sự" với phái "dân sự", trong việc giải quyết mâuthuẫn cung đình, mâu thuẫn giữa "tập trung" và "phân tán", trong khắc phụcnhững rối loạn của xã hội
Tháng 6 năm 1459, cuộc đảo chính do các đại thần Nguyễn Xí, ĐinhLiệt cầm đầu đã giết bọn tay chân của Nghi Dân, rồi phế Nghi Dân xuống làm
Lê Đức hầu Sau đó, các triều thần đem xa giá đến rước người con thứ tư của
Trang 20Lê Thái Tông là hoàng tử Tư Thành lên ngôi hoàng đế Năm 1460, Tư Thànhlên ngôi hoàng đế, chính là vua Lê Thánh Tông.
Như vậy, các vị vua triều Lê sơ khởi nghiệp từ Lê Thái Tổ cho tới khi
Lê Thánh Tông lên ngôi đều quan tâm chú trọng xây dựng nhà nước theo môhình quân chủ tập quyền quan liêu và tới Lê Thánh Tông thì thể hiện rõ rệtnhất, hoàn thiện nhất, khác hẳn so với nhà nước quân chủ quý tộc tôn quyềnthời Trần
Nhà Trần sử dụng quan lại theo chế độ “tông tử duy thành” (dùng concháu là thành trì, liên kết họ hàng bảo vệ ngôi vua), quyền lực nằm trong taycác vương hầu quý tộc, họ giữ mọi cương vị chủ chốt trong triều đình và chianhau đi trấn trị các địa phương Nhà Trần cũng đã quan tâm giáo dục đào tạoquan lại qua thi cử nhưng đến cuối thời Trần thì khoa cử vẫn chưa phải làphát triển, Nho giáo vẫn chưa chiếm được vị trí ưu thế trong giáo dục và đờisống tinh thần
Nhà Lê sơ sử dụng quan lại theo cách riêng, ban đầu quan lại chủ yếu là
sử dụng đội ngũ công thần, những người đã tham gia vào cuộc kháng chiếnchống Minh; về sau thì là tuyển dụng người tài theo thi cử của Nho giáo LêQuý Đôn đã nhận xét rằng vua Lê Thái Tổ không thể bắt chước việc cũ củanhà Trần tức là phong chức cho tất cả những người trong họ; những ngườigiỏi trong họ Lê lúc bấy giờ như Lê Khôi, Lê Khang đều lấy tư cách là côngthần mà trao chức, chứ không phong tước, chia đất
Tính chất quý tộc tôn quyền của nhà nước quý tộc thời Trần đã khôngđáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội Đại Việt vào cuối thế kỷ XIV Vìvậy, ngay khi lên nắm chính quyền Lê Lợi đã định hướng xây dựng một nhànước quân chủ tập quyền quan liêu lấy học thuyết Nho giáo làm cơ sở lýthuyết, hướng dẫn chỉ đạo trong cai trị, quản lý xã hội Các vua sau tiếp tụcthực thi theo định hướng đó Đến Lê Thánh Tông với việc xây dựng và hoànthiện một bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến quan liêu tập trung cao độ,
Trang 21có hệ thống chặt chẽ từ trung ương tới địa phương, cùng với các chính sách xãhội tương ứng đã tạo nên sức mạnh cố kết cho toàn xã hội Mọi chính sáchcủa nhà nước quân chủ trong đó có các chính sách xã hội đã được ban hành vàthực thi sâu rộng.
1.1.2 Điều kiện kinh tế
Trước thời Lê sơ, chế độ phong kiến quân chủ tôn quyền đã được xáclập và phát triển dựa trên cơ sở của kinh tế điền trang thái ấp, đặc biệt pháttriển mạnh dưới triều Trần Từ nửa cuối thế kỷ XIV trở đi, nhà Trần khôngtập trung được quyền lực, trượt dài trên con đường suy vong Nhận thức đượcđiều đó nên khi thành lập nhà Hồ thì Hồ Quý Ly đã thực hiện một loạt các cảicách nhằm hạn chế, đi đến làm suy yếu thực lực của tầng lớp đại quý tộc Trầnbằng chính sách hạn điền (hạn chế sở hữu tư nhân về ruộng đất từ 10 mẫu trởxuống) và hạn nô (hạn chế việc mua bán nô tỳ, giải phóng quan hệ chủ nô - nôtỳ) để bảo vệ lực lượng sản xuất Hồ Quý Ly đã hạn chế được sự chiếm hữuruộng đất lớn của các chủ nô quý tộc, tạo điều kiện cho tầng lớp địa chủ nhỏphát triển… Tuy nhiên, những cải cách của Hồ Quý Ly chưa kịp có hiệu quảthì nước ta lại bị nhà Minh đô hộ
Chế độ cai trị tàn bạo và sự vơ vét của nhà Minh trong suốt 20 năm đô
hộ đã khiến cho nền kinh tế của Đại Việt bị phá hoại nặng nề, rơi vào suythoái trầm trọng Đồng ruộng, làng xóm điêu tàn, nhân dân phiêu tán khắpnơi Thủ công nghiệp và thương nghiệp suy sụp Ruộng đất bị bỏ hoang ởnhiều nơi Nạn đói và dịch năm 1407 khiến "nhân dân không trồng trọt càycấy được, người chết gối lên nhau" [16, tr 226] Năm 1409, lại một trận đói
và dịch trầm trọng như vậy xảy ra Năm 1411, miền lưu vực sông Đáy bị lụt,
đê vỡ, nhà cửa của dân bị trôi dạt Năm 1412, đồng ruộng từ Diễn Châu trởvào không cày cấy được Chính sách cướp ruộng để lập đồn điền, để cấp chứcđiền cho ngụy quan làm cho nhân dân nhiều nơi bị phá sản, bị mất ruộng.Những hành động cướp bóc của giặc, đặc biệt là cướp trâu bò, đã phá hoại sứcsản xuất nông nghiệp, gây rất nhiều khó khăn trong việc cày cấy, trồng trọt
Trang 22Cơ sở kinh tế nông nghiệp bị phá hoại kéo theo sự đình trệ của tất cảcác ngành kinh tế khác Những chính sách thuế khóa, vơ vét tài nguyên, lùngbắt thợ thủ công đem về Trung Quốc, ngăn cấm ngoại thương của triều Minhđều là trở lực phá hoại nền kinh tế của nước ta lúc bấy giờ "Trải qua thời kỳsuy vong cuối Trần và đặc biệt là 20 năm thống trị tàn bạo của phong kiến nhàMinh, nền kinh tế nước ta bị tàn phá, đình trệ và tiêu điều Về nông nghiệp, đêđiều hư hỏng, đồng ruộng bị bỏ hoang, trâu bò bị cướp bóc trở nên thiếu thốn,một cảnh tượng điêu tàn, đói khổ do hậu quả của chiến tranh và cướp bóc baotrùm khắp xóm làng Về công thương nghiệp, do nhiều ngành nghề bị phásản, cho nên việc buôn bán làm ăn cũng đang ở trong tình trạng trì trệ, bế tắc.Tất cả những cái đó đề ra nhiệm vụ cấp thiết cho toàn dân và nhà nước phongkiến phải có vai trò tích cực phục hồi lại nền kinh tế, xây dựng đời sống bìnhthường" [37, tr 106].
Sau khi đất nước được độc lập, nhà Lê sơ đã đề ra nhiều chính sáchkhuyến khích nông nghiệp cùng với nhân dân nhanh chóng khôi phục sảnxuất, hàn gắn vết thương chiến tranh
* Về nông nghiệp:
Năm 1429, ngay sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã nhận thấy rằng:
"Người đi đánh giặc thì nghèo, kẻ rong chơi thì giàu Người đi chiến đấu thìkhông có một thước đất để mà ở, còn những kẻ du thủ du thực, không có ích
gì cho nước lại có quá thừa ruộng đất hoặc đi làm nghề trộm cắp Thành rakhông ai chịu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩa phú quý mà thôi" [16, tr 300]
Vì vậy, ông đã cho tịch thu ruộng đất của bọn quan lại tay sai nhà Minh,ruộng đất của các thế gia nhà Trần bị tuyệt tự, ruộng đất của nhân dân bị bỏhoang, của quân lính bỏ trốn làm ruộng đất công; cho điều tra lại ruộng đấtcông ở các làng xã Nhằm khôi phục nền kinh tế nông nghiệp sau một thờigian dài bị chiến tranh tàn phá, và thi hành một cuộc cải cách ruộng đất theotinh thần gắn quyền lợi về ruộng đất với nền độc lập dân tộc và sự bền vững
Trang 23của vương triều nhà Lê, Lê Thái Tổ đã cho ban hành chính sách lộc điền vàquân điền rộng rãi.
Thời Lê sơ, các vị vua đã ban hành chế độ lộc điền với quy mô lớnchưa từng có Lộc điền là loại ruộng nhà nước ban cấp cho quan lại cao cấp(từ tứ phẩm trở lên), gồm có ruộng ban cấp được phép thừa kế và ruộng bancấp tạm thời có thể thu hồi lại sau khi chết Chế độ lộc điền thời Lê sơ thaythế cho chế độ điền trang thái ấp thời Trần đã góp phần ngăn chặn tình trạngcát cứ, ly khai triều đình
Phép quân điền lần đầu tiên được Lê Thái Tổ áp dụng vào năm 1429,tiếp tục được các vị vua sau củng cố, đặc biệt phát triển và hoàn chỉnh dướitriều vua Lê Thánh Tông Phép quân điền quy định chia ruộng đất công làng
xã theo định kỳ 6 năm, nông dân làng xã phải nộp tô thuế đầy đủ cho nhànước Trong thực tế, quân điền chỉ là nhà nước phát canh thu tô, về ý nghĩa ấynhà nước là một đại địa chủ thu tô, nông dân cày ruộng khẩu phần nghĩa lànhững tá điền lĩnh canh thu tô Củng cố chế độ quân điền là củng cố chế độphát canh thu tô, củng cố quan hệ tá điền - địa chủ; vào thế kỷ XV, quan hệnày là quan hệ tương đối tiến bộ, góp phần giải phóng sức lao động Tuy chế
độ quân điền là đảm bảo quyền lợi về ruộng đất cho giai cấp thống trị nhưngcũng có ý nghĩa nhất định với nông dân, đảm bảo cho người nông dân có một
số ruộng đất tối thiểu để cày cấy và giải quyết một phần ruộng đất bỏ hoang.Phép quân điền vừa giúp cho người nông dân có đất cày cấy, sinh sống vừagiúp cho nhà nước thu thuế, giải quyết lao dịch, tuyển lính và nuôi lính Ở thế
kỷ XV, phép quân điền đã góp phần ổn định kinh tế tiểu nông, hạn chế sựphân hóa xã hội
Lê Thánh Tông đã tích cực thực thi chế độ quân điền cùng với việccủng cố, tổ chức chính quyền xã thôn, điều đó chứng tỏ một mức độ tậpquyền cao độ của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ Với việc kết hợp chính
Trang 24sách quân điền và lộc điền, giai cấp phong kiến thống trị thời Lê sơ đã xóa bỏđược tình trạng điền trang, thái ấp độc lập, khép kín; đồng thời, xóa bỏ đượctình trạng quyền lực bị phân tán giống như ở thời Lý, Trần Trên cơ sở đó, chế
độ này đã góp phần tập trung được quyền lực vào bộ máy nhà nước, vào giaicấp thống trị và củng cố quyền lợi, lợi ích của tầng lớp quý tộc, quan liêu caocấp mà tập trung là nhà vua Bên cạnh đó, nó cũng góp phần thúc đẩy pháttriển nền kinh tế nông nghiệp, củng cố kinh tế tiểu nông và tạo điều kiện, tiền
đề cho kinh tế hàng hóa phát triển
Đây chính là điểm tiến bộ căn bản trong chính sách ruộng đất của nhànước phong kiến thời Lê sơ mà điển hình là triều Lê Thánh Tông, vì đã giảiquyết đúng những mâu thuẫn chính trong cuộc khủng hoảng cuối thời Trần vàtạo cơ sở kinh tế đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển xã hội phongkiến lúc bấy giờ Tuy nhiên, cũng có hạn chế như kìm hãm sự phát triển củachế độ tư hữu ruộng đất, của kinh tế hàng hóa và trói buộc người nông dânvào ruộng đất manh mún; dung hòa mâu thuẫn giữa các giai cấp và xoa dịuđấu tranh giai cấp giữa giai cấp phong kiến, địa chủ và giai cấp nông dân
Nhằm giảm bớt gánh nặng cho người dân sau 20 năm phải sống lầmthan dưới sự cai trị hà khắc của nhà Minh, ngay sau khi lên ngôi Lê Thái Tổ
đã ban chiếu cho cả nước được miễn trừ, không phải nộp thuế tô ruộng, thuếđầm ao, bãi dâu Đây là một trong những chính sách tích cực đối với quátrình khôi phục và phát triển kinh tế của đất nước sau chiến tranh Về sau, LêThánh Tông cũng nhiều lần miễn thuế cho dân chúng
Trong xã hội nông nghiệp như nước ta, hầu hết nhân dân là nông dân vàbinh lính cũng chính là những người nông dân mặc áo lính Để đảm bảo choquân đội hùng mạnh và đồng thời đảm bảo được đầy đủ sức lao động chonông nghiệp, các triều đại phong kiến thường thực hiện chính sách "ngụ binh
ư nông", tức là cho quân đội thay phiên về làm ruộng Chính sách này ở thời Lê
sơ lại tiếp tục được thực hiện một cách triệt để, không những cho quân lính
Trang 25mà còn mở rộng ra cho các đối tượng khác như công tượng, lính coi ngục vàngười nấu bếp và họ nhận được sự ưu đãi nhất định.
Ngay sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, năm 1429 trong số
35 vạn quân dưới cờ khởi nghĩa chống xâm lược, vua Lê Thái Tổ đã cho 25vạn quân về quê làm ruộng, chỉ giữ lại 10 vạn để phòng vệ Ông chia binhlính làm năm phiên, cứ lần lượt một phiên lưu ban và bốn phiên về làm ruộng.Chính sách này giúp bảo đảm nhân công nông nghiệp, tập trung sức lao độngcủa nhân dân vào sản xuất nông nghiệp trong thời gian cần thiết
Xây dựng một xã hội lấy nông nghiệp làm gốc nên trong khi tiến hànhcác biện pháp khôi phục kinh tế sau chiến tranh, các vị vua nhà Lê sơ còn cóchủ trương tận dụng triệt để ruộng đất để trồng trọt Ngay từ khoảng giữa năm
1427, khi cuộc kháng chiến chống Minh sắp kết thúc, Lê Lợi đã ra lệnh chodân chạy loạn, phiêu tán các nơi phải trở về quê cày cấy và xử tội nặng nhữngngười lưu tán Tháng 1 năm 1428, có lệnh cho con em các đầu mục, cáctướng lĩnh về quê hương nhận ruộng đất để sản xuất Tháng 3 năm 1429, LêThái Tổ đưa ra quy định tất cả phần đất vườn ở phủ đệ các công hầu, quan lại
ở các phường trong kinh thành phải trồng hoa và rau đậu, không được bỏhoang, nếu không sẽ bị thu hồi Song song với việc khôi phục lại diện tích đấtcanh tác nông nghiệp cũ, các vị vua nhà Lê sơ còn chú ý tới việc mở rộngdiện tích canh tác mới bằng công cuộc khẩn hoang
Khuyến khích lập đồn điền là công cuộc khẩn hoang tương đối quy môcủa nhà nước phong kiến Lê sơ Lê Lợi đã xác định mục đích lập đồn điền là
để mở rộng thêm diện tích sản xuất và nguồn cung cấp tô thuế cho nhà nước.Ngoài công cuộc khẩn hoang quy mô lớn do nhà nước tiến hành, triều đìnhphong kiến Lê sơ cũng khuyến khích, động viên những công cuộc khẩn hoangcủa nhân dân, đặc biệt là ở những vùng đất bồi ven biển Nếu ở thời Trần, cácvương hầu, công chúa đã chiêu mộ dân lưu vong làm nô tỳ ra đắp đê ngănnước mặn, lập thành các biệt trang; thì thời Lê sơ, những cuộc khẩn hoangmiền ven biển vẫn được tiếp tục Những chính sách khai hoang, lập đồn
Trang 26điền do các vị vua Lê sơ đề ra đã có tác dụng tích cực trong việc mở rộng diệntích đất canh tác nông nghiệp, tập trung được dân lưu tán quay về quê hươngtham gia sản xuất, tạo điều kiện ổn định cuộc sống của nhân dân và ổn định
xã hội chung
Nhằm bảo vệ sức sản xuất nông nghiệp, các vị vua nhà Lê sơ còn banhành những điều luật cấm giết mổ trâu, bò Mở rộng và củng cố hệ thống đêngăn lũ, đắp đê biển Vào mùa xuân, các vua Lê thường tham gia lễ cày tịchđiền; ban chiếu khuyến nông để khuyến khích nhân dân chăm lo sản xuất Đặcbiệt, vào những năm mất mùa hay hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh nhà vua thường
ra chiếu "tự trách" tỏ rõ sự quan tâm tới sản xuất nông nghiệp; nhà vua tự thân
đi cầu đảo, làm chay cúng tế và tha bổng, ân xá cho tội nhân
Nhờ những chính sách xã hội trên mà nền nông nghiệp Đại Việt trongnhững năm đầu thời Lê sơ đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển mạnh
mẽ Trong dân gian vẫn còn lưu truyền câu ca:
Đời vua Thái Tổ, Thái TôngThóc lúa đầy đồng, trâu chẳng thèm ăn
* Về thủ công nghiệp:
Thời Lý, Trần vẫn chưa có biểu hiện đem đối lập giữa nông nghiệp vớithủ công nghiệp, tầng lớp công thương vẫn được tôn trọng trong xã hội Sangthời Lê sơ, nông nghiệp được coi là nghề gốc, công thương nghiệp là nghềngọn, coi nhẹ với chủ trương “vun gốc, xén ngọn” tức là khuyến khích nôngnghiệp, hạn chế công thương nghiệp Trong lịch sử nước ta tư tưởng trọngnông ức thương bắt đầu xuất hiện vào thời Lê sơ và được thi hành triệt để từthời Lê Thánh Tông Đây cũng chính là một trong các cơ sở làm xuất hiện sựphân tầng xã hội thành: sĩ, nông, công, thương
Nhà nước Lê sơ một mặt duy trì nền sản xuất nhỏ thủ công trong cáclàng xã, mặt khác đẩy mạnh hoạt động của các quan xưởng thuộc thủ côngnghiệp nhà nước Đã xuất hiện nhiều làng nghề như gốm sứ ở Bát Tràng,
Trang 27nhuộm ở Huê Cầu Nhà nước phong kiến tổ chức sản xuất thủ công nghiệpriêng gọi là các cục bách tác, các cục này chuyên sản xuất những sản phẩmcung cấp cho nhu cầu của nhà nước như tiền, vũ khí, các đồ dùng của vua,hoàng tộc, quan lại và binh lính (áo, mũ, đồ trang sức…)
* Về thương nghiệp:
Nội thương, hoạt động thương nghiệp chủ yếu ở thời Lê sơ là buôn bánnhỏ thông qua mạng lưới chợ ở nông thôn và thành thị Nhà Lê đã cho banhành lệ lập chợ, trong dân gian hễ có dân là có chợ để lưu thông hàng hóa,quy định nguyên tắc họp chợ luân phiên Ở Thăng Long, thương nhân từ cácnơi đua nhau mở hàng quán buôn bán Nhà nước bỏ lệ tiêu tiền giấy của nhà
Hồ, cho lưu thông tiền đồng; Lê Thái Tổ cho đúc tiền đồng gọi là “ThuậnThiên thông bảo” Năm 1439, Lê Thái Tông còn quy định rõ các đơn vị đolường hàng thủ công như tiền đồng thì cứ 60 đồng là một tiền, lụa lĩnh thì mỗitấm dài 30 thước, rộng 1 thước 5 tấc trở lên; vải gai nhỏ mỗi tấm 24 thước,rộng 1 thước 3 tấc trở lên; vải tơ chuối thì mỗi tấm dài 24 thước; vải bông thômỗi tấm dài 22 thước; giấy thì tính 100 tờ Tuy nhiên, kinh tế hàng hóa thời
Lê sơ vẫn bị kìm hãm nhiều vì chính sách ức thương, bế quan tỏa cảng củatriều đình, vì nạn cướp bóc, ức hiếp của bọn quan lại, cường hào Chínhquyền phong kiến thời Lê sơ hạn chế và hầu như cấm không cho nông dân rời
bỏ quê hương, ruộng đất đi buôn bán, làm ăn tập trung ở các thị trấn
Ngoại thương được nhà nước kiểm soát chặt chẽ, hầu như bế quan tỏa
cảng Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tất cả người ngoại quốc vào buôn bán
ở nước ta chỉ được ở các nơi quy định như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh),Càn Hải (Nghệ An), Hội Thống (Nghệ An), Hồi Triều (Thanh Hóa), Song Lãnh(Lạng Sơn), Phú Lương (Thái Nguyên), Tam Kỳ (Tuyên Quang) Tàu thuyềnngoại quốc ra vào, buôn bán chỉ được đậu ở Vân Đồn, ở đó có cơ quan nhà nướckiểm soát rất nghiêm ngặt Nhân dân và cả quan, quân không có
Trang 28lý do mà tới Vân Đồn hay biên giới, bờ biển giao thiệp hay mua bán vớingười nước ngoài đều bị phạt rất nặng Chính sách ức thương của các vị vuatriều Lê sơ một phần là nhằm bảo vệ nền độc lập tự chủ mới giành được; ngănngừa âm mưu ly khai chính quyền trung ương và chống xâm lược của bênngoài Tuy nhiên, do sự phát triển của kinh tế hàng hóa nên những hiện tượnglén lút buôn bán với nước ngoài vẫn thường xuyên diễn ra, mà chính bọn quanlại, sứ thần là những kẻ tham gia tích cực nhất.
Nhìn chung, chính sách phát triển kinh tế mà chủ yếu là chú trọng kinh
tế nông nghiệp, đề cao nông dân của nhà nước phong kiến Lê sơ là tương đốitích cực trong thời kỳ phát triển của đất nước ở thế kỷ XV; đã góp phần quantrọng vào việc khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp đương thời saumột thời gian dài bị chiến tranh tàn phá
1.1.3 Điều kiện xã hội, văn hóa
* Kết cấu các tầng lớp trong xã hội:
Thời Trần với chế độ quân chủ quý tộc tôn quyền, nhà vua có sự chia sẻquyền lực cho các vương hầu quý tộc, tầng lớp này có vai trò quan trọng trong
sự nghiệp chống ngoại xâm, dẹp loạn và quản lý xây dựng đất nước Sang tớithời Lê sơ, nhà nước được xây dựng theo mô hình quân chủ tập trung quanliêu, mọi quyền lực đều tập trung trong tay nhà vua và nhà vua sử dụng độingũ quan lại làm công cụ để quản lý xã hội nên về cơ bản xã hội có quan vàdân là hai tầng lớp cùng tồn tại, trong đó quan có nhiều cấp bậc, dân có nhiềutầng lớp nhưng có điểm chung họ đều là thần dân của nhà vua; tất cả đều làđối tượng của chính sách xã hội của nhà nước quân chủ do vua đứng đầu, banhành và thực hiện
Quan: có hai ban văn và võ, xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau, với
hai hình thức tuyển chọn là đội ngũ công thần - những người có công trongcuộc khởi nghĩa Lam Sơn và về sau bổ sung bằng những người đỗ đạt qua thi
Trang 29cử nhờ vào tài năng học tập Đội ngũ quan lại văn, võ thời Lê sơ bao gồmquan trong, quan ngoài và phẩm hàm sắp xếp làm 18 bậc (chánh và tòng) từnhất phẩm tới cửu phẩm, được tập hợp trong bộ máy tổ chức nhà nước Quanlại có nhiệm vụ quản lý đất nước, cai trị nhân dân, tuyệt đối trung thành vớinhà vua theo đường lối Đức trị kết hợp với Pháp trị Tầng lớp quan lại trong
xã hội thời Lê sơ trong giai đoạn đầu chủ yếu là các công thần, nhưng sau đóđến thời Lê Thánh Tông dần được thay thế bằng quan lại tuyển chọn qua thi
cử Điều này khác hẳn so với quan lại của các vương triều khác, nếu thời Trầnvương hầu quý tộc cũng chính là các công thần, họ được nhà vua chia sẻquyền lợi và luôn giữ vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước; thì thời LêThánh Tông, quan lại chủ yếu tuyển chọn thông qua thi cử dựa vào Nho học
Các triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông đã chú trọngđến việc tuyển chọn quan lại qua thi cử, nhưng cũng do điều kiện lịch sử chiphối nên trong thời kỳ đầu của nhà Lê sơ quyền lực còn nằm trong tay đội ngũcông thần, họ là những người có tài năng đức độ trong trận mạc nhưng lại hạnchế về tri thức, kinh nghiệm quản lý đất nước trong thời bình Trong tầng lớpquan lại buổi đầu đã nảy sinh tha hóa, mâu thuẫn, chia rẽ dẫn đến bè phái hãmhại nhau gây nên xáo động trong nội bộ triều đình Năm 1430, Lê Thái Tổ đã
hạ chiếu cấm quan lại tham lam, lười biếng, kéo bè đảng: "Từ nay, các đạithần từ chức tổng quản, cho tới các cấp đội trưởng, cùng các quan ở sảnh,viện, cục, có chức trách quản quân trị dân, thảy đều nên theo phép công bằng,làm việc cần mẫn, thờ vua thì tận trung, với dân thì hòa nhã, bỏ thói tham ô,trừ hết ngạo mạn, dứt lối riêng tư bè đảng, đừng theo thói cũ lỗi lầm Coi côngviệc của quốc gia là công việc của mình; mối lo của dân chúng tức mối lo củamình, tận trung hết sức phù trì nhà vua Khiến cho xã tắc yên như núi TháiSơn, cơ đồ vững như bàn thạch" [20, tr.127]
Trang 30Tứ dân theo quan niệm thời bấy giờ bao gồm sĩ, nông, công, thươngnhưng nông dân chiếm đại đa số Bên cạnh đó còn có đội ngũ binh lính và nô tỳ.
Sĩ: dưới thời Lê sơ, sĩ là tầng lớp xuất hiện ngày càng đông đảo do vào
thời kỳ này việc tuyển chọn quan lại chủ yếu là qua thi cử Họ là những ngườihọc hành đỗ đạt, xuất thân từ nhiều tầng lớp trong xã hội và là đối tượng chủyếu được đào tạo, nuôi dưỡng, chọn lọc vào đội ngũ quan lại; họ rất được xãhội trọng vọng Điểm khác biệt so với các thời đại trước là ở thời Lê sơ thì lầnđầu tiên trong lịch sử tầng lớp sĩ xuất hiện đông đảo, độc chiếm vị trí ưu tútrong xã hội và trong quan trường, đặc biệt là từ thời Lê Thánh Tông
Nông dân: là bộ phận chiếm đại đa số trong xã hội, họ là lực lượng sản
xuất chủ yếu, tạo ra của cải cho xã hội, là nguồn cung cấp lực lượng binh lính,lao dịch cho đất nước Tầng lớp nông dân thời Lê sơ đã có sự phân hóa, baogồm nhiều thứ hạng: người có ruộng đất tư hữu nhiều, ít khác nhau, từ địa chủđến tiểu nông, người không có ruộng đất phải lĩnh canh nộp tô cho giai cấpđịa chủ Khác với thời Lý, Trần, sự phát triển của sở hữu ruộng đất vào thế kỷ
XV cùng với sự thủ tiêu của chế độ nô tỳ khiến cho nông dân thời Lê sơ ngàymột phân hóa mạnh mẽ, trở thành tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội Do làlực lượng sản xuất chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, là điềukiện đảm bảo cho sự phát triển và phồn thịnh của đất nước nên họ được nhànước hết sức quan tâm và bảo vệ
Thợ thủ công: lực lượng thợ thủ công không nhiều và còn gắn liền với
hoạt động kinh tế làng xã Tuy nhiên, ở triều đình do yêu cầu xây dựng cáccông trình như cung điện, thành quách… đã ra đời cục Bách tác Ở các làng
xã, thợ thủ công với các ngành nghề truyền thống như dệt lụa, gốm… vẫnđược duy trì và có chiều hướng phát triển Một số thợ khai mỏ đồng, thiếc,kẽm cũng đã có mặt trong xã hội và là lực lượng không thể thiếu của xã hội.Nhìn chung, thợ thủ công thời kỳ này vẫn chưa nhiều, chưa thể trở thành lựclượng có tác động mạnh mẽ chi phối tiến trình vận động của xã hội
Trang 31Thương nhân: chiếm số lượng không nhiều và căn bản vẫn là những
người làm nghề buôn bán, trao đổi giữa các địa phương với nhau Tuyệt đại
bộ phận những người tham gia buôn bán lại là nông dân, họ vừa sản xuất, vừatrao đổi những sản phẩm dư thừa Tầng lớp thương nhân thời kỳ này vẫn chưađược coi trọng
Cùng với “tứ dân”, bộ phận binh lính luôn giữ vai trò quan trọng trong
xã hội Đây là tầng lớp xã hội đặc biệt, thực chất họ là những người nông dânmặc áo lính Khi làm nghĩa vụ binh dịch, cuộc đời binh nghiệp của họ gắn liềnvới bộ máy nhà nước, là công cụ bạo lực của nhà nước, họ chịu sự điều động
và được nhà nước cùng với cộng đồng làng xã nuôi dưỡng Bên cạnh chứcnăng bảo vệ độc lập tự chủ, bảo vệ biên cương của tổ quốc, binh lính còn làlực lượng giữ gìn an ninh xã hội, bảo vệ nền thống trị của nhà nước quân chủ.Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho tầng lớp binh lính
Tầng lớp đáy cùng của xã hội chính là nô tỳ, với số lượng không nhiều.Chế độ nô tỳ thịnh hành vào thời Lý, Trần nhưng tới thời Hồ đã tan rã về cănbản sau chính sách hạn nô của Hồ Quý Ly (1401) Nô tỳ thời Lê sơ có nguồngốc từ tù binh chiến tranh (chiến tranh với nhà Minh, với Chiêm Thành…),những tội nhân trong nước, những người tự bán mình Nô tỳ có hai loại làquan nô và tư nô, đây là lực lượng phục dịch trong các cung điện, trong dinhthự của quan lại, trong các đồn điền của nhà nước Việc mua bán nô tỳ vẫnđược duy trì
Như vậy, cơ cấu xã hội nhà Lê sơ tới thời Lê Thánh Tông đã có sựphân chia các tầng lớp khá rõ rệt so với các thời đại trước Vì vậy, để có thểquản lý đất nước một cách ổn định, phát triển đi lên thì nhà nước mà đứngđầu là vua cần có các chính sách xã hội hợp lý để phát huy được sức mạnhcủa từng giai tầng; đồng thời tạo nên sức mạnh chung của mọi tầng lớp, cốkết toàn dân thành một khối thống nhất
Trang 32* Về hệ tư tưởng:
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, ba học thuyết chiếm địa vịchi phối nòng cốt cho ý thức hệ phong kiến là Nho giáo, Phật giáo và Đạogiáo Giữa ba hệ tư tưởng ấy tuy có những lúc thay thế vị trí, vai trò, có lúcmâu thuẫn, chống đối nhau; nhưng chủ đạo vẫn là tương trợ, bổ sung, kết hợpcho nhau và đều là thành tố làm công cụ thống trị về tinh thần của giai cấpphong kiến Tùy theo yêu cầu phát triển của chế độ phong kiến trong từngthời kỳ lịch sử nhất định mà các hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo có tương quan vàđịa vị, vai trò khác nhau
Những học thuyết Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo được truyền bá vàonước ta từ rất sớm Trong buổi đầu của thời kỳ độc lập Ngô, Đinh, Tiền Lê,Phật giáo cũng chiếm ưu thế tuyệt đối ở nước ta; nhưng bên cạnh Phật giáo thìNho giáo và Đạo giáo cũng được truyền bá rộng rãi Trong thời Lý và buổiđầu thời Trần, nhà nước phong kiến đã thực hiện chính sách tam giáo đồngnguyên với các kỳ thi tam giáo, sử dụng cả ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo làmcông cụ thống trị của giai cấp phong kiến Nhưng cùng với sự phát triển củachế độ phong kiến, Nho giáo ngày càng phát triển và bộc lộ nhiều chức năngtích cực với việc củng cố chế độ phong kiến hơn Từ cuối thời Trần, Nho giáobắt đầu lấn át Phật giáo Sang tới thời Hồ, Nho giáo tiếp tục được phát triển
Từ đầu thế kỷ XV, sang thời Lê sơ, Nho giáo tiến lên địa vị độc tôn,phục vụ đắc lực cho chế độ quân chủ tập quyền đang phát triển mạnh mẽ lúcbấy giờ Phật giáo và Đạo giáo vẫn được duy trì trong chừng mực có lợi chođịa vị thống trị của giai cấp phong kiến
Nho giáo: tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng ở nước ta thời Lê sơ chủ yếu là
Tống Nho Đây là tư tưởng do Chu Hy (1130 - 1200) đứng đầu Học thuyếtTống Nho là một hình thức đổi mới của Nho giáo tiên Tần thích ứng với yêu
Trang 33cầu phát triển của chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế Đó là một họcthuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội theo trật tự, tôn ty chặt chẽ Để tổ chức
xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là đào tạo cho được người cai trị kiểumẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử Quân tử là để chỉ những người thuộctầng lớp trên trong xã hội, những người có phẩm chất cao đẹp; phân biệt với
kẻ tiểu nhân là những người thấp kém về năng lực địa vị xã hội, những ngườithiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Để trở thành người quân tử, conngười ta trước hết phải học tập, tu dưỡng, “tu thân”; tu thân xong mục đíchcao hơn là phải “hành đạo” (Đạo ở đây không chỉ đơn giản là đạo lý mà theoNho giáo quan niệm thì Đạo ở đây là bao chứa cả nguyên lý vận hành chungcủa vũ trụ, đó là nguyên lý đạo đức do Nho gia đề xướng và cần tuân theo).Trời giáng mệnh làm vua cho người nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời,được thiên mệnh Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người nào đó
sẽ được gọi là số mệnh
Nội dung của Nho giáo được thể hiện tập trung trong Ngũ kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu) và Tứ thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử), nó được áp dụng vào việc cai trị quản lý xã
hội và giáo dục con người
Trên cơ sở của thuyết “chính danh”, “tam cương”, “ngũ thường”, “tam tòng”,
“tứ đức” của Nho giáo, nhà nước Lê sơ đã dần dần thiết lập được các mối quan hệ
và trật tự trong xã hội theo một tinh thần mới, khác với xã hội thời Lý, Trần Tư tưởng Nho giáo bảo vệ sự liên kết gia đình, dòng họ, xung quanh triều đình trung ương và giữ gìn sự phân chia đẳng cấp xã hội phức tạp theo trật tự tôn ty danh phận, nhưng nó biết "dung hợp sự phân chia và liên kết này trên nền tảng đạo đức, luân lý
và chính trị trên cơ sở quan niệm và hoạt động lễ và pháp hòa lẫn vào nhau được thần thánh hóa là trung hiếu, tam cương phục vụ cho yêu cầu của giai cấp thống trị
phong kiến" [70, tr 251] Chính ý thức hệ tư tưởng này đã góp
Trang 34phần tích cực củng cố nhà nước phong kiến tập quyền quan liêu, củng cố nềnthống nhất của xã hội nông nghiệp tạo ra một kỷ cương xã hội theo lễ và pháp.
Cũng giống như các triều đại phong kiến trước, nhà Lê sơ đến thời LêThánh Tông sử dụng "trung" và "hiếu" để cai trị thiên hạ "Trung" để tạo nênquan hệ đẳng cấp, giữa cấp trên và cấp dưới, thần dân và nhà vua, để xâydựng và củng cố trật tự xã hội, chính quyền ổn định Dùng đạo "hiếu" để caitrị thiên hạ, sử dụng quan hệ tông tộc để ràng buộc làng xã với triều đìnhtrong mối liên kết gia đình Nó làm chất keo xã hội để giai cấp thống trị dễ bềcai trị dân chúng Đạo trung và đạo hiếu là nội dung cơ bản của tư tưởng Nhogiáo dựa vào đó để duy trì kỷ cương, phép nước, sự thống trị của nhà Lê
Tư tưởng “nhân” và “nghĩa” của Nho giáo đã được vận dụng Việt hóa
trong chính sách nhân nghĩa của thời Lê sơ Trong "Bình Ngô đại cáo",
Nguyễn Trãi đã viết: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân"
Với việc đề cao Nho giáo, nhà Lê sơ đã chú trọng tuyển dụng quan lạiqua hình thức thi cử Nho học Năm 1426, khi còn đang trong giai đoạn khởinghĩa, Bình Định vương Lê Lợi đã cho mở khoa thi kén chọn nhân tài từ nho
sĩ để xây dựng bộ máy cầm quyền lâm thời ở Bồ Đề; sau đó còn mở các khoathi Minh kinh (1429), Hoành từ (1431) Tiếp đến các vua Lê Thái Tông, LêNhân Tông liên tục tuyển chọn nho sĩ vào bộ máy nhà nước Vua Lê TháiTông đã định ra phép chọn kẻ sĩ và đến thời Lê Nhân Tông tiến hành mở cáckhoa thi tiến sĩ vào các năm 1442, 1448 Từ năm 1442, chế độ khoa cử đãhoàn chỉnh, cứ ba năm có một kỳ thi Hương và thi Hội Cũng trong năm này,nhà Lê sơ chính thức cho thi đối sách ở sân điện để lấy tiến sĩ và bắt đầu chodựng bia khắc văn nói về việc mở khoa thi tiến sĩ, khắc tên những người đỗtiến sĩ
Năm 1434, triều đình cho con cháu ngành đích của quan văn, võ từ lụcphẩm trở lên vào học ở Quốc Tử Giám, được miễn thuế thân và tạp dịch
Trang 35Để tỏ rõ lòng tôn sùng Nho học, vào tháng 2 năm 1435, Lê Thái Tôngcho chọn ngày Thượng đinh, sai Thiếu bảo Lê Quốc Hưng làm lễ cúng Khổng
Tử ở Văn Miếu, từ đó về sau định làm thường lệ
Trong các triều đại trước, Quốc Tử Giám chỉ là nơi học tập của con emquý tộc cao cấp; tới thời Lê sơ, con em bình dân cũng có thể tới đây học hành.Năm 1428, vua Lê Thái Tổ cho xây dựng trường học ở các lộ, phủ, thu nạp tất
cả mọi đối tượng vào học trừ xướng ca và người phạm tội… Vì vậy, số họctrò đi học ngày càng nhiều, số sĩ tử đi thi ngày càng đông Đến thời Lê ThánhTông, Nho giáo càng được chú trọng phát triển
Đạo giáo: được hình thành dựa trên tư tưởng của Đạo gia Đạo giáo
được du nhập vào nước ta từ rất sớm, trong suốt thời Bắc thuộc và thuộcMinh, Đạo giáo đã được giai cấp phong kiến phương Bắc ra sức truyền bá vớicác hình thức tà thuật, phù phép, tu tiên nhằm mê hoặc nhân dân Sang tớithời Lê sơ, do sùng Nho giáo mà Đạo giáo đã bị triều đình hạn chế khá chặtchẽ song nó vẫn tồn tại trong đời sống tư tưởng xã hội Năm 1429, triều đìnhtiến hành khảo hạch, kiểm tra đạo đức, học vấn của giới đạo sĩ Năm 1461,vua Lê Thánh Tông ban sắc lệnh không cho phép các địa phương trong nước
tự tiện mở thêm đạo quán mới Các biện pháp này của triều đình nhằm thuhẹp phạm vi hoạt động của Đạo giáo Tuy nhiên, trên thực tế, số đạo sĩ và đạoquán ở thời Lê sơ vẫn có khá nhiều
Đạo giáo ở thời kỳ này chủ yếu là Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phùthủy Đạo giáo phù thủy kết hợp chặt chẽ với các tín ngưỡng địa phương,thâm nhập sâu vào dân gian với nội dung niệm chú, đặt bùa trấn yểm, chữabệnh cứu người Đạo giáo thần tiên thì hấp dẫn giới trí thức Nho giáo bởitinh thần tự tại siêu thoát, phiêu diêu và có tác động nhiều tới cảm hứng thẩm
mĩ sáng tác thơ văn
Các vị vua từ Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và sau này là
Lê Thánh Tông đều có những sắc lệnh hạn chế hoạt động của Đạo giáo songtrên thực tế, ngay trong triều đình, tư tưởng Đạo giáo vẫn tồn tại và chi phối
Trang 36các nghi lễ cung đình Dưới triều Lê Thái Tông, quan Thứ sử Bùi Thì Hanhcùng với Thị lang bộ Lễ Trịnh Toàn Dương đã dùng vượn làm phép trấn yểmtrong cung cấm mong trong nước tránh được tai biến do có nhật thực gây nên.
Lê Thánh Tông cũng từng có thơ lấy cảm hứng từ Đạo giáo
Phật giáo: hình thành từ thế kỷ VI trước công nguyên ở Ấn Độ, được
truyền vào Việt Nam theo hai con đường, đường thủy từ Ấn Độ theo các thuyềnbuôn, đường bộ từ Trung Quốc Ở thời Trần, Phật giáo dường như được coi làquốc giáo Sang thời Lê sơ, Phật giáo không còn được coi là quốc giáo nữanhưng vẫn có những ảnh hưởng nhất định, đặc biệt là trong đời sống tinh thầncủa nhân dân Tinh thần từ, bi, hỉ, xả của đạo Phật đã có ảnh hưởng nhất định tới
Lê Thánh Tông, ông có bài văn Thập giới cô hồn quốc ngữ văn nổi tiếng.
Tháng 6 năm 1429, Lê Thái Tổ ban lệnh bắt các tăng đạo ai đọc thôngkinh điển, giữ được phẩm hạnh đến trình diện để kiểm tra khảo thí, nếu đỗ thìtiếp tục cho làm sư, nếu không đỗ thì phải hoàn tục Với biện pháp này, nhànước đã hạn chế được số người không có học, không có đức chỉ lợi dụng cửa
Phật hành nghề bất chính, thanh lọc là để làm trong sạch hơn giới tăng ni Đại Việt sử ký toàn thư có chép: "Mùa hạ, tháng 6, ngày mồng 10, ra lệnh chỉ cho
các tăng đạo, người nào thông kinh điển, trong sạch, giữ tiết hạnh, hẹn đếnngày 20 tháng này tới sảnh đường trình diện, để xét duyệt cho thi, ai đỗ thìcho làm tăng đạo, ai không đỗ thì bắt hoàn tục" [16, tr 302]
Tuy phạm vi ảnh hưởng của Phật giáo với các vị vua triều Lê sơ khôngcòn mạnh mẽ như thời Trần nhưng các vua, quan triều Lê vẫn hướng theo đạoPhật Tháng 4 năm 1434, vua Lê Thái Tông cho rước tượng ở chùa Pháp Vân vềkinh thành để làm lễ cầu mưa Tháng 5, vua lại cho trùng tu chùa Báo Thiên.Tháng 7, mở hội Vu Lan, tha 50 tù nhân phạm tội nhẹ, thưởng 220 quan tiền chocác sư tham gia tụng kinh Năm 1448 bị hạn hán, vua Lê Nhân Tông dẫn cácquan văn võ đến chùa Báo Ân ở cung Cảnh Linh làm lễ cầu mưa
Trang 37Phật giáo ở nước ta thời kỳ này không còn địa vị như thời Trần nhưngtriều đình vẫn có sự quan tâm như cho sửa sang chùa hỏng, cấp bổng lộc banphẩm trật cho các sư Điều này cũng góp phần bảo vệ thuần phong mỹ tục củađất nước.
Điểm nhấn nổi bật trong hệ tư tưởng thời Lê sơ, đặc biệt là ở tư tưởng
Lê Thánh Tông là đằng sau những màu sắc Nho giáo khá đậm nét vẫn nổi lên
tư tưởng yêu nước và ý thức bảo vệ chủ quyền độc lập của quốc gia dân tộc,giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước lâudài, do yêu cầu phải liên kết lại với nhau trong một cộng đồng quốc gia, dântộc thống nhất, phải phát huy tất cả sức mạnh vật chất và tinh thần của cảcộng đồng trong cuộc đấu tranh khai phá đất đai, xây dựng và bảo vệ các côngtrình thủy lợi, đặc biệt là trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, tinh thần yêunước và sự cố kết dân tộc của nhân dân Đại Việt càng ngày càng phát triển.Thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn chứng tỏ một bước phát triển cao hơn của
chủ nghĩa yêu nước, trong “Bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi không chỉ tổng
kết những thành công của công cuộc giải phóng dân tộc mà còn nói lên sự tựnhận thức mang tính khái quát và hệ thống về sự trưởng thành của dân tộc; đó
là nhận thức sâu sắc về “Nước Đại Việt ta vốn xưng nền văn hiến đã lâu”,
“Núi sông bờ cõi đã riêng, phong tục Bắc - Nam cũng khác” Tinh thần yêunước, ý thức độc lập dân tộc tiếp tục phát triển mạnh mẽ dưới thời Lê ThánhTông, nó trở thành sợi chỉ đỏ thấm đượm trong đời sống tư tưởng của xã hộiĐại Việt
Tóm lại, việc sử dụng Nho giáo qua nhiều triều đại từ Lý, Trần đến Lê
sơ là sự lựa chọn có ý thức của giai cấp thống trị phong kiến Phật giáo vàNho giáo đều được giai cấp thống trị sử dụng để định hướng xây dựng chínhsách xã hội, để xây dựng cấu trúc xã hội Tư tưởng Phật giáo chủ yếu là giảithoát, tư tưởng Nho giáo lại chú ý củng cố quan hệ gia đình và dòng họ Từ
Trang 38thế kỷ XV, Nho giáo giữ chức năng là một học thuyết về đạo đức nhân luân,
về giáo dục thi cử Nó là lý thuyết chính trị trị nước phù hợp với chế độ quânchủ tập quyền chuyên chế Những nội dung cơ bản của chính sách xã hội của
Lê Thánh Tông chịu ảnh hưởng Nho giáo chủ yếu là nhằm phục vụ cho mụcđích cai trị của vua quan Nó là cơ sở lý luận để các nhà cầm quyền dựa vào,
để đưa đất nước trở về thời thái bình thịnh trị, trong chừng mực nào đó cónhững yếu tố tích cực với sự phát triển của dân tộc
1.2 Nhân tố chủ quan cho sự hình thành chính sách xã hội của Lê Thánh Tông
Lê Thánh Tông tên húy là Lê Tư Thành, là con trai thứ tư của vua LêThái Tông và Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao Mẹ của Lê Thánh Tông - bà NgôThị Ngọc Dao là con gái của Chương Khánh Công Ngô Từ Ngọc Dao làngười con gái sinh ra sẵn có chất ngọc thuần hòa, tính trời cẩn thận, đôn hậu,một niềm cần kiệm không chuộng xa hoa; rất giỏi những công việc nữ cônggia chánh như bếp núc, thêu thùa Ngày thường ở trong nhà vẫn nghiêmtrang như đang tiếp khách, khi tiếp xúc với ai cũng tỏ vẻ hòa nhã dịu dàng.Không làm việc trái lẽ phải, không ở nơi không chính đáng, nghiêm mà không
ác, giản dị mà trang nhã lịch sự Năm 1436, tình cờ vua Lê Thái Tông gặpNgọc Dao, cảm mến sắc và tài của bà nên tuyển vào làm cung tần, khi đóNgọc Dao vừa tròn 16 tuổi Trong cung đình kẻ sang, người hèn đều gọi bà làPhật sống Người mẹ nhân từ như vậy đã có ảnh hưởng rất lớn đến các đứctính của Lê Thánh Tông sau này
Sau 4 năm Ngô Thị Ngọc Dao vào cung tức là vào năm 1440, bà đượcphong làm Tiệp Dư, ở cung Khánh Phương Từ khi được tuyển vào cung, bàNgọc Dao giao tiếp kết thân với nữ Học sĩ Nguyễn Thị Lộ, người tỳ thiếp củaquan Phục hầu Nguyễn Trãi Bà Ngọc Dao truyền dạy cho con em các nhàbiết lễ nghĩa đối với người trên, lấy ân đãi người dưới
Trang 39Năm 1440, bà Ngọc Dao sinh con gái đầu lòng là công chúa DiệuTrường Theo sử sách xưa, sau khi bà Ngọc Dao sinh công chúa Diệu Trường,
bà nằm mộng thấy có vị sứ giả áo đỏ đến đón lên thiên đình, bà cầu xin mộtngười con trai Thượng đế sai Kim Đồng xuống trần đầu thai, Kim Đồng chầnchừ mãi không chịu đi, Thượng đế nổi giận nói: “Chê nhỏ ta cho mở rộngphía Tây và vùng Thuận Quảng Nhân sẵn có ấn ngọc trong tay, đánh luônvào trán Kim Đồng chảy máu, Kim Đồng sợ quá phải đi, khi sinh Tư Thành
có vết sẹo ở trán, lớn lên thành hình chữ vương ở ấn đình” [44, tr 12].Thượng đế lại sai Ngọc Nữ xuống trần để làm bạn với Kim Đồng Sau đó, bàNgọc Dao có thai
Tin giấc mộng của bà Ngọc Dao lan ra, Thần phi Nguyễn Thị Anh người có thế lực và được vua Thái Tông sủng ái nhất - nghe được tin bèn tìmcách hãm hại bà Ngọc Dao bất chấp thủ đoạn, xúc xiểm với vua Thái Tông vucho Ngọc Dao có liên quan với vụ Huệ phi Lê Thị Nhật Lệ Vua Thái Tôngtin ngay, khép bà Ngọc Dao vào tội voi dày, may nhờ bà Nguyễn Thị Lộ cùngcác thân vương hay tin kịp thời can thiệp bà mới thoát nạn Tiếp theo đó, câuchuyện bà Ngọc Dao mang thai đến 11 tháng vẫn chưa sinh, Nguyễn Thị Anhbèn khéo dèm với Thái Tông là có quỷ sa tăng đầu thai vào Ngọc Dao để pháhoại trong cung đình Nhà vua lại nghe theo, bèn sai mười cung thủ bắt bàNgọc Dao đem ra đứng để nhắm bắn vào bụng, nói là để trừ diệt ranh quỷ.Nguyễn Thị Lộ lại tận tâm hết lòng can gián, khuyên vua không nên nghe lờidèm pha mà làm việc quá thất đức là giết cả mẹ lẫn con, bà Ngọc Dao lạithoát chết Nhằm tránh cho Ngọc Dao khỏi bị những tai vạ khác nữa, NguyễnTrãi và Nguyễn Thị Lộ đã giúp cho bà được ra ở chùa Huy Văn (Đống Đa -
-Hà Nội ngày nay), nơi bà rất sùng bái, thường đến lễ Phật -Hàng ngày, được
bà Nguyễn Thị Lộ cho người chăm sóc chu đáo Như vậy, ngay từ khi còntrong bụng mẹ Lê Thánh Tông đã gặp rất nhiều nguy hiểm, khó khăn, nhưngnhờ sự giúp đỡ của vợ chồng Nguyễn Trãi mà bà Ngọc Dao đã được sống vàsinh ra Lê Tư Thành
Trang 40Đúng giờ Sửu ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), bà Ngọc Daosinh ra hoàng tử Tư Thành tại chùa Huy Văn Ông cùng mẹ sống ở ngoàicung cấm Được sống ở bên ngoài cung cấm, gần gũi với nhân dân nên LêThánh Tông có hiểu biết về đời sống thực sự của mọi tầng lớp nhân dân.
Năm 1444, Tư Thành được phong là Bình Nguyên Vương, vâng lệnh làmphiên vương vào ở kinh sư, hàng ngày cùng học ở Kinh Diên với các vươngkhác Bấy giờ, quan ở Kinh Diên là tiến sĩ Trần Phong, thấy Tư Thành dáng điệuđàng hoàng, thông minh hơn người, cho là bậc khác thường, thần đồng xuấtchúng Khi 6 tuổi, hoàng tử Tư Thành đã biết làm văn, làm thơ, chữ lại viết rấtđẹp và thích ngâm vịnh Do biết rõ thân phận và hoàn cảnh éo le của mình nên
Tư Thành không tự mãn mà lại càng sống kín đáo, không lộ vẻ anh minh rangoài, chỉ vui với sách vở cổ kim, nghĩa lý thánh hiền, tài năng lỗi lạc trời cho,
mà chế tác lại đặc biệt lưu tâm, ưa điều thiện, thích người hiền Nhờ những ưuđiểm đó nên Tư Thành được Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Anh coinhư con đẻ, vua Lê Nhân Tông coi ông là người em hiếm có, chu cấp quân hầu,dinh thự nguy nga ở phía Tây hoàng cung (Tây cung)
Ngày mùng 3 tháng 10 năm 1459, xảy ra loạn Nghi Dân Lạng SơnVương Nghi Dân đã câu kết cùng với bọn Lê Đắc Ninh, Phạm Đồn, PhanBan, Trần Lăng và hàng trăm nghịch đảng vào cung giết vua Lê Nhân Tôngcùng với Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu Sau đó, Nghi Dân xưng đế hiệu là ThiênHưng, phong cho Bình Nguyên Vương Tư Thành làm Gia Vương Nghi Dânthấy Tư Thành có tài trí, có ý trừ Tư Thành để đề phòng hậu họa bèn xây phủ
đệ ở bên hữu nội điện, cho Tư Thành ở và sai người canh phòng nghiêm ngặt,
bà Ngọc Dao ở chùa Huy Văn Mỗi t háng Tư Thành chỉ được ra chùa thăm
mẹ một lần
Việc làm của Nghi Dân không được lòng người nên 8 tháng sau, CươngQuốc Công Nguyễn Xí đã tập trung tướng lĩnh và hoàng thân quốc thích làm