1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bia đá thế kỷ XVII của một số chùa ở ngoại thành hà nội ( khảo sát 10 huyện phía tây và nam hà nội)

224 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 12,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân bố bia đá thế kỷ XVII trong các ngôi chùa Việt ở 10 huyện 30phía Tây và phía Nam Hà Nội Chương 2: Nghệ thuật tạo tác bia đá thế kỷ XVII trường hợp 10 huyện 36ngoại thành Hà Nội Chươ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ XUÂN

BIA ĐÁ THẾ KỶ XVII CỦA MỘT SỐ CHÙA Ở

NGOẠI THÀNH HÀ NỘI (KHẢO SÁT

10 HUYỆN PHÍA TÂY VÀ PHÍA NAM

HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -NGUYỄN THỊ XUÂN

BIA ĐÁ THẾ KỶ XVII CỦA MỘT SỐ CHÙA Ở

NGOẠI THÀNH HÀ NỘI (KHẢO SÁT

10 HUYỆN PHÍA TÂY VÀ PHÍA NAM

Trang 3

MỤC LỤC

TrangLời cam đoan

Chương 1: Vài nét về bia đá thế kỷ XVII và 17 ngôi chùa tiêu biểu của 12

10 huyện ngoại thành Hà Nội

1.2 Một số ngôi chùa Việt thế kỷ XVII ở 10 huyện phía Tây và phía Nam 22

Hà Nội

1.2.1 Tổng quan về 10 huyện phía Tây và phía Nam Hà Nội 22

Trang 4

1.2.2 Về một số ngôi chùa Việt thế kỷ XVII ở 10 huyện phía Tây và 26phía Nam Hà Nội

1.2.3 Phân bố bia đá thế kỷ XVII trong các ngôi chùa Việt ở 10 huyện 30phía Tây và phía Nam Hà Nội

Chương 2: Nghệ thuật tạo tác bia đá thế kỷ XVII (trường hợp 10 huyện 36ngoại thành Hà Nội)

Chương 3: Nội dung phản ánh của bia đá thế kỷ XVII (trường hợp 10 66huyện ngoại thành Hà Nội)

3.1 Tên gọi và cách phân loại các ngôi chùa qua văn bia 66

Trang 5

3.2 Vị trí và quy mô chùa qua văn bia: 73

3.3 Quá trình xây dựng và trùng tu chùa qua văn bia thế kỷ XVII 79

Trang 6

I Chùa Bối Khê (Tam Hưng- Thanh Oai- Hà Nội) 180

Ảnh 2: Bia “Vạn cổ vĩnh truyền” - Dương Hòa 7 (1641) 181III Chùa Đậu (Thường Tín- Hà Nội)

Ảnh 4: Trang trí trán bia“Pháp Vũ tự bi” - Thịnh Đức 3 (1655) 181

Ảnh 5: Bia “Pháp Vũ tự tạo lệ bi” - Thịnh Đức 4 (1656) 182

nh 6:

Ảnh 7: Bia “Khoán ước Pháp Vũ tự bi ký”- Thịnh Đức 4 (1656) 182

Ảnh 8: Trang trí diềm chân bia “Khoán ước Pháp Vũ tự bi ký” - Thịnh Đức 183

4 (1656)

IV Chùa Hưng Giáo (Tam Hưng- Thanh Oai- Hà Nội)

Ảnh 9: Bia “Hưng Giáo xã Hưng Phúc tự cổ tích danh lam tu tạo thạch 183

bi”- Vĩnh Tộ 9 (1627)

V Chùa Hương (Mỹ Đức- Hà Nội)

Ảnh 10 - 11: Trang trí trên trán bia “Thiên Trù tự bi ký”- Chính Hòa 7 184(1686)

Ảnh 12: Trang trí hình trâu mẹ, trâu con trên đế bia “Thiên Trù tự bi ký”- 185Chính Hòa 7 (1686)

Ảnh 13: Trang trí hình ba ba trên đế bia “Thiên Trù tự bi ký”- Chính Hòa 185

Trang 7

VI Bia chùa La Khê (Hà Đông - Hà Nội)

VII Bia chùa Mậu Lương (Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội)

nh 18

nh19:

VIII Chùa Mía (Sơn Tây- Hà Nội)

Ảnh 20: Bia “Sùng Nghiêm tự thị bi”- Vĩnh Tộ 6 (1624) 189

Ảnh 21- 22: Trang trí hình mặt trời, hoa sen trên trán bia “Sùng Nghiêm tự 189

thị bi”- Vĩnh Tộ 6 (1624)

Ảnh 23: Bia “Sùng Nghiêm tự bi ký”- Đức Long 6 (1634) 190

Ảnh 24-25.Trang trí hình mặt trời, ván lá đề trên trán bia “Sùng Nghiêm tự 190

bi ký”- Đức Long 6 (1634)

IX Chùa Kim Bôi (Mỹ Đức- Hà Nội)

Ảnh 26 Bia “Trùng tu Đại Bi tự bi ký”- Phúc Thái 6 (1648) 191

X Chùa Sổ (Thanh Oai- Hà Nội)

Ảnh 27 Bia “Hội Linh Quán bi ký” - Hoằng Định 4 (1604) 191

Ảnh 28-29 Bia “Hội Linh quán bi ký”- Đức Long 4 (1632) 192

XI Chùa Thầy (Quốc Oai- Hà Nội)

Ảnh 32 Trang trí hoa văn đao mác đế bia “Hậu Phật bi ký”- PCNT giữa 193thế kỷ XVII

Ảnh 35-36 Bia “Thiên Phúc tự tạo lệ bi”- Cảnh Trị 4 (1666) 194

Ảnh 37-38 Trang trí hình lân dưới chân bia “Thiên Phúc tự tạo lệ bi”- 194Cảnh Trị 4 (1666)

Trang 8

Bả ng c á c c h ữ v iết t ắt

C ơng Mục Khâm định Việt sử thông giám c ơng mục

Đ NNTC Đ ại Nam nhất thống chí

Đ VSKTT Đ ại Việt sử ký toàn th

LTHCLC Lịch triều hiến ch ơng loại chí

NCNT Tạp chíNghiên cứu Nghệthuật

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Bia đá là một trong những nguồn tư liệu quý giá trong nghiên cứu

lịch sử và văn hoá: “Văn bia là những chứng tích phản ánh những cuộc biến thiên và cả lòng thiết tha của con người muốn gìn giữ dấu vết quý giá của thời xưa để truyền dạy cho muôn đời sau niềm tự hào về nền văn hoá lâu đời của nhân dân ta” [100, tr 9-10] Bia đá là hiện tượng văn hoá được nảy sinh từ đời

sống xã hội như là một trong những hình thức thông tin từ thời cổ - trung đại.Bia đá xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo bia đá ở các nước sử dụngchữ tượng hình bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được truyền sang Hàn Quốc,Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam Bia đá Việt Nam ra đời trong mối quan hệvăn hoá vùng và tiếp nhận ảnh hưởng truyền thống sáng tạo bia đá ở TrungQuốc, tuy nhiên bia đá Việt Nam có những nét đặc trưng mang bản sắc truyềnthống dân tộc Ở nhiều góc độ nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn, bia

đá là nguồn tư liệu rất có giá trị để tìm hiểu về lịch sử dân tộc Những bia đá cógiá trị thường được các nhà thơ, nhà văn sáng tác với nội dung phong phú đadạng phản ánh về tình hình chính trị - xã hội, đời sống con người, văn hoá giáodục tất cả đều mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Trên mỗi bề mặtcủa bia khắc các hoạ tiết trang trí nghệ thuật Bởi vậy, bia đá còn là những tưliệu quý về lịch sử điêu khắc và thư pháp Việt Nam Những bia đá thường gắn

bó mật thiết với các công trình kiến trúc tôn giáo như đình, đền, chùa, miếu vàkhông biết tự bao giờ những tấm bia đá đã trở thành một bộ phận hữu cơ củanhững ngôi chùa Việt cổ

1.2 Có thể nói rằng, chùa là một loại hình kiến trúc quan trọng trong đờisống tâm linh của mỗi người dân Việt Các công trình kiến trúc tôn giáo nàythường được tạo dựng bằng vật liệu kiến trúc cổ truyền Trong điều kiện khíhậu nóng, ẩm, nhiều thiên tai, địch họa của miền nhiệt đới, cùng với nét đặc

Trang 10

thù của lịch sử dân tộc chiến tranh liên miên, đã khiến cho các công trình kiếntrúc cổ này bị hủy hoại Bởi vậy, các công trình kiến trúc này thường xuyênđược tái tạo, tu bổ Công việc trùng tu đó thường in đậm dấu ấn của thời đại.Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể nhận ra và bóc tách được đặc điểmcủa thời đại qua các lớp kiến trúc với từng thời điểm tạo dựng, tu bổ khácnhau Bởi vậy, việc nghiên cứu kiến trúc chùa để góp phần vào công tác trùng

tu, tôn tạo giữ nguyên được bản sắc kiến trúc cổ là hết sức quan trọng và cấpthiết, đòi hỏi phải có nguồn tư liệu chân xác Với những gì còn sót lại và bằngnhững kết quả nghiên cứu của khảo cổ học lịch sử, đặc biệt cùng với việcnghiên cứu bia đá thế kỷ XVII chúng ta cũng phần nào phác hoạ được hìnhdáng cũng như đặc trưng kiến trúc của những ngôi chùa cổ trong giai đoạn này

1.3 Như nhiều nhà nghiên cứu chùa Việt đã từng nhận xét, thế kỷ XVII

là thế kỷ bùng nổ của các ngôi chùa lớn ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ Trong

đó 13 huyện ngoại thành ở phía Tây và phía Nam Hà Nội (bao gồm: ThườngTín, Phú Xuyên, Thạch Thất, Quốc Oai, Hoài Đức, Phúc Thọ, Sơn Tây, Ba Vì,Thanh Oai, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Hà Đông) được sáp nhập từ tỉnh

Hà Tây cũ từ sau ngày 01.8.2008 đã có 469 ngôi chùa được xây dựng qua cácthời kỳ khác nhau, trong đó có 132 ngôi chùa được xếp hạng cấp Bộ, 47 ngôichùa xếp hạng cấp tỉnh và 290 ngôi chùa chưa được xếp hạng1, điều đáng quantâm là có 07 ngôi chùa đã được xếp vào loại di tích Quốc gia đặc biệt2 Tuynhiên, ở khu vực này có 38 ngôi chùa3 có niên đại thế kỷ XVII,

1 Theo thống kê của Viện Bảo tồn Di tích.

2 Di tích Quốc gia đặc biệt gồm: chùa Hương- Mỹ Đức, chùa Đậu- Thường Tín, chùa Bối Khê- Thanh Oai, chùa Thầy- Quốc Oai, chùa Mía, chùa Tây Phương- Sơn Tây (những ngôi chùa này hiện nay hầu hết còn giữ đuợc kiến trúc thế kỷ XVII, chỉ riêng chùa Tây Phương là kiến trúc thế kỷ XVIII).

3 Thống kê của Viện Bảo tồn Di tích thì: trong tổng số 469 ngôi chùa/ 13 huyện thì: Thời

Lý có 04 chùa, thời Trần có 01 chùa, thế kỷ XV có 01, thế kỷ XVI có 04 chùa, thế kỷ XVII có 38 chùa, thế kỷ XVIII có 15 chùa, thế kỷ XIX có 307 chùa…

Trang 11

trong đó những ngôi chùa đảm bảo được cả hai yếu tố: vừa bảo lưu được giá trịkiến trúc điêu khắc trang trí thế kỷ XVII, lại vừa lưu giữ được các tấm bia đồngniên đại thì số lượng không nhiều, chỉ dừng lại ở con số 17 chùa với 29 tấm bia

đá Danh sách 17 ngôi chùa gồm chùa Bối Khê, chùa Đậu, chùa Cống Xuyên,chùa Hưng Giáo, chùa Hương, chùa La Khê, chùa Lại An, chùa Lê Dương,chùa Mía, chùa Mậu Lương, chùa Mui, chùa Nhị Khê, chùa Sổ, chùa Thầy,chùa Thị Nguyên, chùa Trăm Gian, chùa Tường Phiêu Những di tích này chứađựng nhiều nét đặc sắc trên mọi phương diện như lịch sử, văn hóa, mỹ thuật,kiến trúc

Với những lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Bia đá thế kỷ XVII của một số ngôi chùa ở ngoại thành Hà Nội (Khảo sát 10 huyện phía Tây và phía Nam Hà Nội)” với mong muốn đi sâu nghiên cứu từ hình

thức tới nội dung phản ánh của hệ thống bia đá thế kỷ XVII được dựng tại cácchùa Việt có đồng niên đại, nhằm mục đích góp phần hiểu thêm về lịch sử,kiến trúc chùa Việt cũng như nghệ thuật điêu khắc trong giai đoạn lịch sử này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về bia đá được xuất bản

Trong “Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã” của

PGS.TS Phạm Thị Thuỳ Vinh xuất bản năm 2003, tác giả đi sâu vào khai thácnội dung của toàn bộ văn bia xứ Kinh Bắc thời Lê (thời Lê Sơ và thời LêTrung Hưng), trong đó khai thác một cách khá kỹ lưỡng về vấn đề sinh hoạtlàng xã Tác giả nghiên cứu về việc xây dựng các công trình công cộng về tínngưỡng (đình, chùa, văn chỉ, từ đường); các công trình phục vụ đời sống kinh

tế của cộng đồng (quán chợ, tu sửa cầu, bến đò…); sự tranh giành ruộng đất;những khó khăn thường xuyên của các làng xã về sưu thuế, công dịch; vị trí

Trang 12

của người phụ nữ trong hoạt động của làng xã; vấn đề về giáp và tổ chức làng

xã được phản ánh qua bia đá… Ngoài ra, tác giả đã nghiên cứu về quá trình tạotác văn bản và trang trí hoa văn trên văn bia Kinh Bắc thời Lê Đó chính là cơ

sở để chúng tôi so sánh với những bia đá trong các ngôi chùa ở xứ Kinh Bắcvới những bia đá ở 10 huyện phía Tây và phía Nam ngoại thành Hà Nội

Bên cạnh đó“Một số vấn đề về văn bia Việt Nam” của Trịnh Khắc Mạnh

đi sâu phân tích các hình thức tồn tại và đặc điểm về văn bản, giá trị của vănbia Việt Nam khi nghiên cứu tư tưởng chính trị, đời sống văn hoá xã hội, đặcđiểm thể loại văn học Việt Nam thời trung đại, văn bia chữ Nôm Ngoài ra tácgiả đã chọn để giới thiệu 20 văn bia Tuy nhiên, vấn đề chạm khắc trên bia đácũng như nội dung chung của văn bia tác giả chưa chú ý đề cập đến

Trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu về mỹ thuật của các bia đá có thể

kể đến các cuốn“Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt” của

Trần Lâm Biền mang tính chất tổng hợp các loại hình trang trí từ thời ĐôngSơn cho đến thời Nguyễn trên tất cả các chất liệu, các loại hình bia đá, nhang

án, tượng, trên kiến trúc gỗ Qua đó đưa ra những đặc điểm chung nhất về mỹthuật qua từng thời kỳ, chứ chưa đi sâu nghiên cứu những hình tượng chạm

khắc trên bia đá Hay Chu Quang Trứ trong cuốn“Mỹ thuật Lý Trần - Mỹ thuật Phật giáo Việt Nam” đề cập đến “Bia và văn bia chùa Việt Nam” từ thời Lý

cho đến thời Nguyễn [64; 441 - 487]4 Tuy nhiên, những mô tả này cũng chỉmang tính chất sơ lược và chưa đầy đủ về nội dung của một vài bia đá tiêu biểutrong các di tích như chùa Đọi (Hà Nam), chùa Tây Phương (Hà Nội) Những

ý nghĩa biểu tượng của mỹ thuật, trang trí chỉ đề cập đến một cách sơ lược vềnhững nét chạm khắc của một vài bia, chưa có nhận định mang tính chất kháiquát về chạm khắc bia đá qua từng thời kỳ

4 Bài này cũng đã được đăng trên tạp chí Phật học số 3 năm 1997.

Trang 13

Ngoài ra, Viện Mỹ Thuật còn có những tác phẩm như “Mỹ thuật thời Lý”,

“Mỹ thuật thời Trần”, “Mỹ thuật thời Mạc” Đây là những công trình mang

tính chuyên khảo cho từng thời kỳ, những biểu tượng chạm khắc được nêu lênmang tính chất tổng hợp trên mọi chất liệu, mọi loại hình di tích; đồng thời đây

là những công trình để chúng tôi tìm hiểu thêm về phong cách nghệ thuật thời

kỳ trước đó, để thấy được những biến chuyển lớn trong nghệ thuật chạm khắcdân gian thế kỷ XVII

Một số khóa luận, luận án cũng bắt đầu đặt vấn đề nghiên cứu bia đá thế

kỷ XVII theo hướng tiếp cận mỹ thuật Năm 1975, Tăng Bá Hoành đã nghiên

cứu “Sự chuyển biến hoa văn đến trang trí bia đá thế kỷ XVI - XVIII” Với số

lượng 87 trang, tác giả đã đề cập đến các hình tượng trang trí trên bia đá trongsuốt 3 thế kỷ XVI, XVII, XVIII Tuy nhiên tác giả đã viết về trang trí bia đátrong một thời kỳ khá dài, do đó việc tập trung vào phân tích, miêu tả nhữngbia đá trong giai đoạn thế kỷ XVII còn hạn chế, chỉ chú trọng vào việc mô tảcác hình tượng chạm khắc, chưa đưa ra được những đặc trưng riêng về trang trí

bia trong thời kỳ này Đến năm 1979, Đặng Kim Ngọc đã có khoá luận“Bước đầu tìm hiểu nghệ thuật trang trí bia đá thế kỷ XV- XVIII” Trong đó tác giả

chú trọng đến việc tìm hiểu hình tượng trang trí trên bia qua các thời kỳ từ thế

kỷ XV đến thế kỷ XVIII, không đi sâu vào hình dáng, kỹ thuật chạm khắc,chưa đưa ra được các tiêu chí để phân biệt một cách chân xác đặc điểm bia đácác thời kỳ, đặc biệt là thế kỷ XVII tác giả mới chỉ đề cập đến rất sơ sài, cầnđược nghiên cứu sâu hơn nữa

Luận án Tiến sĩ năm 2001 của Nguyễn Quốc Tuấn về“Di tích chùa Bối Khê (Hà Tây)”, với phụ lục khá dày dặn, là bản dịch văn bia của chùa từ thế kỷ

XVII đến thế kỷ XIX, trong đó tác giả đã khai thác nội dung về thời điểm tạodựng và trùng tu chùa Bối Khê qua các thời kỳ khác nhau Bên cạnh đó luận án

Tiến sĩ của Nguyễn Văn Tiến năm 2001 về “Di tích chùa Thầy (Hà

Trang 14

Tây)” cũng đã có những bản dịch bia đá, trong đó đã dịch 02 văn bia thế kỷ

XVII và trong phần chính văn cũng đã đề cập đến những lần trùng tu chùa Bên

cạnh đó, luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Thu Hương (2000) về “chùa Trăm Gian những giá trị văn hóa nghệ thuật”- trường Đại học Văn hóa đã đề cập

đến những lần trùng tu chùa qua văn bia, nhưng cũng rất sơ sài, phần phụ lụcchưa có các bản phiên âm, dịch nghĩa của những văn bia hiện còn trong chùa

Ngoài các công trình đã được xuất bản hoặc những luận án, luận văn còn

có một số bài viết về bia đá được đăng rải rác trên các tạp chí Tạp chí HánNôm có nhiều tác giả đã đề cập đến việc nghiên cứu bia đá Tác giả Nguyễn

Huy Thức có bài “Bước đầu tìm hiểu văn bia ở một huyện thuộc đồng bằng Bắc Bộ”; “Đôi nét về bia hậu” số 2 năm 1987 của Dương Thị Phe và Phạm Thị Thoa; “Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam, tạp chí Hán Nôm, số 4, 1993 của Trịnh Khắc Mạnh; “Văn bia chợ Việt Nam - Giá trị tư liệu khi tìm hiểu các vấn đề sinh hoạt xã hội thời phong kiến” số 5, năm 2006 hoặc “Một số đặc điểm về nội dung và hình thức của văn bia Lê Sơ” đăng trên số 4 năm 2008 của

tác giả Phạm Thị Thuỳ Vinh Những bài viết này chỉ đề cập đến một vài khíacạnh mà nội dung bia đá phản ánh qua các thời kỳ trên địa bàn vùng đồng bằngBắc Bộ như vấn đề về bầu hậu, hoạt động buôn bán ở các làng xã vấn đề tạodựng và trùng tu các ngôi chùa qua văn bia hầu như chưa được quan tâm nhiều

Trên tạp chí Khảo cổ học có bài “Vài nét về tình hình sưu tầm và nghiên cứu văn bia Việt Nam” của tác giả Hoàng Lê, số 2 năm 1982; hoặc “Tìm hiểu nghệ thuật trang trí bia đá thế kỷ XVIII” của Lê Đình Phụng, số 2 năm 1987.

Bên cạnh đó, các tác giả nước ngoài cũng đã công bố một số công trìnhnghiên cứu liên quan tới vấn đề bia đá ở Việt Nam Năm 1982, M.Bernanse đã

viết“Nghệ thuật trang trí ở Bắc Kỳ” (tư liệu Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Trang 15

trong đó ông có đề cập đến những đặc điểm trang trí trên các chất liệu gốm, đá,gỗ Tuy nhiên, học giả này cũng chỉ đưa ra những khái niệm chung nhất chotất cả các loại hình trang trí trên kiến trúc, chứ chưa có nhận định cụ thể vềchạm khắc trên bia đá.

Tại Matxcơva năm 1993 luận án Phó Tiến sĩ về “Văn bia Việt Nam”của

học giả người Nga là Phedorin, được xem xét dưới góc độ lịch sử Ngoài ra

Phedorin có bài viết “Hệ phương pháp và một vài kết quả phân tích thống kê

tư liệu văn bia Việt Nam khi nghiên cứu lịch sử xã hội” (bản dịch của Trịnh

Khắc Mạnh) đăng trên tạp chí Hán Nôm số 2 năm 1992

Tháng 11-1997“Bia Văn Miếu Hà Nội” được quỹ Agence de la

Francôphnie (ACCT) của Tổ chức hợp tác Văn hoá và Kỹ thuật của Cộng đồngPháp ngữ tài trợ xuất bản bằng song ngữ Pháp - Việt

Các công trình của học giả nước ngoài về văn bia mới chỉ dừng lại ở mức

độ giới thiệu, phần nào phân tích về nội dung của giá trị văn bia, nhưng chỉ đềcập một cách sơ lược, chưa có sự đúc rút việc tạo dựng trùng tu di tích, nhất lànhững bia đá có giá trị về lịch sử - văn hóa - xã hội ở thế kỷ XVII, đồng thờichưa có tác phẩm chuyên biệt nào nghiên cứu đến hình dáng, kỹ thuật tạo tác

và các hình thức trang trí bia đá thời kỳ này

Tóm lại, có thể thấy rất hiếm những công trình nghiên cứu, những luận

án, luận văn đặt vấn đề kết hợp giữa nghiên cứu về chùa và nghiên cứu bia đátrong giai đoạn thế kỷ XVII Bởi vậy, giá trị của bia đá thế kỷ XVII chưa đượckhai thác triệt để Một trong những nội dung quan trọng của hệ thống bia đá đó

đề cập tới cách thức tạo dựng và trùng tu di tích chùa vẫn chưa được khai thác.Việc khai thác nội dung này cần được quan tâm sâu hơn nữa, từ đó góp phầnbảo tồn và trùng tu những ngôi chùa cổ trong hiện tại và tương lai Đây cũngchính là mục đích mà luận văn hướng tới

Trang 16

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Chúng tôi chọn 29 tấm bia đá thế kỷ XVII trong 17 ngôi chùa tiêu biểuđáp ứng được hai tiêu chí, thứ nhất là những ngôi chùa vẫn giữ được kiến trúcmang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII, thứ hai là trong những ngôi chùa đócòn lưu giữ được những tấm bia đá được tạo tác trong giai đoạn thế kỷ XVIIlàm đối tượng nghiên cứu và giới hạn trong phạm vi 10 huyện ngoại thành ởphía Tây và phía Nam Hà Nội (trước đây thuộc tỉnh Hà Tây và đến ngày01.8.2008 được sáp nhập trở thành các huyện thuộc ngoại thành Hà Nội)

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong khi hoàn thành luận văn này chúng tôi sử dụng một số phươngpháp chính như phương pháp điều tra điền dã, phương pháp văn bản học.Trong đó phương pháp điều tra điền dã là phương pháp tiếp cận trực tiếp vớicác nguồn sử liệu bia đá tại các địa phương, sử dụng các thao tác điều tra, sưutầm, chụp ảnh, dập thác bản trên cơ sở đó sẽ tiến hành thống kê, phân loại,

mô tả, phân tích rút ra những giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật của nguồn tưliệu này Bên cạnh đó phương pháp văn bản học được áp dụng chủ yếu đối vớicác nguồn tài liệu thành văn, đây là phương pháp chính để xác định niên đạitương đối của các bia đá không ghi niên đại tạo tác hoặc có những bia đá đã bị

mờ Căn cứ vào hình tượng chạm khắc trên trán bia, diềm bia, chân bia, kiểuchữ, chất liệu sử dụng… để xác định niên đại của bia và khai thác thông tin

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác để hỗ trợ trongquá trình thực hiện luận văn như phương pháp so sánh, phương pháp phân tích,tổng hợp… Trong quá trình nghiên cứu hoa văn trang trí trên bia đá có thể đốichiếu với những nét chạm khắc trên kiến trúc gỗ cổ truyền được dựng cùngthời Từ đó đưa ra những nhận xét về hoa văn trang trí cho từng

Trang 17

thời kỳ, đồng thời có thể xác định một cách tương đối niên đại khởi dựng cho

di tích, đưa ra những nhận xét chung, những đặc trưng cơ bản dễ nhận biết,làm cơ sở cho việc xác định niên đại của loại hình di vật này

5 Đóng góp của luận văn:

- Luận văn nghiên cứu mang tính chất tổng hợp về những hình tượngchạm khắc trên bia đá thế kỷ XVII trong một số ngôi chùanViệt Từ đó đưa ra nhữngtiêu chí để xác định niên đại của bia đá mang tính chất tương đối, làm cơ sở để góp phầnvào những giá trị của di sản văn hoá vật thể, bổ sung thêm phần khuyết thiếu của nghệthuật chạm khắc cổ truyền

- Luận văn phân tích việc tạo dựng, trùng tu các ngôi chùa được phản ánhqua bia đá thế kỷ XVII, từ đó có thể hiểu được cách thức tạo dựng, hay phương pháptrùng tu của người xưa, qua đó có thể vận dụng vào thực tiễn công tác trùng tu di tíchhiện nay Nó có ý nghĩa khoa học đối với cả nghiên cứu văn bản Hán Nôm và mỹ thuậttruyền thống của người Việt

- Góp phần nghiên cứu chùa Việt cũng như lịch sử, văn hóa của cộngđồng cư dân khu vực phía Tây và phía Nam ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn thế kỷXVII

6 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Vài nét về bia đá thế kỷ XVII và 17 ngôi chùa tiêu biểu của 10 huyện ngoại thành Hà Nội:

Trong chương này chúng tôi đề cập đến đặc điểm chung của một sốhuyện ngoại thành Hà Nội, tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội Việt Nam thế kỷXVII, đặc biệt nhấn mạnh đến sự phát triển Phật giáo giai đoạn này tác độngđến bia đá trong các ngôi chùa Việt

Trang 18

Ngoài ra, chương 1 còn đề cập đến bia đá ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch

sử và nhấn mạnh bia đá thế kỷ XVII trong 17 ngôi chùa Việt (trường hợp 10huyện ngoại thành Hà Nội thuộc tỉnh Hà Tây cũ)

Chương 2: Nghệ thuật tạo tác bia đá thế kỷ XVII (trường hợp 10 huyện ngoạithành Hà Nội):

Chương 2 đề cập đến những đặc trưng bên ngoài của bia đá thế kỷ XVII

về hình dáng bia, kỹ thuật chạm khắc, bố cục bia và các hình tượng chạm khắc

Từ đó đưa ra các tiêu chí để xác định tương đối cho bia đá đã bị mất niên đạituyệt đối và có sự đối sánh với những chạm khắc trên kiến trúc gỗ cùng thời

Chương 3: Nội dung phản ánh của bia đá thế kỷ XVII (trường hợp 10 huyệnngoại thành Hà Nội)

Trong chương này, luận văn tập trung phân tích những nội dung chúngđược phản ánh trong bia đá thế kỷ XVII Đó là những vấn đề liên quan đến cácngôi chùa từ vị trí, quy mô, cảnh quan chùa, vật liệu xây dựng… đến nhữnglịch sử hình thành và lực lượng hưng công vào các ngôi chùa thời kỳ này quathư tịch văn bia… Từ đó thấy được, cách thức tạo dựng và trùng tu chùa củangười xưa trong giai đoạn thế kỷ XVII để góp phần cho công tác bảo tồn ditích hiện nay

Phần phụ lục của luận văn bao gồm:

- Bảng thống kê 29 bia đá thế kỷ XVII trong 17 ngôi chùa tiêu biểu ở 10 huyện ngoại thành phía Tây và phía Nam Hà Nội theo trục thời gian

- Phần dịch bia đá thế kỷ XVII trong một số ngôi chùa để làm minh họa cho phần chính văn

- Một số ảnh bia đá minh họa cho phần chính văn

Trang 19

Chương 1VÀI NÉT VỀ BIA ĐÁ THẾ KỶ XVII VÀ 17 NGÔI CHÙA TIÊU BIỂU

CỦA 10 HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

1.1 Vài nét về bia đá Việt Nam

1.1.1 Khái niệm về bia đá:

Hiện nay, các làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, chúng ta đều cóthể gặp những bia đá dựng ở đình, chùa, đền, miếu hoặc trong các ngõ xóm nhưng mấy ai hiểu được hết giá trị của những bia đá Bởi nó là sản phẩm củamột thời đã qua, ẩn chứa nhiều thông tin về quá khứ của từng làng xã Việt thờitrung đại

Bia vốn là âm “bi - 碑” xuất hiện cùng những chiếc bia đầu tiên vào thờinhà Chu (Trung Quốc) Ban đầu bia chỉ là những cột đá được dựng ở cửa miếudùng để buộc vật tế sinh và đo bóng mặt trời hay những cột gỗ chôn bên huyệt

mộ để buộc dây thả quan tài Bia này ban đầu vốn không có chữ, sau nhân đó

mà khắc bài văn lên Lệ khắc bài văn lên bia mới có từ thời Đông Hán vào

những năm đầu công nguyên trở đi Rồi quy định thành lệ: “Bia có mặt trước gọi là mặt dương, mặt sau gọi là mặt âm, hai bên gọi là mé bia, phía trên gọi

là trán bia, phía dưới là bệ bia Bệ bia của loại bia bình thường là khối đá vuông, còn đối với loại bia hoa mỹ thì được tạc thành hình rùa Bài văn khắc trên bia gọi là văn bia (minh văn) Ở trán bia khắc tiêu đề, mặt dương khắc nội dung bài văn bia, mặt âm và mé bia khắc tên người Có bài văn dài, khắc ở mặt dương không hết thì khắc tiếp sang mặt âm và mé bia” [23, tr 76].

Lệ dựng bia và quy cách tạo bia như trên cũng ở một số nước trong khuvực chịu ảnh hưởng văn hoá Hán như Triều Tiên, Nhật Bản Ở Việt Nam cóthể nói rằng không một làng quê nào, một sự kiện quan trọng liên quan cộng

Trang 20

đồng trong làng xã thời phong kiến lại không được dựng bia ghi lại Sự hiện

diện của mỗi bia đá, mỗi bài văn khắc trên đó như một trang“sử đá” trong làng

xã Việt Nam qua các triều đại Bởi:“Xây dựng lâu ngày, cõi báu đã xong, nếu không khắc bia ghi lại, thì con cháu mai sau không biết tìm đâu để noi theo dấu vết, nên phải dùng văn trình bày rõ ràng công việc đã làm, để cho dù nhân vật có đổi đời thì tiếng lành vẫn truyền mãi” [63, tr 40]; hoặc trong một số nội dung văn bia đã khẳng định: “Bia là khắc lên đá để ghi sự việc mà ngợi ca sự hưng thịnh và lưu truyền công đức mãi mãi vậy” (bia chùa Sổ, Đức Long 4 -

1632)

1.1.2 Bia đá Việt Nam qua các thời kỳ:

Bia đá Việt Nam có hai loại chính là bia đá khối rời và bia khắc trên váchnúi (bia ma nhai) Trong đó, bia khối rời chiếm tỷ lệ phổ biến, được đặt trong

di tích truyền thống của người Việt (như đình, chùa, đền, miếu, lăng mộ, từ chỉ,

từ đường…) Đó là những bia ghi lại các sự việc liên quan, tác động đến di tíchnhư bia ghi thần tích, bia ghi việc tạo dựng và trùng tu di tích, bia hậu Thần,hậu Phật Do đó, bia đá đã trở thành một bộ phận quan trọng và tô điểm ditích thêm phần cổ kính trang nghiêm Vì thế, mỗi bia đá đều được quy ước chặtchẽ về nội dung văn bia, tạo hình và thư pháp điều đó phản ánh nhận thức vàkhả năng thẩm mỹ của mỗi tầng lớp xã hội, mỗi thời đại

Ngoài các bia đá mang tính chất khối rời phổ biến trong các di tích tôngiáo, tín ngưỡng như đã được đề cập đến ở trên, còn có loại hình bia đá khác -

đó là bia ma nhai (có nghĩa là bia mài lên vách đá) như chùa Thầy (Quốc Oai

- Hà Nội), chùa Hương (Mỹ Đức - Hà Nội), chùa Trầm (Chương Mỹ - HàNội), động Kính Chủ (Kinh Môn - Hải Dương) Bia ma nhai có đặc điểm chung làkhuôn khổ bia không bị hạn chế bởi vật liệu tạo tác, mà tuỳ thuộc vào độ dài, ngắn củabài văn bia Phần lớn bia không có hình trang trí, không

Trang 21

có trán bia, đế bia mà chỉ được đóng khung bằng đường viền xung quanh Tuynhiên, một số bia đá cũng được trang trí khá đẹp cả phần diềm trán bia, diềmthân bia, diềm chân bia như bia chùa Thầy (Quốc Oai - Hà Nội) Nội dungcủa bia ma nhai thường là những bài thơ, bài văn ngẫu hứng trước cảnh thiênnhiên, trước sự việc mà vua, quan khi đi tuần thú, chinh phạt hoặc vãn cảnh đềtặng…

Lệ dựng bia, khắc đá ở Việt Nam chưa rõ có từ khi nào Song, tấm bia

sớm nhất hiện biết là bia “Đại Tuỳ Cửu Chân quận bảo an đạo tràng chi bi văn” nguyên ở làng Trường Xuân, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh

Thanh Hoá, niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (618) thời Bắc thuộc, niên hiệu nhàTuỳ Hiện bia đá này được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Sau đó là những cột kinh Phật mang tên“Phật đỉnh tôn thắng gia chú linh nghiệm đà la ni” 8 mặt ở chùa Nhất Trụ - Hoa Lư (Ninh Bình) khắc vào thời

Đinh (968 - 979)

- Bia thế kỷ XI - XII (thời Lý): Cho đến nay nhiều bia thời Lý không còn

giữ nguyên được hiện trạng của chúng, một phần đã bị bào mòn bởi thiên nhiên hoặc đã

bị thời sau sửa chữa, thêm bớt cả nội dung lẫn hình thức (kiểu dáng hoa văn, chữ khắc)

Theo Lê Thị Liên trong bài “Mấy nhận xét về bi ký Lý - Trần” (Thông

báo Hán Nôm học năm 1996) mới thống kê được 13 bia đá thời Lý phân bố rảirác trong các di tích (bao gồm cả những thác bản đã được trường Viễn ĐôngBác Cổ Pháp sưu tầm và lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm) Từ đó đếnnay vẫn còn tiếp tục được phát hiện

- Bia thế kỷ XIII - XIV (thời Trần): Cũng trong bài “Mấy nhận xét về bi ký

Lý - Trần” của Lê Thị Liên đã thống kê được 32 bia đá và vẫn còn được tiếp tục phát

hiện Hiện nay những thác bản này hầu hết được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

14

Trang 22

Địa bàn phân bố của những tấm bia thời Trần trải dài hơn thời Lý, phíaBắc tới huyện Vị Xuyên, Hà Giang (như bia chùa Sùng Khánh, khắc năm1367), phía Nam tới Thanh Hoá (bia chùa Hưng Phúc khắc năm 1324; biaSùng Nghiêm, khắc năm 1372 ).

- Bia thế kỷ XV (thời Lê Sơ): Theo thống kê trong cuốn“Văn khắc Hán Nôm Việt Nam” của Trịnh Khắc Mạnh hiện nay thời Lê Sơ còn hơn 70 bia đá, tập trung

chủ yếu ở khu Lam Kinh (Thanh Hoá), hoặc bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám HàNội, ngoài ra còn một số bia phân bố rải rác trong các di tích

- Bia thế kỷ XVI (thời Lê - Mạc): Bia thế kỷ XVI được biết đến đều xuất

hiện từ Thanh Hoá, Nghệ An trở ra Trong đó, bia mang niên hiệu nhà Lê tập trung chủyếu ở Thanh Hoá - đất phát tích và trung hưng của nhà Lê, bia mang niên hiệu nhà Mạctập trung chủ yếu ở các vùng Kiến An, Hải Dương và các vùng phụ cận Thăng Long5

Theo Thư mục giản lược của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì thế kỷ XVI

hiện sưu tập được 207 chiếc, trong đó có 17 bia thần tích mang niên hiệu HồngPhúc 1 (1572), 147 bia Mạc và 43 bia Lê có niên đại đích thực ghi trên bia.Trong số 43 bia Lê có 27 bia ở giai đoạn đầu thế kỷ trước khi có nhà Mạc và

16 bia ở giai đoạn đồng thời với bia Mạc Bia Mạc xuất hiện liên tục từ năm

1529 đến năm 1592 Theo Đinh Khắc Thuân trong “Văn bia thời Mạc” đãthống kê bia đá thế kỷ XVI được phân bố rải rác ở khắp các tỉnh, bia nhà

5 Bởi nhà Mạc tuy lên ngôi vào năm 1527, nhưng quyền thống trị vẫn còn yếu trên miền đất từ Thanh Hoá trở vào Năm 1533 nhà Lê dựng lại sự nghiệp, nắm vững vùng đất Thanh Hoá, Nghệ An Từ đó tồn tại đồng thời hai vương triều Lê - Mạc Năm 1592 nhà Mạc thất bại, phải rút khỏi Thăng Long Sau đó kéo dài sang thế kỷ XVII ở vùng Cao Bằng, song vai trò của nhà Mạc chủ yếu ở giai đoạn thế kỷ XVI trên các vùng đất xung quanh Thăng Long từ Ninh Bình trở ra.

15

Trang 23

Lê giai đoạn đầu thế kỷ XVI gồm: Thanh Hoá (10 bia); Nghệ An (3 bia); Kiến

An (1 bia); Hải Dương (2 bia); Hà Đông (3 bia), Hà Nội (2 bia); Hưng Yên (01bia); Sơn Tây (02 bia); Nam Định (03 bia) Bia Lê giai đoạn đồng thời với nhàMạc gồm Thanh Hoá (01 bia), Nghệ An (01 bia); Hải Dương (01 bia); HàĐông (01 bia); Ninh Bình (01 bia) Bia thời Mạc gồm Kiến An (21 bia); HảiDương (29 bia); Hà Tây (24 bia); Hà Nội (04 bia); Hưng Yên (11 bia); NamĐịnh (11 bia); Ninh Bình (13 bia); Thái Bình (7 bia); Bắc Ninh (11 bia); BắcGiang (2 bia); Vĩnh Yên (7 bia); Phú Thọ (3 bia); Quảng Yên (3 bia), TuyênQuang (1 bia) [54, tr 18]

- Thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII - nửa cuối thế kỷ XVIII):

Thời Lê Trung Hưng số lượng bia được tạo dựng lớn hơn rất nhiều so vớithời kỳ trước, lại phân bố rộng khắp trong các làng xã, không có sự tập trung

như ở các thời kỳ trước: “Nếu trung tâm bia thời Lê Sơ ở Thanh Hoá, chủ yếu gồm bia về lăng mộ nhà Lê, thì trung tâm bia Mạc chủ yếu ở Kiến An (Hải Phòng), phổ biến là bia chùa Phật” [55, tr.18] Việc sưu tầm và dập thác bản

của các cơ quan liên quan như Viện nghiên cứu Hán Nôm, các Sở Văn hoá

thông tin cho đến nay vẫn chưa có con số thống kê cụ thể Theo “Văn khắc Hán Nôm” của Trịnh Khắc Mạnh (Viện Nghiên cứu Hán Nôm thời kỳ này có

khoảng vài ngàn văn khắc Riêng vùng Kinh Bắc xưa đã được Phạm Thị Thuỳ

Vinh tổng kết trong cuốn “Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh chế độ sinh hoạt làng xã” đã thống kê được 1.063 bia, số bản dập chủ yếu nằm trong

kho thác bản văn bia hiện có ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm [69, tr.53].Việc nghiên cứu và sưu tầm bia đá thời kỳ này vẫn đang được tiến hành

- Bia cuối thế kỷ XVIII (thời Tây Sơn): Triều Tây Sơn vốn dĩ rất ngắn

ngủi, lại bị huỷ hoại bởi một số chính sách của nhà Nguyễn, do đó tư liệu bị

Trang 24

mất mát, thất lạc nhiều Bia đá thời Tây Sơn cũng nằm chung trong tình trạngtrên.

Bia đá thời Tây Sơn hiện nay hầu hết đã được in dập và lưu giữ tại ViệnNghiên cứu Hán Nôm và kho văn khắc của Sở Văn hoá và Thông tin Hà Nội.Theo PGS.TS Đinh Khắc Thuân đã bước đầu thống kê được 318 bản dập vănbia, chúng được phân bố rải rác ở các địa phương từ Lạng Sơn đến Cố đô Huế[53, tr.30] Cụ thể ở Hải Dương có 66 bia; Hưng Yên (34 bia); Bắc Ninh (62bia); Bắc Giang (34 bia); Hà Đông (31 bia); Hà Nội (9 bia); Sơn Tây (19 bia);Phúc Yên (21 bia); Phúc Thọ (3 bia); Vĩnh Yên (12 bia); Thái Nguyên (5 bia);Nam Định (6 bia); Hà Nam (4 bia); Ninh Bình (3 bia); Thái Bình (2 bia);Quảng Yên (2 bia); Lạng Sơn (1 bia); Thanh Hoá (3 bia); Nghệ An (1 bia)

- Bia thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX (Thời Nguyễn): Trong quá trình

khảo sát ở một số tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, chúng tôi nhận thấy, số lượng bia thờiNguyễn cũng còn khá lớn, lại nằm rải rác trong các di tích kiến trúc cổ truyền của ngườiViệt, việc sưu tầm, thống kê toàn bộ số lượng bia thời kỳ này rất khó khăn

Như vậy, bia đá Việt Nam rất đa dạng và phong phú về thể loại, ngoài biamang tính chất khối dời (được phân bổ nhiều trong các di tích kiến trúc cổtruyền của người Việt), còn có những bia khắc trên các vách núi (bia manhai) Tuy nhiên, thời gian càng xa thì số bia còn lại trong các di tích kiếntrúc cổ truyền của người Việt càng ít như bia thời Đinh - Lê, Lý - Trần số biahiện còn và đã sưu tầm được tập trung chủ yếu vào giai đoạn thế kỷ XVII,XVIII, XIX phân bổ rải rác trong các di tích ở các làng xã vừa chiếm số lượnglớn, vừa phong phú đa dạng về các nội dung phản ánh

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới bia đá thế kỷ XVII:

Trang 25

Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVII với nhiều biến động lớn về chính trị - xãhội, kinh tế, văn hoá tác động đến vấn đề xây dựng và trùng tu các công trìnhtôn giáo - tín ngưỡng Điều đó cũng đã được phản ánh qua bia đá trong nhữngngôi chùa Việt ở 10 huyện ngoại thành Hà Nội Ngoài ra, yếu tố tự nhiên cũngảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của bia đá nói chung và bia đá thế kỷ XVII nóiriêng.

1.1.3.1 Yếu tố tự nhiên:

- Khí hậu vùng ngoại thành Hà Nội cũng cùng chung khí hậu đồng bằng

Bắc Bộ, có nhiệt độ nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông giá rét Độ ẩm rất cao và thay đổitheo mùa, tất cả các tháng có độ ẩm trung bình trên 80%, trong đó huyện Phú Xuyên,Ứng Hoà, Mỹ Đức ẩm hơn các huyện khác, một phần là do địa hình trũng và thấp

Những diễn biến phức tạp của chế độ gió mùa đã làm khí hậu biến độngrất thất thường trong nhiều mùa từ năm này sang năm khác Mùa đông có giómùa Đông Bắc lạnh xen lẫn gió biển nhiệt đới ấm đã gây nên những dao độngmạnh trong chế độ nhiệt và cả chế độ mưa Lượng mưa hàng năm khá lớn vàtăng dần từ đồng bằng lên vùng núi, trung bình từ 1500mm đến 2000mm là cơ

sở và khả năng hoà tan đá vôi rất mạnh Trong mùa đông những ngày rét xen

kẽ những ngày nắng ấm, những ngày nồm ẩm làm xuất hiện hiện tượng “đổ mồhôi”, nhiều khi chuyển đột ngột sang khô hanh nứt nẻ Mùa hạ những nhiễuđộng như giông bão thường biến động lớn, nhất là chế độ mưa có thể từ khôhạn chuyển sang ngập úng ảnh hưởng lớn đến những bia đá nằm ở ngoài trờikhông có nhà che bia bảo vệ, nên nhiều bia đá bị bào mòn bởi thiên nhiên thấtthường

- Địa hình: 10 huyện ngoại thành Hà Nội nằm ở rìa phía Tây của đồng bằng Bắc Bộ, ở đầu bên phải của “võng sông Hồng” Bản thân vịnh biển cổ cũng là một

vùng đồi núi, đã bị sụt võng xuống dưới nước biển, vì vậy trong lòng đồng bằng củatỉnh vẫn tồn tại những đồi núi, xưa vốn là những đỉnh của

Trang 26

các hệ thống núi bị sụt võng, như dãy Câu Lậu ở Thạch Thất, cụm núi đá vôiSài Sơn - Tử Trầm ở Quốc Oai và Chương Mỹ Dải Sài Sơn nổi lên như conrồng đất giữa vùng đồng bằng Quốc Oai, vì vậy mà chùa Thầy được xây dựngvào khu vực nằm giữa các núi Bên cạnh đó, còn có vùng núi đá vôi HươngNgãi - Hương Sơn làm ranh giới giữa hai tỉnh Hoà Bình và Hà Tây ở địa phậnhuyện Mỹ Đức.

Ngoài ra bờ vịnh cổ còn để lại bậc thềm phù sa cổ ở Ba Vì, Thạch Thất,Quốc Oai cao độ 30m đến 35m trên mặt đồng bằng phù sa mới hiện tại Người

ta có thể khai thác đá ở những ngọn núi này để làm bia đá

1.1.3.2 Yếu tố chính trị - xã hội:

Cuối năm 1583, sau khi củng cố được lực lượng, Trịnh Tùng đem quân raBắc Trận đánh lớn nhất diễn ra vào năm 1592 tại Đông Kinh và sau một trậnkịch chiến, quân Mạc thua to phải rút chạy lên Cao Bằng, nhà Trịnh vào chiếmlại kinh thành Thăng Long

Sau đó nhà Mạc còn tiếp tục kéo dài thêm một vài năm nữa trong giaiđoạn thế kỷ XVII (đến năm 1640) ở vùng Cao Bằng với đời vua Mạc KínhCung (1601 - 1640), song vai trò của nhà Mạc giai đoạn thế kỷ XVII khôngcòn ảnh hưởng lớn ở vùng đồng bằng Bắc Bộ như ở thế kỷ XVI nữa

Nội chiến Nam - Bắc triều giữa hai dòng họ Trịnh - Mạc chấm dứt, nhưnghậu quả để lại cũng thật nặng nề Sau gần 50 năm nội chiến với hơn 40 cuộcchiến lớn, nhỏ của hai họ Trịnh - Mạc đã đẩy đất nước vào sự chém giết, haongười, tốn của, gây lên hàng loạt các trận đói vào năm 1557, 1559, 1570, 1572,1577 [45, tr 342 - 343]

Năm 1593, Trịnh Tùng lập Lê Thế Tông lên làm vua và tự xưng là “Đô Nguyên suý tổng quốc chính, thượng phụ Bình An vương”, toàn quyền quyết

định việc triều chính Năm 1599 Lê Thế Tông mất, Trịnh Tùng lập Lê KínhTông lên ngôi, lấy niên hiệu là Thận Đức (năm 1601 đổi niên hiệu là Hoằng

Trang 27

Định) Lê Kính Tông khi lên ngôi mới 11 tuổi, nên quyền lực càng tập trungtrong tay nhà Trịnh Trước tình hình đó, Lê Kính Tông đã cùng Trịnh Xuân(con thứ của Trịnh Tùng) âm mưu giết Trịnh Tùng, nhưng việc bị bại lộ, KínhTông bị bức thắt cổ chết vào năm 1619 [56, tr 152, 153] Cuối năm 1619, vua

Lê Thần Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Vĩnh Tộ (1619 - 1628), năm sau đổiniên hiệu thành Đức Long (1629 - 1634) và Dương Hoà (1635 - 1643)

Như vậy, cuộc chiến tranh giành quyền cướp ngôi đẫm máu Trịnh - Mạcvừa chấm dứt vào năm 1592, thì những năm đầu thế kỷ XVII (từ năm 1627 đếnnăm 1672) hai họ Trịnh - Nguyễn lại bắt đầu xâu xé, tranh giành ảnh hưởng,đẩy đất nước vào cảnh nội chiến triền miên trong gần nửa thế kỷ từ năm 1627đến năm 1672, hai bên đánh nhau 7 lần vào các năm 1627, 1630, 1643, 1648,

1655 - 1660, 1660 và 1672 [45, tr 344) Đất nước bị chia cắt thành hai xứĐàng Trong và Đàng Ngoài

Ở đàng Ngoài, nhà Trịnh phân chia thành 10 trấn, thuộc Bắc Bộ thành 4nội trấn (Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc) và 6 ngoại trấn (Cao Bằng, LạngSơn, Hưng Hóa, An Quảng, Tuyên Quang, Thái Nguyên)

Có thể thấy, tình hình chính trị - xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XVI vôcùng phức tạp, với nhiều biến động Chiến tranh giữa các thế lực đã đẩy đấtnước vào cảnh tang thương, chết chóc

1.1.3.3 Yếu tố kinh tế:

Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII họ Trịnh đã ban bố lệnh miễn laodịch cho nhân dân lưu tán, bãi bỏ các loại thuế thân, giảm nhẹ thuế khóa Nhờmột số chính sách đó, kinh tế Đàng Ngoài dần được hồi phục Mặc dù đã bãi

bỏ chế độ lộc điền, nhưng những công thần trong chiến tranh Trịnh - Mạc lạiđược triều đình phong thưởng một số ruộng đất không nhỏ [18, tr 213]

Ruộng đất công bị thu hẹp, ruộng đất tư hữu phát triển cao độ Việc muabán, kiện tụng về ruộng đất luôn là chuyện rắc rối ở các làng xã Một nét

Trang 28

đặc biệt ở Đàng Ngoài là sự phát triển của chế độ sở hữu ruộng đất, cuộc sốngbấp bênh thời loạn lạc đã tạo điều kiện cho tục cúng ruộng đất vào tín ngưỡng,tôn giáo trở nên phổ biến, hầu như làng xã nào trong thời kỳ này cũng có ruộnghậu Thần, hậu Phật Đó cũng chính là lý do cho sự phát triển hàng loạt bia hậutrong các ngôi chùa thời kỳ này.

Sau khi ổn định tình hình chính trị, nhà nước Lê - Trịnh đã có một loạtchính sách quan tâm đến nông nghiệp Cũng trong thế kỷ XVII, công cuộckhẩn hoang diễn ra với tốc độ lớn Nhiều làng mới được thành lập, diện tíchruộng đất ngày càng mở rộng và thu hút dân lưu tán Để khuyến khích khaihoang, chúa Trịnh tạm thời miễn thuế cho các loại ruộng “ấu lậu”, cho phépxem ruộng khai hoang là ruộng tư Cũng từ công cuộc khẩn hoang này, tầnglớp nông dân “ngụ cư” được hình thành ở các làng xã

1.1.3.4 Yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng:

Đây là thời kỳ Phật giáo vốn đã bắt đầu hưng thịnh trở lại từ thời Mạc và

đã có sự biến chuyển mới từ thế kỷ XVII Do chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéodài, nhân dân bị động viên cả người và của không đủ sức dựng chùa riêng cholàng nữa, tầng lớp quý tộc không tin ở thực tại nữa, đã tìm đến cầu cứu cửaPhật và xuất tiền xây dựng chùa chiền Trong “Đại Nam nhất thống chí” có

ghi: “Vua chúa, phi tần, quan lại đua nhau theo Phật, góp tiền, cúng ruộng cho các chùa, tham gia sửa chữa xây dựng chùa” [9, tr.385]. Đồng thời Phật

giáo Trung Hoa với các phái Lâm Tế và Tào Động cũng thừa cơ du nhập vàonước ta Trong chùa, ngoài các loại tượng xuất hiện ở thời Mạc như tượng Tamthế, một số tượng Quan âm Nam Hải, Thích ca sơ sinh, thậm chí cả các thầnMây - Mưa - Sấm - Chớp thành bộ Tứ pháp cũng được Phật hóa thờ trongchùa thì giờ đây có thêm bộ ba tượng Di đà tam tôn, Văn Thù Bồ tát, PhổHiền Bồ tát, Tuyết sơn thuộc thế giới Phật thoại và các vị Phật tử góp nhiềutiền của cho chùa

Trang 29

Ngoài ra, các Cao tăng có công khai sáng chùa, được truyền thuyết hóa

với nhiều phép nhiệm màu giờ đây trở thành "Đức Thánh” linh thiêng được

giành nơi thâm nghiêm và trang trọng nhất trong chùa để thờ Do Phật điệnđông đúc, điện Phật - một nếp nhà hình chữ “nhất” không đủ sức chứa nữa, lạicàng không có chỗ để hành lễ, nên khu vực thờ của chùa ngoài điện Phật

chuyển sang chữ “Công”, còn có thêm nhà Tổ nữa và đặc biệt một số chùa còn

có cả điện Thánh Ngoài ra còn có hành lang ở hai bên để chuẩn bị cho các dịp

hội chùa hàng năm Vì thế, mặt bằng kiến trúc kiểu “nội Công ngoại Quốc” ra đời và điều này cũng đã được miêu tả trong những văn bia chùa thế kỷ XVII ở

10 huyện ngoại thành Hà Nội

Như thế, các chùa tháp ở đàng Ngoài giai đoạn thế kỷ XVII được xâydựng với quy mô to lớn và tốc độ ào ạt, hầu hết các chùa lớn còn lại đến ngàynay ở vùng đồng bằng Bắc Bộ được xây dựng hay trùng tu, sửa chữa vào giaiđoạn thế kỷ XVII

1.2 Một số ngôi chùa Việt thế kỷ XVII ở 10 huyện phía Tây và phía Nam

Hà Nội

1.2.1 Tổng quan về 10 huyện phía Tây và phía Nam Hà Nội

1.2.1.1 Vị trí địa lý:

10 huyện ngoại thành Hà Nội (trước đây thuộc tỉnh Hà Tây) gồm Chương

Mỹ, Đan Phượng, Hà Đông, Hoài Đức, Mỹ Đức, Quốc Oai, Thanh Oai,Thường Tín, Sơn Tây, Ba Vì nằm ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nhưng có sắcthái riêng do vị thế của những huyện này nằm ở đỉnh chóp và rìa phía Tây củatam giác châu sông Hồng

Điểm cực Bắc thuộc xã Tân Đức huyện Ba Vì ở toạ độ 21018’ vĩ độ Bắc

và 105022’ kinh độ Đông, giáp sông Hồng từ xã Tân Đức huyện Ba Vì đến xãLiên Hà huyện Đan Phượng, bên kia sông là đất Vĩnh Phúc dài 52km

Trang 30

Điểm cực Nam thuộc xã Hương Sơn huyện Mỹ Đức ở toạ độ 20033’vĩ độBắc và 105047’ kinh độ Đông, giáp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam dài 42km.Điểm cực Đông xã Quang Lãng thuộc huyện Phú Xuyên ở toạ độ 20042’

vĩ độ Bắc và 106000’ kinh độ Đông, giáp hai huyện Từ Liêm và huyện ThanhTrì ở trên, phía dưới giáp sông Hồng từ xã Ninh Sở huyện Thường Tín đến xãQuang Lãng huyện Phú Xuyên Bên kia sông là đất của tỉnh Hưng Yên dài70km

Điểm cực Tây thuộc xã Thuần Mỹ huyện Ba Vì ở toạ độ 21010’vĩ độ Bắc

và 105017’ kinh độ Đông, giáp đoạn sông Thao và sông Đà từ Trung Hà đến

Tu Vũ, bên kia sông là đất tỉnh Phú Thọ Tiếp đến vùng núi đồi trải dài từ núi

Ba Vì, núi Viên Nam qua thị trấn Xuân Mai, dãy núi từ Miếu Môn xuống đếnHương Sơn dài khoảng 156km, bên kia núi là đất của tỉnh Hoà Bình

1.2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển:

Trải qua thời gian, 10 huyện phía Tây và phía Nam ngoại thành Hà Nội

có sự biến chuyển về tên gọi cũng như địa giới hành chính

Thời Đinh và Tiền Lê các huyện này thuộc đạo Quốc Oai Thời Lý (năm

1010 vua Lý Thái Tổ) đổi “Thập đạo” Sang thời Trần, các huyện trên thuộc 2hai châu là châu Quốc Oai trong lộ Đại La Thành hay Đông Đô (gồm 7huyện)6, và châu Đà Giang trong lộ Tam Giang gồm huyện Long Bạt hay BấtBạt (nay thuộc Ba Vì) và trấn Quảng Oai (gồm huyện Ma Lung tên cũ củahuyện Tùng Thiện nay thuộc Ba Vì và huyện Mỹ Lương gồm 1 phần huyện

- Huyện Sơn Minh (còn có tên là huyện Sơn Định) tương đương với huyện Ứng Hòa

-Huyện Ứng Thiên tương đương với 1 phần huyện Ứng Hòa và một phần huyện Chương Mỹ

- Huyện Thanh Oai tương đương với huyện Thanh Oai

- Huyện Đại Đường tương đương với huyện Mỹ Đức

- Huyện Thượng Phúc tương đương với huyện Thường Tín

- Huyện Thượng Phúc tương đương với huyện Thường Tín

- Huyện Phù Lưu tương đương với huyện Phú Xuyên

Trang 31

Chương Mỹ, huyện Mỹ Đức, huyện Quốc Oai và một phần huyện Lương Sơntỉnh Hoà Bình).

Thời Lê Sơ, Lê Lợi chia đất nước thành 5 đạo, Hà Tây thuộc Tây Đạo.Năm 1466 Lê Thánh Tông lại chia đất nước làm 12 thừa tuyên, đất Hà Tâythuộc 2 thừa tuyên Sơn Nam và Quốc Oai Thừa tuyên Sơn Nam gồm có haiphủ Thường Tín và Ứng Thiên Phủ Thường Tín gồm huyện Thượng Phúc nay

là Thường Tín; huyện Phú Xuyên đời Quang Thuận là Phù Vân, đời Lê ChiêuTông đổi thành Phú Nguyên, đời Mạc đổi làm Phú Xuyên cho đến nay; huyệnThanh Trì phần lớn nay thuộc Hà Nội, còn một phần thuộc Thường Tín gồmcác xã: Ninh Sở, Duyên Thái, Hồng Vân Phủ Ứng Thiên gồm huyện ThanhOai (nay phần lớn thuộc huyện Thanh Oai, một phần thuộc vào quận Hà Đônggồm các phường Phú Lương, Phú Lãm…); huyện Chương Đức (phần lớnthuộc huyện Chương Mỹ, một phần thuộc vào huyện Ứng Hoà như các xãViên Nội, Viên Ngoại…); huyện Sơn Minh (nay là huyện Ứng Hoà); huyệnHoài An (tương đương với phía Nam huyện Ứng Hoà và một phần huyện MỹĐức ngày nay)

Thừa tuyên Quốc Oai có hai phủ Quốc Oai và Quảng Oai Phủ Quốc Oaigồm 5 huyện: huyện Ninh Sơn (sau đổi là Yên Sơn nay là huyện Quốc Oai);huyện Thạch Thất (nay vẫn là huyện Thạch Thất; huyện Đan Phượng (nay mộtphần là huyện Đan Phượng và một phần thuộc huyện Hoài Đức); huyện MỹLương (gồm một phần ở huyện Mỹ Đức, huyện Chương Mỹ, huyện Quốc Oai

và huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình); huyện Phúc Lộc (nay là huyện Phúc Thọ

và một phần thuộc Sơn Tây) Phủ Quảng Oai có 3 huyện là huyện Minh Nghĩa(sau đổi là huyện Tùng Thiện nay thuộc huyện Ba Vì và 1 phần thuộc SơnTây); huyện Tiên Phong (sau đổi là huyện Quảng Oai nay thuộc huyện Ba Vì);huyện Bất Bạt (nay thuộc huyện Ba Vì)

Thời Lê - Trịnh các huyện này không có sự thay đổi về tên gọi và địa giớihành chính so với thời Lê - Mạc

Trang 32

Thời Nguyễn 13 huyện ngoại thành Hà Nội thuộc 2 trấn Sơn Tây và Sơn Nam Thượng.

Trang 33

Bảng 1.1 Thay đổi địa danh hành chính thời Nguyễn so với hiện nay 7

Đan Phượng Đan Phượng

Quốc Oai Thạch Thất Thạch Thất

Lương Sơn - Hoà BìnhQuảng Phúc Lộc Phúc Thọ và Sơn Tây

Sáp nhập thành huyện Ba VìBất Bạt

Tiên Phong

ứng

Hoài An Mỹ Đức và 1 phần ứng HoàThiên Chương Đức Chương Mỹ và 1 phần Mỹ

ĐứcHoài Đức Hoài Đức

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, các huyện trên thuộc hai tỉnh Sơn Tây

và Hà Đông Năm 1965 hợp nhất 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây thành tỉnh HàTây Năm 1976 sáp nhập 2 tỉnh Hà Tây và Hoà Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình.Năm 1979 chuyển các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng,

Trang 34

8 Tên địa danh của 10 huyện ngoại thành Hà Nội hiện nay được tính từ ngày 01/8/2008 (khi Hà Tây sáp nhập về Hà Nội).

26

Trang 35

Hoài Đức và thị xã Sơn Tây vào Hà Nội Năm 1991 chia tỉnh Hà Sơn Bìnhthành 2 tỉnh Hà Tây và Hoà Bình, định lại ranh giới Hà Nội, chuyển trả lại chotỉnh Hà Tây các huyện sáp nhập từ năm 1979.

Tháng 1 năm 2008, tỉnh Hà Tây được sát nhập vào Hà Nội và 10 huyệnThường Tín, Thanh Oai, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Quốc Oai, Sơn Tây, Hà Đông,Đan Phượng, Hoài Đức, Ba Vì trở thành những huyện ngoại thành phía Tây vàphía Nam của thủ đô Hà Nội

1.2.2 Về một số ngôi chùa Việt thế kỷ XVII ở 10 huyện phía Tây và phíaNam Hà Nội:

Hệ thống chùa ở 10 huyện ngoại thành Hà Nội, ngoài sự phong phú về sốlượng còn đa dạng về công năng, bên cạnh thờ Phật, còn thờ Thần tạo thành

kiểu thờ “tiền Phật hậu Thần” Nhiều chùa còn lưu dấu tích của các thiền sư

nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam như Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Bình

An, Vũ Khắc Trường, Vũ Khắc Minh ; hoặc một số ngôi chùa vốn từ quánĐạo Lão (chùa Mui - Thường Tín, chùa Sổ - Thanh Oai, chùa Linh Tiên - HoàiĐức ) Nhiều ngôi chùa theo truyền thuyết và các di vật hiện còn, đặc biệt làtrên bia đá đã khẳng định một số ngôi chùa được xây dựng từ rất lâu đời, đây lànhững minh chứng góp phần vào nghiên cứu sự thăng trầm của Phật giáo ViệtNam

Theo tiến trình lịch sử Phật giáo, đạo Phật được truyền bá vào Việt Namkhá sớm - từ thể kỷ II sau công nguyên Có thể từ trung tâm Luy Lâu (ThuậnThành - Bắc Ninh), Phật giáo đã lan toả tới các vùng lân cận ở đồng bằng Bắc

Bộ, trong đó có khu vực Hà Tây xưa Trong các ngôi chùa đó dấu vết kiến trúcthời Lý mà ta có thể dễ dàng bắt gặp ở chùa Thầy, chùa Từ Am, chùa Cao,chùa Nả với những chân đá tảng mài thô, kích thước trung bình là 0,7m x0,7m x 0,3m Dấu vết thời Trần có ở chùa Bối Khê (Thanh Oai), trong chùa

hiện còn tấm bia "Đại Bi tự" khắc năm Hồng Thuận thứ 7 (1515) cho

Trang 36

biết: chùa được xây dựng vào năm Khai Hựu thứ 10, đời vua Trần Hiến Tông

(1329 - 1341) và bệ đá hoa sen khắc dòng chữ "năm Nhâm Tuất, hiệu Xương Phù thứ 6" (năm 1382) Về kiến trúc, toà Thượng điện là một hạng mục công

trình còn giữ nguyên kiểu thức và trang trí điêu khắc thời Trần, với bộ vìthượng kiểu "giá chiêng" có lòng ván lá đề chạm rồng Ngoài ra, chùa SùngGiáo (Ba Vì) với những mô hình tháp Phật bằng đất nung, mang phong cáchthời Trần (thế kỷ XIII - XIV) Như vậy, kiến trúc và điêu khắc gỗ thời Trầncòn lại rất hiếm, nhưng điêu khắc đá thời Trần còn một số bệ đá hoa sen nổitiếng như chùa Ngọc Đình (Thanh Oai), chùa Thanh Sam (Ứng Hoà), chùaDương Liễu (Hoài Đức), chùa Thầy (Quốc Oai)…

Thời Lê Sơ, Nho giáo thịnh hành ở triều đình nhưng ở các làng quê Phậtgiáo vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm Dấu tích kiến trúc - điêu khắc thời Lê Sơkhông còn nhiều Sang thời Mạc, dấu vết kiến trúc hiện còn ở chùa Nả (Ba Vì),chùa My Dương (Thanh Oai), chùa Hương Trai (Hoài Đức) đặc biệt là ở chùaMui (Thường Tín) với hệ thống mái ngói và các linh vật trang trí bằng đấtnung điển hình duy nhất còn tương đối nguyên vẹn Sang thời Lê - Trịnh, hiệndiện kiến trúc chùa thời này còn khá phong phú Đối với những di tích lớn nhưchùa Thầy, chùa Hương, chùa Mía giai đoạn này lại được trùng tu tôn tạo.Trong quần thể di tích Hương Sơn, chùa Thiên Trù được khởi công xây dựng

từ thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận năm thứ 8 (1467) Đến nămChính Hoà thứ 7 (1686), hoà thượng Trần Đạo Viên Quang ở Ty tăng lục đứng

ra kiến thiết Từ đó, toà ngang dãy dọc lộng lẫy nguy nga, tiếc rằng trong cácnăm 1947, 1948, 1950 thực dân Pháp đã 3 lần tàn phá Đến năm Kỷ Tỵ (1989)khu vực Thiên Trù lại được xây dựng lại Dấu tích cổ ở chùa Hương, đáng kể

là một số bia đá thời Lê, bút tích của chúa Trịnh Sâm năm Canh Thìn (1770)

và pho tượng Phật bà Quan Âm tạc bằng đá xanh thời Tây Sơn trong độngHương Tích Các di tích khác hiện còn, đều mang dấu ấn

Trang 37

kiến trúc - điêu khắc thời Nguyễn và những năm tu bổ tôn tạo gần đây Trong

việc tu bổ đó, đáng kể là việc phục dựng gác chuông bằng gỗ, còn lại đã sử

dụng nhiều vật liệu xi măng, bê tông cốt thép Hay chùa Thầy mang một số dấu

tích văn hoá Lý, Trần nhưng hiện diện kiến trúc, điêu khắc mang đậm phong

cách nghệ thuật thế kỷ XVII Ba toà chùa chính là chùa Thượng, chùa Trung,

chùa Hạ Đều được xây dựng hoặc được trùng tu lớn vào các thế kỷ này Vào

các năm 1958, 1976, 1994, 2004 các hạng mục kiến trúc trên và hai dãy hành

lang, gác chuông, gác trống đều lần lượt được tu bổ bằng nguồn vốn của nhà

nước và vốn đối ứng, nguồn vốn từ sự hảo tâm công đức của khách thập

phương

Mặc dù những ngôi chùa ở một số huyện phía Tây và phía Nam Hà Nội

có lịch sử ra đời từ khá sớm, một số ngôi chùa được xây dựng từ thời Lý, thời

Trần… nhưng hầu hết những ngôi chùa này đã trải qua nhiều lần trùng tu, xây

dựng thêm một số hạng mục công trình Tuy nhiên, một điều đáng quan tâm là

những dấu tích kiến trúc gỗ ở các công trình chính còn lại đến hiện nay hầu hết

được trùng tu vào giai đoạn thế kỷ XVII

Bảng 1.2 Các dạng mặt bằng tổng thể 17chùa hiện nay

1 Chùa Bối Khê Tam Hưng- Thanh Oai

Nội công

2 Chùa Hưng Giáo Tam Hưng- Thanh Oai

ngoại quốc

4 Chùa Thị Nguyên Cao Dương- Thanh Oai

6 Chùa Nhị Khê Nhị Khê - Thường Tín

Trang 38

29

Trang 39

10 Chùa Trăm Gian Tiên Phương - Chương Mỹ

Trang 40

11 Chùa Tường Phiêu Tường Phiêu- Ba Vì Mặt bằng

hình chữ

12 Chùa Mậu Lương Kiến Hưng- Hà Đông

Đinh

13 Chùa Cống Xuyên Nghiêm Xuyên- Thường Tín

14 Chùa La Khê Văn Khê- Hà Đông

15 Chùa Kim Bôi Kim Bôi- Mỹ Đức

16 Chùa Lê Dương Lê Dương- Đan Phượng

17 Chùa Hương Hương Sơn- Mỹ Đức

Như vậy, các ngôi chùa như đã thống kê ở trên có hai dạng mặt bằng

tổng thể cơ bản là kiểu "nội công ngoại quốc" và mặt bằng hình chữ “Đinh”.

Nhưng trong đó mặt bằng kiểu “nội công ngoại quốc” lại chiếm tỷ lệ lớn nhất

(64.70%), còn những ngôi chùa có bố cục hình chữ Đinh chỉ chiếm 35.30%

Bố cục mặt bằng tổng thể kiểu “nội công ngoại quốc” bao gồm nhiều

công trình được sắp đặt khá thống nhất Từ Tam quan đến toà Tam bảo (gồm

Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện có kết cấu hình chữ “Công”), hai

bên có hai dãy hành lang được nối với nhau bằng nhà Hậu đường, hợp thành

khung vuông bao lấy toà Tam bảo Điều đáng quan tâm là những ngôi chùa

này hầu hết có sự kết hợp giữa thờ Phật với thờ Thánh theo kiểu "tiền Phật hậu

Thánh" như chùa Thầy ngoài chức năng thờ Phật còn thờ Từ Đạo Hạnh; hay

chùa Đậu ngoài thờ Phật còn thờ hai nhà sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc

Trường… Bên cạnh đó kiểu mặt bằng hình chữ Đinh chỉ gồm Tam bảo (Tiền

đường, Thượng điện) và các công trình phụ trợ nằm tách dời nhau

Diện mạo của một số ngôi chùa đã được xếp vào loại di tích Quốc gia

đặc biệt quan trọng, bởi đa số kiến trúc gỗ các hạng mục chính của công trình

còn lại là thời Hậu Lê (thế kỷ XVII - XVIII) Đối với các di tích lớn nói trên,

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w