1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của công giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân tỉnh ninh bình hiện nay

117 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---LƯƠNG THỊ DUNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY Luận văn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LƯƠNG THỊ DUNG

ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN

TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học

Mã số: 60 22 03 09

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Kim Oanh

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Kim Oanh Các nhận định nêu ra trong luậnvăn là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, độc lập của bản thân tác giả luận văntrên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu khoa học đã được công bố Luậnvăn đảm bảo tính khách quan, trung thực và khoa học

Học viên

Lương Thị Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Trần Thị Kim Oanh, người đã trực tiếp chỉ bảo tận tình, hướng dẫn và giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Cô và tập thể cán bộ

trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội, đặc biệt các thầy cô ở Khoa Triết học đã giúp đỡ, dạy bảo, động

viên và trao đổi ý kiến khoa học quý báu trong suốt thời gian học tập để tôi cóthể hoàn thành Luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luônủng hộ và giúp đỡ để tôi có thể thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Lương Thị Dung

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ii

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

CHƯƠNG 1: CÔNG GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY 9

1.1 Khái quát chung về Công giáo tỉnh Ninh Bình .9

1.1.1 Công giáo và giáo lý, giáo luật , nghi lễ của Công giáo tỉnh Ninh Bình 9

1.1.2 Tình hình Công giáo ở tỉnh Ninh Bình 16

1.2 Đời sống văn hóa tinh thần của người dân tỉnh Ninh Bình hiện nay .22

1.2.1 Một số khái niệm 22

1.2.2 Địa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đặc điểm đời sống văn hóa tinh thần người dân ở tỉnh Ninh Bình hiện nay .30

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN VÀ GIẢI PHÁP 41

2.1 Ảnh hưởng của Công giáo đến một số phương diện của đời sống văn hóa tinh thần người dân tỉnh Ninh Bình hiện nay .41

2.1.1 Phương diện đạo đức, lối sống 41

2.1.2 Phương diện hôn nhân, gia đình .48

2.1.3 Phương diện tín ngưỡng truyền thống: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên .59

Trang 6

2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Công giáo đến đời sống văn hóa tinh thần người dân tỉnh

Ninh Bình hiện nay .67

2.2.1 Chăm lo phát triển kinh tế, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào Công giáo. 69 2.2.2 Nâng cao nhận thức cho cán bộ làm công tác tôn giáo và cho chức sắc tín đồ Công giáo 72

2.2.3 Tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với đạo Công giáo .75

2.2.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ 78

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 95

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện từ rất sớm và còn tồntại lâu dài trong lịch sử xã hội loài người Trong quá trình tồn tại và phát triển,tôn giáo luôn ảnh hưởng đến đời sống chính trị, tư tưởng, văn hóa xã hội vàđến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục của nhiều quốc gia, dân tộc Tôn giáokhông chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu “đền bù hư ảo” cho một bộ phận quầnchúng nhân dân mà bản thân tôn giáo cũng mang trong mình những giá trị đạođức, văn hóa, nghệ thuật ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa tinh thầncủa người dân Vì vậy mọi quốc gia dù có chế độ chính trị khác nhau, cũngđều phải quan tâm tới vấn đề tôn giáo

Nhận thức được vai trò của tôn giáo, ngay từ Hiến pháp năm 1946, bảnHiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã xác nhận“ mọicông dân Việt Nam có quyền tự do, tín ngưỡng’’ Nghị quyết 25-NQ/TW ngày12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung Ương (Khóa IX) về công tác tôn giáo đãxác định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhândân, đã, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xãhội ở nước ta’’ Như vậy, trong quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, tanhận thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của tôn giáo trong đời sống văn hóa xãhội Tôn giáo với tính cách là một yếu tố cấu trúc của xã hội, nó vừa có khảnăng tạo nên những giá trị làm phong phú thúc đẩy đời sống văn hóa tinh thầncủa xã hội song cũng có thể tạo nên những cản trở đối với sự phát triển củađời sống văn hóa tinh thần, đời sống xã hội Trong công cuộc đổi mới và dânchủ hóa xã hội đời sống hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có sự nhìn nhận đánhgiá đúng và sát hợp hơn nữa về vấn đề tôn giáo

Công giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, Công giáo dunhập vào Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XVI, cho đến nay đã hơn 400 năm

Trang 8

Hiện nay Công giáo là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam, có cơ cấu tổchức chặt chẽ, hệ thống thứ bậc rõ ràng Từ khi được truyền vào Việt Namđến nay Công giáo đã không ngừng phát triển cả về tín đồ, chức sắc, chứcviệc, về các dòng tu…Mặc dù du nhập vào Việt Nam chưa lâu nhưng Cônggiáo đã trở thành một thành tố văn hóa không thể tách rời của nền văn hóa dântộc và có ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống văn hóa tinh thần của nhândân ta.

Ninh Bình là mảnh đất phù sa cổ ven chân núi, thuộc đồng bằng Bắc

Bộ có đặc điểm tự nhiên rất đa dạng, bao gồm vùng núi rừng, đồng bằng vàbiển cả Ninh Bình còn là vùng đất cố đô, địa linh nhân kiệt Đó là ưu thế đểnơi đây trở thành địa phương phát triển du lịch, dịch vụ và sản xuất các mặthàng thủ công mỹ nghệ phục vụ trong nước và quốc tế Sự phát triển kinh tế -

xã hội của Ninh Bình phụ thuộc nhiều vào ưu thế này Về đời sống văn hóatinh thần thì Ninh Bình là vùng đất chịu ảnh hưởng nhiều bới Công giáo Thế

kỷ XVI – XVII Công giáo được truyền vào Ninh Bình dần dần phát triển và

đã để lại những dấu ấn đậm nét trong lối sống của người dân nơi đây Hiệnnay, ở Ninh Bình có khá đông đồng bào theo đạo Công giáo, trên địa bàn tỉnh

có Toà giám mục Phát Diệm, là một trung tâm Công giáo lớn của cả nước,được Toà thánh Vatican đặc biệt chú trọng và coi Phát Diệm là “thủ đô Cônggiáo của Việt Nam” Những năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội,Công giáo Ninh Bình đang có những thay đổi để "thích nghi" với thời đại, xuhướng thế tục hóa ngày càng rõ nét Đạo đức và một số sinh hoạt Công giáomang tính nhân văn đích thực, có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựngcuộc sống văn hóa mới, đã có tác dụng tích cực đối với đời sống văn hóa tinhthần của người dân Vì vậy việc nghiên cứu về ảnh hưởng của Công giáo đếnđời sống văn hóa tinh thần người dân Ninh Bình hiện nay là vấn đề rất cầnthiết

Trang 9

Để góp phần làm rõ ảnh hưởng của Công giáo đối với con người ViệtNam trong quá trình phát triển, việc nghiên cứu ảnh hưởng của Công giáo đốivới đời sống văn hóa tinh thần nhân dân Ninh Bình hiện nay cũng là điều rấtcần thiết có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, nó giúp các nhà hoạch địnhchính sách có cơ sở đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn đối với công táctôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng, nhằm phát huy những giá trị vănhóa tinh thần tốt đẹp, khắc phục những mặt hạn chế của Công giáo, góp phầnxây dựng đời sống văn hóa tinh thần ngày càng phong phú, lành mạnh ở NinhBình và trong phạm vi cả nước.

Từ những lý do trên đặt ra cho chúng ta những yêu cầu cần thiết tìmhiểu nghiên cứu những vấn đề tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng Vì

vậy, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Ảnh hưởng của Công giáo đến đời sống

văn hóa tinh thần của người dân tỉnh Ninh Bình hiện nay ”, làm luận văn

Thạc sĩ

2.Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về Công giáo là một trong những lĩnh vực được nhiềungười quan tâm tìm hiểu, lý giải và hiện nay đã có rất nhiều đề tài, công trìnhnghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như: đạo đức học, sử học,nhân học, xã hội học, tôn giáo học, triết học, thần học…

Trên lĩnh vực nghiên cứu về lịch sử - triết học – tôn giáo có một số

công trình đã công bố như: Mười tôn giáo lớn trên thế giới của Hoàng Tâm Xuyên (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Tác phẩm Một số

vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam của Đỗ Quang Hưng, Tủ sách Đại

học Tổng hợp Hà Nội, 1991; Tôn giáo thế giới và Việt Nam của Mai Thanh Hải, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2000; Một số tôn giáo ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Thanh Xuân, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2005; Thập giá và lưỡi

gươm của linh mục Trần Tam Tĩnh, bản gốc tiếng Pháp: “Catholique

Trang 10

et César”, được linh mục Vương Đình Bích dịch sang tiếng Việt, Nxb Trẻ ấn

hành năm 1978; ); Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam (từ thế

kỷ XII đến thế kỷ XIX) (Nguyễn Văn Kiệm, Hội khoa học lịch sử Việt Nam,Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, Hà Nội,

2001); Tôn giáo lý luận xưa và nay của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh, Lê Hải Thanh, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2005; Một

số vấn đề cơ bản của Công giáo ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Hồng

Dương thuộc Viện Nghiên cứu Tôn giáo, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa,

Hà Nội, 2012 Trong các quyển sách này, tác giả đã trình bày khái quát nguồngốc và các đặc điểm cơ bản của nhiều tôn giáo phổ biến, như Phật giáo, Hồigiáo, Kitô giáo trên thế giới Và phân tích tương đối rõ về quá trình du nhập,phát triển và đặc điểm của đạo Công giáo ở Việt Nam

Nghiên cứu sâu về văn hóa Công giáo đã có một số công trình như:

Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam (Nguyễn Hồng Dương,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001); Nhà thờ Công giáo Việt Nam (Nguyễn Hồng Dương, Nxb Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh, 2003); Tôn giáo trong

mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam (Nguyễn Hồng Dương, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004); Lịch cử văn học Công giáo Việt Nam (Võ Long Tê, Nxb Tư duy, Sài Gòn, 1965); Tìm hiểu nét đẹp văn hóa Thiên Chúa

giáo (Hà Huy Tú, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001)…Các tác phẩm này

đã đi sâu phân tích những biểu hiện đặc trưng của văn hóa Công giáo vànhững ảnh hưởng của nó đối với văn hóa Việt Nam

Bên cạnh đó, có một số công trình đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu hội

thảo về vai trò của văn hóa Công giáo như: Kỷ yếu hội thảo Một số vấn đề

đạo Thiên chúa giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam – Viện khoa học xã hội và

ban tôn giáo Tp Hồ Chí Minh năm 1988 Một số bài viết trên các tạp chí như:

Hội nhập văn hóa Ki tô giáo với văn hóa truyền thống Việt Nam trong

Trang 11

lịch sử (Nghiên cứu Đông Nam Á số 1/1993); Thiên chúa giáo với việc giáo dục gia đình (Văn học nghệ thuật số 2/1996); Một số vấn đề về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở vùng đồng bào Thiên chúa giáo (Văn học nghệ thuật số

4/1996)…

Nghiên cứu về Công giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có một số công

trình nghiên cứu như: “Làng Công giáo Lưu Phương (Ninh Bình)” của tác

giả Nguyễn Hồng Dương, Viện nghiên cứu tôn giáo, 1997 Công trình, đã đềcập đến một không gian cụ thể: Làng Công giáo Lưu Phương trong mộtkhoảng thời gian từ khi thành lập 1829 đến trước Cách mạng Tháng Támnăm 1945 dưới góc độ lịch sử và văn hoá- tôn giáo Những thay đổi trongmối quan hệ giữa cộng đồng đồng bào Công giáo và ngoài Công giáo trước

và sau khi Pháp xâm lược ở làng Lưu Phương cũng được phân tích Đây cóthể coi là một trong những làng khá điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ

Ngoài ra, nghiên cứu về Công giáo ở Ninh Bình, còn phải kể đến

công trình nghiên cứu của Nguyễn Hồng Dương “Về một số làng Công giáo

ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đầu thế kỷ XIX” Tác giả đã cho người đọc

một cái nhìn tương đối toàn diện về hoạt động, cơ cấu tổ chức, các lễ nghi vềCông giáo gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể, đặc trưng của Cônggiáo ở huyện Kim Sơn, Ninh Bình

Các công trình đề cập tới đạo Công giáo ở giáo phận Phát Diệm còn có

cuốn: Địa chí Ninh Bình của Tỉnh ủy Ninh Bình (2010) đã đề cập tới quá

trình khai khẩn và thành lập huyện Kim Sơn trong đó có đề cập tới vai tròcủa người Công giáo cũng như tình hình Công giáo ở địa phận Phát Diệm

Lã Đăng Bật có các công trình nghiên cứu: Nho Quan vùng đất cổ; Kim sơn

vùng đất mở và Đất và người Ninh Bình đã đề cập đạo Công giáo ở Ninh

Bình và nhà thờ Phát Diệm Tiến sĩ Lê Văn Thơ với công trình nghiên cứu

“Quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm giáo phận Phát Diệm Ninh

Trang 12

Bình” (2012) đã làm rõ quá trình hình thành, phát triển củ a đạo Công giáo ởgiáo phận Phát Diệm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; phân tích thực trạng và đặcđiểm của giáo phận Phát Diệm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay; Từ đó

đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cựccủa đạo Công giáo

Ngoài ra, chúng ta cũng còn phải kể đến một số bài nghiên cứu, chẳnghạn như Nguyễn Phú Lợi, “Vài nét về công cuộc khai hoang thành lập LàngThiên chúa giáo ở Như Tân, Kim Sơn, Ninh Bình cuối thế kỷ XIX“ (Nghiêncứu Lịch sử, số 4/1997); Cơ cấu tổ chức xã hội- tôn giáo trong một số làngCông giáo ở Kim Sơn, Ninh Bình nửa sau thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX

“Thắng cảnh Phát Diệm” của tác giả Hoàng Xuân Việt, UBĐK Công giáoThành phố Hồ Chí Minh, 1991…

Liên quan đến vấn đề ảnh hưởng của Công giáo đến đời sống văn hóatinh thần nhân dân tỉnh Ninh Bình hiện nay” cho đến nay vẫn chưa có mộtcông trình nghiên cứu nào đề cập một cách cụ thể và có hệ thống Vì vậy

nghiên cứu “Ảnh hưởng của Công giáo đến đời sống văn hóa tinh thần nhân

dân tỉnh Ninh Bình hiện nay” là vấn đề mới mẻ và rất cần thiết.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích chủ yếu của luận văn là nhận diện Công giáo Ninh Bình trên

cơ sở đó phân tích ảnh hưởng của Công giáo tới đời sống văn hóa tinh thầncủa nhân dân Ninh Bình, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằn phát huymặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của Công giáo, góp phần xây dựng đờisống văn hóa tinh thần nhân dân Ninh Bình ngày càng phong phú, lành mạnhtheo định hướng xã hội chủ nghĩa

3.2 Nhiệm vụ

Trang 13

- Trình bày khái quát về Công giáo và tình hình Công giáo ở tỉnhNinh

- Phân tích ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Công giáo đến một sốphương diện trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân tỉnh Ninh Bìnhhiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạnchế ảnh hưởng tiêu cực của Công giáo đến đời sống văn hóa tinh thần ngườidân tỉnh Ninh Bình hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng

Luận văn chỉ tập chung nghiên cứu ảnh hưởng của Công giáo đến đờisống văn hóa tinh thần người dân cụ thể là người Công giáo trên địa bàn tỉnhNinh Bình hiện nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Người viết quán triệt những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đề tài được lý giải, phântích, chứng minh chủ yếu bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, diễndịch, quy nạp, so sánh, đối chiếu, loại suy và các phương pháp khác như vănbản học, tôn giáo học với nguyên tắc tiếp cận liên ngành.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần xây dựng những luận cứ khoa học và hoàn thiệnquan điểm chính sách của Đảng , Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôngiáo trong tình hình hiện nay

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiêncứu có nội dung liên quan đến Công giáo, cũng như có thể sử dụng làm tàiliệu tham khảo để dạy về tôn giáo ở các trường Đại học, Cao đẳng và TrườngChính trị tỉnh

7 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 15

Chương 1 CÔNG GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI

DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY 1.1 Khái quát chung về Công giáo tỉnh Ninh Bình.

1.1.1 Công giáo và giáo lý, giáo luật , nghi lễ của Công giáo tỉnh Ninh Bình.

Ki-tô giáo là đạo do Đức Kitô Giêsu (người làng Nazareth, xứ Plestina,nay thuộc Israel) sáng lập, đặt nền tảng trên cuộc sống lời rao giảng, sự chết

và sự sống lại của Người

Công giáo là một bộ phận của Kitô giáo được tách ra Công: phổquát; giáo: đạo Công giáo: (đạo) có tính phổ quát Theo các giáo dân, Cônggiáo là tôn giáo do chính Chúa Giêsu khai sinh và giảng dạy để mang ơn cứu

độ của Thiên Chúa đến cho tất cả mọi người thành tâm, thiện chí muốn đónnhận Thiên Chúa để được cứu rỗi và sống đạo đời đời Giáo hội Công giáo

là giáo hội do Chúa Giêsu thiết lập để tiếp giao giảng và chuyển ơn cứu độ

đó đến cho những ai muốn tiếp nhận Giáo hội này được đặt dưới quyền lãnhđạo của Giáo hoàng, người duy nhất nối tiếp sứ vụ chăn dắt đoàn chiên củaChúa Kitô với sự hiệp thông và vâng phục trọn vẹn của các Giám mục trongtoàn Giáo hội

Công giáo là tôn giáo thờ Thiên Chúa Ba Ngôi (Chúa Cha, ChúaCon, và Chúa Thánh Thần) nhưng cùng một bản thể và uy quyền như nhau.Trong bốn chi phái chính của Kitô giáo, bên cạnh đạo Tin Lành, Chínhthống giáo và Anh giáo, Công giáo là tôn giáo duy nhất có Giáo hội hoàn vũ,nghĩa là một tổ chức chung cho tất cả các Giáo hội địa phương, tức Tòathánh Vatican hiện nay, đứng đầu là Giáo hoàng

Đạo Công giáo được du nhập vào Việt Nam đến nay đã gần 5 thế kỷ

Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, năm 1533 được xem là năm

Trang 16

khởi đầu cho Công giáo tại Việt Nam với sự truyền đạo của thừa sai Innêkhu(hay Inhaxiô) Lịch sử hình thành và phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam vớinhiều thăng trầm, biến động Từ một tôn giáo ban đầu hoàn toàn xa lạ với xãhội Việt Nam, đến nay đạo Công giáo đã phát triển trở thành tôn giáo lớn ởViệt Nam, với nhiều hoạt động đa dạng và có những ảnh hưởng lớn trong đờisống văn hóa-xã hội Việt Nam.

Cùng với quá trình du nhập và phát triển của Công giáo trên khắp đấtnước Công giáo cũng đã được du nhập vào Ninh Bình, trong quá trình tồn tại

và phát triển Công giáo Ninh Bình cũng đã tạo cho mình những đặc điểmriêng biệt, tuy nhiên giáo lý, giáo luật và nghi lễ vẫn mang những đặc điểmchung của Công giáo Việt Nam

- Giáo lý Công giáo

Giáo lý của Công giáo nằm trong kinh thánh gồm hai bộ: Cựu Ước(46 quyển) và Tân Ước (27 quyển) Sách Cựu Ước, vốn là sách của đạo DoThái, trình thuật về Thiên Chúa với công việc sáng tạo ra vũ trụ và con người,

kể về những phong tuc tập quán của người Do Thái và loan báo, chuẩn bị cho

sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế Sách Tân Ước tiếp nối Sách Cựu Ước, kể vềcuộc đời, sự nghiệp của Chúa Giêsu Kitô – Đấng cứu thế, về quá trình hoạtđộng của các tông đồ và lời dạy bảo của Chúa Giêsu và các tông đồ về conngười

Với tín đồ Công giáo, tín điều cơ bản đầu tiên chính là đức tin vàoThiên Chúa, vào sự màu nhiệm của Thiên Chúa Đây thực chất là lời đáp trảlại của con người đối với Thiên Chúa bởi con người khao khát có Thiên Chúakhông chỉ vì họ nhờ có Thiên Chúa mới được tạo thành mà còn vì ở nơi Chúa,con người mới có được hạnh phúc, đạt tới chân lý mà họ đang kiếm tìm Bằngnhững năng lực của mình, con người có khả năng nhận ra được Thiên Chúa từnhững gì Người tạo nên, và Thiên Chúa cũng tự ban chính mình cho con

Trang 17

người, “mặc khải” tình yêu thương, phép màu nhiệm của mình cho con ngườithông qua việc cử Đức Giêsu Kitô và Thánh Thần đến với con người.

Qua đó, tín đồ Công giáo tin rằng Chúa có ba ngôi: Cha – tạo dựng,Con - Cứu chuộc, Thánh thần - Thánh hóa Họ cũng tin Thiên Chúa đã tạo racon người gồm hai phần: thể xác và linh hồn, sau khi chết đi, thể xác sẽ trở vềvơi cát bụi nhưng linh hồn thì tồn tại vĩnh viễn Con người do trí khôn, lươngtâm nên làm chủ thế giới muôn loài nhưng do tính phàm tục nên mắc nhiều tộilỗi Thiên Chúa đã trừng phạt con người vì những lỗi lầm của họ nhưng saiChúa Giêsu xuống cứu chuộc cho con người Chúa Giêsu được sinh ra từ Đức

Mẹ Maria bằng phép màu nhiệm của Thiên Chúa Cái chết của Chúa Giêsu

-bị đóng đinh trên cây Thánh giá, sự sống lại về trời chính là biểu hiện cho tìnhthương yêu, đức hi sinh và cuộc sống vĩnh hằng nơi Thiên Chúa

- Giáo luật và nghi lễ Công giáo

Giáo luật Công giáo quy định nhiều điều, trong đó đáng chú ý có

“Thập giới” – Mười điều răn mà Thiên Chúa đòi hỏi nhằm giúp cho conngười được cứu rỗi:

1) Phải thờ kính Thiên chúa trên hết mọi sự

2) Không được lấy danh Thiên chúa để làm những việc phàm tục tầm

thường

3) Giành ngày chủ nhật để phụng thờ Thiên chúa

4) Thảo kính Cha Mẹ

5) Không được giết người

6) Không được dâm dục

7) Không được gian tham lấy của người khác

8) Không được làm chứng dối, che dấu sự gian dối

9) Không được ham muốn vợ hoặc chồng của người khác

10)Không được ham muốn của trái lẽ

Trang 18

Mười điều răn của Thiên chúa đã cho khắc vào đá ban cho Maisen, tổ

phụ của người Do thái, chung quy lại hai điều được coi là tôn chỉ của Công

giáo là kính Chúa và yêu người.

Giáo luật Công giáo quy định các tín đồ không ai được quyền vi phạmmột trong mười điều răn trên, bởi chỉ cần phạm vào một điều là phạm tới tất

cả những điều răn còn lại Điều này là tất yếu, bởi không thể tôn trọng ngườikhác mà không chúc tụng Thiên Chúa – Đấng sáng tạo ra họ, lại càng khôngthể chỉ tôn thờ Thiên Chúa mà không yêu thương những con người vốn là sảnphẩm của Thiên Chúa tạo ra

Ngoài Mười điều răn của Chúa, luật lệ Công giáo còn được quy định bởi “Sáu điều răn của Giáo hội” đó là:

1) Xem lễ các ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc

2) Kiêng việc xác ngày chủ nhật

3) Xưng tội mỗi năm một lần

4) Chịu lễ mùa phục sinh

5) Giữ chay những ngày quy định

6) Kiêng ăn thịt vào những ngày quy định

Ngoài ra các tín đồ phải chịu bảy phép bí tích: phép rửa tội, phép thêm

sức, phép giải tội, phép Thánh thể, phép xức dầu thánh, phép truyền chức thánh và phép hôn phối.

Bên cạnh bảy phép bí tích quan trọng kể trên, trong một năm đạo Cônggiáo có rất nhiều ngày lễ với những nghi lễ và ý nghĩa khác nhau:

- Lễ Thiên Chúa giáng sinh hay còn gọi là lễ Giáng sinh (Noel) vàongày 25 tháng 12: đây là một trong những ngày lễ được coi là quan trọng nhấtcủa những người Kitô hữu, là ngày kỷ niệm Chúa Giêsu sinh ra tại Bethlehemthuộc Irael ngày nay, lúc bấy giờ đang dưới quyền thống trị của Đế Quốc La

Mã Tuy nhiên, theo quan niệm của mỗi nước thì có lễ kỷ niệm ngày Thiên

Trang 19

Chúa giáng sinh khác nhau, có một số nước kỷ niệm ngày Noel vào đêm ngày

24 tháng 12, bởi theo lịch Công giáo ngày mới bắt đầu vào lúc hoàng hôn.Còn theo lịch Công giáo Rôma, lễ chính thức vào ngày 25 tháng 12 hay còngọi là “lễ chính ngày”, còn lễ đêm 24 được gọi là “lễ vọng”

- Lễ phục sinh, kỷ niệm Chúa Giêsu sống lại, vào một ngày của tháng 4(chủ nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn – Rằm của tháng sau xuân phân) Đây

là lễ kỷ niệm ngày Chúa Giêsu sống lại sau 3 ngày bị đóng đinh và chết trêncây thập giá Theo luận giải của giáo lý Ba ngôi trong Tân ước, Chúa Giêsu làcon Thiên Chúa và là người, do đó người có quyền năng phó mạng sống mình

để cứu nhân loại cũng như phục hồi sự sống ấy Vì vậy, sau khi chết ChúaGiêsu đã sống lại, sự kiện này được đề cập trong thuật ngữ Cơ Đốc là sự phụcsinh của Chúa Giêsu, trở thành ngày lễ tôn giáo quan trọng của người Ki tôhữu, được cử hành vào các Chủ nhật phục sinh

Giáo thuyết Chúa Giêsu phục sinh nhấn mạnh Thiên Chúa là đấng phánxét cuối cùng, nhưng sự kiện phục sinh không gì khác hơn là một biểu tượngtôn giáo về niềm hi vọng, và có tác dụng nuôi dưỡng tâm linh

- Lễ Chúa Giêsu lên trời, một số nơi còn gọi là lễ Thăng Thiên: là ngày

lễ trọng của người Kitô giáo, được diễn ra 40 ngày sau lễ phục sinh do đóngày lễ Chúa Giêsu lên trời luôn rơi vào ngày thứ năm, nhưng thường đượcrời vào ngày chủ nhật kế tiếp Theo Tân ước, khi Chúa Giêsu sống lại, ngài ởlại cùng các môn đệ trong 40 ngày, sau đó lên trời để kết thúc sự hiện diện củangài giữa loài người trần thế

- Lễ Chúa Thánh thần hiện xuống (có một số nơi gọi là lễ Hiện xuống,Giáng xuống, hạ trần, Lễ Ngũ Tuần ): đây là một ngày lễ trọng của người theoCông giáo được cử hành vào ngày thứ năm mươi bắt đầu ngày lễ phục sinh,

và sau mười ngày kể từ ngày lễ Chúa Giêsu lên trời

Trang 20

Người ta kỷ niệm ngày lễ này với ý nghĩa rằng đây là dịp Chúa Thánhthần hiện xuống, ngày này người Ki tô giáo tin là mang đến những tín hiệu tốtlành về niềm tin vào sự sống.

- Lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời: đây là ngày lễ cổ xưa nhất trongcác ngày lễ kính Đức mẹ của người Ki tô giáo Trong những thế kỷ đầu ngày

lễ Đức bà hồn xác lên trời được gọi là lễ Đức mẹ an giấc Kể từ năm 1950 khiGiáo hoàng Piô XII định tín việc Đức mẹ được cân nhắc về trời cả về trời cảhồn lẫn xác

Lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời được cử hành vào ngày 15 tháng

8, nhưng theo truyền thống của Giáo hội Phương Đông sẽ dành 15 ngày đầucủa tháng để chuẩn bị cuộc lễ và 15 ngày cuối để tạ ơn Ở Việt Nam ngày lễ

kỷ niệm Đức bà hồn và xác lên trời thường chỉ được tổ chức trong ngày 15tháng 8 mà thôi và được các tín hữu tham gia đông đảo

- Lễ các Thánh, là một lễ trọng được tổ chức vào ngày 01 tháng 11

hàng năm Trong Ki tô giáo Tây phương hoặc chủ nhật đầu tiên sau Lễ NgũTuần, trong Ki tô giáo Phương Đông, nhằm tôn vinh tất cả các vị Thánh Kitôgiáo đang hưởng phúc trên thiên đàng Ở nhiều quốc gia có truyền thốngCông giáo Lễ các Thánh là một ngày lễ nghỉ

Sáu lễ quan trọng nói trên là những ngày lễ bắt buộc phải giữ và dự lễcủa những người theo Kitô giáo nói chung, và các ngày lễ chủ nhật hàng tuầncũng là những ngày lễ bắt buộc, tất cả các tín đồ phải nghỉ phần xác để thamdự

Do là các lễ bắt buộc và theo quy định chung của Giáo hội công giáo,nên những ngày có diễn ra các lễ này, thường có rất đông tín hữu tham gia đểcũng cố đức tin, giữ đạo, với mong muốn nhận được nhiều ân sủng Do đó,theo quan điểm của tín hữu Công giáo mỗi dịp lễ là một dịp để các tín hữunhìn nhận, xét mình

Trang 21

Các ngày lễ thông thường khác, tuy Giáo hội không bắt buộc các tínhữu phải tham dự đầy đủ nhưng vẫn được tín đồ tham dự để được nhiều ơnsủng, cụ thể:

- Lễ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, được cử hành vào ngày 08 tháng

12 hàng năm

- Lễ tro (đầu mùa chay): đây là lễ được Giáo hội tổ chức để kỷ niệmviệc Chúa Giê su chuẩn bị vào thành Giêrusalem, ở đây Chúa đã giảng chocác môn đệ về sự chết, rằng con người sau khi chết thể xác trở về với tro bụi,còn linh hồn sẽ tồn tại vĩnh cửu

- Lễ lá vào ngày chủ nhật đầu tuần Thánh, được tổ chức để kỷ niệmviệc Chúa Giê su vào thành Giêrusalem được dân chúng rải lá trên đường đóntiếp

Tuần Thánh bắt đầu từ chủ nhật Lễ lá đến chủ nhật lễ Phục sinh, kỷniệm Chúa Giê su chịu nạn, chịu chết rồi sống lại Trong Tuần Thánh cónhững ngày lễ riêng: lễ truyền phép Mình Thánh vào thứ năm, Lễ Chúa Giêsuchịu chết vào thứ sáu, Lễ vọng Phục sinh vào thứ bảy, Lễ mừng Phục sinh vàochủ nhật

- Lễ Thánh Tông đồ Phê rô và Phao lô, được cử hành vào ngày 29

Trang 22

15

Trang 23

1.1.2 Tình hình Công giáo ở tỉnh Ninh Bình

Công giáo được truyền vào Ninh Bình từ rất sớm, theo cuốn “Lịch sửđàng ngoài” thì ngày 19/3/1627 linh mục Anlexandre de Rohdes (giáo dânthường gọi là Đức cha Đắc Lộ) cùng giáo sĩ Pierre Margue đến cửa Ba Làng(Hậu Lộc – Thanh Hoá) lập cửa thánh Juise Sau đó, trên đường đi thuyền raThăng Long, ngày 3/4/1627 đến cửa biển Thần Phù, gần mom núi YênDuyên, Hảo Nho (thuộc xã Yên Lâm, huyện Yên Mô tiếp giáp với xã LaiThành, huyện Kim Sơn ngày nay), tiến hành truyền đạo, đánh dấu quá trìnhtruyền đạo và phát triển đạo ở Ninh Bình Qúa trình hình thành và phát triểncủa đạo Công giáo ở Ninh Bình chia thành các thời kỳ:

- Thời kỳ các giáo sĩ Dòng Tên (1027 – 1665): Theo nguồn sử liệu của

nhà Nguyễn, Công giáo du nhập vào Việt Nam năm 1533 Tuy nhiên, việctruyền giáo ở Việt Nam chỉ thực sự đạt kết quả vào đầu thế kỷ XVI thời cácgiáo sĩ Dòng Tên Năm 1615, các giáo sĩ Dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ MaCao ( Trung Quốc ) đến Đàng Trong Năm 1627, hai giáo sĩ Alexandre deRhodes và Bdro Marquez đến Cửa Bạng (Ba Làng, Thanh Hóa), mở đầu chothời kỳ truyền giáo của Đàng Trong ở Đàng Ngoài nói chung và Ninh Bìnhnói riêng Dưới thời kỳ các giáo sĩ Dòng Tên, đạo Công giáo đã đặt được cơ

sở trong một số làng xã vùng ven biển tỉnh Ninh Bình Năm 1665, tất cả cácgiáo sĩ bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài, chấm dứt thời kỳ độc quyền truyền giáocủa Dòng Tên ở Việt Nam và tỉnh Ninh Bình

- Thời kỳ các đại diện Tông Tòa (1665-1802) Năm 1666, Hội truyền

giáo Nước ngoài Paris (MEF) cử giáo sĩ đến Đàng Ngoài hoạt động truyềngiáo Năm 1669 Giám mục Lambert đại diện Tông tòa địa phận Đàng Trong

và Đàng Ngoài, thụ phong linh mục cho các thầy giảng người Việt, triệu tậpCông đồng phố Hiến (1670), chia giáo phận thành các giáo sứ và lập DòngMến Thánh giá Cũng năm 1699, các giáo sĩ Dòng Tên trở lại hoạt động song

Trang 24

song với các thừa sai Pháp ở Miền Bắc Dưới thời các thừa sai người Pháp vàDòng Tên, công cuộc truyền giáo đạt được kết quả tốt Năm 1679, địa phậnĐàng Ngoài được chia hai địa phận Đông Đàng Ngoài và Tây Đàng Ngoài.Địa phận Tây Đàng Ngoài gồm các địa phận: Hà Nội, Hưng Hóa, Phát Diệm,Thanh Hóa, Vinh ngày nay Đến cuối thế kỷ XVIII, ở Ninh Bình có nhiều họđạo được thiết lập cả ở vùng ven biển và vùng nội địa với ba giáo xứ gồmHảo Nho, Bạch Bát, Phúc Nhạc và Dòng Mến Thánh giá Bạch Bát (1674).Thời kỳ này, ngoài các thừa sai Dòng Tên, Hội Thừa sai Paris còn có đội ngũlinh mục, nữ tu, thầy giảng, kẻ giảng người Việt cùng tham gia truyền giáo,phát triển đạo.

- Thời kỳ nhà Nguyễn (1802-1862) Sang thế kỷ XIX, công cuộc truyền

giáo ở Ninh Bình hoàn toàn do các thừa sai người Pháp và giáo sĩ, tu sĩ ngườiViệt đảm nhận Dưới thời Gia Long và những năm thời đầu Minh Mạng,Công giáo không được ưu ái, nhưng cũng không bị cấm cản nên đã có điềukiện phát triển, nhất là từ khi huyện Kim Sơn được thành lập (1829) Bởi vậy,dưới thời vua Minh Mạng, đặc biệt đầu thời vua Tự Đức, mặc dù bị chínhquyền cấm đạo quyết liệt song Công giáo ở Ninh Bình vẫn được duy trì vàphát triển

- Thời kỳ từ năm 1862 đến năm 1900 Sau khi nhà Nguyễn bỏ lệnh cấm

đạo (1862), đặc biệt từ khi linh mục Trần Lục làm chánh xứ Phát Diệm

(11865-1899), dựa vào chế độ của thực dân phong kiến, ông đã tìm cáchchiếm đoạt ruộng đất để lôi kéo người vào đạo, nên đạo Công giáo ở Ninh

Bình phát triển mạnh mẽ theo hai tuyến chính: Thứ nhất, từ xứ Phúc Nhạc,

Yên Vân và Phát Diệm phát triển ra vùng đồng bằng ven biển và khu trungtâm của tỉnh gồm các huyện Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô và thị xã Ninh

Bình Đây là tuyến đạo Công giáo phát triển nhanh và mạnh nhất Thứ hai, từ

hai xích đạo Bạch Bát và Đồng Chưa phát triển vào vùng sâu miền núi, vùng

Trang 25

đồng bào Mường các huyện Gia Viễn, Nho Quan, một phần huyện Yên Mô,Gia Khánh Đồng thời, tổ chức giáo hội, cơ sở vật chất được xây dựng, nhất làviệc hoàn thiện quần thể kiến trúc nhà thờ Phát Diệm đã chuẩn bị mọi điềukiện cho sự ra đời của giáo phận Phát Diệm.

- Thời kỳ 1901 – 1932 Ngày 15-4-1901, Giáo Hoàng Lêô XIII ban sắc

lệnh chia địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội), thành lập địa phận Bắc KỳDuyên Hải, quen gọi là giáo phận xứ Thanh do giám mục Alexandre Marcou(Thành) coi sóc Tòa giám mục và nhà thờ chính tòa đặt tại Phát Diệm Dướithời giám mục Marcou Thành, Công giáo ở Phát Diệm phát triển rất mạnh.Năm 1932, giáo phận Thanh Hóa được thành lập trên cơ sở tách khỏi giáophận Phát Diệm Từ đây, địa giới hành chính của giáo phận Phát Diệm nằm trọn trong tỉnh Ninh Bình và huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình hiện nay

- Thời kỳ từ năm 1933 đến năm 1954 Giáo phận Phát Diệm có sự

chuyển biến khá mạnh mẽ, không chỉ tăng nhanh về số lượng tín đồ, đội ngũgiáo sĩ, tu sĩ người Việt, mà tổ chức xứ, họ đạo, cơ sở vật chất, tổ chức giáohội cũng được xây dựng hoàn thiện từ Tòa Giám mục xuống các xứ, họ đạo.Đây là giáo phận đầu tiên ở Việt Nam được giao cho hàng giáo sĩ người Việtcai quản

Những năm đầu sau cách mạng Tháng 8, Công giáo ở Kim Sơn pháttriển khá nhanh, nhiều xứ, họ đạo mới được thiết lập Khi thực dân Phápchiếm đóng Kim Sơn, sự phát triển của Công giáo dường như chững lại, thậmchí có chiều hướng giảm sút

Công giáo ở Phát Diệm bị phân hóa sâu sắc, một số chức sắc, tín đồ bịthực dân lợi dụng chống phá cách mạng, song vẫn có đông đảo tín đồ, giáo sĩtích cực tham gia kháng chiến thể hiện rõ trách nhiệm của một công dân đốivới dân tộc

Trang 26

- Thời kỳ 1954-1990 Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết (7/1954),

các thế lực thù địch đã cưỡng ép trên 40% giáo dân, 76,55% linh mục và72,35% tu sĩ của giáo phận Phát Diệm di cư vào Nam Trong giai đoạn này,đạo Công giáo không phát triển mạnh như giai đoạn trước, song khá ổn định

và từng bước thích nghi với chế độ mới

- Thời kỳ 1991-2010 Từ những năm 1990, Công giáo ở giáo phận Phát

Diệm được củng cố, phát triển, nhìn chung sự phát triển của đạo Công giáotrong giai đoạn này chủ yếu do sự tăng dân số tự nhiên Lợi dụng chính sáchđổi mới của Đảng và Nhà nước ta, Tòa Giám mục Phát Diệm tích cực đẩymạnh đường hướng canh tân, thích nghi để truyền giáo, phát triển đạo theotinh thần Công đồng Vatican II và của Giáo hội Công giáo Việt Nam Nhiều

xứ, họ đạo mới được thành lập, nhiều hội đoàn Công giáo mới ra đời, cácdòng tu hoạt động trở lại, việc đào tạo chức sắc được đẩy mạnh

Như vậy, Đạo Công giáo qua các giáo sĩ Dòng Tên chính thức du nhậpvào Ninh Bình từ 1627 Tuy nhiên, Công giáo Ninh Bình chỉ thực sự pháttriển mạnh mẽ vào thế kỷ XIX nhất là sau khi huyện Kim Sơn được thành lập(1829) Dưới thời kỳ Pháp thuộc, đạo Công giáo ở Phát Diệm không chỉ pháttriển mạnh ở vùng ven biển huyện Kim Sơn mà đã lan rộng vào nội địa, vùngđồng bằng chiêm trũng Gia Viễn và lấn sâu vào vùng miền núi, khu vực đồngbào dân tộc Mường ở Nho Quan (Ninh Bình), Lạc Thủy (Hòa Bình)

Hiện nay, đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh có Tòa Giám mục PhátDiệm, với 77 gíao xứ, 358 giáo họ, 336 nhà thờ giáo xứ, giáo họ; có 01 Giámmục, 80 linh mục; có 02 dòng tu là Dòng Mến Thánh giá Phát Diệm với 138

nữ tu, 100 dự tu và Dòng Xi tô Châu Sơn có 01 Giám mục nghỉ hưu, 10 linhmục, 106 tu sĩ, tập tu Có 25 loại hội đoàn với 1.158 hội đoàn [76]

Thời gian qua, Tòa Giám mục Phát Diệm tập chung chỉ đạo các chứcsắc, chức việc trong giáo phận tăng cường các hoạt động củng cố đức tin cho

Trang 27

giáo dân; tổ chức nhiều hoạt động tôn giáo lớn để thu hút giáo dân tham gia;

tổ chức cho giáo dân hành hương về viếng nhà thờ chính tòa Phát Diệm đểlĩnh ơn toàn xá Tòa Giám mục Phát Diệm quan tâm đến việc tổ chức tĩnh tâmthường xuyên cho linh mục, Ban chấp hành các giáo xứ, giáo họ, giáo dântheo quy mô giáo hạt, giáo xứ; tổ chức tĩnh tâm riêng cho các giới: y bác sĩ,giáo chức, doanh nhân qua đó nhằm hướng các giới này phục vụ tốt hơn chocác mục đích của giáo hội; tổ chức gặp mặt chủng sinh, học sinh, sinh viên,doanh nhân, giới trẻ Công giáo Phát Diệm,…Đồng thời Tòa Gíam mục tăngcường củng cố tổ chức của giáo hội như kiện toàn các Ủy ban thuộc giáophận, Ban chấp hành giáo họ, giáo xứ, giáo hạt; thành lập các hội đoàn Cônggiáo với nhiều loại hình khác nhau, phù hợp với từng lứa tuổi Mở rộng cáchoạt động bồi dưỡng, đào tạo với nhiều hình thức như tổ chức các khóathường huấn cho chức sắc, chức việc; lớp học giáo lý, dâng hoa, đàn hát,…

Nhìn chung các hoạt động tôn giáo nói trên của Công giáo đều thựchiện theo đúng quy định của pháp luật và được sự quan tâm hướng dẫn, tạođiều kiện của các cấp chính quyền Do vậy, đồng bào theo đạo Công giáongày càng phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, sống tốt đời đẹp đạotheo tinh thần thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam “Sống Phúc

âm giữa lòng Dân tộc”

Quá trình tồn tại và phát triển, đạo Công giáo ở Ninh Bình đã cónhững bước thăng trầm gắn liền với lịch sử dân tộc Trong quá trình tồn tại vàphát triển, Công giáo Ninh Bình cũng đã tạo cho mình những đặc điểm riêngbiệt, có thể khái quát một số đặc điểm đó như sau:

Một là, phần lớn giáo dân là nông dân, sống ở vùng nông thôn, cólòng yêu nước, cần cù lao động, đã góp phần cùng toàn dân đấu tranh giànhđộc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Trong hai cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ, hàng ngàn thanh niên theo đạo Công giáo ở Ninh

Trang 28

Bình đã tham gia bộ đội, nhiều người đã hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dântộc Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiều giáo dân, giáo sĩ đãthể hiện tinh thần yêu nước, tham gia các hoạt động xã hội, vận động quầnchúng tín đồ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Ngàynay, trong công cuộc đổi mới và dân chủ hóa đời sống xã hội do Đảng ta khởixướng và lãnh đạo, phần đông giáo dân đã phấn khởi, tin tưởng vào chínhsách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Sinh hoạt tôn giáo ở Ninh Bình có xuhướng phát triển, số người vào đạo và đi lễ gia tăng, nhà thờ được tôn tạo, tusửa ngày càng to, đẹp.

Hai là, dân cư đa dạng, phức tạp với nhiều thành phần xã hội, tôn giáotín ngưỡng khác nhau Đó là kết quả của việc khai hoang lập ấp, họ từ khắpcác tỉnh (thành phố), đủ mọi thành phần, vì nhiều lý do mà tới đây, nhưng họvẫn hướng về tổ tiên, lập đình chùa miếu mạo, bên cạnh những nhà thờ Thiênchúa giáo Lương giáo đan xen, không có sự thù hằn đố kị Do quen với việccải tạo thiên nhiên, chống áp bức xã hội mà họ luôn có tư tưởng tự do khácao, sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi và cũng dễ hòa nhập với cái mới

Ba là, ở những vùng Công giáo, có hiện tượng mê tín dị đoan, cuồngđạo.Nhưng, nhìn chung họ có niềm tin tôn giáo chân thật và bền vững, say mêtham gia các nghi lễ tôn giáo, coi đó là nhu cầu tinh thần quan trọng nhất.Mặc dù họ là những người cần cù, chân thật, lương thiện.Điều này ý thức cho

họ nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ, chính sách với nhà nước (trừ vấn đề kếhoạch hóa gia đình), ít mắc vào các tệ nạn xã hội như trộm cắp, dễ bị bọn xấulợi dụng vào mục đích chính trị

Nhìn chung, trong công cuộc đổi mới và dân chủ hóa trong đời sống xãhội do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, tuyệt đại đa số đồng bào Công giáophấn khởi, tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta Hoạtđộng Công giáo có xu hướng gia tăng số người vào đạo và đi lễ Nhiều nhà

Trang 29

thờ được tôn tạo và tu sửa khang trang Các giá trị tích cực của Công giáongày càng được phát huy hòa quyện vào các giá trị văn hóa cộng đồng tạo nênmột bản sắc văn hóa vừa có tính đặc thù vừa có tính đại chúng Vì vậy, khốiđại đoàn kết toàn dân tộc ở các cụm dân cư có đồng bào theo đạo và đồng bàokhông theo đạo ngày càng được củng cố.

Những đặc điểm trên đây là những điểm nhấn trong toàn bộ bức tranh

đa sắc của Công giáo Ninh Bình Nó có ý nghĩa cho việc lý giải về sự ảnhhưởng của Công giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân NinhBình Đồng thời, nó giúp cho các cơ quan quản lý về tôn giáo, về văn hóa, tưtưởng của địa phương trong việc triển khai các giải pháp đặc thù đối với Cônggiáo Ninh Bình trong chương trình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương

1.2 Đời sống văn hóa tinh thần của người dân tỉnh Ninh Bình hiện nay.

1.2.1 Một số khái niệm

a) Khái niệm văn hóa

Mọi khái niệm khoa học đều có lịch sử sinh thành và phát triển của nó.Với thời gian khám phá, bổ sung nó ngày càng mang nội dung hoàn chỉnh,thuật ngữ văn hóa cũng vậy Vốn được dịch từ tiếng Pháp là culture, có nguồngốc La tinh, thuật ngữ văn hóa được dùng lần đầu khoảng thế kỷ XIII vớinghĩa “cây trồng” Qua thế kỷ XIV, nó có thêm những nghĩa và từ mới phátsinh “người trồng trọt” (cultivateur), rồi mở rộng ra là “người làm nôngnghiệp” (agriculteur) Nhưng rồi với những biến đổi xã hội to lớn, có tíchcách mạng ở thời Phục hưng (thế kỷ XIV – XVI), từ văn hóa ở thế kỷ XVđược nhận thêm các nghĩa bong trừu tượng: nhận thức, giáo dục, kiến thức.Nghĩa bóng của từ cũng được dung song song với các từ phát sinh cutover(giáo dục) cultivé (có giáo dục, có học vấn), incultu (vô học, không học vấn).Đến thế kỷ XVIII – thế kỷ của ánh sáng trong lịch sử nhân loại, thuật ngữ vănhóa nhận được đầy đủ nội dung và nâng cấp lên để chỉ sự tích hợp toàn bộ

Trang 30

những hoạt động sáng tạo của con người Điều này Hồ Chí Minh khẳng định:

“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo vàphát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vănhóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểuhiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đờisống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [66, tr 431] Ở khái niệm trên, Chủ tịch HồChí Minh nêu lên một số những sản phẩm do con người sáng tạo ra, trong đó

có văn hóa vật thể (những công cụ sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở…), cóvăn hóa phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn họcnghệ thuật) Chữ “giá trị” được ẩn dưới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mụcđích của cuộc sống…nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Những sảnphẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trênphải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựngcác giá trị

Xét về lịch sử vấn đề cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóaxuất phát từ nhiều góc độ, nhiều ngành khoa học khác nhau Theo “Từ điểntriết học” thì văn hóa là “toàn bộ những giá trị vật chất tinh thần do con ngườisáng tạo ra trong thực tiễn xã hội – lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt đượctrong lịch sử phát triển xã hội Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói vềvăn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóatinh thần (khoa học, nghệ thuật, văn học, triết học, đạo đức, giáo dục…) Vănhóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hìnhthái kinh tế - xã hội” [69, tr.656]

Văn hóa là khái niệm văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm vật thể

và phi vật thể do con người sáng tạo ra và mang tính giá trị Theo khái niệm

Trang 31

này, có thể thấy văn hóa bao gồm tất cả những gì con người làm ra và sử dụngnó.

Đôi khi, văn hóa còn được hiểu theo nghĩa: Văn hóa là nền tảng tinhthần xã hội, văn hóa là tất cả đời sống tinh thần của con người v.v…khi xét về

sự tác động, ảnh hưởng của nó Có thể nói rằng, văn hóa thấm sâu vào mọilĩnh vực cuộc sống, vào mọi ngõ ngách, cung bậc tâm hồn, trí tuệ, xúc cảmcủa con người, của cộng đồng người Hẳn chúng ta dễ nhận thấy rằng từ cách

ăn mặc, ứng xử, phong cách, trình độ của một con người, của cộng đồngngười nào đó, ngoài những cái gì là chung của con người sinh học, đều có cáiriêng, cái không thể lẫn lộn hòa trộn được, đó là nét riêng, là bản sắc, tinh hoathuộc về văn hóa Văn hóa không bao trùm nhưng lại thấm sâu vào kinh tế,chính trị, pháp luật…Chính cái đặc điểm lan tỏa, thấm sâu này mà phươngĐông có cách hiểu “văn hóa thiên hạ” Văn hóa từ bản chất, từ hàm lượng giátrị tinh thần của nó là thần thái của cuộc sống, con người xã hội Trong nghịquyết Trung ương 4, khóa VII có viết: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xãhội, là động lực đồng thời là mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội” [ 34]

Vậy là, từ bản chất nhân văn, từ phạm vi tồn tại rộng khắp trong khônggian và xuyên suốt thời gian “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộchọc, có nghĩa là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng,nghệ thuật, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng và thói quen mà conngười đạt được với tư cách là thành viên của xã hội”.[70, tr.1]

Đây là một khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng, mang tính triết học, cóphần nghiêng về hoạt động sáng tạo trong lịch sử xã hội loài người, thiên vềtính gía trị, được hình thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin Trong cuốn

“Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm: “Văn hóa làmột hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo và

Trang 32

tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con ngườivới môi trường tự nhiên và xã hội”.

Có thể thấy hai khái niệm trên có sự tương đồng Theo đó văn hóa đượchình thành từ khi con người biết sáng tạo (có nghĩa là văn hóa hình thànhcùng với sự hình thành loài người) Văn hóa là tất thảy những sản phẩm vậtchất (văn hóa vật thể) và tinh thần (vặn hóa phi vật thể) do con người sáng tạo

ra trong quá khứ, hiện tại, cả hai khái niệm nêu trên đều gắn với chữ “giá trị”

Có nghĩa rằng, không phải tất cả những sản phẩm con người sáng tạo ra đều làvăn hóa mà chỉ những sản phẩm có chứa đựng giá trị (là cái có ích cho conngười) Cũng có nghĩa, những sản phẩm do con người làm ra (sáng tạo ra)nhưng không mang giá trị thì không phải là văn hóa ( ví dụ: bom hạt nhân,heroin, chất độc hóa học, vũ khí giết người v.v…) Những danh lam thắngcảnh như vịnh Hạ Long, động Phong Nha – Kẻ Bảng v.v…tuy không phải docon người làm ra nhưng con người tìm ra và thưởng thức vẻ đẹp của nó(thưởng thức là một sáng tạo) cũng là văn hóa

Năm 1988, tại lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Tổnggiám đốc UNESSCO Federico Mayor, đưa ra định nghĩa: “Văn hóa phản ánh

và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cánhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra tronghiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị,truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bảnsắc riêng của mình”

Đây là khái niệm được đưa ra trong bối cảnh thế giới còn có sự phân biệtvăn hóa dân tộc lớn, dân tộc nhỏ, văn hóa dân tộc này cao, dân tộc kia thấp, vănhóa dân tộc này văn minh, văn hóa dân tộc kia lạc hậu Khái niệm nêu trên có ýnghĩa chính trị rất lớn về việc khẳng định mỗi dân tộc có bản sắc riêng Quanđiểm này càng được khẳng định tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở

Trang 33

Mêhicô để bắt đầu thập kỷ văn hóa UNESSCO Hội nghị này có hơn mộtnghìn đại biểu đại diện cho hơn một trăm quốc gia tham gia từ ngày 26/7 đến6/8 năm 1982, người ta đã đưa ra trên 200 định nghĩa Cuối cùng Hội nghịchấp hành nhận một định nghĩa như sau:

“Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần

và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay củamột nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương,những lối sống và những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giátrị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khảnăng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành nhữngsinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách cóđạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân,

tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thànhtựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạonên những công trình vượt trội lên bản thân” [91, tr.24]

Khái niệm trên vừa nói đến văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, vừanói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt về văn hóa củamột xã hội hay một nhóm người trong xã hội” Như vậy, khái niệm trên cũng

là khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhậnmỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hóa riêng biệt

Như vậy, qua những quan điểm trên chúng ta có thể hiểu rằng văn hóađược hình thành và phát triển trong quan hệ thích nghi giữa con người vớithiên nhiên, giữa con người với con người Trải qua hàng ngàn năm thích nghi

và cải tạo thế giới, những kinh nghiệm mà con người tích lũy được đã trởthành nền tảng cơ bản cho sự phát triển của văn hóa Văn hóa không chỉ bóhẹp trong quan hệ cá nhân gia đình và cộng đồng mà còn mở rộng trong mốiquan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới Văn hóa hình thành trong quá

Trang 34

trình tiếp xúc, giao lưu, sàng lọc, cải biến giữa văn hóa bản địa với những nềnvăn hóa khác Do đó, văn hóa bao giờ cũng thể hiện sự đa dạng, phong phúnhưng luôn mang những nét độc đáo của dân tộc, đồng thời tiềm ẩn những giátrị chung của nhân loại.

b) Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần.

Nói đến đời sống là nói đến “sinh hoạt”, nói “hoạt động” Như vậy nóiđến đời sống văn hóa tinh thần là nói hoạt động của con người trên lĩnh vựctinh thần – hoạt động sản xuất, trao đổi và tiêu dùng giá trị tinh thần diễn ratrên các lĩnh vực chủ yếu: tư tưởng, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, tínngưỡng tôn giáo Đời sống văn hóa tinh thần không phải là một cơ cấu tĩnhtại, một hệ thống đóng kín, nằm im của những giá trị loại biệt mà là một tổngthể đang vận động của các giá trị tinh thần được thực hiện và thể hiện thôngqua hoạt động của con người trên các lĩnh vực khác nhau của sự sản xuất, traođổi và tiêu dùng tinh thần

Các hoạt động ở các khâu nhu cầu, sản xuất, trao đổi, tiêu dùng giá trịtình thần cũng như ở từng lĩnh vực tư tưởng, nghệ thuật, khoa học, giáo dục,tín ngưỡng tôn giáo không tách biệt nhau mà hòa quyện vào nhau Trong tổnghòa sống động của hoạt động đó, các giá trị tinh thần được tạo ra, lan tỏa vàthấm sâu vào từng con người, từng cộng đồng tạo thành niềm tin bên trong,thành lối sống, thành hành động tự nhiên hằng ngày của họ Nhờ đó, mỗingười và mọi người đạt được những phẩm chất tinh thần cao quý tồn tại nhưmột giá trị - giá trị “gốc” và tiếp tục sáng tạo ra những giá trị mới cao hơn,thúc đẩy không ngừng sự phát triển về các mặt chân, thiện, mỹ của đời sống

xã hội, đáp ứng nhu cầu giá trị tinh thần của con người và xã hội Chuẩn mựccủa sự hình thành của đời sống văn hóa tinh thần là chỉnh thể toàn vẹn của cácquá trình và hiện tượng đó.Như vậy, tiêu chí cơ bản để xem xét, đánh giá đờisống văn hóa tinh thần của một con người hay của một cộng đồng đó là trình

Trang 35

độ được vun chồng của con người, là sự phát triển về các mặt chân, thiện, mỹcủa mọi mặt đời sống, hoạt động và quan hệ thực tiễn của con người hay cộngđồng đó.

Đời sống văn hóa tinh thần là biểu hiện của đời sống tinh thần, nhưng

nó không đồng nhất với đời sống tinh thần Sự khác nhau giữa hai khái niệmnày không phải ở phạm vi rộng hẹp mà ở chất lượng đạt tới của hoạt độngtinh thần và sản phẩm của nó Mọi người, mọi gia đình, mọi xã hội đều có đờisống tinh thần Nhưng có đời sống tinh thần cao đẹp mà cũng có đời sốngthấp kém Đời sống tinh thần cao đẹp chính là đời sống văn hóa tinh thần

Với tính cách là một hệ thống, đời sống văn hóa tinh thần diễn ra trong

sự vân động tương tác giữa các khâu nhu cầu, sản xuất, trao đổi, tiêu dùng giátrị tinh thần

Nhu cầu về giá trị tinh thần bao gồm hưởng thụ và sáng tạo giá trị tinh

thần là nhu cầu tất yếu của con người, của xã hội Nhờ có nhu cầu về giá trịtinh thần mà sự tồn tại của con người thực sự mang tính người, đối lập vớitính tự nhiên, tính động vật Nhu cầu về giá trị tinh thần kích thích con ngườitích cực tham gia vào đời sống văn hóa tinh thần

Sản xuất giá trị tinh thần là hoạt động tìm tòi, phát hiện và làm ra các

giá trị chân, thiện, mỹ nhằm đáp ứng nhu cầu giá trị tinh thần của con người

và xã hội Sản xuất giá trị tinh thần là cơ sở của toàn bộ đời sống văn hóa tinhthần

Trao đổi giá trị tinh thần là một hoạt động tất yếu, tự nhiên của một cơ

thể văn hóa lành mạnh Trao đổi giá trị tinh thần là trao đổi cái hay của mình

và nhận cái hay của người Thông qua hoạt động này, đời sống văn hóa tinhthần của các chủ thể tham gia được phát triển mở rộng

Tiêu dùng giá trị tinh thần là quá trình con người lựa chọn, tiếp nhận và

cảm thụ các giá trị tinh thần nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo giá

Trang 36

trị tinh thần của mình Qúa trình tiêu dùng giá trị tinh thần cũng đồng thời làquá trình bồi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm và nhân cách con người Do

đó, tiêu dùng giá trị tinh thần cũng đồng thời là sản xuất giá trị tinh thần

Đời sống văn hóa tinh thần bao quát các lĩnh vực hoạt động chủ yếu :

tư tưởng, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, tôn giáo tín ngưỡng

Hoạt động tư tưởng nhằm hình thành thế giới quan khoa học – hệ thống

những quan điểm về thế giới: giới tự nhiên, xã hội và quy luật vận đông pháttriển của chúng, về các con đường nhận thức và cải tạo thế giới ấy Hoạt động

tư tưởng là hoạt động chủ đạo, bảo đảm cho đời sống văn hóa tinh thần pháttriển đúng hướng, vững chắc

Hoạt động nghệ thuật là hoạt động sáng tạo ra các giá trị nghệ thuật

nhằm đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người Là lĩnh vực đặc thù nhất, cótính thẩm mỹ cao nhất trong các hoạt động sáng tạo tinh thần và đồng thờicũng có tính giáo dục cảm hóa mạnh mẽ nhất đối với con người

Hoạt động khoa học là hoạt động sáng tạo và phổ biến tri thức cần thiết

cho con người và xã hội, đáp ứng nhu cầu chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội

và hoàn thiện con người theo hướng đạt tới chân, thiện, mỹ

Hoạt động giáo dục là hoạt động nhằm trang bị cho con người những

tri thức của tất cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và nhânvăn, giúp họ có được những phẩm chất và năng lực cần thiết để sáng tạonhững giá trị mới cho cuộc sống, trong đó có giá trị tinh thần

Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động hướng về một thế giới

siêu nghiệm với niềm tin tuyệt đối, sự trông cậy và tình cảm yêu mến đối vớithế giới đó Niềm tin tôn giáo – một niềm tin không thể chứng minh, nhưng

có ảnh hưởng chi phối mạnh mẽ đến đạo đức và lẽ sống của người theo đạo

Từ cách tiếp cận trên, luận văn xin nêu lên khái niệm đời sống văn hóa

tinh thần: là tổng hòa các hoạt động sản xuất, trao đổi, tiêu dùng, các giá trị

Trang 37

tinh thần, làm cho các giá trị đó thấm sâu vào từng con người, từng cộng đồng, trở thành yếu tố khăng khít của toàn bộ cuộc sống, hoạt động và quan

hệ con người, đáp ứng nhu cầu giá trị tinh thần ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội.

1.2.2 Địa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đặc điểm đời sống văn hóa tinh thần người dân ở tỉnh Ninh Bình hiện nay.

a) Địa kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội

Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực Bắc đồng bằng Bắc bộ, phía Đông giáp tỉnhNam Định, phía Đông Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây Nam giáp tỉnh ThanhHóa, phía Tây và Tây Bắc giáp với Hòa Bình, phía Đông Nam giáp vịnh Bắc

Bộ Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93km về phíaNam Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, NinhBình bao gồm cả ba loại địa hình Vùng đồi núi bán sơn địa ở phía Tây Bắcbao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp; vùng đồng bằngven biển ở phía Đông Nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên Khánh Xen giữa

2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp Nình Bình có bờ biển dài 18km

Bờ biển Ninh Bình hàng năm được phù sa bồi đắp lấn ra trên 100m

Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùngkinh tế trọng điểm phía Bắc Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hóagiữa khu vực châu thổ sông Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùng đồng bằngBắc Bộ với vùng rừng núi Tây Bắc Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình

là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch

Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ởmức 2 con số, năm 2005 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 41/42,năm 2006 vươn lên xếp thứ 18/64, năm 2007 xếp thứ 24/64, năm 2008 xếp23/63, liên tục đứng thứ 5 ở miền Bắc Trong khi diện tích và dân số tỉnh chỉ

Trang 38

đứng thứ 56/64 và 43/64 “Cơ cấu kinh tế trong GDP năm 2010: công nghiệp– xây dựng: 40,9%; Nông, lâm – ngư nghiệp: 15,8%; Dịch vụ: 35,3%

Qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cónhiều chuyển biến Kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng khá, tạo bước đột phá

về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch

vụ, đồng thời có sự chuyển dịch giữa các thành phần kinh tế và các vùngtrong tỉnh Sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển trở thành động lựcchính để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Các ngành dịch vụ phát triểntrong đó du lịch đang từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đặc biệt là sản xuất lương thực đạtđược những thành tựu đáng kể, góp phần đảm bảo an ninh lương thực Kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, điệnnăng phát triển tương đối đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, các lĩnh vực giáo dục, y tế và các lĩnhvực xã hội khác từng bước được củng cố, phát triển, cơ bản đảm bảo sự hàihoà giữa phát triển kinh tế là trung tâm, phát triển văn hoá là nền tảng tinhthần xã hội Công tác quốc phòng địa phương được tăng cường, an ninh chínhtrị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, bảo đảm cuộc sống bình yên chonhân dân và môi trường xã hội lành mạnh hệ thống chính trị được củng cố,chất lượng hoạt động được nâng lên Phương thức lãnh đạo, năng lực lãnh đạocủa các cấp uỷ đảng từ tỉnh đến cơ sở được đổi mới, hiệu lực, hiệu quả quản

lý, điều hành của chính quyền các cấp được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đổimới và phát triển của tỉnh

Về văn hóa – lịch sử, Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu

vực: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ Đặc điểm đó đã tạo ramột nền văn hóa Ninh Bình tương đối năng động, mang đặc trưng khác biệttrên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng Đây là vùng đất phù sa cổ ven

Trang 39

chân núi có con người cư trú từ rất sớm Vùng đất Ninh Bình là kinh đô củaViệt Nam thế kỷ X, nơi phát tích của ba vương triều Đinh – Lê – Lý với cácdấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và phát tíchquá trình định đô Hà Nội Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùngđất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tíchlịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn, con sông Đâycòn là vùng đất chiến lược bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn, là căn

cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng Nguyên – Mông,…

Bên cạnh văn hóa của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có “văn hóa mới”của cư dân ven biển Dấu ấn về biển tiến còn in đậm trên đất Ninh Bình.Những địa danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An, Yên Mô, cửa Càn, cửabiển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh,

đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoàng Trực, đê Văn Hải, đê Bình Minh I, đêBình Minh II,…Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi nămgần 100m Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hóa Việt xuốngbiển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hóa Việt xuống biểnĐông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hóa từ Bắc vào Nam, từbiển vào Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cábiển, nuôi tôm sú, tôm rảo, nuôi cua,…Nếp sống của cư dân lấn biển mangtính chất động trong vùng văn hóa môi trường đất mở

Những yếu tố tự nhiên, lịch sử, văn hóa đã hòa quyện đã làm nên mộtNinh Bình giàu truyền thống và bản sắc với hàng trăm di tích lịch sử - vănhóa, trong đó “có 78 di tích đã được xếp hạng quốc gia” với nhiều danh lamthắng cảnh nổi tiếng như: Tam Cốc, Bích Động, động Vân Trình, động Tiên,động Tam Giao, Tràng An, động Mã Tiên, nhà thờ đá Phát Diệm,…Một yếu tốkhác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng,phong phú của văn hóa Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hóa của các tao

Trang 40

nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thủy tú này Các đế vương, công hầu,khanh tướng, danh nhân văn hóa lớn như Trương Hán Siêu, Trần Thái Tông,

Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Xuân Quỳnh,…nhâncách bác học và phẩm cách văn hóa lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫmvào tầng văn hóa địa phương, được nhân dân tiếp thu, sáng tạo, làm giàu thêmsắc thái văn hóa Ninh Bình Vùng đất này còn là quê hương của nhiều danhnhân đất Việt tiêu biểu như: Đinh Bộ Lĩnh; Trương Hán Siêu, Lý Quốc Sư, VũDuy Thanh, Lương Văn Tụy, Ninh Tốn, Nguyễn Bặc, Đinh Điền,…

Những đặc điểm về địa kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội này đã vàđang tạo điều kiện cho sự phát triển của Công giáo ở Ninh Bình Chính nhữngđiều kiện này đã làm cho Công giáo ở Ninh Bình có những đặc trưng riêng,không giống với địa phương nào khác và đồng thời những đặc điểm này cũngchính là lý do khiến cho Công giáo có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống vănhóa tinh thần của người dân

b) Đặc điểm đời sống văn hóa tinh thần người dân Ninh Bình hiện nay

Những đặc điểm riêng về địa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội củaNinh Bình đã phần nào ảnh hưởng đến các đặc điểm về đời sống văn hóa tinhthần người dân Cùng với sự chuyển mình của đất nước trên con đường côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triểnkinh tế xã hội, sự giao lưu hợp tác quốc tế trên tất cả các lĩnh vực nhưng NinhBình vẫn bảo lưu được những nét tinh hoa trong vốn văn hóa cả vật thể và phivật thể

Những năm qua, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa” và thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội đãthực sự thấm sâu vào nhận thức của mỗi người dân, hộ gia đình và cộng đồngdân cư Phong trào đã trở thành sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân thựchiện, thể hiện qua việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, qua vận động xã

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w