ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---PHẠM HỮU DUỆ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHẠM HỮU DUỆ
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CÂY TRỒNG THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA (NGHIÊN CỨU Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨCHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHẠM HỮU DUỆ
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CÂY TRỒNG THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA (NGHIÊN CỨU Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)
CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.70
LUẬN VĂN THẠC SĨCHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Ca
Hà Nội, 2014
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu 9
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Cấu trúc của luận văn 12
CHƯƠNG 1 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 13
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 13
1.1.1 Khái niệm chính sách 13
1.1.2 Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ 16
1.1.2 Tác động của chính sách 17
1.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học 18
1.2.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học 18
1.2.2 Phân loại kết quả nghiên cứu khoa học 20
1.3 Cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ 21
1.3.1 Khái niệm công nghệ 21
1.3.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ 21
1.3.3 Chính sách chuyển giao công nghệ 23
1.4 Tác động của chính sách (đã phân tích) đến năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa 24
1.4.1 Hệ thống chính sách đã ban hành 24
1.4.2 Đánh giá tác động của chính sách đến năng xuất, chất lượng cây trồng 26
Kết luận Chương 1 31
CHƯƠNG 2 32
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY 32
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 32
ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 32
2.1 Khái quát về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vùng Đồng bằng sông Hồng 32
2.1.1 Đặc điểm khái quát về Đồng bằng sông Hồng 32
2.1.2 Mạng lưới nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vùng Đồng bằng sông Hồng 33
2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nổi bật trong trồng trọt vùng Đồng bằng sông Hồng 34
2.2.1 Các hình thức chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng 34
2.2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học nổi bật trong trồng trọt vùng Đồng bằng sông Hồng 35
Trang 42.3 Những hạn chế của chính sách nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đối
với cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng 41
2.3.1 Đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp còn thấp 41
2.3.2 Đầu tư cho các chương trình KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu 42
2.3.3 Nhân lực KH&CN tập trung đông nhưng còn bất cập 46
2.3.4 Các chương trình, đề tài chưa thực sự phát huy thế mạnh của vùng đồng bằng sông Hồng 48
2.4 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của chính sách nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đối với cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng 51
2.4.1 Nguyên nhân khách quan 51
2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 51
2.5 Những khó khăn trong trồng trọt ở vùng Đồng bằng sông Hồng 53
2.5.1 Khả năng cạnh tranh thấp 53
2.5.2 Các nguồn lực cho tăng trưởng nông nghiệp có xu hướng giảm, nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững 53
2.5.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp còn yếu kém 54
2.5.4 Thể chế kinh tế nông thôn chậm đổi mới 54
2.5.5 Cơ cấu sản xuất chưa hợp lý 55
Kết luận Chương 2 57
CHƯƠNG 3 59
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY 59
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 59
THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 59
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 59
3.1 Bài học kinh nghiệm của các nước qua chính sách khoa học và công nghệ trong nông nghiệp 59
3.2 Ứng dụng kết quả nghiên cứu tạo cơ sở xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 61
3.2.1 Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong trồng trọt trên phạm vi cả nước 61
3.2.2 Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong trồng trọt tại Đồng bằng sông Hồng 63
3.3 Các điều kiện nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa 64
3.3.1 Điều kiện tồn tại của sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 64
3.3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 65
3.4 Chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng 66
3.4.1 Nhiệm vụ chung của KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp 66
3.4.2 Nhóm giải pháp về chính sách KH&CN 69
3.4.3 Nhóm giải pháp về chính sách cho công tác khuyến nông 77
3.4.4 Nhóm giải pháp về tổ chức sản xuất 78
3.4.5 Nhóm giải pháp về chính sách hỗ trợ 78
Kết luận Chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Khuyến nghị 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Em xin cảm ơn sâu sắc tới các Thầy giáo/Cô giáo Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Chiến lược vàChính sách Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tận tìnhgiúp đỡ, truyền đạt kiến thức khoa học, phương pháp nghiên cứu, động viên,khích lệ tinh thần học tập trong những năm qua Đặc biệt, xin cảm ơn Thầy
Vũ Cao Đàm, Thầy Trần Ngọc Ca đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn nghiên cứu,cung cấp tài liệu trong quá trình học tập và viết luận văn; cảm ơn TSKH PhanXuân Dũng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường củaQuốc hội đã dành thời gian đọc và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho bảnluận văn
Xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ của Cơ quan Văn phòng Quốc hội,của Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
đã tạo điều kiện dành thời gian cho em học tập; cảm ơn các bạn bè, đồngnghiệp; các bạn của Lớp cao học khóa 15, 16 Thạc sĩ chuyên ngành Chínhsách Khoa học và Công nghệ đã động viên, giúp đỡ, chia sẻ khó khăn, đồnghành để đi đến kết quả hôm nay
Tác giả Luận văn
Trang 6Công nghệ sinh họcCông nghệ thông tinĐồng bằng sông HồngKhoa học và công nghệNghiên cứu khoa học
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Ngân sách nhà nướcNghiên cứu và triển khai
Ủy ban nhân dân
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xa xưa con người đã biết sử dụng sức lao động của mình để trồngtrọt và chăm sóc để tạo ra sản phẩm nuôi sống mình và cộng đồng, bảo đảmsinh tồn nòi giống Như vậy, phát triển nông nghiệp đã gắn với sự tồn tại vàphát triển của xã hội loài người Theo đó, chủ nghĩa “trọng nông” đã ra đời vàđược nhiều quốc gia coi trọng
Sản xuất nông nghiệp ngày nay không chỉ đơn thuần là cung cấp lươngthực, thực phẩm để nuôi sống con người, mà nhiều quốc gia lấy đó là thếmạnh để phát triển quốc gia mình, quan tâm chú ý tới sự đa dạng hóa các loạisản phẩm, làm cho sản phẩm ngày càng có giá trị về chất lượng, bảo đảm chocon người ăn, uống không chỉ có đủ dinh dưỡng mà ngày càng có chất lượng.Việt Nam hiện đang là nước nông nghiệp, với nền trồng lúa nước lâu đời,được tích lũy kinh nghiệm từ ngàn năm và đã trở thành quốc gia sản xuất lúagạo lớn vào bậc nhất thế giới Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp nước ta vẫnchủ yếu là dựa trên kinh nghiệm là chính, nên năng suất chưa cao, chất lượngthấp, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao trong nước
và xuất khẩu
Việc áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong sản xuấtnông nghiệp đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhưng kết quảmang lại chưa tương xứng với tiềm năng con người Việt Nam cũng như điềukiện thổ nhưỡng của nước ta Đứng trước yêu cầu phát triển nông nghiệp theohướng sản xuất hiện đại, chất lượng và hiệu quả, tăng tính cạnh tranh, khôngchỉ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đáp ứng nhu cầu xuấtkhẩu; bảo đảm hiệu quả sử dụng đất, nước, lao động; nâng cao thu nhập vàđời sống của nông dân đòi hỏi phải có những giải pháp và chính sách phù hợphơn
Trang 8Tuy trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chínhsách về đầu tư, quản lý, nghiên cứu và phổ biến KH&CN tiên tiến nhằm thúcđẩy nông nghiệp và nông thôn theo hướng hiện đại, nhưng đứng trước một thếgiới đầy biến động và KH&CN phát triển như vũ bão thì những chính sách đócần phải cập nhật liên tục và thay đổi kịp thời mới đáp ứng được.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, việc lựa chọn đề tài “Giải pháp
chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa” với
mục đích chỉ rõ những bất cập, tồn tại, hạn chế về chính sách, nhất là chínhsách về KH&CN trong nông nghiệp thông qua việc phản ảnh thực tế thựctrạng ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp ở vùng ĐBSH
để từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp mang tính thực tiễn và khoahọc
Trong phạm vi của một luận văn cao học, không thể giải quyết mộtcách tổng thể các vấn đề liên quan đến sản xuất nông nghiệp trên phạm vi cảnước, nên tác giả luận văn xin phép chỉ chọn ĐBSH làm đối tượng mang tínhđại diện cho mục tiêu nghiên cứu Việc lựa chọn này dựa trên các lý do sau:
- ĐBSH gồm 11 tỉnh, thành phố nằm trong khu vực sông Hồng mangnhiều nét truyền thống của văn hóa Việt Nam Đây được coi là cái nôi của văn
hoá - lịch sử dân tộc với việc trồng lúa nước và phát triển nông nghiệp
làng xã, giàu kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp
xuất truyền thống, về cơ bản vẫn lạc hậu, sản xuất mới chủ yếu đủ bảo đảm cuộcsống, hướng sản hàng hóa để vươn lên làm giàu của nông dân ở nhiều vùng củaĐBSH chưa rõ nét
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về nông nghiệp và nông thôn, cónhiều tác phẩm, cuốn sách, kết quả nghiên cứu của các đề tài về vấn đề này đãđược xuất bản và công bố như:
hơn 25 năm đổi mới để đề xuất những giải pháp chiến lược cho phát triển nôngnghiệp của nước ta Tổng thể về hướng đi của nền nông nghiệp nước ta trongtương lai là phải tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam theo hướng giá trị gia tăng cao1
nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam; đưa ra xu hướng phát triển trong mô hìnhtăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 – 2020, đồng thời đề xuất giải quyết nhữngvấn đề tồn tại đang đặt ra trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn2
nông nghiệp ứng dụng CNC3
có một cách nhìn riêng và đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của vấn đề làm rõthực trạng, nguyên nhân cốt lõi và đề xuất hướng đi ra khỏi vướng mắc của
nông nghiệp, nông dân, nông thôn đặt ra sau khi có Nghị quyết hội nghịTrung ương 7 (khóa X)4
Những công trình nghiên cứu trên đề cập quá rộng, mang tính tổng thể của cả nền nông nghiệp nước ta, giải quyết cho cả việc xây dựng và phát triển nông thôn mới, chính vì thế, để tập trung giải quyết vấn đề cụ thể tác giả
luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề cơ bản liên quan đến chính sách thúc
Trang 10NCKH và CGCN nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướngsản xuất hàng hóa ở vùng ĐBSH và có thể tham khảo lan rộng trong phạm vi
cả nước, đáp ứng yêu cầu về chất lượng cây trồng ngày càng cao của nhân dân
và xuất khẩu
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu: đề xuất giải pháp chính sách nhằmthúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ để nâng cao năngsuất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứusau đây:
giao công nghệ và mối quan hệ của chúng đến năng suất, chất lượng cây trồng theohướng sản xuất hàng hóa
khoa học, chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồngtheo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn khu vực ĐBSH
chuyển giao công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướngsản xuất hàng hóa trên địa bàn khu vực ĐBSH
4 Phạm vi nghiên cứu
CGCN nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hànghóa có tác động tới trồng trọt vùng ĐBSH
5 Mẫu khảo sát
Tác giả Luận văn đã tiến hành khảo sát:
Trang 11- 11 Trung tâm Khuyến nông thuộc các tỉnh ĐBSH;
6 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu đặt ra như trên, luận văn đặt ra câu hỏi nghiên cứu: Cần
phải có giải pháp chính sách gì nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Để thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nângcao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, cần cónhững giải pháp chính sách sau đây:
theo hướng hàng hóa
8 Phương pháp nghiên cứu
triển trồng trọt, tình hình nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tình hìnhđầu tư trong lĩnh vực trồng trọt trên địa bàn vùng ĐBSH từ các bộ, ngành, cơ quanquản lý nhà nước các cấp (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thông, Bộ Khoa học
và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, UBND một số tỉnh ĐBSH,Niên giám thống kê, v.v.)
+ Thu thập các tài liệu từ sách, các đề tài liên quan đã được công bố
- Phương pháp khảo sát thực tế: Trực tiếp tìm hiểu tình hình trồng trọt
của một số địa phương vùng ĐBSH
đề xuất chính sách nhằm thúc đẩy NCKH và CGCN nhằm nâng cao năng
Trang 12suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tại vùng Đồng bằng sông Hồng.
+ Các số liệu được tích hợp trực tiếp trong từng phần của luận văn, được trình bày dưới dạng bảng số liệu
phát triển nông nghiệp của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới để chứngminh
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương, bao gồm:
chuyển giao công nghệ đối với cây trồng ở vùng Đồng bằng sông Hồng
chuyển giao công nghệ theo hướng sản xuất hàng hóa ở Đồng bằng sông Hồng
12
Trang 13Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đếnnhững yếu tố sau đây:
chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị
pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà
chủ thể quyền lực mong đợi
quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phânbiệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xãhội nào đó
của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện cácmục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thốngtheo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời
khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm nhữngbất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối
Trang 14thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội).
đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể
quyền lực hoặc chủ thể quản lý
Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa:
Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.”
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểutheo những khía cạnh như sau:
thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chínhhoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị củachính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ củacác tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )
nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện mộtmục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhómgiáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học,nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi
nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạođộng cơ cho đối tượng chính sách
trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh
Trang 15doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triểncủa một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn
thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối táccảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vàođường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau
bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm
xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách
thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này
tới những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao
giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không cònphát triển
- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những
biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm
“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trunglập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồitệ” theo một nghĩa nào đó
Định nghĩa của Luận văn
Từ những quan niệm trên đây về chính sách, Luận văn sử dụng địnhnghĩa chính sách:
Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một/một nhóm mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển chung của xã hội.”
15
Trang 16Thuật ngữ “Nhà nước” trong định nghĩa trên đây được hiểu là:
các cấp;
các cấp;
khảo sát các văn bản của các cấp tòa án địa phương, Viện Kiểm sát nhân dân
các cấp
1.1.2 Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ
Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO)
đưa ra định nghĩa: “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp
và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt phát triển quốc gia và nâng cao vị thế quốc gia trên thế giới”.
Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tậphợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa làchính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hànhcác biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thicác biện pháp về KH&CN
Định nghĩa của Luận văn
Trên cơ sở tham khảo khái niệm chính sách mà Vũ Cao Đàm đã đưa ra,Luận văn xin đưa ra quan niệm về chính sách KH&CN như sau:
Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do Nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:
dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của
Trang 17chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạtđộng KH&CN.
- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá
nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN
hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế
-xã hội nói chung
1.1.3 Tác động của chính sách
chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu củachính sách Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chínhsách mong muốn đạt tới
Tuy nhiên, sau khi công bố một chính sách, không phải khi nào cũngchỉ có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính Tác động âm tínhxuất hiện là một tất yếu khách quan, hơn nữa, tác động âm tính chính là cơ sở
để suy xét ban hành những chính sách ngày càng có vai trò tích cực hơn trongquá trình phát triển xã hội Vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúngcác tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách
sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của
chính sách
chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự liệu của cơquan quyết định của chính sách Trong tác động ngoại biên, người ta lại có thể thấyxuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính
Tác động ngoại biên dương tính, là tác đông ngoại biên góp phần nâng
cao hiệu quả của chính sách [6;30]
Trang 18Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm
thiểu hiệu quả của chính sách
Một chính sách có thể làm xuất hiện một chuỗi tác động kế tục nhau.Các tác động này có thể dương tính, âm tính, ngoại biên Chính đây là nguyênnhân dẫn đến những tình huống phức tạp khi cân nhắc để quyết định mộtchính sách
khi chính sách được công bố Tác động trực tiếp có thể là dương tính, âm tính,ngoại biên
động trực tiếp Tác động nối tiếp có thể xuất hiện sau tác động trực tiếp một vàinăm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động nối tiếp cũng có thể làdương tính, âm tính, ngoại biên
- Tác động kế tiếp của chính sách: tác động kế tiếp diễn ra sau tác động
nối tiếp Tác động kế tiếp có thể xuất hiện sau tác động nối tiếp một vài năm, cũng
có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động kế tiếp cũng có thể là dương tính, âmtính, ngoại biên
động kế tiếp, cũng bao gồm: gián tiếp dương tính, gián tiếp âm tính, gián tiếpngoại biên
1.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học
1.2.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học
Để phân tích khái niệm nghiên cứu khoa học, trước hết Luận văn xinphân tích khái niệm khoa học
Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sựvận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy Tri thứckhoa học khác với tri thức kinh nghiệm, trong đó:
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích luỹ một cách rời rạc,
Trang 19thường là ngẫu nhiên từ trong đời sống hàng ngày Con người cảm nhận thếgiới khách quan từ khi chào đời, chịu sự tác động của thế giưói khách quan,buộc phải xử lý những tình huống xuất hiện trong tự nhiên, trong lao động vàtrong ứng xử Từ quá trình cảm nhận và xử lý các tình huống của con người,những hiểu biết kinh nghiệm được tích luỹ chuyển dần từ những hiểu biết vềtừng sự vật riêng lẻ đến những mối liên hệ mang tính hệ thống [5;19]
nhờ hoạt động Nghiên cứu khoa học , là hoạt động được vạch sẵn theo một mụctiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và được tiến hành dựa trên một hệ thốngphương pháp khoa học Tri thức khoa học được phát triển từ tri thức kinh nghiệm,nhưng nó không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm [5;19]
Về nghiên cứu khoa học, đã có những cách hiểu khác nhau:
Điều 2.4 Luật KH&CN (2000) quy định: “Nghiên cứu khoa học là
hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”.
Cách định nghĩa nghiên cứu khoa học trên đây là chưa đầy đủ, theoquan niệm của UNESCO, thì nghiên cứu khoa học bao gồm: nghiên cứu cơbản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai (toàn bộ chuỗi R&D) [6;21]
Luật KH&CN của Việt Nam (2013) đã định nghĩa “khoa học là hệ
thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” [9; Điều 3].
Điều 3.4 Luật KH&CN (2013) định nghĩa “Nghiên cứu khoa học là
hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.”
Quan niệm của Luận văn:
kiếm những điều mà khoa học chưa biết, chưa nói tới để củng cố phát triển tri
19
Trang 20thức, phục vụ cho việc phát triển khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế.Bao gồm: hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ (nghiên cứu
cơ bản và nghiên cứu ứng dụng), hoạt động thử nghiệm (sản xuất thửnghiệm)
khách quan, góp phần làm giàu tri thức của nhân loại và để cải tạo thế giới, khámphá, tìm kiếm, sáng tạo các giá trị nhận thức mới, phương pháp mới, công nghệmới để tăng năng suất lao động, cải tạo xã hội, hoàn thiện nhân cách, phát triển nềnvăn minh nhân loại, góp phần nâng cao dân trí, tăng cường nhận thức, phát huy cácnăng lực sáng tạo để xây dựng, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của cộng đồng
1.2.2 Phân loại kết quả nghiên cứu khoa học
Để phân tích khái niệm kết quả nghiên cứu, trước hết cần phân loại kếtquả nghiên cứu Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học, nhưng thôngthường phân theo ba loại sau:
nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật, tương tác trong nội bộ sựvật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác Sản phẩm có thể là khám phá,phát hiện, phát minh, hình thành một hệ thống lý thuyết ;
nghiên cứu cơ bản đề giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giảipháp và ứng dụng vào sản xuất, đời sống (có thể là giải pháp về công nghệ, về vậtliệu, về tổ chức quản lý );
thực nghiệm hoặc triển khai thực nghiệm kỹ thuật, là sự vận dụng các quy luật (từnghiên cứu cơ bản) và nguyên lý (từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫuvới những tham số khả thi về kỹ thuật, khái niệm triển khai được áp dụng cả trongnghiên cứu khoa học kỹ thuật và trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.[6;17]
20
Trang 211.3 Cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ
1.3.1 Khái niệm công nghệ
Trên thế giới có nhiều cách định nghĩa về công nghệ Nhìn chung, cóthể hiểu công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Nhưvậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc,nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người.Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học
và kỹ nghệ Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đềthực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình Tuỳ vàotừng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:
- Là các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề;
Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương(ESCAP) định nghĩa: Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹthuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết bị,phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấpdịch vụ
Luật CGCN (2006) và Luật KH&CN (năm 2013) đã định nghĩa: "Công
nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”[10; Điều 3], [9;
Điều 3]
1.3.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Về bản chất, ta hiểu rằng CGCN là sự dịch chuyển toàn bộ, hoặc mộtphần công nghệ từ nhóm người này sang nhóm người khác
Tuy CGCN không phải là một hiện tượng mới, nhưng khái niệm vềCGCN mới chính thức được luật hóa ở Việt Nam từ năm 2000 trong Luật
Trang 22KH&CN (2000) Trong nhiều thập kỷ gần đây, hoạt động CGCN đã đượcnhiều quốc gia trên thế giới quan tâm phát triển rộng khắp trên tất cả các lĩnhvực với các mức độ khác nhau, cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Trước đây, CGCN xảy ra như là kết quả của các hoạt động nhằm chốngchọi với thiên nhiên để sinh tồn, việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên đượctiến hành một cách trực tiếp, rồi phát triển lên thành quy mô giữa các lãnhthổ, các quốc gia và giao lưu với nhau bởi các quan hệ chính trị, kinh tế, kinh
tế, thương mại, nhưng CGCN chỉ là các hệ quả của quá trình đã được thựchiện một cách ngẫu nhiên và không được vật chất, tiền tệ hoá dưới các hình
thức giao dịch đặc biệt Ngày nay, CGCN trở thành một hoạt động có tính
quy luật khách quan, mà kết quả của quá trình này là các sản phẩm, là hàng hoá để trao đổi buôn bán [3; 12].
Hiện nay, hoạt động CGCN thường được thực hiện với sự tham gia củacác tổ chức, cá nhân (nhà khoa học, các tổ chức môi giới, tư vấn ), có thể là
từ chính phủ hoặc phi chính phủ, doanh nghiệp Bởi lẽ: CGCN là một lĩnh
vực hoạt động nhằm đưa những công nghệ từ nơi có nhu cầu giao công nghệ đến nơi có nhu cầu nhận công nghệ, từ nơi có công nghệ trình độ cao hơn đến nơi có công nghệ trình độ thấp hơn một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia [3; 12].
Trước đây, Việt Nam quan niệm CGCN một cách đơn giản như là việc
áp dụng tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất vàđời sống Cách hiểu này chưa đầy đủ, vì quá trình CGCN không chỉ thuần tuý
là việc áp dụng một cách máy móc những công nghệ đã có sẵn, mà cần có sựhiểu biết về công nghệ có kiến thức và năng lực, có quan hệ về sở hữu trí tuệ,quyền đối với sáng chế
Ngày nay, với vai trò và vị trí quan trọng ngày càng cao của CGCN,
nên đã được Luật hóa trong Luật CGCN như sau: “CGCN là chuyển giao
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên
có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ” [10; Điều 3] CGCN không chỉ
được thực hiện từ nước ngoài vào Việt Nam mà còn diễn ra trong phạm vi
Trang 23lãnh thổ Việt Nam giữa các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN và CGCN từViệt Nam ra nước ngoài.
Chính vì vậy việc đổi mới, nâng cao hàm lượng công nghệ trong sảnphẩm đối với các ngành sản xuất đang là một nhu cầu bức thiết, đòi hỏi phảixác định rõ trách nhiệm của các bên tham gia CGCN, mối quan hệ giữa các
cơ quan quản lý nhà nước các cấp với các doanh nghiệp, cơ sở R&D theonhững thủ tục và quy định của pháp luật
Để phù hợp với thực tế, hệ thống các quy định pháp luật về CGCN ởViệt Nam đã từng bước được bổ sung và hoàn thiện, phạm vi điều chỉnh được
mở rộng tới các ngành, lĩnh vực, trong đó, công tác NCKH và CGCN trongnông nghiệp nói chung, trong trồng trọt nói riêng cũng được đặc biệt chútrọng
1.3.3 Chính sách chuyển giao công nghệ
Theo quy định tại Điều 5 của Luật CGCN (2006) thì chính sách củaNhà nước đối với hoạt động CGCN là:
chức, cá nhân hoạt động chuyển giao công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển nhanh
và bền vững kinh tế - xã hội của đất nước.
- Ưu tiên phát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến; phát triển nguồn nhân lực công nghệ đồng bộ với đầu tư đổi mới công nghệ.
động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ; đẩy mạnh việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.
nghệ ở vùng nông thôn, miền núi; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chuyển giao công nghệ ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hợp tác quốc tế trong hoạt động chuyển giao công nghệ.
Trang 24Điều 9 của Luật CGCN (2006) cũng quy định công nghệ được khuyến
khích chuyển giao, trong đó khuyến khích “tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh
tranh cao; tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới”.
Thời gian qua, chính sách CGCN đã được Nhà nước ta ban hành thôngqua chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đãnêu những vấn đề lớn về phương hướng, mục tiêu và chiến lược phát triểnKH&CN Các văn bản quy phạm pháp luật đã thể chế hóa quan điểm này,trong đó có các văn bản điều chỉnh toàn diện các nội dung, hoạt động có liênquan đến CGCN
1.4 Tác động của chính sách (đã phân tích) đến năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa
1.4.1 Hệ thống chính sách đã ban hành
Quốc hội đã ban hành Luật Khoa học và công nghệ (năm 2000 và đượcsửa đổi năm 2013), Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (năm 2007), LuậtChuyển giao công nghệ (năm 2006), Luật Công nghệ cao (năm 2008), Luật
Đa dạng sinh học (năm 2008), Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (năm 2013)
và nhiều đạo luật quan trọng khác đã tạo điều kiện thúc đẩy ứng dụng kết quảnghiên cứu vào nông nghiệp Trên cơ sở các luật, Chính phủ đã ban hànhnhiều văn bản pháp quy, các giải pháp để thực hiện phù hợp với từng vùng,từng thời kỳ, từng giai đoạn, trong từng điều kiện cụ thể
Bên cạnh đó, Bộ KH&CN, Bộ NN&PTNT cũng đã ban hành các vănbản hướng dẫn cải thiện hệ thống nghiên cứu và CGCN bằng các cải cáchtrong quản lí, tổ chức bộ máy Các nỗ lực này đã đạt được những kết quảđáng kể: cải tiến một bước bộ máy tổ chức ở cả khu vực nghiên cứu và khuvực CGCN, đồng thời cải tiến mạnh các thủ tục có liên quan về quản lý khoahọc, vốn, thanh quyết toán… giúp nâng cao đáng kể hiệu quả của các công tácnày, trong đó phải kể đến các nhón chính sách:
và CGCN;
Trang 25- Chính sách về đầu tư và kinh phí cho phát triển KH&CN nhằm hỗ trợ phát triển nghiên cứu và chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu ;
trong thời gian gần đây tác động tích cực đến số lượng và chất lượng nguồn nhânlực, nhân lựcKH&CN;
pháp lý hỗ trợ cho CGCN;
sản xuất nông nghiệp Trước hết đó là việc đổi mới quản lý sử dụng đất nôngnghiệp đã tạo điều kiện tốt hơn cho nông dân trong ứng dụng kết quả nghiêncứu vào sản xuất nông nghiệp (như giao quyền sử dụng ruộng đất, dồn điềnđổi thửa, miễn giảm thuế đất nông nghiệp…)
Định hướng phát triển nông nghiệp nước ta đến năm 20205 đã chỉ rõ
“Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài”, trong đó xác định trồng trọt cần phát triển ngành sản xuất lúa
gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn có hiệu quả và đảm bảo an ninhlương thực (đảm bảo sản xuất và kinh doanh lúa gạo và xuất khẩu có lợinhuận cao, đảm bảo sản lượng lúa đến năm 2020 đạt hơn 41 triệu tấn lúa trêndiện tích canh tác 3,7 triệu ha); phát triển cây trồng hàng hóa có khả năngcạnh tranh mạnh, hiệu quả cao phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu;phát triển hợp lý các loại cây trồng có lợi thế cạnh tranh trung bình hoặc thấp,thay thế nhập khẩu
Đối với cây trồng áp dụng công nghệ biến đổi gen, tiến hành thửnghiệm và chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở những nơi thích hợp, trước hết ápdụng với cây trồng không trực tiếp sử dụng làm thực phẩm cho người như cây
có sợi, cây lấy dầu công nghiệp, cây trồng làm nguyên liệu thức ăn gia súc màthế giới đã áp dụng rộng rãi Đối với những cây trồng mới trong tương lai mà
5 Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 – 2020
Trang 26thị trường có nhu cầu như cây trồng làm nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinhhọc (chú trọng diesel sinh học), cây trồng làm vật liệu xây dựng, làm giấy, gỗ
và lâm sản, cây dược liệu cần tiến hành trồng khảo nghiệm và sản xuất thử.Nếu có triển vọng thì mở rộng sản xuất hướng vào những vùng kém thíchnghi với các cây trồng cổ truyền hiện nay (các vùng đất trống đồi núi trọc,vùng ven biển, vùng khô hạn,…)
Định hướng phát triển KH&CN 2011 - 2020 của Nhà nước ta6 cũng đãxác định ưu tiên nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả CNSH; tạo các giống câytrồng có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao; bảo tồn và lưu giữnguồn gen quý hiếm
1.4.2 Đánh giá tác động của chính sách đến năng xuất, chất lượng
cây trồng
Hệ thống chính sách khuyến khích, thúc đẩy NCKH và CGCN trongnông nghiệp đã có nhiều đổi mới tạo điều kiện cho những chuyển biến tíchcực của nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, hệ thống chínhsách này bên cạnh những ưu điểm rất đáng ghi nhận, trên thực tế cho đến nayvẫn còn khá nhiều bất cập, có nhiều điểm cần phải tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa
để phù hợp với tình hình phát triển của sản xuất nông nghiệp trong bối cảnhhội nhập quốc tế để đẩy mạnh phát triển NCKH và CGCN một cách thực sựhiệu quả và bền vững Về cơ chế, chính sách vĩ mô hiện đang tồn tại nhữngbất cập lớn dưới đây:
a Chính sách tài chính
Các định mức chi tiêu các khoản mục hiện nay chỉ qui định chung chotất cả các loại đề tài, dự án; không có các định mức riêng cho các khoản mụccủa dự án mô hình nông thôn Ðiều này thật sự gây khó khăn trong thực hiện,
vì tính chất công việc của các loại đề tài và mô hình rất khác nhau Kinh phí
hỗ trợ cho hoạt động xây dựng mô hình ứng dụng KH&CN không đượcchuyển trực tiếp đến cơ quan khoa học, mà phải đi qua một con đường vòng
từ Bộ Tài chính về Sở Tài chính rồi mới tới cơ quan KH&CN Như vậy khi
6 Quyết định số 418/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020
Trang 27kinh phí đến được mô hình thường bị quá thời vụ sản xuất, việc thanh quyếttoán các khoản chi cho dự án cũng là một cản trở lớn (đơn vị CGCN nếu muagiống cây trồng, vật nuôi của cơ quan khoa học sẽ gặp khó khăn hơn về cấpchứng từ, hóa đơn thanh toán so với mua của đơn vị kinh doanh, làm ảnhhưởng nhiều tới hoạt động CGCN).
b Chính sách về nhân lực KH&CN
Chính sách cán bộ như hiện nay chưa khuyến khích được nhân lựcKH&CN tình nguyện về nông thôn công tác; chưa khuyến khích được cơquan, tổ chức, nhà nghiên cứu đầu tư cho NCKH và CGCN vào địa bàn nôngthôn, cho nên rất khó áp dụng nhanh các thành tựu KH&CN vào sản xuất
Việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương có lúc thiếu chặt chẽ;thiếu cơ chế gắn kết, lồng ghép, phối hợp giữa các chương trình, dự án trênmột địa bàn, nhất là các hoạt động khuyến nông, CGCN
Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý, thực hiện dự án CGCN tại cácđịa phương, cơ sở có nơi còn yếu Công tác cải cách thủ tục hành chính chưađáp ứng được yêu cầu
d Các chính sách liên quan khác
Các chính sách liên quan khác cũng tác động nhiều tới kết quả NCKH
và CGCN trong nông nghiệp như:
luật được ban hành quá nhiều nhưng tính ổn định của văn bản chưa cao, nhiềunội dung trong các nghị định, thông tư sửa đổi, bổ sung nhiều lần hoặc bị thaythế bởi văn bản khác, gây khó khăn trong triển khai thực hiện7; các quy định về
7 Các quy định liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản; chính sách tài chính đất đai liên quan đến đền bù, giải
Trang 28quy trình lập dự án, tổ chức quản lý dự án, tổ chức đấu thầu xây dựng, tổ chứcgiám sát áp dụng cho các công trình đầu tư quy mô nhỏ ở nông thôn cũng nhưyêu cầu về thủ tục, hồ sơ còn phức tạp, chưa thực sự phù hợp8 và so với nănglực cán bộ cơ sở còn hạn chế.
trong sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đã ảnh hưởng quá
trình mở rộng ruộng đất để tạo ra những vùng sản xuất chuyên canh lớn cóđiều kiện áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượngsản phẩm cho nông nghiệp
Về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, đến nay một số loại đất đã hếtthời hạn nhưng Nhà nước chưa có chủ trương, quyết định cụ thể nên nông dânkhông yên tâm mạnh dạn đầu tư
vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn theo Quyếtđịnh số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 và Quyết định số 2213/QĐ-TTg
ngày 31/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định thời hạn hỗ trợ lãi suấtquá ngắn nên các hộ nông dân nghèo không có khả năng hoàn vốn đúng hạn;điều kiện, thủ tục cho vay chặt chẽ hơn so với điều kiện, thủ tục cho vaythông thường (chỉ hỗ trợ đối với các khoản vay để mua hàng hóa sản xuấttrong nước; phải có xác nhận của UBND cấp xã về đối tượng và mục đích sửdụng vốn vay…) nên khả năng tiếp cận nguồn vốn của nông dân rất hạn chế.Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư về nông thôn theo Nghị định
số 61/2010/NĐ-CP chưa đủ hấp dẫn, thủ tục giải ngân kinh phí hỗ trợ cònphức tạp nên chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp; chính sách hỗ trợ tíndụng cho nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP còn bất cập, khả năngtiếp cận các nguồn vốn vay của người sản xuất nhất là đối với nguồn vốntrung, dài hạn chưa đáp ứng được yêu cầu
phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư cho người dân có đất bị thu hồi
8 Cụ thể là các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn ở địa phương hầu hết có quy mô nhỏ, nhưng yêu cầu về thủ tục, hồ sơ còn phức tạp, chưa phù hợp.
Trang 29Về quan điểm phát triển nông nghiệp, Nghị quyết Đại hội X của Đảng
(năm 2006) đã khẳng định “tiếp tục thực hiện Nghị quyết BCH Trung ương
lần thứ 5 khóa IX (năm 2002) về đẩy nhanh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn“ [16]; Nghị quyết số 26-NQ/TƯ của BCH Trung ương 7 (khóa X)
về “nông nghiệp – nông dân – nông thôn“ đã tiếp tục khẳng định “nông
nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH đất nước, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân“ [17].
Vì thế, vấn đề nông nghiệp, nông thôn đang và sẽ có tầm chiến lượcđặc biệt quan trọng Chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp CNH nôngnghiệp và nông thôn theo hướng xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn,
đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năngcạnh tranh cao, phấn đấu tăng giá trị tăng thêm trong nông nghiệp đạt từ 3–3,5%/năm [17]; góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông nghiệp, nôngthôn, giữa các vùng, miền trong cả nước và góp phần ổn định kinh tế - xã hội
Như vậy, trong 5 năm qua từ 2006–2011, nông nghiệp nước ta đượcphát triển với sự tác động mạnh mẽ của chính sách và chủ trương của Đảng,trên cơ sở đó Quốc hội đã cụ thể hóa thành các đạo luật, Chính phủ, Thủtướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện Đây lànhững thuận lợi rất cơ bản cho nền nông nghiệp nước ta
Tuy nhiên, bước vào giai đoạn mới của sự phát triển theo chiều sâu thìvẫn còn nhiều khó khăn, thách thức Với tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh,rộng, thiếu quy hoạch một cách kỹ lưỡng nên diện tích đất nông nghiệp đã bịthu hẹp Không những thế do tập quán sản xuất lạc hậu, nên đất nông nghiệp
bị chia nhỏ trở nên manh mún Lao động nông nghiệp ở nhiều địa phươngkhông có nghề phụ, thời gian nông nhàn lớn; môi trường đất, nước bị ônhiễm, thiếu các giải pháp kỹ thuật với công nghệ cao trong canh tác… dẫnđến sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh chưa cao Từ năm 2007, ViệtNam trở thành thành viên chính thức của WTO, bên cạnh những thuận lợi về
Trang 30thị trường xuất, nhập khẩu nông sản, vật tư nông nghiệp được mở rộng thìcũng xuất hiện nhiều khó khăn mới như ta phải giảm thuế nhập khẩu hàngtrăm mặt hàng nông sản theo lộ trình của WTO, yêu cầu cạnh tranh trên thịtrường nông sản gay gắt hơn Mặt khác, sự tác động của suy thoái kinh tế thếgiới và trong nước những năm qua cũng đã đẩy giá cả phân bón, vật tư nôngnghiệp không ổn định, gây khó khăn cho nông dân.
Những vấn đề nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nôngnghiệp nước ta, nhất là đối với ngành trồng trọt khi mà đòi hỏi năng suất vàchất lượng ngày càng cao
Lịch sử phát triển thế giới cho thấy, nông nghiệp đóng vai trò quantrọng trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia Đã có nhiều trường phái pháttriển kinh tế, xã hội trong đó có trường phái đề cao vai trò của nông nghiệp(trường phái “trọng nông”), coi nông nghiệp là cơ sở hay tiền đề cho quá trìnhcông nghiệp hóa, các nhà khoa học của trường phái này [11; 9] đã cho rằng,việc xây dựng một nền nông nghiệp vững mạnh và năng động sẽ là một nhân
tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp phát triển và sự tăng trưởng của toàn bộnền kinh tế Theo đó, nông nghiệp có 5 vai trò quan trọng, đó là: (1) cung cấplương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước; (2) xuất khẩu nông sản để thungoại tệ; (3) tạo nguồn lao động cho khu vực công nghiệp; (4) mở rộng thịtrường nội địa cho sản phẩm công nghiệp và (5) tăng nguồn tiết kiệm ở trongnước để tạo vốn cho phát triển công nghiệp [11; 9]
Như vậy, theo trường phái “trọng nông” thì sự phát triển công nghiệpkhông thể thiếu sự tích lũy thành quả từ nông nghiệp, trước hết đó là sự tạo rasản phẩm trực tiếp để nuôi sống loài người, nuôi sống công nhân làm việc chocác nhà máy, công xưởng, sự thành công của công nghiệp không thể không có
sự hậu thuẫn của nông nghiệp
dân sống ở nông thôn nên vai trò của nông nghiệp luôn được chú trọng, đã tạo ranhững kinh nghiệm rất quý báu Từ xa xưa, tổ tiên ta đã biết đắp đê ngăn mặn,ngăn lũ lụt để canh tác, tạo nên một nghề truyền thống gắn liền với lịch
Trang 31sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôncoi phát triển nông nghiệp gắn với phát triển bền vững đất nước Tuy hiện nayđang trong quá trình CNH, HĐH đất nước thì công nghiệp và dịch vụ ngàycàng chiếm tỷ trọng cao, nhưng vấn đề an ninh lương thực vẫn phải được coitrọng Cũng chính vì vậy, nên đã có thời điểm nông nghiệp trở thành cứu cánhcho nền kinh tế lúc khó khăn, trong khủng hoảng nhiều năm Với nhiều chínhsách đúng đắn của Đảng, đặc biệt là chính sách khoán 10, nông nghiệp nước
ta đã phát triển đưa nước ta từ nước thiếu đói đến quốc gia xuất khẩu lúa gạolớn vào bậc nhất thế giới
Kết luận Chương 1
Việt Nam đang trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhưng xác địnhvai trò của nông nghiệp là rất quan trọng Phát triển nông nghiệp trong thờigian tới chính là cần đề ra những chính sách hợp lý tạo sức bật cho nôngnghiệp nước ta phát triển nhanh, có năng suất cao, chất lượng tốt và bền vững.Định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng CNC đã được Nhà nước xácđịnh và chỉ rõ trong những năm tới Chính sách về KH&CN không chỉ có tácdụng trong lĩnh vực nông nghiệp mà chính sách này còn có tác động trongphạm vi rộng hơn tới sự phát triển chung của kinh tế - xã hội, tác động tới cácngành, lĩnh vực khác, tạo ra sự tin tưởng của người dân
Để khắc phục những tồn tại hiện nay, cần lưu ý nguyên nhân của cáctồn tại khách quan và chủ quan; các yếu tố liên quan đến chính sách như việc
tổ chức chỉ đạo thực hiện, tính đồng bộ và thực tiễn của chính sách, khả năngđầu tư của Nhà nước cho việc thực hiện chính sách, các chế tài liên quan đếnviệc thực hiện chính sách…
Việc khắc phục những tồn tại trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao
và ứng dụng kết quả nghiên cứu trong sản xuất nông nghiệp cần rất nhiều cácgiải pháp khác nhau, trong đó giải pháp hoàn thiện chính sách khuyến khích,thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu trong sản xuất nôngnghiệp mang tính lý luận và thực tiễn cao
Trang 32CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI
CÂY TRỒNG Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
2.1 Khái quát về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vùng Đồng bằng sông Hồng
2.1.1 Đặc điểm khái quát về Đồng bằng sông Hồng
Vùng ĐBSH có 11 tỉnh, thành phố, bao gồm Thủ đô Hà Nội và vùngkinh tế trọng điểm Bắc bộ diện tích tổng cộng khoảng 16.640 km², là địa bànđặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế và xã hội, vùng kinh tế lớn thứ hai củanước ta ĐBSH có đất đai màu mỡ, có nhiều lợi thế về nông nghiệp, nhiệt độkhông khí trung bình của vùng khoảng 22,5-23,5°C/năm, lượng mưa trungbình năm 1400-2000mm/năm
ĐBSH có mật độ dân cư cao, gấp 3,58 lần so với bình quân chung của
cả nước (949 người/km2) Diện tích đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủysản chiếm 5,4% diện tích cả nước9 Mặc dù diện tích đất nông nghiệp/hộ thấpnhất cả nước (459m2/hộ), nhưng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản chiếmgần 18%, trong đó sản lượng lúa chiếm 16,5% của cả nước Vì vậy, phát triểnnông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSH có ý nghĩa rất quan trọng trong sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước
Thực hiện Nghị quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế
hướng đến năm 2020, vùng ĐBSH đã được định hướng và đầu tư khá toàn
diện, cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cấp, về cơ bản phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển
9 Theo Tổng cục Thống kê, diện tích đất trồng cây hàng năm của ĐBSH là 689.940 ha, trong đó đất trồng lúa
là 619.950 ha.
Trang 33Giai đoạn 2006 – 2010, bằng các nguồn vốn khác nhau (ODA, ngânsách nhà nước, trái phiếu Chính phủ), phần lớn hệ thống thủy lợi hiện cótrong vùng đã được cải tạo, nâng cấp, từng bước hiện đại hóa như hệ thốngthủy lợi Bắc Hưng Hải, Bắc Nam Hà, sông Nhuệ, An Kim Hải, Bắc Đuống;các trạm bơm, hệ thống đê sông, đê biển, hồ chứa nước được tu bổ, cải tạonâng cấp và đầu tư xây dựng mới; các tuyến đê sông Hồng trên địa bàn thànhphố Hà Nội và ở các địa phương trong vùng đã và đang tiếp tục cứng hóa đểđáp ứng nhu cầu cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp.
Bảng 2.1: Giá trị sản phẩm trồng trọt thu được/ha đất trồng trọt của
2.1.2 Mạng lưới nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vùng
Đồng bằng sông Hồng
ĐBSH là trung tâm lớn về kinh tế, KH&CN, nơi tập trung nhiều trườngđại học, các cơ sở nghiên cứu khoa học, các trung tâm, chuyển giao, ứng dụngKH&CN, nơi có nhiều cán bộ KH&CN làm việc Trong vùng, trên địa bàn HàNội có khoảng 80 trường đại học, cao đẳng, hơn 113 cơ quan, viện nghiêncứu Theo thống kê, số lượng giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học
Trang 34đang sinh sống, làm việc tại Hà Nội chiếm khoảng 65% tổng số các nhà khoahọc trong cả nước Hà Nội tập trung tới 14/17 phòng thí nghiệm trọng điểmquốc gia Từ năm 1993 đến nay đã có gần 400 tổ chức đăng ký hoạt độngKH&CN thông qua Sở KH&CN Hà Nội10.
thực hiện các nhiệm vụ KH&CN mà UBND tỉnh, thành phố và Trung ương giao.Các trung tâm ứng dụng KH&CN (thuộc ngành KH&CN), trung tâm
khuyến nông (thuộc ngành NN&PTNT) đều hỗ trợ đắc lực cho CGCN và tiến
bộ kỹ thuật mới tới nông dân ở các địa bàn trong vùng
Bên cạnh đó, có một lực lượng đông đảo các cơ sở nghiên cứu triểnkhai của các tổ chức KH&CN đặt tại các địa phương Riêng khối nông nghiệpcủa Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam đã có tới 18 viện trực thuộc Vềlĩnh vực thủy lợi, có tới 8 viện, 38 trường, 18 hiệp hội và 19 hội chuyênngành; về lĩnh vực công nghiệp cũng có tới hàng chục đơn vị về thương mại,
hỗ trợ đầu tư Thông qua các tổ chức KH&CN của mình, đội ngũ các nhàkhoa học sinh sống ở Hà Nội và các tỉnh đã tham gia vào việc hỗ trợ cho nôngdân ĐBSH tiếp cận với KH&CN và tiến bộ kỹ thuật mới
2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nổi bật trong trồng trọt vùng Đồng bằng sông Hồng
2.2.1 Các hình thức chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng
Chuyển giao công nghệ trong trồng trọt ở ĐBSH hiện nay, phổ biến là theo hình thức trực tiếp với các hình thức chủ yếu sau:
thức này được dùng khá phổ biến ở nhiều nơi, nhiều vùng Ðiểm nổi bật củahình thức này là nông dân phải tự thực hành việc sản xuất theo công nghệ mớibằng kiến thức tiếp thu được trên lớp và tự chịu trách nhiệm về kết quả sảnxuất của chính mình
10 Theo Ts.Lê Xuân Rao, Giám đốc Sở KH&CN Hà Nội, Kỷ yếu Hội nghị KH&CN các tỉnh vùng ĐBSH lần thứ VIII (2009-2011), Vĩnh Phúc, tháng 4-2011.
Trang 35- Hướng dẫn tại chỗ: Hình thức này thường được áp dụng cho nơi trình
độ tiếp thu của người dân còn có hạn; hoặc áp dụng ở những dự án đưa cây trồng,vật nuôi hoàn toàn mới lạ vào sản xuất tại địa phương Cán bộ KH&CN hướng dẫnnông dân sản xuất theo phương pháp mới, khoa học, sau đó bà con sẽ tự làm, ápdụng
được áp dụng cho việc hướng dẫn trồng trọt một loại cây mới Toàn bộ công việcthường được khoán gọn theo một mức giá thoả thuận
cùng tham gia: Hướng dẫn từng khâu, từng công đoạn và để cho nông dân
học hỏi, cùng tham gia vào quá trình CGCN Hiện nay nhiều chương trình đã
áp dụng phương pháp này và nó được nâng lên như những thí dụ điển hìnhcủa phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của người dân
thông tin đại chúng phối hợp với cơ quan khoa học xây dựng các chương
trình giới thiệu từng phần hoặc đầy đủ các công nghệ trồng trọt, chế biến, bảoquản nông sản Hình thức này tuy mới hình thành nhưng thu hút được sự chú
ý của đông đảo nhân dân và bước đầu hứa hẹn nhiều triển vọng tốt
2.2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học nổi bật trong trồng trọt vùng Đồng bằng sông Hồng
Những kết quả về KH&CN nổi bật trong thời gian gần đây phục vụ chophát triển nông nghiệp vùng ĐBSH là việc chọn tạo thành công và đưa vàosản xuất một số giống lúa lai và giống lúa thuần ngắn ngày cho vùng thâmcanh; các giống lúa có chất lượng cao; các giống cây màu (lạc, đậu tương,khoai tây, khoai lang) phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng và các giốngrau (cà chua, dưa chuột lai) phục vụ cho ăn tươi và chế biến xuất khẩu Rấtnhiều giải pháp công nghệ và biện pháp kỹ thuật tiên tiến có hiệu quả caocũng đã được giới thiệu và áp dụng vào sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSH
Trang 36a Kết quả nghiên cứu về cây lúa
Hiện nay xu thế chung của sản xuất lúa gạo nước ta nói chung và ởĐBSH nói riêng là chuyển từ giống dài ngày sang dùng giống ngắn ngày,giống chất lượng cao với mục tiêu là giảm chi phí lao động, đáp ứng nhu cầuthị trường và hiệu quả kinh tế Trong những năm qua, trên địa bàn ĐBSH, các
tổ chức KH&CN đã chọn tạo và giới thiệu cho sản xuất nhiều giống lúa cótính thích ứng rộng và hiệu quả kinh tế cao, được nhân dân ở nhiều địaphương áp dụng và nhân rộng Đó là:
vụ màu vùng ĐBSH: Có thời gian sinh trưởng ngắn (từ 100-110 ngày), chất lượnggạo ngon, năng suất cao (từ 60-75 tạ/ha), trồng cho cả 2 vụ xuân và mùa, chốngchịu sâu bệnh tốt; thích ứng được với các vùng sinh thái của ĐBSH; có khả năngchịu hạn, chống chịu sâu bệnh cao
phẩm đã nghiên cứu và làm chủ được công nghệ chọn thuần và nhân dòng bố mẹphục vụ cho công tác chọn tạo giống lúa lai Các giống lúa lai mới tạo ra trongnước có năng suất tương đương so với các tổ hợp lúa lai của Trung Quốc nhập nội,nhưng có chất lượng gạo cao hơn và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn
Cùng với công tác về giống thì kỹ thuật gieo trồng cũng được cải tiếnđáng kể Hiện nay trên một số địa phương như thành phố Hà Nội và các tỉnhnhư Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định đã và đang triểnkhai mở rộng kỹ thuật lúa gieo thẳng giúp cho thời gian sinh trưởng của lúarút xuống từ 7 đến 10 ngày, tạo điều kiện thuận lợi bố trí thời vụ, chuyển đổi
cơ cấu cây trồng Kỹ thuật này cũng giúp cho nông dân thay đổi tập quán sảnxuất, giải phóng sức lao động trong nông thôn, tiết kiệm công lao động nênhiệu quả sản xuất cao
36
Trang 37b Kết quả nghiên cứu về cây đậu, đỗ
Chủ yếu ở ĐBSH là trồng cây lạc và cây đậu tương có khả năng chống
chịu bệnh tốt, thích hợp cho các vùng trồng lạc chủ yếu và vùng trồng lạc
thâm canh ở ĐBSH
Với cây đậu tương, đã chọn tạo được một số giống đậu tương có thời
gian sinh trưởng ngắn (dưới 90 ngày) thích hợp cho việc trồng xen canh vụ
đông và các giống có thời gian sinh trưởng trung bình có năng suất đạt 15-30
tạ/ha, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp cho việc luân canh và
chuyển đổi cơ cấu cây trồng Đậu tương là cây trồng chủ lực cung cấp protein,
dầu ăn có vai trò quan trọng như các cây ăn hạt chủ lực như lúa, ngô nhu
cầu ngày càng tăng để đáp ứng thức ăn cho người, gia súc và thủy sản Năm
2007 Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 2,5 triệu tấn quy hạt11
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng
đậu tương qua các năm Năm
Trước thực trạng đất sản xuất tại nhiều vùng ĐBSH đã và đang bị khai
thác quá mức thì việc nghiên cứu, áp dụng kết quả nghiên cứu về giống, về kỹ
thuật canh tác, cùng với các giải pháp từ chính sách của Nhà nước sẽ đưa cây
đậu tương có vị trí vững chắc trong cơ cấu kinh tế, trong luân canh, tăng vụ
giữa các cây trồng phù hợp điều kiện sản xuất của ĐBSH, góp phần cải tạo
đất bạc màu hiện nay
11 Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT, Báo cáo năm 2007
Trang 38c Kết quả nghiên cứu về cây hoa
Ước tính cả nước có khoảng 13.400 ha hoa, cây cảnh, trong đó các tỉnhmiền Bắc (mà tập trung chủ yếu ở ĐBSH) có tới 6.400 ha, miền Nam có 7.000
ha, thu nhập bình quân trồng hoa, cây cảnh ở cả nước là 72 triệu đồng/ha/năm.Những nơi có diện tích hoa tập trung và trồng với quy mô lớn (xã Tây Tựu,huyện Mê Linh) thu nhập trồng hoa từ 230-250 triệu đồng/ha/năm Đặc biệt có
mô hình (quy mô 2-10 ha) thu nhập đạt tới 350 triệu đồng/ha/năm (như trồng hoatrong nhà lưới ở Bình Lục, Hà Nam) Những nơi trồng theo kiểu quảng canh, thìthu nhập chỉ đạt 40-60 triệu đồng/ha/năm Như vậy, nếu có kỹ thuật canh tác tốt,thu nhập từ trồng hoa có thể cao hơn so với trồng lúa từ 9 - 10 lần, nhiều hộ giađình có thu nhập cao (từ 60-120 triệu đồng/hộ/năm)12
Thị trường tiêu thụ hoa - cây cảnh chủ yếu là ở nội địa (chiếm 80% sảnlượng), còn lại là dành cho xuất khẩu Các loại hoa chủ yếu là hồng, cúc, lily,địa lan, hồng môn, lay-ơn, đồng tiền, ly, loa kèn
d Kết quả nghiên cứu về rau quả
Trong các loại rau ăn quả, một số loại cây có giá trị kinh tế cao như: Càchua, dưa chuột, dưa hấu, ớt ngọt đã được nông dân một số địa phươngtrồng trong nhà lưới, còn chủ yếu vẫn là trồng ngoài đồng Công nghệ đượcchuyển giao phổ biến là kỹ thuật ghép trong quy trình nhân giống nhằm bảođảm cây giống khoẻ mạnh và sạch bệnh
Các thí nghiệm của Viện Nghiên cứu rau quả đã được triển khai từ năm
1998 và đã được ứng dụng rộng rãi ngoài sản xuất ở các tỉnh Nam Định,Hưng Yên, Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang đã cho năng suất cao (giống càchua ghép năng suất cao hơn không ghép từ 40-50 % thậm chí là 100%, hiệuquả kinh tế tăng 40-50%)
12 Số liệu tổng hợp từ các báo cáo của địa phương trong Kỷ yếu hội nghị KH&CN các tỉnh vùng ĐBSH lần thứ VIII (2009 – 2011)
Trang 39Bảng 2.3: Đánh giá hiệu quả sử dụng cây giống ghép trong sản xuất rau tại Viện Nghiên cứu rau quả
Giá cây Giá cây giống Số lượng Năng suất Năng suất Cây trồng giống ghép thường cây/ha cây ghép cây không
(Nguồn: Viện Nghiên cứu rau quả)
e Đánh giá thành tựu chung đạt được
Có thể thấy rằng, trong những năm qua, nhiều dự án về ứng dụng kếtquả nghiên cứu trong nông nghiệp với cơ chế hỗ trợ phù hợp và mang lại hiệuquả kinh tế cao Từ năm 1995 đến nay, năng suất lúa tăng từ gần 30 tạ/ha lênđến 50 tạ/ha, đưa Việt Nam thành nước có năng suất cao gấp 1,5 lần Thái Lan
và đứng đầu Đông Nam Á Trong sản xuất các loại cây lương thực, cây raumàu khác đã xây dựng được quy trình và xác định được các mẫu cây trồng cóchất lượng như các giống ngô, đậu tương, lúa, cà chua, khoai lang, khoai tây,
đu đủ… Hoàn thiện được quy trình sản xuất rau an toàn và áp dụng trên phạm
vi rộng
Theo đánh giá của các chuyên gia, kết quả nghiên cứu đã giúp nôngnghiệp có tốc độ tăng trưởng mạnh trong những năm qua KH&CN đóng vai tròquan trọng trong khâu lai tạo, nhân giống cây trồng mới, tăng năng suất, thay thếgiống nhập ngoại Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu giúp chuyển đổi cơ cấukinh tế nông nghiệp, nông thôn, tăng giá trị sản xuất, đưa nước ta vào nhóm cácnước xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, cà phê, hạt tiêu, điều, cao su Trongnhững năm qua, Việt Nam vẫn luôn giữ vị trí thứ 2, năm 2011, 2012 đứng ở vịtrí thứ nhất thế giới về xuất khẩu gạo13 Công nghệ nhân giống
13 www.VnEconomy.vn , www.sggp.org.vn: Năm 2011 Việt Nam xuất khẩu 7,2 triệu tấn gạo, năm 2012 xuất
khẩu 7,5 triệu tấn gạo - 08/4/2013.
Trang 40đã đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực, tạo ra được các giống sạch bệnh, tránh
ảnh hưởng điều kiện thời tiết bất lợi, làm tăng năng suất cây trồng, chủ động
được về giống
Những con số nêu trên cho thấy, KH&CN đã và đang cùng song hành
và tiếp sức cho nhà nông trên bước đường CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn, từng bước làm thay đổi những tập quán sản xuất cũ, lạc hậu; giải quyếtvấn đề chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống cây trồng có năng suất,chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, tăng năng suất, tăng thu nhập cho ngườidân, đã tạo được những đột phá mới trong quá trình chuyển dịch cơ cấu câytrồng, để lại những dấu ấn rõ nét trong việc nhân rộng một số mô hình ứngdụng KH&CN, tạo động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp, nông thôn Việc áp dụng CNSH vào các lĩnh vực trồng trọt đãtạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng, góp phần bảo đảm cung ứng giống
cho nông dân
Bảng dưới đây cho thấy giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên một hađất nông nghiệp của vùng ĐBSH ngày một tăng cao, từ 63,50 tỷ đồng vàonăm 2008, tăng lên 94,25 tỷ đồng vào năm 2011
Bảng 2.4: Giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên một ha tại đồng bằng sông Hồng năm 2008 – 2011
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, Kết quả tổng điều tra nông thôn,
nông nghiệp và thủy sản năm 2011, NXB Thống kê – 2012)