Về mặt lí luận, quan hệ thuộc tính là một quan hệ ngữ nghĩa có vai trò quantrọng trong việc kết nối các đơn vị từ vựng khác từ loại lại với nhau cụ thể làdanh từ với tính từ, động từ với
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-LÊ THỊ HƯƠNG LAN
KHẢO SÁT QUAN HỆ THUỘC TÍNH
TRONG HỆ THỐNG DANH TỪ TIẾNG VIỆT
(TRÊN CỨ LIỆU CỦA MỘT SỐ TỪ ĐIỂN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-LÊ THỊ HƯƠNG LAN
KHẢO SÁT QUAN HỆ THUỘC TÍNH
TRONG HỆ THỐNG DANH TỪ TIẾNG VIỆT
(TRÊN CỨ LIỆU CỦA MỘT SỐ TỪ ĐIỂN)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn: GS.TS Lê Quang Thiêm
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đãnhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy cô cũng như sự độngviên, ủng hộ của gia đình và bạn bè
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tớiGS.TS Lê Quang Thiêm – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi một cách tận tình,chu đáo giúp tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các quý Thầy cô, cán bộ khoaNgôn ngữ học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tận tìnhtruyền đạt những kiến thức quý báo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thểhoàn thành tốt luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, các anh chị và các bạn
bè đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
Mặc dù tôi đã cố gắng thực hiện luận văn bằng tất cả tinh thần và năng lựccủa mình, tuy nhiên không thể tránh được những thiếu sót, rất mong nhận được sựthông cảm và chỉ bảo từ quý Thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Hương Lan
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
2.1 Mục đích nghiên cứu 6
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
4.1 Tư liệu nghiên cứu 8
4.2 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc luận văn 8
Chương 1: LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUAN HỆ THUỘC TÍNH TRONG TIẾNG VIỆT 9
1.1 Đặt vấn đề 9
1.2 Lịch sử nghiên cứu 9
1.2.1 Cách tiếp cận từ góc độ ngữ pháp 9
1.2.2 Cách tiếp cận từ góc độ từ vựng – ngữ nghĩa 12
1.3 Cơ sở lí thuyết 16
1.3.1 Quan niệm về quan hệ thuộc tính 16
1.3.2 Phân biệt quan hệ thuộc tính với các quan hệ ngữ nghĩa quan trọng khác 18
1.3.3 Việc giải thích nghĩa / định nghĩa từ ngữ trong từ điển ngữ văn 20
1.4 Tiểu kết 25
Trang 5Chương 2: NHẬN DIỆN, PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ QUAN HỆ THUỘC
TÍNH TRONG HỆ THỐNG DANH TỪ TIẾNG VIỆT 27
2.1 Đặt vấn đề 27
2.2 Nhận diện quan hệ thuộc tính 27
2.2.1 Kết cấu 1 28
2.2.2 Kết cấu 2 28
2.2.3 Kết cấu 3 29
2.2.4 Kết cấu 4 30
2.2.5 Kết cấu 5 31
2.3 Phân loại quan hệ thuộc tính 32
2.3.1 Tiêu chí phân loại 32
2.3.2 Kết quả phân loại 33
2.4 Miêu tả quan hệ thuộc tính trong hệ thống danh từ tiếng Việt 39
2.4.1 Về mặt cấu tạo 39
2.4.2 Về mặt nguồn gốc của yếu tố chỉ thuộc tính 42
2.4.3 Về cách gọi tên trực tiếp/gián tiếp của thuộc tính 44
2.4.4 Về sự phân chia theo các khu vực cảm giác của thuộc tính 47
2.4.5 Về đặc điểm của thành tố B 51
2.5 Tiểu kết 53
Chương 3: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU LỜI GIẢI THÍCH NGHĨA/ĐỊNH NGHĨA CỦA CÁC DANH TỪ CHỨA QUAN HỆ THUỘC TÍNH TRONG TỪ ĐIỂN 56
3.1 Đặt vấn đề 56
3.2 Mô hình lời giải thích nghĩa/ định nghĩa của các danh từ chứa quan hệ thuộc tính trong từ điển 56
3.2.1 Mô hình lời giải thích nghĩa/ định nghĩa bằng từ đồng nghĩa 57
3.2.2 Mô hình lời giải thích nghĩa/ định nghĩa bằng từ bao 58
Trang 63.3 Đặc điểm các loại mô hình lời giải thích nghĩa/ định nghĩa của hệ thống
danh từ có chứa quan hệ thuộc tính trong từ điển 63
3.3.1 Mô hình lời giải thích nghĩa/ định nghĩa bằng từ đồng nghĩa 63
3.3.2 Mô hình lời giải thích nghĩa/ định nghĩa bằng từ bao 66
3.4 Tiểu kết 69
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 77
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 TĐTV Từ điển tiếng Việt
2 ĐTĐTV Đại từ điển tiếng Việt
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ, quan hệ thuộc tính (attribute)cùng với các quan hệ đồng nghĩa (synonymy), trái nghĩa (antonymy), thuộc nghĩa
(hyponymy) (như hoa hồng–hoa, hoa–thực vật), phân nghĩa (meronymy) (như
hoa–cánh hoa), cách (troponymy) (như bán–bán lẻ), suy ra (entailment) (như vá– rách), nhân quả (causonymy) (như xé–rách),… là những quan hệ ngữ nghĩa cơ
bản, quan trọng [40, 42, 44, 45, 46] Trong Việt ngữ học, các quan hệ đồng nghĩa
và trái nghĩa là những quan hệ ngữ nghĩa đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm[4, 5, 9, 31, 32, ], nhưng các quan hệ còn lại, trong đó có quan hệ thuộc tính, lạichưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, và thường chỉ được đề cập nghiên cứu mộtcách gián tiếp và tương đối rời rạc trong ngữ pháp và từ vựng học (truyền thống),chứ chưa được gọi tên và quan tâm nghiên cứu một cách chính thức và trực tiếpvới tư cách là một đối tượng nghiên cứu thực thụ trong ngữ nghĩa học
Dù chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đúng mức nhưng việc nghiêncứu quan hệ thuộc tính lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng xét cả về mặt lí luận vàmặt thực tiễn
Về mặt lí luận, quan hệ thuộc tính là một quan hệ ngữ nghĩa có vai trò quantrọng trong việc kết nối các đơn vị từ vựng khác từ loại lại với nhau (cụ thể làdanh từ với tính từ, động từ với tính từ) để tạo thành bộ từ vựng tinh thần (mentallexicon) Việc nghiên cứu quan hệ thuộc tính có thể cung cấp cho chúng ta rấtnhiều tư liệu để góp phần tìm hiểu và lí giải các cơ chế định danh và cấu tạo từtiếng Việt từ góc độ ngữ nghĩa học, qua đó góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy
sự phát triển của ngữ nghĩa học tiếng Việt
Về mặt thực tiễn, việc làm rõ đặc điểm của quan hệ thuộc tính sẽ góp phầngiải mã cơ chế nhận thức, tâm lí và tư duy của người Việt qua hệ thống từ vựng.Đồng thời, việc nghiên cứu này còn có thể cung cấp những thông tin hữu ích đốivới những khoa học liên ngành với ngôn ngữ học chẳng hạn như công
Trang 9nghệ thông tin trong vấn đề về xử lí ngôn ngữ tự nhiên, mà cụ thể là xây dựng
mạng từ (Wordnet) hay các kho ngữ liệu từ vựng khác; chẳng hạn, trong Mạng từ
tiếng Anh (của Đại học Princeton), Mạng từ Châu Âu, Mạng từ Châu Á, Mạng từ tiếng Việt, quan hệ thuộc tính đã được xử lí là một trong những quan hệ lớn, quan
trọng hàng đầu trong việc kết nối hệ thống từ vựng danh từ với hệ thống từ vựng
tính từ (như sức khoẻ–khoẻ/ yếu, vận tốc–nhanh/chậm,…) [14, 16, 17, 38, 45, 46,
47] Bên cạnh đó, việc nghiên cứu này cũng góp phần ít nhiều vào việc thực hành
từ điển học thông qua việc xác lập cấu trúc vĩ mô và vi mô của từ điển một cách
hệ thống hơn Mặt khác, vì quan hệ thuộc tính (lửa–nóng, ớt–cay, chanh–chua, )
là một trong những cơ chế liên tưởng quan trọng hàng đầu của con người, nên
việc nghiên cứu về nó sẽ góp phần quan trọng trong đánh giá, đo lường và pháttriển trí tuệ và tư duy của trẻ, tìm hiểu cơ chế thụ đắc ngôn ngữ của trẻ [15]
Vì những lí do như trên, tác giả luận văn mạnh dạn lựa chọn và thực hiện
đề tài với tên gọi Khảo sát quan hệ thuộc tính trong hệ thống danh từ tiếng Việt
(trên cứ liệu của một số từ điển), hi vọng có thể đóng góp được một phần nào đó
vào công việc nghiên cứu và định vị quan hệ thuộc tính với tư cách một quan hệngữ nghĩa chính danh của hệ thống từ vựng tiếng Việt
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm rõ đặc điểm của quan hệ thuộctính vốn được biểu hiện thông qua các đơn vị từ vựng thường được gán nhãn từ loại danh từ trong các từ điển ngữ văn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra cho mình những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu, xác định cơ sở lí thuyết của việc nghiên cứu quan hệ thuộc tính
- Thu thập tư liệu, lập danh sách các đơn vị từ vựng được dán nhãn là danh từ có chứa quan hệ thuộc tính trong một số từ điển
Trang 10- Nhận diện, phân loại và miêu tả quan hệ thuộc tính trong hệ thống danh từ tiếng Việt trên cơ sở tư liệu đã khảo sát được.
- Bước đầu tìm hiểu lời giải thích nghĩa của những danh từ chứa quan hệthuộc tính trong một số từ điển, từ đó đưa ra một số nhận xét bước đầu về chính những lờigiải thích nghĩa đó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ thuộc tính trong hệ thống từvựng tiếng Việt
Quan hệ thuộc tính xuất hiện ở cả danh từ và động từ, tuy nhiên, do khuônkhổ có hạn, luận văn chỉ khảo sát các đơn vị từ vựng thuộc phạm trù từ loại danh
từ có chứa quan hệ thuộc tính; nghĩa là luận văn chỉ khảo sát những đơn vị từvựng mà trong đó các yếu tố từ vựng cấu thành nên chính những đơn vị từ vựng
đó có tồn tại quan hệ thuộc tính Hơn nữa, do quan hệ thuộc tính trong hệ thống từvựng danh từ cũng rất đa dạng, phức tạp, cho nên, luận văn tiếp tục giới hạn phạm
vi nghiên cứu của mình vào các đơn vị từ vựng danh từ vốn dĩ đã được cố địnhhoá, được lựa chọn và ghi nhận trong một số từ điển ngữ văn
Vì tư liệu nghiên cứu của luận văn được giới hạn trong những đơn vị từvựng được chú từ loại là danh từ của từ điển, cho nên khi tiến hành khảo sát, phântích quan hệ thuộc tính của các đơn vị từ vựng này, luận văn cũng chỉ tập trungxem xét quan hệ thuộc tính có thể có giữa các thành tố cấu tạo nên chính nhữngđơn vị từ vựng danh từ (xét về mặt đồng đại), chứ không xem xét cơ chế chuyểnnghĩa và sự đóng góp ngữ nghĩa của chính những thành tố cấu tạo ấy cho nghĩa
của tổng thể đơn vị từ vựng danh từ đang xét Chẳng hạn, trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê cb., tr 946) có má đào, má hồng, luận văn chỉ xem xét mối quan hệ thuộc tính giữa má và đào/ hồng, xét về mặt đồng đại; chứ không đi tìm hiểu tại sao và như thế nào mà má, đào/ hồng, má đào, má hồng lại chuyển nghĩa (theo cơ
chế hoán dụ) và được dùng để chỉ “người con gái”, được ví cho “người con gáiđẹp”, xét về mặt lịch sử
Trang 114 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Tư liệu nghiên cứu
Tư liệu để khảo sát trong luận văn là những đơn vị từ vựng được chú từloại là danh từ (những đơn vị có thể là danh từ mà cũng có thể là tổ hợp danh từ -như chính từ điển chú thích) có chứa quan hệ thuộc tính được lựa chọn chủ yếu
trong cuốn Từ điển tiếng Việt (TĐTV) (1997) của Hoàng Phê (cb.), Trung tâm Từ
điển học, Nxb Đà Nẵng
Bên cạnh đó, để nguồn tư liệu được phong phú, luận văn thu thập thêm các
đơn vị từ vựng danh từ có chứa quan hệ thuộc tính trong cuốn Đại từ điển tiếng
Việt (ĐTĐTV) (1999) của Nguyễn Như Ý (cb.), Nxb Văn hoá Thông tin.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính trong luận văn này là phương pháp miêu tả
Cụ thể, luận văn đã sử dụng các thủ pháp khác nhau của phương pháp miêu tảnhư: phân tích thành tố nghĩa, phân tích phân bố (phân tích ngữ cảnh, phân tíchngữ trị, thay thế, cải biến, ), phân tích thành tố cú pháp, để phân tích và mô tảđặc điểm các quan hệ thuộc tính của các danh từ tiếng Việt
Bên cạnh đó, để việc nghiên cứu thêm hiệu quả, luận văn có sử dụng bổsung một số các thủ pháp nghiên cứu chung cho nhiều ngành khoa học như thống
kê, phân loại, hệ thống hoá, tổng hợp,
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương sau:Chương 1: LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨUQUAN HỆ THUỘC TÍNH TRONG HỆ THỐNG DANH TỪ TIẾNG VIỆT
Chương 2: NHẬN DIỆN, PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ QUAN HỆ THUỘCTÍNH TRONG HỆ THỐNG DANH TỪ TIẾNG VIỆT
Chương 3: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU LỜI GIẢI THÍCH NGHĨA/ ĐỊNHNGHĨA CỦA CÁC DANH TỪ CHỨA QUAN HỆ THUỘC TÍNH TRONG TỪĐIỂN
Trang 12Chương 1: LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨUQUAN HỆ THUỘC TÍNH TRONG HỆ THỐNG DANH TỪ TIẾNG VIỆT
1.1 Đặt vấn đề
Chương này có hai nhiệm vụ quan trọng là: tiến hành tổng quan lịch sử củaviệc nghiên cứu quan hệ thuộc tính; xác lập cơ sở lí thuyết để phục vụ cho việcnghiên cứu quan hệ thuộc tính Dưới đây là nội dung chi tiết
1.2 Lịch sử nghiên cứu
Tìm hiểu trong lịch sử ngữ nghĩa học mà cụ thể là ngữ nghĩa học từ vựng,luận văn thấy rằng quan hệ thuộc tính tuy không được nghiên cứu một cách trựctiếp với tư cách là một quan hệ ngữ nghĩa có tác dụng kết nối các đơn vị từ vựngkhác từ loại với nhau, nhưng quan hệ này cũng đã được đề cập nghiên cứu mộtcách gián tiếp dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều tên gọi khác nhau
1.2.1 Cách tiếp cận từ góc độ ngữ pháp
Về góc độ ngữ pháp, khi miêu tả sự đối đãi, ràng buộc về mặt ngữ nghĩagiữa các định tố/ định ngữ với danh từ trung tâm trong danh ngữ (cụm danh từ),giữa các tính từ làm bổ ngữ cho động từ trung tâm trong động ngữ (cụm động từ)các nhà ngữ pháp học đã ít nhiều gián tiếp đề cập đến quan hệ thuộc tính [1, 6, 7,
23, 24, 25, 33,…] Các tính từ chỉ thuộc tính, trong những miêu tả của các nhà ngữpháp, chỉ được xem như là một thành tố phụ có tính chất hạn định hoặc miêu tảcho thành tố danh từ hay động từ trung tâm Quan hệ thuộc tính, một quan hệ ngữnghĩa chính danh, đã được các nhà ngữ pháp gián tiếp gọi tên và xem nó như làmột trong những biểu hiện có tính cách ngữ pháp giữa thành tố trung tâm và thành
tố phụ
Trong Ngữ pháp tiếng Việt (1983) [33] của Uỷ ban Khoa học Xã hội, các
tác giả nói về mối quan hệ giữa phụ tố hạn định và chính tố trung tâm trong ngữdanh từ; và quan hệ giữa phụ tố cách thức và chính tố trung tâm trong ngữ động từ.Các tác giả cho rằng, xét về mặt ngữ pháp, ngữ là một cấu tạo theo quan hệ cúpháp chính phụ, mà phương tiện biểu thị quan hệ chính phụ trước hết là trật tự
Trang 13Trong danh ngữ, chính tố giữ vị trí trung tâm, các phụ tố được đặt vào haikhu vực: khu vực các phụ tố trước và khu vực các phụ tố sau Khu vực sau củadanh ngữ có thể bao gồm những phụ tố sau đây: phụ tố hạn định sự vật bằng đặcđiểm; phụ tố chỉ định vị trí của sự vật trong không gian Trong đó, phụ tố hạn định
có thể do nhiều từ loại đảm nhiệm như danh từ, động từ, tính từ, hay một ngữ
Trong trường hợp phụ tố hạn định do tính từ đảm nhiệm, phụ tố đó nêu lênđặc điểm của sự vật và có tác dụng hạn định hay miêu tả chính tố Ví dụ, trong
một học sinh giỏi, một thái độ tốt thì, giỏi là đặc điểm miêu tả và hạn định cho học sinh, tốt là đặc điểm miêu tả và hạn định cho thái độ.
Tương tự, động ngữ cũng bao gồm chính tố là động từ và phần phụ trước,phụ sau
Phần phụ sau có thể do nhiều từ loại khác nhau đảm nhiệm, có thể cónhững phụ tố để nói rõ phương tiện, cách thức, nơi chốn, mục đích, Ví dụ: phụ
tố cách thức (như thế nào): chạy nhanh, nói chậm, suy nghĩ miên man, Trong đó, các thành tố chạy, nói, suy nghĩ là những động từ và là thành tố trung tâm Các thành tố nhanh, chậm, miên man là những tính từ giữ vai trò là phụ tố cách thức
trong động ngữ
Tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt [7] cho rằng danh
ngữ bao gồm hai thành phần chính là danh từ trung tâm và định ngữ/ định tố củadanh từ đó Trong đó, định ngữ có chức năng hạn định, danh từ là cái có thể tiếpnhận đặc trưng với nghĩa rộng bao gồm các khía cạnh khác nhau: đặc trưng vềhoạt động, tính chất, về thời gian, về sở hữu, về phương tiện Theo tác giả, giữangôn ngữ và tư duy, danh từ, trong khi chỉ khái niệm “sự vật tính” luôn có nhu cầuhiển ngữ các đặc trưng vốn có của nó Các đặc trưng này (như phẩm chất, kíchthước, trật tự, ) chỉ ra tính đa dạng của các sự vật Vì vậy, định ngữ biểu thị cácđặc trưng khu biệt, nhờ đó người ta nhận ra sự khác nhau giữa các sự vật
Tác giả Nguyễn Kim Thản trong Ngữ pháp tiếng Việt [24] cũng gián tiếp
nhắc đến quan hệ thuộc tính trong mối quan hệ ngữ nghĩa giữa danh từ và bổ ngữ.Theo tác giả, “Danh từ đứng một mình thường biểu thị khái niệm chung về
Trang 14cả một loại sự vật, Khi không muốn nói chung về cả loại sự vật mà chỉ muốn nói
về một hay một số sự vật cụ thể nào đó thì ta phải hạn chế khái niệm lại Muốnhạn chế khái niệm thì khi nói ta phải thêm bổ ngữ cho danh từ, lập thành cụmdanh từ” [24, tr 67]
Còn theo tác giả Nguyễn Văn Chính trong Giáo trình Từ pháp học tiếng
Việt [6], tổ chức danh ngữ tiếng Việt bao gồm: thành tố trung tâm và các thành tố
phụ Quan hệ giữa thành tố chính và các thành tố phụ là quan hệ chính phụ Trong
đó, thành tố trung tâm là bộ phận quan trọng nhất, được coi là xương sống củađoản ngữ Bộ phận này trong danh ngữ phải do một danh từ đảm nhiệm, có vị trínằm ngay trung tâm đoản ngữ Còn các thành tố phụ (còn gọi là định tố) là mộttập hợp gồm hai bộ phận nhỏ phân bố phía trước và phía sau danh từ trung tâm.Các thành tố phụ trước danh ngữ thường bổ sung thêm một chi tiết phụ không cótác dụng đến ngoại diên của khái niệm do danh từ trung tâm biểu thị Định tố cuốithì lại thường có tác dụng nêu một chi tiết hạn chế ngoại diên của khái niệm nêu ởdanh từ trung tâm, khu biệt hẳn một bộ phận sự vật này với bộ phận sự vật khác
Ví dụ: Học sinh (khái niệm chung)/ học sinh giỏi (khái niệm hẹp hơn).
Theo tác giả, cũng như danh ngữ, cấu trúc đầy đủ của một động ngữ baogồm ba phần: phần đầu + phần trung tâm + phần cuối Quan hệ giữa trung tâm vàthành tố phụ là quan hệ chính phụ Phần đầu của động ngữ thường mang tính chất
hư nhiều hơn thực Còn thành phần đứng cuối động ngữ thì đa dạng về mặt hìnhthức và biểu thị nhiều ý nghĩa khác nhau như: đối tượng hành động, điểm đến/điểm xuất phát, địa điểm, phương hướng, mục đích của hành động,
Như vậy, dù không gọi tên trực tiếp quan hệ thuộc tính, nhưng khi miêu tả
về cấu tạo cụm từ, các tác giả cũng đã gián tiếp nhắc đến ngoại diên của quan hệthuộc tính khi nói về mối quan hệ giữa danh từ trung tâm với phụ tố hạn định vàgiữa động từ trung tâm với các phụ tố đứng sau Tuy nhiên, yếu tố phụ trong cáccụm từ đó theo cách tiếp cận ngữ pháp thì rất rộng, có thể thuộc từ loại danh từ,động từ hoặc tính từ Trong khi đó, thuộc tính chỉ là một bộ phận trong đó Yếu
Trang 15tố chỉ thuộc tính có trong các cấu tạo ngữ pháp đó chỉ có thể là tính từ không thể
là danh từ, hay động từ
Ví dụ, trong các cụm từ cái con mèo mun mà mẹ tôi mua ấy, cái con mèo
ấy thì chỉ có mun trong cụm thứ nhất mới có quan hệ thuộc tính với con mèo, các
định tố khác không biểu thị giá trị thuộc tính
1.2.2 Cách tiếp cận từ góc độ từ vựng – ngữ nghĩa
Trong lịch sử nghiên cứu Việt ngữ học ở bình diện từ vựng – ngữ nghĩa,quan hệ thuộc tính được nhắc đến một cách không trực tiếp khi miêu tả cấu tạo từ(hay ngữ, như cách gọi của Nguyễn Thiện Giáp) mà cụ thể là cấu tạo từ ghép hayquan hệ giữa các thành tố của từ ghép [2, 3, 6, 7, 8, 10, 20, 29]
Theo cách hiểu truyền thống, cấu tạo từ là bộ phận giao điểm của cả ngữpháp và từ vựng – ngữ nghĩa Trên phương diện ngữ nghĩa, cách cấu tạo từ liênquan đến ngữ nghĩa của các thành tố cấu tạo từ và ý nghĩa của cả từ Vì vậy, từvựng – ngữ nghĩa cần thiết phải nghiên cứu về cấu tạo từ Trong nghiên cứu từvựng – ngữ nghĩa, có một số tác giả đã gián tiếp đề cập quan hệ thuộc tính khimiêu tả cấu tạo của từ ghép tiếng Việt mà cụ thể là từ ghép chính phụ Chẳng hạnnhư:
Trong nghiên cứu về cấu tạo từ, tác giả Nguyễn Văn Tu trong cuốn Từ và
vốn từ tiếng Việt hiện đại [32] cho rằng, từ ghép được phân chia thành từ ghép
hợp nghĩa và từ ghép bổ nghĩa Trong đó, những từ ghép bổ nghĩa là những từghép được tạo ra bằng hai từ tố theo quan hệ không ngang nhau về kết cấu vànghĩa Có một từ tố chính mang nghĩa chính và một từ tố mang nghĩa bổ sung Cáinghĩa bổ sung này có thể làm rõ nghĩa thêm cho toàn bộ từ
Ví dụ: cà chua: gồm hai từ tố, cà chỉ thứ quả để muối ăn và chua vốn là
tính từ chỉ vị như giấm
Bên cạnh đó, trong Từ tiếng Việt [12] của Hoàng Văn Hành, tác giả cho
rằng từ ghép bao gồm từ ghép hội nghĩa và từ ghép phân nghĩa Từ ghép phânnghĩa, truyền thống Việt ngữ học gọi loại từ ghép này là từ ghép chính phụ (từbình diện hình thái học), từ ghép bổ nghĩa, từ ghép phân nghĩa (bình diện ngữnghĩa học) Trong từ ghép phân nghĩa, thành tố thứ nhất bao giờ cũng biểu thị ý
Trang 16nghĩa phạm trù và giữ vai trò chính, vai trò trung tâm Còn thành tố thứ hai biểuthị thuộc tính khu biệt của sự vật, quá trình hay tính chất do thành tố thứ nhất biểuthị Hay nói cách khác là biểu thị nét khu biệt đặc trưng cho từng loại.
Thành tố thứ hai trong từ ghép phân nghĩa có thể là:
+ biểu thị thuộc tính về chất liệu làm nên toàn bộ hay bộ phận của thành tố
thứ nhất: nhà gạch, nhà ngói, bàn gỗ,
+ biểu thị thuộc tính về nguồn gốc xuất xứ của thành tố thứ nhất: chuối tây,
hồng xiêm, thuốc lào, miến tàu,…
+ biểu thị thuộc tính về chức năng: máy xúc, máy ủi, máy tiện,…
+ biểu thị thuộc tính về phương thức hoạt động: bàn xoay, máy bay,
+ biểu thị thuộc tính về ngoại hình của sự vật do A biểu thị như màu sắc,
dáng vẻ, kích thước, tư thế: hoa hồng, gà ri, xe cóc, tủ đứng, gương lồi,…
Có thể hình dung nghĩa tổng quát của từ ghép phân nghĩa là “A với nhữngđặc trưng riêng do B biểu thị (hay để trả lời cho câu hỏi A thế nào? A như thếnào?)
Ở đây, khi miêu tả thành tố thứ hai trong từ ghép phân nghĩa, tác giả HoànhVăn Hành đã nhắc đến đơn vị biểu thị thuộc tính Tuy nhiên, theo tác giả, tất cả những đặctrưng về nguồn gốc, chức năng, phương thức hoạt động hay ngoại hình đều là thuộc tính của
sự vật, hiện tượng
Bên cạnh đó, tác giả Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt [5]
cho rằng, từ ghép được phân chia thành nhiều loại khác nhau theo kiểu ngữ nghĩacủa từng loại Trong đó, từ ghép phân nghĩa chiếm đại bộ phận những từ ghép
trước đây được coi là từ ghép chính phụ: “Từ ghép phân nghĩa được coi là những
từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hoá loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập với nhau, và độc lập với loại lớn” [5, tr.56].
Như vậy, khi nói về mối quan hệ giữa các đơn vị trong từ ghép chính phụ(từ ghép phân nghĩa), khi miêu tả về mối quan hệ giữa thành tố chính và thành tố
Trang 17phụ, các tác giả cũng đã ít nhiều nói đến quan hệ thuộc tính trong mối quan hệgiữa yếu tố từ vựng danh từ và tính từ.
Quan hệ thuộc tính không chỉ được gián tiếp đề cập trong cấu tạo từ ghéptiếng Việt, mà trong các nghiên cứu về định danh, quan hệ thuộc tính cũng đã ítnhiều được các tác giả nhắc đến
Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn trong cuốn Đặc trưng văn hoá – dân tộc của
ngôn ngữ và tư duy [29], nói một cách “nôm na” thì định danh chính là đặt tên gọi
cho một sự vật, hiện tượng, Cũng theo tác giả, quá trình định danh sự vật diễn ranhư sau: sau khi tiếp xúc với một khách thể mới, con người đã tìm hiểu, vạch ramột bộ những đặc trưng nào đó vốn có trong nó Nhưng để định danh người ta chỉchọn đặc trưng nào thấy là tiêu biểu, dễ khu biệt với đối tượng khác và đặc trưng
ấy đã có tên gọi trong ngôn ngữ G.V Gac gọi hành vi này là hành vi phân loại
Cũng theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, phụ thuộc vào chủ thể định danh và đốitượng được định danh, sẽ có hai lí do khác nhau khi định danh là: lí do khách quan
và lí do chủ quan Lí do khách quan – nghĩa là một đặc trưng, một thuộc tính nào
đó của bản thân sự vật được chọn để làm dấu hiệu khu biệt tên nó Ví dụ: tên các
loài hoa được đặt theo màu sắc như: mai vàng, bạch cúc, hoa hồng,
Còn lí do chủ quan thì không phải ai cũng nhận thấy được Chỉ có chủ thể địnhdanh mới biết được lí do tại sao dùng tên gọi này để gọi người hoặc sự vật này
Chẳng hạn, người cha đặt tên cho con mình là Nguyễn Đình Chiến – là để kỉ niệm
thời điểm đứa con ra đời chính là khi hoà bình được lập lại tại miền Bắc Việt Namnăm 1945
Trong cuốn Vấn đề “từ” trong tiếng Việt [10], tác giả Nguyễn Thiện Giáp
quan niệm rằng những sự vật, hiện tượng, khái niệm mới xuất hiện đòi hỏi phảiđặt tên gọi cho chúng Nhưng sự vật, hiện tượng không quan hệ trực tiếp với têngọi mà quan hệ với tên gọi thông qua khái niệm Mỗi sự vật, hiện tượng có nhiềuthuộc tính khác nhau Khi đặt tên cho một sự vật, hiện tượng nào đó, người tathường xuất phát từ những thuộc tính nào đó của sự vật, hiện tượng Những dấuhiệu được dùng làm căn cứ để đặt tên gọi, trong ngôn ngữ được gọi là hình thái
Trang 18bên trong hay chính là cấu trúc ngữ nghĩa của tên gọi Mà cấu trúc ngữ nghĩa phảnánh cấu trúc tư duy của mỗi ngôn ngữ Người đặt tên suy nghĩ như thế nào về đốitượng, có nhận xét gì, rút ra được những thuộc tính gì từ đối tượng cần đặt tên, để
từ đó lựa chọn những thuộc tính làm căn cứ cho sự gọi tên Trong cách tiếp cậnnày của Nguyễn Thiện Giáp, quan hệ thuộc tính cũng chỉ được đề cập đến mộtcách gián tiếp
Như vậy, trong các nội dung nghiên cứu định danh, một số tác giả đã đềcập đến các đơn vị có quan hệ thuộc tính, nhưng quan hệ thuộc tính không đượcgọi tên một cách chính danh, những cái có giá trị thuộc tính chỉ được xem như làmột thành tố góp phần vào quá trình định danh
Trên đây là những nét sơ lược tình hình nghiên cứu về quan hệ thuộc tínhtrong lịch sử nghiên cứu Việt ngữ học Còn trên thế giới, quan hệ thuộc tính, với
tư cách là một quan hệ ngữ nghĩa của hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ, mớiđược gọi tên và nghiên cứu một cách chính thức vào những năm 1970 khi các líthuyết về trí nhớ ngữ nghĩa được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của líthuyết Mạng từ (Miller & Johson-Laird, 1978, Miller 1991, Fellbaum 1999) [38,
40, 41, 46, 47]
Trong tiếng Việt, khi tiến hành xây dựng Mạng từ tiếng Việt, quan hệ thuộc
tính cũng đã được ghi nhận và xử lí là một quan hệ quan trọng, tạo nên bộ khung
của hệ thống từ vựng tinh thần tiếng Việt Quan hệ thuộc tính được Mạng từ tiếng
Việt xem là một loại quan hệ ngữ nghĩa xuyên từ loại giữa danh từ và tính từ Mạng từ tiếng Việt cũng đã ghi nhận và xử lí trên 500 cặp đơn vị từ vựng có quan
hệ thuộc tính (kích thước-to/ nhỏ, chiều cao-cao/thấp,…) [16, 17, 18, 47].
Như vậy, dù không được gọi tên trực tiếp, nhưng từ góc độ ngữ pháp và từvựng - ngữ nghĩa, quan hệ thuộc tính cũng đã được rất nhiều tác giả trong vàngoài nước đề cập, nghiên cứu ở một phối cảnh rộng hơn, dưới những tên gọikhác nhau
Trang 191.3 Cơ sở lí thuyết
1.3.1 Quan niệm về quan hệ thuộc tính
Có hai cách hiểu khác nhau về quan hệ thuộc tính với tư cách là một quan
hệ ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ
Cách hiểu thứ nhất, theo nghĩa rộng, quan hệ thuộc tính là mối quan hệ tồntại giữa đơn vị ngôn ngữ chỉ thực thể với đơn vị ngôn ngữ chỉ thuộc tính/ tính chấtcủa thực thể hoặc mối quan hệ tồn tại giữa đơn vị ngôn ngữ chỉ quá trình với đơn
vị ngôn ngữ chỉ thuộc tính/ tính chất của quá trình Hay nói một cách đơn giảnhơn, quan hệ thuộc tính là quan hệ giữa một danh từ hoặc một động từ với mộttính từ chỉ thuộc tính/ tính chất được quy gán cho danh từ hoặc động từ đó [18,20]
Thực thể, quá trình và thuộc tính/ tính chất được mã hoá trong hệ thốngngôn ngữ tiếng Việt bằng những đơn vị mà chúng ta thường gọi một cách lần lượt
là danh từ, động từ và tính từ Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, quan hệ thuộc tính
là quan hệ xuyên từ loại của danh từ, động từ với tính từ Đây chính là quan niệmthường thấy, một cách gián tiếp, trong các tài liệu nghiên cứu về ngữ pháp và từvựng tiếng Việt hiện nay
Ví dụ: đường – ngọt, chanh – chua, đi – nhanh/ chậm, kích thước – lớn /bé,
cười – ngặt nghẽo, Trong các ví dụ này, những từ đường, chanh, đi, kích thước, cười là những danh từ/ động từ chỉ thực thể hoặc quá trình Những từ ngọt, chua, nhanh/ chậm, lớn/ bé, ngặt nghẹo là những tính từ chỉ thuộc tính của thực thể hay
quá trình Như vậy giữa đường và ngọt có quan hệ thuộc tính, tương tự giữa
chanh và chua, đi và nhanh/ chậm, kích thước và lớn/ bé, cười và ngặt nghẽo có
quan hệ thuộc tính với nhau
Cách hiểu thứ hai, theo nghĩa hẹp, quan hệ thuộc tính được thu hẹp lại làquan hệ ngữ nghĩa giữa một danh từ và một tính từ biểu thị thuộc tính của danh
từ Hay là quan hệ giữa đơn vị ngôn ngữ chỉ thực thể và đơn vị ngôn ngữ chỉthuộc tính của thực thể Với cách hiểu này, quan hệ thuộc tính là quan hệ xuyên từloại chỉ của danh từ và tính từ Trong các nghiên cứu hiện đại, ví dụ như trong
Trang 20cách hiểu của các mạng từ hiện nay, quan hệ thuộc tính thường được hiểu theocách này.
Chính vì thế mà những tác giả của Mạng từ tiếng Anh
(http://wordnet.princeton.edu) đã quan niệm rằng quan hệ thuộc tính chính là quan
hệ ngữ nghĩa giữa “một danh từ và những tính từ vốn biểu thị các giá trị được quygán cho chính danh từ ấy” [40, 46, 47]
Ví dụ: trong voi – to, trời – cao, bánh chưng – xanh, các từ voi, trời, bánh
chưng là các danh từ chỉ thực thể; các từ to, cao, xanh là những tính từ chỉ thuộc
tính của các thực thể Như vậy, giữa voi và to có quan hệ thuộc tính, tương tự giữa
trời và cao, bánh chưng và xanh có quan hệ thuộc tính với nhau.
Luận văn này được thực hiện theo tinh thần của cách hiểu thứ hai này Tuynhiên, do khuôn khổ của mình và do tính phức tạp của vấn đề, luận văn khôngkhảo sát quan hệ thuộc tính trong tất cả các đơn vị từ vựng danh từ, mà chỉ tậptrung vào khảo sát quan hệ thuộc tính có trong các danh từ ghép có cấu tạo chínhphụ mà cả hai tiếng đều rõ nghĩa đã được thu thập trong một số từ điển đã nêu ởtrên
Dĩ nhiên, khi xem xét quan hệ thuộc tính chúng ta không nên lầm lẫn giữaquan hệ thuộc tính với tư cách là một quan hệ ngữ nghĩa thuộc phạm trù ngôn ngữgiữa danh từ và tính từ với mối quan hệ có tính chất hiện thực thuộc phạm trùngoài ngôn ngữ giữa bản thân cái thực thể và cái tính chất khách quan của thựcthể, dù rằng giữa chúng có mối quan hệ, liên hệ với nhau, có tính chất dẫn xuất vàchi phối lẫn nhau Nghiên cứu quan hệ thuộc tính là nghiên cứu xem một danh từđược con người liên tưởng tới các tính từ thể hiện những giá trị khác nhau củadanh từ như thế nào, chứ không phải nghiên cứu xem bản thân cái thực thể đượcdanh từ gọi tên có những thuộc tính gì Nghiên cứu quan hệ thuộc tính là nghiêncứu quan hệ ngữ nghĩa trong phạm trù ngôn ngữ, chứ không phải nghiên cứu quan
hệ hiện thực của thế giới vật chất ngoài ngôn ngữ
Trang 211.3.2 Phân biệt quan hệ thuộc tính với các quan hệ ngữ nghĩa quan trọng khác
Ở cấp độ từ vựng, có nhiều loại quan hệ từ vựng – ngữ nghĩa như quan hệđồng nghĩa, quan hệ trái nghĩa, quan hệ bao thuộc, quan hệ tổng phân, quan hệ vai, Quan
hệ thuộc tính trong từ vựng tiếng Việt cần được phân biệt với các quan hệ dễ xảy ra nhầm lẫnnhư quan hệ bao thuộc, quan hệ tổng phân và quan hệ vai
Thứ nhất, cần có sự phân biệt giữa quan hệ thuộc tính và quan hệ bao
thuộc Quan hệ bao thuộc là quan hệ giữa một từ bao (hypernyms) và một từ thuộc(hyponyms); trong đó, từ thuộc được hình dung như một loại của từ bao Ví dụ:
thực vật – hoa, hoa – hoa hồng, hoa hồng – hoa hồng bạch, động vật – gia súc, gia súc – chó, chó – chó mực, công cụ – công cụ học tập, công cụ học tập – bảng, bảng – bảng đen Ở đây, trong mỗi cặp từ, những từ bao là những từ đứng bên
trái, còn những từ thuộc là những từ đứng bên phải [14, 16]
Như vậy, quan hệ bao thuộc là quan hệ trong nội bộ hệ thống danh từ củangôn ngữ Còn quan hệ thuộc tính là quan hệ xuyên từ loại, là quan hệ giữa danh
từ với tính từ (thậm chí là cả giữa động từ với tính từ) Tuy nhiên, trong cấu tạocủa từng yếu tố của quan hệ bao thuộc, có thể xuất hiện yếu tố chỉ thuộc tính Vídụ:
1 hoa hồng – hoa hồng bạch: hoa hồng bạch – dựa trên quan hệ thuộc tính
giữa danh từ và tính từ (bạch – màu trắng – hoa hồng có thuộc tính là màu trắng) để cấu tạo lớp từ thuộc thấp hơn của hoa hồng Ở đây, bạch là yếu tố chỉ thuộc tính.
2 chó – chó mực: chó mực – dựa trên quan hệ thuộc tính giữa danh từ và
tính từ (mực – màu đen – chó có màu đen) để cấu tạo lớp từ thuộc thấp hơn của chó Ở đây,
mực/ màu đen là yếu tố chỉ thuộc tính.
3 bảng – bảng đen: bảng đen – dựa trên quan hệ thuộc tính giữa danh từ và
tính từ (đen – bảng có màu đen) để cấu tạo lớp từ thuộc thấp hơn của
bảng Ở đây, đen là yếu tố chỉ thuộc tính.
Trang 22Như vậy, có nhiều yếu tố tham gia cấu tạo từ thuộc, trong đó có những yếu
tố chỉ thuộc tính tương tự như các ví dụ đã dẫn ở trên
Thứ hai, cần có sự phân biệt quan hệ thuộc tính với quan hệ tổng phân.
Quan hệ tổng phân được hiểu là quan hệ giữa cái sở biểu của cái năng biểu nàyvới cái sở biểu của cái năng biểu kia trong đó sở biểu này là một bộ phận của sởbiểu kia và ngược lại Trong quan hệ tổng phân, có một tiểu loại quan hệ tổngphân dễ gây nhầm lẫn với quan hệ thuộc tính là quan hệ tổng phân chất liệu; quan
hệ tổng phân chất liệu là, quan hệ giữa danh từ biểu thị vật thể và danh từ biểu thị
chất liệu của vật thể [14, 16] Ví dụ: Gỗ là nghĩa phân của ghế Lụa là nghĩa phân của áo dài Nhựa là nghĩa phân của cốc Ghế gỗ, áo dài lụa, cốc nhựa là những từ ghép, trong đó những yếu tố đứng sau gỗ, lụa, nhựa là những yếu tố chỉ chất liệu cấu tạo của những thực thể được biểu thị trong yếu tố đứng trước như ghế, áo dài,
Do đó, theo cách hiểu này, gỗ, lụa, nhựa, có thể được coi là thuộc tính của ghế, áo
dài, cốc Tuy nhiên, theo tinh thần đã nêu ở trên về quan hệ thuộc tính, chỉ những
đặc điểm là giá trị (được mã hoá thành tính từ) được con người đánh giá dành cho
danh từ chỉ thực thể mới được coi là thuộc tính, nên gỗ, lụa, nhựa không được xem là thuộc tính của ghế, áo dài, cốc (Dĩ nhiên, trong áo dài thì áo và dài có
quan hệ thuộc tính thực thụ)
Thứ ba, cần phân biệt quan hệ vai và quan hệ thuộc tính Quan hệ vai được
hiểu là quan hệ giữa cái sở biểu của cái năng biểu này với cái sở biểu của cái năngbiểu kia trong đó sở biểu này là một chức năng, vai trò nổi bật của sở biểu kia và
ngược lại [14, 16] Ví dụ: máy cày, máy xúc, xe lu, máy bơm, Trong đó, máy cày
là máy dùng để cày, máy xúc là máy dùng để xúc, xe lu là xe dùng để lu, máy bơm
là máy dùng để bơm.
Trang 23Tương tự như với quan hệ tổng phân, những đặc điểm có giá trị khu biệtthường được đánh đồng là thuộc tính Đây chính là cách hiểu thường gặp về kháiniệm thuộc tính trong các nghiên cứu về cấu tạo từ từ góc độ ngữ nghĩa và cácnghiên cứu về định danh Tuy nhiên, như đã nói, chỉ những đặc điểm là giá trị (đã
mã hoá thành tính từ) được con người đánh giá dành cho danh từ chỉ thực thể mới
được coi là thuộc tính Ở đây, cày, xúc, lu, bơm là những động từ chỉ vai trò chức năng nổi bật của các loại máy khác nhau chứ không phải một thuộc tính/ tính chất
được con người đánh giá
1.3.3 Việc giải thích nghĩa / định nghĩa từ ngữ trong từ điển ngữ văn
Từ điển ngữ văn chiếm một vị trí quan trọng trong từ điển ngôn ngữ nóichung Theo C.C.Bergl, từ điển ngữ văn được định nghĩa như sau:
“Một cuốn từ điển là một danh mục được sắp xếp có hệ thống của các hìnhthức ngôn ngữ đã được xã hội hoá, thu nhận từ những thói quen nói năngcủa một cộng đồng ngôn ngữ nhất định và được người biên soạn chú giảisao cho người đọc có một trình độ nhất định hiểu được ý nghĩa của từnghình thức ngôn ngữ riêng rẽ và biết được những điều cần yếu về chức năngcủa nó trong cộng đồng ngôn ngữ ấy.” [dẫn theo 35, tr 245]
Cấu trúc của từ điển ngữ văn rất đa dạng và phức tạp Điều này được thểhiện qua cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô của từ điển ngữ văn
Trong cấu trúc vĩ mô của từ điển ngữ văn, các mục từ trong từ điển ngữ vănđược thu thập theo những tiêu chí nhất định, tạo thành một bảng từ có cấu trúcchặt chẽ, có tính hệ thống, đảm bảo sự nhất quán Bảng từ trong từ điển ngữ vănđược cấu tạo bởi nhiều mảng, nhiều lớp từ vựng có những đặc điểm khác nhau
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong Một số vấn đề từ điển học [21], bảng từ
trong từ điển ngữ văn “đó là một tập hợp chứa trong mình nhiều mối quan hệ củanhiều hệ thống nhỏ, nhiều nhóm nhỏ, chúng có thể đan xen và chồng chéo lênnhau Từng hệ thống nhỏ có những mối quan hệ riêng, hoạt động theo những quyluật riêng Thành ra, nhìn chung, các mối quan hệ có tính quy
Trang 24luật trong hệ thống từ vựng thể hiện không dứt khoát, rõ ràng, và đôi khi rất khónhận ra” [21, tr.28].
Cấu trúc vi mô của từ điển ngữ văn bao gồm hai phần chính: mục từ và cácthông tin trong mục từ như thông tin ngữ âm, thông tin từ vựng, thông tin ngữnghĩa, thông tin ngữ pháp, Trong các yếu tố của thông tin ngữ nghĩa trong từđiển ngữ văn thì lời giải thích nghĩa/ định nghĩa là thành phần hạt nhân, nội dung
cơ bản, đóng vai trò chi phối các yếu tố còn lại trong cấu trúc vi mô
Định nghĩa từ trong từ điển nêu ra những nét nghĩa khu biệt quan trọngnhất, đủ để phân biệt nó với các đơn vị từ vựng khác trong quá trình sử dụng.Định nghĩa từ nhiều khi không nêu một cách hoàn toàn chính xác, đầy đủ nộidung nghĩa từ mà chỉ nêu những đặc trưng khu biệt, có tác dụng gợi ý để ngườitiếp nhận nó biết và phân biệt với những từ khác
Cấu trúc logic của định nghĩa thường có dạng “A là B”; A là khái niệm được định nghĩa, là khái niệm mới cần được làm sáng tỏ; B là khái niệm định
nghĩa, trong đó nêu lên các dấu hiệu đặc trưng, phân biệt với những khái niệmkhác đã được biết Dựa vào mối quan hệ rộng hơn, hẹp hơn giữa các khái niệm,người ta có thể có hai cách định nghĩa:
Định nghĩa những khái niệm mới, hẹp hơn những khái niệm đã biết bằng
cách nêu ra chủng và sự khác nhau về loại, theo công thức (^ là dấu của phép hội, đọc là và):
Khái niệm được định nghĩa = chủng
^ sự khác biệt về loại
Hoặc định nghĩa những khái niệm mới hơn, rộng hơn những khái niệm đãbiết bằng cách liệt kê những khái niệm hẹp hơn được bao hàm trong khái niệm ấy
theo công thức (v là dấu của phép tuyển, đọc là hoặc):
Khái niệm được định nghĩa = B1
Theo quan niệm của logic học truyền thống, định nghĩa khái niệm phải tuântheo ba quy tắc sau: 1, Chỉ được sử dụng những khái niệm đã biết, đã được
Trang 25định nghĩa từ trước Vi phạm quy tắc này có thể dẫn đến định nghĩa vòng quanh,định nghĩa luẩn quẩn 2, Định nghĩa phải tương xứng, nghĩa là khái niệm đượcđịnh nghĩa phải đồng nhất (có chung ngoại diên) Vi phạm quy tắc này có thể dẫnđến định nghĩa quá rộng hoặc định nghĩa quá hẹp 3, Định nghĩa cần ngắn gọn,không chứa đựng những dấu hiệu có thể suy ra được từ những dấu hiệu khác đãđược nêu lên trong định nghĩa.
Thông thường, với những loại từ có đặc điểm khác nhau có những kiểuđịnh nghĩa khác nhau Trong từ điển ngữ văn tiếng Việt, có những kiểu mô hìnhgiải thích nghĩa cơ bản sau [19]:
a Định nghĩa bằng từ baoĐịnh nghĩa bằng phương pháp dùng từ bao được bắt đầu bằng một từ cócùng phạm trù nhưng rộng hơn từ được định nghĩa, có khái niệm bao hàm kháiniệm của từ được định nghĩa, sau đó vạch ra những đặc trưng khu biệt riêng củanó
Khái quát mô hình: A (là) B ^ n1, n2, n3,
Trong đó: A: đơn vị từ vựng được định nghĩa; B: từ bao; n1, n2, n3: những đặc trưng khu biệt riêng của A, phân biệt A với những lớp từ khác cũng được bao hàm trong B n1, n2, n3 trong các định nghĩa kiểu này có thể là một thuộc tính của A Nghĩa là, thông tin về thuộc tính trong quan hệ thuộc tính có thể xuất hiện
trong các cách định nghĩa dùng từ bao
Ví dụ: cá bạc: cá nước ngọt/ cùng họ với cá chép/, thân dẹp/, màu trắng
nhạt như bạc/ [TĐTV, tr.164]
Trong ví dụ này, bạc ở lời định nghĩa chính là giá trị/ thuộc tính được gán cho cá, yếu tố được định nghĩa.
Việc chỉ ra các nét nghĩa khu biệt trong định nghĩa bằng phương pháp bao
là căn cứ vào những gì tỏ ra là cần yếu đối với người nói phổ thông của thứ tiếng
ấy, chứ không phải căn cứ vào những đặc tính phải nhờ nghiên cứu khoa học mớinhận ra Trong số các phạm trù từ loại thì danh từ chỉ sự vật, hiện tượng, phầnlớn đều được thiết lập bằng phương pháp định nghĩa dùng từ bao
Trang 26b Định nghĩa phân tíchĐịnh nghĩa phân tích là kiểu định nghĩa vạch rõ nội dung nghĩa của từ ngữbằng cách phân tích, giải thích các nét nghĩa của nó Mô hình cụ thể:
c Định nghĩa bằng từ đồng nghĩaĐây là một cách giải thích tự nhiên, gần với sự liên tưởng của con người.Cách định nghĩa này cũng giúp cho lời định nghĩa ngắn gọn hơn và tránh đượcnhững sự trùng lặp không cần thiết Đây cũng là cách định nghĩa thường được sửdụng khi định nghĩa các đơn vị từ vựng có quan hệ thuộc tính
Có hai phương pháp định nghĩa sử dụng từ đồng nghĩa:
1 chỉ dùng bản thân từ đồng nghĩa để định nghĩa A (là) B (B đồng nghĩa
với A):
Ví dụ: ác quỷ: quỷ dữ [TĐTV, tr.4]
2 từ đồng nghĩa được nêu ra để phụ sau lời định nghĩa bằng phân tích, theo
mẫu A (là) x; B (x là phần định nghĩa bằng phân tích).
Ví dụ: bại quân: Quân lính bị thua trận; bại binh [TĐTV, tr.46]
Sử dụng từ đồng nghĩa để định nghĩa trong từ điển là một việc có lợi, nócho ta những định nghĩa đơn giản, dễ hiểu, dễ hình dung Người dùng từ điển sẽbiết và lưu tâm hơn đến sự tồn tại của các từ đồng nghĩa, đồng thời sẽ chú ý hơnđến các sắc thái khác nhau của chúng trong quá trình sử dụng
Trang 27d Định nghĩa bằng từ trái nghĩaTrái nghĩa là hiện tượng các từ có ý nghĩa đối lập nhau Ở hiện tượng tráinghĩa, các từ trong nhóm vẫn có chung một số nét nghĩa và chỉ đối lập nhau ởmột, hai nét nghĩa quan trọng nào đó.
Ví dụ: bằng: không hơn, không kém [TĐTV, tr.74]
A (là) không B, x( x là một phần định nghĩa bằng phân tích)
Ví dụ: cẩu thả: không cẩn thận, chỉ cốt cho xong [TĐTV, tr.210]
A (là) không B, C (C đồng nghĩa với A)
Ví dụ: xạo: không đứng đắn, bậy bạ [TĐTV, tr.1764]
e Định nghĩa bằng chỉ dẫnĐịnh nghĩa bằng cách chỉ ra một số ví dụ lấy từ thực tế ngoài ngôn ngữ Ví
dụ: hôi: có mùi khó ngửi như mùi của bọ xít, chuột chù [TĐTV, tr.713]
Kiểu định nghĩa này có thể được coi là hữu hiệu nhất cho các từ chỉ màu,mùi, vị
f Định nghĩa bằng siêu ngôn ngữ về kí hiệuĐây là kiểu định nghĩa dùng để nêu rõ chức năng của chính kí hiệu ngôn ngữ trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ
Định nghĩa bằng siêu ngôn ngữ kí hiệu trả lời cho các câu hỏi về kí hiệu như: dùng để làm gì, biểu thị cái gì,
Ví dụ: bố già: từ dùng để gọi người đàn ông lớn tuổi, đáng bậc cha mình,
tỏ ý vui đùa, thân mật [TĐTV, tr.132]
Trang 281.4 Tiểu kết
Quan hệ thuộc tính là một trong những quan hệ ngữ nghĩa cơ bản trong hệ
thống quan hệ ngữ nghĩa của từ vựng tiếng Việt Việc nghiên cứu quan hệ thuộctính có ý nghĩa vô cùng quan trọng xét cả về lí luận và trong thực tiễn
Về lịch sử nghiên cứu, từ bình diện ngữ pháp và từ vựng – ngữ nghĩa, quan
hệ thuộc tính đã được nhắc đến một cách không trực tiếp khi miêu tả sự ràng buộcngữ nghĩa giữa các định tố/ định ngữ với danh từ trung tâm trong danh ngữ, giữacác tính từ làm bổ ngữ cho động từ trung tâm trong động ngữ và khi miêu tả cấutạo từ mà cụ thể là cấu tạo từ ghép hay quan hệ giữa các thành tố của từ ghép
Lời giải thích nghĩa/ định nghĩa là thông tin cơ bản, thông tin hạt nhân
trong từ điển ngữ văn Hiện nay, theo đa số các tác giả, các mô hình lời giải thíchnghĩa/ định nghĩa hiện nay bao gồm: định nghĩa bằng phương pháp dùng từ bao,định nghĩa phân tích, định nghĩa bằng từ đồng nghĩa, định nghĩa bằng từ tráinghĩa, bằng chỉ dẫn và bằng siêu kí hiệu Tuy nhiên, những mô hình định nghĩatrên không phải là mô hình chung cho tất cả các loại đơn vị từ vựng Mỗi loại đơn
vị từ vựng khác nhau có những đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa khác nhau nên đòi
hỏi những kiểu định nghĩa khác nhau Chẳng hạn như, mô hình định nghĩa phân
tích, với việc định nghĩa bằng thao tác phân tích các nét nghĩa của đơn vị từ vựng,
có thể áp dụng cho tất cả các loại đơn vị từ vựng Do vậy, nó được coi là kiểu địnhnghĩa cơ bản nhất trong từ điển ngữ văn Hay như do đặc trưng ngữ nghĩa khác
biệt, các từ chỉ mùi, vị, màu sắc, thường được định nghĩa bằng chỉ dẫn Tuy nhiên, đối với các đơn vị từ vựng là các từ ngữ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ,… thì mô hình định nghĩa bằng chỉ dẫn lại tỏ ra không hiệu quả Đối với các đơn vị
từ vựng này, mô hình định nghĩa bằng từ đồng nghĩa có lẽ phù hợp hơn.
Nếu đi sâu vào nghiên cứu lời định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt, cóthể vạch ra những mẫu định nghĩa cơ bản Công việc này có giá trị khoa học vàthực tiễn nhất định Nghiên cứu và áp dụng các kiểu định nghĩa cho các đơn vị từ
Trang 29vựng khác nhau trong công việc biên soạn từ điển sẽ có những đóng góp trongviệc tăng tính nhất quán và hệ thống của từ điển.
Trong các mô hình định nghĩa đã nêu ở trên, chúng tôi nhận thấy kiểu định
nghĩa bằng từ bao và định nghĩa bằng từ đồng nghĩa là những kiểu định nghĩa
thường được sử dụng để định nghĩa các đơn vị từ vựng là danh từ có chứa quan hệthuộc tính trong từ điển Điều này sẽ được chúng tôi đề cập rõ hơn trong nhữngchương tiếp theo của luận văn
Trang 30Chương 2: NHẬN DIỆN, PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ QUAN HỆ THUỘC TÍNHTRONG HỆ THỐNG DANH TỪ TIẾNG VIỆT
2.1 Đặt vấn đề
Quan hệ thuộc tính với tư cách là một quan hệ ngữ nghĩa trong hệ thốngcác quan hệ ngữ nghĩa có những đặc điểm khác biệt so với các loại quan hệ ngữnghĩa khác như quan hệ đồng nghĩa, quan hệ trái nghĩa, quan hệ bao thuộc, Trong chương này, luận văn cố gắng xác lập các công thức, tiêu chí để nhận diện
và phân loại các quan hệ thuộc tính trong tiếng Việt Từ đó, luận văn sẽ đi sâuphân tích hệ thống danh từ có chứa quan hệ thuộc tính trong tiếng Việt nhằm làm
rõ các đặc điểm của quan hệ thuộc tính trong hệ thống danh từ tiếng Việt về nhiềumặt khác nhau
2.2 Nhận diện quan hệ thuộc tính
Cũng như các quan hệ ngữ nghĩa khác trong hệ thống từ vựng của mỗingôn ngữ, quan hệ thuộc tính có cơ sở nhận thức, tâm lí và ngôn ngữ khá rõ ràng[16, 20]
Về mặt nhận thức và tâm lí, trong tiếng Việt, quan hệ thuộc tính được thểhiện qua các biểu hiện của trí nhớ con người Chẳng hạn như, người Việt nhớ
ngay đến ngọt khi nói đến đường, người Việt nhớ ngay đến cay, khi nói đến ớt, hoặc khi nói đến vận tốc của một vật thể chuyển động thì người ta nhớ đến nhanh hoặc chậm, cao hoặc thấp, nói đến một lực lượng nào đó thì người ta nhớ đến
mạnh/ yếu, dày/ mỏng,
Tất cả những mối quan hệ, liên hệ giữa yếu tố biểu thị thực thể/ hành độngvới giá trị/ thuộc tính của yếu tố biểu thị thực thể/ hành động trên đều liên kết chặtchẽ với nhau và được con người ghi nhớ trong não bộ
Về mặt ngôn ngữ, quan hệ thuộc tính có cơ sở ngôn ngữ một cách rõ ràngtrên cả bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa thông qua sự kết hợp tuyến tính xuyên từloại giữa danh từ với tính từ và động từ với tính từ, hay qua quan hệ ngữ phápgiữa các thành tố cấu tạo của cụm từ mà cụ thể là cụm danh từ và cụm động từ
Trang 31Việc nhận diện quan hệ thuộc tính đã được đề cập khi xây dựng Mạng từ(Wordnet) tiếng Việt [16, 17] Qua đó, về mặt tâm lí, nhận thức, quan hệ thuộctính trong tiếng Việt có thể được nhận diện dựa vào một số kết cấu có tính chấtkiểm chứng mang tính hình thức quan trọng như sau [18]:
Trong đó, A là danh từ gọi tên thực thể và B là tính từ chỉ thuộc tính hay
giá trị được gán cho danh từ
Nếu A và B thoả mãn kết cấu trên thì giữa A và B có quan hệ thuộc tính
Quan sát ví dụ sau: Mít có thuộc tính thơm; Thơm là thuộc tính của mít;
Mít thì thơm Ở đây, Mít là được gán cho giá trị/ chứa thuộc tính là thơm, Thơm là thuộc tính của Mít Từ đây suy ra, Mít và thơm có quan hệ thuộc
tính với nhau
Tương tự, ta có các ví dụ khác như sau:
1 Bảng có thuộc tính đen; Đen là thuộc tính của bảng; Bảng thì đen.
Bảng và đen có quan hệ thuộc tính với nhau.
2 Phấn có thuộc tính trắng; Trắng là thuộc tính của phấn; Phấn thì trắng.
Phấn và trắng có quan hệ thuộc tính với nhau.
3 Rùa có đặc trưng chậm; Chậm là đặc trưng của rùa; Rùa thì chậm.
Rùa và chậm có quan hệ thuộc tính với nhau.
4 Gừng có thuộc tính cay; Cay là thuộc tính của gừng; Gừng thì cay.
Gừng và cay có quan hệ thuộc tính với nhau.
5 Voi có đặc điểm to; To là đặc điểm của voi; Voi thì to.
Voi và to có quan hệ thuộc tính với nhau.
2.2.2 Kết cấu 2
Kết cấu 2 là biến thể của kết cấu 1 Nếu coi thuộc tính/ tính chất/ đặc điểm/
đặc trưng là những từ bao (hypernyms), thì có thể mở rộng kết cấu 1 để áp
Trang 32dụng cho những từ thuộc (hyponyms) của các từ bao đó Có thể nhận diện quan hệthuộc tính trong tiếng Việt nhờ kết cấu biến thể sau:
A có hình dáng/ kích thước/ màu sắc/ trạng thái/ mùi vị/… B; B là hình dáng/ kích thước/ màu sắc/ trạng thái/ mùi vị/… của A; A thì có hình dáng/ kích thước/ màu sắc/ trạng thái/ mùi vị/… B (2)
Tương tự như trên, nếu A và B thoả mãn kết cấu (2) thì giữa A và B có
quan hệ thuộc tính Ví dụ:
1 Chanh có vị chua; Chanh thì có vị chua; Chua là vị của chanh.
Chanh và chua có quan hệ thuộc tính với nhau.
2 Đường có vị ngọt; Đường thì có vị ngọt; Ngọt là vị của đường.
Đường và ngọt có quan hệ thuộc tính với nhau.
3 Muối có vị mặn; Muối thì có vị mặn; Mặn là vị của muối.
Muối và mặn có quan hệ thuộc tính với nhau.
4 Bảng có màu đen; Bảng thì có màu đen; Đen là màu của bảng.
Bảng và đen có quan hệ thuộc tính với nhau.
5 Ống có hình dáng dài; Ống thì có hình dáng dài; Dài là hình dáng của
A có thuộc tính/ tính chất/ đặc điểm/ đặc trưng (B) như C (3)
Trong kết cấu trên, C là một danh từ chỉ thực thể mang một thuộc tính bản chất, thường trực B nào đó, vốn được gán một cách gián tiếp cho A.
Tương tự như trên, nếu A và B, C thoả mãn kết cấu (3) thì giữa A và B có
quan hệ thuộc tính
Chẳng hạn, trong cụm định danh bánh bèo, mối quan hệ ngữ nghĩa giữa
bánh và bèo có thể được diễn giải như sau: Bánh có thuộc tính/ tính chất/ đặc điểm/ đặc trưng (về hình dáng) như bèo/ lá bèo.
Trang 33Một số ví dụ khác:
1 chanh cốm: chanh có đặc điểm như cốm.
(chanh có màu giống màu của cốm)
Chanh và cốm có quan hệ thuộc tính với nhau.
2 khoai nghệ: khoai có đặc trưng như nghệ.
(khoai có màu giống màu của nghệ)
Khoai và nghệ có quan hệ thuộc tính với nhau.
3 cuốc bướm: cuốc có đặc trưng như bướm.
(cuốc có hình dạng giống cánh bướm)
Cuốc và bướm có quan hệ thuộc tính với nhau.
2.2.4 Kết cấu 4
Kết cấu 4 là biến thể của kết cấu 3 Áp dụng logic của quan hệ bao thuộctrong tiếng Việt vào trong kết cấu 3, ta cũng sẽ có các biến thể chi tiết, cụ thể hơnlà:
A có hình dáng/ kích thước/ màu sắc/ mùi vị (B) như C (4)
Trong kết cấu này, C luôn luôn được định trị một cách chính xác Chẳng
hạn, trong cụm định danh bánh gối, mối quan hệ ngữ nghĩa giữa bánh và gối có thể được diễn giải như sau: bánh có hình dáng như chiếc gối.
Tương tự, ta có các ví dụ sau:
1 cá kiếm: cá có hình dáng nhọn như kiếm.
Cá và kiếm có quan hệ thuộc tính với nhau.
2 chén hạt mít: chén có hình dáng nhỏ cỡ bằng hạt mít.
Chén và hạt mít có quan hệ thuộc tính với nhau.
3 chim lợn: chim có tiếng kêu eng éc giống lợn.
Chim và lợn có quan hệ thuộc tính với nhau.
4 chuối lửa: chuối có màu đỏ như lửa.
Chuối và lửa có quan hệ thuộc tính với nhau 5 chuối mít: chuối có mùi
thơm như mít.
Chuối và mít có quan hệ thuộc tính với nhau.
Trang 342.2.5 Kết cấu 5
Bên cạnh đó, nếu hình dung một thực thể từ vựng nào đó với tư cách là một
từ tổng (holonyms) gồm nhiều từ phân (meronyms) thì những kết cấu trên có thểđược biến đổi thành một dạng thức khái quát là:
A có C B (5)
Trong kết cấu này, A là từ tổng biểu thị thực thể, B là từ biểu thị thuộc tính,
C là từ phân biểu thị bộ phận của thực thể Thuộc tính B của A trong kết cấu kiểu này sẽ được nhận diện qua thuộc tính thực, có giá trị điển hình của B; nói cách
khác, thuộc tính B của A được hình dung qua thuộc tính của C Như thế, kết cấu A
có C B, sẽ được cụ thể hoá thành những dạng kiểu như A có thân/ đầu/ chân/ tay/
…B Loại tổ hợp từ thoả mãn kết cấu này khá đa dạng vì thực thể trong kết cấu
này có thể là người, động vật hay các đồ vật tạo tác, miễn là C và thuộc tính B của
C được gọi tên đúng.
Ví dụ:
1 bò xám: bò có thân (màu) xám.
Bò và xám có quan hệ thuộc tính với nhau.
2 cá trắm đen: cá trắm có thân (màu) đen.
Cá trắm và đen có quan hệ thuộc tính với nhau.
3 gấu trắng: gấu có lông (màu) trắng.
Gấu và trắng có quan hệ thuộc tính với nhau.
Bên cạnh đó, có những trường hợp từ phân biểu thị bộ phận của thực thể được thể hiện ngay trong danh từ
Ví dụ:
1 khướu đầu đen: khướu có đầu đen.
Khướu và đầu đen có quan hệ thuộc tính với nhau.
2 thông đuôi đỏ: thông có đuôi đỏ.
Thông và đuôi đỏ có quan hệ thuộc tính với nhau.
3 thu hải đường lá to: thu hải đường có lá to.
Thu hải đường và lá to có quan hệ thuộc tính với nhau.
Trang 35Bên cạnh đó, có một số ít trường hợp, từ phân biểu thị bộ phận của thực thểxuất hiện ở vị trí trước từ phân biểu thị thuộc tính.
Ví dụ:
1 cá bạc má: cá có má bạc.
Cá và bạc má có quan hệ thuộc tính với nhau.
2 vú đá: đá có hình vú.
Đá và vú có quan hệ thuộc tính với nhau.
Những kết cấu nhận diện quan hệ thuộc tính trên là những biểu thức ngônngữ tự nhiên, tồn tại trong cảm thức của mọi người bản ngữ Những kết cấu này lànhững công thức cùng lúc đáp ứng được các tiêu chí thoả đáng các yêu cầu vềmiêu tả, tâm lí và ngữ dụng của việc nhận diện, miêu tả và lí giải quan hệ thuộctính trong tiếng Việt
Như vậy, việc nhận diện quan hệ thuộc tính không phải vấn đề quá khókhăn, xét về mặt tâm lí, nhận thức Có nhiều kết cấu khác nhau, từ khái quát chođến cụ thể để nhận diện quan hệ thuộc tính Tuy nhiên, tất cả các kết cấu trên đềuxoay quanh mối quan hệ ngữ nghĩa giữa đơn vị từ vựng chỉ thực thể và đơn vị từvựng chỉ thuộc tính dựa trên các quan hệ ngữ nghĩa khác như quan hệ tổng phân,quan hệ bao thuộc,
Thêm vào đó, trong số các kết cấu nhận diện quan hệ thuộc tính trên thì kết
cấu 1: A có thuộc tính/ tính chất/ đặc điểm/ đặc trưng B, hoặc B là thuộc tính/
tính chất/ đặc điểm/ đặc trưng của A, hoặc A thì B có tính bao quát nhất, đặc
trưng nhất và phổ biến nhất Kết cấu này có thể nhận diện mọi quan hệ thuộc tínhtrong tiếng Việt
2.3 Phân loại quan hệ thuộc tính
2.3.1 Tiêu chí phân loại
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các quan hệ thuộc tính trong tiếngViệt Qua khảo sát tư liệu, chúng tôi thấy có thể phân loại các quan hệ thuộc tínhtrong tiếng Việt dựa vào đặc điểm của các tổ hợp chứa quan hệ thuộc tính hay dựavào đặc điểm của các yếu tố cấu thành tổ hợp có chứa thuộc tính [18]
Trang 36a Phân loại quan hệ thuộc tính dựa vào đặc điểm của các tổ hợp chứa quan hệ thuộc tính
Các tổ hợp có chứa quan hệ thuộc tính trong tiếng Việt có thể là những tổhợp được từ vựng hoá, không được từ vựng hoá hay là những tổ hợp trung giangiữa hai loại trên Tiêu chí để phân loại các nhóm tổ hợp này là mức độ từ vựnghoá của tổ hợp
b Phân loại quan hệ thuộc tính dựa vào đặc điểm của các yếu tố cấuthành tổ hợp có chứa thuộc tính Cụ thể là dựa vào các đặc điểm dưới đây:
1/ Mức độ trừu tượng của đơn vị thực thể chứa thuộc tính
2/ Cấp định danh
3/ Tính độc lập của đơn vị thể hiện thuộc tính
4/ Tính chất gọi tên thuộc tính trực tiếp hay gián tiếp
Mỗi tiêu chí phân loại trên cho kết quả là những nhóm quan hệ thuộc tínhkhác nhau
2.3.2 Kết quả phân loại
Căn cứ các tiêu chí phân loại đã nêu trên, các quan hệ thuộc tính trongtiếng Việt có thể được phân loại thành các nhóm như sau:
2.3.2.1 Các quan hệ thuộc tính xét theo mức độ từ vựng hoá của tổ hợp chứa quan hệ thuộc tính
Căn cứ vào mức độ từ vựng hoá của tổ hợp được tạo thành từ yếu tố biểuthị thực thể chứa thuộc tính và yếu tố biểu thị thuộc tính có thể phân loại các quan
hệ thuộc tính trong tiếng Việt thành các nhóm sau:
1/ Quan hệ thuộc tính trong tổ hợp được tạo thành từ yếu tố biểu thị thựcthể và yếu tố biểu thị thuộc tính đã được từ vựng hoá
Ví dụ: mèo mun - đen/ mun, chó mực - đen/ mực, ngựa ô - đen/ ô,… Trong các ví dụ trên, các tổ hợp mèo mun, chó mực, ngựa ô đều là các tổ
hợp đã được từ vựng hoá thành các đơn vị từ vựng độc lập trong từ điển Chúng
có tư cách là một mục từ trong từ điển ngôn ngữ Đây cũng chính là đối tượngnghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này
Trang 37Các trường hợp sau là tương tự: ngựa tía – đỏ, ngựa hồng – đỏ, ngựa bạch
– trắng,
2/ Quan hệ thuộc tính trong tổ hợp được tạo thành từ yếu tố biểu thị thựcthể chứa thuộc tính và yếu tố biểu thị thuộc tính không được từ vựng hoá
Ví dụ: biệt thự - to, voi - to, vòi voi - dài, chuột nhắt - bé, cú - hôi,
Trong các ví dụ trên, các tổ hợp biệt thự - to, voi - to, vòi voi - dài, chuột
nhắt - bé, cú - hôi,… đều chỉ là các tổ hợp từ tự do, chúng chưa/ không được từ
vựng hoá thành các đơn vị từ vựng độc lập trong từ điển Chúng không có tư cách
là một mục từ trong từ điển ngôn ngữ Và do vậy, khi tra từ điển, chúng ta khôngthấy các tổ hợp từ này
Các trường hợp sau là tương tự: đỉa - dai, bò - ngu, rùa - chậm, thỏ -
nhanh,
3/ Quan hệ thuộc tính trong tổ hợp được tạo thành từ yếu tố biểu thị thựcthể chứa thuộc tính và yếu tố biểu thị thuộc tính là loại trung gian giữa hai loại tổhợp nói trên
Ví dụ: hươu cao cổ - cao, bánh chưng xanh - xanh,
Trong các trường hợp này, yếu tố biểu thị thực thể và yếu tố thuộc tính cómối quan hệ chặt chẽ với nhau khiến chúng có thể làm cho các yếu tố biểu thịthực thể và yếu tố biểu thị thuộc tính có thể kết hợp được với nhau Tuy nhiên,mối quan hệ này chưa đủ chặt chẽ để các tổ hợp tạo bởi các yếu tố biểu thị thựcthể và yếu tố biểu thị thuộc tính đó trở thành một tổ hợp được từ vựng hoá Các tổhợp do chúng tạo ra chỉ là các tổ hợp trung gian giữa các tổ hợp được từ vựng hoá
và các tổ hợp không được từ vựng hoá
Các trường hợp sau là tương tự: phấn trắng, mực đen, máu đỏ, da vàng,
Về cơ bản, các danh từ ghép trong tiếng Việt thuộc về một trong ba loạitrên Tuy nhiên, trong thực tế, có một số trường hợp mà về mặt hình thức có sự
nhập nhằng giữa ba loại này Đó là những trường hợp như cá vàng, áo dài, cà
chua,
Trang 382.3.2.2 Các quan hệ thuộc tính xét theo đặc điểm của các yếu tố cấuthành tổ hợp có chứa thuộc tính
1/ Các quan hệ thuộc tính xét theo mức độ trừu tượng của đơn vị thực thể chứa thuộc tính
Căn cứ vào mức độ trừu tượng của thực thể chứa thuộc tính có thể phânloại các quan hệ thuộc tính trong tiếng Việt thành các nhóm sau:
1.1/ Quan hệ thuộc tính của các thực thể có tính chất cụ thể
Ví dụ: mào gà – trắng, cờ – trắng, cúc – trắng, chò – nâu,…
Trong các ví dụ trên, mào gà, cờ, cúc và chò đều là những thực thể có tính
cụ thể Quan hệ giữa mào gà, cờ, cúc và chò với trắng và nâu là quan hệ thuộc
tính giữa các thực thể có tính cụ thể và các thuộc tính của nó
1.2/ Quan hệ thuộc tính của các thực thể có tính chất trừu tượng
Ví dụ: kích thước – to/ nhỏ, tốc độ – nhanh/ chậm, số lượng – nhiều/ ít,… Trong các ví dụ trên, kích thước, tốc độ, và số lượng đều là những thực thể có tính trừu
tượng Quan hệ giữa kích thước, tốc độ và số lượng với to/ nhỏ,
nhanh/ chậm và nhiều/ ít là quan hệ thuộc tính giữa các thực thể có tính trừu
tượng và các thuộc tính của nó
Ở loại quan hệ thuộc tính này, các giá trị thuộc tính thường ở thế lưỡng trị,
và thường do những cặp đơn vị từ vựng mang sắc thái nghĩa đối lập nhau: to
– nhỏ, nhiều – ít, dài – ngắn, nhanh – chậm,… biểu thị Thêm vào đó, đơn vị từ
vựng biểu thị các thực thể trừu tượng cũng có thể có nhiều hơn một cặp thuộc
tính Chẳng hạn, vận tốc không chỉ có thuộc tính là nhanh – chậm mà còn có thể
có thuộc tính lớn – nhỏ Do vậy, ta có thể nói: vận tốc nhanh, vận tốc chậm, vận
tốc lớn, vận tốc nhỏ, Tương tự, ta có thể nói: lực lượng mạnh, lực lượng yếu, lực lượng dày, lực lượng mỏng vì các yếu tố trong các cặp đơn vị từ vựng mang
sắc thái nghĩa đối lập nhau mạnh – yếu, dày – mỏng đều biểu thị các thuộc tính của thực thể có tính chất trừu tượng lực lượng.
Quan sát thêm các trường hợp sau: nhiệt độ – cao/ thấp, độ ẩm – cao/ thấp,
trình độ – cao/ thấp, tư duy – nhanh/ chậm,
Trang 39Trên 500 cặp từ có quan hệ thuộc tính mà Mạng từ tiếng Việt đã ghi nhận
và xử lí đều thuộc loại quan hệ thuộc tính này
2/ Các quan hệ thuộc tính xét theo cấp định danhCăn cứ vào cấp định danh có thể phân loại các quan hệ thuộc tính trong hệ thống danh từ tiếng Việt thành các nhóm sau:
2.1/ Quan hệ thuộc tính định danh cấp một
Ví dụ: áo dài, rau thơm, rắn lục,
Trong tổ hợp áo dài, dài là thuộc tính của áo Tương tự, trong tổ hợp rau
thơm, thơm là thuộc tính của rau, trong tổ hợp rắn lục, lục là thuộc tính của rắn.
Loại này có mô hình: A B.
Quan sát thêm các trường hợp sau: lim vàng, lòng đen, lòng đỏ, mái đen,
2.2/ Quan hệ thuộc tính định danh cấp hai
Ví dụ: rau mùi đỏ, khướu đầu đen, vượn đen tay trắng,
Trong tổ hợp rau mùi đỏ, mùi là thuộc tính của rau, đỏ là thuộc tính của
rau mùi Hay, trong tổ hợp khướu đầu đen, đen là thuộc tính của đầu, đầu đen là thuộc tính của khướu Tương tự, trong tổ hợp vượn đen tay trắng, đen là thuộc tính của vượn, trắng là thuộc tính của tay, tay trắng - là thuộc
tính của vượn đen.
Loại này có mô hình: A B1 B2 (rau mùi đỏ), A1 A2 B2 (khướu đầu đen), A1 B1 A2 B2 (vượn đen tay trắng), A1 A2 B2 B2’ (khướu mỏ dẹt to).
Quan sát thêm các trường hợp sau:
A B1 B2: móng bò gỉ sắt,
A1 A2 B2: khướu đuôi đỏ, thu hải đường lá to, thù dù quả đen, thù dù
quả đỏ, thù dù quả hồng, mộc hoa trắng,
A1 B1 A2 B2: khướu mỏ dẹt lưng đen, móng bò hoa trắng, rắn lục đầu
đen, ráy leo lá xẻ, chất độc màu da cam, rắn lục đầu đen,
3/ Các quan hệ thuộc tính xét theo tính độc lập của đơn vị thể hiện thuộc tính
Trang 40Căn cứ vào cấp độ độc lập của đơn vị thể hiện thuộc tính có thể phân loạicác quan hệ thuộc tính trong hệ thống danh từ tiếng Việt thành các nhóm sau:
3.1/ Quan hệ thuộc tính trong tổ hợp chứa yếu tố biểu thị thuộc tính là đơn
vị từ vựng có nghĩa nhưng không có khả năng hoạt động độc lập
Ví dụ: mèo mun - đen/ mun, chó mực - đen/ mực, ngựa ô - đen/ ô,
Trong các ví dụ trên, mèo và mun, chó và mực, ngựa và ô, có quan hệ thuộc tính với nhau Tuy nhiên, các yếu tố mun, mực, và ô đều là các đơn vị từ vựng có
nghĩa (đen) nhưng không có khả năng hoạt động độc lập Các đơn vị từ vựng này
chỉ có nghĩa (đen) khi kết hợp với các đơn vị từ vựng mèo, chó và ngựa.
Quan sát thêm các trường hợp sau: bạch biến, bạch cúc, bạch đàn, cóc tía,
cồng tía,
3.2/ Quan hệ thuộc tính trong tổ hợp chứa yếu tố biểu thị thuộc tính là đơn
vị từ vựng có nghĩa và có khả năng hoạt động độc lập
Ví dụ: bảng đen – đen, bí đỏ – đỏ, cá vàng – vàng,
Trong các ví dụ trên, các yếu tố đen, đỏ và vàng đều là các đơn vị từ vựng
có nghĩa và có khả năng hoạt động độc lập Các đơn vị từ vựng này giữ nguyên
nội dung ngữ nghĩa của mình khi kết hợp với các đơn vị từ vựng khác nhau Đen trong bảng đen cũng có nội dung ngữ nghĩa như đen trong phèn đen Tương tự,
đỏ trong bí đỏ cũng có nội dung ngữ nghĩa như đỏ trong bạch đàn đỏ Hay vàng
trong cá vàng cũng như vàng trong hoa mai vàng Chúng là những đơn vị từ vựng
có khả năng hoạt động độc lập hoàn toàn Nội dung ngữ nghĩa không cần phải dựavào ngữ cảnh để xác định
Quan sát thêm các trường hợp sau: cờ trắng, đèn đỏ, đèn vàng, đồng đen,
đồng đỏ,
Trong cách phân loại này, loại thứ nhất thường gặp trong những tổ hợpđược từ vựng hoá cao hơn Tuy nhiên, nhóm này về mặt số lượng lại có phầnkhiêm tốn Ngược lại, loại thứ hai thường gặp trong những tổ hợp không được từvựng hoá và những tổ hợp trung gian chưa được từ vựng hoá và về mặt số lượng
có phần ưu thế hơn loại thứ nhất