Quan trọng hơn, bên cạnh việc cảithiện chất lượng nguồn nhân lực ở cả khía cạnh tri thức và văn hóa, hợp tác quốc tếcòn giúp nâng cao năng lực đào tạo – nghiên cứu, tác động tích cực đến
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60 31 02 06
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Khắc Nam
HÀ NỘI - 2014
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -GIẤY XÁC NHẬN SỬA CHỮA LUẬN VĂN
Kính gửi: PGS.TS Phạm Quang Minh
Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ khoa học chuyên
ngành Quan hệ Quốc tế (Mã số: 60310206).
Tên em là Nguyễn Đỗ Minh Hằng, học viên cao học khóa QH-2012-X, chuyênngành Quan hệ Quốc tế, Khoa Quốc tế học theo quyết định số 2797/QĐ-XHNV-SĐH ngày 28/12/2012 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn, Đại học Quốc gia Hà Nội Em đã hoàn thành bảo vệ Luận văn thạc sĩ khoa họcchuyên ngành Quan hệ Quốc tế, mã số 60310206 ngày 01 tháng 11 năm 2014 với đề
tài: “Hợp tác quốc tế của Trường Đại học Giao thông Vận tải từ 1994 đến 2013”.
Theo những đánh giá, nhận xét và kết luận của Hội đồng chấm luận văn ngày
1 tháng 11 năm 2014, luận văn của em đã được sửa chữa như sau:
- Bổ sung nguồn trích dẫn cho biểu đồ 2.1, 2.2
- Sửa chữa một số lỗi chính tả do đánh máy
- Sửa lại đánh số thứ tự và quy cách trình bày ở phần tài liệu tham khảo
- Bổ sung mục tiêu xây dựng Nhà trường, phương hướng phát triển nói chung
và mục tiêu phát triển hợp tác quốc tế nói riêng
Nay em làm đơn này kính đề nghị PGS.TS Phạm Quang Minh - Chủ tịch Hội đồng xác nhận việc bổ sung nói trên của em đã tuân thủ theo đúng yêu cầu
Em xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, Ngày 10 tháng 11 năm 2014
Xác nhận của Chủ tịch hội đồng Học viên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Khắc Nam.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Hoàng Khắc Nam đã tận tình trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện, hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ văn phòng Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các đồng nghiệp ở Phòng Đối ngoại và các đồng nghiệp khác trong Trường Đại học Giao thông Vận tải đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục 1
Danh mục chữ cái viết tắt 3
Danh mục các bảng, biểu đồ, hình 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1: CÁC NHÂN TỐ QUY ĐỊNH HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI 11
1.1 Cơ sở lý luận và chủ trương, chính sách của Việt Nam 11
1.1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.2 Chính sách đối ngoại và định hướng hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo Việt Nam 13
1.1.3 Chính sách phát triển giao thông vận tải 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 18
1.2.1 Tình hình trong nước và thế giới 18
1.2.2 Những thách thức của toàn cầu hóa và bối cảnh giáo dục Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới 20
1.3 Sự hình thành và phát triển hoạt động hợp tác quốc tế của Trường Đại học Giao thông vận tải 25
1.3.1 Tổng quan về Trường Đại học Giao thông vận tải 25
1.3.2 Khái quát hoạt động hợp tác quốc tế của Nhà trường trước năm 1994 và sự thành lập phòng Đối ngoại 26
Chương 2: CÁC HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ CHỦ YẾU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TỪ 1994 ĐẾN 2013 30
2.1 Hợp tác đào tạo 30
2.1.1 Trao đổi giảng viên, sinh viên 30
2.1.2 Các đề án, chương trình đào tạo quốc tế 33
2.1.3 Các chương trình học bổng 37
2.1.4 Gửi và tiếp nhận lưu học sinh 40
2.2 Hợp tác nghiên cứu khoa học công nghệ 43
2.2.1 Hợp tác khai thác các đề tài nghiên cứu quốc tế 43
2.2.2 Tổ chức hội nghị, hội thảo, khóa học ngắn hạn 45
2.3 Hợp tác nhằm tăng cường cơ sở vật chất, tài liệu giảng dạy cho Nhà trường 46
2.3.1 Hợp tác nhằm tăng cường trang thiết bị, máy móc kỹ thuật 46
Trang 72.3.2 Trao đổi, chuyển giao các tài liệu học thuật, đồng xuất bản tài liệu,
tạp chí khoa học 48
2.4 Các hoạt động khác 49
2.4.1 Công tác đoàn ra, đoàn vào 49
2.4.2 Đặt trụ sở của cơ sở đào tạo, tổ chức nước ngoài trong khuôn viên trường 50
2.4.3 Hợp tác tổ chức tư vấn du học và tuyển dụng 51
2.4.4 Tổ chức các sự kiện quốc tế khác 52
2.5 Đánh giá 53
2.5.1 Thành tựu 53
2.5.2 Hạn chế 58
Chương 3: TRIỂN VỌNG HỢP TÁC VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI 62
3.1 Triển vọng hợp tác quốc tế của Trường đại học Giao thông vận tải 62
3.1.1 Thuận lợi 63
3.1.2 Khó khăn 64
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế của Trường Đại học Giao thông vận tải 68
3.2.1 Xây dựng các kế hoạch, chiến lược hợp tác quốc tế của Nhà trường về dài hạn, ngắn hạn 68
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy định về hợp tác quốc tế trong Trường 76
3.2.4 Duy trì và mở rộng quan hệ với các đối tác quốc tế 77
3.2.5 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 80
3.2.6 Đẩy mạnh việc tìm kiếm các nguồn tài chính phục vụ hoạt động hợp tác quốc tế 83
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 94
Trang 8DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
AIT Asian Institute of Technology
Viện Công nghệ châu Á
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
ASEA-UNINET ASEAN-European Academic University Network
Mạng lưới các trường Đại học Á –Âu
AUF Agence universitaire de la Francophonie
Tổ chức Đại học Pháp ngữ
DAAD Deutscher Akademischer Austauschdienst
Cơ quan trao đổi hàn lâm Đức
DELF Diplôme d’Étude en Langue français
Bằng tiếng Pháp cơ sở
ĐTQT Đào tạo quốc tế
Liên minh châu Âu
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GTVT Giao thông vận tải
MADI The Moscow Automobile And Road Construction
State Technical University
Trường Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Quốc gia Đường
bộ Matxcova
MIIT Moscow State University of Railway Engineering
Trường Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Quốc gia Đường sắt Matxcova
Trang 9NCKH Nghiên cứu khoa học
ODA Official Development Assistant
Viện trợ phát triển chính thức
TCF Test de Connaissance du Français
Chứng chỉ tiếng Pháp
SWJTU Southwest Jiaotong University
Trường đại học Giao thông Tây Nam
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 10Hình 3.1 Sơ đồ phân cấp quản lý hoạt động hợp tác quốc tế tại Trường Đại Học
Giao thông vận tải 75
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Bước vào thế kỷ 21, quá trình toàn cầu hóa đã và đang tác động mạnh mẽđến mọi quốc gia, ở mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Để đốimặt và vượt qua các thách thức của toàn cầu hóa, các quốc gia, đặc biệt là các nướcđang phát triển phải có sự chuẩn bị kỹ càng, tập trung đầu tư cho nguồn nhân lựcchất lượng cao, có khả năng tiếp nhận, cải biến và sáng tạo tri thức Giáo dục do vậytrở thành quốc sách hàng đầu của nhiều nước Trong đó, giáo dục đại học đóng vaitrò quan trọng và được nhìn nhận như một cột trụ cho việc xây dựng và phát huy nộilực, tiến tới phát triển bền vững và sự thịnh vượng của mỗi quốc gia
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước cũng luôn khẳng định phát triển giáo dục làquốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mụctiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội Với chủ trương tham gia tích cực vàchủ động vào cộng đồng quốc tế, việc hội nhập của giáo dục đại học là một quá trình tấtyếu Hội nhập quốc tế được coi như một trong những con đường cần thiết góp phần đổimới và cải cách một cách toàn diện, căn bản nền giáo dục đại học mà đất nước ta đangmong muốn triển khai Trong quá trình đổi mới này, cái bên trong của nền giáo dục đạihọc Việt Nam là quyết định nhưng cái tác động bên ngoài từ hệ thống giáo dục đại họcquốc tế là không thể thiếu
Nghị quyết 14/2005/NQ-CP đã đặt ra nhiệm vụ:“xây dựng chiến lược hộinhập quốc tế, nâng cao năng lực hợp tác và sức cạnh tranh của giáo dục đại học ViệtNam, thực hiện các hiệp định và cam kết quốc tế” Trên tinh thần đó, các trường đạihọc Việt Nam nói chung và Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) nói riêng
đã tích cực thiết lập, củng cố và mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế, thông quanhiều dự án hợp tác đào tạo, nghiên cứu, trao đổi sinh viên, trao đổi học thuật,chuyển giao công nghệ Tại Trường Đại học GTVT, các chương trình hợp tác quốc
tế phục vụ đào tạo, nghiên cứu đã được quan tâm và triển khai từ thời kỳ đổi mới,khi chính sách ngoại giao, văn hóa, xã hội của Việt Nam cởi mở hơn Vào thời điểmnày, tình hình quốc tế cũng có nhiều biến chuyển thuận lợi, là thời cơ để Nhà trường
Trang 12đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế Trong hoàn cảnh đó, phòng Đối ngoại đượcthành lập vào tháng 10/1994 đã đưa hoạt động hợp tác quốc tế của Nhà trường đivào chiều sâu, được tổ chức quy củ, chuyên nghiệp hơn Hợp tác quốc tế từ đó đạtnhiều thành tựu đáng kể khi tạo điều kiện cho giảng viên, sinh viên tiếp cận với hệthống các tri thức khoa học mới, tiên tiến của thế giới; cập nhật và học hỏi các nộidung đào tạo hiện đại của các trường nước ngoài Hợp tác quốc tế cũng đem đếncho cán bộ, giảng viên nhiều bài học và kinh nghiệm quý báu trong quá trình thựchiện các dự án hợp tác giáo dục, nghiên cứu Quan trọng hơn, bên cạnh việc cảithiện chất lượng nguồn nhân lực ở cả khía cạnh tri thức và văn hóa, hợp tác quốc tếcòn giúp nâng cao năng lực đào tạo – nghiên cứu, tác động tích cực đến quan điểm,nhận thức truyền thống về giáo dục đào tạo cũng như quảng bá tên tuổi của Nhàtrường với bạn bè quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt động này còn bộc lộnhiều hạn chế, chưa phát huy được tối đa hiệu quả và tương xứng với tiềm năngphát triển của Nhà trường và các đối tác Số lượng các hoạt động hay các dự án hợptác hàng năm còn ít, tính bền vững và chất lượng của nhiều chương trình tương đốithấp Có những chương trình được ký kết nhưng đến khi thực hiện lại không khả thihoặc không được triển khai Hơn nữa, các kế hoạch, chiến lược hợp tác quốc tế củaNhà trường chưa được hoạch định ở dài hạn mà mới chỉ được đề xuất thực hiện theotừng năm hoặc lâu hơn là theo nhiệm kỳ
Trước thực trạng đó, là chuyên viên làm công tác quan hệ quốc tế của phòng
Đối ngoại, Trường Đại học GTVT, tác giả lựa chọn đề tài “Hợp tác quốc tế của Trường Đại học Giao thông vận tải từ 1994 đến 2013” với mong muốn có cái
nhìn tổng quan về hoạt động hợp tác quốc tế của Nhà trường sau 20 năm chính thứchoạt động (từ 1994 đến 2013) Từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quảcông tác quan hệ quốc tế của Nhà trường ở cả chiều rộng và chiều sâu
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện với mục đích làm sáng tỏ vai trò của công tác quan
hệ quốc tế trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, hội nhập
Trang 13và phát triển của Nhà trường; đánh giá quá trình hợp tác quốc tế của Trường trong
20 năm qua; trên cơ sở đó, tìm kiếm các giải pháp để thúc đẩy và phát huy hiệu quảhoạt động hợp tác quốc tế tại Trường trong những năm tới
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, đã có khá nhiều bài viết, báo cáo và một số công trình nghiên cứu về
đề tài hợp tác quốc tế trong các trường đại học ở Việt Nam Như tác giả Phạm Thị Lyvới bài viết “Vai trò của Hợp tác Quốc tế trong việc xây dựng Trường Đại học theochuẩn mực Quốc tế cho Việt Nam” Bài viết đề cập đến quan hệ quốc tế với tư cách làmột yếu tố thúc đẩy quá trình quốc tế hóa ở các trường đại học Việt Nam Tác giảNguyễn Anh Thu cũng có bài viết “Quốc tế hóa giáo dục đại học trong bối cảnh toàncầu hóa” phân tích các tác động của toàn cầu hóa với Hiệp định chung về thương mạitrong dịch vụ (GATS) tới giáo dục đại học Một số nghiên cứu khác đề cập đến việc bồidưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác quan hệ quốc tế Như tác giả Bùi Thị Hồng Lâmvới đề tài luận văn thạc sỹ: “Một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ làm công tác quan hệ quốc tế của Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh hộinhập” Đề tài này chủ yếu phân tích năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quan hệ quốc
tế tại Đại học Quốc gia Hà Nội và chuẩn hóa việc tuyển dụng cán bộ; đưa ra biện pháp
về quy trình đánh giá cán bộ, qui hoạch về qui mô, cơ cấu và xây dựng quy chế tuyểndụng cho phù hợp với việc phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác quan hệ quốc tế trongbối cảnh hội nhập Hay như tác giả An Thùy Linh với đề tài luận văn thạc sỹ: “Tổ chứccông tác quan hệ quốc tế nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học vàhội nhập trong Đại học Quốc gia Hà Nội” Luận văn tuy có đề cập đến quan hệ quốc tế
và vai trò của quan hệ quốc tế với việc nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoahọc của giáo dục đại học trong bối cảnh hội nhập nhưng chủ yếu tập trung vào thươngmại dịch vụ giáo dục
Nghiên cứu về Trường Đại học GTVT, tác giả Bùi Thị Giang đã thực hiện đềtài luận văn thạc sỹ: “Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tạiTrường Đại học Giao thông vận tải trong giai đoạn hiện nay” Luận văn đã đưa ra lýluận về quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo và đề xuất một số biện
Trang 14pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các dự án này Tuy vậy, luận văn được thựchiện khi số lượng các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Nhà trường còn ít, đơn vịphụ trách các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tập trung vào một đơn vị chủ lực làphòng Đối ngoại dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu Nhà trường Gần đây, tác giảNgô Thùy Linh cũng thực hiện đề tài: “Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạocủa Trường Đại học Giao thông vận tải đến năm 2020” Luận văn phân tích thựctrạng quản lý các dự án hợp tác đào tạo của Nhà trường, dự báo hình thức hợp tácđào tạo đến năm 2020 và kiến nghị các giải pháp để quản lý hiệu quả các dự án này.
Tuy nhiên, tất cả các luận văn trên đều tiếp cận vấn đề hợp tác quốc tế từ góc
độ quản lý giáo dục với đối tượng nghiên cứu chỉ bó hẹp trong các dự án đào tạo,một số luận văn áp dụng hoàn toàn các khung lý thuyết quản lý dự án để phân tích
và đưa ra nhận định cũng như giải pháp Trong khi đó, công tác hợp tác quốc tế ởmột trường đại học không chỉ có các dự án liên kết đào tạo mà còn có hoạt độngtrao đổi học thuật, trao đổi văn hóa, giao lưu sinh viên, hợp tác nghiên cứu khoahọc, chuyển giao công nghệ, đồng tổ chức hội nghị, hội thảo… được thực hiện dướinhiều hình thức phong phú Bởi vậy rất cần những đánh giá, nhận định và các biệnpháp đề xuất toàn diện, bao trùm toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của hợp tác quốc
tế, dưới góc độ quan hệ quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động hợp tác quốc tế trong việc nâng
cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập tại Trường Đại học GTVT
- Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Trường Đại học Giao thông vận tải và các đối tác
Thời gian: 1994 – 2013
Nội dung: Hợp tác quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu
- Sưu tầm sách, báo, các báo cáo, văn bản quy định, nghị quyết, chiến lượcphát triển giáo dục đào tạo, chiến lược phát triển giao thông vận tải cho từng giai
Trang 15đoạn; tìm kiếm thông tin trên các trang web của các trường đại học, các đơn vị quản
lý nhà nước, các tài liệu liên quan đến đề tài;
- Sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và tổng hợp
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: phỏng vấn các cán bộ lãnh đạo và các cán
bộ có kinh nghiệm quản lý và triển khai các chương trình hợp tác quốc tế trong trường
- Áp dụng các cấp độ phân tích: Toàn cầu, trong nước
- Phương pháp tiếp cận của chủ nghĩa tự do mới về quan hệ quốc tế
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hợp tác quốc tế của Trường Đại học Giao thông vận tải
- Phân tích thực trạng các hoạt động hợp tác quốc tế của Trường Đại họcGiao thông vận tải; tìm ra các thành quả, hạn chế và các khó khăn thuận lợi trong quátrình tiến hành hợp tác
- Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế của Trường Đại học Giao thông vận tải
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục
Trang 16Chương 1 CÁC NHÂN TỐ QUY ĐỊNH HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
1.1 Cơ sở lý luận và chủ trương, chính sách của Việt Nam
1.1.1 Cơ sở lý luận
Nhìn vào lịch sử phát triển của xã hội loài người thì sự hình thành quan hệquốc tế là nhu cầu khách quan, thiết yếu của sự vận động và phát triển của mỗi cộngđồng dân tộc trong quá trình lịch sử Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của cuộccách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã tác động và thâm nhập vào mọi lĩnhvực của đời sống quốc tế, thúc đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá đời sống chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội… Tính chỉnh thể và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốcgia dân tộc ngày càng tăng lên, các vấn đề toàn cầu ngày càng cấp bách đòi hỏi sựhợp tác sâu rộng giữa các chủ thể quốc tế để cùng nhau giải quyết Quá trình toàncầu hóa cùng sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàngđầu thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiềulĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao Như vậy, chính sự phát triểnchung của văn minh nhân loại, của tiến bộ xã hội, trí tuệ và năng lực của con người
và mỗi cộng đồng quốc gia dân tộc cũng như nhu cầu khách quan của sự phát triểnhướng tới tương lai của các dân tộc đã quy định sự phát triển ngày càng sâu rộngcác mối quan hệ và hợp tác quốc tế
Ở lĩnh vực giáo dục, hợp tác quốc tế lại càng khẳng định được vai trò của mình như một xu thế không thể đảo ngược
Từ xưa đến nay, giáo dục luôn được coi là nền tảng cơ bản làm thay đổi vàcải tiến con người – yếu tố quan trọng cấu thành nên sức mạnh quốc gia Không mộtquốc gia nào trên thế giới có thể phát triển mà không ưu tiên đầu tư cho giáo dục,nhất là trong thời đại mà kinh tế tri thức đã đẩy sự phân hóa giữa các nước phát triển
và đang phát triển lên mức độ ngày càng cao hơn, ở quy mô lớn hơn Bởi vậy, giáodục phải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo
Trang 17nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để phục vụ tốt các mục tiêu của chiến lược phát triểnkinh tế xã hội.
Trong một thế giới biến đổi không ngừng với các thách thức ngày càng giatăng, trọng trách nặng nề của giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đại học nóiriêng là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao để thích ứng, tồn tại và phát triển ởmôi trường cạnh tranh khốc liệt Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ đó, các trường đạihọc phải có năng lực mang tính toàn cầu với những mối quan hệ có tính chất quốc tếdưới nhiều hình thức
Vậy hợp tác quốc tế có vai trò như thế nào và đem lại lợi ích gì cho giáo dục đại học?
Hợp tác quốc tế được coi như một chiến lược trong tiến trình cải cách và làmột trong những giải pháp để đổi mới giáo dục đại học, hội nhập quốc tế của ViệtNam
Về tổng thể, hoạt động hợp tác quốc tế tại một trường đại học có nhiệm vụnâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và là điều kiện tiên quyết đối vớihội nhập của giáo dục đại học Hợp tác quốc tế giúp các trường đại học thiết lậpđược nhiều hình thức hợp tác đa dạng, phong phú với các dự án, chương trình phốihợp đào tạo, hợp tác song phương, đa phương… Trong quá trình đó, chúng ta có thểkhai thác các cơ hội, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, cập nhật các tiến bộkhoa học kỹ thuật hiện đại thông qua các chương trình nghiên cứu chung, liên kếtvới các đối tác nước ngoài để từng bước chuẩn hoá các chương trình đào tạo và đổimới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu các tiêu chuẩn quốc tế nhằm tiến tới quốc
tế hoá các chương trình, giáo trình đại học, sau đại học… Cũng nhờ đó, các sinhviên, giảng viên của Việt Nam có cơ hội được đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn,trao đổi văn hóa ở nước ngoài và mở rộng tầm nhìn ra thế giới Ngược lại, chúng tacũng được đón tiếp các giảng viên, chuyên gia, lưu học sinh từ các đối tác nướcngoài đến tham quan, học tập, nghiên cứu, đồng tổ chức hội nghị, hội thảo khoahọc Đây là một cơ hội tốt nếu các trường đại học biết cách tận dụng để giới thiệu
và nâng cao uy tín, tên tuổi của mình ở khu vực và trên thế giới Có thể nói hoạt
Trang 18động này đã góp phần đưa tinh hoa của nền giáo dục tiên tiến vào Việt Nam, đồngthời cũng phần nào quảng bá, đưa hình ảnh giáo dục Việt Nam ra thế giới, là cầu nốigiúp giáo dục đại học Việt Nam hội nhập và tiến lên.
Thêm vào đó, công tác quan hệ quốc tế còn đóng góp tích cực cho việc nângcấp, hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm, xây dựng và cảitạo cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ mới,… phục vụ giảng dạy và nghiên cứukhoa học trong các trường đại học cũng như thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục ởViệt Nam Các dự án quốc tế hỗ trợ một phần rất quan trọng, khắc phục các khókhăn về nguồn lực cho các trường đại học ở nước ta
Ngoài ra, chúng ta cũng không thể phủ nhận những yếu tố tích cực mà công tácquan hệ quốc tế đem lại trong việc xây dựng định hướng và đổi mới giáo dục, nghiêncứu khoa học và triển khai ứng dụng để phục vụ đắc lực sự nghiệp đổi mới và côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Quá trình này cũng mang đến cho các trường đạihọc Việt Nam những kinh nghiệm quý giá trong việc đổi mới tư duy, phương thức quản
lý giáo dục, lựa chọn phương hướng, cải tiến hệ thống và quy trình đào tạo, kết hợpnghiên cứu khoa học với giảng dạy, đồng thời biết tận dụng thời cơ và lợi thế để từngbước kéo gần khoảng cách giữa giáo dục Việt Nam với thế giới
Như vậy, có thể khẳng định hợp tác quốc tế là cơ hội tốt mà các trường đạihọc cần phải biết nắm bắt và tận dụng hiệu quả, cũng là môi trường để các cơ sở đàotạo này được cọ xát, học hỏi, cạnh tranh, tự đánh giá năng lực của mình và có độnglực phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ hơn
1.1.2 Chính sách đối ngoại và định hướng hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo Việt Nam
Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới toàn diện đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Không phải tới lúc này, Việt Nam mới cóhợp tác quốc tế Những năm trước đó, quá trình hợp tác quốc tế của Việt Nam mớichỉ chủ yếu tập trung vào các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa và các nướcđang phát triển, các nước dân tộc chủ nghĩa Phải từ khi này, sự hợp tác quốc tế củaViệt Nam mới mở rộng sang các nước, khu vực và các tổ chức quốc tế
Trang 19Về công tác đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta xác định nhiệm vụ công tác đốingoại là: “…giữ vững môi trường hoà bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi chocông cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộcđấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội”1
Để đạt được điều đó và để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, quan điểm
cơ bản chỉ đạo công tác đối ngoại là:
- Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác
và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệquốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc
tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của các nướctrong cộng đồng thế giới, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực
- Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bềnvững, phát triển quan hệ với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, các vùng lãnh thổ trênthế giới và theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, khôngcan thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực,giải quyết các bất đồng và các tranh chấp thông qua bằng thương lượng hoà bình; tôntrọng lẫn nhau, bình đẳng cùng có lợi
- Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thầnphát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ vàđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìnbản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường
- Tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại là giữ vững nguyên tắc vì độc lập,thống nhất, chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động linh hoạt, phù hợpvới vị trí, điều kiện và hoàn cảnh nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới vàkhu vực với đặc điểm từng đối tượng quan hệ
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, tr.112.
Trang 20Trong lĩnh vực giáo dục, nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của
Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác
định một trong bảy quan điểm chỉ đạo là “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đểphát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầuhội nhập quốc tế để phát triển đất nước” Mục tiêu của đổi mới nhằm tạo chuyểnbiến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn côngcuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Thông qua đóxây dựng nền giáo dục mở, học thực sự, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu vàphương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điềukiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hộinhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiêntiến trong khu vực
Liên quan đến hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo, Nghị quyết xác định ViệtNam phải từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới.Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và chấtlượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tạiViệt Nam Hoàn thiện cơ chế quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài ởViệt Nam; quản lý học sinh, sinh viên Việt Nam đi học nước ngoài bằng nguồnngân sách Nhà nước và theo hiệp định nhà nước Tạo điều kiện để chuyên gia quốc
tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sởgiáo dục, đào tạo trong nước Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghềnghiệp và giáo dục đại học; khuyến khích liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài
có uy tín Có chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đàotạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học, người sử dụng lao động và cơ sởgiáo dục, đào tạo Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiêncứu khoa học, chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học Gắn kết chặtchẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất, kinhdoanh
Trang 21Một trong bốn quan điểm của Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam từ2011-2020 là “Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và pháthuy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa Mởrộng giao lưu hợp tác với các nền giáo dục trên thế giới, nhất là với các nền giáodục tiên tiến hiện đại; phát hiện và khai thác kịp thời các cơ hội thu hút nguồn lực
có chất lượng Có chính sách đặc biệt nhằm thu hút các nhà giáo, nhà khoa học,chuyên gia có kinh nghiệm và uy tín trong và ngoài nước tham gia phát triển giáodục Đồng thời, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục thôngqua tăng chỉ tiêu đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước cho các trường đạihọc trọng điểm và viện nghiên cứu quốc gia, ưu tiên các ngành khoa học, công nghệmũi nhọn Khuyến khích và hỗ trợ công dân Việt Nam đi học tập và nghiên cứu ởnước ngoài bằng kinh phí tự túc Khuyến khích các cơ sở giáo dục trong nước hợptác với các cơ sở giáo dục nước ngoài để nâng cao năng lực quản lý, đào tạo, nghiêncứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, giảng viên vàcán bộ khoa học và quản lý giáo dục; tăng số lượng học bổng cho học sinh, sinhviên đi học nước ngoài Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chứcquốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ cho giáo dục, tham giagiảng dạy và nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệgóp phần đổi mới giáo dục ở Việt Nam Xây dựng một số trường đại học, trung tâmnghiên cứu hiện đại để thu hút các nhà khoa học trong nước, quốc tế đến giảng dạy
và nghiên cứu khoa học
1.1.3 Chính sách phát triển giao thông vận tải
Trường Đại học GTVT là một cơ sở đào tạo đặc thù cung cấp nguồn nhân lựcchủ yếu cho ngành giao thông vận tải nên các chiến lược phát triển, định hướng,mục tiêu và các hoạt động giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học cũng như hợp tácquốc tế của Nhà trường luôn phải gắn chặt với tình hình thực tiễn của ngành
Giao thông là huyết mạch quốc gia Hạ tầng giao thông cũng là bộ phận thiếtyếu trong kết cấu hạ tầng xã hội, cần được phát triển trước một bước để tạo tiền đề,làm động lực phát triển kinh tế xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 22hóa của Đảng và Nhà nước, đáp ứng quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, gópphần đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước Ở thời đại toàn cầu hóa, giaothông vận tải càng khẳng định vai trò của mình khi nó kết nối không chỉ các vùngmiền, thúc đẩy kinh tế thương mại nội địa mà còn là một bộ phận quan trọng cấuthành nên mạng lưới giao thông khu vực và quốc tế Như chương trình hợp tác Kinh
tế Tiểu vùng sông Mekong (GMS) mở rộng giữa sáu nước: Campuchia, TrungQuốc, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam đã khẳng định: kết nối giao thông lànền tảng của các hành lang kinh tế GMS Điều này cũng được chú trọng trong lộtrình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015
Do đó, chiến lược phát triển giao thông vận tải đến 2020 tầm nhìn đến 2030
đã nhận định giao thông vận tải là một trong ba khâu đột phá, cần ưu tiên đầu tưphát triển Đầu tư cho giao thông vận tải, trước hết cần thực hiện đồng bộ có trọngtâm trọng điểm, tạo nên mạng lưới hoàn chỉnh, liên hoàn, liên kết giữa các phươngthức vận tải, giữa các vùng lãnh thổ, giữa đô thị và nông thôn trên phạm vi toànquốc, đồng thời cũng phát triển hệ thống giao thông vận tải đối ngoại gắn kết chặtchẽ với hệ thống trong nước để chủ động hợp tác, hội nhập khu vực và quốc tế
Về phát triển cơ sở hạ tầng, phải kết hợp đầu tư mới với cải tạo, nâng cấp,đầu tư theo chiều sâu phát huy hiệu quả của các cơ sở công nghiệp giao thông vậntải hiện có, nhanh chóng đổi mới và tiếp cận công nghệ tiên tiến
Phát triển vận tải phải theo hướng hiện đại, khai thác hiệu quả, chất lượngcao và chi phí hợp lý, đặc biệt cần áp dụng các công nghệ, phương thức vận tải tiêntiến nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tiết kiệm năng lượng Tại các đô thịlớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cần nhanh chóng phát triển phương thứcvận tải nhanh, khối lượng lớn; phát triển vận tải ở các đô thị theo hướng sử dụngvận tải công cộng là chính, đảm bảo hiện đại, an toàn, tiện lợi; kiểm soát sự gia tăngphương tiện cá nhân; giải quyết ùn tắc giao thông và bảo đảm trật tự an toàn giaothông đô thị, hạn chế ở mức thấp nhất tai nạn giao thông
Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2020, hệ thống GTVT nước ta cơ bản đápứng nhu cầu vận tải của xã hội với chất lượng ngày càng được nâng cao, giá thành
Trang 23hợp lý; kiềm chế tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và hạn chế ô nhiễm môitrường Về tổng thể, cơ bản hình thành được một hệ thống GTVT theo hướng đồng
bộ, hợp lý giữa các phương thức vận tải, từng bước đi vào hiện đại nhằm góp phầnđưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Trong khi chiến lược đề ra các mục tiêu và nhiều biện pháp cụ thể, giaothông Việt Nam vẫn luôn là đề tài nóng Đó là vấn đề gia tăng tai nạn, ùn tắc; sựxuống cấp nhanh chóng của cơ sở hạ tầng; khoa học công nghệ kém phát triển cũngnhư hạn chế về trình độ quản lý, quy hoạch giao thông Tất cả những điều này đặt rayêu cầu cho Nhà trường, làm sao để vừa đào tạo các cán bộ, kỹ sư có trình độ vàkhả năng thích ứng tốt, vừa nghiên cứu, tìm tòi công nghệ nhằm khắc phục các sự
cố kỹ thuật và nâng cao chất lượng công trình Muốn thực hiện được nhiệm vụ này,nguồn nội lực từ phía các cơ sở đào tạo là chưa đủ mà cần sự tác động, thúc đẩymạnh mẽ từ các ngoại lực Ở đây, sự hỗ trợ, chia sẻ và phối hợp từ các đối tác nướcngoài đóng vai trò như một ngoại lực đáng kể Bởi vậy, hợp tác quốc tế là cần thiết
và tất yếu
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình trong nước và thế giới
Sau khi kết thúc chiến tranh, Việt Nam bắt tay vào công cuộc xây dựng lạiđất nước Sự kiện thống nhất đất nước năm 1975 không đem lại nhiều thay đổi chokinh tế Việt Nam do chính sách cấm vận và hạn chế trao đổi của các nước tư bảncũng như tình trạng khó khăn của các nước xã hội chủ nghĩa – đối tác chính củachúng ta Nửa cuối thập kỷ 70 và nửa đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, chính ViệtNam cũng lâm vào khủng hoảng kinh tế khi tăng trưởng trì trệ và lạm phát kéo dài,đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Cuộc khủng hoảng này đã đặt chúng tatrước sự lựa chọn phải tiến hành đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước Năm 1986,chúng ta bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp sangnền kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa
Lúc này, tình hình thế giới lại có nhiều biến đổi phức tạp Chiến tranh Lạnhkết thúc, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã đã khiến Việt
Trang 24Nam mất đi 90% thị trường xuất nhập khẩu cũng như vốn đầu tư của mình Trật tựhai cực tan rã cũng đẩy nhanh xu hướng mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới, nhiều nước Đông Á đi theo con đường kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc
tế đã thu được nhiều thành quả Điều này càng khích lệ và thúc đẩy Việt Nam tiếnhành công cuộc đổi mới
Cùng với đổi mới về kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triểnđường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đaphương hóa với phương châm "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trongcộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" nhằm mục tiêu "giữvững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuậnlợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đồng thời góp phầntích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dântộc, dân chủ và tiến bộ xã hội" Trên cơ sở đó, các hoạt động đối ngoại được triểnkhai tập trung vào mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt, củng cố và thúc đẩy các mốiquan hệ song phương, nhất là quan hệ với các nước láng giềng, các nước trong khuvực cũng như các nước lớn, các trung tâm kinh tế, chính trị hàng đầu của thế giới.Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới Ngoài ra,chúng ta cũng ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi góp phần vào côngcuộc phát triển đất nước, mở rộng hợp tác quốc tế
Ngay từ đầu những năm 90, Việt Nam đã chủ động khai thông quan hệ vớinhiều tổ chức quốc tế Một cột mốc có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam làviệc tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton thông báo chính thức dỡ bỏ lệnh cấm vậnthương mại vào ngày 3/2/1994 Tiếp đó, năm 1995, ngoại giao Việt Nam cũng đánhdấu ba sự kiện lớn: Quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam
và Hoa kỳ (11/7/1995); Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á ASEAN (28/7/1995) và việc ký kết Hiệp định khung về hợptác với Liên minh châu Âu EU Từ thời điểm này, chúng ta đã có một nền hòa bìnhthực sự, một điều kiện chính trị ổn định và môi trường thu hút đối với bạn bè quốc
tế Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định "đẩy nhanh quá
Trang 25trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới" Một năm sau khi gia nhập ASEAN, năm
1996, Việt Nam tham gia Khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA) Cũng trongnăm này, Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) với tư cách là thànhviên sáng lập và năm 1998 trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tácKinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Chúng ta cũng đã đàm phán và ký Hiệpđịnh Thương mại với Mỹ năm 2001 và đến năm 2007 trở thành thành viên chínhthức của tổ chức Thương mại thế giới WTO – một mức hội nhập cao nhất, rộngnhất, có ý nghĩa quan trọng đối với việc thiết lập môi trường buôn bán và quan hệhợp tác kinh tế với toàn bộ thế giới
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 180 nước2thuộc tất cả các châu lục và lần đầu tiên trong lịch sử có quan hệ bình thường với tất
cả các nước lớn, các nước ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.Đặc biệt là năm 2007, Việt Nam lần đầu tiên được bầu làm Ủy viên không thườngtrực tại Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 Đây là một thànhcông về mặt ngoại giao của chúng ta, không chỉ thể hiện uy tín chính trị ngày càngcao của Việt Nam mà còn minh chứng cho sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế vàokhả năng đóng góp của nước ta trong lĩnh vực hoà bình - an ninh, đánh dấu sự chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế của đất nước, khẳng định sự đúng đắn của đườnglối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế củaĐảng và Nhà nước ta Những thành quả này đã góp phần không nhỏ vào việc củng
cố môi trường hoà bình, ổn định và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công cuộc xâydựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung và góp phần phát triển lĩnh vực văn hóa, giáodục nói riêng
1.2.2 Những thách thức của toàn cầu hóa và bối cảnh giáo dục Việt Nam trước
và sau thời kỳ đổi mới
Xu hướng toàn cầu hóa đã và đang thúc đẩy sự phát triển của tri thức – thứvốn ít chịu ảnh hưởng của biên giới quốc gia lan tỏa sâu rộng Ở thời đại này, conngười muốn tồn tại và phát triển không những phải biết cách vận dụng những tri
2 Bộ Ngoại giao Việt Nam,http://www.mofa.gov.Việt Nam/vi/cn_vakv/ , ngày 17/3/2014
Trang 26thức đã có, mà còn cần không ngừng học hỏi, nghiên cứu và sáng tạo ra những trithức mới Sự thật chỉ ra rằng khác biệt về khả năng tiếp cận, tiếp thu, áp dụng và tạo
ra tri thức đã đẩy khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển ngày càng
xa hơn Với nền tảng kinh tế lạc hậu, thiếu thốn cơ sở vật chất, đói nghèo, thiên tai
và dịch bệnh bủa vây, các nước đang phát triển dường như có ít cơ hội để cải thiện
và kéo gần khoảng cách này
Để vượt qua những khó khăn đó, một trong những phương thức hiệu quả vàbền vững nhất được các quốc gia lựa chọn là tăng cường đầu tư cho giáo dục, đàotạo nguồn nhân lực chất lượng cao Ở mọi thời đại, nhất là thời kỳ toàn cầu hóa,giáo dục đại học trên thế giới cũng đang thay đổi không ngừng thông qua nhữngcuộc cải cách, đổi mới ở nhiều nước, nhiều khu vực, trên quy mô toàn cầu Điều nàyđặt giáo dục đại học Việt Nam trước nhiều cơ hội và thách thức
Thứ nhất, giáo dục đại học của nước ta phải biết tận dụng những điều kiện
thuận lợi của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nhằm tiếp cận tinh hoa, khai thác vốntri thức chung của toàn nhân loại, làm sao để cập nhật nhanh chóng những xu thếmới, ý tưởng và tri thức mới, tránh tụt hậu, chậm tiến so với thế giới
Thứ hai, toàn cầu hóa khiến sức mạnh của khoa học-công nghệ lan tỏa ra mọi
lĩnh vực, trong đó có giáo dục Nó tạo ra phương tiện mới giúp cho quá trình giáodục hiệu quả hơn, ở phạm vi rộng hơn và với nhiều đối tượng đa dạng hơn Quốcgia phải biết áp dụng những tiến bộ khoa học-công nghệ nhằm hỗ trợ và đẩy nhanh
sự phát triển giáo dục Ngược lại, giáo dục cũng cần được cải cách để đáp ứngnhững biến đổi to lớn của khoa học công nghệ, là yếu tố quan trọng thúc đẩy và tạo
ra các tiến bộ khoa học Trong hợp tác và cạnh tranh kinh tế, khoa học-công nghệ,giáo dục trở thành lợi thế và bí quyết thành công của nhiều quốc gia
Thứ ba, toàn cầu hóa đẩy mạnh kinh tế thị trường, tạo ra nhiều cơ hội cho sự
phát triển của giáo dục đại học dưới nhiều hình thức phong phú hơn và mang nhiềuđổi thay sâu sắc Ngày nay, không chỉ có hình thức đào tạo công lập mà còn có sựtham gia của các thành phần tư nhân Giáo dục vì thế trở thành một ngành dịch vụđược thương mại hóa và quốc tế hóa Nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Australia, New
Trang 27Zealand, Singapore…được biết đến như những thị trường xuất khẩu giáo dục tiềmnăng, đưa nền giáo dục của họ vươn xa khỏi biên giới quốc gia, đồng thời cũng thuhút hàng trăm ngàn du học sinh đến học tập, nghiên cứu Điều này dễ dẫn đến nguy
cơ chảy máu chất xám và ngoại tệ nếu các quốc gia không phát triển các loại hìnhgiáo dục đa dạng cũng như nâng cao chất lượng đào tạo đạt chuẩn quốc tế
Thứ tư, toàn cầu hóa còn tạo ra sự dịch chuyển lao động tự do cũng như mở
rộng thị trường lao động Điều này tất yếu dẫn đến những cạnh tranh gay gắt và tạo
ra những yêu cầu khắt khe hơn về trình độ nguồn nhân lực Trong bối cạnh hội nhậpquốc tế, người Việt Nam phải có khả năng học tập, không ngừng tìm tòi để thíchứng được với những thay đổi về việc làm, về điều kiện và môi trường làm việc Bởivậy, giáo dục phải được tập trung đầu tư để phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao, tăng tính sáng tạo và cạnh tranh
Trong khi các thách thức ngày một gia tăng, nền giáo dục Việt Nam lại gặpkhó khăn từ cả bên trong lẫn chịu áp lực từ bên ngoài Thời kỳ trước đổi mới, dochính sách cấm vận của Mỹ mà chúng ta chỉ nhận được sự trợ giúp về giáo dục rấthạn chế, chủ yếu là viện trợ nhỏ từ các tổ chức phi chính phủ của Thụy Điển, HàLan, Pháp, Đức… Về chuyên môn, chúng ta cũng chưa kịp đào tạo những cán bộ cótrình độ chuyên môn và ngoại ngữ giỏi để làm công tác quan hệ quốc tế trong tìnhhình thế giới có nhiều biến đổi đột ngột và số lượng đối tác ngày càng tăng thêm
Về mặt quản lý, chúng ta cũng chưa kịp xây dựng cơ chế chặt chẽ và một bộ máyđiều hành hữu hiệu để quản lý công tác quan hệ quốc tế của ngành giáo dục
Trước tình hình đó, giáo dục nước ta đã có những thay đổi căn bản Nếu giáodục trước năm 1986 chỉ tập trung đào tạo tầng lớp tinh hoa – những người đượcchọn lọc cẩn thận ngay từ đầu vào với tỷ lệ sàng lọc khắt khe thì giáo dục thời kỳđổi mới lại hướng tới việc mở rộng tối đa cơ hội tiếp cận cho người học Số lượngngười học gia tăng nhanh chóng đã đặt ra yêu cầu về khả năng cung ứng của các cơ
sở đào tạo đại học Việt Nam cũng như chất lượng đào tạo Để giải quyết những vấn
đề này cần phải có hai điều kiện cơ bản là sự gia tăng tương ứng về nguồn lực (nhânlực, vật lực, tài lực), và một cơ chế quản lý mới đi kèm phù hợp
Trang 28Nhằm thực hiện được mục đích đó, những đổi mới về quan điểm, chính sáchgiáo dục đã tiến hành thông qua nhiều phương thức Quan trọng nhất là việc tổ chứccác hội nghị, hội thảo quốc tế như Hội nghị Bộ trưởng Đại học và Nghiên cứu khoa học(10/1997), Hội nghị thượng đỉnh các nước có sử dụng tiếng Pháp (11/1997), Hội thảohợp tác đại học Việt Nam – Hà Lan (5/2001), Hội thảo các cơ hội học tập tại bangAlberta, Canada (11/2001)… Việc tổ chức thành công các hội thảo này một mặt đưagiáo dục thế giới và Việt Nam xích lại gần nhau, mặt khác cũng là một cách hiệu quả
để giới thiệu hình ảnh đất nước Việt Nam năng động, cởi mở đến với thế giới
Đây cũng là giai đoạn Việt Nam bước đầu xây dựng và nhận được nhiều dự
án quốc tế về giáo dục do các tổ chức, chính phủ nước ngoài hỗ trợ Theo thống kêcủa Vụ hợp tác quốc tế - Bộ Giáo dục và Đào tạo, 15 năm sau đổi mới, Việt Nam đãthu hút được hơn 100 dự án quốc tế lớn nhỏ, với tổng kinh phí gần 600 triệu USD3.Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách hạn hẹp, khoản kinh phínày đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật,giảng viên, tăng cường trang thiết bị cơ sở vật chất, giáo án, giáo trình, nâng caochất lượng giáo dục đào tạo dưới nhiều hình thức
Do chính sách cởi mở hơn, Việt Nam cũng đón nhận số lượng giáo viên tìnhnguyện và lưu học sinh nước ngoài ngày càng tăng Họ không chỉ đến từ các nướcXHCN cũ mà còn đến từ các nước ASEAN, EU, Australia, Mỹ, Nhật… Bên cạnh
đó, chúng ta cũng tích cực gia hạn và đàm phán ký mới các hiệp định và thỏa thuậnhợp tác về giáo dục với nước ngoài Chỉ trong hai năm 2008, 2009, Việt Nam đã ký
31 điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế về hợp tác giáo dục đào tạo với các nước
ở cấp Chính phủ và cấp Bộ (chưa kể cấp trường)4
Về cơ chế quản lý, trước sự phát triển ngày càng nhanh và đa dạng của hoạtđộng hợp tác quốc tế, Bộ GD&ĐT đã bắt đầu từng bước thể chế hóa các hoạt độnghợp tác quốc tế của ngành thông qua việc ban hành một số văn bản quy phạm pháp
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Hướng dẫn về quan hệ quốc tế trong giáo dục và đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội
4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, số 760/BC-BGDĐT
Trang 29luật hay các tài liệu hướng dẫn về quan hệ quốc tế Đáng chú ý là tháng 3/1994, Bộtrưởng Bộ GD&ĐT đã ký quyết định số 1523/GDĐT để ban hành Quy chế quản lýđoàn ra, đoàn vào của ngành, hướng dẫn tổ chức hội nghị, hội thảo và triển khai các dự
án quốc tế Vụ Hợp tác quốc tế cũng xuất bản một số tài liệu để cung cấp thông tin cầnthiết cho các đối tác quốc tế: Education in Vietnam (1991), Vietnam education andtraining directory (1995), Hướng dẫn về quan hệ quốc tế trong giáo dục và đào tạo(1996)…Cho đến nay, chúng ta đã có một hệ thống các văn bản quản lý hợp tác quốc tế
về giáo dục tương đối chặt chẽ với hàng chục nghị định, thông tư, pháp lệnh Trên cơ
sở đó, các trường đại học cũng soạn thảo và ban hành các quy định, quy chế, hướng dẫn
về hoạt động hợp tác quốc tế áp dụng cho cơ sở đào tạo của mình
Bên cạnh việc thiết lập các quy định về hợp tác quốc tế trong giáo dục, chúng
ta đã xây dựng các chương trình cụ thể nhằm bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đấtnước Ngày 19 tháng 4 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ký Quyếtđịnh số 322/QĐ-TTg về việc phê chuẩn Đề án: “Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuậttại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước” (gọi tắt là Đề án 322 theo sốQuyết định phê chuẩn đề án), thực hiện ở giai đoạn I (2000-2005) Mục tiêu của đề
án là đào tạo cán bộ trình độ Tiến sĩ, Thạc sĩ, Đại học tại nước ngoài hoặc phối hợpvới nước ngoài để đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước Đến năm 2010, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phê duyệt đề ánmới, chỉ tập trung đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, caođẳng giai đoạn 2010-2020 (Đề án 911) Những quyết định này đã bổ sung một sốlượng đáng kể nhân lực chất lượng cao được đào tạo bài bản tại nước ngoài, nhất làtrong ngành giáo dục đào tạo Thực vậy, trong gần 10 năm, từ năm 2000 đến tháng10/2009 Bộ đã cử 7.039 lưu học sinh đi học nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước
và Hiệp định, trong đó đi học tiến sĩ là 2.029 người, thạc sĩ là 1.598 người, thực tậpsinh là 626 người và đại học là 2.786 người; bình quân một năm cử trên 700 lưu họcsinh đi học nước ngoài.5
5 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, số 760/BC-BGDĐT
Trang 30Như vậy, chính sách phát triển giáo dục thời kỳ hội nhập là nền tảng cơ bảncho sự đổi mới, cải cách trong cả tư duy, nhận thức và hoạt động của các cơ sở giáodục.
1.3 Sự hình thành và phát triển hoạt động hợp tác quốc tế của Trường Đại học Giao thông vận tải
1.3.1 Tổng quan về Trường Đại học Giao thông vận tải
Trường Đại học Giao thông vận tải được thành lập từ năm 1945 dưới chínhquyền Cách mạng với tên gọi là trường Cao Đẳng Công chính Năm 1962, trườngchính thức đổi tên là Trường Đại học Giao thông vận tải theo quyết định số 42/CPcủa Hội đồng Chính phủ Trường là một trong những trung tâm đào tạo, nghiên cứu,chuyển giao khoa học công nghệ lớn trong lĩnh vực giao thông vận tải ở Việt Nam.Trong hơn 60 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, Trường Đại học GTVT đãđược Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý vì những thànhtích đóng góp của Nhà trường đối với sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao cho đất nước Bên cạnh việc đào tạo phục vụ nhu cầu của Việt Nam, TrườngĐại học GTVT còn đảm nhận đào tạo cán bộ kỹ thuật và quản lý có trình độ đại học
và sau đại học cho nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Vương Quốc Campuchiaanh em, góp phần tăng cường vào mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam vớicác nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương
Cơ cấu tổ chức của Trường gồm 9 khoa, 3 viện, 22 phòng ban tham mưu.Hiện nay, tổng số cán bộ - giảng viên – công nhân viên của Trường hiện có là 1.093người trong đó có 781 giảng viên với 50 giáo sư, 52 phó giáo sư, 01 tiến sỹ khoahọc và 151 tiến sỹ, 374 thạc sỹ Hàng năm Nhà trường tuyển mới từ 5000 đến 6000sinh viên đại học, thạc sĩ và nghiên cứu sinh Đến năm học 2012-2013; quy mô đàotạo của trường là trên 32.000 sinh viên hệ đại học; trong đó có trên 18.000 sinh viênchính quy; trên 2.000 học viên cao học và 160 nghiên cứu sinh.6
Hiện tại, trụ sở chính của Trường Đại học Giao thông vận tải đặt tại số 3,phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Cơ sở II được thành lập
6 Trường ĐH Giao thông vận tải (2012), Giới thiệu về Trường Đại học Giao thông vận tải
Trang 31năm 1990, đóng tại phường Tăng Nhơn Phú, Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh Trongtương lai gần, trường tiếp tục phát triển cơ sở thứ ba tại tỉnh Hưng Yên, cách HàNội 30 Km về phía Đông nằm trên hành lang phát triển kinh tế năng động nhất miềnBắc nước ta.
1.3.2 Khái quát hoạt động hợp tác quốc tế của Nhà trường trước năm 1994 và sự thành lập phòng Đối ngoại
Trong hơn 60 năm hình thành và phát triển, toàn bộ giai đoạn hợp tác vàquan hệ quốc tế của Trường Đại học GTVT cho đến nay có thể chia làm hai thời kỳ:Thời kỳ đầu từ lúc thành lập trường đến cuối những năm 80 và thời kỳ thứ hai từđầu những năm 90 đến nay
Đặc trưng chung của công tác hợp tác quốc tế trong giai đoạn đầu là:
- Các nước XHCN là đối tác duy nhất của Trường và Trường thụ động tiếp nhận sự giúp đỡ của các nước anh em
- Các Nghị định thư ký cấp Nhà nước là khuôn khổ chính cho mọi hoạt độnghợp tác giữa trường với các đối tác, vì vậy mà hình thức hợp tác còn đơn giản và ở quy
mô tương đối nhỏ
Ở giai đoạn này, do cấm vận của Mỹ và tình hình quốc tế còn nhiều biếnđộng, hợp tác quốc tế của Nhà trường chỉ giới hạn trong các khuôn khổ hợp tác do Nhànước quy định Thêm vào đó, do chưa được sự tự chủ, thiếu đơn vị chuyên trách và thiếuthông tin, hoạt động này diễn ra một cách nhỏ lẻ, chưa hình thành các dự án, chươngtrình bền vững
Trong khi đó, từ đầu những năm 90 đến nay, khi các chính sách đối ngoạicũng như giáo dục đào tạo cởi mở, thông thoáng hơn, các loại hình và phương thứchợp tác giáo dục cũng trở nên đa dạng, không chỉ có hình thức Nghị định thư màcòn cả các chương trình, dự án; các bên tham gia ngày càng phong phú gồm cả songphương và đa phương Đặc biệt, một loạt các sự kiện ngoại giao có ý nghĩa bướcngoặt đã thúc đẩy các cơ sở đào tạo phải đổi mới trong tư duy, tầm nhìn và địnhhướng phát triển Đứng trước những cơ hội và thách thức mới, Trường Đại họcGTVT đã chủ động tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nhất là các nước phương
Trang 32Tây, các tổ chức quốc tế… Hiểu rõ tầm quan trọng của các hoạt động, chương trìnhhợp tác quốc tế trong tiến trình phát triển của Nhà trường, phòng Đối ngoại chínhthức được thành lập từ tháng 10 năm 1994 với chức năng chính là tham mưu choHiệu trưởng trong công tác đối ngoại Theo Quy định của Trường Đại học GTVT vềphân công chức năng nhiệm vụ của các phòng ban, phòng Đối ngoại có các nhiệm
- Phối hợp với các đơn vị hữu quan trong và ngoài Trường để làm tốt công tác quan hệ quốc tế của Trường
- Hướng dẫn các đơn vị trong trường về công tác thiết lập và triển khai các quan hệ quốc tế
Mục tiêu chung của việc xây dựng và phát triển các chương trình hợp tác quốc tế là:
- Đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam có chất lượng cao, được quốc tế công nhận;
- Nâng cao năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường;
- Nâng cao uy tín của Nhà trường trong khu vực và trên thế giới
Với sự thành lập phòng Đối ngoại – đơn vị chuyên trách về quan hệ quốc tế,các hoạt động hợp tác quốc tế và các đối tác của Nhà trường dần được mở rộng.Thông qua các hoạt động này, Trường đã xây dựng và củng cố uy tín của mình nhưmột cơ sở hợp tác tin cậy đối với các đối tác nước ngoài trong lĩnh vực đào tạo,nghiên cứu các vấn đề khoa học-kỹ thuật Sự trưởng thành nhanh chóng và nhữngtiến bộ của đội ngũ giáo viên của trường có sự đóng góp chủ yếu của các chươngtrình, dự án hợp tác quốc tế Để không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp đàotạo đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường cũng như phấn đấu trở thành trườngđại học có uy tín không chỉ trong nước mà còn trong khu vực và trên thế giới,
Trang 33Trường chú trọng tới việc phát triển hoạt động hợp tác quốc tế trên tất cả các lĩnhvực hợp tác bao gồm: nghiên cứu khoa học, trao đổi giảng viên, sinh viên, trao đổithông tin khoa học, xây dựng tài liệu học và đặc biệt là đào tạo.
Với chủ trương đó, hoạt động hợp tác quốc tế ngày càng phát triển hơn cả vềquy mô và chiều sâu Trên cơ sở phát huy thế mạnh của mỗi bên, các dự án quốc tế,chương trình hợp tác song phương được thực hiện dưới nhiều hình thức: thực hiệncác đề án phối hợp đào tạo, đề tài NCKH với các trường đại học nước ngoài, các tổchức quốc tế bằng nguồn kinh phí của Chính phủ Việt Nam và các nguồn kinh phíkhác; Tổ chức và đồng tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học quốc tế quantrọng; Trao đổi giảng viên, sinh viên và đào tạo đại học, thạc sỹ, tiến sỹ trong khuônkhổ các thỏa thuận hợp tác hay chương trình học bổng
Như vậy, có thể khẳng định sự thành lập phòng Đối ngoại vào tháng 10/1994
là kịp thời, phù hợp với bối cảnh chung của đất nước và quốc tế Đây cũng là cộtmốc quan trọng, đánh dấu thời kỳ phát triển quan hệ quốc tế mới của Nhà trường,đưa hoạt động này đi vào chuyên nghiệp Lần đầu tiên, Nhà trường có cơ quan phụtrách đối ngoại riêng với chức năng nhiệm vụ rõ ràng, có mục tiêu và chiến lược cụthể, các hoạt động dần đi vào quy củ và hiệu quả hơn
*
Quá trình toàn cầu hóa cùng những biến đổi sâu rộng của tình hình quốc tế đãtác động mạnh mẽ đến những quan điểm và chính sách phát triển đất nước Sau đổimới, chúng ta đã đạt được thành tựu nổi bật là phát triển mạnh mẽ quan hệ đốingoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc
tế Với các sự kiện lớn trong ngành ngoại giao, quan hệ quốc tế trong lĩnh vực giáodục đã đánh dấu nhiều thay đổi tích cực Điều này thể hiện ở sự chủ động của chúng
ta trong hợp tác với các đơn vị nước ngoài để tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế;trong việc thiết lập các dự án quốc tế về đào tạo; ký kết các điều ước quốc tế về giáodục… và cả việc xây dựng cơ chế quản lý hoạt động hợp tác quốc tế với việc banhành nhiều văn bản quy định Xu thế toàn cầu hóa cùng những thay đổi sâu sắc
Trang 34trong chính sách giáo dục đã thúc đẩy các cơ sở đào tạo nói chung và Trường Đạihọc GTVT nói riêng phải nắm bắt tình hình kịp thời và đổi mới để không tụt hậu vớinền giáo dục thế giới Không chỉ vậy, hội nhập quốc tế còn đặt ra những yêu cầukhắt khe hơn cho ngành giao thông vận tải về đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư, vềtrình độ công nghệ và khả năng kết nối với giao thông quốc tế Trước bối cảnh đó,với trọng trách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành giao thông,Trường Đại học GTVT đã chủ động liên hệ và thiết lập quan hệ hợp tác với các đốitác quốc tế Sự ra đời của phòng Đối ngoại vào tháng 10/1994 là dấu ấn quan trọng,
mở ra một trang mới trong tiến trình hợp tác quốc tế của Nhà trường với nhiều biếnchuyển tích cực
Trang 35Chương 2 CÁC HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ CHỦ YẾU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TỪ 1994 ĐẾN 2013
Hợp tác quốc tế cùng với công tác tổ chức cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất là
ba giải pháp cơ bản giúp cho Trường Đại học GTVT đạt được các mục tiêu pháttriển chiến lược Hợp tác quốc tế giúp Nhà trường củng cố vị thế và nâng cao uy tíntrong khu vực và trên thế giới Thông qua hoạt động này, Nhà trường sẽ có cơ sởvững chắc để xây dựng những chương trình đào tạo và nghiên cứu đạt chuẩn quốc
tế, được các trường đại học, các tổ chức nước ngoài công nhận
Các hoạt động hợp tác quốc tế chủ yếu được thực hiện tại Trường bao gồm:
- Gửi lưu học sinh Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài
- Tiếp nhận lưu học sinh nước ngoài đến Việt Nam học tập
- Phối hợp thực hiện các dự án quốc tế
- Tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
- Đồng xuất bản các ấn phẩm khoa học quốc tế
- Thiết lập các chương trình đào tạo quốc tế
- Cử giảng viên, chuyên gia ra nước ngoài giảng dạy và làm cộng tác viên
- Triển khai, xây dựng các chương trình học bổng
- Chương trình trao đổi giảng viên, sinh viên
- Công tác đoàn ra, đoàn vào
2.1 Hợp tác đào tạo
2.1.1 Trao đổi giảng viên, sinh viên
Trao đổi giảng viên, sinh viên là điều khoản quan trọng được quy định tronghầu hết các thỏa thuận hợp tác ký kết giữa các cơ sở đào tạo, nghiên cứu Hoạt độngtrao đổi có thể hiểu là việc gửi giảng viên, sinh viên Việt Nam sang cơ sở đào tạocủa đối tác trong một khoảng thời gian nhất định và tiếp nhận các giảng viên, sinhviên nước ngoài đến với mục đích học tập, thực tập, hay giảng dạy trong khoảngthời gian tương đương
Trang 36Đối với giảng viên, cán bộ chuyên viên, các chương trình trao đổi quốc tếnày là một cơ hội giúp họ nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý cũngnhư khả năng ngoại ngữ Về cơ bản, chương trình này cho phép giảng viên, cán bộtham gia các buổi hội thảo chuyên đề, khóa học ngắn hạn, các khóa thực tập, thamgia giảng dạy trực tiếp tại trường bạn hoặc tham gia hội đồng chấm luận án nếu cóthoả thuận về đồng hướng dẫn Tùy theo tính chất, mục đích của chương trình vàthỏa thuận giữa hai bên mà thời gian dài ngắn khác nhau, có thể từ một vài ngày đếnvài tháng, một năm.
Tại Trường Đại học GTVT, hoạt động trao đổi cán bộ, giảng viên diễn ratương đối sôi nổi, đặc biệt là với đối tượng giảng viên Theo thống kê của phòngĐối ngoại, mỗi năm Nhà trường đều ra quyết định cho khoảng 20 cán bộ, giảng viêntham gia hoạt động trao đổi này Các cơ sở đào tạo tiếp nhận nhiều nhất là cáctrường đại học, các viện nghiên cứu của Nhật Bản, Pháp, Đức Mục đích của cáctrao đổi này phần lớn là tham gia hội thảo và thực tập ngắn hạn Bên cạnh đó, Nhàtrường cũng cử một số giảng viên ra nước ngoài giảng dạy trong khuôn khổ cácchương trình hợp tác cụ thể, như một số dự án hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chonước bạn Lào Trong giai đoạn 2001-2003, Trường đã cử nhiều đoàn giảng viênsang đào tạo cho hai khóa tại Đại học Quốc gia Lào, một khóa cao học và một khóacho các cán bộ về kinh nghiệm quản lý trong giáo dục đào tạo đại học Trong giaiđoạn 1998-2002, Trường cũng nhận đào tạo 07 Thạc sĩ cho Bộ Giao thông côngchính Lào Hiện nay, Nhà trường đang tiếp tục triển khai chương trình này
Ngoài ra, để tăng cường khả năng ngoại ngữ cho sinh viên, từ năm 1999 đếnnăm 2007, Nhà trường đã ký kết thỏa thuận với dự án GAP (Anh Quốc) về việc cửgiáo viên tình nguyện đến giảng dạy tiếng Anh Kết thúc dự án, đã có 32 lượt giáoviên tình nguyện sang giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên Số giáo viên này còntham gia sinh hoạt câu lạc bộ tiếng Anh, giúp giảng viên của Trường hoàn thiện hơnnữa khả năng ngoại ngữ để phục vụ giảng dạy và nghiên cứu Cùng với đó, Nhàtrường cũng đón một số giảng viên nước ngoài đến trao đổi học thuật, tham gia hội
Trang 37đồng chấm luận văn tốt nghiệp và dạy cho các chương trình đào tạo quốc tế doTrung tâm ĐTQT của Trường quản lý.
Nhờ các hoạt động này mà từ nhiều năm qua, hằng trăm lượt cán bộ, giảngviên có cơ hội gặp gỡ các chuyên gia, đồng nghiệp nhằm trao đổi, bồi dưỡng kiếnthức chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu cũng như tăng cường hiểubiết văn hóa
Với đối tượng trao đổi là sinh viên, hoạt động trao đổi tạo điều kiện cho các
em có cơ hội bồi dưỡng kiến thức, phương pháp học tập, tư duy ở môi trường mớihoàn toàn khác biệt, là cơ hội rèn luyện ngoại ngữ, đồng thời cũng giúp sinh viên tựlập, có khả năng thích nghi với những thay đổi và thách thức trong cuộc sống Nhờvậy, sinh viên có ý thức và quan tâm hơn đến các vấn đề toàn cầu và có đủ năng lực
để cạnh tranh lâu dài trong môi trường quốc tế hóa ngày càng sâu rộng, biến đổikhông ngừng Hoạt động này còn giúp các sinh viên nước ngoài tiếp cận và hiểuthêm về văn hóa, con người Việt Nam, cũng là một kênh thông tin quảng bá và đưahình ảnh Việt Nam gần gũi hơn với bạn bè quốc tế
Tại Trường Đại học GTVT, sinh viên trao được đổi thường có cùng ngành,lĩnh vực học tập Thông thường, hoạt động trao đổi sinh viên của Trường chỉ diễn ratrong thời gian tương đối ngắn, từ vài ngày, vài tháng đến một năm, tổ chức vì mụcđích giao lưu văn hóa, tham quan học tập, thực tập theo đúng chương trình học Saukhi thống nhất các quy định có liên quan, các hoạt động giảng dạy ở trường này cóthể được trường kia công nhận
Trên thực tế, từ ngày thành lập Trường đến nay, việc trao đổi sinh viên giữaNhà trường với các đối tác nước ngoài ít được thực hiện, đặc biệt là việc sinh viênViệt Nam sang nước ngoài học tập trao đổi, giao lưu văn hóa Việc trao đổi sinhviên mới chỉ được thực hiện một chiều, nghĩa là chỉ có các sinh viên nước bạn đếnhọc, thực tập hay giao lưu với sinh viên Nhà trường Nguyên nhân đa phần do khókhăn về kinh phí khi sinh viên Việt Nam phải tự trang trải khoản tiền đi lại và ăn ởtại cơ sở đào tạo nước ngoài
Trang 38Trong ba năm từ 2009 đến 2011 đã có 06 sinh viên Pháp đến từ Viện Nghiêncứu Khoa học Ứng dụng Quốc gia Renne (INSA de RENNE) tới thực tập trongkhuôn khổ thỏa thuận hợp tác ký kết giữa hai cơ sở đào tạo Năm 2010, 2011,chương trình Cầu đường Pháp cũng tiếp nhận 03 sinh viên Trường đào tạo Kỹ sưXây dựng Công trình dân dụng, Nhà cửa và Công nghiệp Paris đến học một năm vàbảo vệ đồ án tốt nghiệp tại Trường Gần đây, năm học 2012-2013, trong khuôn khổthỏa thuận hợp tác đã ký kết, 04 sinh viên nước ngoài đã đăng ký học một học kỳ tạiTrường Trong đó có 02 sinh viên đến từ trường Đại học Kỹ thuật Darmstadt (Đức)theo học chương trình tiên tiến; 02 sinh viên đến từ trường Kỹ sư Xây dựng Côngtrình Caen (Pháp) theo học chương trình Cầu đường Pháp tại Trung tâm ĐTQT Cácsinh viên nước ngoài này đến trường không chỉ học tập mà còn tham gia nhiều hoạtđộng ngoại khóa, dã ngoại với sinh viên của Trường.
Cũng trong khuôn khổ chương trình trao đổi sinh viên, từ năm 2010 đến nay,Trường Đại học GTVT và trường Maizuru đã tổ chức và duy trì thành công hoạtđộng giao lưu, trao đổi văn hóa giữa sinh viên hai trường Mỗi năm, Trường đón từ30-40 sinh viên Nhật Bản đến tham gia chương trình này Hoạt động tuy chỉ diễn ratrong một ngày nhưng các em được tạo điều kiện để giao lưu văn nghệ, tìm hiểu vănhóa, giao lưu thể thao và dùng chung bữa ăn tại căng tin trường Năm 2013, Trườngcũng đón thêm một đoàn sinh viên trường đại học quốc gia Yokohama sang thực tập
và giao lưu với sinh viên khoa Công trình Thông qua đó tạo cho cả sinh viên ViệtNam và nước ngoài môi trường học tập năng động, cởi mở, mở ra không gian giaotiếp văn hóa đa dạng và cũng là cơ hội tốt cho các sinh viên Việt Nam trau dồi khảnăng ngoại ngữ, rèn luyện bản lĩnh và sự tự tin trong môi trường giao tiếp quốc tế.Đây là một cầu nối thông tin hữu ích cho sinh viên hai bên, thúc đẩy hoạt động này
ở các năm tiếp theo
2.1.2 Các đề án, chương trình đào tạo quốc tế
Đối với một cơ sở đào tạo đại học, loại hình hợp tác quan trọng nhất chính làhợp tác về đào tạo, cụ thể là việc xây dựng các chương trình, dự án đào tạo quốc tế
Trang 39Đây là loại hình hợp tác phổ biến nhất của các trường đại học Việt Nam với đối tácnước ngoài do những ý nghĩa mà nó mang lại Thông qua việc trao đổi, đề xuất vàquá trình soạn thảo, thực hiện các chương trình này, đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinhviên được tiếp cận với các phương pháp, công nghệ và thành quả giáo dục tiên tiến,với sự hỗ trợ về tài chính cùng mức chi phí ưu đãi Đây còn là sự chuẩn bị chotương lai khi nó giúp nâng cao năng lực đào tạo, nghiên cứu và sự chủ động, tự lựccủa các cơ sở giáo dục Việt Nam trong việc xây dựng, hoàn thiện các chương trìnhđạt chuẩn quốc tế, tự tin đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp của các trường đại họcđến từ nước ngoài.
Ở Trường Đại học GTVT, đây cũng là lĩnh vực hợp tác quốc tế chủ yếu luônđược chú trọng và đầu tư phát triển Song song với các chương trình đào tạo thôngthường bằng tiếng Việt, Nhà trường đã và đang tổ chức các chương trình đào tạo quốc tếbằng tiếng Anh, Pháp và Nga cho các chuyên ngành xây dựng cầu đường và cơ khíchuyên dùng, vật liệu và công nghệ,… Đây chính là một trong những điều kiện rất thuậnlợi để kỹ sư tốt nghiệp có thể tiếp tục học tập và nghiên cứu ở nước ngoài cũng như thamgia công tác trong môi trường làm việc quốc tế
Các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của trường tập trung vào các chuyênngành khoa học kỹ thuật đang phát triển ở Việt Nam, trong đó có chuyên ngành xâydựng công trình Một số dự án điển hình đã được Nhà trường triển khai như: Dự ánnâng cao trình độ giảng viên ngành tin học xây dựng (phối hợp với Trường Đại họctổng hợp kỹ thuật Darmstadt, CHLB Đức), Dự án đào tạo chương trình tiên tiếnngành xây dựng công trình giao thông (phối hợp với Đại học Leeds – Anh quốc),Chương trình đào tạo kỹ sư công trình giao thông Việt-Nhật (phối hợp với Viện kỹthuật Shimizu – Nhật Bản), Dự án đào tạo kỹ sư Cầu – Đường bằng tiếng Pháp(phối hợp với các trường đại học Pháp), Chương trình đào tạo kỹ sư ngành Vật liệunâng cao bằng tiếng Pháp…
Trang 40Bảng 2.1 Một số dự án hợp tác quốc tế về đào tạo điển hình
của Trường Đại học GTVT giai đoạn 2003 – 2013 7
Các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo này được thực hiện dưới nhiều hìnhthức đa dạng và bằng các nguồn kinh phí khác nhau, có thể từ nguồn ngân sách nhànước hay các tổ chức quốc tế, các cơ quan, đơn vị nước ngoài tài trợ (phụ lục 2).Các dự án/chương trình hợp tác đào tạo tại chỗ hàng năm thu hút gần 200 sinh viênvào học, là môi trường học tập tốt và thúc đẩy phong trào học ngoại ngữ tiếng Anh,tiếng Pháp trong sinh viên Có thể kể đến một số dự án nổi bật như sau:
7 Trung tâm ĐTQT (2013), Số liệu thống kê 2013, Trường Đại học Giao thông vận tải