1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội và nhân văn (nghiên cứu đối với sinh viên tốt nghiệp từ trường ĐHKHXHNV, ĐHQGHN)

100 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 134,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---TRẦN KIỀU QUỲNH SỰ THÍCH ỨNG ĐỐI VỚI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nghiên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN KIỀU QUỲNH

SỰ THÍCH ỨNG ĐỐI VỚI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ

HỘI VÀ NHÂN VĂN

(Nghiên cứu đối với sinh viên tốt nghiệp từ trường

Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN)

LU N VĂN THẠC S XÃ HỘI HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN KIỀU QUỲNH

SỰ THÍCH ỨNG ĐỐI VỚI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ

HỘI VÀ NHÂN VĂN

(Nghiên cứu đối với sinh viên tốt nghiệp từ trường Đại học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp các

ngành khoa học xã hội và nhân văn” là công trình nghiên cứu của riêng tôi,

dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Quyết - Trưởng khoa Sau Đạihọc, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN Các tài liệu sử dụng thamkhảo, trích dẫn trong Luận văn đều đảm bảo rõ nguồn, trung thực Các kết quảnghiên cứu được công bố trong Luận văn là hoàn toàn chính xác, không trùnglặp với các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước

Tôi xin cam đoan điều này là đúng sự thật Nếu sai, tôi hoàn toàn chịutrách nhiệm trước pháp luật

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015

Tác giả

TRẦN KIỀU QUỲNH

Trang 4

Mặc dù tác giả đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, nhưng do hạn chế vềthời gian nghiên cứu nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót Tác giảmong muốn nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô giáo vàđồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng11 năm 2015

Tác giả

TRẦN KIỀU QUỲNH

Trang 5

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGH A VIỆT NAM

GIẤY XÁC NH N

Về việc đồng ý cho học viên sử dụng dữ liệu nghiên cứu

PGS.TS Phạm Văn Quyết - Chủ nhiệm đề tài “Xã hội hoá nghề nghiệp

và xu hướng việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học Xã hội ở Việt Nam hiện nay”, đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia năm 2014 - 2015,

xác nhận:

Học viên Trần Kiều Quỳnh là học viên cao học khoa XHH khoá 2013

-2015 được sử dụng dữ liệu sơ cấp của đề tài để thực hiện luận văn cao học với

đề tài: “Sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa khọc xã hội và nhân văn”(Nghiên cứu đối với sinh viên tốt nghiệp từ trường Đại học KHXH&NV).

Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm

2015

Chủ nhiệm đề tài

PGS TS Phạm Văn Quyết

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 4

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 4

6 Khung phân tích 5

7 Phương pháp nghiên cứu 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LU N VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới 8

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13

1.2 Các khái niệm công cụ 21

1.2.1 Việc làm 21

1.2.2 Thích ứng (Adaptability) 23

1.2.3 Thích ứng việc làm 24

1.3 Cơ sở lý luận và lý thuyết áp dụng 26

1.3.1 Cơ sở lý luận 26

1.3.2 Lý thuyết áp dụng 28

1.4 Vài nét về trường Đại học KHXH &NV và cựu sinh viên tốt nghiệp từ trường 35

Chương 2 PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ THÍCH ỨNG VỚI VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 38

2.1 Mức độ thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội và nhân văn 38

Trang 7

2.1.1 Sự thích ứng của sinh viên với môi trường làm việc 38

2.1.2 Sự thích ứng của sinh viên về kiến thức, kỹ năng, phương pháp 42

2.2 Phân tích sự tác động của các yếu tố đến thích ứng với việc làm của cựu sinh viên 56

2.2.1 Các yếu tố tác động đến sự thích ứng của sinh viên với môi trường làm việc 56

2.2.2 Các yếu tố tác động đến sự thích ứng về kiến thức, kỹ năng và phương pháp 65

KẾT LU N VÀ KHUYẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Khuyến nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 83

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tỷ lệ trung bình mức độ thích ứng với môi trường làm việc 38Bảng 2: Mức độ thích ứng của sinh viên với môi trường làm việc 40Bảng 3: Tỷ lệ trung bình sự ứng dụng về kiến thức, kỹ năng và phương pháp 42Bảng 4: Mức độ ứng dụng kiến thức, kỹ năng và phương pháp của sinh viênvào công việc 44Bảng 5: Tỷ lệ sinh viên làm việc phù hợp với chuyên môn được đào tạo ở đạihọc 50Bảng 6: Mô hình hoá các yếu tố tác động đến sự thích ứng của sinh viên vớimôi trường làm việc 56Bảng 7: Mô hình hoá các yếu tố tác động đến sự thích ứng về kiến thức, kỹnăng, phương pháp 65

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguồn nhân lực là vấn đề cốt lõi trong sự phát triển của mỗi quốc gia,đặc biệt với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Phát triển nguồn nhânlực là điều kiện để thực hiện mục tiêu bền vững, bao trùm và công bằng trongquá trình phát triển Nhiều quốc gia tiên tiến đã chủ động đầu tư, xây dựngphát triển nguồn nhân lực làm cơ sở để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xãhội, tạo sự bứt phá nhanh cho đất nước Theo Tổ chức Liên Hợp quốc, nguồnnhân lực là “toàn bộ những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tínhsáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và củađất nước” (UN, 2013) Nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghềnghiệp của mỗi cá nhân, thường được coi như một nguồn vốn bên cạnh cácloại vốn khác như tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Trong cơ cấu nguồn nhân lực, sinh viên có một vai trò rất quan trọng.Trong tương lai, sinh viên chính là những người sẽ ra nhập đội ngũ nguồnnhân lực chất lượng cao của xã hội Tuy nhiên, từ sự chưa nhịp nhàng về cungcủa đào tạo và cầu của thị trường cùng với những bất cập của hệ thống giáodục khiến nhiều sinh viên ra trường không có việc làm Trong những nămqua, chỉ có khoảng 37% sinh viên tốt nghiệp đại học tìm được việc làm, con

số hơn trăm nghìn cử nhân, thạc sỹ vừa tốt nghiệp song vẫn không tìm đượcviệc làm đã phải chấp nhận làm trái ngành, trái nghề, thậm chí không lương

để chờ việc (Đặng Nguyên Anh, 2014)

Không nằm ngoài thực trạng chung đó, sinh viên tốt nghiệp các ngànhkhoa học xã hội cũng đang phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp, thiếu việclàm hoặc làm trái ngành, trái nghề ngày một tăng cao Thậm chí với tình hìnhsuy thoái kinh tế và chính sách tinh giảm biên chế trong những năm gần đâylại làm gia tăng những khó khăn trong tìm kiếm việc làm đối với sinh viên tốtnghiệp các chuyên ngành khoa học xã hội Trước tình hình đó, sẽ có rất nhiều

Trang 10

câu hỏi đặt ra về nguyên nhân do đâu dẫn đến thực trạng này Một trongnhững câu trả lời quan trọng nhất đó chính là việc tìm hiểu thực tế những sinhviên sau khi ra trường họ đang làm việc như thế nào, có đáp ứng được nhucầu thực tiễn xã hội hay không?

Hiện nay, nâng cao chất lượng giáo dục đại học đang là mối quan tâmhàng đầu của toàn xã hội Ở một khía cạnh nào đó, chất lượng nguồn nhân lực

là sự phản ánh về chất lượng giáo dục Vì vậy, để tìm ra những biện pháp cótính chiến lược trong giáo dục đại học không thể không dựa vào thực tiễncông việc của sinh viên sau khi ra trường Sinh viên sau khi ra trường đanglàm công việc gì và làm như thế nào đó cũng là băn khoăn của các đơn vị giáodục, các thầy cô và của chính các bạn sinh viên

Về lĩnh vực nghiên cứu, nghiên cứu về việc làm của sinh viên luôn làvấn đề có tính thời sự; nó thu hút sự quan tâm của rất nhiều đối tượng trong

xã hội như những nhà hoạch định chính sách, học sinh, sinh viên, các bậc phụhuynh v.v Trước những nghiên cứu về việc làm của sinh viên, chúng tôinhận thấy những nghiên cứu về sự thích ứng với việc làm của sinh viên hiệnnay vẫn chưa được quan tâm một cách xứng đáng Nhất là việc sau khi ratrường, sinh viên có thích ứng được với môi trường làm việc, thích ứng vềkiến thức, kỹ năng và phương pháp đối với công việc hay không Có rất nhiều

đề tài đã quan tâm đến việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường,trong đó có đối tượng là sinh viên các ngành khoa học xã hội Tuy nhiên,nghiên cứu về sự thích ứng việc làm, nhất là đối với sinh viên thuộc cácngành khoa học xã hội thì chưa được nhắc đến nhiều Vấn đề tìm việc và thíchứng được với công việc của cá nhân là tiền đề vô cùng quan trọng, quyết định

sự thành đạt của chính cá nhân đó Đó là tiền đề để cá nhân có thể phát huykhả năng của mình và trở thành người có ích cho gia đình và xã hội Vậy saukhi được trang bị đầy đủ các kiến thức, kỹ năng với ngành nghề mà mình đãđược đào tạo, các cá nhân đã thích ứng với công việc mới như thế nào, có

Trang 11

hài lòng với công việc của mình hay không, hay cá nhân tự tạo việc làm, hoặckhông thích ứng được với môi trường làm việc nên thường xuyên thay đổicông việc tạm thời Thông qua việc nghiên cứu về sự thích ứng của sinh viênđối với việc làm sẽ giúp các nhà quản lý giáo dục thấy được rõ nhất chấtlượng thành quả, sản phẩm của mình, sẽ chỉ ra một trong những nguyên nhân

về tình trạng thất nghiệp của sinh viên Với những lý do trên, chúng tôi quyết

định lựa chọn đề tài “Sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt

nghiệp các ngành khoa học xã hội và nhân văn” (Nghiên cứu đối với sinh

viên tốt nghiệp từ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN)làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

2.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài sử dụng lý thuyết xã hội hóa cá nhân và lý thuyết sự lựa chọnhợp lý để phân tích sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp cácngành khoa học xã hội và nhân văn với hy vọng những thông tin thực nghiệm

sẽ được làm rõ hơn từ nội dung của những lý thuyết nói trên

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Phân tích sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp

sẽ giúp xã hội nói chung, các cơ sở đào tạo và các bạn sinh viên nói riêng giảiđáp được thắc mắc sinh viên ra trường làm việc như thế nào Từ đó sẽ có sựđiều chỉnh hợp lý trong hoạt động giảng dạy của các cơ sở giáo dục và hoạtđộng học tập của sinh viên nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay

- Phân tích những yếu tố tác động đến sự thích ứng việc làm của sinhviên sau khi tốt nghiệp

Trang 12

4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu:

Sự thích thích ứng với việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp từ trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thích ứng như thế nào với việc làm sau khi tốt nghiệp?

Câu hỏi 2: Những yếu tố nào tác động đến việc thích ứng đối với việclàm của sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn –ĐHQGHN

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Chúng tôi đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau để kiểm chứng nhằm tìm ra câu hỏi nghiên cứu của đề tài:

- Sinh viên có sự thích ứng tốt với môi trường làm việc nhưng sự thíchứng với kiến thức, kỹ năng và phương pháp lại không cao

- Có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến sự thích ứng đối với việc làmnhư quê quán, loại hình công việc, thu nhập, công việc phù hợp với chuyên mônđào tạo

Trang 13

6 Khung phân tích

Để xây dựng khung phân tích cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn

các yếu tố tác động thuộc về cá nhân và các yếu tố bên ngoài cá nhân, ở đây

chính là yếu tố gắn với việc làm mà cựu sinh viên sẽ phải thích ứng Các yếu

tố chính thuộc về cá nhân được chúng tôi lựa chọn là: Giới, học lực, quê quán

Các yếu tố chủ yếu liên quan đến việc làm được chúng tôi lựa chọn là: Loại

hình công việc, vị trí công việc và thu nhập Như vậy, chúng tôi xây dựng

được khung phân tích như sau:

Điều kiện KT - XH

Sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Người nghiên cứu tiến hành phân tích các sách chuyên môn, báo, tạpchí chuyên ngành… để khai thác những thông tin có liên quan tới vấn đềnghiên cứu

Đặc biệt luận văn đã sử dụng các dữ liệu định lượng thu được từ kếtquả khảo sát với 319 cựu sinh viên đã tốt nghiệp đại học chính quy của tất cảcác khoa/ngành học của trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn -ĐHQGHN từ năm 2010 đến năm 2014 thuộc đề tài “Xã hội hóa nghề nghiệp

và xu hướng việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học Xã hội ởViệt Nam hiện nay” do PGS TS Phạm Văn Quyết chủ trì

Đặc điểm mẫu thu được như sau:

Trang 15

Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn sâu 10 người sử dụng laođộng Là những nhà tuyển dụng, những người đang làm công tác quản lý cóngười lao động là các sinh viên đã tốt nghiệp trường đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn

7.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

Các dữ liệu định lượng của đề tài đã được trích suất và được xử lý bằngphần mềm thống kê chuyên dụng SPSS 17.0

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LU N VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới

Không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới, nguồn nhân lực làmột lĩnh vực then chốt để phát triển kinh tế Vì vậy, nghiên cứu về lĩnh vựcviệc làm để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làmột chủ đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thếgiới

Nhiều lý thuyết động lực làm việc đã chỉ ra các vai trò hàm ẩn của việclàm hài lòng Ngoài ra, nhiều giả thuyết về sự hài lòng công việc đã cố gắnggiải thích về sự hài lòng trong công việc và ảnh hưởng của nó, chẳng hạn như:Maslow (1943) Hệ thống cấp bậc của nhu cầu, Hertzberg (1968) Hai-Factor(Motivator-vệ sinh), Locke (1969) Lý thuyết về Khác biệt, Hackman vàOldham (1976) Đặc điểm công việc Model, Locke (1976) Phạm vi ảnh hưởngđến lý thuyết, Bandura (1977) Lý thuyết về xã hội học tập và Landy (1978)Thuyết về cạnh tranh đối thủ

Theo kết quả của nghiên cứu rộng lớn này, sự hài lòng công việc cóliên quan đến năng suất, động cơ, vắng mặt/đi muộn, tai nạn, tinh thần/sứckhỏe thể chất, và sự hài lòng của cuộc sống nói chung (Landy, 1978) Một ýtưởng phổ biến trong các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ở một mức độ nào đó, cáctrạng thái cảm xúc của một cá nhân bị ảnh hưởng bởi sự tương tác với môitrường làm việc của họ Mọi người xác định mình bằng nghề nghiệp của họ,chẳng hạn như bác sĩ, luật sư hoặc giáo viên Cá nhân của một người hạnhphúc trong công việc do đó là một khía cạnh rất quan trọng của nghiên cứu(Judge & Klinger, 2007)

Trang 17

Lời giải thích được chấp nhận rộng rãi nhất của sự hài lòng công việc

đã được trình bày bởi Locke (1976), người đã định nghĩa sự hài lòng côngviệc như là "một trạng thái cảm xúc vui hay tích cực do việc đánh giá các kinhnghiệm công việc hoặc công việc của một người" (p 1304) Ngoài ra, việclàm hài lòng có cảm xúc, nhận thức và hành vi (Bernstein & Nash, 2008) Cácyếu tố cảm xúc liên quan đến công việc, chẳng hạn như chán nản, lo lắng, hayphấn khích Yếu tố nhận thức của sự hài lòng trong công việc liên quan đếnniềm tin về một công việc, ví dụ, cảm thấy rằng công việc của một ngườimang tính đòi hỏi và thách thức về mặt tinh thần Cuối cùng, các thành phầnhành vi bao gồm các hành động của con người liên quan đến công việc của

họ, trong đó có thể bao gồm việc chậm trễ, ở lại muộn, hoặc giả vờ bị bệnh đểtránh việc (Bernstein & Nash, 2008)

Có hai loại sự hài lòng công việc dựa trên mức độ cảm xúc của nhânviên về công việc của họ Việc đầu tiên và nghiên cứu nhiều nhất là sự hàilòng công việc toàn cầu, trong đó đề cập đến tình cảm chung của nhân viên vềcông việc của họ (ví dụ, "Nói chung, tôi yêu công việc của tôi.") (Mueller &Kim, 2008) Thứ hai là khía cạnh hài lòng trong công việc, trong đó đề cậpđến những cảm xúc về các khía cạnh công việc cụ thể, chẳng hạn như tiềnlương, phúc lợi và chất lượng của các mối quan hệ với một người đồngnghiệp (ví dụ, "Nói chung, tôi yêu công việc của tôi, nhưng lịch trình của tôi

là rất khó để quản lý") (Mueller & Kim, 2008) Theo Kerber và Campbell(1987), đo lường của việc làm hài lòng có thể hữu ích trong việc xác địnhnhững khía cạnh cụ thể nào của một công việc đòi hỏi phải cải tiến Các kếtquả có thể giúp các tổ chức trong việc cải thiện một cách tổng thể về sự hàilòng trong công việc hoặc trong việc giải thích các vấn đề về tổ chức nhưdoanh thu cao (Kerber & Campbell, 1987)

Có một số quan niệm sai lầm về sự tồn tại của sự hài lòng trong côngviệc Một trong những sai lầm là một nhân viên hạnh phúc là một nhân viên

Trang 18

làm việc năng suất (Syptak, Marsland, & Ulmer, 1999) Nghiên cứu đã đưa ramột vài điều tương tự rằng một nhân viên hạnh phúc thì sẽ làm việc có năngsuất Hơn nữa, một số nghiên cứu đã cho rằng nguyên nhân xuất hiện theohướng ngược lại, từ năng suất đến sự hài lòng (Bassett, 1994) Có thể có mộtmối tương quan nhưng nó là một trong những điểm yếu Biết rằng nghiên cứukhông ủng hộ ý tưởng rằng hạnh phúc và sự hài lòng của nhân viên tạo ra sảnlượng cao hơn, tại sao I/O nhà tâm lý học và các tổ chức vẫn cố gắng để giữnhân viên của họ vui vẻ? Nhiều người đã chỉ ra rằng nghiên cứu I/O tâm lýhọc hơn là chỉ tăng dòng dưới cùng của một tổ chức Nhân viên hạnh phúckhông ảnh hưởng xấu đến năng suất và có thể có một tác động tích cực đốivới xã hội; do đó, nó vẫn còn đem lại lợi ích cho tất cả các bên có những nhânviên hạnh phúc và hài lòng Sai lầm khác là tiền lương là yếu tố quan trọngnhất trong việc làm hài lòng trong công việc Trong thực tế, nhân viên hàilòng hơn khi họ được hưởng môi trường mà họ làm việc (Berry, 1997) Một

cá nhân có thể có một công việc cao, trả tiền và không được hài lòng vì đó lànhàm chán và thiếu đủ kích thích Trong thực tế, một công việc lương thấp cóthể được xem là đáp ứng nếu nó là đầy đủ thách thức hoặc kích thích Có rấtnhiều yếu tố phải được xem xét khi xác định làm thế nào hài lòng với nhânviên là với công việc của mình và nó không phải là luôn luôn dễ dàng để xácđịnh yếu tố nào là quan trọng nhất đối với mỗi người lao động Sự hài lòngcông việc mang tính chủ quan đối với mỗi nhân viên và mỗi tình huống đượcđánh giá

Sự hài lòng trong công việc là biến thường xuyên được nghiên cứunhiều nhất trong hành vi tổ chức (Spector, 1997) Nghiên cứu về sự hài lòngcông việc được thực hiện thông qua các phương pháp khác nhau, bao gồm cảcác cuộc phỏng vấn, quan sát và trả lời câu hỏi Các câu hỏi là phương phápnghiên cứu thường xuyên nhất được sử dụng bởi vì đặc trưng của nó là khá tự

do Các nhà nghiên cứu có thể sử dụng một công cụ thẩm định đang có hoặc

Trang 19

các thang bậc như một phương tiện để đánh giá Sử dụng một quy mô hiện tạicung cấp cho các nghiên cứu viên với một cấu trúc hợp lệ, đáng tin cậy và phùhợp khi đánh giá sự hài lòng công việc Sự hài lòng công việc có thể đượcđánh giá bằng cách sử dụng một quy mô nói chung, quy mô sự hài lòng hoặckhía cạnh quy mô toàn cầu sự hài lòng Các Chỉ số miêu tả công việc (JDI) làcông cụ đánh giá sự hài lòng công việc phổ biến nhất với các nhà nghiên cứu(Spector, 1997) Các JDI được chia thành năm khía cạnh của sự hài lòng:công việc, trả lương, thăng chức, giám sát, và đồng nghiệp.

Nghiên cứu về lý thuyết mà ủng hộ sự hài lòng công việc là một yếu tốquan trọng đối với người lao động và đối với các tổ chức Ví dụ, trong mộtcuộc khảo sát nghiên cứu của Grant, Fried và Juillerat (2010) tại một ngânhàng lớn, các nhà quản lý thấy rằng giao dịch viên ngân hàng đã rất hài lòngvới công việc của họ, nói rằng họ "chỉ nhân viên được vinh hiển" Họ cũngnói rằng công việc của họ là nhàm chán vì họ đã không thể đưa ra quyết định,thậm chí những cái nhỏ, mà không có sự chấp thuận của người quản lý của

họ Trong trường hợp này, các nhà quản lý của các ngân hàng đã quyết địnhthiết kế lại các công việc nhân viên giao dịch để tăng sự hài lòng công việc.Nhiệm vụ mới đã được thêm vào để cung cấp đa dạng và việc sử dụng mộtloạt các kỹ năng Ngoài nhiệm vụ kiểm tra đổi tiền mặt, tiền gửi thanh toán vàtiền vay của họ, họ được đào tạo để xử lý kiểm tra thương mại, du lịch và chitrả sau trực tuyến Các giao dịch viên cũng đã được trao quyền tự chủ nhiềuhơn trong vai trò của mình; họ đã được giao trách nhiệm ra quyết định Cuốicùng, khi thời gian phản hồi đến gần, các nhà quản lý cảm thấy rằng bằngcách tái thiết kế vai trò của người kể họ đã làm cho các giao dịch viên tráchnhiệm hơn với khách hàng của mình Trong trường hợp cụ thể này, nó đãđược tìm thấy rằng sự hài lòng công việc đã tăng lên Một cuộc khảo sát đãđược thực hiện sáu tháng sau đó và kết quả là các giao dịch viên không chỉcảm thấy hài lòng hơn với công việc của mình mà họ cũng cảm thấy gắn bó

Trang 20

hơn với công ty của họ Cuối cùng, trong quá trình đánh giá nhân viên/quản

lý, nó đã được tìm thấy rằng có một sự gia tăng hiệu suất của các giao dịchviên và rằng sự hài lòng công việc được tạo ra bởi các công việc thiết kế lại cótác dụng kéo dài ít nhất bốn năm (Grant, Fried, & Juillerat, 2010)

Theo một nghiên cứu của Syptak, Marsland và Ulmer (1999) nhữngnhân viên cảm thấy hài lòng với công việc có xu hướng để có hiệu quả hơn,sáng tạo và gắn bó hơn với ông chủ của họ Hơn nữa, các nghiên cứu gần đây

đã chỉ ra rằng có một mối tương quan trực tiếp giữa sự hài lòng của nhân viên

và sự hài lòng của bệnh nhân Trong trường hợp văn phòng của bác sĩ, nghiêncứu cho thấy rằng không chỉ có các nhân viên và bệnh nhân hài lòng hơn, cácbác sĩ tìm thấy hài lòng trong công việc cũng tăng lên Các nghiên cứu tiếnhành tại văn phòng của bác sĩ dựa trên Lý thuyết của Herzberg về Động lực -

Vệ sinh Yếu tố vệ sinh có liên quan đến môi trường làm việc, bao gồm: chínhsách công ty, giám sát, tiền lương, quan hệ giữa các cá nhân và điều kiện làmviệc Động cơ thúc đẩy các yếu tố có liên quan đến công việc và làm cho nhânviên muốn thành công và bao gồm: thành tựu, công nhận, bản thân công việc,trách nhiệm và thăng tiến Theo Herzberg, khi các vấn đề vệ sinh được giảiquyết, các động lực thúc đẩy sự hài lòng trong công việc và khuyến khích sảnxuất Khi áp dụng các lý thuyết Herzberg vào nghề thầy thuốc thực tế đờisống, nghiên cứu đầu tiên đề cập đến các yếu tố vệ sinh "bởi vì đây là quantrọng đối với việc tạo ra một môi trường mà sự hài lòng và động lực của nhânviên thậm chí còn có thể" (Syptak, Marsland & Ulmer, 1999) Nghiên cứuthảo luận chi tiết cho từng khía cạnh của các yếu tố vệ sinh và làm thế nào cácbác sĩ có thể áp dụng những yếu tố này để tạo ra một môi trường thúc đẩyviệc làm hài lòng Cuộc nghiên cứu sau đó chuyển sang các động lực và mộtlần nữa thảo luận chi tiết các khía cạnh của mỗi yếu tố Cuối cùng, "bằng cáchtạo ra một môi trường nhằm thúc đẩy việc làm hài lòng, bạn đang phát triển

Trang 21

những nhân viên có động lực, hiệu quả và hoàn thành công việc"(Syptak,Marsland & Ulmer, 1999).

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Nguồn nhân lực là vấn đề cốt lõi trong sự phát triển của mọi quốc gia,đặc biệt với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Với một chủ đề có tầmquan trọng và tính thời sự cao như vậy không thể không thu hút sự quan tâmcủa các nhà nghiên cứu Đặc biệt trong thời gian gần đây, vấn đề việc làm nóichung và của sinh viên nói riêng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnhvực khác nhau tìm hiểu với mong muốn cùng nhau góp sức tìm lời giải chobài toán chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam

Nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực việc làm của thanh niên trong

những năm gần đây phải kể đến công trình nghiên cứu “Suy thoái kinh tế và những thách thức đối với giải quyết việc làm thanh niên hiện nay” của

Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2014) Thông qua việc phân tích số liệu thống

kê, nhóm tác giả đã phản ánh thực trạng việc làm của thanh niên hiện nay vàđưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp việc làm cho thanh niêntrong những năm tới, khi mà cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn chưakết thúc

Công trình nghiên cứu đã phân tích sâu tình hình kinh tế - xã hội trongbối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu và đưa ra những thách thức việc làm vàgiải quyết việc làm cho thanh niên ở nước ta Theo thời gian, trong khoảng 10năm qua, tỉ lệ thanh niên tham gia hoạt động kinh tế đều tăng lên đáng kể, lựclượng thanh niên có mặt ở hầu hết các ngành nghề như: nông, lâm, ngưnghiệp, xây dựng, dịch vụ,… Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làmhay việc làm không ổn định và kéo theo đó là tiền lương, thu nhập không đủsống của thanh niên là một thách thức lớn trong bối cảnh suy thoái kinh tếtoàn cầu Điều này không chỉ diễn ra ở nhóm thanh niên ít học, mà cả vớinhóm đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề Trong số

Trang 22

những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do hoạt động đào tạo việc làmcho thanh niên hiệu quả kém, biểu hiện ở việc đào tạo dàn trải, đại trà, khôngchú ý đến sự khác biệt vùng miền, chưa cung cấp kiến thức, kỹ năng cần thiếtcho người học để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động cả trong vàngoài nước.

Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm hay việc làm không ổn định hiệnnay của thanh niên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan Về kháchquan, đó là do cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế trên toàn cầubùng phát vào năm 2008, tiếp theo là khủng hoảng nợ công ở châu Âu và suygiảm tăng trưởng kinh tế Mỹ Ở trong nước, các tập đoàn kinh tế lớn của nhànước đều thua lỗ, nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động, thị trường bất độngsản đóng băng Tuy nhiên, ở đây nguyên nhân chủ quan cũng không kémphần quan trọng trong số những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp,thiếu việc làm hay việc làm không ổn định đó là: dự báo nhu cầu và phát triểnnguồn nhân lực không chính xác, công tác đào tạo nghề chưa đáp ứng đượccho người học và cả doanh nghiệp, các chính sách về lao động, việc làm củaNhà nước còn nhiều bất cập, chính quyền cơ sở chưa phát huy được hoặcchưa phát huy hết tiềm năng của địa phương Còn với đội ngũ thanh niên thìphần nhiều không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, thiếu kỹ năng mềm,…

Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên ở nước ta không

ổn định và thiếu tầm nhìn xa Ví dụ, tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ởthành thị cao hơn ở nông thôn và ngược lại, tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thônlại cao hơn ở đô thị gấp hai lần Khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế phichính chức cũng tương tự, trong khi khu vực kinh tế nhà nước đang giảm dầnthì ở khu vực khác lại tăng lên Lao động giản đơn thì dư thừa nhưng lại thiếulao động có chuyên môn sâu để làm việc ở các khu vực đòi hỏi công nghệcao Hầu hết thanh niên ở lứa tuổi từ 15 - 22 đều chọn con đường đi học và đổdồn vào các ngành nghề thời thượng (tài chính, ngân hàng, kiểm toán,

Trang 23

luật,…), sau khi học xong không về quê hương, tìm mọi cách bám trụ ở đôthị Đó là một trong số những nguyên nhân dẫn đến không có việc làm, thiếuviệc làm hay việc làm không ổn định Nhiều công việc không xứng với tấmbằng tốt nghiệp, sinh viên đại học ra trường đi làm công nhân hoặc các côngviệc trái với chuyên môn được đào tạo, số khác phải đào tạo lại cho phù hợpvới công việc,… việc đó đã gây nên sự lãng phí tiền bạc, thời gian của giađình và xã hội Hiện tượng ở nơi này thừa việc làm nhưng lại thiếu lao độnghay ngược lại đang diễn ra sẽ không chỉ ảnh hưởng đến tiền lương, thu nhập

và đời sống của thanh niên mà còn tác động xấu đến an sinh và sự phát triểnbền vững của toàn xã hội

Nghiên cứu đã đi sâu phân tích các khía cạnh khác nhau của vấn đềviệc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên, nhóm tác giả đã rút ra đượcnhững mặt được, chưa được trong vấn đề này để đưa ra những đề xuất quanđiểm, mục tiêu, định hướng giải pháp cụ thể, chẳng hạn, tăng cường công tác

tư vấn, định hướng nghề nghiệp; việc đào tạo nghề theo yêu cầu phát triển củathị trường lao động, nhu cầu của doanh nghiệp cần gắn với việc hoàn thiệnchính sách tiền lương và thu nhập; đảm bảo di cư an toàn; đẩy mạnh xuấtkhẩu v.v

Tiếp theo là nghiên cứu “Bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận việc làm của người lao động hiện nay” của Bùi Thị Thanh Hà (2013) Nghiên

cứu này sử dụng kết quả khảo sát từ Chương trình nghiên cứu của Viện Xãhội học được tiến hành tại hai tỉnh Hà Nam và Tiền Giang vào tháng 5/2012với 1.004 đại diện (hộ gia đình) theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫunhiên tại 4 xã/phường Trong đó, nam chiếm 49,6%, nữ chiếm 50,4%, độ tuổitrung bình trong khoảng 19 - 72 tuổi Có 32 phỏng vấn định tính với các đốitượng liên quan Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu vào các yếu tố xã hộicủa khía cạnh bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận việc làm của người lao độnghiện nay, những nhân tố tác động sẽ tạo ra những lợi thế và thách thức của

Trang 24

từng nhóm trong cơ hội tiếp cận với việc làm Theo đó, tác giả đã chỉ ra có sựkhác biệt/bất bình đẳng trong di động nghề nghiệp giữa các yếu tố như nam

và nữ, khu vực kinh tế, trình độ chuyên môn Về các mức độ hài lòng với cáckhía cạnh của việc làm chính, người lao động hài lòng nhất với các yếu tố tínhchủ động của cá nhân trong công việc, quan hệ con người nơi làm việc và phùhợp với trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp Mức độ hài lòng thấpnhất là đánh giá về chế độ phúc lợi và cơ hội thăng tiến Về kênh thông tin đểngười lao động tiếp cận với việc làm, có sự khác biệt khá lớn giữa các kênhthông tin chính thức và kênh thông tin không chính thức Trong khi các mạng

xã hội chính thức, thông tin đại chúng có vai trò mờ nhạt, ít hữu ích đối vớingười lao động khi tiếp cận với nghề nghiệp thì ngược lại gia đình, họ hàng,

bạn bè v.v lại có vai trò rất quan trọng [4, 25].

Bài viết “Sự thay đổi thái độ về việc làm và cuộc sống vật chất của thanh niên Việt Nam” của Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Hồng sử dụng số

liệu Điều tra thanh niên và vị thành niên Việt Nam lần thứ nhất (SAVY 2003,gọi tắt là SAVY 1) và lần thứ hai (SAVY 2009, gọi tắt là SAVY 2) để phântích sự thay đổi của thanh niên về việc làm và đời sống vật chất sau thời gian

5 năm Hai tác giả đã tập trung vào phân tích sự thay đổi thái độ về việc làm

và ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng nhân khẩu – xã hội đến sự thay đổi đó.Theo đó, kết quả SAVY 2 cho thấy có gần 2/3 số người được hỏi cho rằngngày nay tìm việc làm là khó và rất khó Những người học vấn thấp, phụ nữ

và người dân tộc thiểu số dường như có ít cơ hội việc làm hơn những nhóm xãhội khác Thanh niên có mức sống thấp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việclàm so với thanh niên có mức sống khá, trung bình Số thanh niên cho rằng rấtkhó khăn trong tìm kiếm việc làm có xu hướng tỷ lệ nghịch với mức độ sửdụng internet Có 31,7% những người không sử dụng internet cho rằng tìmviệc làm hiện nay là rất khó khăn, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm sử dụnginternet từ 1- 6 giờ/tuần là 25,3%, ở nhóm sử dụng trên 7 giờ/tuần là 23,9%

Trang 25

Mặc dù đa số thanh niên cho rằng khả năng tìm việc hiện nay là khó song họvẫn có cái nhìn lạc quan về công việc trong tương lai Có 81,1% thanh niênhoàn toàn đồng ý với nhận định “ Bạn sẽ có một công việc mà bạn thích” tănghơn 3 điểm phần trăm so với kết quả của SAVY 1 Nhóm thanh niên sinhsống ở thành thị, nhóm có trình độ học vấn cao, mức sống trung bình trở lên

có cái nhìn lạc quan hơn về khả năng mình có một công việc yêu thích trong

tương lai [9,27]

Một nghiên cứu phân tích khá sâu về cách tiếp cận việc làm của sinh

viên đó là “Lý thuyết và phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội trong trường hợp tìm kiếm việc làm của sinh viên” (Lê Ngọc Hùng) Nghiên cứu

trên được triển khai thông qua cuộc điều tra mẫu nhỏ gồm 299 sinh viên trong

đó 114 nam và 115 nữ đang học năm cuối ở một số trường Đại học kinh tế,

Sư phạm, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội ở Hà Nội, phỏng vấn sâu một

số nhà tuyển dụng, một số cựu sinh viên đang làm việc tại một số cơ quan.Bên cạnh những phân tích về một số vấn đề lý thuyết mạng lưới xã hội, tácgiả đã nêu lên những đặc điểm của sinh viên và việc làm mong đợi của sinhviên, những động thái tích cực trong việc thiết lập các đầu mối của mạng lưới

xã hội trong việc tiếp cận việc làm trong tương lai của sinh viên Theo đó, có2/3 số sinh viên được hỏi vẫn có mong muốn làm việc trong khu vực nhànước, 52,7% có dùng các phương tiện thông tin đại chúng để tìm việc làm, tuynhiên tỷ lệ sử dụng internet vẫn ở mức thấp 23% Trong nghiên cứu này, tácgiả cũng đã chỉ ra sinh viên đã có những bước chuẩn bị về các kỹ năng như vitính, ngoại ngữ, giao tiếp để đi phỏng vấn xin việc thông qua việc một tỷ lệlớn sinh viên đi học thêm các kỹ năng này (62%) Ngoài ra, sinh viên còn vừacủng cố, duy trì các quan hệ xã hội đã có và vừa tạo lập các mối quan hệ mới,tiếp xúc với các đầu mối thông tin nhằm tìm hiểu việc làm Sinh viên chủ yếuphải dựa vào mạng lưới hỗn hợp bao gồm các đầu mối quan hệ gia đình, bạn

bè và các tổ chức giới thiệu việc làm [6,72].

Trang 26

Một nghiên cứu cũng đáng chú ý của Hoàng Thu Hương và Trần Thị

Kim Nhung “Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực khoa học hiện nay” Bài

viết sử dụng kết quả khảo sát của đề tài KX 03.22/06 -10 “Xây dựng và pháthuy nguồn nhân lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nướctrong thế kỷ XXI (2009 - 2010), khảo sát nhóm đối tượng cán bộ có trình độđại học, cao đẳng trở lên đang công tác trong lĩnh vực khoa học, giáo dục,quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật tại 4 địa bàn: Hà Nội, HồChí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương với số phiếu hỏi là 1.156 Bài viết đã tìmhiểu thực trạng sử dụng nguồn lực khoa học tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệphiện nay thông qua các chỉ báo: sự phân công công việc trong cơ quan, mức

độ phát huy năng lực làm việc của đội ngũ trí thức và việc thực hiện các cơchế, chính sách hiện nay ở các cơ quan dưới đánh giá của đội ngũ nguồn nhânlực trong lĩnh vực khoa học Một kết luận cũng rất đáng được lưu ý của bàiviết đó là: dự định chuyển đổi nơi làm việc có quan hệ nghịch chiều với cácchính sách tuyển dụng cán bộ, tiền thưởng, tiền lương, phụ cấp và chính sách

cho hoạt động chuyên môn [8,47] Điều này cho thấy, các cơ quan càng có cơ

chế thực hiện tốt những chính sách về chuyên môn, tiền lương, tiền thưởng thìđội ngũ cán bộ càng có sự gắn bó với cơ quan bấy nhiêu

Về lĩnh vực di động việc làm, không thể không kể đến nghiên cứu “Di động việc làm trong quá trình chuyển đổi ở Việt Nam: nhìn từ những thay đổi trong chính sách kinh tế và hội nhập quốc tế” của Lê Thị Thúy

Hằng Trong bài viết này, dựa trên các nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu

về lĩnh vực lao động - việc làm, tác giả đã phân tích tác động của các yếu tốchính sách kinh tế và hội nhập quốc tế trong việc mở ra cơ hội hoặc tạo ra sức

ép khiến người lao động tiến hành chuyển đổi công việc của mình Phần đầu,tác giả đã phân tích về các chính sách kinh tế, chính sách mở cửa và hội nhậpquốc tế Sau đó, tác giả đã phân tích sự ảnh hưởng của chính sách đó đến diđộng việc làm Trước hết, trong sự dịch chuyển việc làm giữa các khu vực

Trang 27

kinh tế thì xu hướng chính là dịch chuyển việc làm từ khu vực nhà nước sangkhu vực tư nhân Từ năm 1987 - 1993, có 970.000 lao động trong doanhnghiệp nhà nước nghỉ việc và tìm việc làm mới (Nguyễn Thanh Bình và cộng

sự, 2005) Tiếp theo, phân tích di động việc làm theo ngành kinh tế cho thấy

có sự dịch chuyển từ các ngành phi dịch vụ sang các ngành dịch vụ Cuốicùng, sự di chuyển việc làm theo vị trí công việc, có sự di chuyển từ tham giasản xuất kinh doanh cùng gia đình sang tự sản xuất kinh doanh hoặc làm công

là xu hướng chính hiện nay.[5, 89]

Nghiên cứu về sự thích ứng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp

phải kể đến một nghiên cứu về “Đánh giá khả năng thích ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp ngành du lịch ở đồng bằng Sông Cửu Long” do

nhóm thực hiện Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Hoàng Thị Hồng Lộc,Quách Hồng Ngân đăng trên Tạp chí Khoa học năm 2011, trang 217 - 224,Trường Đại học Cần Thơ Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khảnăng thích ứng với công việc của sinh viên tốt nghiệp ngành du lịch tại cáctrường đại học ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Số liệu củanghiên cứu được thu thập từ 158 sinh viên đã tốt nghiệp ngành du lịch đanglàm việc tại các đơn vị kinh doanh du lịch ở khu vực ĐBSCL Kết quả nghiêncứu cho thấy, phần lớn sinh viên ngành du lịch có kiến thức chuyên môn vàcác kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc ở mức trung bình khá Các nhân tốảnh hưởng đến khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành du lịch

là trình độ ngoại ngữ, khả năng thích nghi với môi trường và kiến thức chuyênmôn

Luận văn thạc sỹ của Trần Thị Minh Hiếu năm 2013 với đề tài “Đánh giá mức độ đáp ứng công việc của sinh viên tốt nghiệp khoa Kỹ thuật biển đối với yêu cầu của thị trường lao động Hà Nội” Đối tượng là sinh

viên các khóa đã tốt nghiệp khoa Kỹ thuật biển (95 người) và cán bộ quản lýlao động tại các đơn vị có sinh viên đã tốt nghiệp đang làm việc (60 cán bộ

Trang 28

quản lý) Tác giả đã đánh giá về mức độ đáp ứng về kiến thức, kỹ năng, thái

độ nghề nghiệp của sinh viên đối với yêu cầu của thị trường lao động Hà Nội.Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên đã tốt nghiệp đáp ứng tương đối tốt vềmặt kiến thức, mức độ đáp ứng kiến thức giữa các nhóm cơ sở làm việc, giữacác khóa không có sự khác nhau Bên cạnh số sinh viên đáp ứng được về kỹnăng thì số sinh viên đáp ứng kém vẫn chiếm tỷ lệ cao và mức độ đáp ứng về

kỹ năng có sự khác nhau giữa các khóa Sinh viên có thái độ tốt đối với côngviệc và thái độ có sự khác nhau giữa các khóa

Những nội dung đề tài trên chủ yếu đo lường, đánh giá về mức độ của

sự thích ứng, khả năng thích ứng, mức độ đáp ứng… của sinh viên, sinh viênsau tốt nghiệp, của nhà sử dụng lao động chứ chưa có một nghiên cứu xã hộihọc nào nói về sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp, đặcbiệt là sinh viên của các ngành khoa học xã hội

Có thể nhận thấy, tương ứng với tầm quan trọng của việc làm của thanhniên đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam về vấn đềnày Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy, những nghiên cứu trên đang tập trungvào phân tích những nguyên nhân dẫn đến những vấn đề việc làm của thanhniên, những rào cản trong việc tiếp cận việc làm hiện nay trong khi đó mộtcâu hỏi rất bức thiết đặt ra đó là vậy thực tế người lao động hiện nay đang làmviệc như thế nào, có thích ứng được với yêu cầu của xã hội hay không và sựthích ứng đó diễn ra như thế nào thì chúng tôi chưa thấy có một nghiên cứu cụthể về vấn đề này Hơn nữa, đối tượng của những nghiên cứu trên chủ yếu làlực lượng thanh niên nói chung, là một đối tượng quá rộng Còn rất ít nghiêncứu tập trung vào đối tượng là những sinh viên thuộc các ngành khoa học xãhội Trước tình hình thực tiễn nghiên cứu như trên, chúng tôi đã chọn đề tài

nghiên cứu“ Sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội và nhân văn” với mong muốn trả lời được câu hỏi

thực tế làm việc của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội hiện nay

Trang 29

như thế nào, họ có thích ứng với những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội hay không

có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm Để hiểu rõ khái niệm

và bản chất của việc làm, ta phải liên hệ đến phạm trù lao động vì giữa chúng

có mối quan hệ mật thiết với nhau

Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó

là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người Bản thân cá nhânmỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định.Mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tưcách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi

là chỗ làm hay việc làm Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại kháchquan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nềnsản xuất Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhấtđịnh trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao độngmới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bảnthân

Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểmsau: Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó lànhững công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình,hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận Trên thực tế, việc làm được thừanhận dưới 3 hình thức:

Trang 30

- Làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó.

- Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sửdụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành côngviệc đó

- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thùlao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Hình thức này bao gồmsản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc

một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý

Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộluật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luậtcấm đều được thừa nhận là việc làm” Khái niệm trên nói chung khá bao quát,nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản Thứ nhất, hoạt động nội trợkhông được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vậtchất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ Thứ hai, khó có thể so sánh

tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữacác quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán Cónhững nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ởquốc gia khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lạiđược coi là một nghề Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đôngtầng lớp thượng lưu

Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chiaviệc làm ra thành nhiều loại Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việclàm chính và việc làm phụ Việc làm chính là công việc mà người thực hiệngiành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác.Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất saucông việc chính Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm toàn thờigian, bán thời gian, việc làm thêm:

Trang 31

- Việc làm toàn thời gian: Chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần.

- Việc làm bán thời gian: Mô tả công việc làm không đủ thời gian giờhành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần Thời gianlàm việc có thể dao động từ 0.5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục

- Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức, không thườngxuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định

1.2.2 Thích ứng (Adaptability)

Thích ứng là một khái niệm có nguồn gốc từ tâm lý học Tuy nhiên, hiệnnay, khái niệm này đã nhận được sự quan tâm không chỉ của tâm lý học màcòn của các khoa học xã hội nói chung, trong đó có xã hội học

Một trong các nhà xã hội học đầu tiên đề cập đến khái niệm thích ứng hay thích ứng xã hội là Robert K Merton Với xuất phát điểm xem những yếu

-tố mới như là một sự phá vỡ quy luật thường thấy, ông cho rằng: "Thực ratính bất quy luật được coi là sự sụp đổ của cấu trúc văn hóa, nó đặc biệtthường xảy ra khi có sự bất đồng gay gắt một mặt giữa các chuẩn mực vănhóa và các mục tiêu, mặt khác giữa những điều kiện của cơ cấu xã hội đểhướng tới hành động thống nhất"

Theo Merton, "thích ứng chính là quá trình "nội tâm hóa" ở những mức

độ khác nhau các giá trị chung" Và thích ứng như thế nào thì do mục tiêu củachủ đề và những phương tiện mà xã hội đề ra, theo Merton, các cá nhân sẽ cónhững loại hình thích ứng như sau:

- Loại thích ứng tuân thủ hay còn gọi là kiểu thích ứng thuần: Với loạithích ứng này, cá nhân chấp nhận đồng thời những mục tiêu được xã hội đề cao,cũng như những phương tiện được xã hội chấp nhận

- Loại thích ứng cách tân hay còn gọi là kiểu thích ứng sáng tạo: Loại

thích ứng này xảy ra khi cá nhân lĩnh hội được những mục tiêu của nền văn

Trang 32

hóa, nhưng lại không nhập tâm được cùng một cách thức các phương tiện được xã hội chấp nhận.

- Loại thích ứng nghi thức chủ nghĩa hay còn gọi là kiểu thích ứng nghithức: Loại hình thích ứng này được Merton đưa ra để chỉ việc các cá nhân hoàntoàn chấp nhận những phương tiện hợp thức của xã hội (ví dụ sống và làm việctheo đúng pháp luật, quy chuẩn của xã hội) nhưng không chấp nhận theo đuổinhững mục tiêu mà nền văn hóa đề cao (không chấp nhận việc nỗ lực để làm lãnhđạo chẳng hạn)

- Loại thích ứng xuất thế hay còn gọi là kiểu thích ứng thoát ly: Loại

thích ứng này xảy ra khi các cá nhân chối bỏ hoàn toàn những giá trị mà nền vănhóa đề cao lẫn những phương tiện hợp thức của xã hội

Cùng với cách phân chia của Merton, Nguyễn Khắc Viện cũng đã đưa

ra định nghĩa thích ứng hay thích ứng xã hội Với bề dày nghiên cứu về tâm lýngười và các mối quan hệ xã hội, tác giả cho rằng: Thích ứng là việc một cánhân tiếp nhận được các giá trị của một xã hội, hòa nhập được vào xã hội ấy.Không thích ứng biểu hiện qua các hành vi "gàn dở", trái với tập tục, có thểdẫn đến hành động phạm pháp Mỗi xã hội đều đặt ra những mục tiêu chung

và đề ra những biện pháp thực hiện Mỗi cá nhân đều thích ứng ít hay nhiềuvới những mục tiêu và biện pháp ấy Hay nói như Merton, đó chính là quátrình "nội tâm hóa" các giá trị chung

Như vậy, thích ứng chính là quá trình cá nhân tiếp nhận các giá trị mới

và hòa nhập/thực hành được trong thực tiễn với những giá trị ấy với các biệnpháp phù hợp

1.2.3 Thích ứng việc làm

Thích ứng việc làm là quá trình thích ứng của người lao động với cácđiều kiện bên ngoài và bên trong của quá trình lao động Trong xã hội học vàtâm lý học người ta chia thành thích ứng xã hội và thích ứng việc làm Trong

đó, thích ứng việc làm là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà

Trang 33

quản lý, các nhà tuyển dụng Chính thích ứng việc làm là công cụ để giảiquyết vấn đề năng suất và chất lượng công việc ở người lao động.

Thích ứng việc làm là quá trình thích ứng hai mặt Một mặt là sự thíchứng của người lao động với vị thế công việc mới của mình, với các điều kiện,đòi hỏi của môi trường kỹ thuật, với bản thân hoạt động nghề nghiệp; mặtkhác, là sự thích ứng của họ với những đặc trưng nhân cách của nghề nghiệp.Việc đạt được trạng thái thích ứng, thông qua đó không chỉ hoạt động nghềnghiệp có hiệu quả, mà còn tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp và nhân cáchcủa người lao động, được coi là kết quả của quá trình thích ứng hợp lý Bêncạnh đó, quá trình thích ứng việc làm không chỉ được coi như là sự thích ứngcủa con người với việc làm mà còn là quá trình tự phát triển cá nhân

Quá trình thích ứng việc làm bắt đầu diễn ra trong trường học, sau đótiếp tục trong quá trình đào tạo nghề và cuối cùng là quá trình hoạt động nghềnghiệp của con người Có thể chia ra 3 giai đoạn quan hệ và tương hỗ lẫnnhau về sự thích ứng nghề:

1) Giai đoạn trước khi vào đại học, cao đẳng: Liên quan tới địnhhướng nghề nghiệp trong quá trình học tập ở các trường phổ thông (Đây là giaiđoạn làm quen với thế giới nghề nghiệp, xác định lĩnh vực nghề nghiệp tương lai,xuất hiện động cơ, xu hướng, phẩm chất nhân cách, những tiền đề đối với nghề lựachọn)

2) Giai đoạn học đại học, cao đẳng: Đây là giai đoạn đào tạo nghềnghiệp, hình thành và điều chỉnh định hướng nghề nghiệp, phát triển kỹ năng, kỹxảo nghề, những phẩm chất nhân cách cần thiết đối với nghề, hình thành và pháttriển tự ý thức nghề nghiệp…

3) Giai đoạn sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng: Là giai đoạn thựchiện hoạt động nghề nghiệp Trong giai đoạn này, các cán bộ trẻ thích ứng với điềukiện lao động, tập thể, vị thế xã hội mới, tức là diễn ra "sự thâm nhập"

Trang 34

nghề nghiệp và nhân cách vào hoạt động lao động, hiện thực hoá các tiềmnăng nhân cách và nghề nghiệp của người cán bộ.

1.3 Cơ sở lý luận và lý thuyết áp dụng

1.3.1 Cơ sở lý luận

Để xác lập cơ sở lý luận và phương pháp luận cho đề tài, chúng tôi xuấtphát từ quan điểm của K Marx về lao động Theo quan niệm của xã hội họcMác xít thì “lao động trước hết là một quá trình trong đó, bằng hoạt động củachính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chấtgiữa họ và tự nhiên”

Khi đề cập đến các hình thức lao động của con người đã hình thànhtrong lịch sử, K Marx viết: “Phân công lao động chỉ thực sự được thực hiệnkhi có sự phân chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần Điều nàyhàm ý rằng, sự phân công lao động xã hội được thể hiện và kết thúc ở việcphân chia thành lao động trí óc và lao động chân tay, nghĩa là chỗ tách riêngcác nhóm xã hội và dành cho mỗi nhóm chỉ là một trong hai hình thức laođộng trí óc hoặc lao động chân tay mà thôi

Theo quan niệm của xã hội học Mác xít thì “lao động trước hết là mộtquá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằnghoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sựtrao đổi chất giữa họ và tự nhiên” Qua các khái niệm của các nhà xã hội họcMác xít họ cho rằng: “ Không những coi lao động là nguồn sáng tạo ra của cảivật chất và tinh thần cho con người mà còn coi đó là yếu tố quyết định trongquá trình sáng tạo ra bản thân con người; không những coi lao động làphương tiện để thỏa mãn nhu cầu con người mà còn coi lao động là nhu cầucủa bản thân con người Quan điểm lao động của Mác xít đã đưa ra những lýgiải xác đáng, khoa học về quá trình phát triển của lao động xã hội, được kiểmchứng thực tế trong hoạt động sản xuất và hoạt động sống của con người

Trang 35

Sự phát triển của chủ nghĩa Marx là do ảnh hưởng mạnh mẽ của phongtrào lao động ở Anh và Pháp, cũng như sự phát triển nhanh của công nghiệpcùng với sản xuất tư bản chủ nghĩa Các bài viết của Marx đưa ra nhiều kháiniệm mấu chốt về lao động như phân hóa lao động, sự hình thành giai cấp và

ý thức giai cấp, áp bức kinh tế, lao động dự trữ và phép biện chứng (Benstron,

1969, Rowbotham, 1973)

Một số nhà thông thái Hy Lạp cổ đại cho rằng: Lao động là sự ải khónhọc Cuộc sống sung sướng là cuộc sống nhàn rỗi, không phải lao động Một

số tôn giáo cũng cho rằng, lao động là hình thức mà con người phải thực hiện

để chuộc tội tổ tông, là hình thức để tránh sự cám dỗ của quỷ dữ, là cách đểcứu rỗi linh hồn Nhiều người phương Đông quan niệm cuộc sống sungsướng, thần tiên là cuộc sống an nhàn, hưởng lạc, không phải lao động

Tính chất lao động như thế nào phụ thuộc vào hệ thống xã hội, thiết chế

xã hội và cách tổ chức lao động trong xã hội Vì vậy, xã hội học nghiên cứulao động với tư cách là một hiện tượng kinh tế - xã hội Đặc điểm, tính chấtlao động trong xã hội truyền thống, đó là do những tác động xã hội, chính trị,những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật

Lao động được hiểu rộng hơn một nghề nghiệp Lao động là một khônggian mà ở đó chúng ta gặp gỡ những người khác, kết bạn, kể cả khả năng điđến hôn nhân Đối với nhiều người, đó là nơi họ đạt được địa vị bên ngoài xãhội cao hơn những người khác Con người ta thích nghi với một vai trò xã hộikhi họ có một công việc, hướng tới sự trông đợi xã hội về họ sẽ ứng xử nhưthế nào: một quan tòa được xem là thận trọng và điềm đạm, đúng mực; một kếtoán phải chính xác, sạch sẽ và gọn gàng (E Goffman,1972) Con người làmtheo những vai trò công việc của họ như là một phần của bản sắc cái tôi củamình và lao động như là một phần của quá trình xã hội hóa Có thể nói rằngchức năng của lao động là đem lại địa vị, bản sắc và thu nhập Các nhà xã hộihọc chỉ ra, người ta lao động vì những ý nghĩa sau đây: để đóng góp

Trang 36

(Contribution), hội nhập (Integration), địa vị xã hội (Status), sự hài lòng(Satisfaction), phần thưởng kinh tế (Economic Reward) và tương tác xã hội(Social contact) (G O Donnell, 1994:147 - 48).

Đặc điểm quan trọng nhất của lao động là tính mục đích, tính ý thứccủa hoạt động chế tạo, sử dụng phương tiện lao động để sản xuất ra những vậtphẩm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người Lao động là sự nỗlực về mặt thể lực, tinh thần và tình cảm định hướng vào sản xuất ra sản phẩmnhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội, đồng thời đáp ứngnhu cầu phát triển năng lực ở mỗi cá nhân Lao động không những là phươngthức tồn tại, phát triển của mỗi cá nhân mà còn là phương thức tồn tại và pháttriển của mối quan hệ giữa con người và xã hội Trong xã hội, lao động vừatạo ra sản phẩm tiêu dùng và hàng hóa trao đổi, vừa tạo ra giá trị sử dụng vàgiá trị (Lê Ngọc Hùng, 2002)

1.3.2 Lý thuyết áp dụng

1.3.2.1 Lý thuyết xã hội hóa cá nhân (Socialization)

Nhiều nhà tư tưởng, triết học, xã hội học từ cổ chí kim đều thừa nhậnvai trò của xã hội hóa trong đời sống con người bằng cách này hay cách khác

Từ những năm trước Công nguyên, Nho giáo đã khẳng định rằng đứa trẻ mớisinh ra như tờ giấy trắng, giáo dục sẽ đóng vai trò viết lên tờ giấy những gì(chữ thiện hoặc chữ ác) Xã hội hóa tùy thuộc vào lối sống và văn hóa củatừng nước, từng dân tộc Xã hội hóa là quá trình quan trọng để hình thànhnhân cách của các cá nhân

a Khái niệm xã hội hóa cá nhân

Xã hội hóa là một quá trình mà ở đó, tất cả các cá nhân đều học cáchlàm sao để đáp ứng được những trông đợi của xã hội thông qua cách ứng xử,giao tiếp với những người khác nhau Xã hội hóa có thể hiểu là một mô hình,khuôn mẫu của xã hội được hình thành thế nào để tạo sự thích nghi, sự liênkết giữa cá nhân và nhóm Xã hội hóa là một tiến trình kéo dài suốt đời dựa

Trang 37

trên sự tương tác xã hội, qua đó cá nhân phát triển khả năng con người củamình và học các mẫu văn hóa của xã hội Đây là quá trình biến đổi từ conngười sinh vật sang con người xã hội Xã hội hóa là quá trình qua đó kinhnghiệm xã hội cung cấp cho cá nhân những phẩm chất và năng lực cần thiết.Đối với xã hội nói chung, xã hội hóa là phương tiện dạy văn hóa cho mỗi thế

hệ mới Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người (Jonhn J.Macionis, 1987)

Xã hội hóa có trước các thành viên của nó, các thành viên này muốntồn tại trong xã hội thì phải thực hiện một quá trình hòa nhập vào xã hội vớinền văn hóa của nó mà họ đang sống, quá trình ấy gọi là xã hội hóa Xét ởkhía cạnh này, xã hội hóa là sự tương tác giữa con người với xã hội, là sựthích ứng có tính chất thường xuyên và suốt đời của họ với xã hội Con ngườihàng ngày học hỏi các ý niệm, các tiêu chuẩn và các giá trị của các nhóm vàcác xã hội tổng quát trong đó diễn ra cuộc sống của họ và họ thể hiện thànhcác thái độ xử sự ít nhiều xứng hợp với nhau Xét dưới góc cạnh xã hội, sự xãhội hóa là một chức năng cần thiết của xã hội Ngay khi một cá nhân ra đời,

xã hội đã áp đặt các nhu cầu cần thiết của xã hội lên cá nhân đó, nghĩa là giáodục con người để biến họ thành một trong những thành viên theo khuôn mẫu

văn hóa của mình [13,125]

Có nhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hóa Thứ nhất, xã hội hóa liênquan đến học hỏi vai trò xã hội Các nhà xã hội học định nghĩa xã hội hóa lànhững cách thức trong đó con người học những kỹ năng và quan điểm/thái độliên quan đến các vai trò xã hội của họ (N Smelser) Thứ hai, xã hội hóa làhọc cách để làm thành viên để làm thành viên của một xã hội cụ thể: “Xã hộihóa là quá trình trong đó cá nhân học được cách ứng xử và suy nghĩ theomong đợi của xã hội Xã hội hóa là quá trình mà qua đó chúng ta học đượcnhững phẩm chất nhân văn, quá trình mà nhờ đó chúng ta trở thành nhữngthành viên của xã hội” (Joe M Charon; 1989) Thứ ba, xã hội hóa liên quan

Trang 38

đến phát triển nhân cách con người: “Xã hội hóa là một quá trình trong đótrước hết các giá trị và chuẩn mực và cả năng lực nhận thức cũng được nộitâm hóa, nghĩa là thấm sâu vào nhân cách của các cá nhân hành động” (G.Ritzer; 1999).

Các nhà xã hội học sử dụng thuật ngữ xã hội hóa để mô tả quá trình mànhờ đó con người học được sự tuân thủ chuẩn mực xã hội, một quá trình màtạo ra khả năng có thể kéo dài xã hội và sự chuyển giao văn hóa của xã hộigiữa các thế hệ Quá trình đó được nhận thức theo hai cách:

- Xã hội hóa có thể được nhận thức như là sự tiếp thu các chuẩn mực xãhội: các quy tắc xã hội trở thành một phần trong mỗi cá nhân; khái niệm này tự đặtcho mình bổn phận hơn là sự áp đặt bởi các phương tiện điều chỉnh bên ngoài và

do vậy là một phần nhân cách riêng của các cá nhân Cá nhân, vì thế cảm thấy một

sự cần thiết để phục tùng

- Nó có thể được nhận thức như một yếu tố quan trọng về sự tương tác

xã hội, dựa trên sự giả định rằng con người có mong muốn có được hình ảnh củabản thân bằng cách đạt được sự chấp nhận và có địa vị trong mắt người

khác; trong trường hợp này, cá nhân đã được xã hội hóa như là họ định hướng

các hành động của mình theo sự trông đợi của người khác [15,196]

Có thể thấy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hóa TheoNguyễn Quý Thanh (2001), nếu căn cứ vào tính chủ động của cá nhân trongquá trình xã hội hóa, có thể chia các định nghĩa nói trên làm hai loại: loại 1 ít

đề cập đến tính chủ động của các cá nhân và loại là khẳng định tính tích cực,sáng tạo của cá nhân trong quá trình xã hội hóa Nhà khoa học người Nga, G.Andreeva đã nêu được cả hai mặt của quá trình xã hội hoá Bà cho rằng: “Xãhội hoá là quá trình hai mặt Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hộibằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội.Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ

Trang 39

xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vàocác mối quan hệ xã hội” ( Andreeva,1988).

Như vậy, cá nhân trong quá trình xã hội hoá không đơn thuần thu nhận kinhnghiệm xã hội, mà còn chuyển hoá nó thành những giá trị, tâm thế, xu hướng của

cá nhân để tham gia tái tạo, “tái sản xuất” chúng trong xã hội Mặt thứ nhất củaquá trình xã hội hoá là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động củamôi trường tới con người Mặt thứ hai của quá trình này thể hiện sự tác động củacon người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình

b Giai đoạn xã hội hóa

Theo Talcon Parson, nhà xã hội học Mỹ thì có hai hình thức của xã hội hóa:

- Quá trình xã hội hóa sơ cấp (Primary Socialization): Là quá trìnhliên quan đến việc trở thành một thanh niên, với sự tập trung chủ yếu vào thời thơấu

- Xã hội hóa thứ cấp (Secondary Socialization): Là quá trình chunghơn, thông qua đó văn hóa được chuyển giao, ví dụ các nhóm bạn cùng trang lứa,truyền thông đại chúng v.v

Andreeva (1998) lại đưa ra cách phân đoạn dựa trên các hoạt động chủđạo của cá nhân trong suốt cuộc đời của cá nhân Theo bà, quá trình xã hộihóa gồm ba giai đoạn như sau:

Giai đoạn trước lao động Bao gồm toàn bộ thời kỳ từ khi con người

sinh ra đến khi họ bắt đầu hoạt động chính thức Giai đoạn này được phân rathành hai tiểu giai đoạn khác: giai đoạn trẻ thơ và giai đoạn thanh, thiếu niên

- Giai đoạn trẻ thơ - xã hội hóa sớm: bắt đầu từ trẻ mới sinh cho đến khi

đi học Hoạt động chủ đạo là vui chơi trong các vườn trẻ, nhà mẫu giáo

- Giai đoạn học hành gồm toàn bộ thời kỳ thanh - thiếu niên: Bắt đầu từkhi trẻ đi học cho đến khi kết thúc việc học hành hay học nghề Hoạt động chủ yếucủa giai đoạn này là học tập Các cá nhân bắt đầu tiếp nhận những kiến thức khoa học,thiết lập các tương tác xã hội mới và các quan hệ xã hội mới

Trang 40

Giai đoạn lao động: Bắt đầu từ khi con người bước vào quá trình lao động

chính thức cho đến khi kết thúc quá trình này (về hưu) Hoạt động chủ đạo của

cá nhân trong giai đoạn này là lao động trí óc hoặc lao động chân tay Ở thời kỳnày, các cá nhân không chỉ thu nhận những kinh nghiệm xã hội mà còn tái tạochúng Các kinh nghiệm xã hội, các giá trị, chuẩn mực xã hội được các cá nhânthu nhận trong quá trình lao động tại các tập thể lao động là chủ yếu

Giai đoạn sau lao động: Đó là khi cá nhân kết thúc quá trình lao động

của mình, về nghỉ hưu

c Trình độ xã hội hóa

Dựa vào các bậc thang trình độ thấp, trung bình, cao; người ta có thểxác định được tình trạng xã hội hóa ở các giai đoạn cụ thể, trước hết là ở cácgiai đoạn kế tiếp nhau của quá trình xã hội hóa, cũng như xác định hiệu quảcuối cùng của quá trình xã hội hóa

Người ta áp dụng tiêu chuẩn của ba trình độ xã hội hóa (cao, trungbình, thấp) thông qua các tiêu chí sau: 1) Kết quả học tập, 2) Kết quả laođộng, 3) Thành công trong hôn nhân; và 4) Uy tín cá nhân Theo đó, trình độ

xã hội hóa khác nhau được thể hiện với những đặc điểm sau:

- Trình độ xã hội hóa cao: Thích nghi tốt ở trường đại học, có kết quảhọc tập trên trung bình, có tiền thu trong thời gian nghỉ hè, ổn định trong hôn nhân,không phạm khuyết điểm, có kế hoạch trong tương lai, không phạm khuyết điểm,

có kế hoạch cho tương lai, không phụ thuộc cha mẹ vào vật chất, ổn định trongcông tác hoặc đề bạt vào những vị trí xã hội có trọng trách

- Tình trạng xã hội hóa trung bình: Tương đối ổn định trong công việc,được thu nhận vào trường đại học, nhưng kết quả không cao mặc dầu có cố gắng;(trong trường hợp không được thu nhận vào đại học thì thích nghi tốt với laođộng), tương đối ổn định trong hôn nhân, có quan tâm và có những tiếp xúc rộngrãi nhất định về mặt xã hội; hài lòng với công việc, trong hôn nhân, trong học tập

và trong đời sống xã hội

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w