1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng hồ chí minh về nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người ở thành phố cần thơ trong giai đoạn hiện nay

120 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 129,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ; vai trò của nguồn lực trí tuệ và nhữngđiều kiện chủ yếu phát huy nguồn lực trí tuệ trong sự phát triển xã hội nói2.3 Các bài báo đăng trên các tạp chí - P

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LÂM THỊ KHO

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở THÀNH

PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LÂM THỊ KHO

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở THÀNH

PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học

Mã số: 60 31 02 04

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lại Quốc Khánh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lại Quốc Khánh Thông tin

và số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác, các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc.

Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Lâm Thị Kho

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

2.1 Luận văn, luận án 3

2.2 Các sách chuyên khảo 4

2.3 Các bài báo đăng trên các tạp chí 6

2.4 Đánh giá tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 8

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 9

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 9

6 Những đóng góp mới của đề tài 10

7 Ý nghĩa của luận văn 10

8 Kết cấu của luận văn 10

Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI 11

1.1 Khái niệm con người, nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người 11

1.1.1 Khái niệm con người 11

1.1.2 Khái niệm nguồn lực con người 14

1.1.3 Khái niệm phát huy nguồn lực con người 18

1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người 21

1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về nguồn lực con người 21

1.2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp cách mạng 25

1.2.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng và phát huy nguồn lực con người 33

Trang 5

Chương 2 PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở THÀNH PHỐ

2.1 Thực trạng phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ

giai đoạn (2005 - 2013) 50

2.1.1 Đặc điểm nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ 50

2.1.2 Những thành tựu và hạn chế trong phát huy nguồn lực con người ở

thành phố Cần Thơ từ năm 2005 đến 2013 54

2.1.2.1 Thành tựu 54 2.1.2.2 Hạn chế 59

2.1.3 Nguyên nhân của hạn chế và bài học kinh nghiệm phát huy nguồn lực

con người ở thành phố Cần Thơ 64

2.1.3.1 Nguyên nhân của hạn chế 64 2.1.3.2 Bài học kinh nghiệm 67

2.1.4 Những vấn đề đặt ra đối việc phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ đến năm 2020 68

2.2 Phương hướng và những giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ đến năm 2020 theo tư tưởng Hồ Chí Minh 72

2.2.1 Phương hướng phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ đến năm 2020 72

2.2.2 Những giải pháp phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ đến năm 2020 75

KẾT LUẬN 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc phân theo thành thị và

nông thôn so với dân số 51

Bảng 2.2: Lao động từ 15 tuổi đã qua đào tạo năm 2013 53

Bảng 2.3: Giáo dục học cao đẳng, đại học giai đoạn 2005 - 2013 55

Bảng 2.4: Tỷ lệ thất nghiệp phân theo giới tính, thành thị và nông thôn 57

Bảng 2.5: Cân đối lao động xã hội năm 2013 70

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cả cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với sựnghiệp giải phóng con người, chăm lo cho con người và tìm cách phát huymọi nguồn lực của con người để làm lợi cho chính họ Người luôn tin vào sứcmạnh của con người, đánh giá về sức mạnh con người, Người khẳng định:

“Có dân là có tất cả”, cho nên bí quyết để đem lại cuộc sống tự do, ấm no,hạnh phúc cho con người chính là “Đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợicho dân”… Ở Hồ Chí Minh, con người và nguồn lực con người luôn đượcnhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng và cao cả của sự nghiệp cách mạng

mà suốt cuộc đời Người hằng theo đuổi Tư tưởng coi phát huy nguồn lực conngười là nhân tố quyết định thành công của cách mạng luôn quán xuyến trong

tư duy, đường lối và phương pháp lãnh đạo cách mạng của Hồ chí Minh Vìvậy, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, đề cao, nêu bật vai trò của giáo dục đàotạo trong tiến trình xây dựng phát huy nguồn nhân lực và coi đó là một chiến

lược lâu dài “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, Người luôn đặt niềm

tin vào thế hệ con người mai sau như đã từng viết thư nhắn gửi: “Non sôngViệt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đàivinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính

là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [59, tr 33]

Hiện nay, khi hội nhập kinh tế quốc tế trở thành xu thế tất yếu, nhânloại đang bước sang nền kinh tế tri thức thì vai trò nguồn lực con người, nhất

là nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển chiếm vị trí đặcbiệt quan trọng Thực tế cho thấy, sự nghiệp đổi mới nước ta đang đặt ranhững yêu cầu mới cho nguồn lực con người và việc phát huy nguồn lực conngười, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chấtlượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những

Trang 8

yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước” [23, tr 41]; nângcao dân trí, đào tạo nhân lực và phát triển nhân tài là nhân tố quyết định thắnglợi của cách mạng Việt Nam “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu

tố quyết định đẩy mạnh phát triển ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lạinền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọngnhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” [23, tr 130].Như vậy, con người thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên củamọi tài nguyên, là nguồn lực nội sinh quan trọng quyết định thành công sựnghiệp cách mạng

Hòa vào xu thế chung của cả nước, thành phố Cần Thơ đang chuyểnđồi mô hình tăng trưởng theo hướng đào tạo, phát huy nguồn nhân lực chấtlượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương và hội nhập kinh quốc

tế Đại hội Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ XII nêu phương hướng pháttriển thành phố giai đoạn 2010 - 2020: “Thực hiện tốt tiêu chí về con ngườiCần Thơ trí tuệ, năng động, nhân ái, hào hiệp, thanh lịch Đào tạo, thu hút, sửdụng nguồn nhân lực có chất lượng và hiệu quả, quan tâm đội ngũ cán bộ nữ,trẻ, người dân tộc” [31]

Đào tạo và phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ trongnhững năm qua đã giành được những thắng lợi đáng kể Tuy nhiên, bên cạnhnhững thành tựu đạt được, việc đào tạo, phát huy nguồn lực con người ở CầnThơ còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng chung đến sự phát triển của thành phố.Làm thế nào để phát huy nguồn lực con người, nguồn lực trí tuệ con người ởCần Thơ trong giai đoạn hiện nay là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọngđòi hỏi phải được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống, nhằm tìm kiếmnhững giải pháp kịp thời, phù hợp với thực tiễn Qua nghiên cứu tác giả nhậnthấy tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người có giá trị về lý luận và

Trang 9

thực tiễn quan trọng đối với việc phát huy nguồn lực con người ở Cần Thơ

hiện nay Chính vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, phát huy nguồn lực con người vàvận dụng tư tưởng đó trong điều kiện hiện nay là một đề tài có ý nghĩa cả về

lý luận và thực tiễn, vì thế đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Các công trình nghiên cứu đề tàinói trên rất phong phú, có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau Ởđây, chúng tôi lựa chọn cách phân loại theo loại hình tài liệu do mục tiêu, tínhchất và nhiệm vụ nghiên cứu của các loại hình này có những khác biệt nhấtđịnh, vì thế kết quả nghiên cứu và hình thức thể hiện các kết quả đó cũngkhác nhau Theo đó, có thể phân loại các công trình nói trên thành một sốnhóm, với các công trình tiêu biểu như sau:

2.1 Luận văn, luận án

Lê Quang Hoan (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố con người trong CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay, luận án

Tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [48]

Trong luận án này, tác giả đã làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thànhphát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về con người; phân tích làm rõ quan niệmcủa Hồ Chí Minh về con người và vai trò của con người trong tiến trình cáchmạng Việt Nam… Tác giả đã rất thành công trong việc phân tích sự vận dụng

tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, vai trò của con người trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

Lê Thị Ngân (2004), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam, luận án tiến sỹ kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa,

Trang 10

Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [73] Với đề tài này, tác giả Lê ThịNgân đã làm rõ khái niệm nguồn lực con người, những yêu cầu đặt ra đối vớiviệc phát triển nguồn lực con người và giải pháp phát huy nguồn lực conngười trong thời kỳ tiếp cận nền kinh tế tri thức ở nước ta.

2.2 Các sách chuyên khảo

Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá (Nghiên cứu xã hội học), Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội [43]

Cuốn sách là sự chuyển tải nội dung của Chương trình khoa học công

nghệ cấp Nhà nước: “Con người Việt Nam - Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” Đây là một công trình được thực hiện một cách cẩn trọng, có chất lượng, đem lại những thành tựu to lớn và quan trọng trong

lĩnh vực nghiên cứu về con người và phát huy nguồn lực con người Trongcuốn sách này, các tác giả đã phân tích khái quát truyền thống văn hoá dântộc, đi sâu làm rõ vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò động lực củacon người trong sự phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó, các tác giả đặtvấn đề chuẩn bị con người Việt Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước

Lưu Ngọc Trịnh (1996), Chiến lược con người trong “Thần kỳ kinh tế Nhật Bản”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [81].

Trong tác phẩm này, tác giả Lưu Ngọc Trịnh đã phân tích vai trò quyếtđịnh của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung vàtrong nền kinh tế thị trường nói riêng Tác giả đã đi sâu nghiên cứu quá trìnhphát huy và sử dụng nguồn lực con người trong công cuộc phát triển kinh tếNhật Bản, tổng kết những bài học của họ và đưa ra những gợi ý rất quan trọngtrong việc vận dụng những bài học của Nhật Bản để sử dụng, phát huy cóhiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam…

Trang 11

Nguyễn Văn Khánh (2012), Nguồn lực trí tuệ Việt nam lịch sử, hiện trạng và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội sự thật [52] Đây là công

trình nghiên cứu do tập thể nhiều tác giả như: Nguyễn Vũ Hảo, Lâm Bá Nam,Hoàng Thu Hương, Lại Quốc Khánh và Nguyễn Văn Khánh làm chủ biên.Công trình nghiên cứu gồm bốn chương trong đó nghiên cứu chuyên sâu vềnhững vấn đề lý luận, thực trạng nguồn lực trí tuệ và phát huy nguồn lực trítuệ Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất nước Các tác giả đã nêu bậtnhững vấn đề lý luận chung về nguồn lực trí tuệ , những kinh nghiệm pháthuy nguồn lực trí tuệ của nước ta và một số nước trên thế giới đồng thời đề ranhững giải pháp thực tế cho xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Namphục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước

Nguyễn Văn Khánh (2010, chủ biên), Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội [53] Nội dung cuốn sách bao gồm bốn phần chính tập trungnghiên cứu những vấn đề về nguồn lực trí tuệ Việt Nam, phát triển, sử dụngnguồn lực trí tuệ tiếp cận từ kinh nghiệm nước ngoài Ở phần thứ ba các tácgiả đã làm nổi bật tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tào và sử dụng nhân tài, quanđiểm của Đảng, chính sách của nhà nước về phát triển nguồn lực trí tuệ,những yếu tố ảnh hưởng đến phát huy nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam Nhữngkinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, Nhật Bản về đạo tạo trọng dụngnhân tài sẽ là tài liệu cần thiết cho tác giả trong nghiên cứu về giải pháp pháthuy nguồn lực con người trong giai đoạn hiện nay

Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [55] Cuốn sách là công trình nghiên cứu sâu

về nguồn lực con người đặc biệt là nghiên cứu nguồn lực trí tuệ Nội dungchính gồm:

Trang 12

- Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ; vai trò của nguồn lực trí tuệ và nhữngđiều kiện chủ yếu phát huy nguồn lực trí tuệ trong sự phát triển xã hội nói

2.3 Các bài báo đăng trên các tạp chí

- Phạm Ngọc Anh với nhiều công trình bàn đến vấn đề này như:

“Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, đăng trênTạp chí Nghiên cứu lý luận số 2, 1995 [1]; “ Nguồn lực con người từ tư tưởng HồChí Minh đến quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam” đăng trên websitetutuonghochiminh.vn, bài đăng ngày 18- 10- 2012 [91] và “Quan niệm Hồ ChíMinh về vai trò động lực của lợi ích”, đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, số 4, 1999[2] Tác giả Phạm Ngọc Anh đã làm sáng tỏ một số quan niệm của Hồ Chí Minh

về nguồn lực con người, khẳng định vai trò quyết định

của nguồn lực con người; phân tích sâu sắc về lợi ích, nguồn động lực quantrọng thúc đẩy người lao động phát huy tài năng, trí tuệ của mình, đồng thờiđưa ra các giải pháp, đặc biệt là chăm lo đến lợi ích của người lao động nhằmphát huy nguồn lực con người trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước

Nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người cũng là nhữngnội dung quan trọng được đề cập nhiều trong một số bài viết sau đây:

- Nguyễn Trọng Chuẩn, : “Nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”, Tạp chí Triết học, số 4, 1990 [9]

Trang 13

- Nguyễn Tuấn Dũng, : “Hồ Chí Minh về chiến lược con người trong cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5, 2000 [18].

- Thành Duy, : “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xãhội đối với con người”, Tạp chí lịch sử Đảng, số 12, 2005 [20]

- Hồ Sỹ Vịnh, : Con người Việt Nam - trí tuệ Việt Nam, tiềm năng và thử thách, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 5, 2004 [90]

- Nguyễn Huy Quý, : Tìm hiểu cách thức phát huy nguồn lực nhân tài ởcác nước Đông Á, Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 2, 04/2003 [76]

- Nguyễn Thị Xuân, : Kinh tế tri thức và vấn đề phát huy nguồn lực conngười Việt Nam cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Khoa học

xã hội, số 6, 2005 [92]

- Nguyễn Kim Quy, : Xây dựng nguồn lực con người trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí cộng sản, số 85, 2014 [75]

- Trần Hoàng Hiểu, : Xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

phục vụ mục tiêu phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ, Tạp chí cộng sản, số

92, 2014 [49]

Trên đây là những thành tựu rất quan trọng mà các nhà khoa học đã đạtđược trong lĩnh vực nghiên cứu về con người, nguồn lực con người và pháthuy nguồn lực con người trong tiến trình cách mạng Việt Nam Những thànhtựu ấy là cơ sở quan trọng để giới khoa học cùng nghiên cứu sâu hơn về lĩnhvực này

Với tinh thần học hỏi, tác giả luận văn tiếp tục kế thừa, tiếp thu có chọnlọc những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học và lấy đó làm nhữnggợi ý quan trọng để phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài:

“Tư tưởng hồ Chí Minh về nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ hiện nay”

Trang 14

2.4 Đánh giá tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn

Nhìn tổng quan, đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ ChíMinh về con người, nguồn lực con người ở nhiều góc độ khác nhau.Tuynhiên, vẫn còn khá ít những công trình nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng HồChí Minh về nguồn lực con người cũng như vận dụng tư tưởng đó trong việcphát huy nguồn lực con người đặc biệt là nghiên cứu, vận dụng trên địa bànthành phố Cần Thơ

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người là một đềtài mới chưa có nhiều công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo Do đó,việc tiếp tục đi vào nghiên cứu một cách căn bản, có chiều sâu vấn đề này làhết sức cần thiết nhất là trong giai đoạn hiện nay khi cả nước đang chuyển đổi

mô hình tăng trưởng kinh tế - xã hội

Dù chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

về nguồn lực con người nhưng những nguồn tài liệu kể trên là hết sức quantrọng và quý báu để tác giả luận văn có điều kiện kế thừa kết quả nghiên cứucủa những người đi trước để vận dụng vào việc phát huy nguồn lực con người

ở thành phố Cần Thơ hiện nay

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài - Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh vềnguồn lực con người, luận văn tập trung phân tích thực trạng phát huy nguồnlực con người ở thành phố Cần Thơ giai đoạn hiện nay, chỉ ra những hạn chế,tìm nguyên nhân để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy có hiệu quảnguồn lực con người ở Cần Thơ đến năm 2020 theo tư tưởng Hồ Chí Minh

- Tổng hợp, khái quát và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng

Hồ Chí Minh về nguồn lực con người

Trang 15

- Phân tích thực trạng, những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế việc phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ hiện nay.

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn lực con người

ở thành phố Cần Thơ đến năm 2020 theo tư tưởng Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung làm rõ nhữngnội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người thông quaviệc khảo sát 15 tập trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản năm 2011

Luận văn cũng khảo sát thực trạng phát huy nguồn lực con người trênđịa bàn thành phố Cần Thơ giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013 và đề xuấtnhững giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở Cần Thơ đến năm

2020 theo tư tưởng Hồ Chí Minh

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người, đồng thời kếthừa kết quả nghiên cứu một số công trình khoa học đã được công bố có liênquan đến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu:

Trong luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp chủ yếu như:logíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, so sánh đối chiếu,gắn lý luận với thực tiễn

Trang 16

6 Những đóng góp mới của đề tài

Luận văn góp phần làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng HồChí Minh về nguồn lực con người; phân tích thực trạng phát huy nguồn lựccon người ở thành phố Cần Thơ, thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của hạn chếđồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm phát huy nguồn lực con người ởthành phố Cần Thơ dến năm 2020 theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Với những kết quả đạt được, luận văn có thể dùng làm tài liệu thamkhảo trong việc giảng dạy và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt đốivới các công trình nghiên cứu thực tiễn phát huy nguồn lực con người ở thànhphố Cần Thơ

7 Ý nghĩa của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ nội dung cơbản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người, qua đó vận dụng

vào việc phát huy nguồn lực con người ở thành phố Cần Thơ hiện nay

- Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với việc đàotạo, phát triển nguồn nhân lực cho thành phố Cần Thơ đến năm 2020 theo tưtưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế tri thức

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục các bảng, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 4 tiết

Trang 17

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

1.1 Khái niệm con người, nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người

1.1.1 Khái niệm con người

Suốt tiến trình phát triển lịch sử xã hội, con người không ngừng nhậnthức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân Thông qua quá trình đó, conngười từng bước phát triển nhận thức về sự tồn tại, phát triển của chính mình.Trong thời kỳ cổ đại, người ta cho rằng con người cũng như các sinh thể vậtchất khác đều do những nguyên tố cụ thể nào đó tạo ra như: nước, lửa, khôngkhí Thời kỳ trung cổ người ta cho rằng, con người do một lực lượng siêunhiên nào đó tạo ra, chẳng hạn: đạo Thiên Chúa cho rằng con người do Chúasinh ra Thời kỳ Phục hưng và Khai sáng được coi là bắt đầu một thời kỳ mớitrong việc khám phá bản chất con người Quan niệm về con người thời kỳ nàythường gắn với con người cá nhân, khẳng định vai trò con người trong xã hội,hướng con người tới sự giải phóng khỏi Thần học, khỏi sự áp bức và nô dịchcủa giáo hội Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi phương pháp siêu hình máy mócnên nhận thức về con người thời kỳ này còn nhiều hạn chế

Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đem đến phương pháp khoahọc để làm sáng tỏ khái niệm “Con người” Xuất phát từ thực tế sinh hoạt, laođộng sản xuất, chủ nghĩa Mác cho rằng “Bản chất con người không phải làmột cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của

nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”[48, tr 10] Bảnchất của con người không phải trừu tượng mà rất hiện thực, không chỉ là tựnhiên mà còn là lịch sử; con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinhhọc và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của conngười Với ý thức của mình - điều khác biệt với con vật - con người không

Trang 18

thu mình, thụ động trước hoàn cảnh mà luôn hoạt động, lao động, suy nghĩ,tìm tòi để cải tạo tự nhiên, làm tự nhiên phải biến đổi, phải phục vụ cho cuộcsống của họ Như thế, bằng lao động và thông qua lao động, giao tiếp, conngười đã làm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân, trở thành chủ nhân củabản thân, của tự nhiên, xã hội Con người không thể tồn tại được một khi táchkhỏi xã hội Chỉ trong xã hội thông qua lao động và ngôn ngữ, con người mớithỏa mãn được những nhu cầu trong cuộc sống và nâng cao được nhận thức

về mình một cách đầy đủ hơn để từ đó hoàn thiện bản thân về mọi mặt

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác Lênin, được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh làgắn mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội và giải phóng conngười Trong đó, vấn đề con người, chăm lo cho con người, phát huy nguồnlực con người để hướng đến giải phóng con người một cách triệt để là vấn đềđược đặt lên hàng đầu, là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ tưtưởng, hành động của Người

-Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm về con người được xây dựngtrên nền tảng quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử Bản chất của conngười được Hồ Chí Minh quan niệm là tổng hòa của các quan hệ xã hội từhẹp đến rộng Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình,anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cảloài người” [60, tr 644] Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người mộtcách trừu tượng mà luôn luôn xuất phát từ con người hiện thực, cụ thể trongcác quan hệ xã hội với nhiều bình diện, chiều cạnh khác nhau Xuất phát từnhững luận điểm đúng đắn đó, trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân cả nướctiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội,Người luôn tin vào sức mạnh của con người, hết lòng thương yêu con người,quý trọng con người, quan tâm bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người

Trang 19

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạmtrù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến

một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo

khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của chế độ phong kiến, đế quốc; làdân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa

là những “người nô lệ mất nước” và “người cùng khổ”

Tiếp thu quan điểm của Chủ Nghĩa Mác - Lênin cho rằng con người làmột chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội, Hồ Chí Minhluôn quan niệm con người là một hệ thống cấu trúc bao gồm tổng hoà nhiềuyếu tố hợp thành như: thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái

xã hội… “Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu,

có thiện có ác” [60, tr 72], vấn đề là làm sao cho phần xấu mất dần đi, phầntốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồichết; người ta ai cũng muốn sung sướng, mạnh khoẻ… Cách quan niệm nhưthế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở đểNgười hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người

Sau khi giải phóng dân tộc, bước vào thời kỳ xây dựng xã hội mới, conngười được Hồ Chí Minh nói đến là con người toàn diện, con người mới “conngười xã hội chủ nghĩa” Khi xã hội càng phát triển, năng suất lao động cao,của cải dồi dào càng tạo điều kiện để chăm lo cho con người Chính vì vậy,mục tiêu sau khi đất nước độc lập là phấn đấu chăm lo cho con người có đờisống vật chất đầy đủ, tinh thần ngày càng tốt Bước vào thời kỳ xây dựng chủnghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã nêu quan điểm: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xãhội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” [66] Con người xã hội chủnghĩa là con người phát triển toàn diện, hài hòa được từng bước hình thànhtrong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa Con người xã hội chủ nghĩa vừa

là chủ thể trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là sản phẩm của quá

Trang 20

trình đó Bởi vì, không thể có con người xã hội chủ nghĩa với đầy đủ phẩmchất của nó, khi mà chưa có xã hội xã hội chủ nghĩa và ngược lại.

Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của

“cái cá nhân” và “cái xã hội”, con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứnggiữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; con người mới pháttriển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần, đó chính là những luận điểm cơ bản,bao trùm trong tư tưởng, hành động vì con người của Hồ Chí Minh Xuất phát

từ những luận điểm đúng đắn đó, trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân cảnước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, HồChí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổchức và phát huy sức mạnh của nhân dân Tư tưởng về con người của Ngườithông qua thực tiễn cách mạng của dân tộc đã trở thành một sức mạnh vậtchất to lớn, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng tất cả vìcon người

1.1.2 Khái niệm nguồn lực con người

Trước khi bàn đến khái niệm nguồn lực con người cần tìm hiểu nộihàm nguồn lực Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học khôngđịnh nghĩa mục từ “nguồn lực” Theo Collins English - English Dictionary,khái niệm “Resource” (tương đương với từ “nguồn lực” trong tiếng Việt)được xác định bao gồm hai hàm nghĩa Thứ nhất, nguồn lực được hiểu là cácnguồn lực của một tổ chức hay một người là những nguyên vật liệu, tiền bạc

và những gì mà nó, anh ta có và có thể sử dụng để thực hiện các chức năngmột cách hợp thức Thứ hai, nguồn lực được hiểu là các nguồn lực của mộtquốc gia là những gì mà nó có và có thể sử dụng để gia tăng sự giàu có củanó

Như vậy, có thể hiểu nguồn lực là những gì mà một tổ chức hay cánhân sở hữu và có thể sử dụng để làm gia tăng giá trị (chẳng hạn như sự giàu

Trang 21

có) cho quốc gia, tổ chức hay cá nhân ấy Với cách hiểu nguồn lực là nguồnmang đến sức mạnh, sự giàu có, thịnh vượng cho một tổ chức, các nhân haymột quốc gia, khái niệm nguồn lực có lúc được dùng thay thế nhau với kháiniệm vốn: “nguồn lực con người” - “vốn con người”, “nguồn lực trí tuệ” -

“vốn trí tuệ”,… Theo cách hiểu trên thì nguồn lực con người là khái niệmdùng để chỉ con người với tư cách là cội nguồn đem đến sức mạnh, sự giàu

có, thịnh vượng cho một quốc gia Như vậy nghiên cứu nguồn lực con người

là nghiên cứu con người trên phương diện là một nguồn lực của quốc gia.Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn lực con người hay nguồnnhân lực

Theo tác giả Nguyễn Văn Phúc trong công trình “Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” [74], nguồn lực con người được hiểu là

tài nguyên con người hay vốn con người, tức xem xét nguồn lực con ngườinhư một dạng tài nguyên đặc biệt “Tài nguyên con người” là một loại tàinguyên được hàm chứa trong con người Đó chính là năng lực của con người,với tư cách là những cá nhân cũng như con người nói chung, trong việc thựchiện những hoạt động hữu ích cho xã hội và chính bản thân con người Nguồnlực con người được xem như một dạng tài nguyên tiềm tàng, có thể dùng đểtạo lập các lợi thế cạnh tranh cho các chủ thể sử dụng chúng Tài nguyên conngười chỉ có thể chuyển hóa thành giá trị khi được khai thác và sử dụng đểtạo ra giá trị gia tăng cho xã hội và chủ sở hữu của tài nguyên này Ở cấp độ

cá nhân, nguồn lực con người, tài nguyên người bao gồm khả năng tiềm tàngcủa mỗi con người cụ thể trong việc thực hiện các hoạt động có ích cho xãhội Năng lực này là tổ hợp những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ và sứckhỏe mà mỗi người có thể sử dụng trong các hoạt động do họ thực hiện

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: xét trên bình diện quốc gia hay địaphương nguồn lực con người, nguồn nhân lực được xác định là “tổng thể các

Trang 22

tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao độngđược chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc laođộng nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nóichung) bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu laođộng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[15, tr 269] Theo cách hiểu này, nguồn lực con người là nguồn lao động sẵnsàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương Mộtcách chung nhất, có thể hiểu nguồn lực con người là bộ phận dân số trong độtuổi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động.Nguồn lực con người là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực củanhóm người, một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia.

Theo tác giả Nguyễn Hữu Dũng, nguồn lực con người được xem xétdưới hai góc độ: năng lực xã hội và tính năng động xã hội [3, tr 1-3] Ở góc

độ thứ nhất, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sứclao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo

ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét nguồn lực con ngườidưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảokhông ngừng nâng cao năng lực xã hội của con người thông qua giáo dục, đàotạo, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét nguồn lực conngười dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn phát huy tiềm năng đó, phảichuyển nguồn lực sang trạng thái động, thành vốn con người, tức là nâng caotính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giảipháp giải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng vôtận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giátrị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác, phát huy trở thành nguồnvốn vô cùng to lớn Vì vậy, nguồn lực con người được hiểu là “tổng hoà trongthể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con người(thể lực, trí lực,

Trang 23

nhân cách) và tính năng động xã hội của con người Tính thống nhất đó đượcthể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người”[3, tr 11].

Từ những quan niệm khác nhau của các tác giả, có thể hiểu nguồn lựccon người là tổng hợp những con người cụ thể có khả năng tham gia vào quátrình lao động với các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực; tiềm năng lao độngcủa một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơnăng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách)và tính năng động xã hội của conngười, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia Tính thống nhất đóđược thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người đápứng yêu cầu phát triển

Như vậy, khi nói đến “nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực”, cóthể khẳng định đó là tổng hoà các tiềm năng của con người, tổ chức xã hội cóthể khai thác và thu hút vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Khái niệmnày bao gồm một số tiêu chí sau:

- Là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất;

- Là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội;

- Đó là sự kết hợp thể lực và trí tuệ, cho thấy khả năng sáng tạo, chấtlượng - hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người… Nó còn

là kinh nghiệm sống, đặc biệt là kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người, lànhu cầu và thói quen tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng

- Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo,

có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáodục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học - công nghệ hiện đại

Trang 24

1.1.3 Khái niệm phát huy nguồn lực con người

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “ tài nguyên đặcbiệt”, một nguồn lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội Bởi vậy, việcphát triển con người, phát triển nguồn lực con người trở thành vấn đề trungtâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người làyếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốcgia Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược , là cơ sở chắc chắncho sự phát triển bền vững

Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn cónhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát huy nguồn lực con người nhưngchung quy lại khái niệm này được hiểu như sau:

Thứ nhất, phát huy nguồn lực con người được hiểu là việc sử dụng tiềmnăng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Phát triển nguồn nhânlực: là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫntâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người laođộng có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêucầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, phát huy nguồn lực con người được hiểu là quá trình nâng caonăng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân

bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệthống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội

Phát huy nguồn lực con người của một quốc gia: chính là sự biến đổi

về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹnăng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ

về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách khái quát, phát huy nguồn lực conngười chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sựtiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người

Trang 25

Như vậy, phát huy nguồn lực con người với nội hàm trên đây thực chất

là đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội củanguồn nhân lực của một quốc gia Bước vào thời kỳ phát triển kinh tế tri thức

và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia đều quan tâm đến xây dựng, pháthuy nguồn lực con người nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, mộtngười lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứngvới một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn,

kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lànhnghề) Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao cómối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lựccủa một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấuthành đặc biệt quan trọng, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về nguồnnhân lực chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chấtlượng nguồn nhân lực nói chung của một quốc gia

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng đượcyêu cầu của thị trường đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹnăng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; cóthái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc Nguồn nhân lựcđược gọi là chất lượng cao phải là những con người phát triển cả về trí lực vàthể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạođức, tình cảm trong sáng

Từ những kết quả nghiên cứu cho thấy, phát huy nguồn lực con người

là khái niệm nói lên ba phương diện: Phát triển nguồn nhân lực, sử dụngnguồn nhân lực và xây dựng môi trường cho nguồn nhân lực trong đó conngười là yếu tố cốt lõi, giữ vị trí trung tâm trong tiềm năng của nguồn lực conngười

Trang 26

Phát huy nguồn lực con người khi con người trở thành một điều kiện,một tiềm năng cần phát huy để tạo ra động lực phát triển xã hội Nguồn lựccon người phải trở thành nguồn lực sinh ra các nguồn lực khác [49, tr 125].

Khi tìm hiểu khái niệm “phát huy nguồn lực con người”, nổi lên một sốquan niệm sau đây:

- Nói đến phát huy nguồn lực con người là chỉ ra các nguyên nhân, điềukiện, môi trường, giải pháp cho con người trong các hoạt động cải tạo tự nhiên và

xã hội nhằm đạt hiệu quả cao Phát huy nguồn lực con người là việc phát hiện, sửdụng những tiềm năng sáng tạo của con người như thể lực, năng lực nhận thức vàhoạt động thực tiễn, những truyền thống tốt đẹp nhằm phục vụ cho nhu cầu sảnxuất của xã hội

- Thực chất của phát huy nguồn lực con người là hướng vào mỗi cánhân, đề cao tính độc lập tự chủ, đoàn kết, sáng tạo, chăm lo tới đời sống củanhân dân Hoặc đặt con người vào đúng vị trí sáng tạo của nó, để con người có cơhội bộc lộ mình ở nhiều vị trí khác nhau, được cống hiến tối đa;

- Phát huy nguồn lực con người được biểu hiện ở chất lượng cao củanguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đàotạo nhằm tạo ra động lực phát triển để tạo nên những con người phát triển cao vềtrí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức làđộng lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới

Như chúng ta đã biết, nói đến nguồn lực con người là nói đến vai tròchủ thể một quá trình cải biến xã hội với những tiềm năng về thể lực và trítuệ, phẩm chất và năng lực, đóng vai trò là nguồn lực nội sinh quyết định sựphát triển Nhưng bản thân những đặc trưng đó chưa đem lại sự biến đổi tíchcực, đúng quy luật, có hiệu quả Vì thế, vấn đề là phải làm sao để phát huy vàbiến nó thành động lực Phát huy nguồn lực con người là một quá trình bao gồm hai mặt:

Trang 27

- Một là tích cực hoá nguồn nhân lực trên cơ sở không ngừng nâng caochất lượng nhất là nguồn nhân lực trí tuệ Tích cực hoá nguồn nhân lực là quátrình phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng có hiệu quả tính tích cực, tự giác, sáng tạo củacon người trong lao động sản xuất.

- Hai là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là hướng vào gia tăng các giátrị về phẩm chất xã hội của con người như lý tưởng chính trị, đạo đức, niềm tin…những năng lực tổ chức, quản lý, nhận thức và hoạt động thực tiễn

Đây là hai mặt có quan hệ biện chứng với nhau Nếu quá trình tích cựchoá nguồn lực con người nhằm hiện thực hoá tiềm năng của chủ thể, tạo nênđộng lực phát triển thì quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lại tạo ratiềm năng cho sự phát triển xã hội

Qua những phân tích trên, chúng ta đi đến khái niệm: Phát huy nguồnlực con người là phát hiện, làm bộc lộ, khai thác, sử dụng, tận dụng nhữngyếu tố, những quá trình cấu thành nên nguồn lực con người

1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn lực con người

1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về nguồn lực con người

Sinh thời, tuy Hồ Chí Minh không có một tác phẩm nào bàn riêng vềnguồn lực con người nhưng trên thực tế Người đã đề cập đến nguồn lực conngười một cách toàn diện và sâu sắc Hồ Chí Minh đề cập đến nguồn lực conngười trên hai phương diện là con người cá nhân và con người cộng đồng

Thứ nhất, quan niệm của Hồ Chí Minh về nguồn lực con người xét trênphương diện cộng đồng dân tộc đó là nguồn lực nhân dân, sức mạnh của nhândân, sức mạnh của cả dân tộc đã được giác ngộ, được đoàn kết, được lãnhđạo Nói đến “dân”, “nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là nói đến toànthể nhân dân, công nhân, nông dân, trí thức và những người dân lao động ởnước ta Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò, sức mạnh của nhân dân, xem

Trang 28

đó là nguồn sức mạnh vô tận không gì có thể thay thế Người từng nói:“Dân

là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” Theo Người, làm cách mạng giải phóngdân tộc hay xây dựng xã hội mới, công việc nào cũng khó khăn nhưng cónguồn lực của dân thì dù việc khó mấy cũng làm được, qua đó Người tổng kếtthành kinh nghiệm mang tính khái quát cao: “Dễ trăm lần không dân cũngchịu; Khó vạn lần dân liệu cũng xong” Nhân dân trong tư tưởng Hồ ChíMinh đó chính là công nhân, nông dân, trí thức, những người dân lao độngkhông phân biệt dân tộc, đảng phái, giàu, nghèo.Trong cách mạng giải phóngdân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Người luôn nêu cao tinh thần đại đoànkết dân tộc, xem phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là động lực vĩ đạiquyết định thành công của cách mạng Từ lý luận và thực tiễn, Người khẳngđịnh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thànhcông” [65, tr 607]; “đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công” [66,

tr 54] Vì vậy, trong tư tưởng hồ Chí Minh, nói đến nguồn lực con người với

tư cách là cộng động dân tộc là nói đến vai trò, sức mạnh của nhân dân, sứcmạnh của khối đại đoàn kết dân tộc

Thứ hai, nguồn lực con người còn được Hồ Chí Minh đề cập đến với tưcách là những con người cụ thể Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ ChíMinh chỉ rõ, đó là “con người xã hội chủ nghĩa” Trong lần nói chuyện vớiĐại hội đảng bộ thành phố Hà Nội (20/6/1960), Hồ Chí Minh đã nói: “Muốnxây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng

xã hội chủ nghĩa” [67, tr 604] Con người xã hội chủ nghĩa theo quan niệmcủa Hồ Chí Minh đó là con người: Đức - Trí - Thể - Mỹ, con người hội tụtrong mình cả đức và tài, hồng và chuyên Đó phải là những con người kiểumẫu về năng lực, nhân cách, đóng vai trò quyết định đối với công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội Để xây dựng được con người mới xã hội chủ nghĩa,đòi hỏi phải quan tâm và đầu tư mạnh mẽ cho công tác giáo dục - đào tạo, đẩy

Trang 29

mạnh vận động tuyên truyền để xác lập động cơ, nhu cầu, niềm tin, lýtưởng… qua đó mà nâng cao năng lực hoạt động của con người.

Tổng hợp lại, con người xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh nhắc đến là conngười phải hội đủ hai yếu tố đức và tài Đức chính là đạo đức cách mạng,những phẩm chất tiêu biểu mà Người thường đề cập đó là: Trung với nước,hiếu với dân; là yêu thương con người; là cần kiệm liêm chính, chí công vôtư… Tài trong quan niệm của Hồ Chí Minh là năng lực, trình độ chuyên môn,nghiệp vụ của mỗi người Đức và tài phải thống nhất, hài hoà, tác động biệnchứng với nhau Trong mối quan hệ giữa đức - tài, Người yêu cầu: Tài cànglớn thì đức phải càng cao, vì đức - tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa cáchmạng đến thắng lợi Mặt khác, Người quan niệm “Đức là gốc” vì trong đức đã

có tài, có đức làm gốc, con người mới có động lực để phát triển trí tuệ, tàinăng

Ở Hồ Chí Minh, nói đến con người với tư cách là một nguồn lực, là nóiđến những con người hiện thực, những con người với tư cách là chủ thể tiến hànhcác hoạt động thực tiễn, đang ngày đêm lao động, sản xuất, chiến đấu với tinhthần, trách nhiệm của người chủ nước nhà Người chỉ rõ: “Ngày nay tất cả nhữngngười lao động - lao động chân tay và lao động trí óc - đều phải nhận thật rõ:mình là người chủ nước nhà” [68, tr 52] Và đã là người chủ thì phải: “làm trònnghĩa vụ của người chủ”, phải “cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa

xã hội, nhằm mục đích là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa củanhân dân, trước hết là nhân dân lao động” [68 Tr

Trang 30

của dân tộc Hồ Chí Minh cũng cho rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội là khókhăn, gian khổ muốn đạt được mục đích thì nhân dân ta phải ra sức thi đuatăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, mỗi người phải cố gắng trở thànhngười lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, anh hùng lao động Người lao động

là nguồn lực của đất nước khi họ trở thành những người lao động tiên tiến,anh hùng lao động trên mặt trận sản xuất Người tin tưởng “chủ nghĩa xã hộichỉ có thể xây dựng được dưới sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo củahàng chục triệu người” [62, tr 93]

Xuất phát từ quan điểm cho rằng, sự phát triển dựa trên phát huy nguồnlực con người là yếu tố đảm bảo phát triển bền vững Người đặc biệt coi trọngcông tác bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau bởi “có gì vẻ vang hơn lànghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xãhội” [69, tr 402] Quan tâm sâu sắc về việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng chođời sau, trong Di chúc Người viết: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau

là một việc rất quan trọng và cần thiết” [70, tr 612] Hồ Chí Minh dành niềmtin tưởng đối với thế hệ tương lai của đất nước vì thanh niên là người chủtương lai của đất nước, gánh vác những trọng trách quan trọng là xây dựng xãhội mới Để phát huy nguồn lực tiềm năng này Hồ Chí Minh chỉ rõ, phải chocác cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề để đào tạo thành những cán bộ

và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc

Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ởnước ta

Từ những phân tích ở trên cho thấy, quan niệm của Hồ Chí Minh vềnguồn lực con người là quan niệm mang tính cách mạng, khoa học sâu sắc, toàndiện Đề cập đến nguồn lực con người với tư cách con người tập thể, con ngườicộng đồng là nói đến nguồn lực trong nhân dân, sức mạnh của nhân dân gồm thểlực, trí lực, tinh thần, lòng yêu nước, sức mạnh đoàn kết… Nguồn

Trang 31

lực đó là sức mạnh vô đối, nơi khơi nguồn của mọi nguồn lực Nguồn lực conngười trong quan niệm của Hồ Chí Minh còn là những con người cụ thể,những người lao động chân tay và lao động trí óc với sức khỏe, trí tuệ, tinhthần, thái độ đang từng ngày tham gia chiến đấu chống ngoại xâm, xây dựng

xã hội mới với vị trí là người chủ nước nhà Vì vậy, Người nói: “Muốn xâydựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”[68, tr 66] Ngoài ra, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguồn lực con người đượcnhắc đến không chỉ là những người lao động đang trực tiếp sản xuất mà còn

là thiếu niên, nhi đồng, thế hệ của đời sau Nguồn lực con người trong tưtưởng Hồ Chí Minh, được xem như một dạng tiềm năng vô tận, khi khai thác

và sử dụng sẽ mạng lại kết quả to lớn Chính vì vậy, Người nói đào tạo thế hệcho mai sau là cần thiết, quan trọng và lâu dài Đó là công việc trăm năm “vìlợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồngngười”[66, tr 258]

1.2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp cách mạng

Từ những quan niệm của Hồ Chí Minh về nguồn lược con người chúng

ta thấy nổi bật quan niệm về vai trò của nguồn lực con người Hồ Chí Minhquan niệm về vai trò của nguồn lực con người rất toàn diện và bao quát Dó

đó khi bàn luận về vai trò của nguồn lực con người, Người đề cập đến nhiềucách tiếp cận khác nhau:

- Thứ nhất, Hồ Chí Minh đề cập đến vai trò của nguồn lực con người trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đánh giá cao vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân, Hồ ChíMinh xem nguồn lực con người là động lực quyết định mọi thắng lợi của cáchmạng Việt Nam Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người vừa là mục tiêu,vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng Nguồn lực con người và việc phát

Trang 32

huy nguồn lực con người có vai trò quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dântộc và xây dựng đất nước.

Theo Hồ Chí Minh, nói đến vai trò của nguồn lực con người trênphương diện cộng đồng dân tộc là nói đến vai trò sức mạnh khối đại đoàn kếtdân tộc Đại đoàn kết dân tộc là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợicủa cách mạng Việt Nam Chính vì vẽ đó, trong đấu tranh giành độc lập dântộc và xây dựng xã hội mới, Người chủ trương lấy đoàn kết toàn dân để giảiphóng dân tộc, làm cho nhân dân đồng thuận để xây dựng xã hội mới, lấythống nhất thay vì đối đầu, loại trừ là đường lối và phương pháp cách mạng

Hồ Chí Minh Người nói: “chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc vàbọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng giành tự do độclập” [58, tr 230]; “Từ đây đồng bào chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, phảitranh đấu đến kỳ cùng để mưu tự do hạnh phúc cho dân tộc”[59, tr 67] Vaitrò của nguồn lực con người thể hiện rõ ở sức mạnh vô địch của khối đoàn kếttoàn dân

Trong cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới, Hồ ChíMinh luôn tin tưởng nếu có sức mạnh cả nước một lòng cộng với sự ủng hộcủa nhân dân tiến bộ trên thế giới thì cuộc kháng chiến của ta nhất định thắnglợi, kiến quốc nhất định thành công,“vì toàn dân đoàn kết ở trong, vì nhiềubạn đồng tình ở ngoài, cho nên chúng ta nhất định thắng lợi” [59, tr 104].Trong kháng chiến, có đồng chí hỏi rằng, sức mạnh của nhân dân Việt Nam là

ở chỗ nào? Người trả lời: “Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân ViệtNam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dânthế giới” [70, tr 675] Người cũng nhắc nhỡ chúng ta: “chúng ta phải tin tưởngrằng sức mạnh của nhân dân đoàn kết đấu tranh là một sức mạnh tất thắng, mộtsức mạnh vô địch” [65, tr 305] Tin tưởng vào tiềm năng, sức mạnh của conngười, nguồn lực con người trước hết là sức mạnh đoàn kết

Trang 33

toàn dân, Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ quy tụ được khối đại đoàn kếttoàn dân tộc, đấu tranh vì thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Trong suốt tiếntrình cách mạng Việt Nam, với tinh thần đoàn kết chân thành, lâu dài, chặtchẽ, dân tộc ta đã ghi dấu những thắng lợi vẻ vang.

- Thứ hai, Hồ Chí Minh đề cập đến vai trò của nguồn lực con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Đối với Hồ Chí Minh, nguồn lực con người không chỉ có vai trò rấtquan trọng trong sự nghiệp cách mạng mà còn có vai trò quan trọng trong cáclĩnh vực của đời sống xã hội vì nguồn lực con người là vốn quý, là động lực

vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minhtừng nói: “dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” nên trong mọi suy nghĩ vàhành động phải bắt đầu từ con người, vì con người, cho con người và trở vềvới con người

Ở Hồ Chí Minh, nguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người

có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chínhtrị đến văn hóa Vai trò của nguồn lực con người thể hiện tập trung ở vai tròcủa quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ khôngphải “vài ba cá nhân anh hùng nào”; thông qua các hoạt động thực tiễn cơ bảnnhất: Lao động sản xuất, đấu tranh chính trị - xã hội và sáng tạo các giá trịvăn hóa, tinh thần Hồ Chí Minh nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản

dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến

xa, đều thế cả” [60, tr 241] “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do côngnhân và nông dân làm ra Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xãhội mới sống còn phát triển” [62, tr 203]; quần chúng còn là người sáng tácnữa (các giá trị văn hóa - tinh thần) Trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,xuất phát từ quan điểm lấy dân làm gốc, Hồ Chí Minh luôn coi con người làvốn quý nhất, mọi công việc đều ở nơi con người Người nói: “công việc đổi

Trang 34

mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự ngiệp kháng chiến, kiến quốc làcông việc của dân Chính quyền từ xã tới chính phủ trung ương do dân cử ra.Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành

và lực lượng đều ở nơi dân” [60, tr 698] Hồ Chí Minh giải thích cơ sở khoahọc cho vai trò đó xuất phát từ chỗ: “lực lượng dân chúng nhiều vô cùng …dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy

đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” [60,

tr 295]

Trên cơ sở đánh giá cao vai trò của nguồn lực con người, Người tổng kết:

“cán bộ là gốc của công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộtốt hoặc kém” [60, tr 240]; “Chúng ta phải biết quý trọng con người, nhất làcông nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội” [64, tr 373], “Phải biết quýtrọng sức người vì sức người là vốn quý nhất của ta” [65, tr 313]

Chúng ta thấy, Hồ Chí Minh luôn luôn đặt nhân dân vào địa vị caonhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xãhội: lợi ích, quyền hạn, công việc, trách nhiệm, chính quyền, đoàn thể (tức làĐảng), quyền hành và lực lượng đều nhằm vào mục tiêu: vì dân, của dân, dodân, ở nơi dân Nó xác định vai trò của dân: Dân vừa là chủ thể, vừa là đốitượng của quyền lực; vừa có quyền làm chủ, vừa có trách nhiệm làm chủ.Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xâydựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải dựa vào vốn con người,vào việc phát huy nguồn lực con người Nếu khinh dân, coi thường việc xâydựng và phát huy nguồn lực con người sẽ là một sai lầm rất to, rất có hại, cóthể dẫn đến thất bại

- Thứ ba, Hồ Chí Minh đề cập đến vai trò của nguồn lực con người ở góc độ vai trò của các giá trị Người - giá trị đạo đức: lòng yêu nước, yêu thương con người, nhân ái, khoan dung.

Trang 35

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nói đến vai trò của con người, nguồn lựccon người là nói đến vai trò của các giá trị người như: lòng yêu nước, lòngyêu thương con người, vị tha, khoan dung… Sức mạnh của con người khôngchỉ là sức mạnh của thể lực và trí lực mà còn là sức mạnh bên trong, sứcmạnh của các yếu tố tinh thần, sức mạnh của đạo đức cách mạng.

Nói về sức mạnh của lòng yêu nước, chủ nghĩa yêu nước, trong thư gửitổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày 16/2/1946, Người viết: “Từ năm

1941 đến năm 1945, chúng tôi đã chiến đấu gian khổ và duy trì được là nhờchủ nghĩa yêu nước của đồng bào chúng tôi” [59, tr 202] Là một người yêunước chân chính, Hồ Chí Minh luôn có lòng tin vào sức mạnh của chủ nghĩayêu nước của dân tộc Người từng nói: Lòng yêu nước và tinh thần anh dũngcủa nhân dân Việt Nam làm cho chúng tôi vững tin ở thắng lợi cuối cùng”[62, tr 313] Yêu nước là truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, dòngchảy xuyên suốt trong lịch sử dân tộc được phát huy cao độ trong các cuộcđấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta Nó là cội nguồn làm nên sứcmạnh tinh thần cho dân tộc giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách

Hồ chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước chân chính của cácdân tộc thuộc địa Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lựcnào Khẳng định chủ nghĩa yêu nước có sức mạnh và vai trò to lớn đối vớicách mạng, Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêunước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bịxâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh

mẽ, to lớn, nó vượt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũbán nước và cướp nước” [61, tr 171]

Theo Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp vinh quang, song đầy khókhăn, gian khổ Muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng ấy, việcphát huy phẩm chất (đức) và năng lực (tài) của mỗi con người đóng vai trò

Trang 36

quyết định Đánh giá cao vai trò của đức và tài, song, Người không tách rờihai yếu tố này mà đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng, trong đó, đạo đứcđược coi là gốc, là nền tảng của người cách mạng Khi đánh giá vai trò củađạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cáchmạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối Người viết:

“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Câyphải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức,không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vìmuốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc totát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu

xa thì còn làm nổi việc gì” [60, tr 252] Người so sánh: “Làm cách mạng đểcải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nócũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài,gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạngphải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cáchmạng vẻ vang” [64, tr 283]

Đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng, bởi vì, muốn làm cách mạng thìtrước hết con người phải có cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp đối với giaicấp công nhân, nhân dân lao động, với cả dân tộc mình Cái tâm, cái đức ấylại phải thể hiện trong các mối quan hệ xã hội hàng ngày với dân, với nước,với đồng chí, đồng nghiệp, với mọi người xung quanh mình Phải có tâm, cóđức mới giữ vững được chủ nghĩa Mác - Lênin và đưa được chủ nghĩa Mác -Lênin vào cuộc sống Đạo đức là gốc, là nền tảng vì liên quan tới Đảng cầmquyền Hồ Chí Minh trăn trở: Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội, lãnh đạoNhà nước, nếu cán bộ, đảng viên của Đảng không tu dưỡng về đạo đức cáchmạng thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa con người Vì vậy, Hồ ChíMinh yêu cầu Đảng ta phải “là đạo đức, là văn minh” [65, tr 5]

Trang 37

Nói đến vai trò của các giá trị Người - giá trị đạo đức, Hồ Chí Minhkhông chỉ đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước mà còn để cập đến sứcmạnh của các giá trị: lòng yêu thương con người, sự khoan dung, độ lượng…Yêu thương con người được Hồ Chí Minh xác định là một trong những phẩmchất đạo đức cao đẹp nhất Người nói, người cách mạng là người giàu tìnhcảm, có tình cảm mới đi làm cách mạng Theo Người, để phát huy nguồn lựccon người đòi hỏi Đảng, Chính quyền, mỗi cá nhân phải có lòng thương yêu

vô hạn, sự cảm thông, sự tin tưởng tuyết đối vào con người, ý chí đấu tranh đểgiải phóng con người Đây chính là hạt nhân trung tâm, xuất phát điểm đồngthời là mục đích, lý tưởng sống, chiến đấu của Hồ Chí Minh Vì có lòng yêuthương con người, người cách mạng mới chấp nhận gian khổ, hy sinh đểmang lại hạnh phúc cho con người Theo Hồ Chí Minh, nếu không có tìnhyêu thương đối với con người thì không thể nói đến cách mạng, không thể nóiđến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Tình yêu thương con người đượcxây dựng trên lập trường giai cấp công nhân, được thể hiện trong mối quan hệhàng ngày vơi bạn bè, đồng chí, anh em…Đối với Người, tình yêu thươngcon người, lòng nhân ái, khoan dung có sức mạnh cảm hóa rất lớn đối với tất

cả mọi người, những người lầm đường, lạc lối và cả những người trước đây

đã từng chống chúng ta Chính vì lẽ đó, Người luôn yêu cầu mọi người phải

có lòng khoan dung đối với con người, “phải có tình đồng chí thương yêu lẫnnhau” [70, tr 510] Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp củaquần chúng, không dựa vào dân thì không thể làm được việc gì; sức mạnh củaĐảng, của Nhà nước là dựa trên sức mạnh và sự ủng hộ của nhân dân Lòngtin của Hồ Chí Minh đối với con người, không chỉ ở chỗ thấy được vai trò sứcmạnh của nhân dân trong con người, mà còn ở chỗ thấy được những khả năngtiềm ẩn trong con người, từ sự mong muốn được khai sáng, cảm hóa, hướngdẫn, chia sẻ với mỗi người vươn lên để hoàn thiện mình Có thể nói, trong tư

Trang 38

tưởng Hồ Chí Minh, tình thương yêu vô hạn, sự cảm thông, tin tưởng tuyếtđối vào con người, quyết tâm phấn đấu giải phóng con người trở thành tiền đềđầu tiên để có thể phát huy năng lực của con người và huy động được nguồnlực con người.

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, nguồn lực con người là nguồn lựcquan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực Quan niệm ấy được Người kếthừa từ tư tưởng: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” để rồiNgười khái quát ở tầm chân lý: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; Khó vạnlần dân liệu cũng xong” Có nguồn lực nhân dân, có sức mạnh đoàn kết mộtlòng là điều kiện tiên quyết của cách mạng Trong sự nghiệp kháng chiến vàkiến quốc của dân tộc cũng như trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng

ta luôn thấy vai trò của nguồn lực con người được biểu hiện rõ nhất Vai trò

đó được thể hiện rõ trong quan niệm: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản

dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến

xa, đều thế cả” [60, tr 241]

Mặt khác, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta bắt gặp khái niệm

“vốn”, “nguồn vốn” khi nói về nguồn lực con người Hồ Chí Minh xemnguồn lực con người là nguồn vốn quý báu, cần được xây dựng, đào tạo vàphát huy để phục vụ sự nghiệp cách mạng Nói đến vai trò của nguồn lực conngười, nhiều lần Người đã nêu quan điểm cho rằng con người là nguồn “vốn”quý nhất của chúng ta Người yêu cầu: “chúng ta phải quý trọng con người,nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội Chúng ta cần phảihết sức bảo vệ, không để xảy ra tai nạn lao động” [67, tr 221]; “Phải đảm bảo

an toàn lao động vì người lao động là vốn quý nhất” [66, tr 591]

Xuất phát từ quan niệm coi nguồn lực con người là “vốn” quý, nêntrong mọi suy nghĩ và hành động, Người luôn chú trọng, quan tâm, chăm lo,bồi dưỡng cho con người Người nhắc nhỡ: “Phải biết quý trọng sức người làvốn quý nhất của ta Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng thật

Trang 39

hợp lý sức lao động của nhân dân ta” [68, tr 70] Đối với Hồ Chí Minh,không chỉ có người lao động được coi là “vốn quý” mà còn có thiếu niên, nhiđồng, các cụ phụ lão Theo Người, đó là nguồn lực quý báu cần được bảo vệ,nuôi dưỡng và phát huy Trong những năm tháng khốc liệc của chiến tranh,

để bảo vệ nguồn vốn quý báu ấy, Người yêu cầu: “Nhất định chúng ta phải tổchức tốt việc sơ tán các cháu, bảo vệ và nuôi dưỡng tốt các cháu, vì các cháu

là những vốn quý nhất của đất nước” [69, tr 694] Chính vì vậy, đầu tư chonguồn vốn con người là đầu tư sẽ có lợi và đó là “lợi ích trăm năm”

Tóm lại, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán coi nguồnlực con người là nguồn lực quan trọng , có sức mạnh to lớn quyết định thắnglợi của cách mạng Việt Nam Vấn đề con người và nguồn lực con nười gắnliền với cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; mụctiêu giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.Vai trò của nguồn lực con người theo quan niệm của Hồ Chí Minh đó là vaitrò của quần chúng nhân dân được tổ chức, giác ngộ, vai trò của khối đại đoànkết dân tộc, vai trò của các lực lượng quần chúng, vai trò của các giá trị đạođức được biểu hiện sinh động trong suốt tiến trình cách mạng Trong sự pháttriển của xã hội, trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - conngười và nguồn lực con người luôn đóng vai trò quyết định Con người lànguồn “vốn quý” nhất của xã hội Chính vì lẽ đó, Hồ Chí Minh kết luận “phảiđem hết sức dân, tài dân, của dân làm lợi cho dân” [60, tr 61]; phải dựa vàolực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân

1.2.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng và phát huy nguồn lực con người

- Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng nguồn lực con người

Xuất phát từ quan niệm coi con người là “vốn” quý, Hồ Chí Minh đặcbiệt quan tâm đến công tác xây dựng nguồn lực con người nhằm để phục vụcho sự nghiệp của cách mạng Trong xây dựng nguồn lực con người, Hồ Chí

Trang 40

Minh đã đề cập đến nhiều quan niệm như: giáo dục, đào tạo, tổ chức… TheoNgười để xây dựng nguồn lực con người trước tiên phải bắt đầu từ giáo dục,đào tạo, đặc biệt là sự tự giáo dục của mỗi người.

Sớm có tầm nhìn về tầm vóc, ý nghĩa của giáo dục, từ khi trở thànhlãnh tụ cách mạng đến tận cuối đời, Hồ Chí Minh luôn coi công việc “trồngngười” là một nhiệm vụ vừa cấp bách vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.Người nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây.Vì lợi ích trăm năm thìphải trồng người” Theo quan điểm Hồ Chí Minh, “lợi ích trăm năm” đó là lợiích chiến lược, lâu dài, vì một nước Việt Nam hòa bình,thống nhất, độc lập,dân chủ , giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới Lợi ích

đó gắn liền với việc nâng cao dân trí, phát triển năng lực của người dân, phục

vụ dân sinh, làm cho mỗi người và tất cả mọi người dân có cuộc sống ngàycàng tốt đẹp hơn, giàu có hơn, hạnh phúc hơn Trên cơ sở coi người dân làtrung tâm, Hồ Chí Minh gắn bó chặt chẽ lợi ích quốc gia, dân tộc với lợi ích

cá nhân Để đạt được lợi ích trăm năm thì “trồng người” là một việc rất quantrọng và rất cần thiết Bởi vì con người là trung tâm của chiến lược phát triển,đồng thời là chủ thể phát triển Cùng với những nhiệm vụ khác, “trồng người”

là một công việc chủ yếu, có tác dụng và ảnh hưởng lớn đến sự phát triểnkinh tế - xã hội “Trồng người” là công việc vừa cấp bách vừa lâu dài, khôngthể thiếu được nhằm xây dựng nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu pháttriển bền vững của đất nước

Với ý nghĩa đó, giáo dục và đào tạo có tầm quan trọng đặc biệt trongviệc hình thành và phát triển nhân cách con người, góp phần giải phóng tiềmnăng con người, tạo tiền đề cho sự phát triển Người nhấn mạnh đến một nềngiáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nướcViệt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các

em Mục đích của sự học là để làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w