ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---VŨ MẠNH HÙNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG GIÁO VÀ SỰVẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-VŨ MẠNH HÙNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG GIÁO VÀ SỰVẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY (TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học
Mã số: 60.22.90
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Lữ
Hà Nội - 2012
Trang 31.1 Cơ sở hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo 101.2 Hồ Chí Minh về đối tượng và mục tiêu của đoàn kết lương giáo 211.3 Hồ Chí Minh về nội dung của đoàn kết lương giáo 311.4 Hồ Chí Minh về phương pháp thực hiện đoàn kết lương giáo 36
Chương 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG TƯ
MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng đoàn kết lương giáo
51
2.1.
của chủ tịch Hồ Chí Minh trong các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị
Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng đoàn kết lương giáo
55
2.2.
của chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực tiễn
Phương hướng và giải pháp tăng cường đoàn kết lương giáo theo
762.3
tư tưởng của Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử - xã hội tồn tại từ hàng vạn năm cùngvới xã hội loài người Từ khi xuất hiện, tôn giáo luôn là yếu tố tham gia vàocác quá trình xã hội, ảnh hưởng đến nhiều mặt đời sống con người Chủ nghĩaMác - Lênin đã chỉ ra nguồn gốc, bản chất, chức năng và tính chất của tôn giáotrong xã hội loài người, đồng thời cũng chỉ rõ vai trò tác động trở lại của tôngiáo đối với xã hội
Có nhiều ý kiến lưu tâm, nhấn mạnh và cảnh báo về hiện tượng “xâm lăng văn hóa” qua “xuất khẩu” tín ngưỡng, tôn giáo Chiêu bài “tôn giáo”,
“dân tộc” là hai trong những vấn đề thường được các thế lực thù địch sử dụng
để chống phá cách mạng Việt Nam Vì vậy, việc nhận thức đúng vấn đề này có
ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội hiện nay; đồng thời tránh được những vấn đề đáng tiếc có thể xảy ra màcác thế lực thù địch có thể lợi dụng
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo Từ khi nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu làChủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối, chính sách đối với tôn giáo, tínngưỡng một cách đúng đắn và nhất quán nên đã vận động được đông đảo quầnchúng có tôn giáo tham gia vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc, đồngbào có tôn giáo đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng giải phóngdân tộc cũng như xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa
Đương thời, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn đề cao vai trò của quần
chúng nhân dân bởi quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội và quần chúng nhân dân có vai trò to lớn, không thể thay thế trong sản xuất tinh thần.
Trang 5Tiếp thu tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản ViệtNam luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, trong đó có quần chúng cótín ngưỡng, tôn giáo trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Công cuộc đổimới ở Việt Nam bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan, đời sống củamọi tầng lớp nhân dân từng bước được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần.Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, các thế lực phản động, thù địchvới nước ta và với chủ nghĩa xã hội dùng mọi thủ đoạn, trong đó có âm mưuthực hiện “diễn biến hòa bình”, lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng ViệtNam Âm mưu của chúng là chia rẽ giữa những người theo tôn giáo và nhữngngười không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau Từ
đó dẫn đến nguy cơ chia rẽ dân tộc qua chia rẽ tôn giáo Vì vậy, muốn đoàn kết toàn dân thì phải đoàn kết lương giáo.
Đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đoàn kết lương - giáo là đường lốichiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ýnghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Đảng và Nhànước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật quan trọng, thể hiện nhữngquan điểm đổi mới, khoa học về tín ngưỡng, tôn giáo, đã từng bước đáp ứngđược nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng, bình thường của quần chúng tín
đồ và chức sắc tôn giáo, làm cho họ phấn khởi tin tưởng vào chính sách tự dotín ngưỡng của Đảng, Nhà nước, tích cực góp phần vào phát triển kinh tế, xãhội Song tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta những năm qua diễn biến khá phứctạp Đặc biệt nghiêm trọng là một số phần tử chống phá cách mạng đã đưa ranhững yêu sách chính trị phản động, gây nên những hậu quả nhất định, làm tổnhại khối đoàn kết toàn dân, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã
Trang 6hội ở một số địa phương, tạo điều kiện cho các thế lực phản động bên ngoàican thiệp vào công việc nội bộ của ta.
Đứng trước tình hình đó, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật
về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới;tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo; động viênchức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góptích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là yêu cầu cấp thiết từthực tiễn cách mạng Việt Nam
Trong di sản tư tưởng của Hồ Chủ tịch, đoàn kết lương giáo chiếm một
vị trí quan trọng Theo Người, chỉ có “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” thì mới
có “thành công, thành công, đại thành công” được Trong quá trình tìm tòi lýluận để phục vụ thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn xác định lấy chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là kim chỉnam cho mọi hoạt động và cũng nhờ đó mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tộcvượt qua những thách thức, nguy cơ để tận dụng tốt nhất những thời cơ, đưanước ta sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới
Vì lý do đó, học viên chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (từ năm 1991 đến nay) làm đề tài luận văn của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tàiĐại đoàn kết dân tộc nói chung, đoàn kết lương giáo nói riêng trong tưtưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề lớn đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâmnghiên cứu một cách có hệ thống Có thể kể đến các công trình, bài viết sau:
Thứ nhất, các đề tài, các sách đã được xuất bản và luận văn, luận án.
- Lê Hữu Nghĩa - Nguyễn Đức Lữ (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Đây là cuốn sách có ý
Trang 7nghĩa rất lớn đối với luận văn của Học viên Cuốn sách đã trình bày rõ cơ sởhình thành, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và phương pháp giảiquyết vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo.
- Nguyễn Đức Lữ (2009), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay, Nxb CT - HC, Hà Nội Đây là cuốn sách có ý nghĩa rất lớn
đối với luận văn của Học viên Cuốn sách đã nêu lên cơ sở hình thành, nội dung tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo và việc vận dụng tư tưởng này của Đảng Cộng sảnViệt Nam qua các giai đoạn, những vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay
- Nguyễn Đức Lữ (Chủ biên) (2007), Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn
giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Cuốn sách đã nêu lên những vấn đề lý luận về tôn
giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam; đó là những vấn đề được tổng kết từ thực tiễn ViệtNam qua các thời kỳ; những vấn đề đặt ra hiện nay
học, năm 2007 của tác giả Phạm Hữu Xuyên Trong Luận án, tác giả đã làm rõ được kháiniệm tín ngưỡng, tôn giáo; những yếu tố ảnh hưởng đến quan điểm tín ngưỡng, tôn giáocủa Hồ Chí Minh; nêu được quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo
và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Đỗ Quang Hưng (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo, đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam, Nxb QĐND Cuốn sách đề cập trực tiếp tới
nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến quan điểm đoàn kết với đồng bào Công giáo của
Trang 8- Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 02 - 07 “Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh” do PGS.TS Phùng Hữu Phú chủ biên, xuất bản năm 1995 Đây là công trình
nghiên cứu về chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh một cách hệ thống, sâu sắc từ quátrình hình thành đến nội dung, nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh trongcác giai đoạn, thời kỳ cách mạng Việt Nam
điểm của Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ khoa học Chính trị, năm 2011 của tác giả Lê
Thị Sáu Trong Luận văn, tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ nội dung cơ bản quan điểmcủa Hồ Chí Minh về đoàn kết với đông bào Công giáo; làm rõ thực trạng đoàn kết vớiđồng bào Công giáo ở tỉnh Ninh Bình hiện nay; tìm ra một số giải pháp chủ yếu nhằmtăng cường đoàn kết với đồng bào Công giáo theo quan điểm của Hồ Chí Minh ở tỉnhNinh Bình
- Nguyễn Đức Lữ (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 3 Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên mục tiêu đoàn
kết lương giáo, đối tượng, nội dung và phương pháp thực hiện đoàn kết lương giáo
- Nguyễn Đức Lữ (2002), Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, Tạp
chí Lịch sử Đảng, Số 9 Trong bài viết, tác giả đã nêu ra giá trị lí luận và thực tiễn của tưtưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo trong kho tàng lí luận Mác - Lênin, trong thực tiễn cáchmạng Việt Nam, trong việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước tahiện nay
- Đỗ Quang Hưng (2007), Đổi mới nhận thức và chính sách về tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 5.
- Nguyễn Đức Lữ (2007), Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật quốc tế và luật pháp Việt Nam, Tạp chí Quản lý Nhà nước, Số 142.
8
Trang 9- Hồ Trọng Hoài (2003), Hồ Chí Minh và sự khoan dung tôn giáo, Tạp
chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 1
- Nguyễn Đức Lữ (1992), Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tôn giáo, Tạp chí
Nghiên cứu lý luận, Số 8
Trên đây là những công trình quan trọng, có đóng góp rất lớn trong việcnghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cũng như trong tư tưởng Hồ ChíMinh Các công trình nghiên cứu, những luận văn, luận án, các bài viết đăngtrên các báo, tạp chí ở các cách tiếp cận khác nhau đã phần nào làm rõ quanđiểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, ý nghĩa của quan điểm nàytrong chiến lược đoàn kết dân tộc nói chung, đoàn kết lương giáo nói riêng ởViệt Nam hiện nay Đó là nguồn tài liệu quý cho học viên trong quá trình hoànthành luận văn của mình Đây là thuận lợi vô cùng to lớn
Tuy nhiên, thực tiễn xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng;bản thân các tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồntại xã hội cũng luôn vận động Trong những năm gần đây, tín ngưỡng, tôn giáongày càng trở thành vấn đề cần phải quan tâm đặc biệt Do đó, việc nghiên cứunhững di sản tư tưởng của quá khứ, nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kếtlương giáo, việc tổng kết thực tiễnViệt Nam và đề ra những chính sách về tínngưỡng, tôn giáo phù hợp là rất quan trọng Đây là một thử thách lớn đối vớihọc viên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 10+ Phân tích cơ sở hình thành tư tưởng đoàn kết lương - giáo ở Hồ Chí Minh.+ Hệ thống hóa và phân tích những nội dung tư tưởng cơ bản về đốitượng, mục tiêu, nội dung và phương pháp của đoàn kết lương giáo trong tư tưởng HồChí Minh.
+ Phân tích và đánh giá sự vận dụng tư tưởng đoàn kết lương giáo trong
tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứuLuận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý, những quan điểm
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và chính sách tôn giáo hiện nay
Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, luận văn đã kết hợp sửdụng một số phương pháp cụ thể sau: Phương pháp Lôgic lịch sử, phương phápphân tích tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống hóa… nhằm tái hiện mộtcách chân thực những quan điểm về đoàn kết lương giáo trong tư tưởng củaChủ tịch Hồ Chí Minh
5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi: Luận văn chỉ tập trung tìm hiểu những quan điểm cơ bản vềđoàn kết lương giáo trong tư tưởng của Hồ Chí Minh Nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng
đó của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết, Chỉ thịcủa Đảng từ năm 1991 đến nay
- Đối tượng: Tư tưởng đoàn kết lương giáo của Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
6 Đóng góp của luận vănLuận văn góp phần vào tìm hiểu, kế thừa, hệ thống hóa và làm sâu sắcthêm nhận thức về tư tưởng đoàn kết lương giáo của Hồ Chí Minh Tìm hiểu
và đánh giá sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai
Trang 11đoạn hiện nay Từ đó, luận văn cung cấp thêm cứ liệu để làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành: 2 chương và 7 tiết
Trang 12Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT LƯƠNG GIÁO
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo Theo tácgiả Nguyễn Như Ý thì: “Tư tưởng là quan điểm và ý nghĩ chung của con ngườiđối với thế giới tự nhiên và xã hội” [124, tr 1704] “Đoàn kết là kết thành một
khối, thống nhất ý chí, không mâu thuẫn, chốngđối nhau” [124, tr 534]
Theo PGS.TS Nguyễn Đức Lữ: “Khái niệm lương - giáo xuất hiện từthời nhà Nguyễn Theo đó, Lương chỉ những người Việt Nam không theo đạoThiên Chúa Như vậy, ta có thể hiểu rằng, tất cả những người không theo Cônggiáo, những người theo Phật giáo, Đạo giáo… thuộc bên Lương; Người theoCông giáo được gọi là Giáo Tuy nhiên, khái niệm này có sự phát triển qua cácthời kỳ Sau này, Lương là khái niệm để chỉ những người không theo tôn giáo;còn Giáo là chỉ những người có tôn giáo Hồ Chí Minh sử dụng khái niệmLương - Giáo ở nghĩa như trên khi Người nói: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữađồng bào lương và đồng bào các tôn giáo…” [95, tr 606] Ngày nay, khái niệmLương - Giáo ít được sử dụng mà thay vào đó là cụm từ những người có tôngiáo, tín ngưỡng và những người không có tôn giáo, tín ngưỡng” [67, tr 30]
Tư tưởng Hồ Chí Minh là đỉnh cao của văn hóa Việt Nam, là kết tinhcủa những truyền thống tốt đẹp của văn hóa Việt Nam qua mấy nghìn năn lịch
sử Tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận của văn hóa, góp phần tạo nên truyềnthống văn hóa của mỗi dân tộc Đúng như đã từng có ý kiến nhận xét: “Hìnhảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật,lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tìnhcảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”[32, tr 27]
Trang 13Tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang tồn tại ở mọi quốc gia Tuy thịnh, suytừng lúc có khác nhau; vai trò và ảnh hưởng đối với đời sống xã hội khônghoàn toàn như nhau nhưng nhìn chung tôn giáo vẫn tồn tại trong suốt chiều dàilịch sử nhân loại Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, gắn đạo với đời,
tôn giáo với dân tộc để cho “nước vinh, đạo sáng” luôn là nguyện vọng chân
chính, thiết tha của mọi người dân Việt Nam
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có những quan điểm rất rõ về đoànkết lương giáo Vấn đề đặt ra là những quan điểm đó được hình thành như thếnào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến những quan điểm đoàn kết lương giáocủa Người? Tất nhiên, không thể tìm nguồn gốc tư tưởng, quan điểm đó ở bênngoài môi trường sống và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo được hình thành trên sựkết hợp sâu sắc giữa những hiểu biết về truyền thống gia đình, xã hội ViệtNam, về tình hình, đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo nước ta và thế giới; chủnghĩa Mác - Lênin, việc kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại và sựtổng kết, khái quát thành lý luận thông qua hoạt động thực tiễn
Toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng về đoàn kết lươnggiáo nói riêng đều thấm nhuần tính nhân văn sâu sắc, một tình yêu bao la đốivới con người, trước hết là con người Việt Nam, đó là những người dân laođộng trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể Những quan điểm về đoàn kết lươnggiáo của Người xét đến cùng là vì sự giải phóng con người, là xây dựng một xã
hội mới để tiến tới một thiên đường nơi trần thế.
1.1.1 Cơ sở thực tiễn
1.1.1.1 Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Sinh ra và lớn lên trong một đất nước đa tôn giáo nên Hồ Chí Minh cóđược những tri thức quý báu về các tín ngưỡng, tôn giáo đó Với tín ngưỡngdân gian của người Việt, Hồ Chí Minh cho rằng: “Việc cúng bái tổ tiên hoàn
Trang 14toàn là một hiện tượng xã hội” [76, tr 479] Người luôn căn dặn cán bộ phảiluôn chú ý đến những tục lệ của dân trong quá trình vận động xây dựng cuộcsống mới Người nói: “tránh phạm đến phong tục tập quán, tín ngưỡng củadân” [74, tr 122] và nên “tìm hiểu phong tục tập quán nghiêm túc chấp hànhđiều kiêng” [74, tr 122].
Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tưtưởng Nho giáo Những ảnh hưởng đó được bắt nguồn từ người cha kính yêucủa Người Những tư tưởng tiến bộ, nhân cách cao thượng của người cha đã đểlại những dấu ấn rất sâu đậm trong tâm hồn Người Những khái niệm cơ bảncủa Nho giáo như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cần, kiệm, liêm, chính, trung, hiếu…đều được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo; Người đã đưavào đó những nội dung mới, nâng tầm trên nền khái niệm cũ để phù hợp vớicuộc sống mới, thời đại mới Người giải thích: “Ngày xưa trung là trung vớiVua Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi Ngày nay nước ta là nước dân chủcộng hòa… Cũng như trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân, tathương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải làm cho mọi ngườiđều biết thương cha mẹ” [85, tr 640]
Hồ Chí Minh bên cạnh việc chỉ ra những ưu điểm của Nho giáo, còn chỉ ranhững hạn chế của hệ tư tưởng này Theo Người, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử
“chỉ thích hợp với một xã hội bình yên không bao giờ thay đổi”, “Đạo đức của ônghoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp được với các trào lưu tư tưởng hiện đại”
và “ông không phải là người cách mạng mà còn là vì ông tiến hành một cuộctuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho họ (giai cấp thống thị)” [78, tr 453] Từ đó, HồChí Minh rút ra bài học: “Những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình,
về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạngthì cần đọc các tác phẩm của Lênin” [78, tr 454]
Trang 15Với Đạo giáo, Người cũng thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của mình Ở HồChí Minh, chúng ta thấy phảng phất nét ung dung tự tại, thanh thản, nếp sốnghiền hòa thanh đạm, những nét này rất gần với tư tưởng của Lão Tử Trongchuyển đi Pháp, thăm nơi kỷ niệm Napôlêông, Hồ Chí Minh cho rằng, trongđời có nhiều người vì không tri túc mà thất bại! Nếu Napôlêông biết gạt bỏtham muốn quá mức thì chắc nước Pháp không đến nỗi vì chiến tranh mà chếtngười hại của Như vậy, Hồ Chí Minh đã vận dụng tư tưởng của Đạo giáo mộtcách hài hòa, Người đã tiếp thu cái đúng đắn đã được thực tiễn kiểm nghiệm đểgóp phần xây dựng nhân cách, lối sống của người dân yêu nước, người cáchmạng.
Những ảnh hưởng của Phật giáo đến Hồ Chí Minh có từ rất sớm Ngườiviết: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chíthiện, bình đẳng, yên vui mà no ấm”, “Đức Phật là đại từ đại bi cứu khổ cứunạn Người phải hy sinh tranh đấu để diệt lũ ác ma” [76, tr 197] Trong nhữngbài viết của mình, Hồ Chí Minh nhiều lần mượn khái niệm của nhà Phật; chẳnghạn, Người viết: “Tôi chắc đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ, cứu nạn, màhăng hái hưởng ứng lời đề nghị trên” [93, tr 290] Khi tuyên bố với quốc dân,
Hồ Chí Minh nói: “Không được báo thù báo oán Đối với những kẻ đi lầmđường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng Lấy lời khôn
lẽ phải mà bày cho họ” [83, tr 420]
Với Công giáo, Hồ Chí Minh đã có những am hiểu sâu sắc và nhìn nhậntôn giáo này như một di sản văn hóa nhân loại Người đã nhìn thấy cái tinh túynhất của giáo lý Công giáo, nhấn mạnh mục đích cao cả của Công giáo là giảiphóng con người, vì hạnh phúc của con người Người luôn có cách nhìn nhậnkhách quan và thái độ kính trọng khi nói về Chúa Giêsu: “Gần 20 thế kỷ trước,một vị thánh nhân đã ra đời Cả đời Người chỉ lo cứu thế độ nhân, hy sinh cho
tự do, bình đẳng” và “Đức Thiên Chúa đã giáng sinh để cứu với nhân loại Đức
Trang 16Thiên Chúa là một tấm gương hy sinh triệt để vì những người bị áp bức, vìnhững dân tộc bị đè nén, vì hòa bình, vì công lý” [83, tr 490], “Suốt đời Ngàichỉ hy sinh phấn đấu cho tự do, cho dân chủ” [83, tr 290].
Tuy nhiên, khi nói về Công giáo Việt Nam, Người cũng không quênnhắc việc các thế lực đế quốc đã lợi dụng tôn giáo này phục vụ cho mục đíchchính trị của chúng Bằng những hiểu biết của mình, Hồ Chí Minh đã chỉ rarằng: “Người dân An Nam… không có tôn giáo, theo cách nghĩ của người châuÂu” [76, tr 479]
Có thể nói, đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam làtính khoan dung, không kỳ thị Truyền thống văn hóa ứng xử của dân tộc ViệtNam mang đậm tư tưởng khoan dung Truyền thống đó cũng thể hiện rõ trong
tư tưởng về tín ngưỡng, tôn giáo Dù là tôn giáo du nhập hay tôn giáo nội sinhđều tồn tại hòa bình, ở Việt Nam không có chiến tranh tôn giáo Tuy ở nhữngthời điểm nhất định, những “bất hòa” là không thể tránh khỏi; nhưng nó chủyếu là do các thế lực thù địch âm mưu chia rẽ vì mục đích chính trị của chúng.Xét toàn diện thì tôn giáo Việt Nam có sự hòa hợp, cùng tồn tại, cùng pháttriển Hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” là một thực tế lịch sử Đúng như nhànghiên cứu văn hóa Đào Duy Anh từng khẳng định: “Ở đời Lý và đời Trầntriều đình lại đặt khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Lão), xem thế đủ biết khôngnhững Nho học và Phật học thịnh hành, mà Lão giáo cũng không bị bài xích”[1, tr 282]
Như vậy, những yếu tố trên đã có tác động không nhỏ trong việc hình
thành ở Hồ Chí Minh những quan điểm ban đầu về tín ngưỡng, tôn giáo; vềnhững ưu điểm và nhược điểm của tín ngưỡng, tôn giáo để từ đó có thể pháthuy ưu điểm, hạn chế nhược điểm nhằm phát huy tốt nhất sức mạnh của khối
đoàn kết toàn dân trong đó có đoàn kết tôn giáo Với tất cả các tôn giáo, Hồ
Chí Minh luôn có thái độ trân trọng; Người không đề cập
Trang 17đến tôn giáo dưới góc độ triết học hay tôn giáo học thuần túy, mà đề cập đến
nó dưới góc độ văn hóa, đạo đức và chính trị, Người luôn có thái độ kháchquan trong việc nhìn nhận tôn giáo, không có một chút nào của sự kỳ thị tôngiáo; Hồ Chí Minh cũng là một mẫu mực của việc nắm vững và vận dụng sángtạo phép biện chứng mácxít đối với những vấn đề về tôn giáo
1.1.1.2 Kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo trong cách mạng của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc
Luận điểm có tính chất cương lĩnh đầu tiên của Đảng Bônsêvích Nga về
tôn giáo được Lênin nêu ra trong tác phẩm nổi tiếng Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo (1905) như sau: “Nhà nước không được dính đến tôn giáo, các đoàn thể
tôn giáo không được dính đến chính quyền nhà nước Bất kỳ ai cũng được tự
do theo tôn giáo mình thích, hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào, nghĩa làđược làm người vô thần Mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những công dân cótín ngưỡng tôn giáo khác nhau đều hoàn toàn không thể dung thứ được… Nhànước không được chi bất cứ một khoản phụ cấp nào cho quốc giáo, cũng nhưcho các đoàn thể giáo hội và các đoàn thể tôn giáo, những đoàn thể này phải lànhững hội của những công dân cùng theo một tôn giáo, những hội hoàn toàn tự
do và độc lập với chính quyền” [55, tr 171]
Tháng 2/1918, chính quyền Xô viết thông qua Sắc lệnh về việc táchgiáo hội khỏi nhà nước, tách nhà thờ khỏi trường học Sắc lệnh còn quy định vịtrí bình đẳng giữa các tổ chức tôn giáo, đồng thời đảm bảo những điều kiện cầnthiết cho hoạt động của các tổ chức tôn giáo Năm 1919, Đảng Cộng sản Nga,tại Đại hội VIII đã đưa vào Cương lĩnh (Điểm thứ 13) nội dung cụ thể là:
“Đảng mong muốn hoàn toàn xóa bỏ mối dây liên hệ với giai cấp bóc lột và tổchức tuyên truyền tôn giáo để tác động đến sự giải phóng thực sự quần chúnglao động khỏi thành kiến tôn giáo và tổ chức công tác tuyên truyền khoa họcbài trừ mê tín và chống tôn giáo rộng rãi nhất Đồng
Trang 18thời, cần phải tránh bất cứ sự xúc phạm nào đến tình cảm tôn giáo của ngườitheo đạo” [Trích theo 48, tr 39] Năm 1936, một quan điểm mới về tôn giáođược ghi trong Điều 124, Hiếp pháp của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Xô viết như sau: “Để đảm bảo cho công dân có quyền tự do tín ngưỡng, nhàthờ ở Liên Xô tách khỏi nhà nước và nhà trường tách khỏi nhà thờ Công nhậnquyền tự do theo các tôn giáo và quyền tự do tuyên truyền thống tôn giáo chomọi công dân” [Trích theo 48, tr 32]
Có thể nói, những quan điểm, chính sách trên là tiến bộ và đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn là đảm bảo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng thực sự
ở Liên Xô Tuy vậy, việc thực hiện các chính sách ở một số địa phương của Liên Xô mắc sai lầm tả khuynh, nôn nóng muốn xóa bỏ ngay tôn giáo
Thời gian Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng ở Trung Quốc làthời kỳ ở đó đang tiến hành cuộc cách mạng dân chủ, những quan điểm về tôngiáo của Đảng Cộng sản Trung Quốc về cơ bản là theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin Ngay từ năm 1927, Mao Trạch Đông trong Báo cáo khảo sát phong trào nông dân Hồ Nam có một đoạn văn thể hiện khá rõ quan điểm
về tôn giáo: “Bụt là do nông dân dựng lên, đến một thời kỳ nào đó, nông dân sẽdùng cả hai tay của họ mà vứt bỏ những ông Bụt này, chẳng cần người kháclàm thay một cách quá sớm việc vứt bỏ ông Bụt” [101, tr 51]
Sau khi cách mạng thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoađược thành lập năm 1949, phong trào Tam tự của Công giáo và Tin lành ởTrung Quốc thực sự ra đời Nó phản ánh chính sách độc lập và tự quản củahoạt động tôn giáo Có thể nói, đây là một kinh nghiệm đặc sắc của TrungQuốc Sau này, trong cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói đến
sự độc lập của tôn giáo nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nóiriêng
Trang 19Chính sách về tôn giáo nêu trên mặc dù vẫn theo quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin và trên thực tế đã đạt được những thành tựu không thể phủnhận, đó là việc vẫn đảm bảo được quyền tự do tín ngưỡng trong chế độ xã hộichủ nghĩa, không có xung đột tôn giáo… Nhưng cũng phải nhận thức một thực
tế là các đảng cộng sản cầm quyền còn bị ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh vềtôn giáo ở những mức độ khác nhau Điển hình là quan điểm tự do tôn giáo điliền với tự do tuyên truyền vô thần chống tôn giáo Quan điểm này dễ dẫn tớithái độ tả khuynh trong bộ máy chính quyền khi giải quyết vấn đề tôn giáo
Như vậy, qua thực tiễn kinh nghiệm ở Liên Xô và Trung Quốc đã cho
Người nhiều bài học sâu sắc Đó là không được dập khuôn, máy móc những tưtưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin một cách thái quá, nếu không sẽ dẫn tới
khuynh hướng tả khuynh khi giải quyết vấn đề tôn giáo Từ đó, chúng ta thấy
được tầm vóc trí tuệ của chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã không rập khuôn,giáo điều, máy móc mà luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vàothực tiễn cách mạng Việt Nam Ở đó, người luôn luôn đề cao những giá trịnhân văn, đạo đức của các tôn giáo chân chính; Người cũng đã cố gắng hạn chếtối đa những tư tưởng tả khuynh về tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, mặc
dù đó là điều không hề dễ dàng trong bối cảnh quốc tế lấy đối đầu giữa các hệ
tư tưởng đối lập là trục chính của các mối quan hệ
Trang 20như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì
bị nước người xâm lấn” [80, tr 217]
Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh các phong trào cách mạng phát triểnsôi sục, Hồ Chí Minh đã biết kế thừa và phát triển những tư tưởng về đoàn kếtdân tộc (trong đó có đoàn kết tôn giáo) của các nhà cách mạng tiền bối Người
đã phê phán con đường cứu nước của Phan Bội Châu, nhưng không có nghĩa làNgười không nhận thấy yếu tố tiến bộ trong đó có quan điểm về tôn giáo, tínngưỡng Phan Bộ Châu nhận xét về tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở nước tađầu thế kỷ XX: “Người Việt Nam mọi việc đều cầu ở thần, phần lễ thờ thầnthật là trọng hậu, thật là cẩn thận Nhưng trọng lắm thì đắm đuối nhiều, cẩnthận quá thì mê hoặc sâu… Thậm chí có khi đến cả những khối đá quái gở, gốccây cổ thụ, rừng hoang mả vắng cũng liệt vào hạng thần cứu thế, được dân tônsung, lạy lục, ngày ngày cầu ở thần, bước bước trông vào thần” [9, tr 156]
Từ đó, Phan Bội Châu đã phê phán niềm tin mù quáng vào trời mà quênmất trách nhiệm và sức mạnh của con người Theo ông, đã bị khống chế ở trời,
ở thần thì tất phải có lòng trông mong Trông mong mà được như nguyện thìkhông nói làm gì, nhưng đến khi hy vọng đã cùng rồi, do đó mà sinh ra phỉbáng, oán trách, trời đất tội gì quỷ thần tội gì, bỏ cái trách nhiệm của ngườisống mà đi cầu ở nơi mù mù mịt mịt, và theo ông thì đó thật là sai lầm
Tất nhiên, Phan Bội Châu và các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX khôngchỉ nhấn mạnh vào ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, tín ngưỡng đối với sự thứctỉnh của dân tộc trong phong trào chống Pháp mà còn vạch trần âm mưu củathực dân Pháp hòng lợi dụng tôn giáo để thống trị nhân dân ta Phan Bộ Châunêu rõ: “Chính phủ Pháp nhận thấy dùng vũ lực chinh phục không phải làthượng sách nên mới mượn tôn giáo, thờ di tượng Giêxucrit và cây
Trang 21thánh giá làm trò rồi, để ngầm thi hành chính sách tiêu diệt nòi giống người ta.
Đó là phép màu nhiệm nhất của nước Pháp chinh phục Việt Nam lại được nhàtôn giáo giúp cho thành công” [8, tr 57] Phan Bội Châu quan niệm: “Yêu tổquốc, yêu đồng bào, cứu nhân dân, ghét kẻ thù, các ngươi đã là thần rồi, cần gìphải cầu thần ở bên ngoài đến” [8, tr 156]
Đặc biệt, Phan Bội Châu và các sỹ phu yêu nước đầu thế kỷ XX đã tiếpthu tư tưởng “tự do tín ngưỡng” của các nhà tư tưởng phương tây Trong sách
Quốc văn độc bản của Đông Kinh Nghĩa Thục có viết: “Các nước văn minh
không cấm dân tin các tôn giáo khác, gọi là tự do tín ngưỡng Ngày nay, chúng
ta được theo tôn giáo nào mình yêu thích mà thôi Nhưng phàm theo tôn giáonào cũng cần biết rõ tôn chỉ của tôn giáo đó, rồi hết sức thực hành Còn như chỉthắp hương lễ bái thì không thể nói là tin theo được” [30, tr 54]
Sinh thời đất nước có ngoại bang đô hộ, Phan Bội Châu mong mỏi đấtnước được độc lập, nhân dân được tự do; nguyện vọng chân chính của ông làhết sức đáng trân trọng Vì lẽ đó, Phan Bội Châu mong muốn mọi người khôngphân biệt là ai, theo tôn giáo nào, phải đoàn kết lại chống quân xâm lược Ôngviết: “Ta trông mong các nhà tôn giáo, không nên bàn tôn giáo nào phải haytrái mà chỉ nên bàn nước mình mạnh hay yếu, không nên bàn tôn giáo nàogiống nhau, khác nhau, mà nên bàn nước còn hay mất
Hãy một lòng yêu nước, yêu nòi, liều chết chống giặc Hãy một lòng vìnghĩa Nếu được như thế thì không cần phải bàn là theo đạo Khổng, đạo Phậthay đạo Datô Về sau nếu muốn theo đạo nào thì cũng còn nòi giống để màtheo Nếu không thế thì nòi mất rồi, giống tuyệt rồi lấy đâu mà tôn sùng tôngiáo nào nữa” [9, tr 164]
Như vậy, dưới góc độ khoan dung tôn giáo, Phan Bội Châu đã cónhững đóng góp quan trọng, ông tìm thấy những nét tích cực ở Công giáo, ông
đã đạt tới đích là xây dựng được tình đoàn kết với đồng bào Công giáo dù
Trang 22ở một mức độ nhất định để thực hiện mục đích đấu tranh chống Pháp giành độclập Đó cũng chính là đạt được sự đồng thuận trên thực tế nhằm hướng tới giá trị chân,thiện, mỹ cao nhất ở thời điểm đó là đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
Đương thời, Hồ Chí Minh không thể không biết đến những tư tưởngtrên Như vậy, Người đã tiếp nhận sâu sắc tư tưởng khoan dung tôn giáo củadân tộc trên một tầm cao mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời Người xử
lý một cách sáng tạo và linh hoạt vấn đề tôn giáo để đảm bảo khối đoàn kếtlương giáo thật sự, góp phần vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc
1.1.2.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo.
Hồ Chí Minh từng viết: “Và về cách mạng thì cần đọc các tác phẩm củaLênin” [77, tr 454], và “Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháplàm việc biện chứng” [109, tr 36] Chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập tới nhữngnét rất cơ bản về nguồn gốc, bản chất và chức năng của tôn giáo Song vấn đề
liên quan trực tiếp tới đề tài của luận văn là chức năng liên kết của tôn giáo.
Đây là vấn đề rất quan trọng đối với Hồ Chí Minh vì có liên kết đồng bàolương và đồng bào giáo thì sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân mới đượcthực hiện; nhờ đó mà kẻ thù không thể thực hiện được giã tâm của chúng làchia rẽ dân tộc qua chia rẽ tôn giáo
Theo C.Mác, tôn giáo không chỉ có mặt tiêu cực mà còn có cả mặt tíchcực nhất định vì sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nànhiện thực, đồng thời nó lại vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiệnthực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức làm dịu bớt nỗi khổđau, sự uất hận đè nặng lên số phận của mỗi con người Tôn giáo là trái tim củathế giới không có trái tim Dù tôn giáo là “bông hoa giả” điểm trang cho xiềngxích, nhưng nó vẫn hơn là một xã hội chỉ có gông cùm và ngục tối Vấn đềkhông phải là vứt bông hoa giả mà là phải vứt bỏ bản thân xiềng xích
22
Trang 23cần có bông hoa giả ấy, để loài người “giơ tay hái lấy bông hoa thật” cho chínhmình Tính trừ ác, hướng thiện, giáo dục đạo đức cho con người là một đặctrưng trội, vốn có của tôn giáo Đảng ta cũng khẳng định những giá trị đạo đức
và văn hóa của tôn giáo có nhiều tích cực và sẽ có những đóng góp nhất địnhtrong sự nghiệp xây dựng đất nước
Với tư cách là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng, tôn giáo đóngvai trò quan trọng trong sự liên kết xã hội dựa trên các hệ thống giá trị vàchuẩn mực chung của hành vi xã hội Nhưng cũng không nên vì thế mà sai lầmcho rằng tôn giao bao giờ cũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, đảm bảo sựthống nhất của xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì sự thốngnhất xã hội trước hết được bảo đảm bởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội chứkhông phải bởi cộng đồng tín ngưỡng, tôn giáo
Trên đây là những cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành lên tư tưởng HồChí Minh về tôn giáo, về đoàn kết tôn giáo Qua đó giúp chúng ta nhận thấyrằng những tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Người là sự kết hợp giữatruyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa trí tuệ nhân loại và ánh sáng của chủnghĩa Mác - Lênin
1.2 Hồ Chí Minh về đối tượng và mục tiêu của đoàn kết lương giáo Cuộc đờicủa Chủ tịch Hồ Chí Minh trải dài theo những sự kiện, những biến cố lớn của
lịch sử thế giới và của dân tộc, một thế kỷ đầy ắp những cuộcchiến tranh và cách mạng, các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và đặc biệt
là sự giải thể của chủ nghĩa thực dân, sự ra đời và tồn tại khá dài của hệ thống
xã hội chủ nghĩa
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những di sản tư tưởng quýbáu về nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo Tư tưởng nàynằm trong hệ tư tưởng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ cáchmạng và phục vụ kiến quốc của Người Các bài viết, những lời dạy của
Trang 24Bác đối với các tôn giáo nói chung; đối với tín đồ, giáo sỹ, nhà tu hành của cáctôn giáo nói riêng là những bài học quý báu.
Đoàn kết là một tư tưởng cơ bản, bao trùm và có ý nghĩa quyết định sựthành công trong cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đối với tôngiáo thì chân tình và bền vững như là một điều kiện tiên quyết để thực hiệnđoàn kết Xét cho cùng, các tôn giáo chân chính đều mong muốn giải thoát conngười, đều mong muốn con người được hạnh phúc, sung sướng, tự do Tín đồcác tôn giáo căn bản đều là những người lao động bị chế độ cũ bóc lột Họ đều
là những người yêu nước thực sự và họ là lực lượng của cách mạng, là bộ phậnquan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Tư tưởng đoàn kết tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
là nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Vì vậy, tưtưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo là một bộ phận của tư tưởng Hồ ChíMinh nói chung, đó là sự vận dụng sáng tạo và phát triển những quan điểm cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh cụ thể của ViệtNam
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiêncứu một chủ nghĩa Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác Cách đây 2000năm, Đức Chúa Giêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta Điều đó đếnbây giờ vẫn chưa thực hiện được” [81, tr 272]
Người cũng cho rằng: “Tín đồ phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia tô tin ởđức Chúa trời cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng Đó là những vị chí tôn nênchúng ta tin tưởng” [81, tr 148] Mặc dù thế giới quan của người cộng sảnkhác với thế giới quan tôn giáo song không vì vậy mà đối đầu, nghi kỵ nhau;ngược lại, phải tôn trọng đức tin của mỗi người
1.2.1 Đối tượng của đoàn kết lương giáo
Trang 25Có thể nói, cho đến nửa đầu thế kỷ XX, vấn đề tôn giáo trong đời sốngchính trị xã hội thế giới chủ yếu vẫn là vấn đề với Công giáo, với Vatican Đốivới những người mácxít trong vấn đề tôn giáo cũng là giai đoạn có những sựđụng độ quyết liệt hoặc âm thầm Sau cách mạng Tháng 10 Nga, nước Nga xôviết tuyên bố tự do tôn giáo và cho phép Chính thống giáo được đặt giáo chủ ởMatxcơva Nhưng đến Hiến pháp 1939, điều 124 lại xác định là tự do tôn giáo
và tự do tuyên truyền chống tôn giáo
Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời do Bác chủtọa ngày 3/9/1945, Người đã phát biểu: “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố:
Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” [81, tr 9] Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn cho rằng nhân dân có quyền tự do tín ngưỡng và phải tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng, tự do thờ cúng của mọi người Người từng nói: “Chúng tôi xinnói rõ để tránh mọi sự có thể hiểu lầm… vấn đề tôn giáo, thì Đảng Lao độngViệt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người” [87, tr.184]
Theo Người, đối tượng đoàn kết lương giáo gồm:
Một là, đoàn kết giữa những người theo tôn giáo với những người không theo tôn giáo, trong đó có những người cộng sản.
Hồ Chí Minh là người mácxít theo quan điểm duy vật, đồng thời cũng làngười cộng sản chân chính Theo Bác, người cộng sản muốn làm cách mạngthắng lợi phải đoàn kết, tập hợp được hết thảy mọi tầng lớp nhân dân, trong đó
có tín đồ các tôn giáo Chưa ai tìm thấy ở Người một biểu hiện dù rất nhỏ của
sự bài xích, chế diễu với bất kỳ tôn giáo nào Ngược lại, Hồ Chủ tịch đã tiếpcận và coi tôn giáo, tín ngưỡng là những di sản văn hóa tinh thần, giá trị đạođức của mọi người Bác tìm thấy ở đó những mặt tích cực nhất định để có thể
kế thừa, tiếp thu
Trang 26Hồ Chí Minh cho rằng mọi người Việt Nam đều “có quyền tự do tínngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” [94, tr 593] Mọi công dân
có hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo đều được hưởng mọi quyền lợi của mộtcông dân và phải làm mọi nghĩa vụ của người dân đối với đất nước
Trong thư gửi Giám mục Lê Hữu Từ (1947), Hồ Chí Minh viết: “Chắc
cụ không bao giờ tin rằng, Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết Việt Nam độclập đồng minh đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập, chứkhông phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo
Mà tôi cũng không bao giờ nghi đồng bào Công giáo chống Việt Minh,
vì hơn ai hết, đồng bào Công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôngiáo được hoàn toàn tự do; và tôi chắc ai cũng tuân theo khẩu hiệu: Phụng sựThượng đế và Tổ quốc
Những xích mích nhỏ giữa một số đồng bào, tuy là đáng tiếc, vì đạo đứcgiáo hóa chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự nghiệp đại đoàn kếtcủa chúng ta” [85, tr 44]
Sau cách mạng Tháng tám thành công, một số phần tử phản động tungtin tuyên truyền rằng cộng sản cấm đạo, tiêu diệt tôn giáo, làm cho tín đồ cáctôn giáo hoang mang, dao động Nhưng sự thật hoàn toàn không như vậy Đểmọi người không lầm tưởng tin vào những điều xảo ngôn, Người đã nhấnmạnh rằng bảo vệ tự do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ độilốt tôn giáo để phản Chúa, phản nước Điều này cho thấy rõ tư tưởng khoandung của Người nhưng cũng rất kiên quyết đối với những kẻ lợi dụng tôn giáovào mục đích phi tôn giáo
Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, đảng viên phải biết tôn trọng phongtục, tập quán, tín ngưỡng của mọi người Năm 1955, trong bài trả lời phỏngvấn hãng thông tấn PresTrust (Ấn Độ), Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Củng cốhòa bình, thực hiện thống nhất, độc lập, dân chủ trong toàn quốc Trong sự
Trang 27thực thi nhiệm vụ đó, chúng tôi sẵn sàng hợp tác thành thật với những nhân vậthoặc nhóm Việt Nam nào tán thành ủng hộ mục đích đó bất kể xu hướng chínhtrị và tôn giáo khác nhau”.
Muốn cho nước nhà độc lập, nhân dân thoát khỏi mọi khổ đau, nô lệ,theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các đảng phái, đoàn thể và nhân sỹ trong mặttrận cần phải đoàn kết chặt chẽ, thân ái, giúp đỡ lẫn nhau, thật thà học tậpnhững ưu điểm và phê bình những khuyết điểm của nhau để cùng tiến bộ Vớilực lượng của khối đoàn kết lương giáo, chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn,gian khổ, sẽ đánh thắng mọi kẻ thù
Người cũng luôn căn dặn đảng viên phải hiểu rõ và thực hiện đúng chínhsách của Đảng và Nhà nước để đoàn kết tôn giáo, cùng nhau kháng chiến kiếnquốc Theo Hồ Chí Minh, phải hiểu rõ và làm đúng chính sách của Mặt trận,của Đảng và Chính phủ về vấn đề tôn giáo Phải ra sức giải thích cho đồng bàohiểu chính sách tôn giáo để lương giáo đoàn kết chặt chẽ cùng nhau khángchiến, kiến quốc, thực hiện tự do tín ngưỡng
Như vậy, mặc dù thế giới quan của người cộng sản và những người cótín ngưỡng, tôn giáo khác nhau song cần cùng sát cánh bên nhau để đấu tranhcho mục tiêu chung của dân tộc, cho sự giải phóng con người khỏi mọi ách nôdịch, áp bức và đô hộ của các thế lực ngoại bang
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi
mà còn đoàn kết lâu dài Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là mộtthủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổquốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, cólòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ” [89,
tr 438]
Hai là, đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.
Trang 28Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo Vì vậy, bên cạnhvấn đề đoàn kết lương giáo thì còn cần đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôngiáo khác nhau vì mục tiêu chung của dân tộc Theo Hồ Chí Minh, dưới chế độthực dân phong kiến, đồng bào các tôn giáo đều bị áp bức, bóc lột nặng nề Khi
Tổ quốc bị ngoại bang đô hộ thì các tôn giáo cũng không được tự do Do đó,đồng bào các tôn giáo phải đoàn kết lại và đoàn kết với toàn dân đấu tranhgiành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc và cho tôn giáo phát triển tự do
Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh sự tương đồng giữa các tôn giáo màngười còn tìm ra sự tương đồng giữa các tôn giáo chân chính với chủ nghĩaMác, chủ nghĩa xã hội để thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vàxây dựng đất nước Người coi tôn giáo như là nơi gửi gắm nguyện vọng thathiết của một bộ phận quần chúng lao động mong chờ được giải thoát khỏi ápbức, bất công, nghèo khổ Từ đó cổ vũ họ tích cực tham gia kháng chiến, kiếnquốc Đối với các chức sắc, Người luôn tranh thủ, động viên khơi dậy ở họlòng yêu nước thương nòi và giữ gìn phát huy truyền thống quý báu của dântộc
Hồ Chí Minh nói: “Dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng.Lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều làcông dân của nước Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàntoàn của Tổ quốc” [79, tr 15]
Do đó, các tôn giáo hãy dẹp bỏ những hiềm khích, đoàn kết cùng toàndân lo cho nền độc lập của nước nhà Trong Lễ mừng liên hiệp quốc gia do cácphật tử trong Hội phật giáo cứu quốc tổ chức tại Hà Nội, Người đã nói: “Nướcphật ngày xưa có những bốn đảng phái làm ly tán lòng dân và hại tôn giáo.Nhưng nước Việt Nam ngày nay chỉ có một đảng phái là toàn dân quyết tâmgiành độc lập Tín đồ phật giáo tin ở Phật; tín đồ Gia tô tin ở Chúa trời; cũngnhư chúng ta tin ở đạo Khổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin
Trang 29tưởng Nhưng đối với dân, ta đừng làm gì trái ý dân Dân muốn gì thì ta phảilàm nấy” [82, tr 148].
Năm 1949, Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Công giáo, có đoạn:
“Chúng ta ăn tết Nôel này trong sự đau thương, vì giặc Pháp đã tiến công PhátDiệm, đã xâm phạm đến đất thánh ta, và vì đồng bào Công giáo Phát Diệm,Bùi Chu và nhiều nơi khác đang đau khổ dưới gót sắt của giặc Pháp giã man
Vậy trong tết Nôel này, chúng ta phải nhớ đến đồng bào trong những nơi
ấy, chúng ta phải đoàn kết hơn nữa, kiên quyết hơn nữa để giải phóng đấtthánh của chúng ta, và giải phóng tất cả đất nước của chúng ta” [84, tr 721]
Trong tư tưởng của Người, những gì mang lợi ích cho dân, cho nước thìchúng ta phải ra sức phấn đấu làm cho kỳ được; ta vui ở nơi này mà đâu đótrên đất nước Việt Nam vẫn còn bị đô hộ, nhân dân còn lầm than khổ ải thìniềm vui đó không thể trọn vẹn được Vì lẽ đó, Bác nói: “Tôi tha thiết kêu gọitất cả những người thật thà yêu nước không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡngnào, chính kiến nào và trước đây đã đứng về phe nào, chúng ta thật thà cộngtác, vì dân, vì nước mà phấn đấu để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập,dân chủ trong nước Việt Nam yêu quý của chúng ta” [90, tr 323]
Đoàn kết đồng bào các tôn giáo, đoàn kết đồng bào các tôn giáo với toàndân, Bác Hồ đã từng căn dặn rằng, phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương
và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xâydựng Tổ quốc, phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đốivới tất cả các tôn giáo
Năm 1965, Bác ra lời kêu gọi: “Đồng bào các dân tộc, các tôn giáo hãyđoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, cùng nhau ra sức chống Mỹ, cứu nước”[97, tr 471]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù Công giáo hay không Công giáo, Phậtgiáo hay không Phật giáo đều phải nên nỗ lực đấu tranh cho nền độc lập của
Trang 30nước nhà Để đoàn kết đồng bào các tôn giáo với đồng bào không tín ngưỡng,tôn giáo, thì Mặt trận phải ra sức động viên các tầng lớp nhân dân, các đoànthể, các tôn giáo, các dân tộc… Đoàn kết không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo
vì mục tiêu chung của dân tộc Nhờ nêu cao tinh thần đoàn kết lương giáo mà
Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều giáo sỹ, giáo dân hết lòng đấu tranh cho
sự nghiệp cứu nước, kiến quốc
Người từng tố cáo những tên đội lốt tôn giáo làm những điều tổn hại đếndân, đến nước rằng chính những tên giáo sĩ đã vẽ bản đồ An Nam cho quân độixâm lược Chính bọn họ đã đưa tin cho gián điệp, dẫn đường cho đội viễnchinh và tố giác những người yêu nước… Người mỉa mai cho rằng, nếu có dântộc nào phải nhớ ơn Chúa và các giáo sĩ thì đó chính là dân tộc An Nam! VìChúa và các giáo sĩ mà dân tộc này đã sa vào tình cảnh nô lệ như thế này Qua
đó, Nguyễn Ái Quốc kết luận: Như vậy là người nông dân An Nam không phảichỉ bị trói vào một chiếc cột mà họ còn bị đóng đinh câu rút bởi bốn thế lựcliên hợp là: Nhà nước, tên thực dân, Nhà thờ và tên lái buôn
Qua những phân tích trên ta thấy, với Hồ Chí Minh, tự do tín ngưỡng,tôn giáo chỉ thực sự có được khi đất nước được độc lập Nói cách khác, tự dotín ngưỡng, tôn giáo phải gắn với lợi ích của cả dân tộc; tự do tín ngưỡng, tôngiáo không phải để duy trì và biện hộ cho quan hệ thống trị giai cấp; nó khôngđứng ngoài quyền và trách nhiệm công dân
Như vậy, chúng ta thấy rằng, muốn đoàn kết những người có tínngưỡng, tôn giáo khác nhau thì phải đặt lợi ích của dân tộc, lợi ích của toàndân lên trên hết Muốn đoàn kết lương giáo thì phải tôn trọng quyền tự do tínngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân; khắc phục mặc cảm, định kiến,chống âm mưu chia rẽ của kẻ thù; phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡngchân chính của đồng bào có đạo, bên cạnh đó phải kiên quyết với việc lợi dụngtôn giáo để thực hiện âm mưu về chính trị
Trang 311.2.2 Mục tiêu của đoàn kết lương giáo
Sinh thời, Bác Hồ luôn có một ham muốn tột bậc là nước nhà được độclập, nhân dân được tự do; đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai ai cũng đượchọc hành Tôn giáo và dân tộc có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau ViệtNam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo Lợi ích của từng tôn giáo luôngắn chặt và hòa quyện với lợi ích dân tộc Nước có độc lập thì dân mới thực sự
tự do tín ngưỡng; nước không được độc lập thì tôn giáo không được tự do
Để thực hiện sự đoàn kết dân tộc và tôn giáo, trong những thời điểm
sinh tử, Hồ Chí Minh nêu cao tấm gương của lòng nhân, truyền thống dân tộc
“thương người như thể thương thân” và trên chiều kích mới của chủ nghĩanhân đạo cộng sản Chính sách đoàn kết tôn giáo nói riêng và đoàn kết lươnggiáo nói chung của Hồ Chủ tịch là sự chân thành và là chiến lược lâu dài
Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chú ý giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm tạo
cơ sở về sau để các tôn giáo đề ra tôn chỉ, mục đích hành đạo theo đúng hướng
là gắn bó với dân tộc Chẳng hạn, Phật giáo có khẩu hiệu “Đạo pháp - dân tộc
và chủ nghĩa xã hội”, Công giáo có khẩu hiệu “Sống phúc âm giữa lòng dântộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”, Tin lành có khẩu hiệu “Sống phúc
âm phụng sự Công giáo, phụng sự Tổ quốc và dân tộc”, Cao Đài thì “Nướcvinh, đạo sáng”…
Khi phát biểu trong Hội nghị Mặt trận Liên Việt năm 1955, Ngườikhẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi, mà còn đoàn kết lâu dài.Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị Tađoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoànkết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc
và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” [91, tr 438]
Trang 32Theo Người, khi nào Tổ quốc độc lập, dân giàu, nước mạnh thì các tín
đồ mới được tự mình làm chủ tôn giáo của mình Một người yêu nước chânchính đồng thời cũng là một tín đồ chân chính của đức Giê su Tôn giáo còn lànhu cầu của một bộ phận nhân dân nên nó sẽ còn tồn tại lâu dài Chính vì vậy,kính Chúa phải gắn liền với yêu nước, nước có vinh thì đạo mới sáng, nước cóđộc lập thì tín ngưỡng mới được tự do Một người dân Việt Nam vừa có thể làmột người dân yêu nước, đồng thời vẫn có thể là một tín đồ chân chính Ngườicông giáo tốt trước hết phải là người công dân tốt
Đại đa số nhân dân ta đã đoàn kết nên đã diệt được chế độ quân chủphong kiến và sự trói buộc của đế quốc thực dân Người cộng sản, trước saunhư một, chưa và sẽ không bao giờ phủ nhận sự tồn tại của tôn giáo, cũng nhưchưa khi nào có chủ trương chống lại tôn giáo; mà chỉ chống và kiên quyếtchống những kẻ lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị phản động Thực tế đãchứng minh, nếu chúng ta tuyên chiến với tôn giáo, thực chất đó sẽ là phươngpháp tốt nhất làm kích động thêm sự quan tâm của người ta đối với tôn giáo.Theo V.I.Lênin, điều mà người cộng sản cần và có trách nhiệm là: “Đoàn kết
họ lại vì cuộc đấu tranh thực sự nhằm giành lấy cuộc đời tốt đẹp hơn trên trầnthế” [55, tr 170]
Ở Việt Nam cũng vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam không những không tiêudiệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo Đối với các nước xã hội chủ nghĩa và ở Việt Nam,tín ngưỡng, tôn giáo là hoàn toàn tự do Nó là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhândân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bên lương và bên giáo đều mơ ước về một xã hội tốt đẹp và phấn đấu đểđạt ước mơ đó Nhưng phương pháp để đạt mục đích ấy có sự khác nhau; tấtnhiên, không phải vì thế mà người cộng sản lại phủ nhận nhu cầu hướng tớithiên đường của quần chúng có tôn giáo Cách mạng là sự nghiệp chung
32
Trang 33của nhân dân chứ không phải việc của một, hai người; vì vậy, phải vận độngmọi người cùng tham gia Đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một truyềnthống tốt đẹp của ta.
Vì vậy, mục tiêu của đoàn kết lương giáo của Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng con người thoát khỏi sự nô dịch, áp bức, bất công
và cơm no, áo ấm cho mọi người.
1.3 Hồ Chí Minh về nội dung của đoàn kết lương giáo
Thực tiễn Việt Nam cho thấy, trong thời kỳ xâm lược và đô hộ ViệtNam, thực dân Pháp đã cấu kết với một bộ phận phản động của Giáo hội Cônggiáo Chúng sử dụng Công giáo như một công cụ áp bức và bóc lột nhân dân
ta Điều này đã làm cho một bộ phận nhân dân không theo Công giáo có mặccảm, thành kiến với tôn giáo này Âm mưu chia rẽ lương giáo của các thế lựcthù địch, phản động đã để lại hậu quả nặng nề, làm rạn nứt và suy yếu khối đạiđoàn kết dân tộc Trước tình hình đó, chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngônđộc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, khi đề ra 6 nhiệm vụ cấp báchtrước mắt, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Thực dân phong kiến thi hành chính sáchchia rẽ đồng bào giáo với đồng bào lương để dễ bề thống trị Tôi đề nghị Chínhphủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” [81, tr 9] Nộidung đoàn kết lương giáo, theo Hồ Chí Minh phải thể hiện trên các lĩnh vực:
1.3.1 Đoàn kết lương giáo trên lĩnh vực chính trị
Khi tiến hành xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã sử dụng thủ đoạntuyên truyền trong đồng bào Công giáo rằng cộng sản là kẻ thù của Công giáo,
Hồ Chí Minh là cộng sản nên người giáo hữu không thể đồng hành với Chínhphủ Hồ Chí Minh Từ thực tế này, Người đã rất quan tâm đến công tác đoànkết trong vùng đồng bào Công giáo nói riêng, trong đồng bào có các tín đồ cáctôn giáo nói chung và với toàn dân tộc
Trang 34Bất cứ ở đâu, hễ có dịp là Hồ Chí Minh luôn kêu gọi, nhắc nhở đồng bàophải đoàn kết, tương thân, tương ái lẫn nhau, không phân chia lương giáo.Trong thư gửi đồng bào Công giáo trong dịp lễ Nooel năm 1947, Người viết:
“Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương đoàn kết kháng chiến để Tổ quốcđược độc lập, tôn giáo được tự do” [84, tr 333] Năm 1952, Người viết: “Tôimong tất cả đồng bào Công giáo chúng ta đoàn kết chặt chẽ với đồng bào toànquốc, kháng chiến mạnh hơn để tiêu diệt bọn xâm lược và bè lũ Việt gian bánnước, giải phóng cho Tổ quốc và làm sáng danh Đức Chúa” [87, tr 680]
Hồ Chí Minh luôn coi vấn đề đoàn kết lương giáo là một nhân tố hết sứcquan trọng để thực hiện lí tưởng chính trị xã hội, thực hiện khát vọng hòa bình,dân chủ và giàu mạnh Là người cộng sản nhưng Người luôn có thái độ mềmdẻo, linh hoạt đối với các tôn giáo Người phát hiện ra những giá trị tích cựccủa Công giáo gần gũi với lí tưởng của người cộng sản Vì vậy, Người chủtrương thiết lập tình đoàn kết giữa cộng sản với đồng bào Công giáo là cơ sở
để đập tan luận điệu của kể thù Hồ Chí Minh nói: “Mục đích của Chính phủ tatheo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân Song
để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người, cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội.Nếu đức Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước nỗi khổđau của người đương thời, chắc ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìmđường cứu khổ loài người” [110, tr 79]
Hồ Chí Minh đã chứng minh rằng cộng sản và Công giáo không phải là
kẻ thù của nhau Người nói: “Người tôn giáo nào cũng được, miễn là trungthành, hăng hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật Đảng Nước ta kinh tế lạc hậu,
kỹ thuật thấp kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điềukiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được” [89, tr.115] Đồng thời,Người cũng khẳng định rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng những khôngtiêu diệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo Đảng Cộng sản chỉ tiêu diệt
Trang 35tội ác người bóc lột người Quan điểm này của Hồ Chí Minh chính là sự khẳngđịnh cho tư tưởng đoàn kết lương giáo không phải là một thủ đoạn chính trịnhất thời mà đó là một chủ trương nhất quán, lâu dài của Đảng và Chính phủViệt Nam Bên cạnh đó, nó xóa đi mặc cảm với người theo tôn giáo và tập hợpđược một lực lượng xã hội đông đảo tham gia cách mạng Hồ Chí Minh đãkhông đấu tranh trực diện với thần học Cơ Đốc giáo mà thường xuyên nhấnmạnh sự thống nhất giữa các tôn giáo với chủ nghĩa Mác, với chủ nghĩa xã hội,với cuộc kháng chiến của nhân dân ta về mục tiêu khát vọng đấu tranh choquyền lợi của nhân dân và các dân tộc bị áp bức Đây cũng chính là nét độcđáo trong chiến lược đoàn kết lương giáo của Hồ Chí Minh Chính Người đã
bổ sung và làm phong phú thêm vào kho tàng lí luận của chủ nghĩa Mác Lênin về tôn giáo
-Có thể nói, trong thời kỳ đó, tư tưởng đoàn kết lương giáo về mặt chínhtrị là rất quan trọng so với các hình thức đoàn kết khác
1.3.2 Đoàn kết lương giáo trên lĩnh vực kinh tế
Với Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết lương giáo không bằng hô hào màphải bằng những chính sách cụ thể Người luôn trăn trở: “Các cấp ủy phải thậtquan tâm đến phần đời và phần đạo của đồng bào Công giáo” [97, tr 83]; làmthế nào để “sản xuất càng phát triển, phần xác ta được ấm no thì phần hồn cũngđược yên vui” [92, tr 285] Vì vậy, Người rất quan tâm đến lợi ích của quầnchúng giáo dân, trước hết là lợi ích vật chất Bác nói: “Đối với nhân dân, Chínhphủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết như cải thiện đời sống của nhândân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa… Cónhư thế, dân chúng mới đoàn kết chung quanh Chính phủ, mới vì quyền lợithiết thân của mình mà hy sinh sống chết giết giặc” [81, tr 227]
Như vậy, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thấy động lực để củng cố vàphát triển khối đoàn kết toàn dân là phải đảm bảo công bằng và bình đẳng xã
Trang 36hội, chăm lo đến lợi ích chính đáng, thiết thực của nhân dân trong đó có đồngbào các tôn giáo, đặc biệt là phân phối của cải vật chất, tăng trưởng kinh tếphải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội.
Đồng thời, để đoàn kết lương giáo thì cần phải tập trung xây dựng vàphát triển kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không quên nêu tấm gương sángcủa Chua Người viết: “Chúa Cơ đốc hy sinh để cứu loài người khỏi ách nô lệ
và đưa loài người về hạnh phúc, bình đẳng, bác ái, tự do… Phúc âm dạy chúng
ta rằng: Chúa Cơ đốc sinh ra làm gương mọi giống phúc đức như: hy sinh vìnước vì dân, làm gương lao động, công bằng ruộng đất, tin thờ Chúa bằng tinhthần Chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cảicách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do…” [89, tr 297]
Hồ Chí Minh thường nhắc đến hình ảnh tốt đời, đẹp đạo với mong muốnsao cho sinh hoạt tôn giáo và đời sống ngày thường phù hợp, mang lại niềmvui hạnh phúc cho đồng bào Giáo dân không thể chịu rét, chịu đói để đi lễ.Muốn cho dân vừa ấm no phần xác, vừa thong dong phần hồn thì phải giúp họsản xuất ra của cải vật chất và có cuộc sống xã hội lành mạnh, yên vui Ngườiviết: “… sáng danh Thiêu Chúa trên các tầng giới, hòa bình cho người lànhdưới thế” [92, tr 285]ư
Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thờ Chúa không phải làthoát tục, rời bỏ sản xuất và các hoạt động xã hội khác Người Công giáo giữniềm tin tôn giáo trong cõi tâm linh tinh thần và trong hoạt động tôn giáo, còntrong đời sống lao động sản xuất, họ phải luôn làm tròn nghĩa vụ công dân
Như vậy, để cho hoạt động tôn giáo được tốt thì lương giáo phải đoànkết, chăm lo phát triển kinh tế
1.3.3 Đoàn kết lương giáo trên lĩnh vực văn hóa
Trang 37Ngay từ khi du nhập vào nước ta, Công giáo đã có sự điều chỉnh phùhợp để thích ứng dần với nền văn hóa Việt Nam Sau Công đồng Vatican II, đa
số giáo dân đều thờ tổ tiên, đều làm giỗ cha mẹ, đều tôn trọng các anh hùngdân tộc Họ vẫn thấy những người dân và những người theo các tôn giáo khác
là anh em của mình Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã buộc các giáo sĩnước ta cũng phải đứng về phía dân tộc Nhận thấy điều này, Hồ Chí Minh đãkhông ngừng xây dựng và phát huy khối đoàn kết lương giáo trên lĩnh vực vănhóa
Mâu thuẫn chủ yếu của cách mạng Việt Nam lúc đó là toàn thể dân tộc
ta với đế quốc xâm lược, cuộc đấu tranh do những người cộng sản lãnh đạo cầnthiết phải tập hợp được tất cả các tầng lớp nhân dân, trong đó có đồng bào cáctôn giáo Vì vậy, Người không đặt vấn đề đấu tranh về mặt thế giới quan giữaCông giáo và chủ nghĩa cộng sản Ngược lại, Hồ Chí Minh đề cao sự tươngđồng giữa lí tưởng và khát vọng chân chính của giáo lí Công giáo với khátvọng lí tưởng của chủ nghĩa cộng sản đều phấn đấu vì hạnh phúc của conngười
Những điều này làm cho tín đồ các tôn giáo đều hiểu được, điều này rất
có lợi cho cách mạng, cho đất nước Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh đã biết kết hợpcông tác chính trị với nghi lễ tôn giáo chân chính để củng cố khối đoàn kết toàndân.Việc ký Sắc lệnh của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa ngày 18 tháng 2 năm 1946 ấn định các ngày lễ, tết, ngày kỷ niệm và cácngày lễ của các tôn giáo là một minh chứng sâu sắc nhất; đó là một việc làmhợp lòng dân Điều này càng củng cố và tăng thêm lòng tin của giáo dân đốivới Chính phủ và cách mạng Người cũng luôn hết sức trân trọng các nghi lễtôn giáo Người thường vận dụng các nghi lễ đó nhằm mục đích làm cho ngườidân biết trân trọng, ngưỡng mộ những giá trị thiêng liêng như tổ tiên, truyềnthống, tình đoàn kết…
Trang 38Các tôn giáo, ngoài các giá trị văn hóa tinh thần còn có những giá trị vềvăn hóa vật chất, đó là những đóng góp về nghệ thuật, kiến trúc… và chúng tacoi đó là những giá trị văn hóa góp phần vào sự hình thành bản sắc văn hóadân tộc; đồng thời, nó cũng là yếu tố để xây dựng một nền văn hóa mới HồChí Minh luôn giáo dục quần chúng có ý thức giữ gìn và phát huy những giá trịvăn hóa vật chất và tinh thần của các tôn giáo.
1.4 Hồ Chí Minh về phương pháp thực hiện đoàn kết lương giáo Trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn
giáo, tín ngưỡng luôn có sự gắn bó chặt chẽ giữa thực tiễn đấu tranh giai cấp
và dân tộc, giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta và trong điều kiệnthế giới phân chia thành hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đốilập nhau quyết liệt với những vấn đề tôn giáo tín ngưỡng đa dạng, phức tạp.Cách “chữa bệnh tôn giáo” của Hồ Chí Minh không chỉ liên quan đến các tôngiáo cụ thể mà còn chống sự tha hóa, biến chất của bộ máy Nhà nước, Đảngcầm quyền và những vấn đề con người nói chung
Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; tự mìnhbày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều ngườikhác, một cách công khai hoặc thầm kín, dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện,thực hành và giảng đạo Không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màugia, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo… Tự do tôn giáo hay tín ngưỡng cần đượctôn trọng và bảo đảm đầy đủ
Nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn lịch sử, HồChí Minh đã đúc rút ra một số vấn đề cốt lõi, mang tính định hướng về phươngpháp thực hiện đoàn kết lương giáo như sau:
1.4.1 Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân
Nhu cầu tôn giáo không phải ngẫu nhiên mà có, nó chính là do nhữngđiều kiện tự nhiên và xã hội tạo nên Nó thay đổi theo những biến
Trang 39đổi của đời sống xã hội Nhu cầu đó vừa có tính cộng đồng, vừa mang tính cánhân, xuất phát từ sự mong muốn dựa vào sức mạnh thần bí siêu nhiên để hỗtrợ cho bản thân vượt lên trên những khó khăn trong cuộc đấu tranh để sinhtồn.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu, học tập và phát huy lý luận Mác - Lênin vàomột quốc gia cụ thể Người đã nắm lấy tinh thần của chủ nghĩa Mác để soi vàolịch sử dân tộc; hơn ai hết, Người nhận thức rõ Việt Nam khác với nhiều dântộc khác là trong lịch sử chưa từng xảy ra chiến tranh tôn giáo mà lại diễn ra sự
“đồng quy”, “đồng nguyên” của các tôn giáo ngoại nhập trên cơ sở tín ngưỡng,tôn giáo bản địa Song khi Thiên Chúa giáo xâm nhập vào thì phát sinh mâuthuẫn về tôn giáo Tuy có những mâu thuẫn và bất đồng nhất định; song HồChí Minh đã tìm ra cái tương đồng của các tôn giáo, trên cơ sở thực hiện sựhòa hợp, đoàn kết vì mục tiêu lý tưởng cách mạng Không chỉ tìm ra sự tươngđồng của các tôn giáo, Người còn tìm ra sự tương đồng giữa tôn giáo chânchính với lý tưởng cộng sản Đặc biệt là phương pháp xử lý vấn đề tôn giáo màNgười đề ra và thực hiện thành công là tôn trọng, quan tâm, tế nhị, khéo léo vàkiên quyết Đây chính là điểm khác biệt, là đóng góp vào kho tàng lý luậnmácxít về tôn giáo của Hồ Chí Minh
Trong tư tưởng của Người, muốn xây dựng được khối đoàn kết lươnggiáo thì phải tôn trọng niềm tin tôn giáo của quần chúng Mọi sự xúc phạm đếntín ngưỡng, tôn giáo dù lớn hay nhỏ, dưới mục đích gì đều có thể gây nênnhững hiềm khích, đố kỵ nhau, là mầm mống chia rẽ giữa lương và giáo Vìvậy, Hồ Chí Minh luôn luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải học tập, nghiêncứu phong tục, tín ngưỡng của nhân dân để có thể làm tốt công tác của mìnhđược giao về lĩnh vực này, tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra mà các thếlực thù địch lợi dụng phá hoại Sự quan tâm này của Người được thể hiện quatừng lời nói, từng hành động cụ thể Bác viết: “Tránh phạm đến phong tục
Trang 40tập quán, tín ngưỡng của dân” và nên “tìm hiểu phong tục tập quán nghiêm túcchấp hành điều kiêng” [74, tr 122].
Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra nội dung tư tưởng đó mà còn chỉ ra chochúng ta biết những điều có thể gây phương hại đến quyền đó và chỉ ra phươngthức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Muốn làm tốt điều này, theoNgười thì phải “nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi, trước hết là để gâycảm tình và sau để dần dần giải thích cho dân bớt mê tín” [84, tr 410]
Người cũng lấy ví dụ rất cụ thể, đó là không nằm trước bàn thờ, khônggiơ chân lên bếp… Tư tưởng về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
Hồ Chí Minh là thống nhất và xuyên suốt trong cả cuộc đời hoạt động cáchmạng Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946, vấn đề nhân dân có quyền tự dotín ngưỡng được tuyên bố một cách chính thức Tháng 3/1951, tại Điều 7 Điểm
1 Chính cương của Mặt trận Liên Việt nêu rõ: “Tôn trọng quyền tự do tínngưỡng, tự do thờ cúng của mọi người” Theo tư tưởng của Người thì vấn đềtôn giáo là quyền tự do tín ngưỡng của mọi người Hồ Chí Minh đã coi tôngiáo như một di sản văn hóa của loài người và tìm thấy ở nó nhiều ưu điểm cóthể kế thừa và tiếp thu
Hồ Chí Minh từng viết: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu mộtchủ nghĩa Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác” [82, tr 272] TheoNgười, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của con người và quyền ấy phảiđược tôn trọng, mọi người phải có một thái độ đúng mực Không được nhạobáng hay khinh thường tôn giáo của người khác mà đề cao quá mức tôn giáocủa mình Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để đoàn kết lương giáo nhưngphải thận trọng để tránh bị các thế lực thù địch lợi dụng Bác viết: “Trong mộtnước văn minh, có tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, nhưng không được vukhống người khác Tự do tuyên truyền chứ không phải tự do vô lễ” [110, tr.75]