1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế (nghiên cứu tại tỉnh hải dương)

98 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 144,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNĐể hoàn thành được cuốn luận văn với đề tài Chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế Nghiên cứu tại tỉnh Hải Dương, bên cạnh những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

-LÊ QUANG HIỆP

CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO VIỆC TIN HỌC HÓA HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HẢI DƯƠNG)

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60 34 04 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG VĂN TÚ

Hà Nội - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được cuốn luận văn với đề tài Chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế (Nghiên cứu tại tỉnh Hải Dương), bên cạnh những nổ lực của bản thân, vận dụng những

kiến thức tiếp thu được từ việc giảng dạy của các thầy cô, cùng với sự tìmhiểu thêm về tài liệu, thông tin có liên quan đến đề tài, tác giả luôn nhận được

sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô, những lời động viên khuyếnkhích từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn theo suốt trong quá trìnhthực hiện luận văn

Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy/Cô trong Khoa Khoa họcquản lý, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, đặc biệt xin chân thành cảm ơnPGS.TS Hoàng Văn Tú người đã hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này.Tác giả cũng xin cảm ơn các bạn và đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, thôngtin để tác giả có thêm kiến thức hữu ích cho luận văn của mình

Nhưng do đề tài nghiên cứu với thời gian hạn hẹp và khả năng còn hạnchế, nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhậnđược sự góp ý chân thành của quý thầy cô, các bạn và các đồng nghiệp đểkiến thức của tác giả trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 06 năm 2016

Người thực hiện

Lê Quang Hiệp

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 5

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do nghiên cứu 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Câu hỏi nghiên cứu 11

6 Giả thuyết nghiên cứu 11

7 Mẫu khảo sát 11

8 Phương pháp nghiên cứu 12

9 Kết cấu của Luận văn 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO VIỆC TIN HỌC HÓA HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ 13

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 13

1.1.1 Khái niệm chính sách 13

1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ 16

1.1.3 Các loại tác động của chính sách 17

1.1.4 Mục tiêu và phương tiện của chính sách 18

1.1.5 Hiệu quả của chính sách 19

1.1.6 Hiệu lực của chính sách 23

1.2 Khái niệm chính sách định hướng CNTT vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế 24

1.2.1 Công nghệ thông tin trong hoạt động bảo hiểm y tế 24

1.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động bảo hiểm y tế 26

Trang 4

1.2.3 Nội dung cơ bản của chính sách định hướng công nghệ thông tin

vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế 27

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách định hướng CNTT trong bảo hiểm y tế 30

1.3.1 Hệ thống phần mềm ứng dụng và dịch vụ 30

1.3.2 Hệ thống phần mềm nền tảng 30

1.3.3 Cơ sở hạ tầng thông tin 30

1.3.4 Hệ thống an toàn, an ninh bảo mật dữ liệu 31

1.3.5 Quản trị hệ thống thông tin 31

1.3.6 Người sử dụng 31

1.3.7 Thiết kế có tính mở 32

Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO VIỆC TIN HỌC HÓA HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG 34

2.1 Tổng quan về tin học hóa hệ thống Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương 34

2.1.1 Khái quát hệ thống công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Hải Dương 34

2.1.2 Hệ thống bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương 36

2.1.3 Tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế trên địa bàn Hải Dương 40

2.2 Thực trạng chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương 42

2.2.1 Thực trạng việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương 42

2.2.2 Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo hiểm y tế 48

2.2.3 Mục tiêu cụ thể ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo hiểm y tế 48

Trang 5

2.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách công nghệ thông tin vào việc

tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương 53

2.3.1 Kết quả chung 53

2.3.2 Nối mạng trong cơ quan bảo hiểm 58

2.3.3 Ứng dụng các phần mềm quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 59

2.3.4 Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao 61

Tiểu kết Chương 2 61

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO VIỆC TIN HỌC HÓA HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG 63

3.1 Mục tiêu và phương tiện của chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế 63

3.1.1 Mục tiêu của chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế 63

3.1.2 Phương tiện của chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế 67

3.2 Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển công nghệ thông tin tỉnh Hải Dương đến năm 2020 71

3.2.1 Định hướng phát triển 71

3.2.2 Mục tiêu phát triển 72

3.2.3 Giải pháp hoàn thiện chính sách tin học hóa bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương 72

3.3 Tác động của chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế 76

3.3.1 Tác động dương tính 76

3.3.2 Tổng quan về tác động âm tính 78

3.3.3 Tác động âm tính cụ thể 78

3.3.4 Khó khăn trong triển khai Luật Bảo hiểm y tế 83

Trang 6

3.4 Giải pháp về phát triển công nghệ thông tin trong bảo hiểm y tế 85

3.4.1 Định hướng chính sách phát triển công nghệ thông tin vào việc tin

học hoá hệ thống ngành y tế 85

3.4.2 Mục tiêu của chính sách phát triển công nghệ thông tin trong ngành y tế 86

3.4.3 Nhiệm vụ của chính sách phát triển công nghệ thông tin trong ngành y tế 87

Tiểu kết chương 3 90

KẾT LUẬN 91

KHUYẾN NGHỊ 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Bảo hiểmKhám chữa bệnhHội đồng nhân dân

Ủy ban nhân dânTrung ươngCải cách hành chính

Cơ quan nhà nước

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

Công nghệ thông tin (CNTT) là một trong các động lực quan trọng nhấtcủa sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác, CNTT đanglàm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại.Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giảiphóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy côngcuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế

Xác định tầm quan trọng của CNTT trong thời kỳ đổi mới, ngày

27/08/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định phê duyệt "Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015" Giai đoạn 2011-2015 được coi là giai đoạn

đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam, hầu hết các cơ quan đềuđược đầu tư tương đối lớn nhằm nâng cao năng lực CNTT

Với tầm quan trọng của CNTT đã nêu trên , đã có nhiều cơ quan, đơn

vị, tổ chức triển khai một số đề tài nghiên cứu liên quan tới ứng dụng côngnghệ CNTT làm công cụ để góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý,

giáo dục, nghiên cứu và điều trị như: "Ứng dụng CNTT vào cải cách thủ tục hành chính " "Úng dụng CNTT nâng cao hiệu quả công tác điều trị "….

Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý BHYT, hiệnđại hóa thông tin quản lý ngành BHYT trở thành nhu cầu thiết thực và cấpbách Hệ thống thông tin quản lý BHYT được hiện đại hóa sẽ mang lại hiệuquả kinh tế - xã hội cao và đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết địnhđến hiệu lực và hiệu quả quản lý của hệ thống BHYT Việt Nam

Thời gian qua cũng có rất nhiều các văn bản pháp luật được Nhà nước

và Chính phủ đưa ra nhằm đẩy mạnh hoạt động CNTT trong lĩnh vực bảohiểm nói chung và BHYT nói riêng Đặc biệt là ở tỉnh Hải Dương việc ứng

Trang 10

dụng CNTT trong các hoạt động tại bệnh viện dường như vẫn chưa được quantâm một cách thoả đáng để nâng cao năng lực hoạt động cho bệnh viện Chính

vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn tên đề tài là Chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế (Nghiên cứu tại tỉnh Hải Dương), để làm nghiên cứu cho Luận văn của mình.

Cùng với sự phát triển tin học ở mọi lĩnh vực, các nước đã đưa tin họchóa vào mọi lĩnh vực của cuộc sống và tạo ra một cuộc cách mạng và bùng nổthông tin hay còn gọi là “kỷ nguyên truyền thông” Chính vì vậy trên thế giới

và ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề này Cóthể kể đến một số công trình sau:

Bodnar George H (1995), “Accounting Information Systems”, New

Jersey, Prentice-Hall, 1995, 6th Edition, 684 pg

Huy Tài (2009), Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của

Cơ quan nhà nước giai đoạn 2009- 2010, http://www.customs.gov.vn (trang

web của Tổng cục Hải Quan) Tác giả của bài báo chủ yếu phân tích một cáchtổng quan những khả năng và điều kiện thực hiện Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn2009-2010 Chương trình đã đưa ra Kế hoạch triển khai các nhiệm vụ trọngtâm trong năm 2012 gồm 5 nội dung là: Xây dựng văn bản hướng dẫn triểnkhai Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011-2020, trong đó nêu rõ cácnội ung ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN xây dựng quy định vềquy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý văn bản điện tử; Xây dựng Dự án “Cơ sở dữliệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức”; Triển khai công tác thông tin,tuyên truyền về CCHC; Tổ chức các buổi làm việc nhằm đôn đốc, kiểm tracông tác gắn kết ứng dụng CNTT với CCHC tại các Bộ, ngành, địa phương

Trang 11

Nguyễn Lệ Thu “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển và ứng dụng chính phủ điện tử thế hệ mới tại Việt Nam’’ Năm 2010 Cục

Ứng dụng CNTT, đã chỉ ra mức độ phát triển Chính phủ điện tử dựa trên banền tảng chính đó là: Mức độ trực tuyến, hạ tầng viễn thông, nguồn nhân lực

và đề xuất chính sách hỗ trợ đầu tư mạnh mẽ vào xây dựng nguồn nhân lực cóchất lượng cao, có chính sách đãi ngộ phù hợp, xây dựng hạ tầng viễn thôngtiên tiến kết nối đầy đủ giữa các cơ quan nhà nước với người dân và doanhnghiệp, cung cấp các dịch vụ dùng chung cho phép tối ưu hóa hiệu quả đầu tư

và nguồn lực Chính phủ Đề tài này tác giả nghiên cứu trong phạm vi diệnrộng thực hiện chung cho cả nước để hướng mô hình Chính phủ điện tử trongtương lai

Phạm Hồng Quảng (2010) “Một số kết quả và định hướng trong ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” Tạp chí: Tập san Sở Thông tin Truyền thông Quảng Nam 2010.

Trong công trình này, tác giả đi sâu trình bày và phân tích các kết quả đạtđược trong thời gian 10 năm ứng dụng CNTT trong CCHC tại tỉnh QuảngNam, trong đó nổi lên tỷ lệ 30% hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng quamạng; phổ cập tin học cho 100% cán bộ công chức trên địa bàn tỉnh

Hoàng Thị Ngọc Lan (2014), “Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đăng trên Tạp

chí Giáo dục lý luận, 2014, số 12, tr 48-49

Phan Thị Mận (2015), với đề tài “Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục hành chính (Nghiên cứu trường hợp Quận Thanh Xuân, Hà Nội)”, đã làm rõ một số vấn đề lý luận chung về Công

nghệ thông tin, cải cách hành chính, kinh nghiệm của một số nước trên thếgiới và các địa phương trong cả nước ứng dụng công nghệ thông tin vào cảicách hành chính; phân tích thực trạng chính sách thúc đẩy ứng dụng côngnghệ thông tin trong cải cách hành chính tại Quận Thanh Xuân Trên cơ sở đó

Trang 12

đưa ra một số giải pháp để thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin trongcải cách thủ tục hành chính tại Quận Thanh Xuân.

Kế hoạch Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tỉnh Hải Dươngnăm 2014, đã đưa ra mục tiêu và kế hoạch phát triển CNTT với các nội dung:Nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT, Phát triển an toàn thông tin, Ứng dụngCNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp, Ứng dụng CNTT trong nội bộ cơquan nhà nước, Hạ tầng kỹ thuật

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên chỉ khai thác những vấn đềchung chung hoặc đề cập đến những khía cạnh khác nhau của việc ứng dụngcông nghệ thông tin chứ chưa đi sâu nghiên cứu về các chính sách định hướngCNTT Chính vì vậy kế thừa những kết quả của các công trình đi trước, tácgiả sẽ đi sâu và làm rõ hơn các chính sách định hướng CNTT trong hoạt động

cụ thể là hoạt động bảo hiểm y tế và có nghiên cứu cụ thể trên địa bàn tỉnhHải Dương

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu như sau: Đề xuất chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

- Phân tích cơ sở lý luận về chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế;

- Khảo sát thực trạng chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương;

- Đề xuất chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương

Trang 13

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi nội dung

Phạm vi nội dung, bao gồm:

- Chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống BHYT

- Những tác động của các chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương

4.2 Phạm vi không gian

Chính sách công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm

y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương

5 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo: Cần xây dựng chính sách gồm nội dung

chủ yếu gì nhằm định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệthống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương?

Câu hỏi nghiên cứu bổ trợ: Thực trạng chính sách định hướng công

nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương

đã diễn ra như thế nào?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: cần xây dựng chính sách gồm nội

dung dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến, bảo đảm cung cấp thông tin dữliệu chất lượng tốt, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và tránhthất thoát, lãng phí nhằm định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hóa

hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương

Giả thuyết nghiên cứu bổ trợ: Thực trạng chính sách định hướng công

nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương

đã diễn ra theo chiều hướng chưa theo kịp với yêu cầu thực tế

7 Mẫu khảo sát

Hệ thống bảo hiểm y tế tại Hải Dương

Trang 14

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu cơ sở lý luận từ các lýthuyết có liên quan và kế thừa kết quả nghiên cứu từ các đề tài nghiên cứu đã có.Thu thập và phân tích thông tin từ các bài báo khoa học, từ kết quả các cuộc điềutra về hoạt động áp dụng chính sách công nghệ của doanh nghiệp, các văn bảnchính sách có liên quan…;

- Phân tích chính sách: Thu thập các chính sách công nghệ thông tin(các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống công nghệ thông tin củaChính phủ và tỉnh Hải Dương, )

8.2 Phân tích số liệu thống kê

- Đối với các thông tin định lượng: thiết kế các biểu mẫu tổng hợp theo yêu cầu nội dung cần phân tích, đánh giá

- Đối với các thông tin định tính: sử dụng các suy luận logic đưa ra cácphán đoán về bản chất của các sự kiện, thể hiện mối liên hệ giữa các sự kiện

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách định hướng công nghệ thôngtin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế

- Chương 2 Thực trạng chính sách định hướng công nghệ thông tin vàoviệc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương

- Chương 3 Giải pháp chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế tại tỉnh Hải Dương

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO VIỆC TIN HỌC HÓA HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y

TẾ 1.1 Cơ sở lý luận về chính sách

1.1.1 Khái niệm chính sách

Trong mục này, Luận văn sử dụng tài liệu của Vũ Cao Đàm [7] Cónhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cậnchính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếpcận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa họcpháp lý, tiếp cận tổng hợp

Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đếnnhững yếu tố sau đây:

- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền

lực mong đợi

- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể

quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phânbiệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xãhội nào đó

- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động

của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện cácmục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thốngtheo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra

- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời

khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm

Trang 16

những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tốithượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệthống (hệ thống xã hội).

- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một

đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể

quyền lực hoặc chủ thể quản lý

Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa:

Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một

ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,

Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:

- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích

thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chínhhoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội

- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các

đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị củachính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ củacác tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )

- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và

nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện mộtmục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhómgiáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học,nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi

Trang 17

nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là

cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạođộng cơ cho đối tượng chính sách

- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói

trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh doanh

của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của mộtđịa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,

Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:

- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn

thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối táccảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vàođường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng

chơi tiếp sau

- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định

tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển

- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những

biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm

“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trunglập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồitệ” theo một nghĩa nào đó 1

1 Vũ Cao Đàm (2012), Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 18

Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chínhsách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ

có thể một vài cách tiếp cận trong đó

Định nghĩa của tác giả Luận văn:

Từ những phân tích trên đây, Luận văn sử dụng định nghĩa Chính sách

là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội [7; tr.29]

1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ

Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc

(UNESCO): "Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện để nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia" Như vậy, theo định nghĩa này thì chính

sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp vàlĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện

ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện

ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN

Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phương châm, điều

lệ, qui định Đó là những nguyên tắc và qui tắc do một Nhà nước, một ngành,một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhấtđịnh, đặt ra nhằm phát triển KH&CN

Định nghĩa của tác giả Luận văn:

Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã định nghĩa [7;31], Luận vănxin đưa ra định nghĩa về chính sách KH&CN như sau:

Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan

Trang 19

quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm:Quốc hội và HĐND các cấp

Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm:Chính phủ và UBND các cấp

Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:

- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN.

- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới

dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị củachính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạtđộng KH&CN

- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá

nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN

- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã

hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế

-xã hội nói chung

1.1.3 Các loại tác động của chính sách

Tác động dương tính của chính sách

Tác động dương tính của một chính sách là những tác động dẫn đếnnhững kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính làloại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới

Tuy nhiên, sau khi thực hiện một chính sách, không phải khi nào cũng

có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính Tác động âm tính xuấthiện là một yếu tố khách quan, vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diệnđúng các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách

Trang 20

Tác động âm tính của chính sách

Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến nhữngkết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách

Tác động ngoại biên của chính sách

- Tác động ngoại biên của chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự kiến của cơ quan ban hành và cơ quan thực hiện chính sách.

- Trong tác động ngoại biên, có thể xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính

- Tác động ngoại biên dương tính, là loại tác động ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách

- Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm thiểu hiệu quả của chính sách.2

1.1.4 Mục tiêu và phương tiện của chính sách

Trong một cách tư duy cũng được nhiều người thừa nhận, chính sách làbước tiếp theo của chiến lược của các công ty, tập đoàn sản xuất, kinh doanh

đề ra và đó là bước khởi đầu cho việc nghiên cứu những hoạt động cần thiết

để đạt được những mục tiêu vạch ra Với tư duy này, trong chiến lược pháttriển các tổ chức (doanh nghiệp, tập đoàn sản xuất hay các tổ chức), chínhsách là các chỉ dẫn cụ thể để ra các quyết định triển khai chiến lược; là bướcnối giữa đường lối, chủ trương chiến lược (vĩ mô) và các hành động cụ thể(dự án, chương trình)

Trong điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng không ít nhàquản lý cho rằng, chính sách là đường lối lãnh đạo, định hướng tư duy chocác nhà quản lý theo mục tiêu cụ thể Đó không phải là những quy tắc (với tưcách là các quy định cụ thể) bắt buộc các nhà quản lý phải chấp hành Nói

2 Vũ Cao Đàm (2012), Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.29

Trang 21

cách khác, chính sách chỉ dẫn hướng ra quyết định Vấn đề quyết định vẫnthuộc các nhà quản lý điều hành Chính sách của các công ty về chiếm lĩnhcác thị trường sẽ tạo cơ sở cho họ đến với thị trường bằng nhiều cách khácnhau, miễn sao chiếm lĩnh được thị trường đó.

Theo lý thuyết trò chơi (Game Theory) chính sách là một sự lựa chọncủa các phương án chơi Trong bối cảnh của sự cạnh tranh, lựa chọn một hoạtđộng mang tính tốt nhất không theo nghĩa tuyệt đối mà chỉ mang tính tươngđối Nghĩa là các nhà hoạch định chính sách lựa chọn cách thức tiến hành cáchoạt động theo nguyên tắc: lựa chọn phương án tốt nhất trong tất cả cácphương án mà công ty, nhà kinh doanh biết Do đó, để đưa ra một chính sáchcần vận dụng lý thuyết phân tích hệ thống, lý thuyết lựa chọn tối ưu cũng nhưnhiều công cụ toán học khác để quyết định cái tốt nhất

1.1.5 Hiệu quả của chính sách

Hiệu quả có nghĩa là quá trình sử dụng số lượng các yếu tố đầu vàomột cách thấp nhất để tạo ra lượng tiền lớn nhất ở kết quả đầu ra

Hiệu quả liên quan đến việc sử dụng của tất cả các yếu tố đầu vào trongsản xuất với một lượng nhất định, bao gồm cả thời gian, nhân lực và nănglượng

Hiệu quả là một khái niệm đo lường có thể được xác định bằng cáchxác định tỷ lệ đầu ra hữu dụng trên tổng đầu vào Nó giảm thiểu sự lãng phínguồn lực như nguyên vật liệu, năng lượng và thời gian, trong khi đó lại đạtđược thành công ở đầu ra như mong muốn

Như vậy có thể hiểu rằng hiệu quả chính sách là quá trình đưa ra cácnhà lãnh đạo, nhà quản lý đưa ra chương trình hành động nhằm mục tiêu đạtđược những kết quả tốt nhất ở đầu ra nhưng lại sử dụng một cách ít nhất cácyếu tố đầu vào

Bàn về hiệu quả của chính sách là bàn về tác dụng thực tế của chínhsách sau khi ban hành Trên thực tế đã có những chính sách vô hiệu quả Nó

Trang 22

chỉ có ý nghĩa để chủ thể chính sách báo cáo thành tích thi đua, là đã cho rađời những văn bản chính sách.

Một chủ thể quản lý trung thực phải luôn luôn biết nhìn nhận kháchquan tác dụng thực tế của văn bản đã trình ban hành, cần theo dõi đến cùngkết quả của văn bản, thể hiện trên hiệu quả của chính sách đã công bố

Hiệu quả của chính sách là những lợi ích mà một chính sách mang lạicho toàn hệ thống

“Lợi ích” là một khái niệm rất rộng Có thể là lợi ích kinh tế, có thể đó

là lợi ích về văn hoá, xã hội Hiệu quả thông thường được đánh giá theo tươngquan giữa đầu ra và đầu vào, nhưng hiệu quả của một chính sách thì khôngthể đánh giá theo tiếp cận đó

Lợi ích mà một chính sách mang lại cho hệ thống có thể bao gồm hai mặt:

Thực hiện với kết quả dương tính của mục tiêu

Hình thành một kiến tạo xã hội dương tính về mọi mặt văn hoá, xã hội

Có nhiều cách tiếp cận xem xét hiệu qủa của chính sách Trên đại thể

có thể cạnh tranh các cách tiếp cận sau:

Hiệu quả kinh tế, là hiệu quả có thể tính được thành tiền, như vừa đềcập ở trên, một số tác giả sử dụng chỉ tiêu cost/benefits để tính Loại chỉ tiêuhiệu quả này được sử dụng rất tốt để đánh giá một doanh vụ đầu tư, và chừngmực nào đó, có thể được áp dụng thuận lợi khi xem xét các chính sách trongkinh doanh Ví dụ, chính sách mở rộng quảng cáo một mặt hàng nào đó làmcho doanh số tăng mạnh, hoàn toàn có thể tính được cost/benefits

Tuy nhiên, một chính sách, ngay cả chính sách trong kinh doanh,không phải khi nào cũng tính được hiệu quả kinh tế một cách chính xác, bởi

vì một chính sách luôn đi kèm rất nhiều loại hiệu quả, vì vậy, với một chínhsách, người ta phải xem xét đến các loại hiệu quả rất khác nhau, như hiệu quảvăn hoá và xã hội

Trang 23

Hiệu quả văn hoá, là loại hiệu quả thể hiện trên lối sống, phong tục, tậpquán, quan hệ giữa con người trong xã hội Chẳng hạn, chính sách phát triểnđiện thoại di động, làm cho lối sống thay đổi, điều có thể quan sát ngay trên

bề mặt của xã hội Hiệu quả văn hóa không thể tìm được một chỉ báo địnhlượng để đánh giá, mà chỉ có thể phân tích định tính

Tuy là những chỉ tiêu định tính, khó có thể định lượng hoá, nhưng làloại chỉ tiêu có thể sử dụng thuận lợi để xem xét hiệu quả của chính sách Khimột chính sách dẫn tới những quan hệ xấu đi giữa con người, hoặc quan hệxấu đi giữa chính quyền với dân chúng, thì không thể nói đó là một chínhsách tốt

Chính loại hiệu quả này xét đến những hệ luỵ về kiến tạo xã hội dươngtính và âm tính của chính sách

Hiệu quả xã hội, cũng là loại hiệu quả xét tới những hệ luỵ của kiến tạo

xã hội rộng hơn về cấu trúc xã hội, trật tự xã hội, hiệu quả an ninh và quốcphòng , thậm chí có thể đụng chạm đến các nền tảng của một xã hội

Hiệu quả xã hội có thể nhận biết trực tiếp qua các phản ứng trực tiếpcủa dân chúng Ví dụ, nông dân, xã hội nông thôn sống dậy sau chính sáchkhoán Song, có những hiệu quả còn đọng lại rất lâu dài, trở nên một thứ kiếntạo xã hội Ví dụ, theo thói quen của chủ nghĩa thành tích, các cơ quan luôn có

xu hướng đưa ra những bản báo cáo chỉ thiên về thành tích, nương nhẹ, thậmchí che đậy các sai phạm, từ tập thể đến cá nhân trong tập thể, lan ra ngoài xãhội, thành một xã hội gồm những con người luôn phải sống với hai con người.Cái kiến tạo xã hội ấy sẽ còn ảnh hưởng rất lâu dài

Hiệu quả của chính sách, quyết định bởi tính đúng đắn của chính sách,

ở chỗ chính sách có trả lời đúng những đòi hỏi của cuộc sống hay không?Hơn nữa, có mang lại những hệ lụy dương tính (về tâm lý, về văn hóa, …) cho xãhội hay không?

Trang 24

Còn tính đúng đắn của một chính sách thì không phụ thuộc cấp quản lý,cũng không phụ thuộc việc đã hỏi ý kiến bao nhiêu người, mà ở chỗ, cácchuyên gia chuẩn bị quyết định chính sách có phát hiện trúng những vấn đềcủa chính sách hay không?

Sau khi đã phát hiện trúng những vấn đề của chính sách thì có đưa ra đượcnhững giả thuyết về giải pháp chính sách, tức một giả thuyết kịch bản chínhsách, được chứng minh một cách khách quan khoa học hay không? Có thể

nói, hiệu quả của chính sách được quyết định bởi ba yếu tố:

- Nhận dạng chuẩn mực bối cảnh xã hội và các vấn đề chính sách

- Đề xuất được các giả thuyết kịch bản về giải pháp chính sách phù hợpvới đòi hỏi của xã hội

- Chứng minh được giả thuyết giải pháp chính sách đã đặt ra đáp ứngđúng những vấn đề của chính sách trong bối cảnh xã hội xác định, hơn nữa giảipháp đặt ra được kiểm chứng trong thực tế

Về nguyên tắc, hiệu quả của một chính sách được đánh giá dựa trên kếtquả phân tích kiến tạo xã hội của chính sách, đánh giá tính phù hợp của kiếntạo xã hội trong mối quan hệ với mục tiêu ban đầu mà chính sách đề ra Nhưvậy, với bất cứ chính sách nào, hiệu quả đều phải thể hiện ở hai tiêu chí sau:

Đánh giá việc thực hiện mục tiêu chính sách Mục tiêu mà chính sáchđặt ra có chuẩn xác không? Mục tiêu đặt ra có cao quá hoặc thấp quá không?

Có trường hợp các mục tiêu triệt tiêu nhau không? Mục tiêu đặt ra có thựchiện được không? Có cần điều chỉnh mục tiêu không?

Các phương tiện để thực hiện mục tiêu Các nguồn lực có được sử dụnghợp lý không? Có tình trạng phương tiện chống lại mục tiêu không? Có hiệntượng phương tiện bất cập để thực hiện mục tiêu không? Có hiện tượng cácphương tiện triệt tiêu hiệu lực của nhau không? Có hiện tượng lấy phươngtiên làm mục tiêu không? Có cần thiết điều chỉnh phương tiện không?

Trang 25

Đặc biệt là rất cần xem xét có tồn tại hiện tượng “Lấy cứu cánh (tứcmục đích) biện minh cho phương tiện” không?, nghĩa là sử dụng những chínhsách phi nhân bản để bảo vệ cho một mục đích tốt đẹp, rồi sử dụng mục đíchtốt đẹp đó để bào chữa cho phương tiện phi nhân bản hay không?

Các chỉ báo kiến tạo xã hội của chính sách Mục tiêu của chính sách cóđược thực hiện cùng với một kiến tạo xã hội dương tính hay không? Nếu mụctiêu của chính sách được thực hiện, nhưng dẫn đến những hệ luỵ âm tính vềkiến tạo xã hội, thì vẫn không thể xem là chính sách đã đưa lại một kết cục tốtđẹp cho xã hội

Trong các tiêu chí xem xét hiệu quả của chính sách, kiến tạo xã hội là

cơ sở quan trọng nhất để đánh giá Một kiến tạo xã hội tồi tệ rất khó chứngminh cho một chính sách được nói là đúng đắn, dù cho chính sách đó đượcđặt ra với động cơ tốt đẹp như thế nào

1.1.6 Hiệu lực của chính sách

Khi một chính sách được công bố, nó phải có sức tác động vào xã hội,hướng xã hội đi theo mục tiêu mà chính sách kỳ vọng Chính sách có tác độngđược vào xã hội hay không được gọi là hiệu lực của chính sách Một chínhsách dù đặt ra mục tiêu cao đẹp bao nhiêu mà không tác động được vào xãhội, không lôi cuốn được xã hội hướng theo mục tiêu của chính sách, thì vẫn

Trang 26

đình liệt sĩ, chỉ có giá trị hiệu lực đối với nhóm này; chính sách khoa học vàcông nghệ, chỉ có giá trị hiệu lực trong hoạt động khoa học và công nghệ.

Hiệu lực theo tầm hạn quản lý, là hiệu lực trên tầm hạn của một cấpquản lý, có thể là cấp vi mô (cơ sở) hoặc vĩ mô (quốc gia, đa quốc gia) ở đây,

có thể hiệu lực vĩ mô có giá trị hiệu lực ở cấp vi mô, song, có thể không cóhiệu lực Ví dụ, Nghị định 122/HĐBT năm 1983 về quản lý chương trình quyđịnh việc trả phụ cấp cho các chủ nhiệm đề tài và chủ nhiệm chương trình củaNhà nước, nhưng không có giá trị hiệu lực để trả phụ cấp cho các chủ nhiệm

đề tài và chương trình của các tỉnh và thành phố

Hiệu lực theo không gian, là hiệu lực trên một địa bàn xác định Địabàn ở đây có thể là toàn bộ phạm vi quốc gia, liên quốc gia, cũng có thể làmột tỉnh, một thành phố Song cũng có loại “không gian” với ý nghĩa mởrộng, chẳng hạn, một ngành sản xuất, một ngành hoạt động xã hội Chẳnghạn, Nghị định 64/CP quy định chế độ kiêm nhiệm của cán bộ khoa họckhông có giá trị áp dụng cho các ngành khác; Quyết định thu hút nhân tài vào

Hà Nội chỉ có giá trị thực hiện trên địa bàn Hà Nội, không có giá trị ở cácthành phố khác

Hiệu lực theo thời gian, là hiệu lực trong một giai đoạn nào đó, qua giaiđoạn đó thì chính sách không còn hiệu lực nữa Xem xét loại hiệu lực này rấtquan trọng, vì không có chính sách nào có hiệu lực vĩnh viễn.3

1.2 Khái niệm chính sách định hướng CNTT vào việc tin học hóa hệ thống bảo hiểm y tế

1.2.1 Công nghệ thông tin trong hoạt động bảo hiểm y tế

Công nghệ thông tin (CNTT) đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớnđến mọi mặt của đời sống xã hội Đối với hoạt động của ngành y tế, có thểthấy rằng, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọncho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ

3 Vũ Cao Đàm (2010), Giáo trình Khoa học chính sách, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 27

quan quản lý mà còn “đỡ đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các

kỹ thuật cao trong KCB như chụp cắt lớp, mổ nội soi thăm khám cho bệnhnhân qua hệ thống điện tử

Vậy khái niệm CNTT trong y tế là việc áp dụng quá trình xử lý thông

tin liên quan tới phần mềm máy tính và các phần mềm để giải quyết việc lưutrữ, khôi phục và chia sẻ, sử dụng các thông tin y tế, các dữ liệu và cho việcgiao tiếp và lựa chọn CNTT y tế áp dụng vào tất cả các lĩnh vực bao gồmchăm sóc lâm sàng, điều dưỡng, nha khoa, dược, sức khỏe cộng đồng và cácnghiên cứu khác về y tế

CNTT y tế bao gồm tập hợp các công nghệ về trao đổi và quản lý cácthông tin về sức khỏe được sử dụng bởi khách hàng, nhà cung cấp, người trảchi phí, bảo hiểm y tế và tất cả những đối tượng quan tâm tới sức khỏe vàdịch vụ chăm sóc sức khỏe mà cụ thể là lưu trữ và xử lý số liệu của bệnhnhân Công nghệ này bao gồm sự sắp xếp có thứ tự khác nhau một cách có hệthống, được liên kết với nhau làm cho bác sỹ dễ dàng liên hệ với nhau, ví dụnhư số liệu lưu trữ bằng máy vi tính, thông qua kết quả ở các labo, cho phépcác nhà lâm sàng chia sẻ các thông tin về bệnh nhân không giới hạn về cácbệnh viện về biên giới địa lý (thường được gọi là kết nối và các hệ thống cóthể trao đổi được với nhau

Sau hơn 20 năm triển khai, chính sách BHYT đã góp phần tạo nênnhiều thay đổi quan trọng trong lĩnh vực y tế BHYT đã giúp tạo sự công bằngtrong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, giúp nhànước điều tiết nguồn thu-chi y tế Cụ thể ta có thể thấy được hiệu quả của việc

áp dụng Công nghệ thông tin (CNTT) vào lĩnh vực Y tế như thế nào Vai tròcủa CNTT với sự phát triển của ngành Y tế là hết sức to lớn và cần thiết.CNTT đã dần trở thành một yếu tố không thể thiếu trong sự nghiệp phát triểnngành Y tế của một quốc gia, nó nắm giữ một vai trò chủ đạo

Trang 28

Việc ứng dụng CNTT trong quản lý BHYT tại bệnh viện đã trở thànhnhiệm vụ, cấp bách và là công việc hết sức ý nghĩa, giúp cho cả cơ quan quản lýbảo hiểm, bệnh viện, thầy thuốc, bệnh nhân, nhân viên y tế với nhiều tiện ích dễdàng, nhanh chóng, chính xác, minh bạch khi thực hiện các chính sách BHYT.

Từ khái niệm về chính sách và khái niệm về CNTT trong y tế có thểđưa ra khái niệm về chính sách định hướng CNTT vào việc tin học hoá hệ

thống bảo hiểm y tế: Là các chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đưa ra nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động của bệnh viện nói chung và cụ thể trong hoạt động BHYT nói riêng Cụ thể ở

đây là tập hợp các quan điểm, định hướng, giải pháp mà Chính phủ và các cơquan liên quan đưa ra nhằm định hướng, khuyến khích và thúc đẩy thực hiệnviệc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động bảo hiểm y tế

1.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động bảo hiểm y tế

Hiện nay, tại tất cả các cơ quan quản lý BHYT cũng như các bệnh việnđều đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào công tác quản lýBHYT Theo thống kê của ngành Y tế , 100% bệnh viện tuyến trung ươngứng dụng phần mềm tin học trong bệnh viện, ở tuyến tỉnh và tuyến huyện tỷ

lệ này lần lượt là 68% và 61% Tuy nhiên, khả năng kết nối hệ thống thông tincủa các phần mềm này với nhau và với BHYT không cao Tại các bệnh việnkhi tham gia BHYT luôn phải tổ chức một bộ phận cán bộ, nhân viên để quản

lý nghiệp vụ BHYT, như: tiếp nhận, thu phí, khám, điều trị, cấp phát thuốc Bên cạnh đó, công tác tài chính BHYT tại bệnh viện cũng được chia làm 2giai đoạn: thu phí đồng chi trả và thống kê quyết toán cho cơ quan BHYT.Hình thức đồng chi trả trong BHYT được xử lý một cách “thủ công” gây ranhững công thức tính toán khá phức tạp khiến cho việc thu, chi và thống kêquyết toán trở nên khó khăn và chậm trễ Thực tế cho thấy, trong quá trìnhkhám, chữa bệnh cũng phát sinh nhiều vấn đề như: bệnh nhân quên mang theothẻ BHYT; bệnh nhân có thẻ BHYT nhưng muốn được sử dụng các dịch vụ

Trang 29

hay thuốc men ngoài danh mục BHYT; bệnh nhân khám chữa bệnh BHYT xanơi cư trú đã làm nảy sinh thêm các thủ tục hành chính Chính điều nàycũng làm người bệnh không hài lòng do khó thể hiểu hết quy trình thủ tục đểđược thanh toán đúng định mức của BHYT, cũng như mức chi phí mình phảiđồng chi trả Do vậy, tính hấp dẫn của BHYT cũng bị giảm xuống Ngoài ra,với mỗi đơn vị y tế, BHYT đều phải cho nhân viên BHYT túc trực để kiểmsoát, phê duyệt chi phí khám chữa bệnh khi có những khoản chi lớn.

Cho đến nay, việc báo cáo thu, chi, quyết toán BHYT tại nhiều cơ sở y

tế được thực hiện bằng cách in ra giấy, rồi gửi bản mềm dữ liệu cho cơ quanbảo hiểm đã bộc lộ nhiều bất cập, phức tạp, mất công sức, thời gian, khó trongviệc kiểm tra độ chính xác, cũng như, thống kê số liệu Các báo cáo gửi về cơquan BHYT không đồng nhất về định dạng và thời gian khiến cho việc nhập

số liệu trở nên khó khăn Vấn đề này đòi hỏi ngành Y tế, Bảo hiểm Xã hộiViệt Nam phải xây dựng được một hệ thống thông tin hiệu quả, kết nối liênthông giữa các đơn vị trong hệ thống, từ cơ sở y tế các cấp đến các đơn vịquản lý BHYT Hệ thống này sẽ giúp đơn vị tài chính của bệnh viện giảm tảicông việc quyết toán BHYT; thực hiện báo cáo thống kê, biểu mẫu chính xác,kịp thời; bệnh nhân có BHYT không phải tốn nhiều công sức cho các thủ tụchành chính và quan trọng hơn nó sẽ tạo ra sự minh bạch, bình đẳng trong việctiếp cận các dịch vụ y tế của người dân

Công tác ứng dụng CNTT trong lĩnh vực BHYT sẽ càng trở nên cấpthiết hơn nữa, khi Việt Nam đang hướng đến mục tiêu 100% người dân - trên

90 triệu người tham gia BHYT

1.2.3 Nội dung cơ bản của chính sách định hướng công nghệ thông tin vào việc tin học hoá hệ thống bảo hiểm y tế

Chính sách được nghiên cứu trong phạm vi của Luận văn là các chínhsách của Nhà nước, là sản phẩm của toàn bộ hệ thống chính trị của một quốcgia (chính sách công)

Trang 30

Các yếu tố cơ bản của một chính sách nói chung và chính sách địnhhướng CNTT vào việc tin học hoá hệ thống BHYT nói riêng thường bao gồm:các yếu tố đầu vào, các hành động, đầu ra, kết quả và tác động của chínhsách.4

- Đầu vào (imputs): đây là các nguồn lực của chính sách Trong chínhsách CNTT thì đó là nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin liên quan tới hoạt độngtin học hoá hệ thống BHYT;

- Hoạt động (Activities): là những hành động thực hiện chính sách Ởđây là việc: xây dựng thể chế như hoạch định, ban hành các văn bản pháp luật, tổchức bộ máy quản lý nhà nước về tin học hoá hệ thống BHYT; xác định đối tượngthụ hưởng các ưu đãi về chính sách CNTT trong hoạt động BHYT; và xác định cácphương thức đào tạo, thông tin, tuyên truyền nhằm thúc đẩy hoạt động tin học hoánày

- Đầu ra (Outputs): là các sản phẩm/dịch vụ tạo ra bởi chính sách Đốivới chính sách CNTT vào việc tin học hoá hệ thống BHYT thì đó là các văn bảnpháp luật, các ưu đãi (tín dụng, hỗ trợ trực tiếp, nhân lực, thông tin, hạ tầng côngnghệ…)

- Kết quả (outcomes): là những ảnh hưởng/thành tựu của hành động vàđầu ra của chính sách Kết quả của chính sách định hướng CNTT trong hoạt độngtin học hoá BHYT là những đổi mới, những tiến bộ đạt được và lợi ích mang lạicho bệnh viện và người dân khi tham gia BHYT

- Tác động (impacts): là những ảnh hưởng lâu dài của chính sách, đâychính là đích cuối cùng mà chính sách hướng tới Trong hoạt động BHYT thì nóthể hiện ở vị thế cạnh tranh của ngành bảo hiểm trên thị trường trong nước và quốctế

4 Nguyễn Đình Bình-Nguyễn Hữu Xuyên (2015), Đổi mới công nghệ trong ngành công nghiệp hỗ trợ Nxb.

Khoa học và kỹ thuật, trg 34

Trang 31

Như vậy, chính sách định hướng CNTT vào việc tin học hoá hệ thốngBHYT được hiểu là tổng thể các quan điểm, các mục tiêu, giải pháp và công

cụ mà Nhà nước sử dụng nhằm ứng dụng một cách hiệu quả nền CNTT hiệnđại vào lĩnh vực BHYT

Từ đó có thể thấy được vai trò của CNTT trong việc tin học hoá hệthống BHYT, đó là:

tính chính xác, nhanh chóng, thuận tiện nhất là việc quản lý đối tượng đóng vàhưởng bảo hiểm y tế (BHYT), quản lý quỹ BHYT

tăng cường cải cách hành chính trong công tác quản lý và triển khai các hoạt độngBHYT: thay đổi tác phong làm việc, phương thức tổ chức công việc từ hành chínhsang phục vụ theo hướng một cửa, loại bỏ các giấy tờ, biểu mẫu, thủ tục không cầnthiết, đơn giản hoá các bước công việc trong quy trình quản lý thu, chi và quản lýquỹ BHYT

vụ của đối tượng tham gia BHYT, đảm bảo công bằng, tạo điều kiện thuận lợi chongười lao động và người sử dụng lao động khi tham gia BHYT Đồng thời nângcao nhận thức và tạo lập mối quan hệ gắn bó, tin cậy của người tham gia BHYTvới hệ thống BHYT

tình hình thực hiện và chấp hành quy định quản lý của BHYT các cấp và từng địabàn trong hệ thống quản lý, là nguồn thông tin nhanh nhất cho phép lãnh đạo cáccấp điều hành, điều chỉnh các quyết định quản lý

BHYT một cách đầy đủ tình hình hoạt động quản lý quỹ BHYT và các quỹ thànhphần, nâng cao chất lượng quản lý và giữ an toàn quỹ BHYT

Trang 32

- Thứ sáu, Sử dụng CNTT cũng đồng thời cung cấp các căn cứ quan

trọng để đánh giá sự đúng đắn, phù hợp của chủ trương, chính sách, biện phápquản lý, đánh giá thực trạng và xu hướng hoàn thiện chính sách chế độ BHYT

ở Việt Nam

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách định hướng CNTT

trong bảo hiểm y tế

Xét về tổng thể, hệ thống thông tin là hình thái thể hiện mối quan hệhữu cơ giữa hệ thống CNTT và con người cũng như giữa bản thân hệ thốngvới các hệ thống thông tin khác Vì vậy các yếu tố ảnh hưởng tới hệ thốngthông tin ngành y tế bao gồm:

1.3.1 Hệ thống phần mềm ứng dụng và dịch vụ

Đây là hệ thống ứng dụng và dịch vụ thực hiện chức năng tin học hoácông tác nghiệp vụ và quản lý hành chính của Bộ cũng như các chức năng vàdịch vụ được tạo ra thông qua quá trình ứng dụng CNTT Đây cũng là hệ thốngtrực tiếp thực hiện các giao tiếp với người sử dụng trong hệ thống thông tin

1.3.2 Hệ thống phần mềm nền tảng

Để đảm bảo các hệ thống ứng dụng và dịch vụ có thể hoạt động cầnthiết phải có hệ thống phần mềm nền tảng Hệ thống phần mềm nền tảng như

hệ điều hành hay hệ quản trị cơ sở dữ liệu thực hiện chức năng giao tiếp giữa

hệ thống các ứng dụng và hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm mục đíchđảm bảo tính độc lập cũng như tính tương hỗ giữa các ứng dụng, dịch vụ và

hạ tầng cơ sở Công nghệ thông tin

1.3.3 Cơ sở hạ tầng thông tin

Hệ thống cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin là nền móng rất quan trọngcho mọi phương tiện hoạt động như hệ điều hành các phần mềm ứng dụng,phần mềm nền tảng và các phần mềm ứng dụng đa dịch vụ có thể truyền trên

đó mà không gây ra bất cứ một tắc nghẽn nào do vậy tuỳ vào các mức độ

Trang 33

cũng như khả năng yêu cầu của từng bệnh viện, từng sở ban ngành, từngtrường, mà ta tính toán băng thông cho phù hợp.

1.3.4 Hệ thống an toàn, an ninh bảo mật dữ liệu

Để đảm bảo hoạt động liên tục của hệ thống thông tin cũng như đảmbảo các cơ chế chính sách, tài nguyên, các cơ sở data trên mạng trong một hệthống thông tin cần thiết phải có hệ thống bảo mật an toàn và an ninh dữ liệu

Hệ thống an toàn an ninh thông tin là yếu tố quan trọng về vấn đề an ninh xãhội đối với một bộ ngành khi cho xây dựng hệ thống bảo mật thông tin tuỳvào yêu cầu bảo mật để đưa ra các giải pháp khác nhau về phân cấp bảo mậtmột cách hiệu quả nhất đối với từng hệ thống thông tin khác nhau

1.3.5 Quản trị hệ thống thông tin

Để đảm bảo vận hành và khai thác có hiệu quả các hệ thống mạng Côngnghệ thông tin, yếu tố không thể thiếu trong quản trị hệ thống thông tin làphải quản lý tập trung và phân ra các cấp quản lý tập trung khác nhau và đượckhai báo chỉ đạo giám sát từ xa

Quá trình vận hành toàn bộ hệ thống mạng thông tin cũng như giám sátviệc thực thi chính sách trên hệ thống mạng thông tin phải được thống nhất vàđồng bộ từ trên xuống dưới

1.3.6 Người sử dụng

Một hệ thống thông tin sẽ không còn ý nghĩa nếu không được vận hành

và khai thác triệt để phục vụ lợi ích của con người Tuy nhiên việc đảm bảokhai thác hiệu quả hệ thống thông tin phục vụ lợi ích con người thì nhân tốcon người là một yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất Một hệ thống thông tin

sẽ không thể có hoạt động hiệu quả nếu con người không biết vận hành vàkhai thác thông tin một cách hiệu quả

Do vậy hệ thống thông tin ngành Y tế được thiết kế dựa trên các cơ sởluận chứng sau:

+ Căn cứ vào quan điểm thiết kế tổng thể hệ thống mạng thông tin

Trang 34

+ Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và công tác quản lý, nghiệp vụ, điềuhành chỉ huy tác nghiệp của các đơn vị trong ngành Y tế.

+ Căn cứ vào khối lượng thông tin cần trao đổi về quản lý, lưu trữ, trao

đổi thông tin khám chữa bệnh tại các đơn vị của ngành Y tế.

+ Căn cứ vào các mô hình cấu trúc dữ liệu, thiết bị, các phần mềm mạng và truyền thông

+ Căn cứ vào kết quả khảo sát đánh giá thực trạng thực tế, kết hợp cácyêu cầu để xây dựng có tính đến sự tích hợp và có hướng mở phát triển trongtương lai của hệ thông tin tuân theo các chuẩn kết nối với các hệ thống mạng thông

tin khác

+ Căn cứ vào yếu tố kỹ thuật và công nghệ trong giai đoạn hiện tại vàtrong tương lai trên nguyên tắc tuân thủ theo các chuẩn mới về kỹ thuật đã quyđịnh cho các mạng truyền thông của quốc tế

Trên cơ sở các tiêu điểm luận chứng trên, là tiêu chuẩn để xây dựng hệthống mạng cục bộ và truyền thông của ngành Y tế phải thoả mãn các yêu cầuchính sau:

- Kế thừa các cơ sở mạng cũ trước kia của đơn vị hoặc các trang thiết bị

có sẵn nhưng chưa có kết nối mạng để xây dựng một hệ thống mạng LAN,Campus, LAN to LAN của các đơn vị thành một hệ thống thông tin hoàn chỉnh

- Thiết kế phải đúng theo chỉ tiêu kỹ thuật và tiết kiệm về mọi mặtđồng thời vẫn đảm bảo đáp ứng được nhu cầu hiện tại về CNTT mà vẫn đáp ứngcác đa dịch vụ trong tương lai về CNTT của ngành Y tế

Trang 35

+ Trong một vài năm tới, hệ thống thông tin từ các mạng LAN củabệnh viện, các Sở Ban, Ngành, các trường của ngành Y tế từ cơ sở đến Trung ươngtrong toàn Ngành sẽ tích hợp trên một mạng diện rộng ( WAN ) của Bộ Y tế, vàđược quản lý tập trung tại Trung tâm của Bộ và được kết nối với các mạng kháctrong nước và quốc tế.

+ Thiết kế đảm bảo kết nối thông suốt giữa ( On - line ) các đơn vị ở cơ

sở với các đơn vị cấp trên và ngược lại trao đổi thông tin hai chiều được kết nốiliên thông với mạng điện thoại, mạng Internet, mạng truyền hình, mạng dữ liệungành Y tề trong tương lai

+ Thiết kế đảm bảo an ninh và bảo mật dữ liệu trao chuyển thông tintrên mạng, đảm bảo an toàn tuyệt đối trên mạng thông qua các giải pháp kỹ thuậthiện đại

+ Đạt được độ an toàn bảo mật cao, đảm bảo thông tin kịp thời, nhanh chóng chính xác và liên tục

+ Hệ thống thông tin được thiết kế đảm bảo hiện đại khai thác dễ dàngkhai báo bằng các phần mềm từ xa, quản trị theo phương thức quản lý tập trungphân mức quản lý theo các mức bảo mật khác nhau bảo đảm tốt quá trình vận hànhcủa hệ thống thông tin

tế Tất cả các vấn đề lý luận nêu trên tạo tiền đề cơ bản cho việc phân tíchthực trạng chính sách CNTT vào việc THH hệ thống BHYT nước ta nóichung và trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong các chương tiếp theo

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO VIỆC TIN HỌC HÓA

HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG

2.1 Tổng quan về tin học hóa hệ thống Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương

2.1.1 Khái quát hệ thống công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trong giai đoạn hiện nay, công nghệ thông tin (CNTT) là một trongnhững động lực quan trọng của sự phát triển, cùng với một số ngành côngnghệ cao khác làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế - chính trị - xã hội trongnước Ở tỉnh Hải Dương, sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW ngày17/10/2000 Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thôngtin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, CNTT đã có bướcchuyển biến mạnh mẽ trên các mặt:

Tỉnh uỷ Hải Dương đã chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng đẩymạnh tuyên truyền về nội dung ứng dụng CNTT trong các cơ quan, đơn vị vàdoanh nghiệp Tỉnh uỷ xây dựng Chương trình thực hiện Chỉ thị 58 của BộChính trị và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền từtỉnh đến cơ sở

Tỉnh uỷ, UBND tỉnh tập trung chỉ đạo thực hiện các đề án về CNTTnhư: Đề án ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng giai đoạn 2001-2005 (Đề

án 47), tiếp đó xây dựng và thực hiện Đề án ứng dụng CNTT trong các cơquan Đảng giai đoạn 2006-2010 (Đề án 06), do Văn phòng Tỉnh uỷ chủ trì và

tổ chức thực hiện; Đề án "Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước tỉnh HảiDương giai đoạn 2001-2006" (Đề án 112), do Văn phòng UBND tỉnh chủ trì

và thực hiện các kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2006 – 2010 Cùng vớitriển khai thực hiện các Đề án và kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT ở

Trang 37

tỉnh Hải Dương, Hội đồng khoa học, công nghệ tỉnh và Sở Khoa học và Côngnghệ đã tích cực lựa chọn đưa vào kế hoạch khoa học và công nghệ hàng nămcủa tỉnh nhiều dự án, đề tài về lĩnh vực CNTT Kết quả đến giữa năm 2010,trong các cơ quan Đảng và quản lý nhà nước từ tỉnh đến cấp huyện đã xâydựng 2 mạng WAN, 59 mạng LAN, 147 máy chủ, 2.960 máy trạm Tất cả các

xã, phường, thị trấn đều được trang bị máy tính5

Tỷ lệ máy tính/cán bộ, công chức là 80%, 100% cơ quan Đảng, cơquan hành chính nhà nước tỉnh, huyện có mạng cục bộ (LAN) Ứng dụngCNTT được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực:

Trong các cơ quan Đảng đã đưa vào sử dụng các phần mềm: quản lýcông văn đi đến; trao đổi thông tin Lotus Note; lưu trữ văn bản; quản lý tàichính, kế toán; thi đua khen thưởng; xây dựng trang Website nội bộ phục vụlãnh đạo, điều hành Xây dựng các kho dữ liệu: văn kiện Đảng bộ tỉnh; vănkiện Đảng bộ các huyện, thị xã, thành phố; cơ sở dữ liệu mục lục hồ sơ; vănbản pháp quy; công sản; cơ sở dữ liệu báo cáo thực hiện ngân sách; cơ sở dữliệu quản lý cán bộ, công chức khối Đảng, đảng viên, cán bộ diện Tỉnh uỷquản lý Các sở, ban, ngành tỉnh đã triển khai ứng dụng các phần mềm tin họcphục vụ nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ như: quản lý công tác thi đua khenthưởng; quản lý hồ sơ lưu trữ; quản lý đội ngũ giáo viên; quản lý ngân sáchtỉnh; các phần mềm kế toán, phần mềm quản lý công sản, trong hoạt độngBHYT,…

Tỉnh và một số ngành, đơn vị đầu tư xây dựng trang thông tin điện tửnhư: Văn phòng UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Thông tin -Truyền thông, Sở Công thương, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tài nguyên -Môi trường, Báo Hải Dương, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Cục thuếtỉnh, Nhà thi đấu thể thao tỉnh (Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch), Trung tâm

5 Theo Báo cáo kết quả của Đề án "Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001-2006" (Đề án 112), do Văn phòng UBND tỉnh chủ trì và thực hiện các kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2006 – 2010

Trang 38

giới thiệu việc làm (Liên đoàn lao động tỉnh), Trung tâm giới thiệu việc làm(Sở Lao động - Thương binh - Xã hội), Trung tâm Giới thiệu thiệu việc làmthanh niên …

2.1.2 Hệ thống bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; có chứcnăng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước vềchăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gồm: y tế dự phòng; khám, chữabệnh; phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; thuốc phòng bệnh, chữa bệnhcho người; mỹ phẩm; an toàn vệ sinh thực phẩm; trang thiết bị y tế; dân số;bảo hiểm y tế (sau đây gọi chung là y tế);

Sở Y tế có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sựchỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh,đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn,nghiệp vụ của Bộ Y tế

Nhiêṃ vu ̣

1 Trình Ủy ban nhân dân tỉnh

- Dự thảo quy hoạch phát triển ngành; quy hoạch mạng lưới các cơ sở ytế; kế hoạch dài hạn, 5 năm, hàng năm; đề án, chương trình phát triển y tế, cải cáchhành chính và phân cấp quản lý, xã hội hoá trong lĩnh vực y tế ở địa phương;

- Dự thảo các quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân tỉnh về lĩnh vực y tế;

- Dự thảo quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Chi cục trực thuộc Sở;

- Dự thảo quy định về tiêu chuẩn chức danh đối với trưởng, phó các đơn vị thuộc Sở Y tế; trưởng và phó trưởng Phòng Y tế

2 Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh

36

Trang 39

- Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị thuộc Sở theo quy định của pháp luật;

- Dự thảo các quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về lĩnh vực y tế;

- Dự thảo quy định mối quan hệ công tác giữa Sở Y tế với Ủy ban nhândân huyện, thành phố và các đơn vị có liên quan trên địa bàn tỉnh;

- Dự thảo chương trình, giải pháp huy động, phối hợp liên ngành trong phòng, chống dịch bệnh ở địa phương

3 Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạmpháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình và các vấn đề khác

về y tế sau khi được phê duyệt; tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dụcpháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở;

- Làm thường trực về lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS của Ban chỉđạo phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm tỉnh; chỉ đạo,quản lý, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các hoạt độngphòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh

5 Về khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng

- Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong thực hiện cácquy định chuyên môn, quy chuẩn kỹ thuật đối với các cơ sở khám, chữa bệnh,

Trang 40

phục hồi chức năng, phẫu thuật tạo hình, giải phẫu thẩm mỹ, giám định ykhoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần trên cơ sở quy định,hướng dẫn của Bộ Y tế theo phân cấp và theo phân tuyến kỹ thuật;

- Cấp, đình chỉ và thu hồi chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh; giấychứng nhận đủ điều kiện hành nghề cho các cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân theoquy định của pháp luật và theo phân cấp

- Tổ chức thực hiện việc kế thừa, phát huy, kết hợp y dược cổ truyềnvới y dược hiện đại trong phòng bệnh, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, đàotạo cán bộ, nghiên cứu khoa học và sản xuất thuốc y dược cổ truyền tại địaphương;

- Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về y dược cổ truyền trên địa bàn tỉnh;

- Cấp, đình chỉ và thu hồi chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận đủđiều kiện hành nghề y dược cổ truyền tư nhân theo quy định của pháp luật và theophân cấp

Tính đến hết ngày 31/12/2013, tổng số người tham gia BHYT, BHYTtrên địa bàn tỉnh Hải Dương là 1.163.239 người, tăng 98.928 người (9,3%) sovới năm 2012 Trong đó, số tham gia BHYT, BHYT bắt buộc là 225.170người, tăng 9,52%; số người chỉ tham gia BHYT là 933.247 người, tăng9,16% BHYT tỉnh Hải Dương đã khai thác mở rộng thêm được 20.000 ngườilao động tham gia BHYT bắt buộc; 4.822 người tham gia BHYT tự nguyện,tăng 25,37%; 100% học sinh, sinh viên trên địa bàn tham gia BHYT

Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hải Dươnggặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến công tác thu, giảm nợ đọng của BHYTtỉnh Hải Dương Tuy nhiên với sự nỗ lực cố gắng, số thu BHYT, BHYT năm

2013 đạt trên 2.909 tỷ đồng, đạt 105,4% kế hoạch giao, tăng 22,8% so vớinăm 2012 Số nợ BHYT, BHYT tại Hải Dương tính đến hết ngày 31/12/2013

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w