ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG NGỌC THẮNG Kế thừa và phát triển trong việc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG NGỌC THẮNG
Kế thừa và phát triển trong việc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam hiện nay
theo tư tưởng Hồ Chí Minh
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Luân
HÀ NỘI - 2007
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu
Chương 1 Quan điểm Hồ Chí Minh về sự cần thiết kế thừa và phát triểntrong xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam
1.1 Kế thừa và phát triển trong phép biện chứng duy vật
1.1.1 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về kế thừa và phát triển
1.1.2 Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm triết học Mác - Lênin về
kế thừa và phát triển
1.2 Khái niệm văn hoá và tính cần thiết kế thừa và phát triển trong xâydựng nền văn hoá mới
1.2.1.Khái niệm văn hoá
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính cần thiết kế thừa và phát triển vănhoá trong xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam
Chương 2 Nội dung của sự kế thừa và phát triển trong tư tưởng Hồ ChíMinh về xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam
2.1 Một số giá trị cơ bản của truyền thống văn hóa dân tộc
2.2 Những đặc trưng của văn hóa hiện đại
2.3 Kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc tiếp thunhững yếu tố tiên tiến của văn hoá thế giới trong tư tưởng văn hóa HồChí Minh
Chương 3 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá trong điều kiệnViệt Nam hiện nay
3.1 Xây dựng một nền văn hoá giàu bản sắc, mang đậm truyền thốngdân tộc là nền tảng cơ bản
3.1.1 Một nền văn hoá Việt Nam luôn nêu cao chủ nghĩa yêu nước, lòng
tự hào dân tộc
3
99912
14
14
17
272731
34
49
49
49
Trang 3. 1
Trang 4bằng đạo đức 513.1.3 Bảo tồn những giá trị nhân nghĩa nhân đạo trong truyền thống
3.1.4 Nêu cao truyền thống đoàn kết nhất trí trong sự nghiệp đấu
3.2 Xây dựng nền văn hoá tiên tiến hoà nhập với dòng chảy văn hoá
3.2.1 Xây dựng nền văn hoá lấy giá trị truyền thống làm nền tảng 593.2.2 Biết học tập những giá trị tốt đẹp trong văn hoá nhân loại làm
3.2.3 Trong việc tiếp thu những giá trị tích cực cần phải loại trừ
những yếu tố tiêu cực hoặc có ảnh hưởng không tốt với nền văn hoá
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển bền vững từ lâu đã trở thành mục tiêu xuyên suốt trong chiếnlược phát triển của các quốc gia, dân tộc Bên cạnh sự phát triển bền vững vềmôi trường sinh thái, phát triển bền vững về môi trường xã hội là một trongnhững nội dung và điều kiện cơ bản của phát triển xã hội bền vững Trong đó,xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của quốc gia, dân tộc.Tăng trưởng kinh tế nhưng không giữ được văn hóa truyền thống là sự tăngtrưởng mất gốc (rootless growth) Vì vậy, bề dày của văn hóa truyền thốngđược xem như là “sức bật”, động lực bên trong của sự phát triển
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nhiệm vụhàng đầu, không thể thiếu trong chiến lược phát triển Nhiệm vụ đó đã vàđang được đặt ra trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ
và sâu rộng, trong bối cảnh đó tất yếu các nền văn hóa khác nhau có sự tiếpxúc biến đổi và được gọi là tiếp biến văn hóa (acculturation) Trong quá trìnhtiếp biến văn hóa ấy, tiếp thu một cách có chọn lọc những giá trị của các nềnvăn hóa khác nhưng phải giữ được những giá trị tích cực của văn hóa truyềnthống là một bài toán khó, luôn thường trực trong tư duy, hoạch định đườnglối chính sách phát triển của mỗi quốc gia dân tộc
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minhrằng đằng sau những cuộc xâm lược là sự “xâm lăng” văn hóa Trong nhữngchiến thắng oai hùng của dân tộc trước quân xâm lược thì có một chiến thắng
âm thầm, ít được nhắc tới đó là chiến thắng về mặt văn hóa và kết quả là vănhóa Việt Nam không những không bị đồng hoá mà trái lại vẫn đứng vững vàngày càng khẳng định một cách rõ nét bản sắc riêng của mình
Trang 6Thắng lợi đó là công lao của nhiều tầng lớp trong xã hội, trong đó phảinhắc đến vai trò chủ yếu, to lớn của các chí sỹ yêu nước; của các vị lãnh tụtrong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể.
Bề dày lịch sử của cuộc đấu tranh xây dựng và gìn giữ, phát triển vănhóa truyền thống dân tộc ấy đã để lại cho chúng ta kho tàng các bài học kinhnghiệm quý báu Vì vậy, nghiên cứu và khảo sát các bài học kinh nghiệm lịch
sử nói chung và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóatiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là một việc làm cần thiết, hữu íchcho việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh giao lưu vàhội nhập quốc tế hiện nay đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ
Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng giải phóngdân tộc Tuy vậy con đường giải phóng dân tộc của Người lại mang nhữngđặc trưng riêng so với con đường giải phóng dân tộc của các nhà cách mạngkhác Một trong những nét đặc trưng đó là việc xây dựng và vận dụng sứcmạnh của văn hoá dân tộc vào sự nghiệp cách mạng, góp phần giải phóng xãhội, giải phóng con người
Hồ Chí Minh với cách nhìn biện chứng sâu sắc đã nhìn thấy sức mạnhthực sự của văn hoá trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Văn hoácũng giống như mạch nguồn đã chảy qua hàng ngàn năm lịch sử và từ đó tạo
ra sức mạnh nội sinh của mỗi dân tộc Kế thừa có chọn lọc những giá trị tinhhoa văn hóa nhân loại để xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc chính là đểtăng cường sức mạnh nội sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Chắc chắn
đó là bài học vẫn còn nguyên giá trị cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng nền vănhoá Việt Nam, rút ra những bài học mang tính phương pháp luận là một việclàm cần thiết để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc
Trang 7trong bối cảnh toàn cầu hoá, quốc tế hoá với mục tiêu xây dựng đất nước tangày càng ấm no, tự do, hạnh phúc.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay trên lĩnh vực lý luận nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh vềxây dựng và phát triển văn hóa nói riêng đã được khảo cứu trong nhiều côngtrình khác nhau Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi xin điểm qua một
số công trình tiêu biểu
Võ Nguyên Giáp trong tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đườngcách mạng Việt Nam” tập hợp, hệ thống hoá những luận điểm khoa học trong
di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh Công trình đã đề cập đến tư tưởng Hồ ChíMinh trên nhiều khía cạnh khác nhau trong đó có tư tưởng về nhân văn, đạođức và văn hoá của Hồ Chí Minh Cuốn sách cho thấy rằng “tư tưởng Hồ ChíMinh là niềm tin, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là di dản vôcùng quý báu Người để lại cho Đảng ta, dân tộc ta.” [1, tr.11]
“Văn hoá Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm” của Trần Quốc Vượng làtập hợp những bài viết về văn hoá Việt Nam và về các danh nhân văn hoátrong đó có chủ tịch Hồ Chí Minh Theo Trần Quốc Vượng, Chủ tịch Hồ ChíMinh là “biểu tượng và người mang chở những giá trị văn hoá Đông - Tâykim cổ” [21, tr.344]
“Bản sắc văn hoá Việt Nam” là tác phẩm tập hợp những bài viết củanhà nghiên cứu Phan Ngọc về văn hoá Việt Nam trong quá trình giao lưu vănhoá và bảo vệ, phát huy các giá trị văn hoá trong đời sống xã hội Tác giảtrong tác phẩm này đã có cách nhìn khá chính xác khi đánh giá tư tưởng HồChí Minh đựoc nhìn nhận như là “đỉnh cao của văn hoá Việt Nam” [3, tr.79]
Nguyễn Trọng Chuẩn, trong tác phẩm “Một số vấn đề về triết học - conngười và xã hội” có quan điểm khá tương đồng với UNESCO khi đánh giá về
tư tưởng của Hồ Chí Minh nói chung, và tư tưởng về văn hoá nói riêng
Trang 8của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh “đã có những đóng góp lớn lao cho văn hóaViệt Nam và văn hóa nhân loại” [4, tr.814]
Phạm Minh Hạc trong bài “Phát triển văn hoá, giữ gìn và phát huy bảnsắc văn hoá dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại” thuộc
“Tài liệu bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị” năm 1995 đã nhìn nhận tưtưởng Hồ Chí Minh như là “đỉnh cao mới của văn hoá và là hiện thân kết tinhtruyền thống văn hoá Việt Nam” [8,tr.158]
Đỗ Huy trong “Nhận diện văn hóa Việt Nam và sự biến đổi của nótrong thế kỷ XX” đã có hệ thống các luận điểm khá chi tiết về văn hóa ViệtNam và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, những đóng góp của Hồ Chí Minhtrong việc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam Tư tưởng văn hóa Hồ ChíMinh không chỉ mang “tính giai cấp, dân tộc, nhân loại… văn hóa còn là kếttinh bản chất loài của con người vượt qua những giới hạn của các quan hệ lịch
sử cụ thể” [11, tr.235]
Như vậy, các công trình khoa học trên đề cập đến tư tưởng Hồ ChíMinh về văn hóa khá toàn diện và hệ thống Tuy nhiên, cho đến nay chưa cómột chuyên khảo, chuyên luận nào khai thác khía cạnh phương pháp biệnchứng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng nền văn hóaViệt Nam Tiếp cận, khai thác tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựngnền dân tộc ở khía cạnh phương pháp luận biện chứng là một công việc khó,đòi hỏi có sự tham gia đóng góp của nhiều công trình nghiên cứu Trongkhuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung khai thác tư tưởng Hồ ChíMinh về văn hóa dưới góc độ phương pháp luận phủ định biện chứng Với lý
do đó chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu của mình là “Kế thừa và phát triểntrong việc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng HồChí Minh”
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 9Mục tiêu: Trên cơ sở phân tích làm rõ kế thừa và phát triển trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá Việt Nam Luận văn đề xuấtnhững quan điểm, giải pháp vận dụng tư tưởng đó vào thực tiễn xây dựng nềnvăn hóa Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Nhiệm vụ:
Để có thể đạt mục tiêu trên, luận văn giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Trình bày khái quát nguyên lý của triết học Mác - Lênin về phủ địnhbiện chứng, ý nghĩa phương pháp luận của nó trong việc nhìn nhận, khảo cứu cácquá trình phát triển nói chung và phát triển văn hóa nói riêng
- Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về kế thừa và phát huy giá trị tích cực của văn hoá truyền thống
- Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá tiên tiến trên thế giới
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng văn hoá Việt Nam trong điều kiện hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá Việt Nam
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn được khảo sát trong toàn bộ lịch
sử của sự hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh
5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương phápluận của chủ nghĩa Mác-Lênin; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhànước
- Luận văn cũng được thực hiện trên cơ sở kế thừa một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan
* Phương pháp nghiên cứu
Trang 10- Luận văn được nghiên cứu và trình bày trên cơ sở phương pháp luậnphép biện chứng duy vật, và một số phương pháp khác như phân tích - tổng hợp,lôgic - lịch sử.
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học làm phong phú vàlàm rõ thêm những vấn đề phương pháp luận trong việc nghiên cứu tư tưởng HồChí Minh về văn hoá Việt Nam
- Với việc làm rõ phương pháp luận phủ định biện chứng trong tưtưởng Hồ Chí Minh và xây dựng nền văn hóa Việt Nam, chắc chắn luận văn cónhưng gợi mở quan trọng cho việc hoạch định chiến lược phát triển văn hóa ViệtNam hiện nay
- Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong lĩnh vực tư tưởng Hồ Chí Minh
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Quan điểm Hồ Chí Minh về sự cần thiết kế thừa và phát triển trong xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam
- Chương 2: Nội dung kế thừa và phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá mới
- Chương 3: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá trong điều kiện Việt Nam hiện nay
Trang 12Chương 1 QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ CẦN THIẾT
KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN TRONG XÂY DỰNG
NỀN VĂN HOÁ MỚI VIỆT NAM
1.1 Kế thừa và phát triển trong phép biện chứng duy vật
1.1.1 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về kế thừa và phát triển
Phép biện chứng là tài sản vô cùng giá trị của triết học Mác nói riêng
và chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung Có thể nói phép biện chứng là linh hồncủa triết học Mác - Lênin
Kế thừa phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin là một yêu cầu tất yếu nếu muốn trang bị cho mình một phương phápluận khoa học Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh:
-“Toàn bộ quan điểm của Mác không phải là một học thuyết mà là mộtphương pháp, nó không đưa ra những giáo điều định sẵn mà là những điểmxuất phát cho việc nghiên cứu thêm và phương pháp cho việc nghiên cứunày” [17, tr.808]
Còn V.I Lênin, người phát triển học thuyết C.Mác thì nhận định:
“Những người Macxit chắc chắn là chỉ mượn của học thuyết Mácnhững phương pháp quí báu mà nếu không có thì không thể hiểu được nhữngquan hệ xã hội”[34, tr.239]
Thế giới không chỉ thống nhất ở tính vật chất mà còn thống nhất ở tínhbiện chứng vốn có của nó Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổbiến và sự phát triển Trong phép biện chứng có nhiều nội dung và khía cạnhkhác nhau nhưng trong phạm vi luận văn chúng tôi chỉ đề cập đến khía cạnh
kế thừa và phát triển cho phù hợp với phạm vi luận văn nghiên cứu
Sự vật hiện tượng trong thế giới có mối liên hệ, tác động lẫn nhau Sựliên hệ, tác động đó là nguồn gốc của sự vận động và phát triển
Trang 13Vận động có nhiều hình thức cơ bản và “đều do bản chất của nhữngvật thể đang vận động mà ra” [14, tr.743].
Khái niệm “vận động” chỉ phản ánh sự biến đổi nói chung, cònkhái niệm “phát triển” phản ánh tính chất, khuynh hướng tiến lên của sự biếnđổi nói chung ấy
V.I Lênin viết hai quan niệm cơ bản về sự phát triển (sự tiến hoá): “sựphát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như là lặp lại và sự phát triển coi như
là sự thống nhất của các mặt đối lập…
Với quan niệm thứ nhất về sự vận động, sự tự vận động, động lực của
nó, nguồn gốc của nó, động cơ của nó nằm trong bóng tối…Với quan niệmthứ hai sự lưu ý chủ yếu lại hướng chính vào sự nhận thức nguồn gốc của tựvận động Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan, quan niệmthứ hai là sinh động Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khoá của sự tựvận động của tất cả mọi cái đang tồn tại, chỉ có nó mới cho ta chìa khoá củanhững bước nhảy vọt, của sự gián đoạn của tính phiến diện, sự chuyển hoáthành mặt đối lập, sự tiêu diệt cái cũ và nảy sinh cái mới Theo quan điểm củaV.I.Lênin nếu tất cả đều phát triển thì tức là tất cả đều chuyển hoá từ cái nọsang cái kia, bởi vì như người ta đã biết, sự phát triển không phải là một sự
Trang 14lớn lên, một sự tăng thêm… đã như vậy thì… phải hiểu một cách chính xáchơn sự tiến hoá là sự sinh ra và sự huỷ diệt của mọi vật, là những sự chuyểnhoá lẫn nhau” [14, tr.270].
“Bản thân sự vận động đã là một mâu thuẫn; ngay như sự di động mộtcách máy móc và đơn giản sở dĩ có thể thực hiện được cũng chỉ là vì một vậttrong cùng một lúc vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác…Và sự nảy sinh thườngxuyên và việc giải quyết đồng thời mâu thuẫn này - đó cũng chính là sự vậnđộng…” [14, tr.173]
Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định sự phát triển là một phạmtrù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơngiản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật
Theo quan điểm đó phát triển chỉ bao quát xu hướng vận động đi lêncủa sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ Sự phát triển chỉ là mộttrường hợp đặc biệt của sự vận động
Sự phát triển diễn ra không ngừng trong thế giới tự nhiên, trong xã hội
và trong bản thân con người, trong tư duy Đó là khuynh hướng chung củamọi sự vật, hiện tượng
Sự phát triển có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phongphú
Mỗi sự vật lại có sự phát triển không giống nhau.Điều đó phụ thuộcvào không gian - thời gian khác nhau và những yếu tố tác động khác nhau
Quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng luôn chịu sự tác động vàdiễn ra tuân theo quy luật khách quan Phép biện chứng duy vật khách quankhái quát được ba quy luật của sự phát triển khách quan ấy Phát triển cónguồn gốc, động lực từ sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Sựphát triển không phải do ý chí con người áp đặt mà có nguồn gốc từ nhữngmâu thuẫn (kể cả mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài) của chính sựvật và hiện tượng
Trang 15Phát triển theo Từ điển Tiếng Việt là sự “Biến đổi hoặc làm cho biếnđổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”.[26,tr.769]
Bên cạnh đó:
“Kế thừa là thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy (cái có giá trị tinhthần)”[36, tr.486]
Phát triển không chỉ đơn thuần là sự tăng lên về lượng hay sự tiến hóa
mà phát triển là sự thống nhất giữa thay đổi về lượng và những bước nhảy vọt
về chất Do sự tác động của quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đếnnhững thay đổi về chất này, sự phát triển của sự vật, hiện tượng biểu hiện ranhư một quá trình biện chứng thống nhất mang tính liên tục và đứt đoạn, giữatiệm tiến và nhảy vọt
Đặc trưng quan trọng nữa của sự phát triển là sự ra đời của cái mới thaythế cái cũ Cái mới ra đời không phải là sự đoạn tuyệt hoàn toàn với cái cũ mà
nó luôn kế thừa một cách có chọn lọc những yếu tố tích cực của cái cũ, cải tạo
nó cho phù hợp với cái mới Nói cách khác, phát triển luôn chịu sự chi phốicủa quy luật phủ định biện chứng
Quá trình kế thừa cho thấy sự khẳng định những mặt tốt và những mặttích cực, đồng thời phủ định những mặt tiêu cực, lạc hậu
Kế thừa chính là sợi dây liên hệ giữa cái cũ và cái mới, sự vật cũ và sựvật mới, khẳng định và phủ định, quá khứ với hiện thực…
1.1.2 Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm triết học Mác - Lênin về kế thừa và phát triển
Chúng ta biết, suy cho cùng, triết học và sức mạnh của triết học là ởphương pháp luận của nó
Trang 16Mọi sự vật hiện tượng mới ra đời đều dựa trên sự kế thừa những nhân
tố tích cực của các sự vật cũ Do vậy cần phải luôn biết phát hiện cái và giúp
đỡ cái mới ra đời, chọn lọc cái cũ có giá trị phục vụ cho hiện tại và biết trântrọng những giá trị của quá khứ Ngoài ra phải khắc phục những tư tưởng trìtrệ, lỗi thời, bảo thủ cản trở quá trình phát triển
Quan điểm về sự phát triển cho chúng ta bài học về tránh tuyệt đối hoánhận thức Nếu rơi vào tuyệt đối hoá nhận thức sẽ làm cho thực tiễn không thểphát triển và thực tiễn dậm chân tại chỗ
Quan điểm phát triển yêu cầu phải thấy rõ khuynh hướng phát triểntrong tương lai của sự vật hiện tượng từ sự khái quát những khuynh hướngcho sự biến đổi đó
Phép biện chứng mácxít chỉ ra rằng, bản chất của phát triển là sự vậnđộng theo hướng đi lên của bản thân sự vật, của giới tự nhiên,của con người
và của xã hội Nguyên lý của sự phát triển là sự biến đổi về lượng dẫn đến sựbiến đổi về chất, tạo nên mâu thuẫn trong bản thân sự vật và sự phủ định củaphủ định tạo nên bước nhảy vọt, đưa sự vật này chuyển sang sự vật khác mớicao hơn về chất Trong quá trình đó bao hàm cả sự kế thừa những mặt tíchcực tiến bộ, mà quá trình chuyển hoá đã làm thay đổi từ sự vật cũ sang sự vậtmới Đó là một tiến trình mang tính khách quan, vô tận và làm cho thế giớingày càng hoàn thiện
Nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích một cách khoa học
và chỉ ra quá trình phát triển biện chứng từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ chođến các xã hội ở trình độ cao hơn Hơn thế, nguyên lý còn chỉ ra rằng xã hộiđược cấu thành bởi những quan hệ chặt chẽ và phức hợp giữa con người vàcon người, con người và xã hội, con người và tự nhiên.Sự phát triển xã hộidiễn ra bởi những mâu thuẫn cơ bản giữa sản xuất và tiêu dùng, nhu cầu vàkhả năng… Do đó, động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội sẽ có rất nhiều yếu
tố trong đó nền sản xuất vật chất là nền tảng, là yếu tố cơ bản Bên cạnh đó,
Trang 17nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằng sự giải phóng và pháttriển con người, của lực lượng sản xuất và tương xứng với sự phát triển củaquan hệ sản xuất Khẳng định vai trò quyết định của lực lượng sản xuất nhưngchủ nghĩa Mác - Lênin không hề coi nhẹ các yếu tố khác trong đó đặc biệt làlĩnh vực văn hóa Văn hóa và một sô yếu tố khác cũng được coi như là nguồnđộng lực mạnh mẽ cho sự phát triển con người và toàn bộ xã hội.
Chủ nghĩa Mác - Lênin với quan điểm phát triển là sự phát triển nhữngyếu tố nội sinh kết hợp ngoại sinh, con người, xã hội và tự nhiên … Tất cảnhững yếu tố đó đều mang tính tổng hợp và toàn diện
Với cách nhìn sự vật mang tính biện chứng như vật Hồ Chí Minh đã kếthừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc xây dựngmột xã hội mới, một đất nước mới, một diện mạo mới và một sức sống mới
1.2 Khái niệm văn hoá và tính cần thiết kế thừa và phát triển trong xây dựng nền văn hoá mới
1.2.1 Khái niệm văn hoá
Trong tiếng Việt, “theo nghĩa thông dụng thì văn hóa chính là họcthức(trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa) hoặc theo nghĩa chuyênbiệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (như văn hóa Đông Sơn…)
Theo nghĩa rộng thì văn hóa gồm tất cả những sản phẩm tinh vi hiệnđại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động” [34, tr.56]
Có thể nói cách hiểu thứ nhất chưa phản ánh đầy đủ bản chất của vănhóa Nếu hiểu văn hóa theo nghĩa rộng thì văn hóa mới là đối tượng đích thựccủa văn hóa học
Có thể nói văn hóa bao hàm phạm vi rộng như vậy ta có thể thấy đã tồntại rất nhiều định nghĩa văn hóa của các nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giới
từ nhiều góc độ khác nhau khi nghiên cứu về văn hóa
Nhà nghiên cứu E.B Tylor năm 1871 lần đầu tiên đưa ra định nghĩa vềvăn hóa trong tác phẩm “Văn hóa nguyên thuỷ” xuất bản ở Luân Đôn: “văn
Trang 18hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết,tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng vàtập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xãhội” [34, tr.62].
Tuy vậy để văn hóa trở thành đối tượng của một khoa học độc lập thìđến năm 1885 mới có tác phẩm “Khoa học chung về văn hóa” của Klemm(Đức) đã trình bày sự phát sinh phát triển toàn diện của loài người như mộtlịch sử văn hóa
Thuật ngữ “văn hóa học” xuất hiện năm 1898 tại Đại hội giáo viên sinhngữ họp ở Viên (Áo)
Năm 1949 trong tác phẩm “Khoa học về văn hóa” của L.White xuấtbản ở Mỹ thì thuật ngữ “văn hóa học” trở nên phổ biến
Có thể nói khi đưa ra định nghĩa văn hóa thì cần phải hiểu văn hóakhông bó hẹp vào một số biểu hiện của đời sống tinh thần mà bao gồm tất cảnhững lĩnh vực của đời sống xã hội
Tổ chức UNESCO đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: “Đó là mộtphức thể - tổng thể các đặc trưng - diện mạo về tinh thần và vật chất,trí thức
và tình cảm… khắc hoạ nên bản sắc một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùngmiền quốc gia, xã hội…
Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lốisống, những quyền cơ bản của con người những hệ thống giá trị, những hệthống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…
Có những di sản văn hóa hữu thể như đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ,nhà sàn…
Có những di sản văn hóa vô hình bao gồm những biểu hiện tượng trưng
và “không sờ thấy được” của văn hóa được lưu truyền biến đổi qua thời gian[34, tr.17]
Trang 19Edouard Herriot có một định nghĩa rất ngắn gọn, cô đọng về văn hóakhi cho rằng “văn hóa là cái gì còn lại khi người ta đã quên đi tất cả,là cái vẫnthiếu khi người ta đã học tất cả” [14, tr.1].
Các nhà nghiên cứu văn hóa trong nước đã có rất nhiều định nghĩa vềvăn hóa từ rất sớm và người đưa ra định nghĩa về văn hóa sớm nhất ở ViệtNam chính là Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa phản ánh khá chính xác về văn hóa
và phù hợp với định nghĩa văn hóa của UNESCO sau này
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sángtạo và phát minh ra ngôn ngữ,chữ viết,đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn mặc, ở vàcác phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vănhóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểuhiện của nó mà loài người đã sản sinh ra, nhằm thích ứng những nhu cầu đờisống và đòi hỏi của sự sinh tồn ” [23, 431 ]
Phạm Văn Đồng cho rằng “văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộlịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộcViệt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng như khôngvượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh” [28, tr.1]
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong tác phẩm “Bản sắc văn hóa ViệtNam” cho rằng khi định nghĩa văn hóa cần nắm được cái mặt gọi là “văn hóatrong những sự đa dạng” [17, tr.23] Hơn nữa văn hóa liên quan đến toàn bộđời sống xã hội loài người nên khi định nghĩa văn hóa thì cần tìm trong nhữnglĩnh vực nghiên cứu loài người một cách tổng thể
Hơn nữa văn hóa không phải phát triển trong sự bó hẹp mà văn hóa cần
có sự giao tiếp để phát triển Trong quá trình giao thoa đó nảy sinh sự lựachọn và trong hoàn cảnh đó con người phải biết làm chủ những ham muốncủa mình
Trang 20Và ông đưa ra định nghĩa:
“Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhânhay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộcngười này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểuhiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấynhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, kháccác kiểu lựa chọn của các các nhân hay các tộc người khác” [24,tr.57]
Trần Ngọc Thêm khi định nghĩa về văn hóa lại căn cứ vào những đặctrưng cơ bản để xác định văn hóa là gì
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần docon người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sựtương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [28, tr.16]
Trần Ngọc Thêm đã căn cứ vào tính hệ thống, tính giá trị, tính nhânsinh và tính lịch sử của văn hóa để định nghĩa văn hóa
Nhìn chung các định nghĩa văn hóa được đưa ra có những cách địnhnghĩa khác nhau nhưng đều phản ánh được cả giá trị vật chất và giá trị tinhthần trong văn hóa
Văn hóa là một lĩnh vực có thể xem xét từ nhiều hướng, nhiều góc độkhác nhau Với ý nghĩa đó khi xem xét tư tưởng Hồ Chí Minh về kế thừa vàphát triển trong việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam chúng tôi muốnlàm phong phú hơn những nội dung nghiên cứu trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 21thế giới Điều đó tạo nên truyền thống văn hóa Việt Nam đó là truyền thống
kế thừa và phát triển tinh hoa văn hóa nhân loại
Có thể thấy trong lịch sử Việt Nam đã có những cuộc giao lưu văn hóavới các nền văn hóa khác như văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây…Ngay từ thời tiền sử văn hóa Việt Nam đã hình thành một cách cơ bản Trong
“Đại cương về tiến trình văn hóa Việt Nam” của GS Đinh Gia Khánh đã chorằng thời kỳ tiền sử đã dần hình thành “một cơ tầng văn hóa chung cho tất cả
cư dân vùng Đông Nam Á, dù họ thuộc ngữ hệ nào trong 5 ngữ hệ chủ yếu làTày Thái, Việt Mường, Nam Á, Nam Đảo và Hán Tạng” [12, tr.76]
Trải qua hàng ngàn năm xây dựng và phát triển cho đến thời kỳ nhànước Âu Lạc, nền văn hóa của đất nước ta đã vươn tới một trình độ tương đốicao ở vùng Đông Nam Á cổ đại
Thành tựu văn hóa lớn của thời kỳ này chủ yếu là nông nghiệp lúa nước
và luyện kim Có thể tìm thấy “đồ đồng Đông Sơn và ảnh hưởng của nó đãtìm thấy khắp nơi từ Nam Trung Hoa đến Thái Lan, đến toàn bộ vùng ĐôngNam Á hải đảo” [9, tr.123]
Theo Trần Ngọc Thêm thì chính những “những thành tựu của thế giớiĐông Nam Á cổ đại mà trong đó có phần đóng góp của tổ tiên dân tộc ViệtNam ấy, đã làm nên cái nền vững chắc cho sự phát triển của văn hóa ViệtNam sau này” [29, tr.53]
Báo Thanh niên số 70 (1484) ra ngày Chủ nhật 2.5.1999 có nhận địnhcủa Giám đốc Bảo tàng lịch sử Việt Nam khi cho rằng “văn hóa Đông Sơn, đó
là sự hội tụ, kết sinh của nhiều nền văn hóa trước đó, ở các lưu vực các dòngsông, để tiến lên Đông Sơn trong sự hoà hợp, êm đềm, để từ đay có sức mạnhlan toả, hội nhập với ảnh hưởng qua lại giữa lục địa và hải đảo, mà ngày nay
đó là vùng đất thuộc các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có cả phần lớn vùngNam Trung Hoa… Chính nhờ tính thống nhất đó, văn hóa Đông Sơn được
Trang 22xem như là mạch ngầm nuôi dưỡng văn hóa truyền thống Lạc Việt suốt cảnghìn năm Bắc thuộc”
Như vậy ngay từ thời cổ đại, nền văn hóa Việt Nam đã sớm hình thànhtrong sự hình thành quốc gia thống nhất và trong sự ảnh hưởng lẫn nhau giữacác nền văn hóa
Trải qua thời gian, Việt Nam phải chịu ách đô hộ của phong kiếnphương Bắc suốt hàng ngàn năm Sau năm 938, Ngô Quyền đánh tan quânNam Hán mở ra chương mới trong lịch sử dân tộc kéo dài đến khi thực dânPháp chính thức cai trị nước ta năm 1883 Trong suốt thời gian dài đó, vănhóa luôn bị âm mưu đồng hoá của văn hóa phương Bắc Tuy vậy chính sách
“đồng hoá” của bọn cai trị đã thất bại, nguyên nhân chính để chính sách nàythất bại vì “căn cước của người Việt đã sâu gốc bền rễ trên đất Việt, bản sắcvăn hóa, văn minh của người Việt đã rõ nét và không dễ dàng bị thủ tiêu” [1,tr.145]
Tất nhiên bên cạnh đó sự tiếp thu văn hóa diễn ra song song với quátrình chống lại sự đồng hoá văn hóa Thời kỳ này không chỉ văn hóa TrungQuốc ảnh hưởng đến Việt Nam mà còn có văn hóa ấn Độ điển hình là Phậtgiáo, được truyền bá và ăn sâu vào xã hội Việt Nam Tuy vậy tư tưởng Phậtgiáo đã bị biến đổi cho phù hợp với tín ngưỡng dân gian và làm phong phúthêm đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam
Nho giáo cũng bị biến đổi khi du nhập vào Việt Nam bị “khúc xạ”, bị
“Việt hoá” cho phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam - một nền vănhoá với tính tự trị làng xã rất bền chặt và đặc trưng
Ngoài hai luồng tư tưởng lớn đã du nhập vào nước ta là Phật giáo vàNho giáo còn có rất nhiều tư tưởng, trường phái khác như Đạo giáo, LãoTrang… cũng du nhập và bị biến đổi cho phù hợp với truyền thống văn hóadân tộc
Trang 23Tuy vậy phải đến khi Việt Nam tiếp xúc với nền văn minh công nghiệpphương Tây thông qua con đường thực dân hoá của thực dân Pháp thì mớithực sự tạo nên sự thay đổi khá toàn diện.
Cuộc hội nhập với văn hóa phương Tây có thể tính từ thế kỷ XVI khicác thuyền buôn cùng với các giáo sỹ Phương Tây đến Việt Nam tại các vùng
có hoạt động thương mại nhộn nhịp như Hội An, Phố Hiến… Kể từ đó “lịch
sử Việt Nam đã bị lôi cuốn vào dòng lịch sử rộng lớn toàn cầu” [25, tr.143]
Các linh mục phương Tây là những người đầu tiên đặt nền móng choquan hệ Việt Nam với phương Tây Họ đã đặt chân lên Việt Nam từ khi ViệtNam chưa hề biết đến thế nào là Tin lành và trong khi Nho - Phật - Lão vẫnđang là những luồng tư tưởng chính trong đời sống xã hội người Việt
Có thể thấy rõ sự nhiệt tình của các giáo sỹ và sự hậu thuẫn của các thếlực chính trị nước ngoài đã đặt nền móng cho sự tồn tại lâu dài của đạo Tinlành ở Việt Nam Chính Napoleong I từ năm 1804 khi nói trước Hội đồngHoàng gia Pháp đã khẳng định những giáo sỹ này rất có ích cho mục đíchthực dân của mình ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ
Và lịch sử trong đời sống tinh thần của người Việt kể từ đây đã tồn tạiluồng tư tưởng mới đó là đạo Tin lành Tuy vậy sức mạnh truyền thống vănhóa Việt Nam đã biến đổi nó cho phù hợp với dân tộc Người theo đạo vẫn
“kính chúa” nhưng vẫn “yêu nước” và sống “phúc ấm trong lòng dân tộc” Vàđạo Tin lành đã mang những nét riêng khi du nhập vào Việt Nam
Bên cạnh việc truyền đạo những giáo sỹ cũng có đóng góp lớn cho vănhóa Việt Nam bằng việc tạo ra chữ quốc ngữ Người có công lớn trong việcnày chính là A.de Rhodes (1591-1661) và một số linh mục khác Ông đãphiên âm Tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh và từ đó tách tiếng Việt khỏi mốiliên hệ với chữ tượng hình và tạo ra thứ chữ riêng của Việt Nam
Tôn giáo và ngôn ngữ chính là những thứ vũ khí được vận dụng mộtcách khá triệt để trên con đường đồng hoá Việt Nam như lời của giám mục
Trang 24Puginier “để thay đổi cả dân tộc; đó là tôn giáo và ngôn ngữ Nếu chính phủPháp hiểu biết lợi ích thực sự của mình thì hãy ủng hộ việc rao giảng tin lành
và dạy bảo ngôn ngữ của chúng ta Tôi xin khẳng định là trước thời hạn 20năm chẳng cần phải cưỡng bức ai, xứ sở này sẽ được Kitô hoá và Pháp hoá”[26, tr.231]
Có thể thấy văn hóa phương Tây đã tác động mạnh mẽ đến nền văn hóa
xã hội Việt Nam trên hầu hết các phương diện như kiến trúc, văn học, giáodục, khoa học Tuy vậy với sức mạnh truyền thống văn hóa dân tộc đã trảiqua hàng ngàn năm, văn hóa Việt Nam đã tiếp nhận những điều có ích vàphục vụ cho dân tộc Người Pháp đã nghĩ rằng họ đã đồng hoá người Việtbằng những mưu đồ đen tối nhưng sự thật họ cũng tự nhiên mang đến chochúng ta những tri thức tiến bộ mà văn minh nông nghiệp chưa hề có
Nền văn hóa Việt Nam đã thay đổi “từ ăn mặc đến các phương tiệngiao thông…từ văn xuôi đến tiểu thuyết, từ chữ Hán, chữ Nôm đến chữ quốcngữ…” [27, tr.123]
Sự không chối từ các yếu tố ngoại sinh đó cũng đã làm giàu thêm chovăn hóa Việt Nam mà vẫn giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống ở nôngthôn và mở rộng giao tiếp ở thành phố
Rõ ràng trong lịch sử, dân tộc ta bằng nhiều con đường khác nhau, quanhiều giai đoạn khác nhau đã trải qua những cuộc tiếp xúc, tiếp biến văn hóavới những nền văn hóa lớn trên thế giới Trải qua thời kỳ đầu dựng nước vàgiữ nước cho đến khi tiếp biến với nền văn minh công nghiệp, Việt Nam đã
kế thừa và phát triển những yếu tố tích cực và biến đổi cho phù hợp, đồngthời vẫn gìn giữ bản sắc của dân tộc
Qua những giai đoạn hội nhập văn hóa đó, văn hóa dân tộc Việt Namngày càng trở nên đa dạng, phong phú, phát triển và đầy bản sắc Có thể thấy
“độc lập mà không hề biệt lập, học hỏi bên ngoài mà không sao chép, hội
Trang 25nhập với thế giới mà không bị hoà tan” [28, tr.165] Đó là phương châm đểvăn hóa Việt Nam tồn tại và phát triển cùng lịch sử.
Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh là hai nhà văn hóa lớn đã thực hiện rấtthành công truyền thống tiếp biến văn hóa này Trong khi Nguyễn Trãi kếthừa trên cơ sở Nho giáo và truyền thống văn hóa dân tộc thì Hồ Chí Minh đã
kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh hoa vănhóa nhân loại
Thông qua quá trình tiếp thu có chọn lọc đó văn hóa trở thành sứcmạnh biến đổi thực tiễn tạo nên sự biến đổi trong đời sống của cả dân tộchoặc cả thế giới Hồ Chí Minh chính là một người tiêu biểu khi kế thừa, pháttriển tinh hoa văn hóa nhân loại tạo nên sự ảnh hưởng đối với cả dân tộc vàthế giới
Văn hóa không có biên giới và Hồ Chí Minh là người hiểu rõ điều đó
Hồ Chí Minh đã biết kế thừa các nền văn hóa tiên tiến để xây dựng nền vănhóa mới và chính UNESCO cũng đã thừa nhận:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết tinh các truyền thống văn hóa trải quamấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam …những lý tưởng của Người là hiệnthân những khát vọng của nhân dân các nước trong việc khẳng định diện mạovăn hóa của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau” [29,tr.34]
Có thể thấy rõ trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh luôn thể hiện rõ sự
kế thừa và phát triển tinh hoa văn hóa nhân loại Dường như đó cũng chính làmột đường lối, một phương pháp trong tư tưởng Hồ Chí Minh Quan điểmtoàn diện cho thấy Hồ Chí Minh luôn coi trọng tất cả các yếu tố như chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội Hồ Chí Minh đã viết
“Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề phải coi là quantrọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa”
Trang 26Khi đề cập riêng đến vai trò của văn hóa trong sự phát triển xã hội,Người cũng chỉ ra những điều kiện cơ bản của sự phát triển văn hóa đó là cơ
sở hạ tầng Người viết : “Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng, những cơ sở
hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và đủ điềukiện phát triển được”
Nhận rõ vị trí và vai trò của văn hóa trong đời sống kinh tế, xã hội, HồChí Minh luôn đề cao quá trình kế thừa và phát triển trong lĩnh vực văn hóa
Và Hồ Chí Minh là người tiêu biểu cho sự kế thừa và phát triển những tinhhoa văn hóa của cả dân tộc và nhân loại Sinh ra trong hoàn cảnh nước nhàtrong vòng nô lệ, Hồ Chí Minh đã sớm có quyết tâm tìm ra con đường cứunước, cứu dân Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng cho dù đi khắp nămchâu bốn biển, Người vẫn giữ được những giá trị văn hóa truyền thống củadân tộc đó là tính cộng đồng và lối sống hài hoà, trọng tình
Xuất thân từ một gia đình Nho học và bản thân Người cũng thừa nhận
là một nhà Nho yêu nước Trong các bài viết và nói của Người thường tríchdẫn những câu nói từ vốn tri thức Nho giáo Bên cạnh đó lại có một lối sốngcoi nhẹ danh lợi giống như đạo Lão - Trang và mang trong mình tấm lòng từ
Thực tế khu vực nghỉ ngơi của Bác tại Hà Nội với nhà sàn, ao cá, vườncây cũng thể hiện nét điển hình đó
Trang 27Người cũng luôn phấn đấu cho việc xây dựng một đất nước Độc lập,
Tự do, Hạnh phúc… Những điều đó cũng giống như chủ nghĩa Tam dân củaTôn Dật Tiên
Lối sống coi trọng cá nhân của phương Tây được Người kết hợp hàihoà với lối sống coi trọng tập thể của truyền thống Việt Nam Người kết hợptài tình lối suy nghĩ cảm tính, tổng hợp của Việt Nam với tư duy phân tích, lýtính của văn hóa phương Tây tạo nên một tư duy sâu sắc, chặt chẽ và đầy sứcthuyết phục - điều chúng ta thường thấy trong các bài nói, bài viết và các bàibáo của Người
Kế thừa và phát triển dường như là phương pháp tối ưu trong con người
Hồ Chí Minh Chính Người đã khẳng định điều này bằng câu nói:
“Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cácnhân
Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứngChủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó thíchhợp với điều kiện nước ta
Khổng Tử ,Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đósao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội Nếuhôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhấtđịnh chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết
Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy Tôi chính là tôi ngàytrước: một người yêu nước” [31, tr.23]
Như vậy có thể thấy rõ Người biết tích hợp những tư tưởng văn hóatiến bộ trên thế giới và cùng với truyền thống yêu nước Việt Nam phục vụ chodân tộc Việt Nam
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, những người Việt Namyêu nước đã quyết tâm chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp Hệ quả kéo
Trang 28theo là sự tẩy chay tất cả những gì liên quan đến thực dân Pháp Trong việctìm ra đường lối cho cách mạng Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của quanđiểm đó Phan Bội Châu là một nhà chí sỹ yêu nước nhưng có cách nghĩ khácvới Hồ Chí Minh khi chọn con đường Đông Du chứ không phải là sangphương Tây; sào huyệt của kẻ thù.
Từ khi rất trẻ Người đã biết tìm đến với văn minh phương Tây để họchỏi để tìm hiểu hòng tìm ra đường lối cho cách mạng Việt Nam Sự kế thừa
và phát triển tinh hoa văn hóa nhân loại đã tích hợp nên trong con người HồChí Minh một nền “văn hóa của tương lai” như chính O Madenstam đã nhậnxét:
“Nguyễn Ái Quốc thấm đượm chất văn hóa - không phải thứ văn hóachâu Âu, có lẽ đấy là nền văn hóa của tương lai” [32, tr.487]
Có lẽ những nhận định của những người làm báo nước Mỹ sẽ minhchứng rõ cho điều này khi tuần báo Time bình chọn Hồ Chí Minh là mộttrong 20 nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ XX và đánh giá Người là
“kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa cộng sản và hoàn thiện nghệ thuậtchiến tranh du kích” [21]
Thời báo Ấn Độ đã nhận xét rằng “Cụ Hồ đã kết hợp nhuần nhuyễn sựtoa nhã cao quý với tác phong gần gũi rất dân chủ, giữa tự do không nghi thứcvới sự nghiêm chỉnh thận trọng;vì vậy cụ Hồ có một sức hấp dẫn đặc biệtkhông gì so sánh được” [34]
Tờ Asahi (Nhật) lại cho rằng điều “làm cho cụ Hồ trở thành lãnh tụquần chúng tuyệt vời là sự kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa xã hội,kết hợp phong trào giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa” [2]
Báo Chiến đấu (Pháp) có bài của J Ru cho rằng Bác Hồ là “người hoàntoàn đáng được mọi người ca ngợi, bởi vì cụ Hồ đã kết hợp nhuần nhuyễn phithường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước tuyệt vời,tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống với
Trang 29lòngnhân đạo với con người Sự hài hoà giữa những người tính tình đôi khitrái ngược nhau đó giải thích tại sao cụ Hồ cùng một lúc là nhà thơ, là đảngviên, là nhà lãnh đạo quốc gia, lại vừa là một chiến sỹ ” [26]
Những nhận xét khá xác đáng đó đã nói lên Hồ Chí Minh thực sự làngười biết vận dụng sáng tạo những giá trị tiêu biểu của các nền văn hóa tiêntiến và bổ sung những gì còn thiếu cho nền văn hóa Việt Nam
Việt Nam đã có nền văn hóa lâu đời chi phối suốt chiều dài lịch sử dântộc Nhận rõ sức mạnh của văn hóa Người cho rằng phải làm sao cho văn hóavào sâu đời sống nhân dân Văn hóa phải sửa đổi phù hoa xa xỉ
Hồ Chí Minh cũng chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc,khoa học, đại chúng và xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kế thừa các nền văn hóatiên tiến Bản Đề cương văn hóa năm 1943 của Đảng cộng sản Việt Nam thểhiện rõ những sự kế thừa văn hóa Macxít Mô hình văn hóa trong xã hội mới
đó sẽ vận động theo nguyên tắc dân tộc, khoa học và đại chúng
Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại là một nguyên lý rất có íchtrong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc Văn hóa truyền thống dân tộc phảibiết hoàn thiện, bổ sung bằng các yếu tố tích cực của văn hóa mới - văn hóangoại sinh Có thể nói lòng khao khát đi ra nước ngoài tìm đường cứu nướccũng thể hiện một cách tư duy rất riêng trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Nền văn hóa chỉ phát triển khi biết phát huy cái cũ tiến bộ và tiếp thucái mới làm giàu thêm cho chính nền văn hóa đó Ngay cả truyền thống yêunước của dân tộc Việt Nam trong Hồ Chí Minh cũng đã trở nên hoàn thiệnhơn cao cả hơn và mang trong đó tinh thần quốc tế trong sáng
Tóm lại nhận rõ vai trò và sức mạnh của văn hóa từ rất sớm, Hồ ChíMinh đã chỉ ra rằng muốn xây dựng một nền văn hóa mang đậm dấu ấn, bảnsắc dân tộc và có những giá trị tinh hoa của văn hóa tiên tiến nhân loại thìphải biết kế thừa và phát triển tinh hoa văn hóa nhân loại và phát triển những
Trang 30giá trị cơ bản của truyền thống văn hóa dân tộc Đó cũng là phương pháp biệnchứng duy vật được phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trang 31Chương 2 NỘI DUNG CỦA SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ MỚI VIỆT
NAM
2.1 Một số giá trị cơ bản của truyền thống văn hóa dân tộc
Truyền thống văn hóa là hệ thống những đặc tính bên trong, những sắcthái riêng, có tính cội nguồn, trở thành bản thể, nền tảng của một nền văn hóa.Nói đến truyền thống là nói đến “phức hợp những tư tưởng, tình cảm , tậpquán, thói quen, những phong tục, lối sống, các ứng xử trở nên ổn định đượctruyền từ đời này sang đời khác”
Truyền thống văn hóa dân tộc là những hiện tượng văn hóa xã hội gồmnhững chuẩn mực giao tiếp, khuôn mẫu văn hóa, các tư tưởng xã hội, cácphong tục, tập quán… tồn tại từ thế hệ này đến thế hệ khác
Truyền thống văn hóa dân tộc mang những đặc trưng riêng mà chỉ tìmthấy ở dân tộc đó mà không thấy ở dân tộc khác Nó mang đặc tính dân tộcsâu sắc và in đậm trong thiên nhiên, con người và xã hội dân tộc đó
Truyền thống văn hóa dân tộc mang tính lịch sử rõ nét Điều đó cónghĩa rằng những điều kiện lịch sử, xã hội nhất định sẽ có truyền thống vănhóa riêng phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội đó
Truyền thống văn hóa dân tộc chính là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại vàtương lai của dân tộc đó Có thể thấy rõ đó chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch
sử văn hóa của mọi dân tộc Không có dân tộc nào lại không có lịch sử vănhóa của riêng mình Qua quá trình phát triển lịch sử dân tộc, truyền thống vănhóa tự sáng tạo ra những hệ giá trị riêng và mang những đặc trưng của dân tộc
đó Nó chứa đựng và thể hiện đầy đủ bản sắc của chính dân tộc đã sản sinh ra
nó Những nét riêng đó có thể là cách ứng xử, phương thức sinh hoạt, nghệthuật, kiến trúc, lối sống, khả năng tư duy, đạo đức, thế giới quan, nhân sinh
Trang 32quan… Chính những điều đó làm nền tảng, làm cơ sở để tiếp thu các giá trịcủa các luồng tư tưởng văn hóa khác trên thế giới.
Giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam là những phần tinh tuý, cốt lõitạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Những thành tựu văn hóa vật chất và vănhóa tinh thần đều là những thành tố không thể thiếu trong một nền văn hóa.Tuy nhiên mỗi giai đoạn lịch sử lại có những giá trị văn hóa mới bên cạnhnhững giá trị đã tồn tại lâu dài trong lịch sử Trong quá trình đó có khi xảy raxung đột giữa những hệ giá trị mới tiến bộ và giá trị cũ lạc hậu
Tương lai bắt đầu từ quá khứ Có quan điểm cho rằng muốn đi đếntương lai một cách tốt nhất thì phải có một quá khứ tốt đẹp nhất Điều đó chothấy rằng nếu muốn xây dựng một nền văn hóa mới Việt Nam thật hoàn thiệnthì cần phải biết kế thừa những mặt tích cực của truyền thống văn hóa dân tộc
Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng cho dù có trải qua những biếnđộng thế nào chăng nữa thì Việt Nam vẫn giữ được những bản sắc riêng Cóthể thấy rõ sự tác động của ba “lớp văn hóa” đến văn hóa Việt Nam Đó làlớp văn hóa bản địa Đông Nam á; lớp văn hóa khu vực mà điển hình là vănhóa Trung Hoa và cuối cùng là lớp văn hóa phương Tây
Những yếu tố tác động đó đã làm hình thành nên bản sắc văn hóa ViệtNam Với đặc trưng là một nền nông nghiệp trồng lúa nước, để tồn tại và pháttriển cần hình thành một sự liên kết chặt chẽ thành những cộng đồng dân cưbền chặt Điều đó tạo nên tinh thần đoàn kết, thương yêu lẫn nhau và trên bìnhdiện quốc gia nó tạo nên tinh thần đoàn kết toàn dân tộc và tinh thần yêu nướcnồng nàn
Nền văn minh lúa nước phụ thuộc vào yếu tố khác nhau nên trong tưduy người Việt luôn chú trọng tới rất nhiều yếu tố và nhiều quan hệ giữachúng để làm sao tìm ra sự hài hoà, sự ổn định, mềm dẻo, trọng tình cảm vàthích cuộc sống yên bình mà ghét chiến tranh
Trang 33Văn hóa Việt Nam luôn có xu hướng xây dựng một sự ổn định trongđời sống tinh thần người Việt Nhưng cũng rất linh hoạt trong ứng xử vớithiên nhiên, xã hội.
Trong cuộc đấu tranh giữ vững độc lập dân tộc có cả cuộc đấu tranhdiễn ra không kém phần quyết liệt là cuộc đấu tranh giữ vững bản sắc văn hóadân tộc chống lại sự áp đặt và nô dịch, đồng hoá văn hóa của văn hóa ngoạilai Trong cuộc đấu tranh đó truyền thống văn hóa dân tộc đã được bảo vệ vàphát triển, bổ xung những yếu tố tiến bộ trong đó
Lịch sử đã cho thấy những giá trị của truyền thống văn hóa có sức sốngmãnh liệt trong cuộc đấu tranh nhằm bảo tồn những giá trị văn hóa dân tộc.Qua lao động, chiến đấu để xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc những giátrị văn hóa truyền thống ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn và giàu sức sốnghơn
Mặt khác trong quá trình tồn tại và phát triển, văn hóa dân tộc khôngthể không giao lưu và chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa khác Quá trìnhtiếp biến văn hóa nhân loại là một quá trình tất yếu nhưng trong quá trình đóbản sắc văn hóa dân tộc được giữ vững Không những thế còn được bổ xung
và làm giàu thêm bằng các giá trị văn hóa mới Những giá trị văn hóa mới đãđược đưa vào Việt Nam bằng cách này hay cách khác nhưng dưới hình thứcnào thì nó vẫn bị biến đổi cho phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc Đó
là xu hướng xuyên suốt trong lịch sử dân tộc nói chung
Truyền thống văn hóa là những giá trị được tích luỹ lâu dài qua mộtquá trình tiếp thu và biến đổi mạnh mẽ liên quan chặt ché đến quá trình đấutranh chính trị, xã hội và kinh tế của dân tộc Những giá trị truyền thống luônphát triển, đấu tranh với các thói quen, tư tưởng bảo thủ, tiêu cực… Đó là cáixuyên suốt và chi phối những hành vi, tập quán, lối sống, cách ứng xử củacon người trong mọi thời điểm
Trang 34Văn hóa nông nghiệp cộng với ở trong vị trí địa lý thuận lợi trong việcgiao lưu với các nền văn hóa trên thế giới nên muốn tồn tại và phát triển thìcần phải biết tiếp thu những nền văn hóa khác nhau Lối tư duy tổng hợp củanền văn minh nông nghiệp đã tạo nên tính dung hợp trong việc thích ứng vớinhững nền văn hóa mới Dễ hiểu tại sao những tôn giáo lớn trên thế giới đều
đi vào Việt Nam một cách thuận lợi và cùng phát triển một cách hoà bìnhtrong sự ổn định chung của dân tộc mà không có mâu thuẫn tôn giáo
Sự khoan dung cũng là một phương châm sống chi phối hành động củacon người Việt Nam Để có được sự khoan dung như vậy đòi hỏi phải có mộttấm lòng nhân ái cao cả vượt lên trên hết những chuẩn mực thông thường Dễthấy trong lịch sử chúng ta đã có một truyền thống “tương thân tương ái” giữangười và người trong cộng đồng và lòng nhân ái đó còn được thực hiện với cả
kẻ thù của chính dân tộc mình
Đối với kẻ thù sự khoan dung đó thật sự làm cho kẻ thù phải có một sựkính trọng đối với dân tộc Việt Nam - một dân tộc chỉ mong muốn sống trongcảnh hoà bình mà không muốn chiến tranh Một dân tộc chỉ biết “lấy đạinghĩa để thắng hung tàn”và “Lấy chí nhân để thay cường bạo” Sự khoandung là phương châm sống cũng là động lực góp phần giữ gìn nền độc lập dântộc
Có thể thấy rõ những đặc trưng trên thể hiện sinh động bản sắc văn hóacủa dân tộc, đó là tinh thần yêu nước nồng nàn, sống hài hoà, giản dị, chấtphác và tính dung hợp Những yếu tố này là những yếu tố cấu thành bền vữngtrong truyền thống văn hóa dân tộc
Không phải bất kỳ dân tộc nào cũng có tình yêu quê hương đất nướcnhư dân tộc Việt Nam Đó là truyền thống quý báu mà dân tộc Việt Nam đãhun đúc từ khi mới dựng nước Tinh thần yêu nước nồng nàn và lòng dũngcảm bất khuất chống giặc ngoại xâm là những nhân tố vững chắc để đảm bảocho sự tồn tại và phát triển của dân tộc Có thể thấy rõ truyền thống lịch
Trang 35sử dựng nước và giữ nước dân tộc đã không biết bao nhiêu người và baonhiêu lần đã anh dũng ngã xuống để bảo vệ sự toàn vẹn của cả dân tộc Độnglực duy nhất đã khiến họ làm như vậy chính là chủ nghĩa yêu nước.
“Thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” [26,tr.235]là câunói của danh tướng Trần Bình Trọng khi bị giặc Nguyên Mông bắt được đãthể hiện rõ nhất truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân ta
Qua đấu tranh giữ vững độc lập tự chủ dân tộc mà làm giàu thêm lòngyêu nước và ngược lại lòng yêu nước qua cuộc đấu tranh đó lại được thửthách và hun đúc lên một tầm cao mới Thời gian trôi qua và lòng yêu nướcđược nuôi dưỡng và phát triển thành chủ nghĩa yêu nước Trải qua hai cuộcchiến tranh chống những thế lực mạnh mẽ nhất của chủ nghĩa tư bản, chủnghĩa yêu nước được phát huy cao độ và là nhân tố đảm bảo cho sự thắng lợicủa cách mạng Việt Nam
Bên cạnh tinh thần yêu nước là truyền thống cần cù lao động, sản xuất,vượt qua khó khăn gian khổ để tồn tại và phát triển Có thể nói con ngườiViệt Nam chịu nhiều khó khăn do thiên nhiên, môi trường tạo ra và cũng từkhó khăn đó mà bằng sự cần cù, chịu khó vươn lên vượt qua mọi thử thách.Những yếu tố kể trên là những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cả dântộc đã được duy trì và phát triển trong suốt lịch sử đấu tranh dựng nước và giữnước của dân tộc Có thể trong một giai đoạn nhất định có một yếu tố chiếmgiữ vai trò chủ đạo
2.2 Những đặc trưng của văn hóa hiện đại
Xu thế chung của các nền văn hóa là luôn trong quá trình giao lưu ảnhhưởng lẫn nhau UNESCO đã cho rằng “từ lâu nền văn hóa bao giờ cũng làphương tiện ưu tiên trong cuộc giao lưu giữa các dân tộc, khi nó có thể cốnghiến mạnh mẽ cho việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trên phạm vi quốc tế,
đi đôi với sự nhìn nhận những đặc trưng của mỗi xã hội trong các hình thứcdiễn đạt những giá trị văn hóa của mình” [37, tr.25]
Trang 36Trong xu thế biến đổi chung đó các nền văn hóa xâm nhập vào nhau vàlàm biến đổi lẫn nhau Qua mỗi giai đoạn thăng trầm khác nhau của lịch sử,yếu tố văn hóa mới nảy sinh và tồn tại trong đời sống tinh thần dân tộc Chínhđiều đó thể hiện tính hiện đại, tiên tiến của nền văn hóa trong từng giai đoạnlịch sử Tuy nhiên cần phải chú ý rằng không phải mọi cái m ới xuất hiện đều
là những cái tiên tiến Chỉ những cái mới nào phù hợp với quy luật phát triểnvăn hóa và phù hợp với nguyện vọng, lợi ích của nhân dân thì mới là nhữngcái tiên tiến
Nền văn hóa biết kế thừa những yếu tố tiên tiến nhưng phải dựa trênbản sắc văn hóa dân tộc Những chuẩn mực mới phải cùng những chuẩn mực
cũ tạo nên một nền đạo đức mới hoàn thiện
Kế thừa yếu tố tiên tiến của văn hóa nhân loại là kế thừa tính nhân vănsâu sắc của văn hóa thế giới Mục tiêu cuối cùng của nền văn hóa tiên tiếnchính là để giải phóng con người khỏi áp bức và đưa con người đi đến tự do
Đó cũng là mục tiêu của chủ nghĩa Mác - Lênin mà Hồ Chí Minh đã truyền bávào Việt Nam và trở thành bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần củanhân dân
Một nền văn hóa tiên tiến là một nền văn hóa dân chủ Đó chính là việcphát huy tối đa sức mạnh toàn xã hội để xây dựng nên nền văn hóa mới mangnhững đặc điểm tốt đẹp Một nền văn hóa do toàn thể nhân dân tạo nên sẽ vôsùng phong phú đa dạng và muôn màu muôn vẻ, phù hợp và đáp ứng nhu cầucủa tất cả mọi người
Một nền văn hóa tiên tiến là một nền văn hóa dựa trên nền tảng vữngchắc là khoa học công nghệ hiện đại Khoa học công nghệ hiện đại là nhân tốthen chốt góp phần tạo nên một nền văn hóa giàu tính hiện đại, tiên tiến Khoahọc công nghệ làm cho nền kinh tế chính trị trở nên vững vàng Khi có sự ổnđịnh và vững vàng về mặt kinh tế, chính trị thì văn hóa sẽ phát triển hoànthiện và hiện đại
Trang 37Trong quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa, cần thiết phải đảm bảotính năng động và sáng tạo trong việc tiếp thu và biến đổi văn hóa Sự áp đặtvăn hóa và sự kế thừa nguyên xi nội dung văn hóa cũng đều làm cho văn hóamang trong nó những yếu tố tiêu cực Cần phải đánh giá một cách toàn diện,tích cực và có chọn lọc những yếu tố tiến bộ, tích cực của các nền văn hóa để
bổ xung những yếu tố tiến bộ cho dân tộc mình Đó mới là phương châmđúng đắn nhất trong việc tiếp thu những yếu tố tiên tiến của văn hóa nhânloại
Văn hóa hiện đại phải mang tính cách mạng và phải mang những nộidung để có thể cải biến toàn xã hội Văn hóa tiên tiến không chỉ phản ánh xãhội mà văn hóa tiên tiến phải cải biến xã hội Văn hóa phải đi vào đời sốngnhân dân và làm biến đổi sâu rộng đời sống nhân dân theo hướng tích cực Đó
là bản chất cách mạng của văn hóa
Có thể nói văn hóa tiên tiến, hiện đại mang những yếu tố tích cực, tiến
bộ và phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc Dựa trên những yếu tố tíchcực của văn hóa truyền thống dân tộc mà những yếu tố tiên tiến tồn tại, bổxung cho văn hóa dân tộc tạo nên một nền văn hóa mới - văn hóa tương lai
2.3 Kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc tiếp thu những yếu tố tiên tiến của văn hoá thế giới trong tư tưởng văn hóa
Hồ Chí Minh
Khi nói đến văn hóa có thể chúng ta sẽ nghĩ đến những biểu hiện củavăn hóa trong nhiều lĩnh vực Tuy vậy xét cho cùng văn hóa lại nằm ở ngaytrong “tâm thức con người của một nền văn hóa cụ thể” Con người được thừahưởng văn hóa của quê hương mình một cách tự nhiên Màu da, ngôn ngữ, lốisống, nhân cách, tâm lý… là những đặc trưng nói lên chính con người đóthuộc về dân tộc nào Đó là những hằng số văn hóa tồn tại một cách tự nhiêntrong mỗi con người Những hằng số đó là cơ sở để tiếp thu phát triển nhữngtinh hoa văn hóa bên ngoài
Trang 38Với phẩm chất lỗi lạc của nhà lãnh tụ, khi định hướng xây dựng mộtnền văn hóa mới Việt Nam, Người luôn nêu bật vai trò quan trọng những giátrị của những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Truyền thống được Hồ Chí Minh nhìn nhận và vận dụng như một yếu
tố cấu thành, một động lực của cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh nhìn thấytính tất yếu của truyền thống và biểu hiện tính liên tục của lịch sử Ví như khicoi tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc như là một truyền thống, Hồ ChíMinh cho rằng “tinh thần tự lực tự cường mấy ngàn năm của dân tộc, tinhthần bất khuất truyền từ Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Hoàng Hoa Thám…(và thế hệ ngày nay) sẽ duy trì tinh thần bất diệt ấy, truyền lại mãi mãi chogiống nòi Việt Nam” (Hồ Chí Minh, (1983), Toàn tập, t.4, Nxb Sự thật, HàNội.)
Nhưng để chính truyền thống trở thành yếu tố cấu thành lịch sử dân tộcthì mọi thế hệ đều phải duy trì và truyền lại mãi về sau Điều đó cho thấy sựchủ động kế thừa truyền thống là điều kiện đảm bảo sự liên tục và phát huyhiệu quả truyền thống
Với sự kế thừa truyền thống, chúng ta có một mục đích rõ ràng Truyềnthống được kế thừa tiếp nối là vì hiện tại và tương lai Do vậy, vấn đề khôngchỉ đơn giản là sự kế thừa truyền thống mà cần thiết phải xử lí hợp lí mốiquan hệ giữa truyền thống – hiện tại – tương lai
Không phải mọi truyền thống đều có ý nghĩa với hiện tại Chỉ có nhữngtruyền thống tốt đẹp thì mới gia nhập vào động lực của sự phát triển xã hội.Ngược lại những truyền thống không tốt sẽ là vật cản trên con đường pháttriển Hồ Chí Minh đã rất nhiều lần khẳng định rõ những giá trị truyền thốngtốt đẹp của dân tộc Người đã luôn yêu cầu phải kế thừa những giá trị tốt đẹpcủa dân tộc như: lòng yêu nước, ý chí tư lập, tự cường, tinh thần bao dung…
Truyền thống trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ đơn giản chỉ lànhững ánh hào quang trong quá khứ mà truyền thống chính là một nhân tố
Trang 39không thể thiếu trong hiện tại và tương lai Vì thế mà truyền thống hiện ra nhưmột động lực của sự phát triển Để có thể làm được điều đó (để truyền thốngnhư một động lực) thì cần phải làm sống động lại nó trên cơ sở những yêu cầucủa hiện tại và tương lai Bản thân Hồ Chí Minh đã rất nhiều lần tìm cáchthức tỉnh niềm tự hào dân tộc trong tâm trí của mỗi con người Việt Nam.Người luôn nhấn mạnh đến những kỳ tích mà trong lịch sử dựng nước và giữnước chúng ta đã đạt được Người đã nhấn mạnh và nhắc nhở mọi người:
“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Với động lực là niềm tự hào dân tộc, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tạonên một khối thống nhất toàn dân tộc, tạo nên một lực lượng mới, sức mạnhmới, đáp ứng những yêu cầu của hiện tại
Không phải đến Hồ Chí Minh mới nêu cao tinh thần kế thừa truyềnthống văn hóa dân tộc mà trước đó Nguyễn Trãi - danh nhân văn hóa ViệtNam cũng là một người luôn nêu cao vai trò, sức mạnh của tinh thần dân tộc
và “nền văn hiến” lâu đời của dân tộc
Người Việt Nam luôn có một lòng yêu nước nồng nàn Nó giống nhưsợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
Có thể nói truyền thống đó vừa là động lực vừa là nhân tố góp phần đoàn kết
cả dân tộc và tạo nên sức mạnh trường tồn cho cả dân tộc
Hồ Chí Minh luôn khẳng định “các vua Hùng đã có công dựng nước.Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước’’ [38, tr.187]
Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là sự tổng hợp các giá trị văn hóa Đông
- Tây, trên nền tảng chủ nghĩa nhân văn Việt Nam được hình thành trong cácphong trào lớn của thế kỷ XX: phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xãhội
Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh chính là khát vọng của dân tộc ViệtNam về các chuẩn mực có tính hướng thiện và tiêu biểu cho các giá trị củavăn hóa Việt Nam Hồ Chí Minh vừa là anh hùng giải phóng dân tộc và vừa là
Trang 40danh nhân văn hóa thế giới Tư tưởng văn hóa của Người là sự kết tinh truyềnthống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam cộng với sự đúc kếtnhững kinh nghiệm hoạt động phong phú của Người tạo nên giá trị mới chodân tộc trong việc xây dựng nền văn hóa mới.
Truyền thống văn hóa dân tộc có một sức mạnh lớn lao được lưu giữ vàphát triển qua nhiều thế hệ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến diện mạo vănhóa và bản sắc văn hóa mang tính dân tộc sâu sắc Trong lĩnh vực văn hóa HồChí Minh thường nhắc đến “cốt cáchh dân tộc”, “đặc tính dân tộc”
“Mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính của dân tộc mình trong nghệ thuật”[23, tr.391]
Năm 1962 khi đến thăm triển lãm mỹ thuật toàn quốc, Hồ Chí Minhcũng căn dặn các nhà văn hóa nên phát huy cốt cách dân tộc
Mỗi một dân tộc đều có một đặc trưng riêng về tâm lý, tình cảm, ngônngữ, lối sống, phong tục tập quán… Những yếu tố đó chi phối sự tồn tại vàphát triển hàng ngàn năm của dân tộc đó Dân tộc Việt Nam bao gồm rấtnhiều dân tộc anh em và hơn ai hết Hồ Chí Minh nhận thấy rõ ràng rằng cầnphải có sự bình đẳng giữa các dân tộc và giữa các sắc tộc
Trước đó ngay khi về tiếp quản Thủ đô, Hồ Chí Minh đã quan tâm đếnviệc xây dựng nền văn hóa dân tộc Văn hóa dân tộc tạo nên sức mạnh hàngngàn năm của dân tộc Việt Nam và dân tộc Việt Nam muốn tồn tại và pháttriển thì cần phải bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1946 tại Hà Nội, Hồ Chí Minhcho rằng:
“Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy để tao ra mộtnền văn hóa Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và vănhóa nay để trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật hợp với tinh thần dân chủ”[18, tr.343]