1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng thân dân của nguyễn trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở việt nam hiện nay

94 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 94,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyền thống quý báu ấy củaông cha ta đã được thể hiện trong các triều đại phong kiến tiến bộ mà đặc biệt là sự nhận thức của những tri thức Nho học, của quan lại triều đình với tưtưởng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

………&……….

BÙI THỊ NGỌC LAN

TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ

MỚI

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

………&……….

BÙI THỊ NGỌC LAN

TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ

MỚI

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn : PGS.TS.Trần Đăng Sinh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6

8 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 7

1.1.Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự tồn tại và phát triển tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 7

1.2.Tiền đề lý luận cho sự ra đời và phát triển tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 18

1.2.1 Khái niệm “dân” và “tư tưởng thân dân” 18

1.2.2 Tư tưởng thân dân trong Nho giáo và Phật giáo trước thế kỷ XV ở Việt Nam 21

1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 43

2.1 Quan niệm về “dân” của Nguyễn Trãi 43

2.2 Tư tưởng trọng dân của Nguyễn Trãi 47

2.3 Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi 54

2.4 Ý nghĩa tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay 62

Trang 4

2.4.1.Tư tưởng trọng dân của Nguyễn Trãi đối với sự nghiệp cách mạng

là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong thời kỳ Đảng lãnh đạo

công cuộc đổi mới toàn diện đất nước 63

2.4.2.Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi với quan điểm nhân nghĩa, đoàn kết toàn dân để làm nên những thắng lợi lịch sử 67

2.4.3 Phát huy mạnh mẽ vai trò của quần chúng nhân dân trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay 72

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam bắt đầu từ những năm đầu củathế kỷ X, tiếp theo đó đã trụ vững trước sự tấn công của ngoại xâm chủ yếu lànhờ vào sức mạnh của toàn thể nhân dân Dựa vào dân, đoàn kết toàn dân và

cả đoàn kết trong nội bộ giai cấp thống trị để có sức mạnh trong chiến tranh

vệ quốc đã trở thành vấn đề trung tâm của tư tưởng thời đại

Tư tưởng lấy dân làm gốc là một dòng chảy liên tục trong quá trìnhdựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Truyền thống quý báu ấy củaông cha ta đã được thể hiện trong các triều đại phong kiến tiến bộ mà đặc biệt

là sự nhận thức của những tri thức Nho học, của quan lại triều đình với tưtưởng đầy nhân nghĩa, yêu thương, quan tâm, chăm lo đời sống nhân dân màNguyễn Trãi là một nhà tư tưởng tiêu biểu nhất của xã hội phong kiến khi nóđạt tới tầm cao của thế kỷ XV Truyền thống ấy chứa đựng những tư tưởngnhân văn sâu sắc và còn nhiều giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệđất nước hiện nay

Nguyễn Trãi có tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn Tên tuổi củaông sáng chói trên cuốn sử vàng của dân tộc Dưới ách đô hộ của phong kiếnnhà Minh, ông đã khảng khái đi vào con đường đánh giặc cứu nước Cùngvới Lê Lợi, ông đã lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ chốngquân Minh Khi hòa bình, ông đề ra đường lối xây dựng đất nước nhằm làmcho dân giàu nước mạnh, ông luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân coi

đó là mục đích của đời mình

Để bảo vệ và phát triển đất nước cần phải có tư tưởng thân dân củanhững người đứng đầu, những thủ lĩnh của đất nước, những người “làm quancủa trăm họ” Một khi những “quan phụ mẫu” hết lòng vì nước vì dân thì sứcmạnh của dân tộc càng được phát huy hơn bao giờ hết, nó có thể nhấn trìm bè

1

Trang 6

lũ xâm lược và xây dựng đất nước có tầm vóc và uy tín Đây cũng là vấn đềđặt ra với thời đại ngày nay cần xây dựng và phát triển đất nước Việt Nammang tầm vóc quốc tế.

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “nước lấy dân làm gốc; gốc cóvững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Cách mạng là sựnghiệp của quần chúng nhân dân Chính sự nghiệp ấy có thắng lợi không lànhờ vào vai trò và sức mạnh của nhân dân Vì vậy phát huy sức mạnh củanhân dân là điều không thể thiếu trong thời đại ngày nay

Sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta hiện nay làcông việc lâu dài và đầy khó khăn nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội Sự nghiệp ấy có thành công hay không thì một trong những yếu tố quantrọng là phát huy sức mạnh vật chất tinh thần của quần chúng nhân dân

V.I.Lênin đã chỉ rõ một trong những nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất đốivới một đảng cầm quyền là đảng đó quan liêu, xa rời, tự cắt đứt mối quan hệvới quần chúng Chính vì vậy công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay cầnphát huy hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Mối quan hệ gắn bómáu thịt giữa Đảng và nhân dân là vấn đề sống còn được đặt ra trong bốicảnh ngày nay để đi tới con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta

đã lựa chọn từ những năm 20 của thế kỷ XX

Chính vì những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Tư tưởng thân dâncủa Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Namhiện nay” là đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Suốt nhiều trăm năm qua, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu

về tư tưởng Nguyễn Trãi trên nhiều phương diện chính trị, văn hóa, văn học,nghệ thuật và triết học Tuy nhiên, việc nghiên cứu tư tưởng triết học của

Nguyễn Trãi vẫn còn nhiều khoảng trống như trong Nguyễn Trãi một nhân

vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam tác giả Trần Huy Liệu viết: “Sự nghiệp của

2

Trang 7

Nguyễn Trãi là một kho tàng rất giàu, rất lớn, chắc chúng ta khai thác chưahết; huống chi, nhắc nhở sự nghiệp và tư tưởng của vĩ nhân cũng giống nhưlấy bút tô đậm những cảm hoài đã đậm mà mỗi cháu con đều vinh dự mangtrong quả tim khối óc của mình”[ 57, 164].

Nghiên cứu về dân và tư tưởng thân dân nói chung cũng như tư tưởngthân dân của Nguyễn Trãi nói riêng là một vấn đề lớn được nhiều người quantâm và nghiên cứu Liên quan đến đề tài luận văn có thể khái quát một sốcông trình tiêu biểu như sau:

Trong cuốn “lịch sử tư tưởng Việt Nam”, tập 1, Nxb Khoa học xãhội, Hà Nội, 1993 do Nguyễn Tài Thư chủ biên Tác giả dành hẳn mộtchương để khảo cứu Nguyễn Trãi – nhà tư tưởng vĩ đại của thế kỷ XV và củalịch sử tư tưởng dân tộc” và khẳng định tư tưởng của Nguyễn Trãi đạt đếntầm cao của thời đại, đã khái quát lên được nhiều vấn đề có tính quy luật củacông cuộc cứu nước và dựng nước, chỉ ra được tầm quan trọng của nhậnthức lý luận trong hoạt động thực tiễn, từ đó nâng tư duy dân tộc lên một trình

độ mới Những lý luận của ông vừa có ý nghĩa đương thời, vừa có tác dụngsâu xa về sau Nói cách khác những tư tưởng của ông không chỉ có ý nghĩađối với lịch sử mà còn vượt qua giới hạn không gian, thời gian để chỉ rõ sứcmạnh định hướng, chỉ đạo của lý luận với thực tiễn

Cuốn “Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam” của

tác giả Võ Xuân Đàn, Nxb Văn Hóa – Thông tin, Hà Nội, 1996.Từ góc tiếpcận lịch sử tác giả đã phân tích, trình bày có hệ thống tư tưởng của NguyễnTrãi về chính trị, quân sự, đạo đức, giáo dục và mỹ học Đặc biệt trong tưtưởng về chính trị tác giả đã phân tích và làm nổi bật tư tưởng nhân nghĩađộng lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến trình phát triển lịch sử ở thời đại NguyễnTrãi Đồng thời khẳng định vị trí, giá trị lịch sử và những đóng góp củaNguyễn Trãi trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

3

Trang 8

“Nguyễn Trãi một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam” tác giả

Trần Huy Liệu, Nxb Sử học, Hà Nội, 1962, tác giả đã chỉ rõ nguồn gốc giađình, quê hương và con đường cứu nước với vai trò mưu thần chiến lượccủa khởi nghĩa Lam Sơn và nhà thiết kế cho sự nghiệp xây dựng đất nước saukhi giành được độc lập của nhà Lê Sơ Trong đó lý giải về nguồn gốc tưtưởng nhân nghĩa, lòng tự hào dân tộc của Nguyễn Trãi được tác giả phântích từ nhiều khía cạnh rất sâu sắc

Một số công trình nghiên cứu như: “Một số quan niệm về dân thời Lý– Trần” của tác giả Vũ Văn Vinh đăng trên tạp chí triết học, (số 1 – 1998),tr26 – 28; “Tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi” của tác giảNguyễn Thu Nghĩa đăng trên tạp chí triêt học, (số 2 -1999), tr29 -30; (2005),

“Về mối quan hệ tam giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi”, “Về quyết định củaNguyễn Trãi trong mối quan hệ với thiền phật giáo” của tác giả Trần NguyênViệt đăng trên tạp chí triết học, (số 7 – 2005), tr 23 – 29 và tạp chí triết học, (số 8– 2007), tr35 – 40 “Tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nótrong tư tưởng Nguyễn Trãi”, Luận án Tiến sĩ triết học của Triệu Quang Minh(2014), Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội đãtiếp cận nghiên cứu tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi dướinhững lát cắt khác nhau: Tư tưởng nhân nghĩa – trọng tâm của tư tưởng yêunước, Phật giáo, Nho giáo với tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Ngoài ra liên quan đến luận văn còn có: Trong các văn kiện của Đảng

ta như Nghị quyết Trung Ương 8 (khóa VI) ra nghị quyết 8B (ngày27/3/1990) quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đổi mới công tác quầnchúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, nhấn mạnhquan điểm: cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân, “Nghị quyếtTrung Ương 3 (khóa 7), Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001), Đại X (2006)của Đảng, đại hội XI (2011) nhiều bài nói và viết của các đồng chí lãnh đạoĐảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân (Nguyễn Văn Linh,

4

Trang 9

Đỗ Mười, ) nói về vai trò của dân, về mối quan hệ giữa Đảng và dân, và vềbài học “lấy dân làm gốc” trong sự nghiệp cách mạng và trong công cuộc đổimới ngày nay.

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã nhìn nhận đầy đủ và kháchquan về tư tưởng thân dân của Việt Nam trong lịch sử Tuy nhiên, mỗi côngtrình nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau, phạm vi khác nhau Nội dung mà

đề tài luận văn đề cập đến cho đến nay chưa có công trình nào trình bày vàphân tích có hệ thống tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nóđối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu khoa học từ những công trình đãnghiên cứu, từ góc tiếp cận triết học, luận văn cố gắng phân tích một cách có

hệ thống tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nó đối với côngcuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

-Mục đích của luận văn: Làm rõ nội dung tư tưởng thân dân của nguyễn

Trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

-Nhiệm vụ của luận văn:

+ Phân tích tiền đề hình thành và phát triển tư tưởng thân dân trong lịch

nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

-Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng thân dân

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung khai thác tư tưởng thân dân

của Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Namhiện nay

Trang 10

5

Trang 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

-Cơ sở lý luận: Quan điểm duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu: sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:

lịch sử - logic, phân tích, tổng hợp, so sánh

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn khái quát, phân tích có hệ thống tư tưởng thân dân củaNguyễn Trãi; thấy được ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở ViệtNam hiện nay; đồng thời nhìn nhận, đánh giá những tư tưởng đó dưới góc độcủa chủ nghĩa duy vật lịch sử

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Những phân tích, luận giải của luận văn nhằm sáng tỏ

giá trị tư tưởng thân dân trong lịch sử dân tộc nói chung và tư tưởng thân dâncủa Nguyễn Trãi nói riêng nhằm phát huy những giá trị của nó trong sự

nghiệp lãnh đạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham

khảo cho những ai quan tâm đến tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi Bêncạnh đó luận văn còn giúp cho đội ngũ cán bộ Đảng viên thấm nhuần tưtưởng thân dân để từ đó phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sựnghiệp đổi mới

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương với 6 tiết

6

Trang 12

Chương 1.

CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG

THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI

1.1.Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự tồn tại và phát triển tư tưởng

thân dân của Nguyễn Trãi

Nhà nước Phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV có nhữngphát triển đạt tới trình độ khá cao và có những bước tiến dài trong công cuộcxây dựng đất nước và thịnh vượng trên nhiều mặt

Về kinh tế, Nhà nước phong kiến lúc này đặc biệt quan tâm đến sảnxuất nông nghiệp Sức lao động của nông dân trên đồng ruộng, sức kéo trongnông nghiệp là trâu bò đã được nhà nước phong kiến bảo vệ Chủ trươngkhẩn hoang, xây dựng và quản lý các công trình thủy lợi để ngăn chặn lũ lụtcủa nhà nước phong kiến đã được tầng lớp nhân dân hưởng ứng Nhiều đoạn

đê quan trọng ở lưu vực sông Hồng và lưu vực sông lớn ở Bắc Bộ và Bắctrung Bộ đã được đắp và thường xuyên tu bổ trong thời kỳ Lý – Trần

Nông nghiệp phát triển đã tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh sản xuất thủcông nghiệp Cho nên ngành thủ công nghiệp dù không được nhà nước Phongkiến coi trọng bằng nông nghiệp, nhưng cũng có bước tiến bộ lớn trong thời Lý– Trần Lúc này ở nước ta, các nghề dệt lụa, nung gạch ngói, làm đồ gốm, luyệnkim, đúc chuông và mỹ nghệ đều phát đạt Hàng thủ công thời kỳ ấy đạt chấtlượng cao Gấm vóc có thể dùng để may lễ phục cho vua quan Đồ gốm vừaphong phú về loại hình, vừa đẹp, vừa tinh xảo Sự xuất hiện một số làng thủ công

và sự phân chia thành khóm phường của thị dân ở Thăng Long càng chứng tỏtrình độ phát triển của thủ công ta hồi đó Trên cơ sở những sản phẩm nôngnghiệp và thủ công nghiệp dồi dào như vậy, việc trao đổi hàng hóa ở trong nước

và việc buôn bán với nước ngoài cũng được đẩy mạnh

7

Trang 13

Quang cảnh buôn bán nhôn nhịp ở Thăng Long, ở các thị trấn và ở cảnh VânĐồn bấy giờ cho ta thấy điều đó.

Tương ứng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi, các đường giaothống thủy bộ, các hệ thống trạm dịch trong thời Lý – Trần cũng được mởmang thêm Từ Thăng Long tỏa đi các nơi có cả một hệ thống đường thủy bộnhất là trên các đường sông và ven biển đã có nhiều thuyền lớn đi lại tấp nập

Có thể nói nền kinh tế của nước Đại Việt đã phát triển với một sinh lựcdồi dào và đạt tới trình độ khá cao trong khuôn khổ một chế độ sở hữu phongkiến đặc thù lúc bấy giờ

Từ thời Đinh cho đến giữa thời Trần, chế độ sở hữu nhà nước vềruộng đất chiếm ưu thế trong xã hội Đại bộ phận ruộng đất trong nước lúc ấy

là công điền, công thổ của làng xã Nhưng ruộng đất này lại thuộc quyền sởhữu tối cao của nhà vua Nhà vua lấy công điền, công thổ của làng xã phongcấp cho quý tộc quan lại Bên cạnh ruộng công của làng xã còn có ruộng quốckhố của triều đình, điền trang, thái ấp của quý tộc và ruộng của nhà chùa.Ngoài ra lúc này, chế độ tư hữu về ruộng đất cũng đã xuất hiện và có xu thếngày càng tăng lên vào cuối thời Trần Đó là ruộng đất của tiểu nông và địachủ Phần đất phong cấp vĩnh viễn cho quan liêu quý tộc cũng trở thành ruộngđất tư hữu

Thích hợp với quan hệ kinh tế nói trên, các thời Đinh, Tiền Lê, Lý,Trần cũng có một kết cấu giai cấp tương ứng

Giai cấp phong kiến thống trị trước hết là tầng lớp quý tộc và quan liêu

mà đại biểu là nhà vua nắm giữa mọi quyền hành ở triều đình và trong xã hội.Tiếp đó là giai cấp địa chủ, lúc đầu số lượng còn ít nhưng về sau tăng lên dần.Tăng lữ là tầng lớp xã hội đáng kể và có một lực lượng đông đảo từ cuối thờiBắc thuộc đến đầu thời Trần Nhưng chỉ có những quý tộc đi tu và tầng lớp trêntrong nhà chùa mới thực sự gia nhập vào hàng ngũ giai cấp phong kiến Nhànước phong kiến đã sử dụng tăng lữ này với tầng lớp nho sĩ mới xuất

8

Trang 14

hiện đẻ duy trì sự ổn định xã hội và củng cố quyền lực của triều đình Cònđông đảo quần chúng nhân dân bị thống trị thì gồm có người nông dân ở lành

xã lĩnh canh công điền công thổ hoặc ruộng của địa chủ Bên cạnh đó là nông

nô và nô tỳ trong các điền trang và các gia đình quý tộc Ngoài ra cũng phải

kể đến thợ thủ công và lái buôn nữa

Tất cả những giai cấp và đẳng cấp ấy đều đứng trước hai nhiệm vụ dựngnước và giữ nước lúc đương thời Cả hai nhiệm vụ này trước hết là nhiệm vụgiữ nước đã động viên tinh thần chiến đấu ngoan cường của các giai cấp và cáctầng lớp nhân dân trong những cuộc chiến tranh giữ nước ở các thế kỷ X, XI,XIII Quân và dân ta đã thực hiện nhiệm vụ cứu nước bằng những chiến cônghiển hách về mặt quân sự Chính nhiệm vụ cứu nước đã làm cho các giai cấp đốikháng trong nước phải xích lại gần nhau để chiến đấu chống kẻ thù chung Do

đó mà mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến thống trị và nhân dân ta trong thời kỳnày chưa diễn ra một cách quyết liệt và sâu sắc bằng các thế kỷ sau Những mâuthuẫn đó vẫn âm ỷ và cuối cùng phát triển thành cuộc khởi nghĩa của nông dânvào cuối thế kỷ XIV mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ và Trần Tề

Cùng với những bước phát triển về kinh tế và chính trị, từ thế kỷ X trở

đi trong điều kiện của một quốc gia phong kiến độc lập tự chủ, nền văn hóatinh thần của nước Đại Việt cũng phát triển mạnh Nhất là khi vương triều Lýđược xác lập thì sự phát triển ấy đã đạt được những thành tựu rực rỡ Mấy thế

kỷ sau sự phát triển ấy vẫn tiếp tục, đặc biệt vào thời Trần sau khi nhân dân ta

đã ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông

Người ta có thể dễ dàng nhìn thấy sự phát triển văn hóa ngay từ công việcgiáo dục và thi cử Sự xuất hiện ở thời Lý một nền giáo dục Nho học có tính chấtthế tục do nhà nước phong kiến quản lý khác hẳn với nền giáo dục của nhà chùa,thì điều đó có một ý nghĩa to lớn đối với sinh hoạt văn hóa và tư tưởng của ĐạiViệt Vì nó không những tác động trực tiếp vào sự hình thành đội ngũ tri thứcdân tộc và sự tuyển lựa nhân viên cho bộ máy quan liêu, mà còn ảnh hưởng đếnthế giới quan và những quy phạm chính trị và đạo

9

Trang 15

đức của con người Hơn nữa nó còn dẫn đến những biến đổi trong phongcách tư duy, trong sáng tác văn học nghệ thuật và sáng tạo khoa học.

Trên lĩnh vực văn học, ở thời Lý nhiều áng thơ văn đã xuất hiện Bên cạnhnhững bài thơ và văn bia xoay quanh các chủ đề của đạo Phật là những áng vănchính luận nổi tiếng phản ánh công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc.trong đó tiêu biểu nhất là bài Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn Bước sang thờiTrần hoạt động văn học sôi nổi hơn nữa Lúc này lực lượng sáng tác ngoài cácnhà sư còn có quý tộc và nho sĩ Do đó, chủ đề của thơ văn thời Trần khôngnhững xoay quanh những vấn đề của đạo Phật, mà còn xoay quanh những vấn đềcủa đạo Nho và nhất là của đời sống hiện thực Nhưng nổi bật hơn cả vẫn lànhững áng thơ văn thể hiện chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của nhândân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Không những thế vănhọc thời Trần còn có sự phong phú về thể loại Điều đáng lưu ý là đến thời Trầnchữ Nôm được vận dụng rộng rãi trong văn học Điều đó chứng tỏ nền văn hóa

tư tưởng có tính chất độc lập của dân tộc ta đã phát triển tới mức vận dụng tiếngnói và ngôn ngữ dân tộc thì mới có thể vươn lên một cách mạnh mẽ

Chế độ phong kiến Việt Nam trong thời Lý – Trần đã tiến đến một thời

kỳ thịnh trị Nhưng đến cuối thế kỉ XIV sang đầu thế kỉ XV đã có những biếnđộng mạnh mẽ tác động rất lớn đến vận mệnh dân tộc Trong khoảng thời gian

30 năm, từ năm 1390 đến năm 1428 đã có tới ba triều đại thay thế nhau đó lànhà Trần - Hồ - Lê Sơ, cùng với đó là những cuộc kháng chiến trường kì củadân tộc chống lại quân xâm lược và nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dânchống lại triều đình Bước vào nửa cuối thế kỉ XIV tình hình kinh tế - xã hộiĐại Việt rơi vào tình trạng khủng hoảng Chế độ điền trang, thái ấp mangnặng tính chất khép kín, ngày càng đè nặng lên các tầng lớp lao động trong xãhội và kìm hãm sự phát triển của sản xuất Sự mục nát của nhà Trần đã làmcho mâu thuẫn giữa quý tộc và nô tì, nông nô vốn đã âm ỷ nay càng thêm sâusắc Nhân dân ngày càng bị bần cùng hóa và bị phá sản trên quy mô lớn Năm

10

Trang 16

1400 Hồ Quý Ly truất ngôi vua Trần tự xưng Hoàng đế, đổi quốc hiệu Đạingu, lập ra triều Hồ (1400 – 1407).

Tình hình kinh tế - chính trị thế kỷ XV, tức cuối đời Trần chế độ điềntrang và chế độ nô tỳ khủng hoảng dữ dội và cản trở nghiêm trọng sức sảnxuất của xã hội Trong lúc nền kinh tế đại điền trang của quý tộc lung laymuốn đổ thì nền kinh tế của địa chủ bình dân với chế độ mua bán ruộng đấtthịnh hành ở thời Lý và thời Trần càng ngày càng phát triển Nền kinh tế địachủ bình dân cũng nằm trong phạm trù nền kinh tế phong kiến như nền kinh

tế đại điền trang quý tộc Nhưng so với nền kinh tế đại điền trang quý tộc thìnền kinh tế của địa chủ bình dân tiến bộ hơn Trong khi nô tỳ - nông nô ở cácđại điền trang bị bóc lột vô hạn độ thì người nông dân lĩnh canh ruộng đất củađịa chủ được tương đối tự do hơn do đó họ có hứng thú sản xuất hơn Sự pháttriển của nền kinh tế của địa chủ bình dân đe dọa sự tồn tại của chế độ đạiđiền trang và chế độ nô tỳ Sự tình trên dẫn đến mâu thuẫn giữa địa chủ bìnhdân với quý tộc, mâu thuẫn giữa nô tỳ và quý tộc ở một chừng mực nhất định,lợi ích của nô tỳ nhất trí với lợi ích của địa chủ bình dân Tầng lớp địa chủbình dân có đại biểu đắc lực của họ ở phương diện chính trị và văn hóa là lớpnho sĩ xuất thân từ bình dân Lớp nho sĩ này yêu cầu bãi bỏ các đặc quyền đặclợi của quý tộc Sự khủng hoảng của chế độ đại điền trang và chế độ nô tỳ lànguyên nhân chủ yếu đẻ ra phong trào khởi nghĩa của nô tỳ rất phổ biến cuốiđời Trần Tình hình sản xuất cuối đời Trần tỏ ra nền kinh tế địa chủ khôngnhững không có khả năng làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển mà còn cóthể tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp cũng khôngphát triển nữa Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và thủ công nghiệp pháttriển lại là tiền đề cho thương nghiệp phát triển

Như vậy, sự thủ tiêu chế độ điền trang và chế độ nô tỳ là điều kiện tiênquyết để cho xã hội Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ bước sangmột giai đoạn lịch sử tiến bộ hơn Nói khác đi, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ

11

Trang 17

XIV đầu thế kỷ XV cần có những cuộc cải cách lớn thì mới ổn định và pháttriển được Tuy nhiên, cải cách là ảnh hưởng đến quyền lợi của quý tộc nên

họ sợ cải cách và phản đối cải cách Với thái độ bảo thủ của quý tộc cuối cùngcũng đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa của nô tỳ và nông dân Hồ Quý Ly đã nhậnthức được nguyên nhân sâu xa của tình trạng khủng hoảng của xã hội ĐạiViệt cuối thế kỷ XIV nên sau khi nắm quyền, đã mạnh dạn tiến hành một loạtcải cách nhằm giải quyết tình trạng khủng hoảng cuối thế kỷ XIV và phục hồi,củng cố quốc gia quân chủ trung ương tập quyền đang lâm nguy

Trong những cải cách Hồ Quý Ly chính sách hạn điền và chính sách hạn

nô là đáng để ý Theo chính sách hạn điền thì chỉ có đại vương và trưởngcông chúa thì ruộng đất không bị hạn đinh, còn thứ dân không được có quámười mẫu ruộng Người nào ruộng quá hạn đinh thì phải nộp vào quan,người nào phạm tội được phép đem ruộng chuộc tội Chính sách hạn điền của

Hồ Quý Ly nhằm đánh vào quý tộc, lãnh chúa Chính sách đó có lợi cho nhànước phong kiến, làm cho Nhà nước có thêm nhiều ruộng đất để có thể làmnhững việc công ích như việc y tế, giáo dục Nhưng chính sách đó vẫn dànhcho bọn đại quý tộc – đại vương và trưởng công chúa – nhiều đặc quyền, đặclợi trong việc chiếm hữu ruộng đất Mặt khác, chính sách hạn điền lại làm chokinh tế địa chủ khó phát triển Vì vậy, chính sách hạn điền, mặc dù có lợi cho

xã hội, nhưng không được tầng lớp địa chủ là lực lượng mới hoan nghênh.Năm 1401 Hồ Quý Ly thi hành chính sách hạn nô Những người đượcphép dùng gia nô, cứ theo cấp bậc của mình mà dùng nhiều hay ít, số gia nô thừaphải đem sung công Những gia nô bị sung công biến thành quan nô, quan nô cóthể đem dùng vào việc khai khẩn đất hoang cho Nhà nước hay dùng vào việc sảnxuất nông nghiệp Quan nô cũng có thể đem dùng vào việc xây thành quách, làmđường sá chính sách hạn nô có lợi cho sản xuất xã hội trong một hạn độ nhấtđịnh, vì nó có tác dụng giảm bớt số người thoát ly sản xuất, giữ nông dân ở lạiđồng ruộng để sản xuất Chính sách hạn nô chỉ biến tư nô thành quan nô mà

12

Trang 18

không giải phóng hẳn nô tỳ Vì vậy, nô tỳ cũng không hoan nghênh chínhsách hạn nô Do đó, các cải cách của ông không có hiệu quả lâu dài

Những cải cách của Hồ Quý Ly có mặt tích cực, tiến bộ nhưng chưa đápứng đầy đủ nhu cầu phát triển của xã hội Dưới triều nhà Hồ, xã hội Đại Việt

có những bước tiến nhất định, nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế điền trangthái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ vẫn chưa được giải quyết Nhà Hồ đứngtrước những thử thách cực kỳ nghiêm trọng

Chính quyền nhà Hồ mới thành lập chưa được củng cố, thiếu cơ sở xãhội vững chắc, mâu thuẫn xã hội từ cuối đời nhà Trần vẫn không được hòahoãn Âm mưu xâm lược của nhà Minh ngày càng trở thành hiện thực

Lợi dụng khủng hoảng xã hội và sự chống đối của quý tộc Trần và triềuđại Hồ Quý Ly, cuối năm 1406, nhà Minh tiến hành cuộc chiến tranh xâmlược Đại Việt Chỉ trong vòng một thời gian ngắn cuộc kháng chiến của nhà

Hồ chống quân Minh, đã bị thất bại Nhà Hồ sụp đổ, quân Minh đặt ách thốngtrị lên đất nước ta, chúng thi hành nhiều chính sách dã man, tàn độc, chúngmuốn thực hiện dã tâm đồng hóa nước ta, xóa bỏ vĩnh viễn đất nước ta Saubốn thế kỷ độc lập, tự chủ, với thất bại của nhà Hồ, dân tộc ta rơi vào ảnh nô

lệ lầm than Chúng làm tàn lụi tận gốc rễ tất cả nguồn sống, những giá trị vềvật chất, tinh thần, những giá trị văn hóa, biến nước ta thành quận huyệnthuộc ngoại vi Trung Quốc

Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ thất bại khôngphải do nhân dân ta không có lòng yêu nước và không có tinh thần đánh giặc mà

do nhà Hồ không có đủ uy tín, không có đủ khả năng thu hút nhân dân tham giacuộc kháng chiến đó Chính Hồ Nguyên Trừng – con trai Hồ Quý Ly, người lãnhđạo quân đội của nhà Hồ cũng nhận ra rằng thất bại là khó có thể tránh khỏi nếunhân dân không ủng hộ trong cuộc kháng chiến này và đã nói với Hồ quý Lyrằng: “Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi” Songcũng phải thật khách quan mà nhận định rằng, không thể

13

Trang 19

đổ mọi tội lỗi lên nhà Hồ mà kết quả này là do hậu quả của những năm trước

để lại Cuộc khủng hoảng cuối đời Trần đã làm suy yếu lực lượng tự vệ củatriều đình và nhân dân, đồng thời làm tăng thêm mâu thuẫn vốn đã rất sâu sắcgiữa nhân dân và giai cấp thống trị Chính cuộc cải cách của nhà Hồ cũng đãlàm cho mâu thuẫn giữa nhân dân và triều đình ngày càng sâu sắc

Nhà Hồ sụp đổ, nhà Minh tiến hành chính sách cai trị đối với nước ta.Trong hai mươi năm đô hộ nước ta, nhà Minh đã thực hiện những chính sáchhết sức dã man và tàn bạo, âm mưu đồng hóa nước ta, biến nước ta thànhmột bộ phận của Trung Quốc Nhà Minh thi hành nhiều chính sách nhằm vơvét của cải tài nguyên nước ta để đem về làm giàu cho Bắc quốc Chúng tìmmọi cách để hủy diệt nền văn hóa của Đại Việt như: đốt sách, trừ những bảnkinh sách về Phật giáo và Đạo giáo, bắt những thợ thủ công lành nghề, nhữngnghệ nhân nổi tiếng của ta về Bắc quốc để phục vụ cho triều đình nhà Minh,chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, bắt nhân dân ta đi phu dịch Tội ác củagiặc Minh đã được Nguyễn Trãi vạch ra: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hungtàn, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”

Trước những chính sách đô hộ rất thâm hiểm của nhà Minh, vận mệnhdân tộc ta đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt, quyền lợi của mọi giai cấp, tầnglớp đều bị tước đoạt Lịch sử đặt vận mệnh dân tộc ta trước hoàn cảnh không

có sự lựa chọn nào khác ngoài con đường đứng lên đấu tranh để giành lại độclập tự do Và nhân dân ta với truyền thống yêu nước và tinh thần đánh giặcngoại xâm đã đứng lên chống giặc Minh ngay sau khi cuộc kháng chiến củanhà Hồ thất bại Hàng loạt các phong trào đấu tranh của nhân dân đã nổ ra ởkhắp nơi trong cả nước:

Giữa năm 1407, nhân dân huyện Đông Lan và Trà Thanh - phủ DiễnChâu (Nghệ An) nổi dậy phá nhà ngục, giết bọn quan lại

14

Trang 20

Cuộc khởi nghĩa do Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng lãnh đạo đã thu húthàng vạn nhân dân tham gia và đã buộc nhà Minh phải dùng đến quân đội đểđàn áp.

Giữa năm 1410 có cuộc khởi nghĩa Đồng Mặc ở Thanh Hóa, khởi nghĩacủa Lê Nhị ở Thanh Oai, Lê Khang ở Thanh Đàm, Phạm Tuân ở Đông Kết(Khoái Châu, Hưng Yên)

Ở miền núi, phong trào đấu tranh chống quân Minh phát triển mạnh Đó

là phong trào do các thủ lĩnh Ông Lão, Chu Sư Nhạn, Bùi Quý Thăng cầmđầu ở Thái Nguyên, Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn

Những cuộc đấu tranh của nhân dân ta bị thất bại là do phong trào thiếu tính

tổ chức, mang tính tự phát, phần nhiều là chưa thu hút đông đảo nhân dân thamgia Duy chỉ có cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng là

đã tập hợp được khá đông nhân dân tham gia nhưng bản thân hai nhà lãnhđạo mất đoàn kết với nhau nên phong trào không thế lan rộng ra phạm vi cảnước Phong trào này thất bại cũng chứng tỏ một điều là vai trò và vị trí củanhà Trần đã không còn thích hợp với một thời đại mới của dân tộc Các cuộcđấu tranh của nhân dân ta thời kỳ này đều không giành được thắng lợi nhưng

nó buộc nhà Minh phải lo lắng tới chính sách cai trị của chúng

Mặc dù thất bại trong đấu tranh và kẻ thù bị đàn áp dã man nhưng lòngyêu nước và ý chí căm thù giặc của nhân dân ta vẫn luôn nóng bỏng tronglòng mỗi con dân Đại Việt Chính vì vậy khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa kêugọi nhân dân nổi dậy giết giặc thì Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa của anhhùng hào kiệt bốn phương, của những người yêu nước từ khắp nơi tìm vềmưu đồ sự nghiệp cứu nước Đó là những người dân của các bản làng xungquanh Lam Sơn và các châu, huyện vùng Thanh Hóa, bao gồm cả miền xuôi

và miền núi, dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Đó là những người con ưu túcủa dân tộc từ nhiều nơi xa xôi, vượt mọi trở ngại tìm đến tụ nghĩa Tất cảnhững người yêu nước ấy khác nhau về thành phần xã hội và dân tộc, về quê

15

Trang 21

quán và cuộc sống, nhưng cùng mối thù không đội trời chung với quân giặc

và cùng một lý tưởng quyết tâm đánh giặc cứu nước

Nghĩa quân Lam Sơn bước vào cuộc chiến đấu với một lực lượng hếtsức chênh lệch so với kẻ thù, có 2000 người trong đó lực lượng lòng cốt chỉ

có 700 quân lúc đó như Nguyễn Trãi nói: cơm ăn chẳng no hai bữa, áo mặcchẳng phân đông hè, quân khi chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không(Thư gửi Vương Thông) Có những lúc vị minh chủ của nghĩa quân Lam Sơnphải hy sinh cả con ngựa chiến đấu đã vào sinh ra tử với mình để lấy thịt nuôiquân, phải ăn rau, ăn quả rừng, khó khăn không biết để đâu cho hết Nhưngvới đạo quân chính nghĩa ấy, không có hiểm nguy nào có thể làm cho họ lo sợbởi bằng đằng sau họ là nhân dân Đại Việt đang ngày đêm mong ngóng vàkhao khát độc lập, sẵn sàng hy sinh và hiến dâng cho nghĩa quân Nghĩa quân

đi đến đâu cũng được nhân dân khắp nơi hưởng ứng và chào đón Chính vìvậy mà nghĩa quân từ một ngọn lửa nhỏ ở vùng núi Thanh Hóa phong trào đãphát triển và lan rộng ra khắp nơi; từ chỗ phải cố thủ trên núi để bảo toàn lựclượng mỏng manh của mình, từ chỗ phải nhún mình chịu hòa với quân giặc

để chờ thời cơ, cuộc khởi nghĩa đã giành thế chủ động tấn công vào cuộc khởinghĩa từ vùng núi Thanh Hóa đã lan rộng ra cả nước và trở thành cuộc khángchiến của toàn dân tộc chống quân xâm lược nhà Minh Những chiến thắngvang dội lòng người, những thành công nối tiếp thành công với đỉnh cao là tốtĐộng - Chúc Động, chi Lăng – Xương Giang đã làm cho mộng bá chủ thiên

hạ và tham vọng biến Đại Việt của chúng ta thành quận Giao chỉ của vua quannhà Minh tan thành mây khói

Đất nước của người Nam lại được trả về nguyên vẹn cho người Nam.Sau 10 năm (1418 – 1428) “nếm mật nằm gai” “trằn trọc” đắn đo, từ cuộckhởi nghĩa đã trở thành cuộc kháng chiến của toàn dân đem lại cho đất nướchòa bình và độc lập Khúc khải hoàn ca đánh dấu một trang sử mới của dân

16

Trang 22

tộc và là bằng chứng cho sức mạnh của lòng yêu nước, của chính nghĩa, củacuộc chiến tranh nhân dân.

Sau bao nhiêu năm dựng nước và giữ nước với những thành tự lẫy lừngcủa các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, dân tộc ta lại một lần nữa bị phong kiếnTrung Quốc xâm lược và thống trị Quan quân nhà Minh đã giày xéo đấtnước ta và gây nên ở đây muôn vàn tội ác Chúng đã biến nước ta thànhquận, huyện của trung Quốc, đặt quan lại của chúng ở khắp mọi nơi, bắt nhândân ta phải lao động vô cùng cực khổ để phục vụ chúng Chúng vơ vét vàngbạc, thóc lúa, bò, ngựa cùng mọi tài sản của nhân dân ta Kể cả sách vở vànhững sản vật văn hóa lâu đời Hàng vạn trí thức và thợ giỏi đã bị bắt và đưa

về nước chúng Chúng cưỡng bức nhân dân ta bỏ hết phong tục cổ truyền, bắtcắt tóc, mặc quần áo theo kiểu Trung Quốc, ra sức đồng hóa nhân dân ta, hòngxóa hết mọi dấu vết của dân tộc ta trên mảnh đất này Trước nguy cơ diệtvong ghê gớm ấy, dân tộc ta chỉ có một con đường là kiên quyết chiến đấu.Suốt nhiều năm trời, trên mảnh đất này, không có một nơi nào mà nhân dân ta

đã không nổi dậy Hàng trăm cuộc khởi nghĩa, hàng ngàn cuộc chống trả đãliên tiếp diễn ra, nơi này bị dập tắt, nơi khác lại bùng lên Để duy trì sự thốngtrị của chúng, giặc đã phải liên tiếp tăng thêm viện binh từ Trung quốc, hếtchục vạn người này đến chục vạn người khác Mặc dù đánh cho địch thiệt hạirất nhiều, các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta rút cục vẫn không thành công

Đó là vì thiếu một phong trào quần chúng có tổ chức, thiếu những sách lượcđúng đắn, thiếu những lãnh tụ tài năng Trong tình hình bế tắc ấy, phong tràoLam Sơn do vị anh hùng kiệt xuất là Lê Lợi lãnh đạo, đã tập hợp được đôngđảo nhân dân từ khắp mọi nơi, vượt qua được khó khăn để đi tới thắng lợicuối cùng Đi với phong trào Lam Sơn, Nguyễn Trãi con người văn võ songtoàn, có đủ nhân trí dũng đã đem hết tài năng và trí lực dâng hiến cho sựnghiệp cứu nước, cứu dân

17

Trang 23

Như vậy, tình hình xã hội Việt Nam dưới chế độ chiếm đóng của quânMinh đòi hỏi phải có một lực lượng xã hội mới tiến bộ đứng lên lãnh đạonhân dân tiến hành cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc và sau khi làmxong nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thủ tiêu chế độ đại điền trang và chế độ nô

tỳ Chỉ như thế, xã hội Việt Nam mới có điều kiện để ổn định và phát triển.Lực lượng xã hội mới tiến bộ nói đây là tầng lớp địa chủ bình dân đã xuấthiện từ cuối thời Bắc thuộc và trở nên đông đảo cuối thời Trần Lê Lợi là mộtnhà địa chủ bình dân, cho nên Lê Lợi có đủ điều kiện tập hợp được lực lượngdân tộc để đưa cuộc kháng chiến chống quân Minh đến thắng lợi NguyễnTrãi là nho sĩ đại diện cho bình dân Ông đã trải qua cuộc đời nghèo khó, ông

đã cảm thông sâu sắc các nguyện vọng của nhân dân Do đó ông đã đề ranhững chủ trương, chính sách hợp với nguyện vọng của nhân dân, lãnh đạođược nhân dân và đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi Lê Lợi và Nguyễn Trãi

là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhưng so với Lê Lợi thì NguyễnTrãi tiến bộ hơn, Nguyễn Trãi không xuất thân từ địa chủ bình dân, ông chỉ làđại diện của địa chủ bình dân, do đó ông tiếp thu được nhiều đức tính ưu túcủa nhân dân và hiểu rõ nguyện vọng và lực lượng của nhân dân Những đứctính ưu tú tiếp thu được của nhân dân kết hợp với phần tích cực của Nho giáo

mà Nguyễn Trãi lĩnh hội được, làm cho Nguyễn Trãi có những tư tưởng thândân, tư tưởng trọng dân, tư tưởng nhân nghĩa rất độc đáo và phong phú trongthời đại ông trưởng thành và hoạt động

1.2.Tiền đề lý luận cho sự ra đời và phát triển tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

1.2.1 Khái niệm “dân” và “tư tưởng thân dân”

Dân là một khái niệm rất cơ bản trong lịch sử tư tưởng chính trị - xãhội Khái niệm này đã xuất hiện từ xa xưa, được sử dụng rất phổ biến trongcác di sản văn thơ của ông cha ta, trong văn học dân gian qua các thời kỳ lịch

18

Trang 24

sử Nó còn được dùng thường xuyên trong ngôn ngữ đời thường, trong báochí và cả trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước ta hiện nay Tuynhiên để làm rõ được một khái niệm, nhất là một khái niệm có nội hàm rộngnhư khái niệm “Dân” là không hề đơn giản Trước tiên tác giả sử dụng cuốn

từ điển Triết học và từ điển Tiếng việt để thống nhất định nghĩa về “dân”.Trong cuốn từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân chủ biên Nxb Khoa học xãhội, 1967) có trình bày cả hai khái niệm “Dân” và “nhân dân” Hai khái niệmnày về cơ bản là giống nhau Tuy vậy, chúng không đồng nhất tuyệt đối vàkhông thể thay thế cho nhau trong mọi trường hợp Ví dụ: không thể thay thếcụm từ “vấn đề dân” bằng “vấn đề dân cày” Vì vậy cần tìm hiểu cả hai kháiniệm đó

Về khái niệm “nhân dân”, qua những định nghĩa của tác giả từ điển cóthể rút ra mấy điểm chung về khái niệm “nhân dân” với ý nghĩa khoa học chặtchẽ như sau:

- Nhân dân là một khái niệm có ý nghĩa chính trị, hình thành trong xãhội đã phân chia thành giai cấp, thành các tập đoàn người có địa vị và lợi íchkhác nhau

- Nhân dân không đồng nhất hoàn toàn với dân cư, nhân dân là khối người đông đảo trong dân cư chứ không phải toàn bộ dân cư

- Nhân dân gồm những người thuộc giai cấp và tầng lớp lao độngkhông bóc lột, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, có khả năngtham gia giải quyết nhiệm vụ phát triển xã hội

Còn về khái niệm “Dân”, cách nêu của mỗi cuốn từ điển lại có sự khácnhau Trong cuốn từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân chủ biên – 1976) có nêukhái niệm dân với năm nghĩa như sau:

+ Từ dùng để gọi chung người trong một nước: như Dân Việt Nam;

+ Quần chúng đông đảo gồm có: công nhân, nông dân, nhân dân lao động trong một nước có bóc lột;

Trang 25

+ Quần chúng đông đảo nói chung;

+ Công dân trong một địa phương như: Dân Hà Nội;

+ Những người thuộc một tầng lớp xã hội

Trong từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên – 1994) nêu khái niệmdân với ba nghĩa:

+ Người sống trong một khu vực địa lý hành chính, trong quan hệ với khu vực ấy

+ Người dân thuộc tầng lớp đông đảo nhất, trong quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ phận lãnh đạo hoặc quân đội

+ Người cùng nghề nghiệp, hoàn cảnh làm thành một lớp người riêng

Nhìn chung, trong các cuốn từ điển tiếng Việt, nghĩa cơ bản của kháiniệm “Dân” và “nhân dân” là giống nhau, nhiều trường hợp có nghĩa đồngnhất, có thể sử dụng thay thế cho nhau Điều đó phù hợp với thực tế trongkhẩu ngữ và cả ngôn ngữ văn bản tiếng Việt

Từ việc phân tích các mối quan hệ, các bình diện, các khía cạnh khác nhau

về Dân, ta có thể khái quát: “Dân là một khái niệm xuất hiện và tồn tại trong xãhội có giai cấp, có nhà nước, dùng để chỉ những người lao động bình thường,đông đảo, không có chức quyền và tương phản với những người cầm quyền caitrị ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau trong lĩnh vực sản xuất vậtchất và hoạt động tinh thần của một xã hội nhất định” Do đó, khái niệm “Dân”mang màu sắc và ý nghĩa chính trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh được các mốiquan hệ xã hội Trong xã hội phong kiến, tuy không còn bị xem là những công cụlao động biết nói nhưng dân vẫn nằm trong địa vị phụ thuộc mà chế độ phongkiến Trung Quốc gọi là “thần dân” Thần, nghĩa đen là bề tôi, là tầng lớp quan lạiphải chịu khuất phục, chịu sự chi phối của nhà vua và dĩ nhiên, theo trật tự xãhội, thần dân phải xếp dưới tầng lớp quan lại Điều này không phải ở phươngĐông mà dưới chế độ phong kiến ở các nước phương Tây, tình hình này cũngdiễn ra tương tự Như vậy, dân với tư cách là

Trang 26

thần dân là những người thuộc sở hữu của vua Chỉ trong xã hội hiện đại: xãhội Tư bản và xã hội Xã hội chủ nghĩa vai trò của người dân mới được nhậnthức đầy đủ Người dân được đặt trong quan hệ về mặt quyền lợi và nghĩa vụvới nhà nước Người dân có quyền bầu cử, bầu ra những người xứng đángvào bộ máy nhà nước, có thể đại diện cho quyền lợi của mình thì khi đó dânmới có tư cách là công dân.

Từ định nghĩa về “dân” như trên, chúng ta đi vào tìm hiểu tư tưởng

thân dân Tư tưởng thân dân là một trong những tư tưởng lớn và quan trọng

của lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc và Việt Nam, được hình thành vàphát triển xuyên suốt chiều dài lịch sử nước ta “Thân dân” có nghĩa là gầngũi, gắn bó, quý trọng nhân dân Nhà nước lấy dân làm gốc, phải biết tintưởng vào dân, dựa vào dân để xây dựng phát triển đất nước và phải biếtquan tâm đến đời sống nhân dân, chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân thìnước có đươc sự tin tưởng và ủng hộ của nhân dân

Như vậy, “thân dân” có nghĩa là hiểu dân, nghe được dân nói, nóiđược dân nghe, làm được cho dân tin, là nhận biết được những nhu cầu, tìnhcảm, suy nghĩ, mong muốn của người dân Và người lãnh đạo, quản lý phảibiết phát hiện và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của dân;

là nhìn thấy cả cái thực tại và vạch ra được viễn cảnh (tương lai) đúng đắncho dân phát triển; là biết chia sẻ, đồng cảm và gần gũi với cuộc sống củadân, mọi suy nghĩ và hành động đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân,phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân

1.2.2 Tư tưởng thân dân trong Nho giáo và Phật giáo trước thế kỷ XV ở Việt Nam

Tư tưởng thân dân trong Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội được du nhập vào nước tacách đây gần hai ngàn năm Đây là một học thuyết do Khổng Tử (Khổng Khâu:

551 – 479 tr CN), một nhà tư tưởng lớn thời cổ đại của Trung Hoa sáng

21

Trang 27

lập Sau khi Khổng Tử mất, Nho giáo đã được các học trò của ông kế thừa vàphát triển theo những khuynh hướng khác nhau Trong số những người kếthừa và phát triển nho giáo thì Mạnh Tử (Mạnh Kha: 372 – 289 tr CN) là mộtngười có vai trò rất lớn tới sự lớn mạnh của học thuyết triết học này Trongcác thời kỳ sau tùy theo đặc điểm chính trị - xã hội mà các nhà tư tưởng đưaNho giáo phát triển theo những khuynh hướng khác nhau Tuy nhiên, dùđược phát triển theo hướng nào thì Nho giáo luôn luôn song hành cùng với sựtồn tại và lớn mạnh của nhà nước phong kiến vì đây là học thuyết dạy người

ta cách cai trị nhân dân và được nhà nước phong kiến coi là hệ tư tưởngchính thống của mình

Nho giáo du nhập vào Việt Nam thông qua việc xác lập bộ máy cai trị vàthông qua chính sách Hán hóa của các vương triều phương Bắc Tuy nhiên,khi giành độc lập và thành lập được nhà nước phong kiến thì Nho giáo lại trởthành công cụ cai trị xã hội của giai cấp phong kiến Việt Nam Từ chỗ là công

cụ nô dịch của ngoại xâm, từ chỗ phải bắt buộc tiếp nhận, giai cấp địa chủphong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo và biến thành công cụ củachính mình Đó chính là lý do giải thích tại sao Nho giáo lại có thể tồn tại lâudài và chiếm vị trí quan trọng như vậy trong xã hội phong kiến Việt Nam.Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong xã hội Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởngcủa Nho giáo Sự ảnh hưởng của Nho giáo đã tác động trực tiếp và trở thành cơ

sở cho tư tưởng về dân của ông Song dù bị ảnh hưởng của Nho giáo tư tưởng

về dân nhưng tư tưởng của ông không phải là sự lặp lại của Nho giáo

Nho giáo luôn quan tâm đến dân và đặc biệt là vai trò của dân bởi cácnhà Nho cho rằng, có xác định được đầy đủ vai trò của dân mới xác địnhđược địa vị xã hội của họ và định ra được trách nhiệm của tầng lớp thống trịđối với dân

Dân trong kinh sách Nho giáo được đặt trong quan hệ đối lập với tầng lớp

khác đó là tầng lớp trị dân Tầng lớp trị dân được coi là người hiền, người

22

Trang 28

trí, người quân tử, còn tầng lớp bị cai trị được gọi là kẻ tiểu nhân Chính sự

khác nhau về đạo đức và tài trí giữa hai tầng lớp này mà dẫn tới sự khác nhau vềđịa vị và vai trò xã hội của mỗi tầng lớp Người quân tử, người hiền, người trí ởđịa vị người cai trị vì tầng lớp này nhận được mệnh trời, có chí tu thân, học tập

mà có đạo đức, biết đem cái tài trí ấy cho mọi người noi theo Còn dân ở địa vị

bị cai trị, bị sai khiến, là đối tượng của giáo hóa vì họ không bẩm thụ được cái

“linh khí” của trời đất, không có trí khí và không hiểu đạo lý

Từ việc xác định được dân là ai, các nhà Nho đã đi đến chỗ nhận địnhvai trò của dân Trong quan niệm của Nho giáo, dân có vai trò hết sức quan

trọng Thứ nhất, đó là lực lượng to lớn trong xã hội, làm việc mệt nhọc trong

xã hội để nuôi sống chính bản thân họ, gia đình họ và nuôi cả tầng lớp “laotâm”, cho nên Mạnh Tử đã gọi họ là kẻ “lao lực” Mạnh Tử nói: “Có ngườilao tâm, có người lao lực Người lao tâm làm công việc cai trị; người lao lựcthì bị cai trị Người bị cai trị nuôi người, người làm công việc cai trị thì được

người nuôi, đó là đạo lý chung trong thiên hạ”[67;702] Thứ hai, dân là gốc

của nước, là nền tảng của nền chính trị: “dân là gốc của nước”, bởi nếukhông có dân thì không có nước, không có nước thì không có vua Họ khôngchỉ là người nuôi dưỡng, phụng dưỡng mà còn là lực lượng bảo vệ vua Chonên các nhà Nho đều khuyên vua hãy coi dân, lấy dân làm gốc, coi dân quýtrọng hơn xã tắc và nhà vua, như Mạnh Tử đã nói: “Nhân dân đáng quý trọngnhất, sau đó đến xã tắc [67;758] Vai trò của dân trong tư tưởng “dân vi bangbản” của Khổng Tử và “dân vi quý’ của Mạnh Tử còn được biểu hiện khi cácnhà Nho coi là một trong ba điều quan trọng nhất của nhà vua vì nó có ảnhhưởng trực tiếp tới sự thịnh suy của cả chế độ Tuân Tử nói: “Vua là thuyền,thứ dân là nước Nước chở thuyền, nước cũng có thể lật thuyền”[65; 64].Dân có vai trò to lớn như vậy, nên các nhà Nho đều chủ trương phải giữđược dân vì như thế mới giữ được thiên hạ, giữ được ngôi vị của mình

23

Trang 29

Trong tư tưởng Nho giáo, điều quan trọng nhất có ý nghĩa sống còn đốivới vận mệnh chính trị của nhà vua, của chế độ là phải nắm, phải giữ đượcnhân dân để mãi họ là kẻ bị thống trị Để làm được công việc này, thì theo cácnhà Nho, Nhà vua, người cầm quyền phải được lòng dân, phải được dân tintheo Và muốn vậy, nhà vua phải có thái độ, trách nhiệm và nghĩa vụ của nhàvua, người cầm quyền đối với dân Theo các nhà Nho tiên Tần, thân dânđược thể hiện bằng “Dưỡng dân” và “giáo dân”.

“Dưỡng dân” chính là nuôi dân, là khái niệm các nhà Nho chỉ rõ tráchnhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân là phải chăm sóc dân, nuôidưỡng dân, bảo vệ dân, coi dân như con

Nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu nhất trong chính sách dưỡng dân, theo cácnhà Nho là nhà vua và người cầm quyền phải luôn quan tâm, luôn chăm lođến đời sống vật chất tối thiểu nhưng thiết thân của dân để dân không bị chếtđói, chết rét, đủ điều kiện để như Mạnh Tử nói: “Trên đủ phụng dưỡng cha

mẹ, dưới đủ nuôi vợ con[24; 758] Muốn được như vậy, nhiệm vụ của nhàvua là phải giúp dân làm giàu, phải làm cho dân có tài sản riêng và ổn định,sai khiến dân điều gì cũng không được trái thời vụ, mùa màng của dân, đồngthời phải giảm thuế khóa và những đóng góp khác của dân trong thiên hạđược an cư lạc nghiệp

Dưỡng dân theo các nhà Nho, thì nhà vua, người cầm quyền không chỉ

có chính sách thích hợp để dân đủ sống, an cư lạc nghiệp mà phải biết giúpdân làm giàu Vì dân có giàu nước mới mạnh và để làm giàu cho dân thì nhàvua cần phải giảm nhẹ thuế khóa cho dân, đồng thời người cầm quyền phải cóchính sách tiết kiệm trong tiêu dùng

Chính sách thân dân quan trọng nhất trong Nho gia đó là người cầmquyền phải thực hiện chính sách phân phối bình quân Thực hiện chế độ phânphối công bằng, thì người dân mới không bị bóc lột mà được no đủ, lòng dân

sẽ không oán, mọi người hòa thuận, nước sẽ yên, sẽ mạnh Trong chính sách

24

Trang 30

dưỡng dân, các nhà Nho còn yêu cầu người cầm quyền phải là người bảo hộdân, không ham giết người, giết dân, phải giảm hình phạt cho dân nếu dânphạm tội Có như vậy, dân mới quy phục nhà vua mà không có uy lực nào cảnđược Mạnh Tử nói rằng: “nếu như không có ai ham giết người, ắt dân chúngtrong thiên hạ đều theo về, như nước chảy xuống chỗ thấp, ào ào ai mà ngăn

được”[24;735]

Để được lòng dân, bên cạnh chính sách “dưỡng dân”, Nho giáo chủtrương chính sách “giáo dục”, “giáo hóa” dân Khổng tử nói: “dạy dân là mộtcách yêu mình: mình muốn tự lập thì cũng phải thành lập cho người; muốnthành công thì cũng phải giúp người thành công Hơn nữa dân được giáo hóathì dễ sai bảo dễ trị, công việc chính hình sẽ nhẹ đi nhiều; nếu kết quả của sựgiáo hóa cực tốt thì nhà cầm quyền chẳng phải làm gì mà nước cũngtrị”[25;170] Mục đích giáo dục”, “giáo hóa”, theo Nho giáo là để có được

Đạo làm người của mình Và để đạt được Đạo làm người theo các nhà Nho

chủ yếu là phải học, phải dạy những chuẩn mực, những quy phạm đạo đứccủa nho giáo, đó là: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, hiếu, trung Song kết quả của giáohóa, theo các nhà Nho là khác nhau Người quân tử, người cầm quyền họcĐạo là để trở thành người có đạo đức, để trở thành người cai trị dân, cònngười dân, kẻ tiểu nhân học đạo là để sai khiến, để an phận là kẻ bị cai trị, đểnuôi dưỡng người quân tử Và xét cho đến cùng thì mục tiêu giáo hóa củaNho giáo đối với dân cũng là để duy trì sự tồn tại lâu dài của chế độ phôngkiến đương thời

Vậy biện pháp chung để giáo dục, giáo hóa dân của các nhà Nho tiên Tần

là gì? Giữa biện pháp giáo dục, giáo hóa bằng đạo đức và hình phạt, các nhà Nhotiên Tần đều coi trọng biện pháp đạo đức, còn hình phạt chỉ là biện pháp tạm thời

để cứu vãn tình thế khó khăn trong việc giáo hóa, cai trị dân mà thôi Do đó, dễ

lý giải rằng, vì sao các nhà Nho tiên Tần không phê phán nhà cầm quyền sử dụnghình phạt mà chỉ khuyên họ không lạm dụng hình phạt đối

25

Trang 31

với dân, không ham giết dân Như Khổng Tử nói: “Dắt dẫn dân bằng chínhpháp, sử trị dân bằng hình phạt, thì dân chỉ tạm tránh được khỏi tội lỗi, chứkhông có lòng hổ thẹn Nếu dẫn dắt dân bằng đạo đức, sửa trị bằng lễ giáo, thìdân không những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hóa quy phục”[67; 245]

Có thể nói, chính sách giáo dân, trị dân như trên mà các nhà Nho tiênTần đề xuất được gọi là Đức trị, Nhân trị, tức là trị dân không phải là chủ yếubằng pháp luật mà chủ yếu bằng giáo hóa, bằng nêu gương đạo đức Khôngthể phủ nhận đó là một chính sách trị dân ít nhiều mang tính nhân đạo, có yếu

tố nhân đạo, với nhiều điểm tiến bộ so với thời đại, nhưng bên cạnh đó cũng

có nhiều khuyết điểm, hạn chế

Một mặt, nếu giáo dục, giáo hóa là phải dựa trên nền tảng coi “dân làgốc”, mọi chính sách đưa ra phải được lòng dân, vì dân Tuy nhiên ở Nho giáo,nội dung của giáo dục, giáo hóa trước sau cũng chỉ là những nguyên tắc, chuẩnmực đạo đức cơ bản của Tam cương, Ngũ thường mà thôi Điều đó có nghĩa là,xét cho cùng, chính sách ấy (kể cả chính sách dưỡng dân) cũng chưa thực sự coidân là chủ thể mà dân chỉ là phương tiện của nền chính trị đạo đức

Mặt khác, Đức trị là nền chính trị nhân đạo, lấy lòng dân Đức trị cần chomọi xã hội, nhưng không phải là tất cả, là duy nhất trong nền chính trị Nếuchỉ dùng Đức trị để trị không thôi thì sẽ là ảo tưởng, đặc biệt là trong một bốicảnh loạn lạc, tranh giành nhau, cá lớn nuốt cá bé của thời Xuân Thu – ChiếnQuốc Điều đó giải thích tại sao học thuyết của Khổng Tử nói riêng và cácquan điểm của các nhà Nho tiên Tần nói chung không được trọng dụng vàothời điểm ra đời

Như vậy, quan niệm về dân và tư tưởng thân dân của Nho gia chứa nhiềuyếu tố tiến bộ đã coi nhân dân là gốc của nước và cần “thương dân” đây lànhững tư tưởng nhân văn sâu sắc Tuy nhiên do đứng trên lập trường của giaicấp thống trị nên Nho gia vẫn coi nhân dân, những người lao động chân tay

26

Trang 32

chiếm số đông trong xã hội là những kẻ tiểu nhân, hèn kém, ngu dốt trong xãhội và cần phải “dưỡng dân”, “giáo dân”

Nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Việt Nam đặc biệt là các tầnglớp bên trên của xã hội Nguyễn Trãi là một nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị,quân sự, ông thấm nhuần tư tưởng của Nho giáo với đường lối Đức trị Bêncạnh đó Phật giáo cũng được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và nó đã ảnhhưởng đến các tầng lớp nhân dân Việt Nam trong đó có cả những tầng lớpquan lại trong triều đình Phật giáo đã hòa cùng văn hóa truyền thống của dântộc tạo lên nền văn hóa đa dạng ở Việt Nam Nguyễn Trãi đã tiếp thu nhữngtinh hoa của Nho, Phật xây dựng nên đường lối trị nước vì dân, vì nước vớitinh thần nhân nghĩa, khoan dung

Tư tưởng thân dân trong Phật giáo

Phật giáo hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ V trước côngnguyên Người sáng lập ra học thuyết này là Siddhartha con vua Suddhodana,trị vì bộ tộc Sakya ở miền bắc Ấn Độ Truyền rằng sinh năm 566 trước côngnguyên, khi tròn mười sáu tuổi, Siddhartha lấy vợ, hạ sinh con trai đầu lòng

và cũng là đứa con duy nhất, đặt tên là Ruhala Tuy sống trong cảnh nhunglụa và đầy hạnh phúc gia đình, nhưng đã nhận thấy lỗi khổ của con người vớikiếp sống sinh, lão, bệnh, tử; bất bình trước sự phân chia đẳng cấp nhiệt ngãcủa xã hội Ấn Độ cổ đại Siddhartha, năm hai mươi chín tuổi đã quyết định ra

đi tìm đường giải khổ cho bản thân và nhân loại Sau nhiều năm trời chu dukhắp vùng thung lũng sông Hằng, tầm sưu, học đạo đến năm ba mươi nhămtuổi Siddhartha đã đạt được ý nguyện của mình Theo ngôn ngữ của nhà Phật

là ông Đại Ngô Từ đó, người đời tôn ông là Thích Ca Mâu Ni

Chữ Phật (Buddha) là danh từ không dành riêng cho một người nào màdùng để gọi tất cả những người đầy đủ từ bi, bắc ái và đã đạt đến trạng tháigiác hạnh viên mãn, hoàn toàn không bị ngoại cảm chi phối Sau bốn

27

Trang 33

mươi chín năm hành đạo, Năm 486 trước công nguyên Phật Thích Ca Mâu

Ni nhập diệt Môn đệ của ông đã sưu tầm và sau nhiều lần thiết lập dưới hìnhthức hợp tụng, khoảng thế kỷ thứ I trước công nguyên và sau này nữa, nhữnglời dạy của ông được lưu truyền bằng văn tự tạo thành tam tạng – kinh điểncủa phật giáo

Đạo phật truyền vào nước ta vào khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên

và đã trở thành một trong những hệ tư tưởng – tôn giáo có sức sống lâu dài,ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của dân tộc ta trong lịch sử Đạo phật chorằng đời người là khổ, nỗi khổ ở mỗi người là đầy nước mắt, ở nhân loại làbiển nước mắt; “nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn nước các đại dươngcộng lại” Khổ đó không phải là do áp bức giai cấp, áp bức dân tộc mà ra, mà

là do bản thân con người Khổ đó là do con người có sinh thì có già, bệnh vàchết, do mong muốn mà không được, do thương yêu mà phải xa lìa nhau, doghét nhau mà phải ở gần nhau, do ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) chelấp trí tuệ (khổ đế), do tích tụ thói xấu và dục vọng (tập đế), do sự thay đổi, do

ở trong vòng luân hồi Muốn thoát khỏi thì phải tu luyện, phải trừ bỏ dục vọng(diệt đế), phải từ bi, nhẫn nhục, hỷ xả (vui vẻ hy sinh thân mình), phải nhậnthức được tâm Phật, phải theo tám con đường đúng, (đạo đế) Và mục đíchcủa tu luyện là giải thoát, là thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử, là đạt tới mộtcách nói riêng Với Phật giáo nói chung là lên tới cõi Niết Bàn, nơi tịch diệt,nơi không còn biến hóa, không còn sướng vui cũng như khổ đau; với Tịnh

Độ Tông là về được nước Phật, là sang tây phương cực lạc, hoặc Tịnh Thổ,với Thiền Tông là nhận thức được tâm là Phật

Về thân phận con người cũng như nói về các giai cấp, Đức Phật khẳngđịnh: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp tronggiọt nước mắt cùng mặn Một người được coi là quý tộc hay hạ tiện là ở nơihành vi của họ mà không phải ở đẳng cấp sinh ra”[57;203] Như vậy, Phật đã

28

Trang 34

xác định sự bình đẳng giữa người với người, không có ai là quý tộc và cũngkhông có ai là hạ tiện Quý tộc hay hạ tiện không phải do nơi giai cấp quyđịnh Đây là một tư tưởng hết sức mới mẻ, độc đáo và nó được thể hiện rất rõtrong suốt quá trình hoằng dương thánh giáo của Ngài Đức Phật mở rộngcánh cửa giải thoát nhằm tiếp nhận tất cả mọi người bất kể sang giàu, caothượng hay hèn hạ Hơn thế nữa, Đức Phật luôn đề cao giá trị của con người,bất luận là nam hay nữ Ngài cho rằng ai cũng có thể tu tập và đạt được quả vịgiác ngộ giải thoát “Này các tỳ kheo, đại dương chỉ có một vị, đó là vị mặn.Cũng vậy, Pháp và Luật của Ta cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát” [60;176] Giải thoát là mục đích cứu cánh cho những ai tu theo Phật giáo Tất cảtam tạng kinh điển của Đức Phật đều giúp cho mọi người đạt đến giác ngộ vàgiải thoát Trong Phật giáo có rất nhiều phương pháp tu tập để đạt đến giảithoát nhưng tựu trung không ngoài bốn chân lý vi diệu, đó là Tứ diệu đế (TứThánh đế hay bốn chân lý huyền diệu) Đây là quan điểm cốt lõi nhất và cũng

là định hướng cơ bản nhất của Phật giáo

Như vậy, Phật giáo không phân biệt đẳng cấp, sang – hèn, nam – nữtrong xã hội mà ở Phật giáo gọi chung tất cả là con người, chúng sinh Conngười ấy sống trong xã hội đều có kiếp luân hồi, đau khổ Muốn giải thoátđược khỏi sự đau khổ ấy cần đạt tới trạng thái Niết bàn

Phật giáo là tôn giáo được giai cấp phong kiến Việt Nam đề cao và sửdụng tích cực trong nhiều thế kỷ sau khi nước nhà được giải phóng khỏi áchthống trị của bọn phong kiến phương Bắc

Tư tưởng từ bi, bác ái, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn đã gây được xúc độngtrong lòng người, trở thành một trong những nguồn gốc xâu xa của lòngthương người, của chủ nghĩa nhân đạo Phật giáo thời kỳ này để lại nhữngdấu ấn rõ rệt trong quan niệm và tình cảm về đạo đức của những người đứngđầu Họ không khỏi thông cảm xót thương những nỗi

29

Trang 35

đau khổ, cực nhọc của dân chúng và những khái niệm đạo đức đương thờinhư khoan hòa, nhân từ, phúc huệ Tầng lớp trên của xã hội đã thấu triệt tinhthần bắc ái, thương dân, đức hiếu sinh của nhà Phật, biết gác lại lợi ích vị kỷcủa cá nhân một dòng họ mà bước vào sự nghiệp hòa đồng của dân tộc, vì sựnghiệp chung của dân tộc.

Các vua Lý có quan hệ gần gũi với nhân dân, coi trăm họ trong bốn biểnnhư con đỏ, chăm lo tới cuộc sống của dân, xót xa khi thấy dân khổ, vỗ về khilòng dân không yên Các vua Lý đều có lệ thân chinh đi làm lễ cày ruộng tịchđiền, xem dân chúng sản xuất, kinh lý nắm bắt tình hình cuộc sống của dân.Trong những năm lũ lụt, hạn hán mất mùa nhà nước đều thực hiện cấp thóc gạo,tiền, lụa, giảm, xóa thuế cho dân chúng Năm 1010, sau khi lên ngôi Lý Thái Tổđại xá thuế khóa cho thiên hạ trong ba năm, những người già yếu, mồ côi, góachồng thì được xóa thuế nợ Dường như lòng nhân ái của các vua quan triều Lý

đã vượt ra khỏi danh giới giai cấp, địa vị xã hội, vượt qua không gian, xuyênsuốt thời gian tồn tại của vương triều Thật cảm động khi Lý Thánh Tôngthương xót và đồng cảm với nỗi khổ của những tù nhân trong mùa đông lạnh giámùa đông năm Ất Mùi 1055, trời giá rét Lý Thánh Tông nói với các quan rằng ta

ở trong cung kín, sưởi lò than, khoác áo lông mà còn rét như thế này Ta nghĩđến tù nhân bị nhốt trong lao tù, chịu trói buộc khổ sở, mà chưa biết phải trái rasao Ăn không đầy bụng, mặc chẳng che thân Vì gió rét, nên có kẻ chết khôngnơi nương tựa Ta thật thấy làm thương Ngay sau đó vua sai người mang chăn,chiếu cùng với hai bữa cơm mỗi ngày cho phạm nhân Vua Lý Nhân Tôngthường hay mở hội Phật và tha cho những người có tội, còn Lý Thần Tông thìkhông có việc gì cũng tha bổng cho những người mắc tội… Lòng nhân ái,thương người của các vua Lý không chỉ đối với nhân dân Đại Việt mà còn cảvới những tù binh Chiêm Thành Năm 1010, Lý Thái Tổ đã tha cho 28 ngườiChiêm Thành bị Lê Ngọa Triều bắt trước đó Không những thế vua Lý còn saingười cấp thuốc men, quần áo, lương thực để họ trở về quê

30

Trang 36

hương Luật pháp là công cụ của giai cấp thống trị để bảo vệ trước hết làquyền lợi của họ Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đạo Phật, luật pháp triều Lýchứa đựng những nhân tố rất tiến bộ trong đó nổi bật là tinh thần nhân ái,

khoan dung đối với nhân dân, bảo vệ, chăm lo tới cuộc sống của dân “Yêu

dân như con” là đạo trị nước của triều Lý cho nên Tư tưởng nhân ái, từ bi

của đạo Phật hòa quyện với truyền thống “thương người như thể thương

thân” của dân tộc Việt Nam đã tạo nên cái tâm trị nước của triều Lý

Đến thời Trần các Tăng sĩ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào sựnghiệp chính trị nhưng Phật giáo đã là một yếu tố liên kết nhân tâm quantrọng Tinh thần Phật giáo đã khiến cho các nhà chính trị đời Trần áp dụngnhững chính sách bình dị, thân dân và dân chủ Năm 1284, trước thế xâmlăng vũ bão của quân Nguyên, Nhân Tông đã triệu tập hội nghị Diên Hồng.Tới dự hội nghị không phải là các vương tôn công thần mà là các bô lão đángkính trong dân gian Vua Nhân Tông khi đi ngoài đường gặp gia nhân cácvương thần thì hay dừng lại để hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ Vua nói:

“Lúc thái bình nhờ có thị vệ tả hữu, mà lúc nước nhà lâm hoạn nạn, thì chínhnhững người gia nhân ấy đi theo bảo vệ”

Nếu Nho giáo lấy “Vua thánh Tôi hiền” làm chuẩn mực cho một xã hội

lý tưởng,đạo đức thì Phật giáo tâm niệm sống từ bi, đạo hạnh theo Phật giáo

là chuẩn mực đạo đức cao nhất Một ông vua lý tưởng theo quan niệm củaPhật giáo hầu như mang những đặc điểm, cốt cách của một ông Phật từ bi.Theo đó, trong quan niệm của người Việt, một nhà cầm quyền muốn đem lạihạnh phúc thật sự cho nhân dân, cần thiết phải có tinh thần vô ngã, “tự giácgiác tha” Có quên mình thì từ vị trí cao nhất trong xã hội, những người cai trịđất nước mới có thể thấu hiểu chân thực cuộc sống của dân chúng, thông cảmvới nỗi vất vả, khó khăn của nhân dân… Và chính điều này thể hiện sâu sắcvai trò của Phật giáo trong việc giáo dục, đào tạo nên những con người có tàinăng, phẩm chất đạo đức cho đất nước Nhờ đó mà với những nhà chính trị có

31

Trang 37

từ tâm và những người xuất gia biết lo giáo dục sự thực hành đạo từ bi trongdân chúng, đời sống xã hội trở thành thuần từ và đẹp đẽ.

Đạo Phật phụng sự cho đời sống: đời sống tâm linh giải thoát cũng nhưđời sống xã hội Hai phương diện ấy của đời sống con người cần được liên hệvới nhau và bổ túc cho nhau Quốc sư Viên Chứng đã nói rõ về những nguyêntắc hướng dẫn đời sống của một nhà chính trị Phật tử: “Đã làm người phụng sựdân thì phải lấy cái muốn của dân làm của mình, phải lấy ý của dân làm củamình, trong khi đó không xao nhãng việc tu học của bản thân” Trần Thái Tôngnói rằng: nhà chính trị phải thực hiện đạo Phật trong xã hội (Giáo lý của đạo Phậtchúng ta cần phải có các bậc tiên thánh để thực hiện trên đời - tựa Thiền TôngChỉ Nam) Tuệ Trung “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trongcuộc đời bụi bặm” (Thượng Sĩ Hành Trạng - Trúc Lâm ) Nhân Tông đi khắpthôn quê, phá trừ dâm tà, khuyên dân thực hành Thập Thiện

Những tự viện trên núi tổ chức ẩn cư và kết hạ nhưng vẫn có liên hệ đến đờisống văn hóa, xã hội và chính trị quốc gia

Về phương diện văn hóa, Ưu điểm lớn nhất của Phật Giáo là tinh thầnkhoan dung và tự do Phật Giáo không bao giờ chống đối và chỉ trích NhoGiáo và Lão Giáo Phật Giáo đã để cho Nho Giáo và Lão Giáo tự do pháttriển Chính các đặc tính khoan dung và mềm dẻo của phật giáo mà vua quancùng dân chúng đã đồng tâm cộng tác trong chống ngoại xâm và xây dựng đấtnước

Tuy nhiên, Phật giáo bị hạn chế từ cuối thế kỷ XIV, đến đầu thế kỷ XVthì suy yếu Uy thế của Phật giáo bị đả kích nặng nề, trong giới thượng lưu cónhiều người từ bỏ Tuy nhiên Phật giáo vẫn duy trì ở nông thôn, vẫn dựa vàolàng xã

Đạo lý Phật giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ và lớn nhất thấm nhuần sâusắc trong tâm hồn người Việt là giáo lý từ, bi, hỉ, xả, tinh thần hiếu hòa, hiếusinh, Điều này càng được thể hiện rõ trong con người và tư tưởng củaNguyễn Trãi Có thể nói, Nguyễn Trãi đã khéo vận dụng đạo lý

32

Trang 38

từ bi và biến nó thành đường lối chính trị nhân dân đem lại thành công và nổitiếng trong lịch sử Việt Nam.

Ý thức Phật giáo phổ biến lúc bấy giờ có nguồn gốc từ tâm lý và thóiquen tư duy của người dân Nỗi khổ trong quan niệm nhà Phật được họ hiểunhư là nỗi khổ do sự thống trị của ngoại bang, do áp bức bóc lột, do đời sốngnghèo nàn lạc hậu, do những rủi ro không ngớt, Giải thoát trong quan niệmnhà Phật được họ hiểu như là giải thoát mọi sự khổ đau của trần tục Trongsuy nghĩ, người dân không có thói quen tách bạch rõ ràng Theo Phật với họ

là để tìm lối thoát Phật giáo lúc bấy giờ có vai trò nhất định: giáo lý của nhàPhật với các lý tưởng vươn tới: Niết bàn, Tịnh Thổ, Tây Phương ;cácnguyên tắc từ bi, nhẫn nhục ; các giới luật: không sát sinh, không tà dâm,không nói bậy ; các lời khuyên: giới, định, tuệ, thực sự đã phát huy tácdụng trong xã hội còn nghèo nàn, còn nhiều lỗi bất công, còn chưa có ánhsáng của khoa học dọi tới Nó củng cố niềm tin vào điều thiện, nó điều hòacác hành vi, nó giữ thế cân bằng trong một xã hội ít biến động, nó đảm bảocục diện xã hội được tương đối thanh bình, yên ổn Nhờ đó rối loạn ít xảy ra,

và nếu xảy ra thì cũng nhanh chóng được giải quyết

Cùng với dân tộc, cùng với lịch sử, Nguyễn Trãi đã biết chọn lọc đểtiếp thu những giá trị tinh hoa của văn hóa, văn minh nhân loại để làm nênnhững giá trị lịch sử cho dân tộc Việt

1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi

Sinh ra trong một gia đình tri thức, được sống trong nền giáo dục Nho học

và nền văn hóa sâu đậm của dân tộc, Nguyễn Trãi đã học tập ở người cha đángkính, người ông nhân từ, hiền hậu những kiến thức sâu rộng, tâm hồn cao đẹphết lòng vì nước vì dân Với sự thông minh và được giáo dục tốt, cộng thêm đứctính cần cù quyết tâm dùi mài kinh sử, Nguyễn Trãi cũng đã tiếp thu được tưtưởng uyên bác của các nhà Nho trong lịch sử và đương thời,

33

Trang 39

rèn luyện ý chí cũng như lòng tự hào dân tộc, yêu nước thương dân Đây cũng

là một yếu tố góp phần hình thành nên tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

Thân thế của Nguyễn Trãi

Trong số những nhà tư tưởng yêu nước của đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi

là người xuất sắc nhất Tên tuổi của ông sáng chói trên cuốn sử vàng của dântộc Có được vị trí này không những là do cuộc đời, đức độ và ý thức vì dân

vì nước của ông, mà quan trọng hơn là do tư tưởng của ông đạt tới tầm caocủa thời đại, ông đã khái quát lên được, chỉ ra được tầm quan trọng của nhậnthức lý luận trong hoạt động thực tiễn, từ đó nâng tư duy của dân tộc lên trình

độ mới Những lý luận của ông vừa có ý nghĩa đối với đương thời, vừa có tác

dụng sâu xa về sau.

Về bên nội, cha đẻ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, tức NguyễnPhi Khanh vốn là một người giỏi thơ văn và có tấm lòng “ái quốc ưu dân”,sâu nặng Tuy chưa được trọng dụng dưới triều Trần nhưng bảy năm làmquan ở triều Hồ cũng cho ông phần nào được thỏa chí làm việc cho dân chonước Đặc biệt Nguyễn Phi Khanh có ảnh hưởng lớn đến người con thiên tàicủa mình là Nguyễn Trãi – người đã làm nên sự nghiệp cứu dân cứu nước vẻvang, rạng ngời không chỉ cho dòng họ mà còn cho cả dân tộc Khi quân nhà

Hồ bị nhà Minh đánh bại, cha con Hồ Quý Ly và các triều thần bị bắt cóNguyễn Phi Khanh Được tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn PhiHùng đến chỗ quân Minh giam giữ tù binh để tìm cha, rồi hai anh em theođoàn xe tù lên ải Nam Quan, với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ chagià trong lúc bị cầm tù Nguyễn Phi Khanh biết rằng ông đi chuyến này khôngbao giờ được về Tổ quốc nữa, cho nên nhân khi vắng người, ông nói vớiNguyễn Trãi: “Con là người có học, có tài nên tìm cách rửa nhục cho nước,trả thù cho cha Như thế mới là hiếu Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc nhưđàn bà mới là hiếu hay sao?”[66; 20]

34

Trang 40

Chính lời dặn của cha và truyền thống yêu nước của dòng họ đã hìnhthành tư tưởng ái ưu, trung hiếu, hết lòng vì dân vì nước của Nguyễn TrãiBên ngoại Nguyễn Trãi là dòng họ quý tộc Trần Ông ngoại của ôngchính là Trần Nguyên Đán – một tôn thất nhà Trần, cháu bốn đời của Chiêuminh đại vương Trần Quang Khải – con trai thứ của Trần Thái Tông, ngườisáng lập nhà Trần Và tới triều vua Trần Duệ Tông ông đã làm tới chức tểtướng Trần Nguyên Đán có con gái lớn là Trần Thị Thái Vì rất yêu quý tàinăng của Nguyễn Phi khanh, ông đã gả con gái cho Nguyễn Phi Khanh TrầnNguyên Đán vốn dòng tôn thất nên được làm quan từ sớm, lại góp công dẹpgiặc Dương Nhật Lễ; khôi phục đại đế nghiệp nhà Trần nên được trao chochức Tư đồ phụ chính, ban tước Chương Túc Quốc thượng hầu Khi vua cảtin nghe theo Hồ Quý Ly, ông can gián không được, bèn từ chức về ở ẩn tạiCôn Sơn, được 5 năm thì mất Trần Nguyên Đán là một vị quan hết lòng yêunước thương dân, đặc biệt trong hoàn cảnh triều Trần suy vi.

Như vậy cả bên nội và bên ngoại Nguyễn Trãi đều là những dòng họ lớn

có truyền thống yêu nước thương dân sâu sắc Và đây chính là điểm có ảnhhưởng sâu đậm nhất trong tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Trãi

Sự nghiệp Nguyễn Trãi

Mười lăm năm kể từ khi Nguyễn Trãi về ở cùng với cha tại Nhị Khuê,được thân phụ rèn cặp trong hoàn cảnh vô cùng chật vật khó khăn do chiếntranh tàn phá, kinh tế đình đốn, xã hội loạn lạc nhưng Nguyễn Trãi quyết chíhọc hành Tháng 8 năm Canh Thìn 1400, nhà Hồ mở khoa thi Thái học sinhđầu tiên ở kinh thành Tây Đô, Nguyễn Trãi đã ra thi và đỗ Thái học sinh (Tiếnsĩ) Lúc đó ông tròn 20 tuổi và được bổ làm quan trong Ngự sử đài với chứcChánh Chưởng Nguyễn Trãi đã cùng với cha ra làm quan cho Hồ với mộthoài bão cao cả là đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân theo lý tưởng nhàNho Hai cha con giúp Hồ Quý Ly thi hành chính sách cải cách kinh tế,

35

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thục Anh (1998), “Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc”,Tạp chí triết học, số 6, tr.41 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc”",Tạp chí triết học
Tác giả: Nguyễn Thục Anh
Năm: 1998
2. Nguyễn Thanh Bình (2001), “Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng”, Tạp chí Triết học, số 3, tr.38-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2001
3. Hoàng Ngọc Bích (2012), Tư tưởng Nguyễn Trãi về trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với dân, Luận văn Thạc sĩ triết học, Đại học Khoa học xã hội và Nhăn văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Nguyễn Trãi về trách nhiệm củanhà cầm quyền đối với dân
Tác giả: Hoàng Ngọc Bích
Năm: 2012
4. Quỳnh Cƣ – Đỗ Hùng (1995), Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh Niên,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cƣ – Đỗ Hùng
Nhà XB: Nxb. Thanh Niên
Năm: 1995
5. Lương Minh Cừ, Nguyễn Thị Hương (2007), “Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi”, Tạp chí triết học, số 11 (198), tr.58 – 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi”," Tạp chí triết học
Tác giả: Lương Minh Cừ, Nguyễn Thị Hương
Năm: 2007
6. Nguyễn Đăng Duy (chủ biên), Một số vấn đề nho giáo Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nho giáo Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
7. Phạm Văn Dự (2012), Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nó, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi và ý nghĩacủa nó
Tác giả: Phạm Văn Dự
Năm: 2012
8. Phan Đại Doãn (1998), Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb. Chínhtrị Quốc gia
Năm: 1998
9. Quang Đạm (1994), Nho giáo xưa và nay, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1994
10. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích) (2000), tập 2, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
Tác giả: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích)
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
11. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1987
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
16. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
17. Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên) (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam
Tác giả: Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
18. Bùi Kim Đỉnh (chủ biên) (2009), “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới”
Tác giả: Bùi Kim Đỉnh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
19. Trần Văn Giàu (1995), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nxb, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc ViệtNam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Năm: 1995
20. Hoàng Xuân Hãn (2003), Lý Thường Kiệt – lịch sử ngoại giao và tông pháp triều Lý, Nxb. Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Thường Kiệt – lịch sử ngoại giao và tông pháp triều Lý
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w