ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRIỆU THỊ THỦY GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRIỆU THỊ THỦY
GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ TẠI
HÀ NỘI HIỆN HAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRIỆU THỊ THỦY
GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ TẠI HÀ NỘI
HIỆN HAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN VŨ HẢO
Trang 3HÀ NỘI - 2012
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Vũ Hảo.
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012.
Tác giả luận văn
Triệu Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG 7 1.1 Thế giới quan duy vật biện chứng 7
1.1.1 Thế giới quan 7
1.1.2 Thế giới quan duy vật biện chứng 13
1.2 Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng 23
1.2.1 Khái niệm giáo dục 23
1.2.2 Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng 24
Chương 2 GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 31
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay 31
2.1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 31
2.1.2 Sự ảnh hưởng của điều kiện đặc thù đến sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay 37
2.2 Thực trạng của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng tại các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay 40
2.2.1 Thái độ chính trị, lối sống của sinh viên ở các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay 40
2.2.2 Các môn khoa học Mác-Lênin với việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội 42
2.2.3 Hoạt động của các tổ chức khác trong nhà trường với việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội 48
2.3 Những vấn đề được đặt ra trong việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng tại các trường Cao đẳng y tế ở Hà Nội hiện nay 54
Trang 62.3.1 Sự bất cập giữa giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng trong
nhà trường và những tác động trái chiều bên ngoài xã hội 54
2.3.2 Mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin và điều kiện vật chất còn hạn chế 56
2.3.3 Bất cập giữa việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng với việc tự giáo dục của sinh viên trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay 58
2.3.4 Sự quá tải của nhu cầu thực tập, thực tế cao của sinh viên tại các Bệnh viện và cơ sở y tế ở Hà Nội hiện nay và ảnh hưởng của nó đến việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên 60
Chương 3 QUAN ĐIỂM CHUNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRONG VIỆC GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI HIỆN NAY 63
3.1 Quan điểm chung 63
3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng tại các trường Cao đẳng y tế tại Hà Nội hiện nay 70
3.2.1 Xây dựng môi trường học tập, thực tập lành mạnh 70
3.2.2 Nâng cao khả năng tự giáo dục, rèn luyện cho sinh viên 71
3.2.3 Đầu tư trang thiết bị và các phương tiện vật chất phục vụ cho việc đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy 74
3.2.4 Cần phải phối hợp tốt giữa nhà trường với các cơ sở thực tập, thực tế của sinh viên để giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay 80
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 89
Trang 7Mục tiêu giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay theo tinh thầnnghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sảnViệt Nam khóa VII là thực hiện một nền giáo dục toàn diện gồm đức dục, trídục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học, trong đó hết sức coi trọng giáo dụcchính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thựchành cho học sinh, sinh viên Tinh thần đó được phát huy trong các kỳ Đại hộiĐảng, và đặc biệt Đại hội XI tiếp tục được đề ra: "Phát triển giáo dục là quốcsách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướngchuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đóđổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản
lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coitrọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khảnăng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Thực hiện kiểm định chấtlượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáo dụclành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội" [11,tr.130-131]
Như vậy, nền giáo dục hiện nay của nước ta hướng đến việc tạo rađược những con người có đầy đủ cả hai mặt: đức và tài
Bên cạnh đó, tình hình kinh tế - chính trị trên thế giới đang có nhiềubiến động và diễn ra rất phức tạp Ở trong nước, những tác động mạnh mẽ cả
Trang 8tích cực lẫn tiêu cực của nền kinh tế thị trường đến mọi mặt của đời sống xãhội, đã đặt ra nhiệm vụ phải thực hiện việc giáo dục thế giới quan duy vậtbiện chứng cho thế hệ trẻ và sinh viên nói chung, và cho sinh viên các trườngCao đẳng y tế tại Hà Nội hiện nay nói riêng Bởi vì sinh viên thuộc nhóm xãhội chịu sự tác động nhanh và mạnh của lối sống thực dụng được du nhập từnước ngoài và thực tế là một bộ phận không nhỏ sinh viên hiện nay đã daođộng về thế giới quan, biểu hiện ở sự suy thoái về đạo đức, lối sống, mơ hồ vềchính trị, phai mờ về lý tưởng xã hội chủ nghĩa Đây là bộ phận dễ bị các thếlực thù địch lôi kéo, lợi dụng.
Đặc biệt nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển cũng tác độngmạnh mẽ đến nhân cách, y đức của cán bộ ngành y tế và sinh viên các trường
y tế Vì vậy, trong các trường đại học và cao đẳng, các sinh viên cần đượctrang bị thế giới quan duy vật biện chứng đúng đắn với tính cách là hành trangvững bước cho họ khi trở thành một người cán bộ y tế thực sự
Tóm lại, đây là một vấn đề có tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực
tiễn Chính vì vậy, tôi chọn chủ đề “Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay” làm đề
tài luận văn thạc sĩ của mình
Luận án Phó tiến sĩ Triết học, số 48, Học viện Nguyễn Ái Quốc
- Bùi Ngọc: “Thế giới quan khoa học một tất yếu lịch sử”, Tạp chí
Thông tin Khoa học Xã hội, 1981, số 8
- Ch.L.Xiếc-nốp: “Những vấn đề cấp bách của việc hình thành thế giới quan Mác-Lênin”, Tạp chí Giáo dục Mác-Lênin, số 3-1985.
Trang 9- Lê Xuân Vũ: “Thế giới quan Mác-Lênin trong đời sống tinh thần nhân dân ta”, Tạp chí Cộng sản, số 6-1986.
- Bùi Ỉnh: “Vấn đề xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng đối với cán bộ, đảng viên là người dân tộc, thiểu số trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, Luận án Phó tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 1993
- Trần Viết Quân: “Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Tây Nguyên hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết
học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002
- Bùi Kiến Thưởng: “Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học viên trường chính trị Hà Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết
học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004
- Nguyễn Thị Luyến: “Vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội hiện nay”, Luận văn
thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005
- Lê Thị Nam An: “Giảng dạy triết học Mác-Lênin với việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Nghệ An hiện nay”, Luận văn
thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2007
Trang 10- Lâm Văn Đồng: “Vấn đề y đức của cán bộ y tế tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2008
Mặc dù những đề tài trên đều nghiên cứu các khía cạnh khác nhau xungquanh vấn đề này, nhưng thực tiễn luôn có sự thay đổi luôn đặt ra các vấn đềgiáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên trong bối cảnh hộinhập quốc tế hiện nay Hơn nữa, liên quan đến việc giáo dục thế giới quanduy vật biện chứng cho sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiệnnay, thì cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu
Vì vậy, luận văn thạc sĩ “Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứngcho sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay” có thể coi là cốgắng góp phần vào việc khắc phục tình trạng trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận về giáo dục thế giớiquan duy vật biện chứng và thực trạng của việc giáo dục thế giới quan duy vậtbiện chứng cho sinh viên các trường Cao đẳng y tế tại Hà Nội hiện nay, từ đóđưa ra một số giải pháp cho các vấn đề thực tiễn đặt ra nhằm nâng cao chấtlượng hiệu quả của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng tại cáctrường Cao đẳng y tế tại Hà Nội hiện nay
Trang 11- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả củaviệc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng tại các trường Cao đẳng Y tế HàNội hiện nay.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc giáo dục thế giới quan duyvật biện chứng cho sinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứngcho sinh viên các trường Cao đẳng y tế tại Hà Nội hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa vào cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh, các tác phẩm kinh điển mác xít và các công trình nghiên cứucủa các tác giả đi trước
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp như phântích và tổng hợp, so sánh, logic và lịch sử, quy nạp và diễn dịch, điều tra xãhội học
6 Đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ thực trạng giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng tại các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay
- Đề tài đưa ra một số quan điểm chung và giải pháp cơ bản nhằm nângcao chất lượng, hiệu quả của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng chosinh viên các trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy ở các trường Đại học, cao đẳng ở Hà Nội hiện nay
Trang 127 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được kết cấu làm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giáo dục thế giới quan duy vật
biện chứng
Chương 2: Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các
trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội hiện nay: thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3: Quan điểm chung và những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng trong việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng tại các trườngCao đẳng Y tế Hà Nội hiện nay
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG
1.1 Thế giới quan duy vật biện chứng
1.1.1 Thế giới quan
“Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người”, “đời sống thể xác vàtinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên” [37, tr.135] vì vậy, khisinh ra con người luôn có nhu cầu tìm hiểu về nó, người ta đã đặt ra rất nhiềucâu hỏi như: Thế giới này có nguồn gốc từ đâu? Bản chất của nó là gì? Conngười có thể nhận thức về thế giới hay không? và đây chính là cơ sở hìnhthành nên thế giới quan của con người
Gắn liền với sự hình thành con người trên trái đất, thế giới quan xuấthiện từ thời nguyên thủy Song chỉ đến thế kỷ thứ XVIII thế giới quan mớiđược Cantơ, nhà triết học người Đức đề cập đến như một khái niệm khoa học.Các nhà triết học người Đức nửa đầu thế kỷ thứ XIX và các nhà triết học saunày đã sử dụng khái niệm thế giới quan trong các học thuyết của mình Trong
số này, đặc biệt phải kể đến Mác và Ăngghen, những nhà triết học đã sáng lậpmột nền triết học duy vật được coi là triệt để nhất và một thế giới quan đượccoi là khoa học nhất - thế giới quan duy vật biện chứng
Trong lịch sử tư tưởng của loài người đã có nhiều định nghĩa khác nhau
về thế giới quan Chẳng hạn, đưa ra quan niệm về thế giới quan G.Gertx viết:
“Chúng tôi hiểu thế giới quan như một hệ thống nhất định những lời giải đáp,những vấn đề về cội nguồn của thế giới và nguồn gốc, về ý nghĩa cuộc sống
và đặc trưng của tiến bộ xã hội” [14, tr.42] Trong cuốn Từ điển Triết học, thếgiới quan được định nghĩa như sau: “Toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm
và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của tậpđoàn xã hội, của một giai cấp hay xã hội nói chung đối với thực tại” [50,
Trang 14tr.539] Các nhà triết học trên thế giới quan niệm, thế giới quan ra đời, hìnhthành, phát triển luôn gắn với sự phát triển của thực tiễn xã hội và sự hiểu biếtthế giới của con người.
Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã đưa ra các quan điểm khác
nhau xung quanh khái niệm thế giới quan Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt,
Minh Tâm đã định nghĩa: “Thế giới quan là hệ thống những quan điểm mangtính khái quát về thế giới nói chung, về những quy trình tự nhiên và xã hộiđược thực hiện trong thế giới đó, về mối quan hệ của con người đối với hiệnthực xung quanh” [43, tr.17] Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thế giớiquan là: “hệ thống tổng quát những quan điểm của con người về thế giới (toàn
bộ sự vật thuộc hiện tượng tự nhiên và xã hội), về vị trí con người trong thếgiới đó và về những quy tắc xử sự do con người đề ra trong thực tiễn xã hội”[19, tr.203]
Từ các quan điểm nêu trên chúng ta có thể hiểu khái niệm thế giới quan
như sau: Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một người hoặc một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn xã hội về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới, làm cơ sở cho việc định hướng các hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo thế giới của họ, điều chỉnh hành vi của con người trong cuộc sống hàng ngày.
Như vậy, thế giới quan đóng vai trò định hướng, chỉ dẫn cho hoạt độngnhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, đồng thời là phương thức màcon người tự ý thức được về bản thân mình
Trong ý nghĩa đó, thế giới quan bao hàm cả nhân sinh quan, tức là toàn
bộ những quan niệm về cuộc sống của con người hoặc cộng đồng người Theo
Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì “nhân sinh quan bao
gồm lẽ sống, lối sống, lý tưởng sống của con người” [53, tr.1239] Thế giớiquan hình thành trên cơ sở những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội
và chính bản thân mình Nó được biểu hiện qua thái độ, các hành vi, hành
Trang 15động của chủ thể Thế giới quan chính là lập trường sống của chủ thể Do đó,việc trang bị thế giới quan đúng đắn và khoa học sẽ giúp chủ thể có lậptrường tư tưởng vững vàng trước những biến động trong cuộc sống xã hội vàtrước những đổi thay trong cuộc đời mình.
Thế giới quan trực tiếp phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của con người
ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hộicủa một chế độ xã hội nhất định, phụ thuộc vào hệ tư tưởng thống trị trong mỗimột chế độ xã hội Như vậy, thế giới quan mang tính lịch sử Trong xã hội có phânchia giai cấp, thế giới quan có tính giai cấp sâu sắc Trong xã hội có đối kháng giaicấp, không thể có thế giới quan chung cho mọi giai cấp
Thế giới quan có thể là thế giới quan của một cá nhân, thế giới quancủa một cộng đồng, thế giới quan của một giai cấp hoặc thế giới quan của một
xã hội Mỗi cá nhân dù ở giai cấp, tầng lớp nào bằng vốn sống, kinh nghiệmsống cũng có những tri thức nhất định về tự nhiên, xã hội và con người trongthế giới xung quanh Tri thức và niềm tin của mỗi người trong cuộc đời pháttriển đến một mức độ nhất định sẽ tạo nên lý tưởng định hướng cho hoạt độngcủa người đó Các yếu tố tri thức, niềm tin, lý tưởng của mỗi người tạo thành
“cái nhìn” về cuộc đời, từ góc độ triết học gọi là thế giới quan cá nhân
Sự hình thành thế giới quan cá nhân là quá trình lâu dài và phụ thuộcnhiều yếu tố, nhiều điều kiện khách quan Thế giới quan cá nhân phụ thuộcvào trình độ hiểu biết của từng người, vào chế độ xã hội trong đó cá nhân sinhsống, vào địa bàn sinh sống, vào điều kiện vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân,yếu tố giáo dục (gia đình, nhà trường, xã hội) và kinh nghiệm sống của mỗingười Chính vì vậy, trong cuộc đời, thế giới quan của mỗi người có thể bịthay đổi Vì vậy, việc giáo dục thế giới quan đúng đắn, khoa học cho mỗi cánhân là cần thiết trong một xã hội tiến bộ, mặt khác cần phải thường xuyênbồi dưỡng thế giới quan đã được giáo dục bằng nỗ lực học tập, học hỏi khôngngừng để củng cố lập trường, thế giới quan đó
Trang 16Thế giới quan cá nhân rất phong phú, đa dạng vì mỗi người đều có “cáitôi” riêng lẻ, mỗi người đều có một phong cách sống riêng Nhưng cá nhânkhông bao giờ tồn tại tách biệt với xã hội Do đó, thế giới quan cá nhân còn
có thế gắn liền với thế giới quan giai cấp và thế giới quan xã hội
Thế giới quan giai cấp là hệ thống quan điểm của một giai cấp về thếgiới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó, thể hiện tư tưởng tiến
bộ hay lạc hậu của giai cấp đó so với tiến trình lịch sử
Thế giới quan xã hội là hệ thống những quan niệm về thế giới, về vị trícủa con người trong thế giới được xây dựng trên cơ sở các phạm trù vànguyên lý Thế giới quan xã hội được trình bày trong học thuyết của giai cấpđại diện cho lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội thể hiện tư tưởng, ýchí chung của đông đảo toàn xã hội Thế giới quan xã hội do các nhà tư tưởngxây dựng nên
Cấu trúc của thế giới quan gồm ba yếu tố cơ bản, đó là tri thức, niềmtin, lý tưởng
Tri thức: là sự hiểu biết của con người về thế giới, là kết quả của quá
trình nhận thức thế giới Tri thức là điều kiện cơ bản để hình thành thế giớiquan Tri thức có nhiều loại: tri thức về tự nhiên, về xã hội và về con người.Tuy nhiên, không phải bất cứ tri thức nào của các lĩnh vực trên cũng nằmtrong cấu trúc của thế giới quan Những tri thức nào biểu hiện những quanđiểm, nguyên lý, nguyên tắc phổ biến về tự nhiên, xã hội và con người mớinằm trong cấu trúc của thế giới quan
Niềm tin: là trạng thái tâm lý trong đó có sự hòa quyện của cả tri thức,
tình cảm và ý chí Niềm tin mang bản chất xã hội, có tính giai cấp, tính thờiđại Niềm tin cũng phụ thuộc vào trình độ văn hóa, trình độ dân trí Niềm tin
là một trạng thái tâm lý, gắn với tồn tại người “Niềm tin là một nhu cầukhông thể thiếu của đời sống tinh thần con người, là một yếu tố tồn tại người,rất trừu tượng và cũng khó xác định cụ thể Không như một thực thể vật chất,
Trang 17niềm tin tồn tại trong chiều sâu kín của ý thức, tư tưởng, tâm hồn, tình cảmcủa mỗi con người” [3, tr.8] Niềm tin có thể giúp con người vượt qua mọi trởngại, khó khăn, làm cho con người trở nên mạnh mẽ phi thường trước nhữngsóng gió cuộc đời Nhờ có niềm tin, tri thức mới trở thành cơ sở cho hànhđộng; giúp con người xác định mục tiêu hành động, phương châm sống, hìnhthành những hoài bão để vươn lên.
Lý tưởng: là hình thức đặc biệt của ý thức, giúp định hướng cho hành
động của chủ thể Đó là sự kết hợp của niềm tin và tri thức vào một tiêu chí, mẫuhình nào đó về thế giới khách quan mà chủ thể chưa thực hiện được Lý tưởnggiúp con người định hình được cuộc sống, sống có mục đích, có khát vọng Nhưvậy, trong ba yếu tố hình thành thế giới quan, tri thức là cơ sở trực tiếp cho sựhình thành thế giới quan; song tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi đã trởthành niềm tin của con người qua sự thể nghiệm lâu dài trong cuộc sống của họ
Sự hình thành lý tưởng là sự phát triển cao của thế giới quan
Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, thế giới quan đượcthể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, song có ba hình thức cơ bản đó là:Thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học
Thế giới quan huyền thoại: Là thế giới quan đặc trưng cho “tư duynguyên thủy”, nội dung của nó pha trộn một cách không tự giác giữa hai yếu
tố thực và ảo Điều đó thể hiện qua các câu chuyện thần thoại, con ngườitrong xã hội công xã nguyên thủy với trình độ nhận thức còn thấp nên đã sùngbái các cá nhân kiệt xuất hoặc sức mạnh của tự nhiên, thần thánh hóa conngười và các hiện tượng trong tự nhiên thành các vị thần Do đó, họ chưakhẳng định được vai trò, vị trí làm chủ của con người đối với thế giới Hơnnữa, do đầu óc tưởng tượng làm cho cái thật và cái giả gắn kết với nhau, tạonên sự huyền ảo về thế giới hiện thực
Thế giới quan tôn giáo: Là thế giới quan thể hiện niềm tin mãnh liệtvào sự chi phối của lực lượng siêu tự nhiên đối với thế giới nói chung, con
Trang 18người nói riêng Con người quan niệm thế giới mà con người đang sống chỉmang tính tạm thời, là cuộc sống giả tạo mà thôi Còn thế giới thực mà conngười chờ đợi là thế giới sau khi con người chết đi Do đó, con người không
có vai trò, vị trí gì trong thế giới hiện thực Đặc trưng của thế giới quan tôngiáo là đức tin cao hơn lý trí, đức tin ấy chủ yếu hướng vào một thế giớikhông có thực, vào sức mạnh siêu nhiên
Thế giới quan triết học là trình độ cao của thế giới quan Nó ra đời trên
cơ sở trình độ nhận thức của con người đã đạt đến trình độ khái quát hóa, trừutượng hóa Hơn nữa, thế giới quan triết học thường được các lực lượng xã hội
sử dụng để truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp mình Thế giới quan triết họcgiải quyết các vấn đề về thế giới, vị trí, vai trò của con người trong thế giớikhông phải bằng truyền thuyết của cha ông (huyền thoại), trong niềm tin củaquyền uy (tôn giáo), mà trong các luận cứ và tư biện của lý trí Thế giới quantriết học là lý luận thông qua hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý,quy luật thể hiện quan niệm của con người về thế giới
Trong ba hình thức cơ bản của thế giới quan nói ở trên thì thế giới quantriết học là hình thức thế giới quan có trình độ phát triển cao hơn, sâu sắc hơn
so với thế giới quan huyền thoại và tôn giáo Ngay từ khi mới ra đời, triết học
đã tồn tại như là một hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới
và về vai trò của con người trong thế giới ấy Thực tiễn đã chứng minh rằng,chỉ có triết học mới có thể giải quyết được những vấn đề chung nhất của thếgiới mà không một ngành khoa học cụ thể nào có thể làm được Vì vậy, triếthọc bao giờ cũng đóng vai trò hạt nhân lý luận của một thế giới quan Triếthọc là sự thể hiện cô đọng tập trung nhất thế giới quan của mỗi giai cấp, mỗithời đại lịch sử nhất định Nó thể hiện chiều sâu của tư tưởng, thể hiện trình
độ cao của trí tuệ con người Thế giới quan triết học luôn giữ vai trò chủ đạođịnh hướng các hành vi chính trị và đạo đức, lối sống của con người Nó
Trang 19giúp cho con người biết nhận thức và hành động theo mục tiêu lý tưởng củamình.
Có thể chia thế giới quan triết học thành thế giới quan duy vật và thếgiới quan duy tâm
Thế giới quan duy tâm thừa nhận bản chất của thế giới là tinh thần vàthừa nhận vai trò quyết định của các yếu tố tinh thần đối với thế giới nóichung, bao gồm tự nhiên, xã hội và con người Thế giới quan duy tâm baogồm thế giới quan duy tâm khách quan và thế giới quan duy tâm chủ quan.Thế giới quan duy tâm khách quan coi cơ sở của thế giới vật chất là thế giớitinh thần đã có trước và sinh ra thế giới các sự vật, hiện tượng Thế giới quanduy tâm chủ quan thì tuyệt đối hóa vai trò của cái tôi cảm giác, hay cái tôisiêu nghiệm
Thế giới quan duy vật thừa nhận bản chất thế giới là vật chất, thừa nhậnvai trò quyết định của vật chất đối với đời sống tinh thần và thừa nhận vị trícủa con người trong cuộc sống hiện thực Thế giới quan duy vật có thể là thếgiới quan duy vật thời cổ đại, thế giới quan duy vật siêu hình hoặc thế giớiquan duy vật biện chứng
1.1.2 Thế giới quan duy vật biện chứng
Trong lịch sử phát triển của triết học, cuộc đấu tranh giữa hai trườngphái triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đã tạo nênnhững cơ sở, điều kiện cho triết học ngày càng phát triển Mỗi lần chủ nghĩaduy vật chiến thắng chủ nghĩa duy tâm bằng lý luận của mình cũng là mỗi lầnthế giới quan duy vật được mở rộng, phát triển lên một trình độ cao hơn Từthế giới quan duy vật chất phác thời kỳ cổ đại đến thế giới quan duy vật siêuhình thời cận đại và đỉnh cao là thế giới quan duy vật biện chứng là cả mộtquá trình phát triển lâu dài của thế giới quan triết học Nhờ kế thừa những giátrị tinh hoa của triết học trong lịch sử, đặc biệt là kế thừa có phát triển sángtạo hạt nhân hợp lý của triết học cổ điển Đức, Mác và Ăngghen đã sáng lập ra
Trang 20một hệ thống triết học mới khác về chất so với các triết học trước đó Các nhàtriết học trước Mác chỉ nhằm mục đích là giải thích thế giới, còn triết họcMác là công cụ hữu hiệu để cải tạo thế giới hiện thực “Các nhà triết học đãchỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thếgiới” [31, tr.11-12].
Nhờ sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng khoahọc, chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là chủ nghĩa duy vật triệt để, khôngchỉ trong lĩnh vực tự nhiên mà còn trong lĩnh vực xã hội Thế giới quan duyvật biện chứng là thế giới quan của giai cấp công nhân, giai cấp tiến bộ vàcách mạng trong thời đại chúng ta Đó là “một thế giới quan hoàn chỉnh,không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, mộthành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản” [23, tr.50]
Thế giới quan duy vật biện chứng vừa có tính cách mạng, vừa có tínhkhoa học Bởi vì, nó không chỉ phê phán hiện thực mà còn có mục đích cảitạo hiện thực nữa, nó đối lập với các quan niệm bảo thủ, giáo điều, kinh viện.C.Mác viết rằng: “Phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về
sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; vì mỗihình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động,tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuấtphục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cáchmạng” [36, tr.36] Sự ra đời của thế giới quan duy vật biện chứng được xâydựng trên những tiền đề kinh tế - xã hội và tư tưởng văn hóa tiên tiến củanhân loại, mà trực tiếp nhất là dựa trên sự phản ánh khái quát đúng đắn, đầy
đủ và sâu sắc những tư liệu do khoa học và thực tiễn mang lại V.I.Lênin khiphát triển quan niệm của C.Mác và Ph.Ănghen về văn hóa đã khẳng định:
“Chỉ có thế giới quan mácxít là biểu hiện đúng đắn những lợi ích, những quanđiểm và nền văn hóa của giai cấp vô sản cách mạng” [26, tr.400]
Trang 21Trên cơ sở phân tích sự hình thành và bản chất của thế giới quan duyvật biện chứng, có thể khẳng định, thế giới quan duy vật biện chứng là trình
độ phát triển cao của thế giới quan triết học và cũng là trình độ phát triển caocủa thế giới quan so với tất cả các loại hình thế giới quan đã có trong lịch sử
Vì vậy, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về thế giới quan duy vật biện chứng
như sau: Thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống những quan điểm hoàn chỉnh về thế giới trên cơ sở những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, cùng những định hướng giá trị của con người trong quan hệ với hiện thực trên cơ sở chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng.
Những tri thức của thế giới quan duy vật biện chứng là những tri thứckhác nhau và khái quát các hoạt động thực tiễn của con người Tri thức trongthế giới quan duy vật biện chứng gắn liền với chủ nghĩa duy vật, phép biệnchứng, các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Những tri thức đó góp phầnđịnh hướng cho con người trong hoạt động cải tạo hiện thực Đặc biệt, nhữngtri thức của triết học Mác-Lênin đóng vai trò nền tảng, là hạt nhân lý luận củathế giới quan duy vật biện chứng Điều này xuất phát từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, triết học Mác-Lênin giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của
triết học trên cơ sở thực tiễn Ănghen đã khái quát: “Vấn đề cơ bản lớn củamọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy vớitồn tại” [34, tr.403] Theo chủ nghĩa duy vật mácxít, vật chất có trước, ý thức
có sau, vật chất suy cho cùng quyết định ý thức; mặt khác, ý thức cũng tácđộng trở lại đối với vật chất Ý thức phản ánh hiện thực không chỉ trong quátrình hiện thực tác động một cách giản đơn lên nó mà đặc biệt còn trong quátrình con người cải tạo, biến đổi hiện thực “Trong thế giới, không có gì ngoàivật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâungoài không gian và thời gian” [21, tr.209-210] Đây là quan hệ tác động haichiều trên cơ sở thực tiễn Cái vật chất được “di chuyển và cải biến trong bộóc” thông qua hoạt động thực tiễn Trái lại, để tác động vào thế giới vật chất,
Trang 22để làm biến đổi nó thì ý thức cũng phải thể hiện mình thông qua hoạt độngthực tiễn Theo C.Mác, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyểnvào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó” [36, tr.35] Chỉ hoạtđộng thực tiễn mới có thể biến những chương trình, kế hoạch của con ngườithành hiện thực vật chất Bằng hoạt động thực tiễn, con người cải biến sự vậttrong hiện thực, cũng như trong tư tưởng.
Thứ hai, triết học Mác-Lênin là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật
và phép biện chứng Chủ nghĩa duy vật trước Mác thường tách rời phép biệnchứng Điều này thể hiện rõ nhất ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII Mặtkhác, phép biện chứng cũng được phát triển bởi chủ nghĩa duy tâm, nhất là bởitriết học duy tâm của Hêghen Tuy là phép biện chứng duy tâm nhưng Hêghen
đã khái quát được những quy luật cơ bản của phép biện chứng, dù đó là nhữngquy luật tinh thần nhưng thể hiện rõ tư tưởng về vận động và phát triển “Nềntriết học mới của Đức, Ănghen viết, đã đạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thốngcủa Hêghen, trong đó lần đầu tiên - và đây là công lao to lớn của ông - toàn bộthế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần được trình bày như là một quá trình, nghĩa
là luôn luôn vận động, biến đổi, biến hóa và phát triển, và ông đã cố vạch ra mốiliên hệ nội tại của sự vận động và sự phát triển ấy Theo quan điểm ấy, lịch sửloài người [ ] là một quá trình phát triển của bản thân loài người, và nhiệm vụcủa tư duy hiện nay là phải theo dõi bước tiến tuần tự của quá trình ấy qua tất cảnhững khúc quanh co của nó và chứng minh tính quy luật bên trong của nó quatất cả những cái ngẫu nhiên bề ngoài
Việc Hêghen không giải quyết được nhiệm vụ ấy, thì điều đó ở đây đốivới chúng ta cũng không quan trọng gì Công lao lịch sử của ông là đã đề ranhiệm vụ ấy” [33, tr.39-40]
Vì vậy để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mác đã cải tạo chủnghĩa duy vật siêu hình và phép biện chứng duy tâm, từ đó tạo nê n sự thốngnhất hữu cơ giữa thế giới quan và phương pháp luận, giữa lý luận và
Trang 23phương pháp, giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng Như vậy, chủnghĩa duy vật mácxít là chủ nghĩa duy vật biện chứng, còn phép biện chứngmácxít là phép biện chứng duy vật Ph.Ănghen tự nhận xét: “Có thể nói rằnghầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giácthoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tựnhiên và về lịch sử” [33, tr.22].
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và phát triển một cách sáng tạo nhữnggiá trị triết học đã có trong lịch sử Ph.Ănghen đã đưa ra định nghĩa kinh điển
về phép biện chứng như sau: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” [2, tr.239].
Mỗi nguyên lý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩaMác-Lênin không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới
mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới.Theo các nguyên lý này thì mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qualại với các sự vật, hiện tượng, quá trình khác của hiện thực; tất cả các sự vậtcũng như sự phản ánh của chúng trong óc người đều ở trong trạng thái biếnđổi, phát triển không ngừng Nguồn gốc của sự phát triển là sự đấu tranh giữacác mặt đối lập ở ngay trong lòng sự vật Lênin khẳng định: “Sự phát triển làmột cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” [25, tr.379] Phương thức của sựphát triển trên là sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thayđổi về chất và ngược lại, theo kiểu nhảy vọt Còn chiều hướng của sự pháttriển là sự vận động tiến lên theo đường “xoáy ốc” chứ không phải theođường thẳng V.I.Lênin đã khái quát con đường đó như sau: “Sự phát triểnhình như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác, ởmột trình độ cao hơn (“phủ định của phủ định”); sự phát triển có thể nói làtheo đường trôn ốc chứ không theo đường thẳng ” [24, tr.65] Với tư cách làkhoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép
Trang 24biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất, bao quát các lĩnh vực
tự nhiên, xã hội và tư duy vào các cặp phạm trù cơ bản Đó là, các cặp phạmtrù: cái riêng và cái chung, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên,nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khẳ năng và hiện thực
Phép biện chứng duy vật còn thống nhất với lý luận nhận thức Theo lýluận nhận thức mácxít, nhận thức là sự phản ánh thế giới tự nhiên bởi conngười nhưng đó không phải là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp, hoàn toàn mà
là một quá trình nhờ đó tư duy mãi mãi và không ngừng tiến dần đến kháchthể Sự tiến gần đó theo con đường mà V.I.Lênin đã tổng kết: “Từ trực quansinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng về thực tiễn, là conđường biện chứng của sự nhận thức chân lý khách quan” [28, tr.189] Cơ sở,động lực và mục đích của toàn bộ quá trình này là thực tiễn; thực tiễn đồngthời là tiêu chuẩn của chân lý C.Mác đã từng khẳng định: “Vấn đề tìm hiểuxem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn
không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực
tiễn mà con người phải chứng minh chân lý” [31, tr.9-10]
Thứ ba, triết học Mác-Lênin là chủ nghĩa duy vật triệt để Bởi vì, thiếu
sót lớn nhất của chủ nghĩa duy vật trước Mác là ở chỗ nó là quan niệm duyvật không triệt để, tức là duy vật trong tự nhiên nhưng lại duy tâm trong xãhội “Việc phát hiện ra quan niệm duy vật lịch sử, hay nói đúng hơn, việc ápdụng, việc vận dụng triệt để chủ nghĩa duy vật để xem xét lĩnh vực nhữnghiện tượng xã hội, đã loại bỏ được hai khuyết điểm căn bản của những lý luậnlịch sử trước kia” [24, tr.68], đồng thời, “Chủ nghĩa Mác mở đường cho việcnghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy tàn củacác hình thái kinh tế xã hội” [24, tr.68] theo quan điểm duy vật, và nhờ đó thếgiới quan duy vật biện chứng trở thành toàn diện và triệt để
Trên cơ sở đó chúng ta có nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịchsử:
Trang 25Một là, C.Mác đã đưa ra chân lý “Không phải ý thức của con người
quyết định được sự tồn tại của họ; trái lại tồn tại xã hội của họ quyết định ýthức của họ” [34, tr.15] Tồn tại xã hội của con người gồm: Phương thức sảnxuất vật chất, điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số ,trong đó phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản nhất, xét cho cùng quyết địnhtoàn bộ đời sống xã hội, quyết định sự phát triển xã hội Ý thức xã hội là mộttính chất của đời sống xã hội, bao gồm: những quan điểm, tư tưởng cùngnhững tình cảm, tâm trạng, truyền thống nảy sinh từ tồn tại xã hội, và phảnánh tồn tại xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định Đồng thời với sự khẳngđịnh ấy, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng thừa nhận tính độc lập trong sự pháttriển của ý thức xã hội và vai trò tích cực của tư tưởng, lý luận trên trong sựphát triển của xã hội
Hai là, chủ nghĩa duy vật lịch sử vạch rõ rằng những mâu thuẫn giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được giải quyết bằng quá trình đấutranh giai cấp trong quá trình phá vỡ quan hệ sản xuất cũ và thành lập quan hệsản xuất mới, tiến bộ, phù hợp với lực lượng sản xuất đã lớn mạnh Mác từngchỉ ra rằng: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sảnxuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có ,trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ lànhững hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trởthành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đạimột cuộc cách mạng xã hội” [32, tr.15] Chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng chỉ rõmột cách khoa học vai trò của quần chúng nhân dân trong sự phát triển củalịch sử Quan điểm đó dễ dẫn đến việc khẳng định vai trò lịch sử thế giới củagiai cấp công nhân hiện đại trong cuộc đấu tranh giải phóng loài người khỏichủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đó là mộttất yếu
Trang 26Ba là, chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tính cách là một
thể thống nhất, hoàn chỉnh và vạch ra những quy luật chung và động lực của
sự phát triển xã hội Các quy luật của xã hội cũng tồn tại khách quan độc lậpvới ý thức của con người như các quy luật của tự nhiên C.Mác khẳng định:
“Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tựnhiên” [36, tr.21]
Quan niệm duy vật về lịch sử của Mác, đã trở thành một công cụ vĩ đạitrong hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới
Thứ tư, triết học Mác-Lênin là thế giới quan của giai cấp công nhân,
nhưng lợi ích của giai cấp công nhân lại phù hợp với lợi ích của nhân dân laođộng Với sự ra đời của triết học Mác, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân laođộng có được một thế giới quan thực sự của mình Khi đánh giá ý nghĩa thắnglợi của chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin đã viết rằng: “Chủ nghĩa Mác sở dĩ giànhđược ý nghĩa lịch sử trên toàn thế giới về mặt hệ tư tưởng của giai cấp vô sảncách mạng, là vì chủ nghĩa Mác không những đã vứt bỏ những thành tựu hếtsức quý báu của thời đại tư sản, mà trái lại, còn tiếp thu và cải tạo tất cảnhững gì là quý báu trong hơn hai nghìn năm phát triển của tư tưởng và vănhóa nhân loại” [26, tr.400] Đó là thế giới quan khoa học và cách mạng, là vũkhí tư tưởng trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và toàn thể nhân loại khỏi áp bức, bóc lột Chính thế giới quan duy vậtbiện chứng, “nó cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân nhữngcông cụ nhận thức vĩ đại” [26, tr.361]
Như vậy, thế giới quan duy vật biện chứng phản ánh đúng đắn hiệnthực khách quan, đem đến một cách nhìn hoàn toàn mới mẻ về con người,khẳng định con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, khẳng định khẳ năng tự ýthức về vai trò và vị trí của con người trong hiện thực, khẳng định khả năngcải tạo tự nhiên và xã hội của con người Do đó, thế giới quan duy vật biệnchứng chính là vũ khí tinh thần sắc bén của giai cấp công nhân và nhân dân
Trang 27lao động trong cuộc cách mạng xây dựng chế độ xã hội cộng sản văn minh,tiến bộ hơn chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa Vì vậy, việc bồi dưỡng thế giớiquan duy vật biện chứng cho thế hệ trẻ đặc biệt là sinh viên đóng vai trò đặcbiệt quan trọng Muốn làm được điều này, thì cần phải đảm bảo các nguyêntắc sau:
Một là, nguyên tắc tính khách quan, xuất phát từ cách giải quyết mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm duy vật biện chứng, đồng thờicũng xuất phát từ tính khách quan của quá trình nhận thức chân lý Đòi hỏitrong nhận thức phải xuất phát từ thực tế khách quan, từ bản thân các sự vật,
hiện tượng tồn tại khách quan bên ngoài con người Trong Bút ký triết học, V.I.Lênin chỉ ra rằng, "tính khách quan của sự xem xét (không phải thí dụ,
không phải dài dòng, mà bản thân sự vật tự nó)" [25, tr.239]
Cùng với những quy luật vận động và phát triển khách quan của sự vật,hiện tượng trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy Nguyên tắc khách quan cònđòi hỏi phải phát huy tính năng động của ý thức trong nhận thức Nhưng phảikiên quyết chống chủ nghĩa duy tâm, chủ quan duy ý chí, coi thường quy luậtkhách quan
Hai là, nguyên tắc toàn diện, V.I.Lênin viết: "Muốn thực sự hiểu được sự
vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ
và "quan hệ gián tiếp" của sự vật đó Chúng ta không thể làm được điều đó mộtcách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòngcho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc" [27, tr.364]
Như vậy, nguyên tắc toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn
về sự vật, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộphận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau; trong mối liên hệ qua lại giữacác sự vật và các hiện tượng Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện chân thực đòihỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến
Trang 28chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển; nó đòi hỏiphải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng.
Ba là, nguyên tắc phát triển, phát triển là một phạm trù triết học dùng để
khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Nguyên tắc phát triển với tư cách lànguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật, hoàn toàn đối lập với bảo thủ,trì trệ định kiến Tự nhiên, xã hội và tư duy nằm trong quá trình vận động và pháttriển không ngừng Bản chất khách quan của quá trình đó đỏi hỏi chúng ta, đểphản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, cần có quan điểm phát triển, phải pháthiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng Theo V.I.Lênin, “ lôgichbiện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự phát triển của chúng, trong “sự
tự vận động” , trong sự biến đổi của nó” [27, tr.364]
Bốn là, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, đòi hỏi xem xét mọi sự vật đều tồn
tại trong không gian, thời gian nhất định và mang dấu ấn của không gian vàthời gian đó V.I.Lênin khẳng định: “lôgíc biện chứng dạy rằng, "không cóchân lý trừu tượng”, rằng “chân lý luôn luôn là cụ thể" [27, tr.364]
Việc xem xét các vấn đề do thực tiễn đặt ra đòi hỏi phải chú ý đúngmức tới hoàn cảnh lịch sử - cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó, tới sự ra đời vàphát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực - cả khách quan lẫn chủ quan Khixem xét một quan điểm, một luận thuyết cũng phải đặt nó trong mối quan hệnhư vậy Chân lý sẽ trở thành sai lầm, nếu nó bị đẩy ra ngoài giới hạn tồn tạicủa nó Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có lịch sử củamình, đều tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể Không
có chân lý chung chung, trừu tượng Nguyên tắc này có ý nghĩa trong việckhắc phục bệnh giáo điều, bệnh chủ quan duy ý chí Đồng thời, nó góp phầnxây dựng phương pháp luận khoa học trong đánh giá lịch sử
Năm là, nguyên tắc thực tiễn, đòi hỏi khi xem xét, đánh giá một vấn đề
nào đó phải xuất phát từ thực tiễn và căn cứ vào thực tiễn V.I.Lênin khẳng
Trang 29định: "Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơbản của lý luận về nhận thức" [22, tr.167] Bởi vì, thực tiễn là cơ sở, động lực
và mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý
1.2 Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
1.2.1 Khái niệm giáo dục
“Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằmchuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất,
nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinhnghiệm lịch sử - xã hội của con người” [17, tr.120]
Như vậy, “giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loàingười Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năngsinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn pháttriển của xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sứclao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội pháttriển về mọi mặt Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm
vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn pháttriển của xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội” [18, tr.120]
Trong xã hội có giai cấp, giáo dục cũng mang tính giai cấp nhằm đàotạo ra lớp người phục vụ và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội và củachế độ xã hội mà họ xây dựng Tính giai cấp được bộc lộ rất đa dạng trongnền giáo dục của mỗi quốc gia khác nhau, mỗi chế độ khác nhau
“Giáo dục theo quan điểm phong kiến là đề cao giáo dục đạo đức, phẩmchất cho người học hình thành ở người học ý thức, thái độ, tinh thần tráchnhiệm đối với xã hội nhưng chưa chú trọng đến khoa học tự nhiên, kỹ thuật,nội dung giáo dục chưa gắn liền với sự phát triển của xã hội” [49, tr.37]
Giáo dục ở nước ta hiện nay, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đưa rađịnh hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ quá độ: “Giáo dục và
Trang 30đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡngnhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa vàcon người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoahọc và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo làđầu tư cho phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theonhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa,hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo
cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suôt đời” [10, tr.77]
Như vậy, để đạt được mục tiêu trên, chúng ta cần phải có sự đổi mớimạnh mẽ hơn nữa về nội dung, phương pháp giáo dục đào tạo Nội dung giáodục phải toàn diện cả dạy chữ, dạy nghề, dạy người Cần quan tâm đến giáodục phẩm chất đạo đức làm người, giáo dục lòng yêu nước và ý thức làm chủcủa người lao động, tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, tinhthần đồng đội, hợp tác trong công việc, chí tiến thủ và độc lập sáng tạo và tínhtrung thực của người lao động Để làm được điều này, phải chuẩn hóa chươngtrình và giáo trình đào tạo đảm bảo phù hợp với yêu cầu của thực tiễn xã hội.Tăng việc rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực độc lập sáng tạo, khả nănggiải quyết vấn đề thực tiễn và khả năng tự đào tạo, bồi dưỡng và tự hoàn thiệncủa mỗi cá nhân người lao động để thích nghi với sự biến đổi nhanh chóngcủa hiện thực xã hội, và đặc biệt quan trọng là cần phải chú ý đến giáo dục thếgiới quan duy vật biện chứng cho sinh viên
1.2.2 Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
Như chúng ta đã biết trong thế hệ thanh niên thì sinh viên là lực lượng tiêubiểu nhất Ăgghen đã từng viết: “Giai cấp vô sản lao động tri óc phải được hìnhthành từ hàng ngũ sinh viên, giai cấp đó có sứ mệnh phải kề vai sát cánh và cùngđứng trong một đội ngũ với người anh em của họ, những người công nhân laođộng chân tay, đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng sắp tới
Trang 31đây” [35, tr.613] Có thể thấy rằng, ở đây Ăngghen đã đánh giá rất cao vai trò của sinh viên với tư cách là đội dự bị của giai cấp vô sản lao động trí thức.
Ở nước ta các đồng chí lãnh đạo Đảng Nhà nước cũng coi trọng vai tròcủa sinh viên, có thể khẳng định rằng, sinh viên Việt Nam là lực lượng ưu tú nhấttrong thanh niên, có tri thức, được đào tạo cơ bản ở trình độ cao, có nhiệt tình củatuổi trẻ Qua thực tế cho thấy, trong bất cứ một trong trào nào của thanh niên, sinhviên luôn luôn là lực lượng xung kích đi đầu Sinh viên Việt Nam đã, đang và sẽ lànguồn nhân lực vừa “hồng” vừa “chuyên” của nước ta
Sinh viên trường Cao đẳng y tế Hà Nội cũng vậy, họ cũng đang từngngày học tập thật tốt để kế thừa và làm vẻ vang hơn nữa sự nghiệp cứu người
mà ông cha để lại
Nhưng hạn chế chủ yếu của sinh viên Việt Nam hiện nay nói chung củasinh viên các trường Cao đẳng y tế Hà Nội nói riêng là ở chỗ dù được đánhgiá là thông minh và ham học hỏi, nhưng trong quá trình học tập phần lớn họchỉ quan tâm đến môn chuyên ngành, cố gắng có được năng lực thực hành taynghề thật tốt mà quên đi việc trang bị cho mình một thế giới quan duy vậtbiện chứng được học qua các môn khoa học cơ bản, đặc biệt là các môn củachủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là những môn học cơ sởnền tảng cho việc hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Hơn nữa, cácmôn học này còn hình thành nên những phẩm chất y đức cần thiết đối vớinhững người cán bộ y tế trong tương lai Vì vậy, cần phải cho sinh viên thấyđược tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứngthông qua giáo dục
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng nhằm làm cho sinh viên nắmđược những nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật biện chứng và hướngdẫn sinh viên vận dụng lý luận đó vào thực tiễn một cách sáng tạo Từ đó,sinh viên sẽ phát triển nhân cách một cách hài hòa: Biết lĩnh hội tri thức
Trang 32đã học, biết biến tri thức đó thành niềm tin và lý tưởng cao cả của mình, tức làvận dụng tri thức đó vào cải tạo thế giới hiện thực.
Bản chất của giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng là quá trình tácđộng đồng bộ, tích cực, có định hướng, có kế hoạch vào ý thức của sinh viên,nâng cao khả năng nhận thức, mục tiêu cụ thể, xác định nào đó Giáo dục thếgiới quan duy vật biện chứng là một bộ phận của giáo dục xã hội nhằm pháttriển con người toàn diện
Con đường trực tiếp, năng động và sáng tạo nhất để hình thành thế giớiquan khoa học và cách mạng cho sinh viên là con đường giáo dục Mục tiêucủa giáo dục không chỉ là cung cấp những tri thức về nội dung, đặc điểm, vaitrò, ý nghĩa của thế giới quan duy vật biện chứng mà còn làm cho chúng thâmnhập vào cấu trúc nội tại của chủ thể - sinh viên và biến kiến thức khoa học
mà sinh viên đã tiếp nhận thành giá trị, niềm tin, lý tưởng, lập trường thế giớiquan tương ứng Nhờ đó, sinh viên hình thành thế giới quan khoa học và cáchmạng của chính mình, hình thành phương hướng tu dưỡng, rèn luyện thànhnhững phẩm chất chính trị, đạo đức của chính sinh viên
Việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng phải được đảm bảo cả
ba thành tố cấu trúc cơ bản của nó Thứ nhất là hệ thống tri thức khoa học cơbản, toàn diện, hiện đại và phương pháp tư duy biện chứng; thứ hai là hệthống niềm tin vào chân lý, vào những giá trị xã hội nhân đạo; thứ ba là hìnhthành lý tưởng sống cao đẹp, tiến bộ và tính tích cực; sẵn sàng hành động vì
Trang 33quan duy vật biện chứng Thế giới quan duy vật biện chứng là một thế giớiquan duy vật hoàn chỉnh, vì vậy, cùng với giáo dục những tri thức triết họcMác-Lênin, cần phải giáo dục những tri thức của môn kinh tế chính trị Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học Bởi vì, môn học kinh tế chính trị Mác-Lênin giúp cho sinh viên nhận thức hệ thống lý luận khoa học của Mác vàĂngghen về sự vận động của xã hội tư bản chủ nghĩa, thấy rõ được bản chấtcủa giai cấp tư sản trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng
dư Nhờ bóc lột giá trị thặng dư do giai cấp công nhân tạo ra, giai cấp tư sản
đã đẩy mạnh phát triển kinh tế và bước vào cuộc cách mạng công nghệ làmtăng năng suất lao động, nhưng đồng thời cũng làm cho lực lượng sản xuấtmang tính chất xã hội hóa ngày càng cao, mâu thuẫn với tính chất hẹp của chế
độ chiếm hữu tư nhân, tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thìcàng làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cànggay gắt Mâu thuẫn đó chỉ giải quyết triệt để khi cuộc cách mạng giành những
tư liệu sản xuất chủ yếu vào tay xã hội quản lý, làm cho quan hệ sản xuất phùhợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Người có sứ mệnh lịch
sử thực hiện quá trình cách mạng đó là giai cấp công nhân, con đẻ của nền đạicông nghiệp, đại diện cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiêntiến của thời đại mới
Trong thời đại hiện nay, chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa được coi là giaiđoạn mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền quốc tế, nó có những cách thức tồntại và hình thức thống trị mới nhưng không thay đổi về bản chất Bàn về cuộckhủng hoảng kinh tế- tài chính toàn cầu vừa xảy ra, tác giả Nguyễn HoàngGiáp viết: “Việc bảo đảm cho người lao động có công ăn việc làm ổn định,yên tâm đối với cuộc sống tương lai theo thân phận người lao động của mìnhthì chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa không thể làm được Nỗi lo lắng cho ngàymai trở thành nỗi lo lắng thường trực hơn, không chỉ đối với người lao độngchân tay, mà cả đối với người lao động trí óc Điều đó có liên quan đến đặc
Trang 34điểm của khủng hoảng kinh tế, cái tất yếu kinh tế của chủ nghĩa tư bản” [15].Như vậy, những biện pháp điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản không làm thayđổi bản chất của nó Tuy nhiên, xu hướng vận động khách quan của chủ nghĩa
tư bản trong xu thế toàn cầu hóa tiếp tục chuẩn bị tiền đề không chỉ vật chất
-kỹ thuật, mà cả những nhân tố hợp lý trong thiết chế chính trị, nhà nước chochủ nghĩa xã hội Trên góc nhìn này, xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng chính là
sự hiện thực hóa cái lô-gic phát triển của lực lượng sản xuất và nền văn minh
mà nhân loại đạt được trong chủ nghĩa tư bản Toàn bộ tình hình như đã nêulàm cho việc thay thế chế độ tư bản để mở đường cho sự phát triển xã hội trởthành vấn đề thời sự của lịch sử đương đại Bước đi tùy thuộc hoàn cảnh cụthể, nhưng đó là xu thế lịch sử không thể đảo ngược
Môn chủ nghĩa xã hội khoa học là môn học mà hệ thống tri thức của nódựa trên cơ sở triết học và kinh tế chính trị học Mác-Lênin, vừa bổ sung vàhoàn tất các học thuyết ấy, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin mang tính hoànchỉnh cân đối, làm cho thế giới quan duy vật biện chứng thực sự khoa học.Bởi vì, chủ nghĩa xã hội khoa học chứa đựng những nội dung tri thức khoahọc đề cập đến các vấn đề cải tạo thế giới theo những quy luật khách quan củacách mạng xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội khoa học làm rõ mục tiêu cuốicùng và con đường giải phóng xã hội, giải phóng con người, đồng thời luậngiải một cách khoa học về lực lượng chủ đạo trong quá trình cách mạng, đó làgiai cấp công nhân với sứ mệnh lịch sử của mình là xây dựng chủ nghĩa xãhội, chủ nghĩa công sản
Chính vì vậy, ba môn học cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin mà đặc biệt
là môn chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở để tăng cường giáo dục lý tưởngcách mạng cho sinh viên ngày nay Ngoài ra, cần phải giáo dục môn Lịch sửĐảng Cộng Sản Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh đó là những môn họcvận dụng lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam
Do đó, được trang bị kiến thức về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, về tư
Trang 35tưởng Hồ Chí Minh, sinh viên tự hào về lịch sử đấu tranh cách mạng, về sựnghiệp giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội, về con người sẽ giúp cho họcủng cố và nâng cao niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp đối mới do Đảng takhởi xướng và lãnh đạo, tin vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác
Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn Đồng thời, cũng cần phải giáo dục cả nhữngtri thức khoa học tự nhiên, xã hội bởi vì, những tri thức đó đã chứa đựng nộidung của thế giới quan khoa học và đã được khoa học tự nhiên và khoa học xãhội chứng minh tính đúng đắn của nó Những kiến thức của khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội sẽ góp phần làm cho sự hiểu biết về thế giới quan duy vậtbiện chứng thêm sâu sắc Việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng đòihỏi phải giáo dục cả về đường lối, chính sách của Đảng, các tư tưởng tiến bộcủa nhân loại khác hợp thành một thế giới quan khoa học và cách mạng nhất
Trong hệ thống giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng, ngoài nộidung chương trình còn cần phải có phương pháp giáo dục, hình thức giáo dục,tiến trình thực hiện giáo dục và phải có cả những phương tiện vật chất kỹthuật phục vụ cho công tác giáo dục, tạo ra hệ các điều kiện tốt phục vụ chocông tác giáo dục
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới,
về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thể giới đó
Những quan niệm của con người về thế giới hiện thực đã xuất hiện từ
xa xưa và được bổ sung trong từng điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, Như:Thời nguyên thủy, thế giới quan thần thoại là hinh thức đầu tiên của conngười về thế giới, về bản thân con người lúc bấy giờ và cùng với nó đã xuấthiện thế giới quan tôn giáo
Khi triết học ra đời, thế giới quan triết học đã trở thành một khoa họchợp nhất của toàn bộ tri thức của nhân loại và ngày càng được bổ sung Nó trởthành thế giới quan và phương pháp luận cho tất cả các lĩnh vực hoạt động xã
Trang 36hội và các ngành khoa khoa học khác, mà trình độ phát triển cao là thế giớiquan duy vật biện chứng - là thế giới quan thực sự khoa học và cách mạngtriệt để Nó phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan; nêu cao tính tự ý thức,tính phê phán, cải tạo thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó.
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng thực chất là cung cấp kiếnthức lý luận khoa học chủ nghĩa Mác-Lênin, hệ tư tưởng khoa học và cáchmạng cho người học điều cần nhấn mạnh là cần tăng cường trang bị nội dung
cơ bản của thế giới quan duy vật biện chứng, phương pháp luận khoa học,nhân sinh quan cách mạng cho người học tại các trường nói chung, các trườngCao đẳng y tế tại Hà Nội nói riêng Phép biện chứng duy vật là hạt nhân củachủ nghĩa Mác -Lênin với thế giới quan duy vật biện chứng làm kim chỉ namcho các Đảng cộng sản và là lập trường giai cấp vô sản Hệ thống các nguyên
lý, quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng hoạt động của thế giới
tự nhiên, xã hội, tư duy là công cụ sắc bén nhận thức thế giới khách quan củacon người, mà còn chỉ ra được những cách thức để định hướng đúng hoạtđộng cụ thể nhằm mang lại hiệu quả, năng suất cao trong thực tiễn cải tạo thếgiới
Trang 372.1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế
* Bối cảnh trong nước
Để hoàn thành mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa - hiện đạihóa vào năm 2020, công cuộc đổi mới của chúng ta phải trải qua nhiều chặngđường, và một trong những bước đi quan trọng của Đảng và Nhà nước ta làxây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,văn minh Trên thực tế qua hơn 25 năm đổi mới, Đảng, nhà nước và nhân dân
ta đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng về kinh tế và xã hội
Về kinh tế, chủ trương mở cửa, hội nhập của Đảng, nhà nước ta và cácthành tựu đã đạt được trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra những điều kiệncho việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng đối với sinh viên hiện naynói chung và đối với sinh viên các Trường Cao đẳng Y tế tại Hà Nội nóiriêng Nền kinh tế thị trường chỉ thu hút những con người có năng lực thực
sự, vì vậy, buộc sinh viên phải nỗ lực học tập để có vốn kiến thức phục vụ tốtcho công việc Điều đó cũng tạo ra một đội ngũ sinh viên ngày càng chủđộng, tích cực trong học tập; đồng thời làm cho mặt bằng kiến thức của sinhviên ngày càng cao Họ không chỉ học những kiến thức trong sách vở, trongtrường mà còn phải học rất nhiều kiến thức từ trong xã hội, trong cuộc sống
để lập thân, lập nghiệp Hơn nữa nó cũng có ảnh hưởng tích cực đến đội ngũ
Trang 38giảng viên buộc họ phải phát huy tính chủ động tích cực và nghiên cứu khoahọc Từ đó làm cho chất lượng đào tạo được nâng lên.
Về xã hội, có thể thấy hiện nay, đời sống vật chất và đời sống tinh thầncủa người dân ngày một phong phú hơn Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân, vì dân ngày càng được hoàn thiện, bộ máy nhà nướcngày càng có hiệu lực, quản lý thống nhất mọi lĩnh vực của đời sống xã hộitạo điều kiện thuận lợi cho đời sống người dân đảm bảo quyền công dân củamình Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là Đoàn Thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh từng bước được đổi mới nội dung và phươngpháp hoạt động thiết thực hơn Xu thế dân chủ hóa, công khai hóa trong mọilĩnh vực của đời sống xã hội kể cả trong giáo dục và đào tạo cũng tác độngtích cực đến sinh viên, tạo điều kiện cho họ phát triển Tuy nhiên, bên cạnh đóthì năng lực và hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước, hiệu quả hoạt độngcủa các tổ chức chính trị - xã hội chưa đáp ứng kịp yêu cầu của tình hình mới.Tình trạng nhiều quyết định chưa sát với tình hình và còn thiếu căn cứ khoahọc, luật pháp còn nhiều khe hở để cho nhiều hành vi phạm pháp, thamnhũng, trốn thuế, buôn lậu hoành hành Đây cũng là những trở ngại cần khắcphục, để làm cho nhân dân ta mà đặc biệt là thế hệ sinh viên ngày càng tintưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng; tin tưởng vào con đường độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng đã lựa chọn; tin tưởng vào bản chất conngười Việt Nam có bản lĩnh, có trí tuệ, có tinh thần dân tộc và quốc tế trongsáng Từ đó lý tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn được nhân dân một lòng hướng tới
* Bối cảnh quốc tế
Tình hình thế giới vào những năm cuối của thế kỷ XX cho đến nay, cónhững biến động lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa Sự biến đổi đó đang tácđộng đến sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, trong đó có nhữngmặt tích cực và cả những mặt hạn chế Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX Đảng ta đã xác định “Những nét mới trong tình hình thế giới và
Trang 39khu vực tác động mạnh mẽ đến tình hình nước ta, trước mắt nhân dân ta có cả
cơ hội và thách thức lớn” [7, tr.14]
Về mặt chính trị: Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông
Âu, nó đã ảnh hưởng lớn đến những nước Xã hội chủ nghĩa còn lại trong đó
có Việt Nam mà trực tiếp nhất là việc giáo dục thế giới quan duy vật biệnchứng
Có thể nói, lịch sử chưa bao giờ chứng kiến một sự sụp đổ nào về chínhtrị ghê gớm như vậy Nó diễn ra nhanh, rộng làm chấn động cả thế giới Trước
sự kiện ấy đã có nhiều câu hỏi được đặt ra và đã có nhiều cách trả lời khácnhau Vậy đâu mới là sự thật cho sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu?
Thắng lợi của cách mạng Tháng Mười kéo theo sự ra đời của hệ thống
xã hội chủ nghĩa đã đóng góp to lớn cho việc giữ gìn hòa bình, bình đẳng vàtiến bộ xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “ Giống như mặt trời chóilọi cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu,hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưatừng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” [4, tr.67].Cách mạng tháng Mười Nga đã từng là chỗ dựa vững chắc cho phong trào hòabình và cách mạng trên thế giới, cho việc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân
và góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dânchủ và tiến bộ xã hội Nhưng do duy trì quá lâu những khuyết điểm của môhình chủ nghĩa xã hội cũ, đó là sự chậm trễ trong cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là do sai lầm về đường lối lãnh đạo vì vậy,Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã lâm vào cuộc khủnghoảng trầm trọng, cả về kinh tế, chính trị, xã hội và kết cục là hệ thống xã hộichủ nghĩa đã tan rã Từ đó, phong trào cách mạng của các nước xã hội chủnghĩa lâm vào thoái trào Cục diện thế giới có sự thay đổi mà thế mạnhnghiêng về chủ nghĩa tư bản hiện đại Tình hình này đã làm cho các nước xã
Trang 40hội chủ nghĩa còn lại và các lực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới đã vàđang đứng trước nhiều khó khăn nghiêm trọng.
Tuy vậy, trong thực tiễn cách mạng hiện nay, phong trào đấu tranh vì hòabình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội vẫn tồn tại, lý tưởng xã hội chủ nghĩa vẫnkhông mất đi, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn không thực hiện được âm mưu tiêudiệt hết các lực lượng xã hội chủ nghĩa Nhưng dù sao, sự sụp đổ của Liên Xô vàĐông Âu đã và đang có những tác động tới phong trào xã hội chủ nghĩa vàphong trào công nhân ở các nước tư bản Đối với nước ta, sự tác động đó diễn ratrên tất cả các lĩnh vực và đặc biệt là đối với sinh viên, họ dễ bị dao động về thếgiới quan, bởi thế giới quan của họ đang trong quá trình hình thành và phát triển
Vì vậy, trong quá trình giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cần phải làm
rõ cho sinh viên, để họ có niềm tin vào chủ nghĩa xã hội trong tiến trình pháttriển của lịch sử xã hội loài người, tin vào học thuyết Mác-Lênin, qua đó giúp họ
có ý chí phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội
Về kinh tế: Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới, dotác động mãnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt
là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới nền kinh
tế thế giới đang có những biến động sâu sắc, đấy là cả thế giới sôi động trongmột thị trường tự do, vừa hợp tác vừa cạnh tranh Hàng hóa ngày càng đadạng, phong phú phục vụ mọi đối tượng tiêu dùng Điều này, làm cho bộ mặtcủa đời sống nhân dân các nước trên thế giới ngày một no đủ hơn, nhữngnước nghèo và nhân dân những nước nghèo từng bước tiếp cận được vớinhững sản phẩm tiên tiến của thời đại Đặc biệt, tầng lớp trí thức ngày càngđược coi trọng Nền kinh tế tri thức đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại.Hơn nữa, những năm qua việc áp dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ hiện đại vào đời sống kinh tế - xã hội làm xuất hiện nhu cầuphải xã hội hóa về sở hữu, về quản lý, nâng cao đời sống của nhân dân Chủnghĩa tư bản đã có những điều chỉnh như: cổ phần hóa đối với một bộ phận