1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trung quốc trong vấn đề tranh chấp biển đông dưới góc độ luật pháp quốc tế

90 46 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 93,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phức tạp của tranh chấp Biển Đông đến từ các yêusách phức tạp về chủ quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn,bên cạnh đó, nó không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt lu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN THÚY HẰNG

TRUNG QUỐC

TRONG VẤN ĐỀ TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN THÚY HẰNG

TRUNG QUỐC

TRONG VẤN ĐỀ TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành: Châu Á học

Mã số: 603150

Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Tạ Văn Roan

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

MỤC LỤC

của Trung Quốc trong tranh chấp, độc chiếm Biển Đông

1.1 Tổng quan về Biển Đông có liên quan đến tranh chấp, độc Tr 09chiếm Biển Đông của Trung Quốc

1.1.1 Một số nét khái quát về địa lý - địa chiến lược của Biển Đông Tr 09

1.1.4 Những nguyên tắc và quy định pháp lý quốc tế liên quan đến Tr 19giải quyết tranh chấp ở Biển Đông

1.2 Lập luận của Trung Quốc trong tranh chấp, độc chiếm Biển Tr 23Đông

kiểm soát, độc chiếm Biển Đông

2.1 Chủ trương “độc chiếm” Biển Đông của Trung Quốc Tr 342.1.1 Yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc ở Biển Đông Tr 342.1.2 Chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc Tr 43

ở Biển Đông

Trang 4

2.2 Hoạt động nhằm “độc chiếm” Biển Đông của Trung Quốc Tr 482.2.1 Không ngừng chuẩn bị về thực lực quân sự, tăng cường hoạt Tr 48động khống chế, kiểm soát ở Biển Đông

2.2.2 Tăng cường tiến hành các hoạt động củng cố sơ sở pháp lý Tr 532.2.3 Đẩy mạnh thực hiện chiến dịch tuyên truyền Tr 562.2.4 Tăng cường hoạt động ngoại giao trong vấn đề Biển Đông Tr 572.2.5 Trung Quốc thúc đẩy các hoạt động khảo sát, thăm dò dầu khí Tr 59

ở Biển Đông

đảo của Việt Nam ở Biển Đông

3.2 Các kịch bản Trung Quốc có thể gây ra ở Biển Đông Tr 643.2.1 Sử dụng vũ lực giải quyết tranh chấp ở Biển Đông Tr 643.2.2 Với chiến thuật “gặm nhấm” dần dần, Trung Quốc tiếp tục Tr 65thúc đẩy thực hiện chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”, tiến

tới “độc chiếm” Biển Đông

3.2.3 Trung Quốc và Mỹ có thỏa thuận ở Biển Đông Tr 673.3 Giải pháp bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Tr 69Đông

3.3.1 Kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm pháp luật Tr 69

Trang 5

quốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông

3.3.2 Cần tranh thủ chính trị, ngoại giao với các nước Tr 71

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do nghiên cứu đề tài

Do yếu tố lịch sử, chính trị, địa lý tranh chấp Biển Đông đang là vấn đềnóng bỏng, phức tạp của Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia và cácnước trong khu vực và quốc tế Biển Đông là vấn đề không chỉ Việt Nam, TrungQuốc, Malaysia và các nước trong khu vực quan tâm nghiên cứu, xem xét màcác nước lớn như Mỹ, Nga, Nhật Bản quan tâm, lo lắng vì Biển Đông khôngchỉ đơn thuần về lợi ích về kinh tế, còn mang ý nghĩa chiến lược chi phối địachính trị, an ninh và quốc phòng của cả khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Từ lâu trong lịch sử và đặc biệt là trong tình hình hiện nay, Biển Đôngđang là vấn đề có nhiều nước tranh chấp Có thể nói rằng, tranh chấp BiểnĐông đã là “một lò lửa” cho một loạt các cuộc tranh cãi pháp lý, từ vấn đềphạm vi các vùng biển, cho đến các yêu sách đảo và quyền tự do hang hải…Trong đó, Trung Quốc luôn thể hiện tham vọng bành trướng và “độc chiếm”toàn bộ Biển Đông, vì thế Trung Quốc thường đưa ra các luận điểm, tìm vàtạo luận cứ để chứng minh cho cái gọi là “lập trường, chủ quyền không thểtranh cãi” mà họ đưa ra

Để nắm được bản chất của việc tranh chấp Biển Đông mà Trung Quốc làmột trong những nước đưa ra nhiều “yêu sách” dựa trên “cơ sở pháp lý” củaTrung Quốc… nhằm góp phần nghiên cứu hoạch định chính sách trong giảiquyết tranh chấp Biển Đông, trong đó có Việt Nam, rất cần thiết phải có sựnghiên cứu dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế để đảm bảo tính khách quan

Trang 7

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Trung quốc

trong vấn đề tranh chấp Biển Đông dưới góc độ Luật pháp Quốc tế” làm

luận văn thạc sỹ chuyên ngành Châu Á học.

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

chính sách của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông dưới góc độ Luật pháp

Quốc tế, luận văn rút ra chính sách và hoạt động của Trung Quốc trái với quyđịnh luật pháp quốc tế, các hoạt động bất chấp luật pháp, dư luận để nhằm mụctiêu độc chiếm Biển Đông; những vấn mấu chốt, bản chất tranh chấp Biển Đông

mà Trung Quốc đưa ra nhằm làm cơ sở nhận diện chính sách và tham vọng củaTrung Quốc đối với Biển Đông Trên cơ sở đó, luận văn dự báo và đưa ra một sốgiải pháp nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông

- Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên đây, nội dung của luận văn cần phải giải quyết được các nhiệm vụ cụ thể sau:

+ Phân tích làm rõ những vấn đề có liên quan đến Biển Đông và tranhchấp Biển Đông; chính sách, hoạt động của Trung Quốc trái quy định luật pháp và điều ước quốc tế

+ Dự báo, đề xuất giải pháp bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam ởBiển Đông

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn được nghiên cứu sẽ đưa ra những đánh giá khách quan về chủtrương, chính sách của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông Trên cơ sởnghiên cứu luận văn rút ra những kết luận quan trọng về bản chất của việctranh chấp Biển Đông do phía Trung Quốc tiến hành từ trước đến nay Bằng

Trang 8

việc nghiên cứu có hệ thống, khoa học biện chứng, dưới góc độ luật phápquốc tế nhằm đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu vấn đề phức tạp vềtranh chấp Biển Đông, luận văn sẽ giúp cho những người quan tâm đến vấn

đề này có cách nhìn tổng thể khách quan, nhận diện chính sách và tham vọngcủa Trung Quốc đối với Biển Đông Ngoài ra, luận văn còn đưa ra dự báo vàgiải pháp bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam

Cuộc tranh chấp Biển Đông vẫn đang là một “nguy cơ” gây bất ổn trongkhu vực Tranh chấp Biển Đông đã trở thành một trong những tranh chấp phứctạp bậc nhất trên thế giới Sự phức tạp của tranh chấp Biển Đông đến từ các yêusách phức tạp về chủ quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn,bên cạnh đó, nó không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt luật pháp quốc tế vềbiên giới biển, lãnh thổ trên biển mà hơn thế nữa nó còn được đan xen vớinhững lợi ích về địa – chính trị, về kiểm soát con đường vận tải biển chiến lược

và về khai thác tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ Do đó, vấn đề Biển Đông từtrước đến nay được các nước trên thế giới và khu vực đặc biệt quan tâm, trong

đó có các giới nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Đáng chú ý, theothống kê của phía Trung Quốc, tính đến ngày 31/10/2012, ở Trung Quốc đã cótới 27.641 bài viết và 438 luận án tiến sỹ về Hải Nam (tức Biển Đông)

sự quản lý của 15 Bộ, ngành, trong đó có Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ

Khoa học và Công nghệ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an…Có một số công trình, đề

án lớn như “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên, môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” của Tổng cục Biển và Hải đảo Bộ Tài nguyên và Môi trường; Chương trình “Khoa học công nghệ phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” là một trong những chương trình trọng điểm

Trang 9

cấp Nhà nước của Vụ Khoa học xã hội và Tự nhiên Bộ Khoa học và Công nghệ,kết quả trong giai đoạn 2006-2010 có 201 bài báo khoa học được công bố trêntạp chí trong nước và 32 bài báo ở tạp chí quốc tế, trong đó phần lớn đối tượngnghiên cứu là các điều kiện tự nhiên như đánh giá nguồn lợi hải sản, điều kiệnkiến tạo địa chất Biển Đông, nghiên cứu ứng dụng phương án xây dựng côngtrình trên các đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa…Ở các trường đại học, có một

số đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến Biển Đông Năm 2012 Học việnNgoại giao có chương trình học bổng hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông nhằm thúcđẩy việc nghiên cứu về Biển Đông trong toàn quốc, đồng thời phát hiện các tàinăng trẻ, đam mê nghiên cứu về Biển Đông để tiếp tục đào tạo về nhân lực chấtlượng cao phục vụ cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, thúcđẩy hợp tác vì hòa bình và phát triển ở Biển Đông

Thời gian vừa qua có một số công trình là các đề tài khoa học, khoá luận,luận văn, luận án và nhiều bài viết về vấn đề Biển Đông ở những lĩnh vựckhác nhau, từ địa lý, lịch sử, quan hệ quốc tế, chính trị quốc tế…đặc biệt trênlĩnh vực luật pháp quốc tế, nổi lên có Luận án tiến sĩ của nhà sử học NguyễnNhã “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa

và Trường Sa”; bài viết “Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc

và an ninh hàng hải ở Biển Đông” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh – Trungtâm Nghiên cứu Biển Đông và Khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao ViệtNam và một số bài viết “Độc chiếm Biển Đông là chiến lược nhất quán củaTrung Quốc”, “Phân tích các yêu sách về “đường lưỡi bò” theo luật quốc tế”của Thạc sĩ Hoàng Việt Mặc dù vậy, trên thực tế công tác nghiên cứu về vấn

đề Biển Đông còn gặp nhiều khó khăn lớn về nhân lực và phương tiện nghiêncứu Đến nay tại những viện nghiên cứu hàng đầu Việt Nam như Viện Sửhọc, Viện Nhà nước và Pháp luật, hay các trường đại học lớn ở Việt Namchưa có nhiều các công trình lớn nghiên cứu sâu về Biển Đông

Trang 10

Với đề tài “Nghiên cứu Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông dưới góc

độ luật pháp quốc tế”, qua nghiên cứu cho thấy từ trước đến nay chưa cócông trình hay tác giả nào nghiên cứu trùng lặp về tên và nội dung với đề tàiluận văn thạc sỹ của học viên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Dưới góc độ luật pháp quốc tế bao gồm những nguyên tắc chung củaluật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ; Công ước của Liên Hợp Quốc về LuậtBiển năm 1982, tuyên bố DOC…tiến hành nghiên cứu chủ trương, chínhsách, cơ sở lập luận cho cái gọi là “chủ quyền không tranh cãi” của TrungQuốc ở Biển Đông và động thái của Trung Quốc ở Biển Đông từ trước đếnnay, qua đó rút ra những yêu sách, cơ sở lập luận chủ quyền trái với luật phápquốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông, các hoạt động bất chấp luật pháp, dưluận của Trung Quốc để đạt được mục tiêu “độc chiếm” Biển Đông

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở sử dụng các phương phápnghiên cứu khoa học phù hợp với đề tài như phương pháp nghiên cứu luậtpháp quốc tế, phương pháp lịch sử, phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế,nghiên cứu văn bản, tổng kết thực tiễn, phân tích, so sánh, toạ đàm và dự báokhoa học

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về Biển Đông và lập luận về cơ sở pháp lý của Trung Quốc trong tranh chấp, độc chiếm Biển Đông

Chương 2: Chủ trương, hoạt động của Trung Quốc với mưu đồ kiểm soát, độc chiếm Biển Đông

Trang 11

Chương 3: Dự báo tình hình và giải pháp bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ LẬP LUẬN VỀ CƠ SỞ PHÁP LÝCỦA TRUNG QUỐC TRONG TRANH CHẤP, ĐỘC CHIẾM BIỂN ĐÔNG

1.1 Tổng quan về Biển Đông

1.1.1 Một số nét khái quát về địa lý - địa chiến lược của Biển Đông

Biển Đông có những đặc điểm tạo nên vị trí chiến lược của mình:

- Biển Đông là một biển nửa kín được bao bọc bởi bán đảo ĐôngDương ở phía Đông, bán đảo Malacca ở phía Tây; đảo Đài Loan, Philippin và đảoKalimantan ở phía Đông; là biển lớn nhất trong sáu biển lớn của thế giới, đượcbao bọc bởi 9 quốc gia và vùng lãnh thổ, gồm: Việt Nam, Trung Quốc, Philippin,Malaysia, Brunei, Inđônêxia, Thái Lan, Camphuchia, Singapore và một vùng lãnhthổ là Đài Loan Với diện tích khoảng 3,5 triệu km2, Biển Đông trải rộng từ vĩ độ

Trang 12

Dilân; con đường Bắc Thái Bình Dương từ Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và ĐôngNam Á; con đường từ Đông Á đi qua kênh đào Panama để đến Bờ Đông Bắc

Mỹ và vùng Caribê; con đường từ Đông Á đến Ôxtrâylia và Niu Dilân và cuốicùng là đường từ Đông Á đi Trung Đông Thông qua Biển Đông, khoảng 1/3thương mại hàng hải toàn cầu và ½ nguồn nhập khẩu năng lượng của khu vựcĐông Bắc Á được lưu thông và vận chuyển Mỗi ngày, có khoảng từ 150 - 200lượt tàu thuyền các loại đi qua đây, trong đó có tới 50% loại tàu có trọng tải trên5.000 tấn, trên 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên.[14,tr.17]

- Biển Đông không chỉ nằm trên trục đường giao nhau giữa Thái BìnhDương - Ấn Độ Dương mà còn có cả giữa châu Á – Châu Úc, ở ngã tư các trục vàvành đai hợp tác kinh tế Đông Bắc Á, Trung Á, Nam Á và Đông Nam Á, đóng vaitrò trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển thương mại quốc tế.Chiến lược một trục hai cánh của Trung Quốc có thể hiểu như việc lấy Biển Đônglàm trục, hai cánh là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, trong đó eo biển ĐàiLoan ở phía Đông Bắc và eo biển Malacca phía Tây Nam trấn giữ các lối ra vào ởphía Nam và phía Bắc, có giá trị về chính trị, chiến lược quân sự hết sức quantrọng Biển Đông là nơi liên kết thị trường phía Nam của Trung Quốc với khốiASEAN có vai trò chiến lược ngày càng quan trọng trong hợp tác kinh tế thế kỷXXI, là đường thông ra biển và là không gian thị trường quan trọng của TrungQuốc ở phía Tây, nhất là khu vực phía Tây Nam

- Biển Đông chứa đựng nguồn tài nguyên rất lớn, các nguồn thủy sản

và trên hết là nguồn dầu khí (hydrocarbon) Biển Đông có tiềm năng trở thành mộtnguồn cung cấp nhiên liệu quan trọng, có tính chất sống còn với việc phát triểnkinh tế trong tương lai của khu vực Đông Nam Á

1.1.2 Tên gọi “Biển Đông”

13

Trang 13

- Người phương Tây khi đặt chân đến khu vực Đông Á gọi vùng biển này

là “South china Sea” (tức biển nằm ở phía Nam Trung Hoa) và tên này đã được dùngnhư một cái tên quốc tế để chỉ Biển Đông South China Sea thuật ngữ phổ biến nhấttrong tiếng Anh để chỉ vùng biển này, và tên trong đa số các ngôn ngữ Châu Âu kháccũng vậy, nhưng các nước xung quanh thì gọi nó bằng nhiều tên khác nhau, thườngphản ánh chủ quyền lịch sử của họ đối với quyền bá chủ vùng biển Tuy nhiên, trênthực tế, tên gọi quốc tế này của Biển Đông ra đời từ nhiều thế kỷ trước, vì thời bấygiờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực

và đã có giao thương

với phương Tây qua con đường tơ lụa Tên gọi nhiều biển, nhiều đại dươngvốn căn cứ vào vị trí của chúng so với các vùng đất gần đó cho dễ tra cứu,không có ý nói về chủ quyền Có thể kể ra các thí dụ là Ấn Độ Dương là đạidương ở phía Nam Ấn Độ, giáp nhiều nước Châu Á và Châu Phi, không phải

là của riêng nước Ấn Độ; hay Biển Nhật Bản được bao quanh bởi Nga, BắcTriều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản Ngoài ra, còn có East China Sea (tênquốc tế của vùng biển phía Đông Trung Quốc), ở phía Bắc so với Biển ĐôngViệt Nam, Trung Quốc gọi là Đông Hải

- Trung Quốc gọi South China Sea là Nam Hải hoặc Nam Trung QuốcHải và cái tên này cũng được dùng trong các bản đồ tiếng Anh do Trung Quốc ấnhành Theo từ điển Từ Hải, Trung Quốc, “Nam Hải là tên biển, ở về phía NamPhúc Kiến và Quảng Đông, phía Tây hải hiệp Đài Loan, phía Đông Việt Namthuộc Pháp Về phía Nam biển đó có bán đảo Malaysia, Bà-La-

Châu (tức đảo Bornéo) thuộc địa Anh, Phi Liệt Tân thuộc Mỹ, cho nên duyênhải (tức chủ quyền trên mặt biển) là chung cho cả các nước Trung Quốc, Anh,Pháp, Mỹ, Nhật” [5, tr.218] Philippines gọi là biển Luzon theo tên hòn đảo lớnLuzon của Philippine

Trang 14

- Ở Việt Nam, hầu hết lãnh thổ Việt Nam có hướng chính ra biển làhướng Đông, do đó tên gọi Biển Đông hàm nghĩa là vùng biển Đông Việt Nam và

có chiều dài bờ biển khoảng 3.260 km từ biên giới Trung Quốc cho tới Vịnh TháiLan; Biển Đông (phía Đông Việt Nam) đã được lưu hành rộng rãi trong dân gian,như: “Thuận vợ thuận chồng, tát Biển Đông cũng cạn”; “Dã tràng xe cát BiểnĐông” Nói như Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo “Tát nước Biển Đông cũngkhông rửa sạch tanh hôi” và trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi soạn năm

1435, vua Lê Thái Tông đã chép: “Hải, Đông Hải dã” có nghĩa là “Biển, tức biểnĐông vậy” Ngoài ra, trong các tài liệu cổ về hàng hải của Bồ Đào Nha vào thế kỷ

15 – 16, Biển Đông còn có tên là Biển Chăm Pa

1.1.3 Tình trạng tranh chấp ở Biển Đông

Biển Đông có 4 nhóm đảo, gồm quần đảo Đông Sa, quần đảo Hoàng

Sa, bãi Trung Sa và quần đảo Trường Sa Trung Quốc, Đài Loan và Việt Namđưa ra yêu sách đối với tất cả các đảo, đá chìm và đảo nhỏ ở Biển Đông,trong khi đó Philippines, Malaysia, Brunei đưa ra yêu sách với một số đảo vàđảo đá thuộc quần đảo Trường Sa Hiện khu vực Biển Đông đang tồn tại hailoại tranh chấp chủ yếu: Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảoHoàng Sa và quần đảo Trường Sa; và tranh chấp ranh giới các vùng biển vàthềm lục địa chồng lấn giữa các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề Hailoại tranh chấp này được hình thành vào các thời điểm khác nhau, có nộidung, mức độ khác nhau và diễn ra trên những phạm vi địa lý có liên quanđến các bên tranh chấp cũng rất khác nhau

* Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: Việt Nam có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa, là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực hiện chủ

15

Trang 15

quyền của mình; việc chiếm hữu và thực hiện chủ quyền này là thật sự, liêntục tục và hoà bình, phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễnquốc tế.

- Tình trạng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sagiữa Việt Nam với Trung Quốc xảy ra khi Trung Hoa Dân Quốc coi chuyến “thịsát Tây Sa” (Hoàng Sa) của Lý Chuẩn - một Đô đốc hải quân dưới Triều

Thanh theo lệnh của Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn vào thế kỷ

XX (1909) đem ba phái thuyền ra thăm chớp nhoáng một vài đảo và đổ bộ lênđảo Phú Lâm, rồi rút lui ngay như một mốc thời gian để xác lập “chủ quyền” củaTrung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa Bởi lẽ, trên quần đảo này đang nằm dưới

sự kiểm soát, quản lý của quân đội Pháp đóng trong những căn cứ đồn trú khávững chắc, cùng với những cơ sở phục vụ cho công tác quản lý của chính quyềnPháp, với tư cách đại diện cho Nhà nước Việt Nam, tiếp tục thực hiện chủ quyềncủa Việt Nam đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Năm 1946, lợidụng việc giải giáp quân Nhật, Chính quyền

Trung Hoa Dân quốc đưa lực lượng ra chiếm đóng nhóm phía Đông Hoàng

Sa và sau đó phải rút lui vào thời điểm Quốc dân Đảng bị đuổi khỏi Đại lụcchạy ra Đài Loan Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội thực dân Pháp phảirút khỏi Đông Dương, theo Hiệp định Giơnevơ và Chính quyền Việt Namchưa tiếp quản Hoàng Sa, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đưa quân ra táichiếm nhóm phía Đông Hoàng Sa Đến năm 1974, lợi dụng tình hình quân độicủa Chính quyền Sài Gòn đang trên đà suy sụp; quân đội viễn chinh Mỹ buộcphải rút khỏi miền Nam Việt Nam; và với thoả thuận ngầm của Mỹ để choTrung Quốc tự do hành động, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đưa quân rachiếm đóng Tây Hoàng Sa đang do quân đội Sài Gòn đóng giữ Mọi hànhđộng nói trên của phía Trung Quốc đều bị phía Việt Nam chống trả hoặcchính thức lên tiếng phản đối với tư cách là Nhà nước có chủ quyền đối với

Trang 16

quần đảo Hoàng Sa Từ đó, Trung Quốc đã ráo riết củng cố, xây dựng quầnđảo Hoàng Sa trở thành căn cứ quan trọng, làm bàn đạp tiến xuống phía Nam.

- Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa xảy ragiữa 5 nước 6 bên (Trung Quốc, Việt Nam, Philippin, Malaysia, Brunei và ĐàiLoan), trong đó:

+ Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc từ những năm 30 của thế

kỷ XX bắt đầu bằng sự kiện Công sứ Trung Quốc ở Paris gửi công hàm cho BộNgoại giao Pháp năm 1932 khẳng định các đảo Nam Sa là bộ phận lãnh thổ TrungQuốc xa nhất về phía Nam Năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc, lấy danh nghĩa làmnhiệm vụ giải giáp quân Nhật đã đưa tàu Thái Bình ra chiếm đóng đảo Ba Bình.Năm 1956, Đài Loan lại đưa quân ra tái chiếm Ba Bình Năm 1988, CHND TrungHoa đưa quân ra tái chiếm 6 vị trí là những bãi cạn

ở phía Tây Trường Sa, ra sức củng cố nâng cấp các vị trí này thành các điểmđóng quân, và năm 1995, lại chiếm đóng thêm 1 vị trí nữa, đá Vành Khăn, nằm vềphía Đông Trường Sa Như vậy, tổng số đảo, đá mà phía Trung Quốc (kể cả ĐàiLoan) chiếm đóng lên đến 8 vị trí

+ Tranh chấp giữa Việt Nam và Philippines bắt đầu bằng sự kiện Tổngthống Quirino tuyên bố quần đảo Trường Sa phải thuộc về Philippines vì nó ở gầnPhilippines Từ năm 1971-1973, Philippines đưa quân chiếm đóng 5 đảo; từ năm1977-1978 chiếm thêm 2 đảo nữa Năm 1979, Philippines công bố Sắc lệnh củaTổng thống Marcos ký ngày 11/6/1979 coi toàn bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảoHoàng Sa, là lãnh thổ của Philippines và đặt tên là Kalayaan Năm 1980,Philippines mở rộng chiếm đóng thêm một đảo nữa ở phía Nam, đó là đảo CôngĐo

+ Tranh chấp giữa Việt Nam và Malaysia mở đầu bằng sự kiện Sứ quánMalaysia tại Sài Gòn ngày 3/2/1971 gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Chính

Trang 17

quyền Sài Gòn hỏi rằng quần đảo Trường Sa hiện “thuộc” Nước cộng hoàMorac Songhrati Meads có thuộc Cộng hòa Việt Nam hay Cộng hòa ViệtNam có yêu sách đối với quần đảo đó không? Ngày 20/4/1971, Chính quyềnSài Gòn trả lời rằng quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, mọi xâmphạm đến chủ quyền Việt Nam ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm phápluật quốc tế Tháng 12/1979, Chính phủ Malaysia cho xuất bản bản đồ gộpvào lãnh thổ Malaysia một khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm cả đảo AnBang và Thuyền Chài nơi Việt Nam đang đóng giữ Từ năm 1983-1984,Malaysia cho quân đóng 3 bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, KỳVân, Kiệu Ngựa Năm 1988, họ đóng quân cờ 2 bãi ngầm Én Đất và ThámHiểm, đưa số vị trí mà Malaysia chiếm đóng lên đến 5 điểm.

Quan điểm pháp lý cũng như các chứng cứ của các bên tranh chấp đưa

ra để bảo vệ cho lập trường của mình cũng rất khác nhau, trong đó, TrungQuốc căn cứ vào quyền thụ đắc lãnh thổ dựa trên nguyên tắc phát hiện đầutiên, Việt Nam căn cứ vào quyền thụ đắc lãnh thổ dựa trên nguyên tắc chiếmhữu thật sự, Philippines và Malaysia căn cứ vào quyền thụ đắc lãnh thổ dựatrên nguyên tắc kế cận lãnh thổ

* Tranh chấp ranh giới biển, thềm lục địa chồng lấn giữa các nước có

bờ biển đối diện hoặc liền kề:

- Đây là loại tranh chấp được hình thành trong xu hướng thay đổi cótính chất cách mạng về địa - chính trị, địa - kinh tế trên phạm vi thế giới với việckhoảng 36% diện tích biển và đại dương thế giới đã được đặt dưới chủ quyền,quyền chủ quyền tài phán của các quốc gia ven biển kể từ khi Công ước của LiênHợp Quốc về Luật biển đã được thông qua năm 1982 Việc đàm phán xác địnhranh giới biển và thềm lục địa giữa các nước liên quan Biển Đông đã, đang và sẽtiến hành giải quyết cho các khu vực sau đây:

Trang 18

+ Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở trong Vịnh Bắc

Bộ và khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ có liên quan giữa Việt Nam - Trung

Quốc, nơi mà biển đối diện nhau và cách nhau dưới 400 hải lý

+ Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở phía Nam Biển Đông có liên quan giữa Việt Nam, Malaysia, Philippines, Brunei, Indonesia

+ Ranh giới các vùng biển, thềm lục địa có liên quan giữa Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Camphuchia

+ Ranh giới biển của phạm vi biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa giữa các bên tranh chấp có liên quan

Cho đến thời điểm hiện nay, các bên liên quan đã giải quyết: Ranh giớibiển trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, ký ngày 25/12/2000;Ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia tại vùng thềm lục địa phíaNam Biển Đông, ký ngày 23/6/2003; Ranh giới Vùng đặc quyền kinh tế vàthềm lục địa trong Vịnh Thái Lan có liên quan giữa Việt Nam và Thái Lan, kýngày 9/8/1997; Thỏa thuận về giải pháp tạm thời cùng khai thác vùng chốnglấn được ký kết giữa Việt Nam và Malaysia ngày 5/6/1992; Hiệp định về

“Vùng nước lịch sử” giữa Việt Nam và Camphuchia, ký ngày 7/7/1982

- Việc xác định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữacác nước có liên quan còn lại là rất lớn, khó khăn và phức tạp Nguyên nhân chủyếu: Các nước ven Biển Đông đã đưa ra yêu sách về các vùng biển và thềm lụcđịa trong Biển Đông rất khác nhau, hoặc do hoàn toàn không tuân thủ các quy định

có liên quan của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển, hoặc do giải thích vàvận dụng các tiêu chuẩn của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển một cáchchủ quan, không chính xác, thậm chí hoàn toàn sai lệch sao cho có lợi nhất khi tiếnhành đàm phán với các bên hữu quan để phân định ranh giới biển và thềm lục địagiữa Biển Đông Ngoài ra, hai quần

Trang 19

đảo Hoàng Sa và Trường Sa vừa đang ở trong tình trạng tranh chấp phức tạp

về chủ quyền lãnh thổ, vừa tồn tại những quan niệm khác nhau về hiệu lựcđối với việc xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của chúng

* Yêu sách, lợi ích của các quốc gia, vùng lãnh thổ ở Biển Đông:

2/3 Biển Đông Về mặt địa chính trị, Biển Đông là địa bàn chiến lược quan

trọng để Trung Quốc thực hiện chính sách “Nam tiến” Với khoảng 90%lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Trung Quốc được vận chuyển bằngđường biển tới 600 hải cảng lớn trên thế giới và ngược lại, trong 27 tuyếnvận tải đường biển chủ yếu từ Trung Quốc đi thế giới thì 17 tuyến đi qua BiểnĐông đến 125 nước và khu vực; Biển Đông là đường thông thương trên biển

có tầm quan trọng lớn của Trung Quốc Bên cạnh đó, nguồn năng lượng tronglục địa Trung Quốc (than đá, dầu mỏ) đang cạn dần, nhu cầu tiêu thụ tàinguyên, năng lượng của Trung Quốc ngày càng bức thiết, Trung Quốc đangphải hướng tới nguồn dầu mỏ phong phú ở Biển Đông, nhất là vùng biểnTrường Sa mà Trung Quốc coi là nơi có trữ lượng dầu mỏ nằm trong đườngbiên giới truyền thống của Trung Quốc khoảng 23,5 tỉ tấn Bởi vậy, báo chíTrung Quốc thường xuyên mô tả Biển Đông là “ánh sáng hy vọng”, là “lốithoát” của Trung Quốc.[13]

- Với các nước ASEAN: Mối quan tâm của các nước ASEAN đếnBiển Đông không chỉ xuất phát từ vấn đề chủ quyền lãnh thổ (trong 6 bên đòi chủquyền, có 4 nước là thành viên của tổ chức ASEAN) mà còn xuất phát từ tầm quantrọng của Biển Đông đối với các nước này về mặt kinh tế và chiến lược, đặc biệt

có ý nghĩa phòng thủ đối với các quốc gia ven biển Các nước ASEAN lo ngạirằng, những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ tại Biển Đông có thể đe dọa đến anninh và ổn định của khu vực, và từ đó tác động tiêu cực

Trang 20

đến môi trường phát triển của các nước thành viên, ảnh hưởng xấu đến việcthực hiện mục tiêu của tổ chức này về hợp tác kinh tế, chính trị và nâng caohơn nữa vị trí của ASEAN trong các vấn đề khu vực Có thể nói, các nướcASEAN coi yêu cầu đảm bảo hòa bình, ổn định trong khu vực là phươngchâm chỉ đạo trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại khu vực.

- Mỹ: Biển Đông nằm trên con đường giao thông huyết mạch nối liềnThái Bình Dương với Ấn Độ Dương, giữa Châu Âu và Châu Á, giữa Trung Đông

và Đông Á, có tầm quan trọng lớn về giao thông hàng hải đối với Mỹ; mặt khác,yếu tố rất quan trọng trong lợi ích chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

là bảo đảm cho các hạm đội của Mỹ và hải quân của các nước đồng minh của

Mỹ được tự do đi lại, triển khai sức mạnh để bảo vệ lợi ích kinh tế, an ninhcủa Mỹ và đồng minh trong khu vực; đồng thời triển khai các bước đi của Mỹnhằm kiềm chế Trung Quốc và chống khủng bố quốc tế ở Châu Á Mặc dù

Mỹ không chính thức đưa ra quan điểm và không can dự trực tiếp vào nhữngtranh chấp biển đảo trên Biển Đông song Chính phủ Mỹ khuyến khích các

“nhà nước hiếu chiến” giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và bảo vệnguyên tắc tự do lưu thông trên biển Trong diễn đàn khu vực ASEAN tháng7/2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tuyên bố tự do lưu thông hànghải là “lợi ích quốc gia” của Mỹ và những yêu sách lãnh thổ trên Biển Đôngphải dựa trên cơ sở pháp lý theo luật biển

- Nhật Bản: Nhật Bản phải nhập khẩu hầu hết các nguyên liệu từ nướcngoài (khoảng 80%), trong đó trên 90% là dầu lửa, chủ yếu nhập khẩu từ TrungĐông và Đông Nam Á 75% nguyên liệu nhập khẩu của Nhật Bản phải vận chuyểnqua Biển Đông tới hai cảng lớn nhất là Yokohama và Kobe Nhật

Bản là nước có độ lệ thuộc vào buôn bán qua biển lớn nhất thế giới: 92% so với64% của Mỹ, 43% của Đức, 73% của Anh [20] Tuy là cường quốc về kinh tế,nhưng vai trò chính trị của Nhật Bản còn hạn chế Khu vực Biển Đông có

Trang 21

tầm quan trọng to lớn đối với việc phát huy vai trò chính trị của Nhật Bản ởChâu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới Đối với Nhật Bản, hạn chế ảnhhưởng của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ có lợi cho Nhật Bản tranh thủ cácnước Đông Nam Á, có lợi cho việc giải quyết vấn đề lãnh thổ đang tranhchấp với Trung Quốc (quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và vùng biển Hoa Đôngchồng lấn giữa hai nước); và có lợi cho Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ kiềmchế Trung Quốc trong toàn khu vực.

không liên quan trực tiếp đến cuộc tranh chấp đa phương ở Biển Đông nhưng nướcNga có nhiều lợi ích quan trọng, kể cả lợi ích chiến lược ở Biển Đông Sự có mặtthường xuyên của Nga, Ấn Độ ở Biển Đông không những khẳng định vai trò nướclớn trong khu vực mà còn liên quan đến chính sách đối ngoại của Nga, cũng như Ấn

Độ đối với ASEAN và các vấn đề an ninh trong khu vực trong đó ảnh hưởng của cácnước lớn khác ở đây đang tăng lên

1.1.4 Những nguyên tắc và quy định pháp lý quốc tế liên quan đến giải quyết tranh chấp ở Biển Đông

Để nhận diện chính xác hơn về yêu sách của các bên (nhất là yêu sáchcủa Trung Quốc) đối với Biển Đông, và thực trạng vấn đề giải quyết tranhchấp ở Biển Đông dưới góc độ luật pháp quốc tế, nghiên cứu một cách kháiquát về một số nguyên tắc và quy định pháp lý quốc tế có liên quan sau đây:

* Những nguyên tắc và quy định chung của luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ

- Trong lịch sử phát triển của luật pháp quốc tế, có 5 phương thức thụđắc lãnh thổ bao gồm: Thụ đắc bằng chiếm hữu, là hành động của một quốc giathiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên vùng lãnh thổ vốn chưa thuộc chủquyền của bất kỳ quốc gia nào (đất vô chủ); thụ đắc bằng chuyển

Trang 22

nhượng, là sự chuyển giao một cách tự nguyện chủ quyền lãnh thổ từ một quốcgia này sang một quốc gia khác; thụ đắc bằng thời hiệu, là sự thực hiện một cáchthực sự, liên tục và hòa bình trong một thời gian dài quyền lực của một quốc giađối với một lãnh thổ có nguồn gốc thuộc về quốc gia khác hoặc không rõ ràng,còn đang bị tranh cãi; thụ đắc bằng xâm chiếm, là phương thức thụ đắc lãnh thổtheo đó một quốc gia chiến thắng sáp nhập lãnh thổ hoặc một bộ phận lãnh thổcủa quốc gia bại trận vào lãnh thổ của mình (phương thức này hiện nay bị loại

bỏ hoàn toàn dưới góc độ luật pháp quốc tế vì trái với nguyên tắc không sử dụng

vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế); thụ đắc bằng mởmang, phát triển được hiểu là việc một quốc gia có quyền mở rộng lãnh thổthông qua việc bồi đắp tự nhiên vào lãnh thổ của chính quốc gia đó, hoặc sự xuấthiện của các hòn đảo mới trong phạm vi đường biên giới của các quốc gia đó.Những hòn đảo mọc trong phạm vi lãnh hải của một quốc gia không chỉ trởthành một bộ phận lãnh thổ của quốc gia đó mà còn kéo theo sự mở rộng củađường biên giới biển của quốc gia này

- Cùng với sự phát triển của pháp luật quốc tế hiện đại và nhữngnguyên tắc như không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệquốc tế, tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia Những hình thức thụđắc lãnh thổ bằng chuyển nhượng, xâm chiếm đã không còn tồn tại trên thực tế.Ngay cả hình thức thụ đắc theo thời hiệu cũng đang còn gây tranh cãi Trong sốcác hình thức thụ đắc nêu trên, hình thức “chiếm hữu” là hình thức thụ đắc cơ bản

và quan trọng bậc nhất của tập quán quốc tế và luật pháp quốc tế hiện đại Luậtpháp quốc tế có thay đổi theo thời gian nhưng

nguyên tắc chiếm hữu thực sự vẫn là cơ sở của việc xác định chủ quyền các vùng đất tranh chấp hiện nay.

* Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc

[19, tr.185]

Trang 23

Công ước luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982 được ra đời sau 9năm, với 11 phiên đàm phán liên tục từ năm 1973 đến năm 1982, được ghinhận như một bản Hiến pháp về biển với sự đồ sộ của hơn 300 điều khoản và

sự toàn diện của các quy định trong lĩnh vực quản lý và sử dụng biển Côngước 1982 là một khuôn khuôn khổ pháp lý đa phương và toàn diện nhằmgiúp các quốc gia sử dụng và quản lý biển một cách hòa bình, công bằng vàbên vững trên cơ sở tôn trọng chủ quyền lẫn nhau Với mục tiêu này, các quyđịnh của Công ước đã cung cấp cơ sở để các quốc gia trong khu vực BiểnĐông kiềm chế và quản lý các nguy cơ đối với an ninh trên biển Mặc dùkhông tạo cơ sở pháp lý giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền, Công ước cóthể giúp các bên đưa ra các yêu sách vùng biển hợp pháp, từ đó xác địnhđược các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác

Tuy nhiên, sự leo thang của những tranh chấp về yêu sách lãnh thổ vàvùng biển ngày càng gia tăng khiến cho xung đột vũ trang có thể xảy ra tạikhu vực Biển Đông; sự suy giảm đa dạng sinh học của môi trường biển, sựkhai thác quá mức tài nguyên sinh vật biển, mối đe dọa đối với quyền tự do,

an ninh hàng hải và hàng không cũng như sự mất an toàn về sinh kế củangười dân ven biển là những nguy cơ đang hiện hữu cho thấy, một số quốcgia trước hết là Trung Quốc tìm cách mở rộng và leo thang hoạt động tranhchấp, bất chấp những quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 của LiênHợp Quốc; dựa trên các quy định của Công ước như quy định về cách xácđịnh đường cơ sở, cách xác định các vùng biển, quy chế các vùng biển, nhiềuquốc gia trong đó Trung Quốc là điển hình đã cố tình giải thích và áp dụngtheo hướng có lợi nhất cho quốc gia của mình, để từ tranh chấp chủ quyền,tranh chấp đã mở rộng thành tranh chấp về vùng biển và cạnh tranh trong thựcthi các quyền chủ quyền và quyền tài phán để củng cố cho yêu sách của mình

từ đó tạo ra mối đe dọa đối với an ninh hàng hải của khu vực

Trang 24

Như vậy, nhằm áp dụng có hiệu quả các quy định của Công ước LuậtBiển năm 1982 của Liên Hợp Quốc vào bối cảnh đặc thù của Biển Đông, cácquốc gia cần cụ thể hóa các quy định của Công ước để xây dựng một bộ luậtứng xử có hiệu lực ràng buộc trong khu vực.

* Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), hướng tới

Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC)

Ngày 4/11/2002, trong khuôn khổ của cuộc họp Cấp cao ASEAN lần thứ

7 tại PhnomPenh, Camphuchia, các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã kýTuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (gọi là DOC) DOC là vănbản song phương giữa Trung Quốc - ASEAN, có sự tham gia của nhiều bên củakhu vực trong quản lý và kiềm chế tranh chấp Biển Đông Tuyên bố này lần đầutiên kêu gọi các bên tranh chấp cùng ASEAN xây dựng một Bộ quy tắc ứng xửcủa các bên ở Biển Đông (COC) như một biện pháp xây dựng lòng tin của khuvực [13] Thế nhưng các bên đã lợi dụng tính lỏng lẻo trong các quy định chungcủa DOC 2002 nhằm ngụy biện cho các hoạt động tăng cường hiện diện củamình trên Biển Đông: Hiệp định thăm dò địa chấn Trung

- Phi năm 2004 là một vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thông báo cho nhautrong DOC, đe dọa phá vỡ nền tảng của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên

ở Biển Đông năm 2002; Dàn khoan Kantan - 03 và tàu nghiên cứu Nam Hảicủa Trung Quốc thường xuyên xâm nhập, hoạt động trên trên thềm lục địa đất liềnViệt Nam; Trung Quốc tiếp tục gây sức ép buộc các hãng dầu khí nước ngoài đang

có Hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt

Nam phải ngừng công việc…

Bản quy tắc hướng dẫn thực thi DOC ra đời mặc dù còn chưa đáp ứngđầy đủ mong đợi của cộng đồng quốc tế, tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay,

đã phần nào đáp ứng được mục tiêu các bên đề ra Bản quy tắc hướng dẫn

Trang 25

thực thi DOC chỉ là bước đầu tiên nhưng có ý nghĩa quan trọng trên tiến trìnhhướng tới một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) có tínhràng buộc cao.

Đến nay luật quốc tế chỉ có thể giải quyết một cách hữu hiệu các tranhchấp pháp lý đơn thuần, trong khi tranh chấp ở Biển Đông lại có một lịch sửphức tạp, mang bản chất chính trị và pháp lý Nó đòi hỏi một giải pháp tổngthể bao gồm các khía cạnh: chính trị, pháp lý và kinh tế và một mong muốnthống nhất của các bên tranh chấp muốn giải quyết vấn đề

1.2 Lập luận về cơ sở pháp lý của Trung Quốc trong tranh chấp,

“độc chiếm” Biển Đông

Chủ trương “độc chiếm và khai thác tài nguyên Biển Đông” của TrungQuốc là không thay đổi, trong đó Trung Quốc xác định “Biển Đông là vấn đềchiến lược, ổn định Biển Đông có liên quan ổn định nội bộ của Trung Quốc”;khẳng định Hoàng Sa thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc;giải quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa thông qua cơ chế đàmphán song phương giữa Trung Quốc với từng nước có liên quan, phản đốiquốc tế hóa vấn đề Biển Đông, ngăn cản các nước đưa vấn đề này vàochương trình nghị sự trong các diễn đàn quốc tế [9]

Để thực hiện mưu đồ “độc chiếm” Biển Đông Trung Quốc triển khaihàng loạt hoạt động từ ngoại giao pháp lý, hoạt động quân sự, dân sự hóa,hành chính hóa việc quản lý kiểm soát Biển Đông; tuyên truyền dư luận,xuyên tạc lịch sử, ngụy tạo chứng cứ pháp lý để giải thích rằng họ có chủquyền đối với Biển Đông Trong đó, theo lập luận chủ quan của Trung Quốc:

Từ thời Hán Vũ đế trước công lịch hai thế kỷ, nhân dân Trung Quốc đã bắtđầu đi lại trên biển Nam Trải qua thực tiễn hàng hải lâu dài nhân dân TrungQuốc đã lần lượt phát hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Sách trắng

Trang 26

của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 30/1/1980 khẳng định: Chủ quyền

“không thể tranh cãi” của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) vàNam Sa (tức Trường Sa) Trung Quốc yêu sách chủ quyền trên các quần đảoHoàng Sa, Trường Sa chủ yếu trên cơ sở “quyền phát hiện và sự quản lý”.Lập luận của Trung Quốc: Người Trung Quốc đã phát hiện ra các đảo nàysớm nhất và đã “đặt tên” cho chúng; ngư dân Trung Quốc đã khai thác đảonày từ hàng nghìn năm nay; sự quy thuộc các đảo này vào Trung Quốc đượccủng cố bằng các phát hiện khảo cổ học; Trung Quốc đã tiến hành “cai quản”trên các đảo này từ lâu đời

Để chứng minh danh nghĩa lịch sử của họ, phía Trung Quốc đã dựa trênnhững cuốn sách “dạng tiểu thuyết” hay “dã sử” như: Nam châu dị vật chí doDương Phù viết và Phù Nam truyện của Khang Khái, đều viết vào thời TamQuốc (220 – 265); Vũ kinh tổng yếu của Tăng Công Lượng (998 – 1078) vàĐinh Độ (990 – 1053) thời Tống biên soạn; Mong Liang Lu được soạn dướithời nhà Tống ( 960 – 1127); Đảo di chí lược do Vương Đại Uyên soạn dướithời nhà Nguyên (1206 – 1368); Đông Tây dương khảo của Trương Nhiếpviết dưới thời nhà Minh (1368 – 1644); “Trịnh Hòa hàng hải đồ” trong Vũ bịchí của Mao Nguyên Nghi biên soạn đầu thế kỷ XVII; Độc sử phương dư kỷyếu của Cố Tổ Vũ đầu nhà Thanh; Hải Quốc văn kiến lục của Trần LuânQuýnh năm 1730; Dương phòng tập yếu của Nghiêm Như Dục viết, TrươngBằng Phi khắc năm 1828; Quỳnh Châu phủ chí giữa thế kỷ XIX; Quảng Đông

đồ thuyết (1862 – 1875); Canh Lộ bạ do ngư dân các đời kể lại

Tuy nhiên, các sách kể trên hoàn toàn không phải là các chính sử đượcviết bởi các cơ quan chính thức của nhà nước Phần lớn là các ghi chép về cácchuyến đi, các chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết địa lýcủa người xưa liên quan không chỉ tới lãnh thổ Trung Quốc mà còn tới lãnh thổcủa các nước khác Ví dụ, Hải Quốc văn kiến lục, đúng như tên sách, phần

Trang 27

lớn nói về các miền mà người Trung Quốc gọi là man di nhiều hơn là TrungQuốc Sách Tống sử phần ngoại quốc chép chuyện Chiêm Thành: “NămThiên Hy thứ hai (1016) vua Chiêm Thành là Thi Mặc Bài Ma Diệp sai sứ là

La Bi Đế Gia chở đồ cống, La Bi Đế Gia nói rằng người nước tôi trên đườngsang Quảng Châu, nếu bị thuyền dạt ra Thạch Đường thì cả năm cũng khôngtới nơi được” Cứ theo đó mà suy thì từ Chiêm Thành đến Quảng Châu cóvùng được gọi là Thạch Đường nhưng không có nghĩa Thạch Đường thuộcQuảng Châu và vì sách này chép về các vùng nước người Trung Quốc coi làman di thì nó không thể được coi là thuộc Trung Quốc

Để khẳng định quyền “không thể tranh cãi” của họ, người Trung Quốc sửdụng cả các “luận cứ khảo cổ học” Người Trung Quốc đã tìm thấy vết tích tiền

cổ và vật dụng cổ có từ thời Vương Mạng năm thứ ba trước công nguyên chođến năm 23 sau Công nguyên trên các quần đảo và cho rằng các đảo này có chứa

“các tàn tích của khu dân cư, các vật dùng sành sứ, các dao sắt, các nồi gang vàcác vật dùng hàng ngày khác có niên đại từ thời Đường, Tống” Báo cáo sơ bộcủa chuyến khảo cổ học thứ hai trên quần đảo Tây Sa ghi rằng: “qua hai cuộckhảo sát, các nhà khảo cổ học đã khảo sát hầu hết các đảo, đá, bãi ngầm, cácvũng của quần đảo Tây Sa và hầu như ở đâu họ cũng tìm thấy các đồ vật cổ vàcác lịch sử của quần đảo Tây Sa, bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốcchúng ta từ ngàn đời nay Nhân dân ta chính là những người chủ của chúng” [14]Vấn đề đặt ra ở đây là trong luật quốc tế không tồn tại một quy tắc nào cho phép

tự quy thuộc chủ quyền cho một quốc gia trên một vùng đất mà tại đó các cổ vậtthuộc nền văn minh của nước đó được tìm thấy Các cổ vật này có thể thuộc cácngư dân Trung Quốc đi lại và bị đắm thuyền trong vùng biển này, cũng như cóthể thuộc các ngư dân Việt Nam, Philippines, Malaysia hoặc của các tàu thuyền

Ả Rập, Bồ Đào Nha, Hà Lan bị trôi dạt, mắc nạn vào đây Không có gì chứngminh được rằng các ngư dân

Trang 28

Trung Quốc là những người duy nhất có các hoạt động định cư thườngxuyên trên các đảo không có nước ngọt này.

Chủ quyền quốc gia đã được luật quốc tế định nghĩa về mặt pháp lý.Trương Hồng Tăng và các tác giả Trung Quốc khác lập luận cho rằng: “Dướithời nhà Tống, nhiều sách vở đã ghi nhận rằng những ngư dân Trung Quốcthường tới đây bắt cá và thu lượm san hô” (…) Theo Phu Phan Chí (ghi chép vềcác nước chư hầu) của Zhao RuGi sống dưới thời nhà Tống cách đây 700-800năm, người Trung Quốc đã biết rằng các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là nhữngvùng nguy hiểm cho hàng hải (…) Từ xa xưa, ngư dân Trung Quốc đã sốngtrên các đảo này, tiến hành các hoạt động sản xuất, đánh cá và trồng trọt

(…) Vào thế kỷ trước, chỉ có người Trung Quốc đã sống và khai thác một cáchliên tục trên các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (…) Các quần đảo này đã thuộcvùng quản lý của Chính phủ Trung Quốc từ lâu đời” John KT Chao giải thích:

“Yêu sách lịch sử dựa trên sự chiếm hữu sớm nhất đã tạo ra hiệu lực là quốc gia

có cư dân đầu tiên phát hiện và định cư trên lãnh thổ nên được coi là người sởhữu hiện tại” Sau khi đã nghiên cứu sâu sắc các tài liệu Trung Quốc, ôngHeinzing, một luật gia Đức đã rút ra kết luận chỉ bắt đầu từ thời nhà Tống (960)người Trung Quốc mới có thể làm quen với quần đảo Paracel (Hoàng Sa) Còn

về việc hiện diện của người Trung Quốc trong khu vực quần đảo Spratly(Trường Sa) không có gì ghi nhận trước 1867, thời điểm một tàu nghiên cứuAnh gặp những ngư dân Trung Quốc tới từ đảo Hải Nam Theo Heinzing, chỉ từkhi kết thúc Chiến tranh thề giới thứ Nhất người Trung Quốc mới bắt đầu gọiquần đảo Spratly là “Đoàn Sa Trung Đảo” [11, tr.41]

Sự tiếp xúc riêng rẽ của những ngư dân Trung Quốc cá thể đối vớiHoàng Sa liệu có đủ để thiết lập chủ quyền Trung Quốc tại đó không theo luậtquốc tế? Các tác giả Trung Quốc khẳng định rằng Trung Quốc phát hiện raHoàng Sa (Tây Sa - theo cách gọi của Trung Quốc) cách nay 2100 năm, vào

Trang 29

thời Hán Vũ Đế Đối với họ, theo luật quốc tế và tập quán quốc tế thời kỳ đó:

“Chủ quyền thuộc về người phát hiện” (Who discovers the territory, holds itssovereignty), đó là ngư dân Trung Quốc, và vì vậy Trung Quốc phải có chủquyền trên đó” So sánh với các tiêu chuẩn thụ đắc lãnh thổ trình bày ở trên,các ghi chép mà Trung Quốc viện dẫn không đủ chứng minh rằng quyền pháthiện đã được xác lập Một đảo hoặc một quần đảo có thể là đối tượng nhậnbiết từ lâu đời của các nhà hàng hải, các ngư dân, các nhà địa lý…nhưngchúng vẫn chỉ được coi là lãnh thổ vô chủ một khi quốc gia của họ chưa tiếnhành một hành động nhà nước nào tại đó Học giả Trung Quốc Phan ThạchAnh cố chứng minh rằng vào thề kỷ XV, XVI chỉ cần quyền phát hiện là đủ

để tạo nên quyền sở hữu đất vô chủ Sở dĩ ông ta lập luận như vậy là đểchứng minh rằng các hoạt động của tư nhân Trung Quốc là đủ để tạo ra quyềnphát hiện. Thế nhưng các hoạt động tư nhân của các ngư dân Trung Quốckhông thể mang lại hiệu lực pháp lý của “quyền phát hiện” và nó không thểđược đánh đồng với quyền chiếm hữu

Các bằng chứng của quyền phát hiện các đảo này rất mập mờ và thiếuchính xác từ phía nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chúng ta có thể đồng

ý rằng các hoạt động của ngư dân có thể kéo theo sự chú ý và ý định của nhànước trên lãnh thổ vô chủ Tuy nhiên, yếu tố ý chí này không đủ khi còn thiếu yếu

tố vật chất của các hoạt động nhà nước trên thực địa Người Trung Quốc sẽ chứngminh như thế nào đòi hỏi này của luật quốc tế vào thời điểm đó?

Để hiểu rõ cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này tốt nhất nên thamkhảo sách trắng của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm

1980 Trong đó, nhằm chứng minh sự “quản lý” của Trung Quốc trên các đảotranh chấp này, Bộ ngoại giao Trung Quốc chỉ đưa ra được ba sự kiện sau:

Trang 30

- Sự kiện thứ nhất: Từ thời nhà Tống (960 – 1127) Hải quân TrungQuốc đã đi tuần tra đến vùng biển quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) Sự khẳng địnhnày dựa trên cơ sở đoạn văn trích từ “Vũ Kinh tổng yếu” có lời tựa của vua NhânTông đời Bắc Tống Đoạn trích trong văn kiện chính thức của Trung Quốc: “Triềuđình Bắc Tống lệnh cho Vương Sư đi phòng giữ đặt dinh lũy thủy quân tuần biển

ở Quảng Nam (tức quảng Đông ngày nay) và “đóng tàu chiến đao ngư”; “Từ ĐồnMôn Sơn, dùng gió Đông hướng Tây Nam 7

ngày thì đến Cửu Nhũ Loa Châu Cửu Nhũ Loa Châu là quần đảo Tây Sangày nay Điều đó chứng tỏ quần đảo đã thuộc phạm vi cai quản của đời BắcTống”. [14, tr.39].

Rõ ràng trong đoạn trích kể trên của “Vũ Kinh tổng yếu” đã mô tả vị tríđịa lý đồn binh, vừa tả lộ trình đi từ cảng Quảng Nam tới tận Ấn Độ Dương

Đó là hành trình khảo sát địa lý đúng hơn là tuần tra lãnh thổ Trung Quốc.Không có gì trong đoạn trích trên cho phép khẳng định rằng Cửu Ngũ LoaChâu chính là quần đảo Tây Sa Đó không thể là bằng chứng đầy đủ chứngminh rằng ngay từ thời nhà Tống, quần đảo Hoàng Sa đã thuộc quyền quản lýcủa Trung Quốc và “Hải quân Trung Quốc đã đi tuần tới các đảo Tây Sa”

- Sự kiện thứ hai: Dựa vào việc đo thiên văn trong biển Nam Hải vàođầu đời Nguyên, Trung Quốc cho rằng các đảo là một bộ phận thuộc lãnh thổTrung Quốc Sách trắng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 1980 viết: “Năm thứnhất đời Nguyên tiến hành đo đạc thiên văn 27 nơi trong nước, nhà Nguyên nămthứ 16 (Công nguyên năm 1279) Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt đích thân sai ĐồngTrí Thái, Sử viện sử Quách Thụ Kinh nhà thiên văn nổi tiếng đến biển Nam tiếnhành đo đạc Theo Nguyên Sử, điểm thiên văn Nam Hải nằm ở phía Nam Zhuya

và kết quả đo đạc cho thấy Nam Hải ở vĩ tuyến Bắc 15 độ Điểm thiên văn NamHải chính là ở quần đảo Tây Sa ngày nay

Trang 31

Điều đó nói rõ quần đảo Tây Sa thời Nguyên đã là nằm trong biên thùy của Trung Quốc”.

Thực ra, Nguyên Sử, bộ sử chính thức của nhà Nguyên, việc đo đạcthiên văn được ghi chép như sau: “Việc đo bóng mặt trời bốn biển ở haimươi bảy nơi Phía Đông đến Cao Ly, Phía Tây đến Đền Trì, Phía Nam quaChu Nhai, Phía Bắc đến Thiên Lặc” [14, tr.41] Khái niệm “bốn biển”, theongôn ngữ Trung Quốc, chỉ ra rằng các lãnh thổ này nằm ngoài lãnh thổ quốcgia Trên thực tế, dưới đầu đề “đo đạc bốn biển”, Nguyên Sử chép rõ tên 27nơi đo đạc thiên văn trong đó có những địa danh không thuộc cương vựcTrung Quốc như Cao Ly (Triều Tiên), Thiết Lặc (Xiberi) Chính Nguyên Sửcũng nói rõ “lãnh thổ Trung Quốc” dưới thời Nguyên phía Nam chỉ tới đảoHải Nam, phía Bắc không quá sa mạc Gobi

Các quan trắc thiên văn trên có phần tiến hành trên lãnh thổ TrungQuốc, có phần nằm ngoài cương vực Trung Quốc Do đó, không thể tạo rabằng chứng xác đáng cho chủ quyền Trung Quốc Ngay cả khi điểm quan sátthiên văn “Nam Hải” nằm trên các đảo Tây Sa, thì việc quan sát thiên văn đócũng chỉ được coi có tính chất như hành động đặt cọc tiêu của Pháp xungquanh các đảo Minquiers Nó không đủ để thể hiện ý chí của “Chính phủ đóthực hiện chủ quyền trên các đảo đá nhỏ này” Hơn nữa một hành độngnghiên cứu khoa học không thể tạo nên một danh nghĩa chủ quyền

- Sự kiện thứ ba: Ngô Thăng, phó tướng thủy sư Quảng Đông đã thựchiện việc tuần biển vào khoảng năm 49 và 51 đời nhà Thanh (1710 – 1712).Sách trắng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 1980 viết: “Tự Quỳnh Thôi,lịch Đồng Cổ, kinh Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, Châu Tào tam thiên lý,Cung tự thuần thị (từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, TứCanh Sa, vòng quanh ba ngàn dặm, đích thân đi tuần tra xem xét) Gọi Thất

[14, tr.40]

Trang 32

Châu Dương ở đây tức quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc bấy giờ do hải quân Quảng Đông phụ trách đi tuần”.

Tuy nhiên, việc nghiên cứu nghiêm túc lại cho ta một sự thật khác hẳn.Những địa danh nêu trong đoạn trích trên đều nằm xung quanh đảo HảiNam,

theo các tác giả Việt Nam : Quỳnh Nhai, tức “Đạo binh bị Quỳnh Nhai”

(Đảo Hải Nam) đời Thanh, sở tại Quỳnh Sơn gần với thị trấn Hải Khấu ngàynay, phía Bắc đảo Hải Nam; Đồng Cổ ở mỏm Đông Bắc đảo Hải Nam; ThấtChâu Dương là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu nằm ở phía Đôngđảo Hải Nam; Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía Tây đảo Hải Nam Các địa danhtrên đều được tìm thấy trên các hải đồ Trung Quốc Trong hải đồ N 5012 tỉ lệ1/500.000 do Hải quân Trung Quốc xuất bản bằng tiếng Trung Quốc và tiếngViệt Nam tháng 5 năm 1956 có tiêu đề: “Vùng phụ cận Lôi Châu và đảo HảiNam”, và các bản đồ “Bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam”, và Nam Hải địahình đo, tỉ lệ 1/300.000.000 do nhà xuất bản địa đồ Trung Quốc xuất bảntháng 5 năm 1984, do nhóm đảo có tên Thất Châu Đảo và vùng biển xungquang các đảo nhỏ đó ở phía Đông Nam của đảo Hải Nam được gọi tên đúng

lả Thất Châu Dương Rõ ràng tên này không được dùng để chỉ toàn bộ biểnNam Trung Quốc

Ngoài ra, trong cuốn “Quảng Đông dư địa đồ thuyết” in năm 1909, LýHàn Chung đã nói về các cuộc tuần biển của hải quân Quảng Đông như sau:

“Biên giới trên biển ngày nay lấy phía Nam đảo Hải Nam, bên ngoài là ThấtChâu Dương, Đô Đốc thủy quân, Quảng Đông đi tuần đến đó là quayvề”[25,tr42] Ở đây, một một lần nữa chúng ta không thấy bất kỳ một ghi chépchính xác nào về quần đảo Paracel dưới tên gọi Tây Sa (Hoàng Sa) Hơn nữa,các hành vi mà Trung Quốc viện dẫn, nếu đúng chỉ liên quan tới các đảo Tây

Sa mà không nhắc gì đến các đảo Nam Sa Đối với Spratly/Nam Sa (Trường

[8, tr88]

[14, tr42]

Trang 33

33

Trang 34

tiến hành các nghiên cứu khoa học tại quần đảo Nam Sa, Chính quyền QuảngĐông đã phản đối Việc phía Trung Quốc thiếu một danh nghĩa chiếm hữucủa nhà nước được xác lập một cách vững chắc và từ lâu đời làm cho việcphản đối ngoại giao dựa trên cơ sở quyền thụ đắc theo thời hiệu để ngăn chặnmột hành động như vậy không còn giá trị Đúng hơn nó chỉ được coi nhưmột tham vọng chủ quyền mà thôi Ở đây, chủ quyền không thể minh chứngđược bởi vì nó thiếu điều kiện vật chất Nếu như chủ quyền trên Tây Sa vàNam Sa là không thể tranh cãi, tại sao vào năm 1895 - 1896, Trung Quốc lại

từ chối trách nhiệm cứu hộ hai tàu chở đồng Bellona của Đức và Imeghi Maru của Nhật Bản bị đắm tại các đảo Tây Sa? Nếu Trung Quốc đã thờ ơ vớicác quần đảo gần hơn thì có lẽ họ cũng ít quan tâm đối với các quần đảotương tự ở xa Đây đúng là một sự lẫn lộn giữa các sự kiện

-Để chứng minh cho lập luận của họ, các tác giả Trung Quốc viện dẫntới cả các chuyến đi của Thái giám Trịnh Hòa trong thời gian từ năm 1405đến 1433 qua các đảo này Tuy nhiên các chuyến đi này không được Sáchtrắng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhắc đến Các chuyến đi của Trịnh Hòatới Java, Ấn Độ và bờ biển Phi Châu chỉ có giá trị tao uy danh cho triều đạiMinh “vĩ đại” và Trịnh Hòa cũng không đưa ra một yêu sách tạo lập danhnghĩa chiếm hữu các đảo nào thay mặt Thiên Triều Trung Quốc Các đảo đásan hô bé nhỏ, khô cằn, không người ở, trải dài hàng vạn dặm, gây bao nỗikinh hoàng cho tàu thuyền Phương Tây chắc chắn đâu có gì hấp dẫn và cũngkhông đủ chỗ để đoàn thuyền của Trịnh Hòa trú chân

Các nghiên cứu nêu trên chỉ tạo ra sự nhận biết về các đảo, đúng hơn làmột số đảo Nếu các đảo trong Biển Đông được các thủy thủ và ngư dânTrung Quốc biết tới là điều không phải bàn cãi thì việc khẳng định chủ quyềnTrung Quốc trên các đảo này thật khó thuyết phục Trong các sách và vănkiện do Trung Quốc trích dẫn không có một ghi chép nào về quyền phát hiện

Trang 35

hoặc sự củng cố một danh nghĩa chiếm hữu các đảo này Các thủy thủ và ngư dân Trung Quốc không phài là những người duy nhất qua lại các quần đảo Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) từ lâu đời đã được thuyền bè của “dân man di”, tàu thuyền của người Ấn Độ, người Arập, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp và nhiều nước khác lai vãng tới Nhưng không có sự phát hiện nào hoặc bởi người Trung Quốc hoặc người Việt Nam, người Philipin hoặc bất kỳ người dân nào khác, không có sự sử dụng các đảo này như nơi nghỉ ngơi hoặc trú đậu của ngư dân lại có thể đưa lại chủ quyền cho quốc gia mà họ treo cờ, hoặc quốc gia mà họ là công dân Trong việc “chiếm cứ” này, ít nhất cũng thiếu ý định của nhà nước sáp nhập đảo đó vào lãnh thổ quốc gia và chính quyền để làm việc đó Các văn kiện mà phía Trung Quốc trích dẫn về thực chất không thể hiện ý định thực thi chủ quyền tại đó của họ.

Các sự kiện kể trên diễn ra vào khoảng thời gian cách quãng 200 – 500 năm Điều đó rõ ràng làm yếu lập luận của Trung Quốc, theo đó các Hoàng đế Trung Hoa đã quản lý các đảo này từ hai nghìn năm nay theo một cách liên tục không ngắt quãng Để chứng minh chủ quyền, cần phải cung cấp các bằng chứng liên quan trực tiếp tới việc chiếm hữu Đây không phải là những suy diễn gián tiếp từ các hiện tượng thời phong kiến DL Bennet, luật gia Mỹ nhận xét: “Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một số Chính phủ hoặc không được thăm viếng bởi các nhân viên Nhà nước, vấn đề đặt ra là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngư dân tư nhân Trung Quốc có đủ để thiết lập chủ quyền trên quần đảo Spratly (Trường Sa) theo luật quốc tế không Vì vậy, giá trị của lập trường chính thức của Trung Quốc là đáng nghi ngại”.

Bình luận về các danh nghĩa lịch sử của Trung Quốc, J.P Ferrier, luậtgia Pháp viết: “Sự thiếu chính xác của khái niệm, tính không rõ ràng về việc

[18, tr.435]

[14, tr43]

Trang 36

35

Trang 37

các hậu quả của các hoạt động quản lý của An Nam (tức người Việt Nam) cho phép bác bỏ luận cứ lịch sử của Trung Quốc, trừ giả định rất nhỏ từ các bản

đồ địa lý”. [19, tr.181]

Tiểu kết chương 1

Biển Đông là một biển nửa kín được bao bọc bởi bán đảo Đông Dương

ở phía Đông, bán đảo Malacca ở phía Tây; đảo Đài Loan, Philippines và đảoKalimantan ở phía Đông Biển có những đặc điểm tạo nên vị trí địa chiến lược củamình: Là biển có nhiều quốc gia bao bọc nhất sau địa Trung Hải (gồm 9 quốc gia

và vùng lãnh thổ); là biển lớn nhất trong sáu biển lớn của thế

giới, với diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 30 lên vĩ độ 260Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông Nằm trong số 10 tuyến đường biểnthông thương lớn nhất trên thế giới, Biển Đông là khu vực có các đường biểnnhộn nhịp vào loại thứ nhì trên thế giới Bên cạnh đó, Biển Đông có nguồn tàinguyên vô cùng phong phú

Hiện nay, trong khu vực Biển Đông đang tồn tại hai loại tranh chấp chủyếu: Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa giữa ViệtNam với Trung Quốc và quần đảo Trường Sa giữa 5 nước 6 bên gồm TrungQuốc, Việt Nam, Philippin, Malaysia, Brunei và Đài Loan; và tranh chấp ranhgiới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước có bờ biển đốidiện hoặc liền kề Hai loại tranh chấp này được hình thành vào các thời điểmkhác nhau, có nội dung, mức độ khác nhau và diễn ra trên những phạm vi địa

lý có liên quan đến các bên tranh chấp cũng rất khác nhau và diễn biến ngàycàng phức tạp Đối với Trung Quốc, để thực hiện mưu đồ “độc chiếm” BiểnĐông, Trung Quốc đặc biệt tuyên truyền dư luận, xuyên tạc lịch sử, ngụy tạochứng cứ pháp lý để giải thích rằng họ có “chủ quyền” đối với Biển Đông

Trang 38

Chương 2CHỦ TRƯƠNG, HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC VỚI MƯU

ĐỒ KIỂM SOÁT, ĐỘC CHIẾM BIỂN ĐÔNG

2.1 Chủ trương “độc chiếm” Biển Đông của Trung Quốc

Mục tiêu chiến lược “độc chiếm” Biển Đông của Trung Quốc là khôngđổi Trung Quốc đã, đang và sẽ tận dụng vị thế nước lớn, sức mạnh kinh tế,quân sự, tăng cường hoạt động trên thực địa và gây sức ép với các bên liênquan tranh chấp để đạt được mục tiêu trên, trở thành “siêu cường biển” Đángchú ý, chính yêu sách “đường lưỡi bò” và chủ trương “gác tranh chấp cùngkhai thác” là hai yếu tố cấu thành của một chủ trương lớn “độc chiếm” BiểnĐông của Trung Quốc

2.1.1 Yêu sách “đường lưỡi bò” ở Biển Đông

Từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập năm

1949, vấn đề kiểm soát toàn bộ Biển Đông có một vai trò quan trọng trongchính sách của Trung Quốc Cùng năm này, Trung Quốc cho phát hành mộttấm bản đồ yêu sách chủ quyền trên biển Đông “Biên giới trên biển của TrungQuốc” bao gồm 80% bề mặt của biển này với bốn quần đảo: Đông Sa, Bãingầm Macclasfield (Trung Sa), Hoàng Sa và Trường Sa, chạy song song vớibãi bờ biển Việt Nam cách khoảng 50 đến 100km, bờ biển Sarawak, Brunei

và Philippines

- Sự xuất hiện của “đường lưỡi bò” trên bản đồ Trung Quốc

Theo tác giả Peter Kien – Hong [39], “đường lưỡi bò” lần đầu tiên đượcmột người chuyên họa đồ của Trung Quốc tên là Hu Jin Jie vạch ra năm 1914sau khi Trung Quốc giành lại quần đảo Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) từ

Trang 39

tay đế quốc Nhật Bản Tuy nhiên, ông Hu Jin jie chưa từng có quá trình khảosát thực tế và dựa trên căn cứ pháp lý được các Nhà nước liên quan xác nhận

mà chỉ ngồi một chỗ, dựa trên bản đồ để vẽ (họa sỹ), do đó tác phẩm của ôngchỉ là họa đồ Những bản đồ của Trung Quốc xuất bản trong thập kỷ 20, 30dựa trên bản đồ của ông Hu Tại thời điểm này, “đường lưỡi bò” chỉ bao gồmĐông Sa và Hoàng Sa Nó chạy từ biên giới trên bộ Việt Nam - Trung Quốcdọc theo bờ biển Việt Nam sau đó vòng qua bờ Tây của Philippines, sau đóchạy bên phía Đông của đảo Đông Sa, chạy qua eo biển Đài Loan và kết thúc

Đông Trung Quốc Điểm cực Nam của đường này khoảng giữa vĩ tuyến 15-16

và không ai biết được lý do vì sao đường này lại được vẽ như vậy

Theo học giả Yann – Huei Song [26, tr.101] , sau khi Pháp xác nhận lại yêu sách đối với quần đảo Hoàng Sa năm 1931 và Trường Sa năm 1933, ý kiến chung của Trung Quốc vào lúc đó cho rằng cần phải có hành động để bảo vệ “chủ quyền” của Trung Quốc đối với các nhóm đảo trên biển Nam Trung Hoa Vì vậy, năm 1933 Trung Quốc đã thành lập 1 Ban xem xét, thẩm tra các bản đồ biển và đất liền Sau đó, Viện Hành chính công bố 1 báo cáo đề nghị xem lại “Quy định điều chỉnh cho các bản đồ biển và đất liền” Tháng 12/1934, Ủy ban này bắt đầu xem lại tên các đảo thuộc biển Nam Trung Hoa, cả bằng tiếng Trung Quốc và tiếng Anh Tháng 4/1935, Bản đồ các đảo trên biển Nam Trung Hoa (Zhong – kou nan – hai ghe dao – yu tu) được coi là bản đồ Trung Quốc chính thức phát hành Sau khi Pháp chiếm đóng 9 đảo nhỏ ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc đã phản đối mạnh mẽ và sau đó “đường lưỡi bò” trên bản đồ Biển Đông được mở rộng đến khoảng giữa vĩ tuyến 7 - 9 o Bắc Ý đồ của điều chỉnh này rất rõ ràng, thể hiện Trường Sa thuộc Trung Quốc Tuy nhiên, vào thời điểm này, James Shoal (Trung Quốc gọi là bãi Tăng Mẫu) vẫn chưa bao gồm trong “đường lưỡi bò”.

[7, tr.172]

Trang 40

Trong các năm 1946-1947, Bộ Nội vụ Cộng hòa Trung Hoa đã tiếnhành một cuộc nghiên cứu sâu hơn về thể trạng của biển Nam Trung Hoa dựatrên các nguồn thông tin của Hải quân dân quốc khi đi tuần tra trong khu vựcnày và vào tháng 12/1947 đã xuất bản Bảng tài liệu tra cứu tên cũ và mới củacác đảo ở biển Nam Trung Hoa, trong đó 159 đảo và đá được liệt kê [25,tr.5].Tháng 1/1948, Bộ Nội vụ Cộng hòa Trung Hoa chính thức công bố “Bản đồcác đảo trên biển Nam Hải (Nan – hai zhu dao wei – tz – du) trong đó vẽ

“đường lưỡi bò” bao bọc gần 80% Biển Đông Bốn nhóm đảo ở Biển Đông làĐông Sa, Hoàng Sa, bãi cạn Macclesfield (Trung Sa) và Trường Sa được đặttrong phạm vi đường này Vào thời điểm đó, không có phản đối từ các quốcgia khác và do quy chế pháp lý của các vùng nước trong phạm vi đường nàychưa bao giờ được các quan chức làm rõ nên vẫn tồn tại câu hỏi về bản chất

và giá trị pháp lý của đường này Theo bản đồ trên, “đường lưỡi bò” ban đầuxuất phát từ biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ,chạy xuống phía Nam dọc theo bờ biển phía Đông Việt Nam tới cực Nam củaJame Shoal (40 vĩ Bắc); sau đó, quay ngược theo hướng đi song song với bờbiển phía Tây Sabah của Malaysia và Palawan của Philippines và quần đảoLuzon, kết thúc tại khoảng giữa eo biển Bashi nằm giữa Đài Loan vàPhilippines Thêm vào đó, 11 đoạn rời rạc được thay thế cho đường liền néttrước kia Năm 1958 Trung Quốc ra Tuyên bố về Lãnh hải của Trung Quốc,theo đó tuyên bố Đông Sa, Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa thuộc về TrungQuốc Tuyên bố không nhắc đến “đường lưỡi bò”, tuy nhiên Tuyên bố nàyvẫn có một số ý nghĩa nhất định đến đường này Trong thập kỷ 60, có một vàichỉnh lý đối với “đường lưỡi bò”: từ 11 đoạn còn 9 đoạn (bỏ 2 đoạn trongVịnh Bắc Bộ) Không có lý do nào được đưa ra giải thích cho việc bỏ 2 đoạnnày “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc ở Biển Đông được gọi bằng nhiều tên

Ngày đăng: 27/10/2020, 20:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w