1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động biến đổi khí hậu đến sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển quận đồ sơn, thành phố hải phòng

147 64 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 4,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay đã có nhiều nghiên cứutrên thế giới về tính dễ bị tổn thương với sinh kế vùng ven biển trong bối cảnh BĐKH.Khi xem xét các tác động hiện tại và tương lai của BĐKH, có thể nhận t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thựchiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phạm Văn Cự, không sao chép cáccông trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từngđược công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, đượctrích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn./

Tác giả

Trần Đình Dương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Phạm Văn

Cự đã chỉ bảo, hướng dẫn chi tiết, cụ thể, kịp thời định hướng tháo gỡ, giải đápnhững vướng mắc để giúp tôi hoàn thành luận văn này

Trong suốt quá trình nghiên cứu tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ và độngviên từ các thầy cô trongKhoa các khoa học liên ngành; sự trao đổi tận tình, tranhluận bổ ích của các bạn cùng lớp Cao học Biến đổi khí hậu K6 - Đại học quốc gia

Hà Nội; đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân tình đến những người dân trên địa bàn 7phường, quận Đồ Sơn giành thời gian và nhiệt tình cung cấp những thông tin thực tế

để tôi có số liệu quan trọng đánh giá phục vụ luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn người thân, bạn bè đã bên tôi, động viên, giúp tôihoàn thành khóa học và bài luận văn này

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Trần Đình Dương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SINH KẾ CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN MIỀN VEN BIỂN .4

1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về tác động của biến đổi khí hậu tới sinh kế vùng ven biển 4

1.2 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong nghiên cứu 9

1.3 Quan điểm và cơ sở lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 12

1.4 Phương pháp và cách tiếp cận sử dụng trong nghiên cứu 21

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU, CÁC ĐẶC TRƯNG SINH KẾ VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở QUẬN ĐỒ SƠN 28

2.1 Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội và đặc trưng về sinh kế.28 2.2 Biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan ở khu vực quận Đồ Sơn 37

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SINH KẾ KHU VỰC QUẬN ĐỒ SƠN 54

3.1 Đánh giá tính dễ bị tổn thương khu vực Quận Đồ Sơn 54

3.2 Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế thông qua phỏng vấn sâu tại Quận Đồ Sơn 61

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 1: Một số hình ảnh khảo sát và phỏng vấn tại quận Đồ Sơn 1-PL PHỤ LỤC 2: BẢNG HỎI PHỎNG VẤN NGƯỜI DÂN CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂNQUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 2-PL PHỤ LỤC 3: Tổng hợp một số thông tin điều tra phỏng vấn hộ dân 17-PL

Trang 7

kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999 của Hải Phòng ứng với kịch bản B2 47Bảng 2 7 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ

1980 - 1999 của Hải Phòng ứng với kịch bản phát thải cao (A2) 48Bảng 2 8 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ

1980 - 1999 của Hải Phòng ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) 49Bảng 2 9 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời kỳ

1980 - 1999 của Hải Phòng ứng với kịch bản phát thải thấp (B1) 49Bảng 3 1 Tổng hợp các chỉ số được đưa vào đánh giá tính VI 54Bảng 3 2 Vai trò của các chỉ số trong đánh giá tính tổn thương 56Bảng 3 3 Kết quả tính chỉ số tổn thương cho từng nhân tố chính năm 2015 quận Đồ Sơn58

Bảng 3 4 Số hộ có mức thu nhập trung bình tháng phân theo các loại hình sinh kế năm

2015 của các hộ được phỏng vấn tại quận Đồ Sơn (đơn vị %) 64Bảng 3 5 Kết quả đánh giá các hạng mục công trình của các hộ dân được phỏng vấn(đơn vị %) 65Bảng 3 6 Tần suất xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan (đơn vị %) 66Bảng 3 7 Tình trạng vay vốn của các hộ gia đình trong giai đoạn 10 năm trở lại đây(đơn vị: số hộ) 67Bảng 3 8 Các tác động của thời tiết cực đoan tới ngành trồng trọt 68Bảng 3 9 Các tác động của thời tiết cực đoan tới ngành nuôi trồng thủy sản 69

Trang 8

Bảng 3 10 Các lĩnh vực được chính quyền hỗ trợ để ứng phó Bảng 3 11 Mong muốn được chính quyền hỗ trợ để ứng phó Bảng 4 1 Tài sản gia đình bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan (đơn vị

%)

Bảng 4 2 Sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan (đơn

vị %)

Bảng 4.3 Cơ sở hạ tầng bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan (đơn vị %) 18-PL

Bảng 4 4 Hoạt động trồng trọt bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan (đơn

Bảng 4 8 Hoạt động kinh doanh dịch vụ và du lịch bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng

thời tiết cực đoan (đơn vị số hộ)

Bảng 4 9 Thu nhập từ trồng trọt bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan (đơn

Bảng 4 13 Thu nhập từ nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 1 Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) 17Hình 1 2 Khung sinh kế chịu tác động của BĐKH (DFID) 26Hình 1 3 Khung phân tích đánh giá mức độ tổn thương ở các phường thuộc quận Đồ Sơn26

Hình 2 1 Bản đồ hành chính quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng 29Hình 2 2 Nhiệt độ trung bình năm trong giai đoạn 1984-2017 khu vực Quận Đồ Sơn37

Hình 2 3 Nhiệt độ trung bình tháng 7 trong giai đoạn 1984-2017 khu vực Quận Đồ Sơn38

Hình 2 4 Nhiệt độ trung bình tháng 1 trong giai đoạn 1984-2017 khu vực Quận Đồ Sơn39

Hình 2 5 Lượng mưa trung bình năm trong giai đoạn 1984-2017 khu vực Quận Đồ Sơn39

Hình 2 6 Lượng mưa trung bình tháng 7 trong giai đoạn 1984-2017 khu vực Quận ĐồSơn 40Hình 2 7 Lượng mưa trung bình tháng 12 trong giai đoạn 1984-2017 khu vực quận ĐồSơn 40Hình 2 8 Mực nước trung bình qua các năm giai đoạn 1985-2017 khu vực Quận Đồ Sơn41

Hình 2 9 Số lượng cơn bão trong giai đoạn 1985-2017 khu vực Quận Đồ Sơn 41Hình 2 10 Mức tăng nhiệt độ trung bình mùa đông (trái); và mùa hè (phải) vào giai đoạn

2050 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Hải Phòng ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2)44

Hình 2 11 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm vào giai đoạn 2050 (trái) và giai đoạn

2100 (phải) so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Hải Phòng ứng với kịch bản phát thải trungbình (B2) 45

Trang 10

Hình 2 12 Mức tăng nhiệt độ trung bình mùa đông (trái) và mùa hè (phải) vào giai đoạn

2100 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Hải Phòng ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2)46

Hình 2 13 Mức thay đổi của lượng mưa (%) mùa khô (trái); mùa mưa (phải) vào giaiđoạn 2050 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Hải Phòng ứng với kịch bản B2 51Hình 2 14 Mức thay đổi của lượng mưa (%) năm vào giai đoạn 2050 (trái) và giai đoạn

2100 (phải) so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Hải Phòng ứng với kịch bản B2 51Hình 2 15 Mức thay đổi của lượng mưa (%) mùa khô (trái) và mùa mưa (phải) vào giaiđoạn 2100 so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Hải Phòng ứng với kịch bản B2 53Hình 3 1 Bản đồ chỉ số mức độ tổn thương 60Hình 3 2 Thống kê nguồn sinh kế của các hộ dân được phỏng vấn thuộc quận Đồ Sơn,Hải Phòng 62Hình 3 3 Tổng thu nhập theo tháng thời điểm năm 2015 của tất các các hộ được phỏngvấn 63

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển được cho là bị tác động nhiều bởi cáchiện tượng thời tiết cực đoan gây ra Biến đổi khí hậu (BĐKH) với các biểu hiện quacác hiện tượng thời tiết cực đoạn như sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu và mực nước biểndâng là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21 có tác độnglớn đến kinh tế, xã hội và môi trường Do vậy, BĐKH đang là một trong những vấn đềlớn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là cácnước có đường bờ biển và trong đó có Việt Nam[7]

Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài với nguồn tài nguyên phong phú, đadạng Theo thời gian hình thành và phát triển, vùng ven biển đã trở thành nơi sinh sốngcủa đông đảo dân cư và sinh kế của họ cũng chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyênbiển Tuy nhiên, rủi ro từ tác động của BĐKH là một trong những ảnh hưởng lớn đếnsinh kế của cư dân ven biển[8] Khả năng thích ứng kém do thiếu nguồn lực đối mặtvới các tác động cũng là một nguyên nhân quan trọng khiến cho cư dân ven biển càngkhó khăn hơn để duy trì và phát triển sinh kế bền vững Giảm thiểu tác động cũng nhưnâng cao khả năng thích ứng đối với BĐKH là mục tiêu quan trọng của các hộ giađình, trong đó có trách nhiệm của cả cộng đồng Do đó đánh giá tác động của BĐKHđến sinh kế của người dân, đặc biệt là các sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên

là hết sức cần thiết và cấp bách trong bối cảnh diễn biến phức tạp của các hiện tượngthời tiết cực đoan tại những khu vực ven biển

Đồ Sơn là quận ven biển của thành phố Hải Phòng, có bờ biển dài 5km và hệthống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH Các tácđộng của BĐKH đối với Đồ Sơn trong thời gian qua và các hiện tượng khí hậu cựcđoan xuất hiện với tần suất càng nhiều đã, đang có tác động tiêu cực đến đời sống củangười dân ven biển Do vậy, cần có những nghiên cứu chi tiết về đánh giá tác động củaBĐKH tới sinh kế của người dân vùng ven biển

Trang 12

Trong bối cảnh như trên, học viên đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng” cho luận văn.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tác động của BĐKH đến cộng đồng dân cư ven biển và xác định mức

độ ảnh hưởng đến sinh kế người dân tại khu vực nghiên cứu Qua đó, đánh giá nănglực thích ứng của người dân trước những tác động của BĐKH và đề xuất được giảipháp cải thiện sinh kế và góp phần tạo ra những căn cứ trong hoạch định chính sáchthích ứng với BĐKH của địa phương

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đánh giá diễn biến của thời tiết, khí hậu trong những năm gần đây tại quận Đồ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:Các tác động của BĐKH đến sinh kế người dân quận Đồ

Sơn

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn quận Đồ Sơn, xác định mức độảnh hưởng và đề xuất giải pháp ứng phó, thích ứng và giảm nhẹ để nâng cao tínhchống chịu và tận dụng những ảnh hưởng tích cực của BĐKH tại khu vực nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 05 năm từ 2011 đến 2015, số liệu được hồi cứu trong thời gian qua

5 Dữ liệu sử dụng

- Số liệu quan trắc khí tượng trạm Hòn Dấu trong giai đoạn nghiên cứu

Trang 13

- Số liệu thống kê kinh tế xã hội: niên giám thống kê quận Đồ Sơn.

- Báo cáo tổng kết hàng năm của quận Đồ Sơn

- Dữ liệu bản đồ quận Đồ Sơn

- Số liệu điều tra, phỏng vấn hộ gia đình

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, cấu trúc của luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan và phương pháp nghiên cứu về BĐKH và tác động đến

sinh kế cộng đồng cư dân miền ven biển

Chương 2 Phân tích đặc điểm khu vực nghiên cứu, các đặc trưng sinh kế và

BĐKH ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

Chương 3 Phân tích kết quả, đánh giá tác động của BĐKH đến sinh kế khu vực quận Đồ Sơn

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ BĐKH VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SINH KẾ CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN MIỀN VEN BIỂN 1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về tác động của BĐKH tới sinh kế vùng ven biển

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

BĐKH được cho là có tác động đến mọi hoạt động mưu sinh của người dânvùng ven biển, đặc biệt là các hộ nuôi trồng thủy sản Hiện nay đã có nhiều nghiên cứutrên thế giới về tính dễ bị tổn thương với sinh kế vùng ven biển trong bối cảnh BĐKH.Khi xem xét các tác động hiện tại và tương lai của BĐKH, có thể nhận thấy rằng,BĐKH là một yếu tố chủ chốt liên quan đến tính dễ bị tổn thương của sinh kế Các ảnhhưởng của BĐKH (ví dụ như mực nước biển dâng và các điều kiện thời tiết khắcnghiệt) lên các nguồn lực tự nhiên (nhưđất, nước, thủy sản) và các nguồn lực vật chất(nhưđường sá, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện) là rất đáng kể Một số nghiên cứu vềbiến động khí hậu trong quá khứ và hiện tại tác động đến lĩnh vực thủy sản, một sốkhác nghiên cứu về các kịch bản BĐKH trong tương lai và dự báo tác động của nó đếnngành công nghiệp thủy sản[29] Các nghiên cứu này được thực hiện

ởnhiều quy mô và khác nhau, từ cấp độ cộng đồng đến quốc gia và cả các vùng địa

lý rộng lớn như Thái Bình Dương, Châu Phi hay Đông Nam Á Tuy nhiên, chính dođặc thù nghiên cứu ở nhiều cấp độ nên phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thươngcho nuôi trồng thủy sản cũng rất khác nhau trong các nghiên cứu Theo Chambers vàConway (1992) các sinh kế bền vững là các sinh kế có thể đối phó và phục hồi từ các

cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản trong khi không làm suy giảm các

nguồn tài nguyên thiên nhiên [22] Trong bối cảnh BĐKH ngày càng trở nên phức tạp

cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vào việc các sinh kếnày có bền vững trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường hay không mà còndựa vào việc các sinh kế này có thể giảm nhẹ BĐKH hoặc thích ứng với BĐKH hay

không [3, 10] Đối với những nơi khó khăn và sinh kế phụ thuộc nhiều vào nguồn tài

nguyên thiên nhiên thì chính là nơi dễ bị tổn thương nhất do BĐKH Cộng đồng là chủnhân nhưng cũng là nạn nhân nhận lãnh hậu quả BĐKH Cư dân đang mưu sinh tại cácđịa bàn vùng trung du, miền núi, nhất là những vùng đất thấp

Trang 15

thuộc lưu vực sông, cửa sông, bãi ngang đang chịu ảnh hưởng hết sức to lớn của biếnđổi khi hậu và nguy cơ của nó ngày càng lớn.Nông nghiệp là ngành bị ảnh hưởng nhiềunhất bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan do tác động của BĐKH Trong nghiên cứucủa Helal Ahammad đãđề cập tới “các vấn đề và thách thức của nông nghiệp Australiatrong việc thích nghi với thay đổi thời tiết, đặc biệt là xem xét các ảnh hưởng của thay

đổi khí hậu có thể xảy ra đối với ngành sản xuất nông nghiệp của Australia [13] Kết

quả nghiên cứu cho thấy rằng những khu vực (phụ thuộc lớn vào ngành nông nghiệp)

có thể phải chịu những mất mát đáng kể do ảnh hưởng của việc thay đổi khíhậu.Edward H Allison et al, 2009 áp dụng phương pháp chỉ số để xác định chỉ số dễ bịtổn thương của 132 quốc gia nhằm so sánh một cách hệ thống tính dễ bị tổn thươngtương đối của nền kinh tế quốc gia trước tác động tiềm tàng của BĐKH đối với nghề cá

ở quy mô toàn cầu [14]; Johann Bell and Eddie Allison, 2012, đánh giá tính dễ bị tổnthương của việc đánh bắt cá ngừ và đóng góp của ngành công nghiệp chế biến cá ngừcho nền kinh tế một số quốc gia và vùng lãnh thổ ở Thái Bình Dương bằng phươngpháp xác định chỉ số tác động tiềm năng (PI) và khả năng thích ứng (AC) [16]; haynghiên cứu của Gonza’lz E et al, 2011, đánh giá tính dễ bị tổn thương của ngành nuôitrồng thủy sản và cho bốn loài thủy sản chính của Chile bằng cách xác định các chỉ số

độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng [32]

Pickering, T.D et al, 2011, đánh giá tính dễ bị tổn thương của nghề cá và nuôitrồng thủy sản ở khu vực nhiệt đới Thái Bình Dương với BĐKH[32] Trong nghiên cứunày đã sử dụng định nghĩa của IPCC và phương pháp chỉ số, tính toán độ phơi nhiễm,

độ nhạy cảm, tác động tiềm tàng và khả năng thích ứng, để đánh giá tính dễ bị tổnthương về mặt sinh kế và an ninh lương thực Các kịch bản B1 và A2 theo IPCC đượcdùng để tính toán cho năm 2035 và 2100 Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nghiêncứu này được áp dụng cho các phương thức nuôi trồng thủy sản và các loài Các yếu tốphơi nhiễm, nhạy cảm được tính toán cho các loài bao gồm nhiệt độ, lượng mưa, mựcnước biển dâng, axit hóa đại dương, bão và sự thay đổi môi trường sống.Phương phápđánh giá tính dễ bị tổn thương bằng mô hình thường được kết hợp với các phương phápkhác như phương pháp chỉ số, GIS, phương pháp chuyên gia Trong nghiên cứu củaHandisyde NT et al, 2006 đã đánh giá tính dễ bị tổn thương

Trang 16

của nuôi trồng thủy sản ở cấp quốc gia bằng phương pháp chỉ số kết hợp với GIS,đưa ra bản đồ tính dễ bị tổn thương về tầm quan trọng kinh tế của nuôi trồng thủysản, khả năng thích ứng, tính dễ bị tổn thương về nuôi trồng thủy sản nước ngọt vớingập lụt và hạn hán, nuôi trồng thủy sản nước lợ và nuôi thủy sản trên biển với lốcxoáy [29] Nhìn chung, các nghiên cứu tập trung vào đánh giá một số loại hình sinh

kế của các hộ dân ven biển là chính, đó là những hộ được cho là sẽ phải chịu ảnhhưởng trực tiếp từ các tác động của BĐKH gây ra Trong các loại hình sinh kế củacác hộ dân ven biển thì nuôi trồng thủy sản và trồng trọt sẽ là hai loại hình sinh kếchịu tác động lớn nhất do BĐKH gây ra thông qua diễn biến thất thường của cáchiện tượng thời tiết cực đoan

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu TDBTT mới chỉ bắt đầu từ nhữngnăm

cuối của thế kỷ XX và được tiếp cận theo các lĩnh vực khác nhau của hệ thống tựnhiên, kinh tế - xã hội, cộng đồng dân cư và các tài nguyên ven biển trên quy mônghiên cứu từ vùng/ khu vực đến cả đới ven biển Việt Nam Nghiên cứu TDBTT xãhội và khả năng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi của Adger và cộngsựđã đánh giá TDBTT xã hội ở huyện ven biển miền Bắc Việt Nam (huyện Giao

Thủy Nam Định)[12] Kết quả nghiên cứu cho thấy do sự đổi mới về kinh tế bắt đầu

từ giữa thập kỉ 80 đã làm tăng tính bất công bằng trong thu nhập và phúc lợi địaphương gây ảnh hưởng tới năng lực thích nghi của người dân địa phương khi phảiđối mặt với cả sự thay đổi tổ chức và những ảnh hưởng của thay đổi khí hậu

Trong các loại hình sinh kế của các hộ ven biển thì nuôi trồng thủy sản chiếm

tỷ lệ khá lớn và được cho là chịu tác động trực tiếp và thường gây ra những thiệt hạilớn về kinh tế cho các hộ dân vùng ven biển Trong khi đó, thủy sản là một ngànhsản xuất chiếm tỉ trọng lớn của nông nghiệp Việt Nam và là đối tượng chịu rủi ro từtác động của các hiện tượng khí hậu khá rõ ràng, do đó có nhiều hướng nghiên cứu

về mối quan hệ này Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Việt Nam và nnk, (2010)đánh giá tác động của BĐKH tới ngành thủy sản để đề xuất các giải pháp thích ứng

[5].Theo báo cáo “Đánh giá tác động, tổn hại của BĐKH đến lĩnh vực thủy sảnvà

Trang 17

nghiên cứu, đề xuất các biện pháp thích ứng với BĐKH trong ngành thủy sản Việtnam” (2009) của tác giả Nguyễn Quang Hùng và Hoàng Đình Chiểu, các tác giả đãphân tích rõ các tác động của BĐKH đối với nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Namnhư sau:

Nhiệt độ tăng: thay đổi về nhiệt độ môi trường sống sẽ ảnh hưởng đáng kểtới sự trao đổi chất, tốc độ phát triển, sự sinh sản và tái sản xuất theo mùa vụ củacác sinh vật sống trong môi trường nước đó, đồng thời chúng sẽ dễ bị nhiễm bệnh

Giông bão: Bão và áp thấp nhiệt đới gây ra mưa to, gió lớn, sóng dữ dội cóthể tàn phá hoàn toàn hệ thống đê bao của các ao nuôi, lồng bè trên biển, vì vậy tổnthất là điều khó tránh khỏi Sự tàn phá của bão và áp thấp nhiệt đới còn ảnh hưởngđến hệ sinh thái của vùng nuôi - cần thời gian dài mới có thể phục hồi So với sựthay đổi nhiệt độ, bão và áp thấp nhiệt đới thường khó có thể dự đoán, ngược lạimức độ ảnh hưởng của nó ảnh hưởng nghiêm trọng hơn rất nhiều

Mực nước biển dâng: có những ảnh hưởng khá lớn đến nuôi trồng thủy sảnnhưng chủ yếu là nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng cửa sông Khi mực nước biểndâng sẽ làm biến đổi cấu trúc hệ sinh thái, các vùng nuôi tôm cua ven rừng ngập mặn;khu vực nuôi ngao trên bãi triều sẽ bị thu hẹp; khu vực nuôi lồng bè, nuôi hầu ở khuvực cửa sông bị thu hẹp hoặc ảnh hưởng đến sinh trưởng của loài nuôi

Các yếu tố nói trên của biến dổi khí hậu sẽ làm thay đổi điều kiện thủy lý vàthủy hóa, ảnh hưởng đến chất lượng sống và tốc độ phát triển của thủy sinh Nhiệt độtăng cao sẽ làm hàm lượng ô xy trong nước giảm nhanh, tốc độ sinh trưởng của thủy

Trang 18

sản sẽ chậm đi, tạo điều kiện bất lợi cho các thủy sinh đã thích nghi với môi trườngthủy sản từ trước đến nay, giảm lượng thức ăn của thủy sinh Không chỉ đánh giá tácđộng, nhiều nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá tính dễ

bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh BĐKH [5]

Từ năm 2007 đến nay cũng đã có nhiều dự án hợp tác giữa Việt Nam và quốc

tế cũng đã có những tiếp cận tổng hợp đến việc nghiên cứu TDBTT do tác động củaBDKH Tổ chức Oxfam tại Việt Nam và Viện Sau đại học về nghiên cứu môitrường, Trường Đại học Kyoto, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu những lựa chọn

để giải quyết rủi ro do hạn hán ở Việt Nam Trong nghiên cứu này tập trung vàophân tích ảnh hưởng của tần suất hạn hán tới sinh kế của cộng đồng tại các khu vựcthường xuyên bị hán hán của tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam Bên cạnh đó nghiên cứucũng đề cập tới cộng đồng cảm nhận như thế nào với hạn hán và thay đổi khí hậu,chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ làm sao để có thể đối phó vớithảm họa từ thiên nhiên, đặc biệt đối với hạn hán [6] Năm 2007, báo cáo về nghèođói với BĐKH của Oxfam Quốc tế đã có những cảnh báo về sự suy tàn sinh kế củangười nghèo; nêu rõ sự gia tăng các thảm họa khí hậu ảnh hưởng tới nhiều ngườiđặc biệt là hộ nghèo, người nghèo không có sức mạnh để chống chịu lại các thảmhọa Trong báo cáo “Thay đổi môi trường toàn cầu và an ninh con người” [24] đềcập tới mối quan hệ giữa nghèo đói và thích ứng với BĐKH, báo cáo cũng xem xéttới thực trạng thể chế trong việc kếp hợp giải pháp thích ứng với biến đối khí hậucủa việc thực thi các chính sách hỗ trợ phát triển hiện nay

Cuối năm 2010, dự án “Tiếp cận tổng hợp các đến các đối tượng dễ bị tổnthương nhằm ứng phó với các thảm họa tự nhiên tại miền Trung Việt Nam” được hợptác giữa Đại học Nông lâm Huế - Đại học Huế và Viện GSGES – Đại học Kyoto, NhậtBản dưới sự tài trợ của cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA Khu vực nghiên cứucủa dự án gồm 4 xã: Hương Phong, Hương Vân huyện Hương Trà, 1 xã thuộc huyệnmiền núi A Lưới và nhóm dân cư vạn đò định cư tại thành phố Huế Đây là những nơithương xuyên gặp thiên tai và dễ bị tổn thương bởi những ảnh hưởng của thiên tai vàcần có sự hỗ trợ để nâng cao năng lực đối phó với thiên tai Dự án được

Trang 19

thực hiện với mục tiêu làm rõ tính dễ bị tổn thương do thiên tai và hoàn cảnh củangười dân dễ bị tổn thương trong khu vực đối tượng, nâng cao năng lực phòngchống thiên tai qua các lớp tập huấn cho người dân dễ bị tổn thương Biên soạn vàphân phối các tập tài liệu kỹ thuật và tập huấn về đối phó thiên tai cũng như đa dạnghóa sinh kế Nâng cao kiến thức ứng phó thiên tai của chính quyền các cấp, và cộngđồng qua các lớp tập huấn, cấu trúc lại mạng lưới kết hợp nhằm đối phó thiên tai và

đa dạng hóa sinh kế

Như vậy ta có thể thấy, gắn kết khung sinh kế bền vững nhất là sinh kế nôngnghiệp nông thôn với yếu tố BĐKH sẽ giúp xây dựng các sinh kế bền vững và thíchứng trong bối cảnh BĐKH Đây là một nhu cấp cấp bách hiện nay trong bối cảnhkhí hậu ngày càng biến đổi bất thường và gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sinh kếcủa người dân.Nghiên cứu của Ashley S Halls and Matthew Johns, 2013, đánh giátính dễ bị tổn thương của ngành công nghiệp cá da trơn trong bối cảnh BĐKH ở khuvực hạ lưu sông Mekong, bao gồm các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long của ViệtNam Nghiên cứu này áp dụng phương pháp xác định tính dễ bị tổn thương qua cácchỉ số phơi nhiễm, nhạy cảm và khả năng thích ứng [28] Cùng với cách áp dụngphương pháp này còn có nghiên cứu của Mark R.Bezuijen và nnk, 2011, đánh giátính dễ bị tổn thương về loài và môi trường sống của một số loài thủy sản ở một sốtỉnh của Thái Lan, Campuchia và Việt Nam [19] Khung khái niệm của William et al

2008 coi khả năng thích ứng như một phần của độ nhạy cảm và không tính đến tácđộng tiềm năng của các mối hiểm họa đang tồn tại Theo phương pháp đánh giátrong nghiên cứu này, độ phơi nhiễm, độ nhạy và khả năng của thích nghi của mộtloài với BĐKHđược xắp xếpthành bảng theo hệ thống, sau đó là đánh giá mức độtổn thương độc lập và cùng với các mối hiểm họa đang tồn tại

1.2 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Khái niệm về BĐKH

BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinhquyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhântạo Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một thời điểm và một địa điểm nhất định được

Trang 20

xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa mây…Khí hậu là sự tổng hợp của thời tiết, được đặc trung bởi các giá trị trung bình thống

kê và các cực trị đo được hoặc quan trắc được của các yếu tố hoặc hiện tượng thờitiết trong một khoảng thời gian đủ dài thường là hàng chục năm [1]

Một số biểu hiện của BĐKH là: Nhiệt độ trung bình năm tăng; sự biến đổi và

độ khác thường của thời tiết và khí hậu tăng; Nước biển dâng do băng tan từ các cựcTrái đất và các đỉnh núi cao; Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai(nóng, rét hại, bão, lũ lụt, hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ và

độ khác thường lớn hơn [4]

Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối vớihoàn cảnh hoặc là môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm tính dễ bị tổn thương dodao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại.Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhàkính Cộng đồng được hiểu là một nhóm người sống trong một môi trường có nhữngđiểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau

BĐKH liên quan đến hiện tượng trái đất ấm lên Có hai quan điểm về sự ấmlên của trái đất là các quá trình tự nhiên và dưới sự tác động của con người Hiệnnay, các nhà khoa học đã có sự nhất trí cao cho rằng trong những thập niên gần đâynhững hoạt động với mục đích phát triển kinh tế- xã hội ngày càng cao trong cáclĩnh vực công nghiệp, giao thông, sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Những lĩnhvực này đã tiêu tốn nguồn năng lượng khổng lồ và gia tăng phát thải khí nhà kính(CO2) vào bầu khí quyển, gây ra biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới môitrường toàn cầu Tóm lại, nguyên nhân chính gây ra BĐKH là do sự gia tăng cáchoạt động phát thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức tài nguyên thiênnhiên đó là các bể hấp thụ khí nhà kính tạo sinh khối như rừng, các hệ sinh tháibiển, ven bờ và đất liền khác

Một vấn đề môi trường mang tính chất nghiêm trọng và được thế giới quantâm nhiều nhất hiện nay đó là BĐKH, rất nhiềubằng chứng như nhiệt độ tăng nhanhtrùng với tốc độ tăng của nồng độ khí nhà kính trong kỷ nguyên công nghiệp, băng

Trang 21

tan nhanh ở Greenland và hai cực; số lượng và mức độ khốc liệt của các hiện tượngthời tiết cực đoan đang xảy ra khắp các khu vực trên thế giới, đã đặt ra một thửthách lớn nhất đối với loài người trong thể kỷ 21.

Từ khoảng giữa thế kỷ 19, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc đo đạc cáctrị số về khí hậu trở nên chính xác, có được số liệu định lượng chi tiết về BĐKHtrong hơn một thập kỷ qua Những số liệu cho thấy xu thế chung từ cuối thế kỷ 19đến nay, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể Kết quả nghiên cứu hiệnnay cho thấy nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ 20 đã tăng lên0.74 0C (± 0.20C); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển và thập kỷ 1990 làthập kỷ nóng nhất trong thiên nhiên kỷ vừa qua [21]

Thiên tai (bão, lũ, lụt, hạn hán, tố, lốc…) và các hiện tượng thời tiết cực đoan(nắng nóng, rét đậm, rét hại, mưa lớn ) gia tăng Theo tổ chức Khí tượng thế giới(WMO) tại hội nghị các Bên Công ước khí hậu ở Cancun tháng 12/2010, các hiệntượng thời tiết cực đoan lớn nhất trong năm 2010 là: Nắng nóng lịch sử gây cháy rừng,hạn hán ở Liên Bang Nga, Ukraina, Beelarut và một số nước vùng Ban căng (ChâuÂu), Việt Nam…; giá rét ở Canada, Anh, Đông Bắc Trung Quốc ; hiện tượng Laninamạnh nhất trong vòng 30 năm qua BĐKH gây ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh tế - xã hội,bao gồm các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải,công nghiệp và xây dựng, du lịch, sức khỏe con người; và lĩnh vực môi trường baogồm: tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, hệ sinh thái và đa dạng sinhhọc, chất lượng không khí Cộng đồng dễ bị tổn thương nhất bao gồm: nông dân, ngưdân, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ em và các tầng lớp nghèonhất ở đô thị là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn [1] Trong 6 tháng đầu năm 2011,

tố lốc kinh hoàng xảy ra ở Mỹ làm chết hơn 500 người, bị thương 750 người; hạn hánnặng nhất trong vòng 50 năm qua xảy ra ở miền Trung của Trung Quốc, ảnh hưởng đến

34 triệu người, trong khi đó mưa lớn và lũ lụt nghiêm trọng xảy ra ở 2 tỉnh phía Nam làQuý Châu và Hồ Nam làm 6 nghìn người phải sơ tán Theo tổ chức Oxfam (Anh),trong 9 tháng đầu năm 2010, có 21 nghìn người trên thế giới đã chết vì lũ, lụt và hạn

hán, gấp đôi cùng kỳ năm 2009 [6] Sự suy giảm

Trang 22

năng suất nông nghiệp sẽ đe dọa vấn đề an ninh lương thực toàn cầu Ước tính rằng,mỗi năm có thể có hơn 3 triệu người bị chết vì suy dinh dưỡng, khoảng 100 đến 400triệu người có nguy cơ bị đói và khoảng 1 đến 2 tỷ người sẽ không có đủ nước dùng

cho nhu cầu sinh hoạt [11].

1.2.2 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương

Tính dễ bị tổn thương (vulnerability) thường được đề cập đến trong mối liên

hệ với những thảm họa tự nhiên và năng lực của cá nhân hoặc các nhóm xã hộitrong việc đương đầu với những thảm họa này Trong bối cảnh BĐKH, tính dễ bịtổn thương là “mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, kinh tế, xã hội) có thể bị tổnthương do BĐKH hoặc không có khả năng thích ứng trước những tác động bất lợicủa BĐKH” [1] Theo khái niệm của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC,2001): tính tổn thương là “mức độ một hệ thống tự nhiên hay xã hội có thể bị tổnthương hoặc không thể ứng phó với các tác động bất lợi do BĐKH bao gồm cáchình thái thời tiết cực đoan và BĐKH” [21]

1.3 Quan điểm và cơ sở lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

ma trận hoặc các bản đồ tổn thương chỉ ra các vùng/khu vực và nhóm dân cư có khảnăng dễ bị tổn thương cao do BĐKH

Hiện nay có nhiều cách tiếp cận trong đánh giá tác động của BĐKH Theo Ủyban liên chính phủ về BĐKH IPCC thì có 3 cách: tiếp cận tác động (impact approach),tiếp cận tương tác (interaction approach) và tiếp cận tổng hợp (intergrated approach).Mỗi cách tiếp cận có những điểm mạnh và điểm yếu hạn chế riêng, việc lựa chọn cáchtiếp cận nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như nhu cầu đánh giá, phạm

Trang 23

vi, khung thời gian và nguồn lực cho phép Theo Fussel thì có thể chia ra thành 5nhóm cách tiếp cận được áp dụng cho đánh giá tính dễ bị tổn thương nói chung vàđánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đối khí hậu nói riêng đó là: Cách tiếp cậntheo rủi ro - hiểm họa; cách tiếp cận theo kinh tế - chính trị; cách tiếp cận theo môhình đáp ứng- phản hồi trong thiên tai; cách tiếp cận tổng hợp; cách tiếp cận theokhả năng chống chịu (resilence) và các cách tiếp cận khác [27] Tuy nhiên hiện naykhông có một phương pháp luận nào có thể áp dụng cho việc đánh giá tính dễ bị tổnthương cho tất cả các hoàn cảnh và trường hợp, mà thường phụ thuộc vào yêu cầucủa từng trường hợp cụ thể và theo từng cơ quan thực hiện đánh giá.

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá tính dễ

bị tổn thương bởi BĐKH Alex de Sherbinin và cộng sự sử dụng phương pháp tiếp cậndựa vào các kịch bản kết hợp với những phương pháp tiếp cận mới đánh giá tính dễ bịtổn thương từ dưới lên để nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương tại 3 thành phố làMumbai, Rio de Janeiro và Thượng Hải [15] Nghiên cứu này đãđánh giá một số cảntrở về mặt chính trị để chuẩn bị tốt hơn trong việc phòng ngừa thiên tai

Viện Khoa học khí tượng thủy văn và Môi trường đã nghiên cứu và xây dựnghướng dẫn “Đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng”nhằm phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch hành động của các Bộ, ngành địaphương với BĐKH [2] Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận như sau:

- Đánh giá tác động của BĐKH ở thời điểm hiện tại sau đó đánh giá tác động trong tương lai dựa vào các kịch bản kết hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường;

- Đánh giá tác động của BĐKH theo ngành, theo vùng địa lý, theo ranh giới

hệ sinh thái…

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH cũng khẳng định khả năngtổn thương cần được đánh giá đối với từng lĩnh vực, khu vực, cộng đồng cả hiện tại vàtương lai Khả năng tổn thương do BĐKH đối với một hệ thống phụ thuộc vào tínhchất, độ lớn, mức độ biến động khí hậu và những áp lực do BDKH mà hệ thống đó phảihứng chịu, tính nhạy cảm cũng như năng lực thích ứng của hệ thống đó Năng lực

Trang 24

thích ứng của một hệ thống phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và môitrường của hệ thống đó Tác động tổng hợp của BDKH đối với hệ thống càng lớn vànăng lực thích ứng của hệ thống càng nhỏ thì khả năng tổn thương càng lớn [3].

Các nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến các vùng và địa phương củaCECI (2002-2005), Nguyễn Phú Quỳnh (2009-2011), Lê Hùng Nam (2011), ViệnQuy hoạch thủy lợi (2008) đã đánh giá sơ bộ tác động của nước biển dâng tại khuvực đồng bằng sông Hồng, khu vực duyên hải miền Trung và đồng bằng sông CửuLong Trung tâm khí tượng thủy văn Biển đánh giá tính dễ bị tổn thương của dảiven bờ Việt Nam - giai đoạn 1

Thích ứng với BĐKH từ trước đến nay vẫn được coi là mối quan tâm thứ yếu

của các chương trình quốc tế về xóa đói giảm nghèovì giảm nhẹ tác động BĐKH đượccoi là yêu cầu bắt buộc và cấp bách vì nó quyết định triển vọng tránh được các hiểmhọa của BĐKH trong tương lai để hướng tới một xã hội ít các bon Tuy nhiên, đối vớicác cộng đồng dễ bị tổn thương trước BĐKH thì thích ứng lại là một nhiệm vụ cấp thiết[31] Hơn nữa,“không được phép phó mặc cho người nghèo và những người dễ bị tổnthương trên thế giới bị chìm hay tự bơi chỉ với năng lực yếu ớt của mình” [10] Điều đó

có nghĩa là người nghèo và những người dễ bị tổn thương trước tác động của BĐKHcũng cần được hỗ trợ để tăng cường năng lực thích ứng với BĐKH Thích ứng vớiBĐKH là “sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môitrường thay đổi nhằm mục đích giảm tính dễ bị tổn thương do dao động hoặc BĐKHhiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [3] Như vậy, thích ứngbao gồm những hoạt động điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên và con người để đốiphó với những tác động có thể có của BĐKH, làm giảm bớt sự nguy hại hoặc khai thácnhững cơ hội có lợi từ BĐKH Các hoạt động thích ứng được thực hiện nhằm giảmthiểu tính dễ bị tổn thương

Tổ chức CARE International ở Việt Nam tập trung nghiên cứu ở vùng núi phíaBắc Việt Nam gồm các tỉnh Yên Bái, Lạng Sơn, Bắc Kạn và Thanh Hóa để đánh giátính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của các nhóm dân tộc thiểu số trong đóđềcập tới tác động của BĐKH tới an ninh lương thực và thu nhập của người dân, nước

Trang 25

sinh hoạt, sức khỏe và di dân Nghiên cứu ở Thanh Hóa cho thấy rằng các hiệntượng thời tiết cực đoan: hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tới sản xuấtnông nghiệp làm cho thiếu đói, gia cầm, khai thác thủy sản bị ảnh hưởng Ngoài rabáo cáo cũng nhấn mạnh sự khác biệt giới về khả năng thích ứng [20] Phương phápluận phân tích năng lực và tính dễ bị tổn thương - CVCA đã tạo ra một khuôn khổphân tích tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH ở cấp cộng đồng.Với nhận thức rằng người dân địa phương phải điều khiển tương lai của họ, phươngpháp luận CVCA đặt ưu tiên cho kiến thức địa phương về rủi ro khí hậu và chiếnlược thích ứng trong quá trình thu thập và phân tích dữ liệu.

Một nghiên cứu khác về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng của tác giảLâm Thị Thu Sửu ở khu vực sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế [9], trong đó cũng

đề cập tới các biện pháp thích ứng liên quan đến quản lý nguồn nước và đưa ranhững giải pháp thích ứng hiệu quả để hỗ trợ trực tiếp, làm đầu vào cho các kếhoạch địa phương

Hiện nay, có khoảng 70 tổ chức tại Việt Nam tham gia nghiên cứu và thực hiệnliên quan tới “tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH” tập chung vàocác vấn đề như: BĐKH và nông nghiệp bền vững, biển và ven biển với BĐKH, sứckhỏe cộng đồng và BĐKH, tài nguyên môi trường và BĐKH, nghiên cứu và vận độngchính sách với BĐKH Tuy nhiên đánh giá tính dễ bị tổn thương trong sinh kế doBĐKH của khu vực ven biển được đề cập rất ítcũng như các phương pháp xây dựngcác chỉ số tổn thương chưa được đề cập nhiều ở Việt Nam Chính vì vậy nghiên cứu củahọc viên áp dụng cho các phường ven biển thuộc quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng sẽgóp phần bổ sung thêm các nghiên cứu nói trên và thực nghiệm đánh giá tính dễ bị tổnthương thông qua các chỉ số thành phần của sinh kế

1.3.2 Bối cảnh nghiên cứu sinh kế bền vững

Sinh kế: Trong luận văn này chúng tôi sử dụng định nghĩa sinh kế của Bộ Pháttriển quốc tế Anh (DFID) năm 1999: “Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản, baogồm cả các nguồn lực vật chất, xã hội và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” Sinh

kế bền vững (SLF): Sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng

Trang 26

thẳng và đột biến, hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng vànguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiênnhiên [23].Tiêu chí sinh kế bền vững gồm: an toàn lương thực, cải thiện điều kiệnmôi trường tự nhiên, cải thiện điều kiệu môi trường cộng đồng- xã hội, cải thiệnđiều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi ro và các cú sốc SLF là chữ viết tắt củaSustainable Livelihoods Framework (Khung sinh kế bền vững) do Bộ Phát triển Hảingoại Anh Quốc - DFID (Department For International Development, 2001) pháttriển, đã nêu lên những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế người dân.

Ý tưởng về sinh kế đã được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu củaR.Chamber những năm 1991 [22] trong đó sinh kế theo cách hiểu đơn giản là phươngtiện để kiếm sống Về sau khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu củaF.Ellis [25], Barrett va Reardon [18]….Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khácnhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu

tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình F.Ellis chorằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người,tài chính và nguồn vốn xã hội)những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tàisản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đócác quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ [25] Năm

2001, Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về Sinh

kế để hướng dẫn cho các hoạt động của mình thì Sinh kế còn được mô tả tổng hợpcủa nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một ngườinhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình [23] Sinh

kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, thôn,vùng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình

Trang 27

Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững của DFID (2001)

Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm các nguồn vốn (tài sản),tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kếtquả của chiến lược sinh kế đó.Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: là toàn bộ năng lựcvật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh

kế của họ

Khung SLF là một công cụ giúp hiểu về sinh kế, mục đích áp dụng khungsinh kế bao gồm:

- Mục đích chung nhất của khung SLF là giảm nghèo;

- Hiểu rõ hơn về tất cả các khía cạnh của vấn đề nghèo;

- Giúp tìm ra chiến lược sinh kế phù hợp;

- Sử dụng khung sinh kế bền vững trong quá trình đánh giá tính tác động của thiên tai

Khung sinh kế bền vững có thể được thay đổi cho phù hợp với từng bối cảnh

cụ thể Tuy nhiên, khi nói tới khung sinh kế bền vững, có thể được khái quát thànhmột số điểm chính dưới đây:

Trang 28

Thứ nhất, khung phân tích này đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thànhsinh kế Đó là: (1) Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; (2) Các chiếnlược mà họ lựa chọn để theo đuổi các ưu tiên đó; (3) Các thể chế, chính sách và tổchức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loài tài sản hay cơ hội và kết quả

mà họ thu được;(4) Các tiếp cận của hộ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụnghiệu quả các loại vốn mình có; (5) Bối cảnh sống của con người, bao gồm các xuhướng kinh tế công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ [23]

Thứ hai, khung phân tích này lấy con người và sinh kế của hộ làm trung tâmcủa sự phân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển Trước đó,Chambers đã lập luận rằng các nghiên cứu và thực hành phát triển nông thôn ở cácquốc gia thuộc thế giới thứ Ba phải đặt người nghèo lên vị trí số một ở cả cấp độ vĩ

mô và vi mô Vì cho đến đầu những năm 1980, vấn đề đói nghèo ở nông thôn vẫnthường được những “kẻ bên ngoài” (các nhà nghiên cứu, giới thực hành và các quanchức nhận thức và hiểu không đúng về mức độ “ giàu có” của người nghèo hay vềbản chất bị che giấu của đói nghèo Chambers cho rằng cần đặt những người nghèo

ở nông thôn lên vị trí số một để nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi và từ đó có những hành

động giảm nghèo một cách thực tế hơn [23]

Thứ ba, khung phân tích này thừa nhận rằng các chính sách, thể chế và quátrình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng chúngđều ảnh hưởng đến sinh kế Ngoài ra, khung phân tích sinh kế bền vững được coi làmột tiếp cận toàn diện trong phân tích về sinh kế và đói nghèo vì nó thừa nhận conngười không sống cô lập trong một khu vực hay cộng đồng nào và nhấn mạnh rằngcác nghiên cứu cần phải nhận dạng các cơ hội và hạn chế liên quan đến sinh kế ởcác góc độ: khu vực, cấp độ, lĩnh vực Nghĩa là: (1) áp dụng phân tích sinh kế xuyênkhu vực, lĩnh vực và nhóm xã hội; (2) Thừa nhận và hiểu được nhiều ảnh hưởng đếncon người; (3) Công nhận nhiều tác nhân (4) Công nhận nhiều chiến lược mà conngười sử dụng để đảm bảo sinh kế của mình và nhiều kết quả mà họ theo đuổi [23]

Như vậy, khung phân tích này kết nối vĩ mô và vi mô Ban đầu, các nghiên cứu

về sinh kế và đói nghèo thường nhấn mạnh đến phân tích các thể chế và quá trình

Trang 29

ởcấp vi mô (hộ gia đình, cộng đồng), sau đó khung phân tích sinh kế bền vững nhấnmạnh đến mối liên hệ giữa hai cấp độ vi mô và vĩ mô Vì những người thực hành pháttriển ở cấp vi mô nhận thấy có những cách hay lĩnh vực mà các chính sách, cấu trúc vàquá trình ảnh hưởng đến sinh kế và các hoạt động ở cấp cơ sở Trong khi đó, các

nhà hoạch định chính sách lại sử dụng các phân tích sinh kế vi mô để hoạch địnhhay điều chỉnh chính sách và thể chế [23]

Thứ tư, sinh kế của con người được phân tích dưới góc độ sở hữu và tiếp cậncác loại vốn hay tài sản vốn Ở đây, có hai khái niệm trung tâm của khung phân tíchnày Một là “sinh kế” (livelihood), một khái niệm thường được hiểu và sử dụng theonhiều cách và ở những cấp độ khác nhau Nhưng một câu hỏi quan trọng được đặt ra

là thế nào là một sinh kế bền vững khi khái niệm sinh kế đang ngày càng trở lênquan trọng trong các thảo luận và phân tích về phát triển? Việc định nghĩa thế nào làmột sinh kế bền vững trong một bối cảnh cụ thể vẫn còn phải bàn luận nhưng nhìnchung, một sinh kế được coi là bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồikhi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tạihay trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tựnhiên [23].Hai là khái niệm: “vốn” (capital) Khung phân tích sinh kế bền vững chorằng con người sử dụng các loại vốn mình có để kiếm sống Ngầm ẩn trong khungphân tích này là một lý thuyết cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn hayhình thức vốnđể đảm bảo an ninh sinh kế hay giảm nghèo, bao gồm: vốn vật chất(physical capital), vốn tài chính (Financial capital), vốn xã hội (social capital), vốncon người (human capital) và vốn tự nhiên(natural capital) Đây là những loại vốnmang ý nghĩa của cả đầu vào và đầu ra [23]

Thứ năm, khung phân tích này nói riêng và các tiếp cận sinh kế bền vững nóichung có cả điểm mạnh và yếu Về điểm mạnh, Caranline Moser đã khái quát thành bađiểm chính, đó là: (1) Một tiếp cận lấy con người làm trung tâm, khung phân tích này

đã làm chuyển đổi cách thức hành động nhằm bao hàm cả các quá trình tham gia và cácnhóm liên ngành; (2) Trọng tâm xuyên lĩnh vực của nó cho phép người sử dụng bànđến tất cả các vấn đề chính sách liên quan đến người nghèo ở từng lĩnh vực

Trang 30

trong khi vẫn bao quát được các vấn đề tiếp cận đối với các dịch vụ tài chính, thịtrường và công bằng liên quan đến an ninh cá nhân; (3) Tiếp cận liên ngành cónghĩa là khung phân tích này không hàm ý cư dân nông thôn đều là nông dân, màthay vào đó, nó công nhận nhiều thực thể xã hội với nhiều nguồn thu nhập khácnhau.

Tuy nhiên, khung phân tích này cũng có một số điểm yếu, quan trọng nhất là:

(1) Ở cấp độ tổ chức, việc khung phân tích nhấn mạnh đến đa lĩnh vực làm cho việc ápdụng trở nên khó khăn hơn; (2) Ở cấp độ chính trị, nó chưa chú ý đúng mức và vì thếchưa lý giải được các quan hệ giới, chính trị, thị trường; (3) Khung phân tích này trongthực tế khó có thể giải thích một cách hiệu quả sự kết nối giữa vi mô và vĩ mô,

hoặc ở cấp độ vĩ mô thì con người sử dụng các loại vốn để kiếm sống và thoátnghèo như thế nào

Khi những hạn chế này ngày càng lộ rõ, khung phân tích sinh kế bền vững đãđược điều chỉnh ở một số điểm nhằm nâng cao tính hiệu quả của nó Cụ thể là, sau 5năm đưa vào ứng dụng, cả DFID và UNDP đã không còn chỉ nhấn mạnh đến phântích sinh kế bền vững mà bao gồm cả các vấn đề xã hội trong khi đó, một số họcgiả đã sửa đổi khu phân tích Miranda Cahn nhận định rằng khung phân tích này chủyếu tập trung vào châu Á và châu Phi, trong khi khu vực Thái Bình Dương có nhiềuđiểm khác biệt về văn hóa và truyền thống Cahn cho rằng việc áp dụng khung sinh

kế bền vững vào khu vực Thái Bình Dương cần kết hợp với các yếu tố văn hóa,truyền thống (bao gồm giới)vì yếu tố này có tác động quan trọng đến sinh kế dướinhiều góc độ khác nhau Do đó, định nghĩa thông thường về sinh kế cần được điềuchỉnh cho phù hợp với khu vực hoặc từng chương trình, dự án Ví dụ như một sốcách tiếp cận mới tiếp cận dựa trên quyền (rights-based approach) hay cách tiếp cậndựa vào tài sản (assets-based approach)

Từ những phân tích của các học giả trên cho thấy, mặc dù khung sinh kế bềnvững của DFID được sử dụng rộng rãi nhưng còn những điểm chưa phù hợp và việc

áp dụng khung này vào thực tế tại từng vùng, từng địa phương cũng cần phải linhhoạt Hiện nay khung sinh kế của DFID cũng đang được sử dụng rộng rãi trong việc

Trang 31

phân tích nghèo đa chiều Khái niệm nghèo đa chiều được sử dụng ngày càng rộngrãi trong các báo cáo chính thức của các tổ chức phát triển như Ngân hàng thế giới,hay chương trình phát triển liên hợp quốc Theo đó, nghèo đói không chỉ được đánhgiá theo tiêu chí thu nhập/chi tiêu - tức nghèo đơn chiều mà còn theo các chiều khácnhư điều kiện môi trường, cơ hội và khả năng tiếp cận các nguồn lực xã hội, cácdịch vụ cơ bản, tiếp cận và sử dụng các dịch vụ giảm rủi ro trong cuộc sống…

1.4 Phương pháp và cách tiếp cận sử dụng trong nghiên cứu

tài liệu hiện có liên quan đến đánh giá tác động của BĐKH đến sinh kế người dân khuvực quận Đồ Sơn; kế thừa các số liệu và kết quả của các đề tài nghiên cứu trước đó cóliên quan đến đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến sinh kế của cộng đồng dân cư venbiển

đến sinh kế của người dân ven biển cần sử dụng nhiều kiến thức trong các lĩnh vựckhác nhau được tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn Cụ thể là các lĩnh vựckhí tượng, khí hậu, thủy văn, đất đai, kinh tế - xã hội… Cách tiếp cận khung sinh kếcủa DFID cũng được áp dụng để xem xét về cách thích ứng của cộng đồng theohướng tiếp cận đa ngành

tiếp cận từng bước phát triển mức độ tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn thương và

khả năng thích ứng của cộng đồng dân cư quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.BĐKH (nguyên nhân, biểu hiện, tác động và ứng phó) liên quan tới nhiều lĩnh vựccủa tự nhiên và kinh tế xã hội trong mối tương tác nhân quả lẫn nhau Vì vậy,nghiên cứu - triển khai ứng phó với BĐKH phải dựa trên cách tiếp cận hệ thống,liên ngành theo các cấp tác động: địa phương, quốc gia và quốc tế (tiếp cận từ trênxuống).BĐKH vừa mang tính toàn cầu lại vừa mang tính đặc thù cho từng vùngmiền, địa phương Những giải pháp thích ứng và giảm nhẹ BĐKH phải được dựatrên những đặc trưng về tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hóa của từng vùng miền (trithức bản địa) và cần coi trọng tiếp cận từ dưới lên trên

Trang 32

1.4.1 Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp tài liệu

Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp tài liệu được sử dụng để tổngquan và nghiên cứu các tài liệu đã được công bố về đánh giá tính dễ bị tổn thươngnói chung và tác động của BĐKH đến sinh kế người dân nói riêng nhằm tìm raphương pháp đánh giá phù hợp Tác giả đã thu thập, phân tích và tổng hợp rất nhiềucác tài liệu khác nhau phục vụ cho mục đích nghiên cứu Các tài liệu bao gồm cácnghiên cứu về khái niệm tính dễ bị tổn thương, các báo cáo tổng hợp về tính dễ bịtổn thương khu vực vùng ven biển trên thế giới và ở Việt Nam Các kịch bản phátthải của Việt Nam được tham khảo để xem xét về BĐKH ở khu vực Hải Phòng.Đồng thời, nhiều báo cáo về tình hình kinh tế, xã hội của địa phương cũng được thuthập như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt số liệu thống kê củacác phường thuộc quận Đồ Sơn trong giai đoạn nghiên cứu được thu thập để tínhtoán mức độ dễ bị tổn thương Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp tài liệubao gồm các công cụ sau được sử dụng trong luận văn:

Thu thập và kiểm tra chéo thông tin:Bối cảnh kinh tế-xã hội, văn hóa, nghèo đói,

bất bình đẳng, năng lực thể chế và nhận thức của người dân liên quan đến các vấn đề vềsinh kế trong bối cảnh BĐKH và thiên tai là rất khác nhau giữa các đơn vị hành chính vàcác nhóm đối tượng Chúng tôi chỉ có thể khảo sát một số tổ dân phố, nhóm đối tượngtrong một thời gian khá ngắn Những thách thức của các phát hiện chung (mang tính đạidiện) đối lập với các trường hợp nghiên cứu điển hình (theo bối cảnh cụ thể) luôn luôn tồntại trong bất kỳ nghiên cứu, đánh giá nào.Chúng tôi phân tích và đưa ra những ý kiến đánhgiá khách quan và chính xác nhất trên cơ sở lấy ý kiến đóng góp và xác minh với các đốitượng, đồng thời kiểm tra chéo thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau Vì vậy, việc kếthợp nhiều phương pháp là rất quan trọng như: các phương pháp có sự tham gia như cáccuộc thảo luận nhóm tập trung, phỏng vấn sâu, quan sát và tham vấn hai chiều, cùng vớiđánh giá sâu từ các báo cáo của của địa phương

Công cụ thu thập thông tin:Nhiều công cụ được sử dụng để thu thập các thông tin định tính và định lượng, dung bảng hỏi để thu thập thông tin từ các hộ dân,

trong đó phụ nữ và những nhóm yếu thế đều được lựa chọn vào mẫu khảo sát

22

Trang 33

Đối với số liệu thống kê về khí tượng:Hiện nay, tại quận Đồ Sơn có Trạm khí tượng Hòn Dấu đượcdung lấy số liệu khí tượng trong luận văn này Phương trình hồi quy tuyến tính để xem xét xu thế biến đổi nhiệt độ và lượng mưa tại Đồ Sơn từ năm 1985 đến nay.

Phỏng vấn bằng bảng hỏi:Bảng hỏi đ ược xây dựng để thu thập các thông tin từ người dântrên địa bàn các phường, quận Đồ

Sơn,đây là những đối tượng hiểu biết rõ nhất về những tác động của BĐKH trên địa bàn và cũng là nhóm đối t ượng tham gia vào nhiều hoạt động sinh kế và đang thực hiện các hoạt động thích ứng với BĐKH tại địa phương.

Phương pháp thu thập và phân tích số liệu: Luận văn sử dụng các phương

pháp phân tích thống kê để phân tích các thông số kỹ thuật về khí tượng thủy văn đểđánh giá sự thay đổi của khí hậu trong giai đoạn nghiên cứu và phân tích các số liệu

về điều tra cấp nông hộ ở quận Đồ Sơn để đánh giá sự thay đổi các loại hình sinh kế

và tính toán các chỉ số đưa vào đánh giá tổn thương

1.4.2 Phương pháp phân tích không gian

Phương pháp GIS sử dụng trong luận văn này cho phép không gian hóa các

dữ liệu thống kê, điều tra trên quy mô của khu vực nghiên cứu, từ đó tiến hành phântích không gian những dữ liệu đầu vào đến đánh giá tính dễ bị tổn thương theokhông gian các phường thuộc quận Đồ Sơn Các thông tin về tính dễ bị tổn thươngcủa từng đơn vị bản đồ cấp phường được đánh giá trong chương 3 và được trình bàykết quả trên bản đồ

1.4.3 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương

Dựa trên việc tổng quan các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thươngđang được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam áp dụng, học viên lựa chọnmột phương pháp đánh giá tối ưu và phù hợp với khu vực ven biển quận Đồ Sơn

Để định lượng tính tổn thương do BĐKH, IPCC đã chỉ rõ tính tổn thương (V) làmột hàm số của 3 yếu tố sau: (i) mức độ phơi nhiễm của hệ thống trước các tác độngbất lợi của BĐKH (Exposure - E); (ii) mức độ nhạy cảm của hệ thống trước

23

Trang 34

những thay đổi của khí hậu (Sensitivity - S); (iii) năng lực thích ứng với BĐKH(Adaptive Capacity - AC).Tính tổn thương phụ thuộc vào hai yếu tố là (1) yếu tố tựnhiên: các tác động liên quan đến thay đổi khí hậu và thời tiết; (2) yếu tố con người:các tác động do con người tạo ra Chỉ số tổn thương tổng hợp phải phản ánh đượctính tổn thương về kinh tế (economic vulnerability), tổn thương về môi trường(environmental vulerability) và tổn thương về xã hội (social vulnerability) [21] Năm

2010, tác giả Armitage và Plummer cũng đưa đánh giá tính dễ bị tổn thương của conngười trước tác động của BĐKH phụ thuộc vào 4 yếu tố sau [17]: (i) Bản chất và độlớn của BĐKH; (ii)Mức độ phụ thuộc của con người vào các nguồn lực nhạy cảm vớiBĐKH (bao gồm nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồnlực con người, nguồn lực xã hội); (iii) Mức độ nhạy cảm của các nguồn lực này trướctác động của BĐKH, và (iv) Năng lực thích ứng của con người trước những thay đổicủa cácnguồn lực nhạy cảm với BĐKH Như vậy, mối quan hệ của chỉ số tính tổnthương với các chỉ số thành phần có thể viết ngắn gọn lại theo mối quan hệ toán họclà:

VI = f(E,S,AC)

Các hợp phần của tính dễ bị tổn thương:

Độ phơi nhiễm (exposure) liên quan đến "tính chất, mức độ mà một hệ thống

được tiếp xúc với sự thay đổi khí hậu"[30] Phơi nhiễm đại diện cho các điều kiệnkhí hậu cơ bản, dao động khí hậu theo chu kỳ, các hiện tượng khí hậu cực đoanchống lại hoạt động của hệ thống và bất kì thay đổi nào của các điều kiện này Do

đó, một hệ thống bị phơi nhiễm với quy mô, mức độ và thời gian của các dao độngkhí hậu [26] BĐKH có thể làm thay đổi và tăng cường, mở rộng sự phơi nhiễmtrong tương lai Đối với độ phơi nhiễm điều quan trọng là phải xác định đối tượng

bị phơi nhiễm (là hoạt động, nhóm, vùng hay tài nguyên phải chịu BĐKH) [30]

Sự phơi nhiễm là điều kiện tiên quyết quan trọng để xem xét tính dễ bị tổn thươngcủa đối tượng nghiên cứu Nếu một hệ thống không bị phơi nhiễm với các xu hướnghoặc hiện tượng khí hậu nguy hiểm ở thời điểm hiện tại hoặc tương lai thì tính dễ bịtổn thương của nó với các hiểm họa này cũng không liên quan đến bối cảnh hiện tại

Sự phơi nhiễm có thể được đánh giá theo khía cạnh không gian và thời gian [30]

Trang 35

Mức độ nhạy cảm (S) được xác định là mức độ mà hệ thống phản ứng lại một

sự thay đổi của khí hậu (baogồm cả sự thay đổi bất lợi hoặc có lợi của khí hậu) Độnhạy cảm của một hệ thống phản ánh mức độ mà hệ thống bị tác động, tác động này bấtlợi hoặc có lợi, trực tiếp hay gián tiếp, do BĐKH [30] Độ nhạy cảm phản ánh sự phảnứng của hệ thống đối với ảnh hưởng của khí hậu và mức độ của những thay đổi khí hậutác động đến cấu trúc hiện tại của nó Vì thế, một hệ thống nhạy cảm có phản ứng caovới khí hậu và có thể bị tác động đáng kể do những biển đổi khí hậu nhỏ [26]

Năng lực thích ứng (AC) được xác định là mức độ mà các điều chỉnh của hệ

thống có thể làm giảm nhẹ khả năng gây tổn thương do BĐKH hoặc bù đắp cácthiệt hại do BĐKH gây ra hoặc tận dụng các cơ hội do tác động tích cực của BĐKHđem lại.Khả năng thích ứng là năng lực (hoặc tiềm năng) của hệ thống để điều chỉnhthành công BĐKH nhằm giảm thiệt hại tiềm ẩn, nắm bắt các cơ hội thuận lợi và đốiphó với các hậu quả[30] Khả năng thích ứng của một hệ thống về bản chất có thểđược quyết định do hoạt động của con người và nó tác động đến cả yếu tố tự nhiên

và xã hội của hệ thống[30] Các nghiên cứu chỉ ra là một số yếu tố kinh tế - xã hộiquyết định khả năng thích ứng chung (như giáo dục, thu nhập hay sức khỏe, ngượclại một số yếu tố đặc biệt quyết định khả năng thích ứng với các tác động cụ thể củaBĐKH như lũ lụt hay hạn hán (ví dụ: thể chế, kiến thức, công nghệ) Vai trò của cácyếu tố kinh tế - xã hội, đặc biệt là thể chế, quản trị, quản lý được nhấn mạnh làquyết định khả năng thích ứng với BĐKH Khả năng thích ứng tác động đến tính dễ

bị tổn thương bằng cách điều chỉnh độ phơi nhiễm và độ nhạy cảm

Dựa trên mô hình sinh kế bền vững của DFID, chúng tôi đưa ra một khung lýthuyết riêng cho nghiên cứu này Sinh kế chính của người dân tại khu vực nghiêncứu là du lịch, dịch vụ và nuôi trồng thủy sản Mặc dù các sinh kế chính chịu sự tácđộng của nhiều yếu tố như thị trường, cơ chế chính sách, khoa học kỹ thuật… và cảBĐKH Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, học viên tập trung phân tích yếu

tố BĐKH tới du lịch, dịch vụ và nuôi trồng thủy sản

Trang 36

Hình 1.2 Khung sinh kế chịu tác động của BĐKH (DFID)

Biến đổi khí hậu

Trình độ họcvấn vấn

Điều kiện sống,tài sản, nhà ở

Đánh giá mức độ tổn thương về sinh kế LVI = f(E*S*AC)

Hình 1.3 Khung phân tích đánh giá mức độ tổn thương ở các phường

thuộc quận Đồ Sơn

Trang 37

Việc đánh giá tính dễ bị tổn thương chính là đo đạc sự nghiêm trọng của mối đedọa tiềm tàng trên cơ sở những mối hiểm họa đã được xác định và mức độ dễ bị tổnthương của các hộ dân vùng ven biển Việc đánh giá này có thể được dùng để giải thíchnhững thông tin cảnh báo sớm và ứng phó khẩn cấp Lý tưởng nhất là kết quả này cầnđược đưa trực tiếp vào các kế hoạch dài hạn của các tổ chức và các chính quyền cáccấp, các thông tin đánh giá được tổng hợp thành một nền tảng kiến thức không những

có thể truy cập, đáng tin cậy về mặt khoa học và dễ sử dụng, mà có thể giúp các nhàhoạch định chính sách đưa ra những giải pháp thích ứng phù hợp

Trang 38

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU, CÁC ĐẶC

TRƯNG SINH KẾ VÀ BĐKH Ở QUẬN ĐỒ SƠN 2.1 Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội và đặc trưng về sinh kế

2.1.1.Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên quận Đồ Sơn

Vị trí địa lý:Quận Đồ Sơn nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 22 km

về phía Đông Nam, tổng diện tích tự nhiên của toàn quận là 4.248,07 ha.

- Phía Tây và Tây Bắc giáp quận Dương Kinh, huyện Kiến Thụy;

- Phía Nam và phía Đông giáp vùng biển Vịnh Bắc Bộ;

- Phía Đông Bắc giáp với cửa sông Lạch Tray và huyện đảo Cát Hải;

- Phía Tây Nam giáp với cửa sông Văn Úc

Quận Đồ Sơn là một bán đảo với 22,5 km bờ biển, có địa hình đồi núi rừng câynối tiếp nhau vươn ra biển tới 5km theo hướng Đông Bắc-Tây Nam với nhiều mỏm núinhô cao từ 25-130 m Vị trí địa lý đặc thù của quận tiếp giáp trực tiếp với biển VịnhBắc Bộ thuận lợi cho phát triển du lịch, dịch vụ và khai thác, nuôi trồng thủy hải sản

Địa hình:Đồ Sơn là vùng đất ven biển có đồi núi nhô kéo dài ra biển như bán đảo, bao gồm 3 vùng chính Vùng trung tâm chủ yếu thuộc địa phận phường

Ngọc Xuyên và Vạn Sơn, phía đông có đường 353 và khu đất ven biển được hìnhthành và bảo vệ bởi đê ngăn nước mặn, có độ cao trình trung bình là +2.5m đến+3.5m Bình diện ở đây khá bằng phẳng, nền đất có tải trọng 0.1kg/cm2 - 0.4kg/cm2 Đây là khu vực rất thuận lợi cho phát triển các công trình xây dựng tậptrung Do vậy nhiệt độ vào mùa hè thường cao hơn các vùng khác.Vùng bán đảo ĐồSơn: có nhiều đồi núi nhô ra biển, cao trình tự nhiên trung bình 6-7m, có nhữngđiểm cao lên đến +66m đến +125m Nền đất có tải trọng tự nhiên trung bình0.9kg/cm2 Đây là vùng có tiềm năng phát triển các công trình kiến trúc phù hợp vớithế tự núi hướng biển, thuận lợi cho phát triển du lịch leo núi mạo hiểm Đảo HònDấu là một khu rừng sinh thái, là điểm có tiềm năng phát triển du lịch tắm biển kếthợp với tham quan khu sinh thái biển đảo

Trang 39

Hình 2.1 Bản đồ hành chính quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

Trang 40

Diện tích đất bằng thuộc phường Bàng La và phường Minh Đức, phườngHợp Đức có độ cao trình trung bình tự nhiên 2,0-2,8m Nền đất trọng tải tự nhiêntrung bình 0.3kg/cm2 Đây là vùng có nhiều tiềm năng đất đai, mặt bằng phù hợpvới nhu cầu đô thị hóa, phát triển đô thị và công trình công cộng Diện tích mặtnước “vùng bãi bồi phía Tây Nam trông ra cửa sông Văn Úc”thuộc địa bàn phườngVạn Sơn và phường Vạn Hương có thể san lấp cải tạo để đầu tư phát triển các khudịch vụ nghỉ dưỡng, sinh thái biển.

Khí hậu, thủy văn:Nằm ở vùng ven biển, quận Đồ Sơn thuộc tiểu vùng sinh

thái duyên hải đồng bằng Bắc Bộ nên chịu ảnh hưởng của chế độ nhiệt đới gió mùanóng ẩm, mưa nhiều Lượng mưa trung bình mùa khô: 262,1 mm từ tháng 11 đếntháng 4, lượng mưa trung bình mùa mưa: 1.478,4 mm từ tháng 5 đến tháng 10.Nhiệt độ trung bình 21.60C, nhiệt độ cao nhất bình quân là 35.00C; nhiệt độ thấpnhất bình quân là 6.50C Vùng trung tâm do bị chặn bởi các dãy núi nên vào mùa hènhiệt độ thường cao hơn so với các vùng ven biển

Hướng gió: mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 9), hướng gió chủ đạo là Đông vàĐông Nam, mùa đông (từ tháng 9 đến tháng 4) hướng Đông và Đông Bắc Vận tốc giótrung bình 3,5m/s, lớn nhất 45-50m/s Chế độ thủy văn phụ thuộc vào nước thủy triều,sóng biển và mực nước sông Cấm, sông Văn Úc Mực nước cao nhất: +4.44m; thấpnhất +06m Vào mùa mưa, bão sóng biển dâng cao có thể làm ảnh hưởng các công trình

hạ tầng do địa hình nhô ra sát biển.Đồ Sơn có tới 22.5 km bờ biển giáp với Vinh Bắc

Bộ, là địa phương chịu ảnh hưởng trực tiếp của BĐKH, nước biển dâng Vì vậy, trongthời kỳ quy hoạch cần phải đặc biệt quan tâm đến các giải pháp phòng chống thiên tai,thích ứng với tác động xấu của hiện tượng BĐKH và nước biển dâng

Tài nguyên biển:Nguồn nước biển với độ mặn trung bình và ổn định ở vùng

biển Đồ Sơn có thể phát triển nghề sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản Ngư trườngvùng biển Đồ Sơn có gần 1000 loài tôm, cá và hàng chục loài rong biển có giá trị kinh

tế cao như cá thu, cua bể, sò huyết có thể khai thác để tiêu thụ tại thị trường trong nước

và xuất khẩu.Vùng biển Đồ Sơn nằm ở vị trí trung tâm vịnh Bắc Bộ, gần các ngưtrường lớn là Bạch Long Vỹ, Long Châu, Cát Bà.Tại vùng biển ven bờ vừa

Ngày đăng: 27/10/2020, 19:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w