ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIKHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN TẠI HUYỆN... ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN TẠI HUYỆN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN TẠI HUYỆN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thựchiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Văn Cự, không sao chép cáccông trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từngđược công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, đượctrích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hương
i
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp
đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để hoànthành bài luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS.Phạm Văn Cự đã trực tiếphướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý, chỉ bảo ân cần của các thầy, cô giáo Khoacác khoa học liên ngành - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cát Hải,
Ủy ban nhân dân xã Phù Long, Ủy ban nhân dân xã Xuân Đám đã tạo điều kiện vàgiúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn
Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện về mọimặt cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu 5
1.2 Tổng quan về đánh giá khả năng thích ứng và đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng cư dân ven biển 10
1.2.1 Sinh kế vùng ven biển và thích ứng với biến đổi khí hậu 10
1.2.2 Tổng quan về phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu 14
CHƯƠNG 2 KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Cát Hải 16
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 16
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 17
2.2 Biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu tại huyện Cát Hải 20
2.2.1 Diễn biến các yếu tố khí hậu 20
2.2.2 Dự báo theo kịch bản biến đổi khí hậu huyện Cát Hải 24
2.3 Tác động và tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đến huyện Cát Hải 33
2.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu tới các lĩnh vực 33
2.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của người dân 40
2.4 Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào bộ chỉ số 42
2.5 Phương pháp xây dựng bộ chỉ số đánh giá khả năng tổn thương và thích
iii
Trang 6ứng với biến đổi khí hậu huyện Cát Hải 45
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53
3.1 Kết quả đánh giá khả năng tổn thương và thích ứng với biến đổi khí hậu tại các xã ven biển huyện Cát Hải 53
3.1.1 Kết quả đánh giá mức độ nhạy cảm 53
3.1.2 Kết quả đánh giá khả năng thích ứng 56
3.1.3 Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế 60
3.2 Kết quả đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu tại các xã Phù Long, Xuân Đám từ điều tra định tính 62
3.2.1 Tại xã Phù Long 62
3.2.2 Tại xã Xuân Đám 70
3.2.3 Nhận xét và khuyến nghị chính sách 77
3.3 Đánh giá năng lực thích ứng của cộng đồng ven biển huyện Cát Hải 79
3.3.1 Nguồn lực tự nhiên 80
3.2.2 Nguồn lực tài chính 81
3.3.3 Nguồn lực xã hội 83
3.3.4 Nguồn lực con người 85
3.3.5 Nguồn lực vật chất, cơ sở hạ tầng 86
3.3.6 Các hoạt động tự thích ứng 88
3.3.7 Phân tích các chính sách thích ứng 88
3.4 Đề xuất giải pháp ứng phó, thích ứng – giảm nhẹ với biến đổi khí hậu 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7Biến đổi khí hậu
Phương pháp luận phân tích năng lực và khả năng bị tổn thương
Chỉ số mức độ phơi nhiễm
Tổng cục thống kê Việt Nam
Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Các ngành và đối tượng chịu tác động của biến đổi khí hậu tại vùng
ven biển và hải đảo Việt Nam [5] 6Bảng 1 2 Khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của biến
đổi khí hậu [4] 13Bảng 2 1 Tổng hợp đặc trưng nhiệt độ trung bình nhiều năm giai đoạn 1961-
2015 22
Bảng 2 2 Xu thế đặc trưng mưa và so sánh giữa thời kỳ 2006-2015 với
1961-2004 tại các trạm đo mưa ở huyện Cát Hải và lân cận 23Bảng 2 3 Số lần xuất hiện mực nước dâng do bão gây ra 24Bảng 2 4 Tần suất xuất hiện mực nước dâng do bão gây ra 24Bảng 2 5 Mức tăng nhiệt độ (0C) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 Cát
Hải 25Bảng 2 6 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo các
kịch bản 25Bảng 2 7 Mực NBD (cm) trung bình huyện Cát Hải theo các kịch bản 26Bảng 2 8 Thống kê số lượng ATNĐ và bão thời kỳ 1986 –2015 ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến huyện Cát Hải 29Bảng 2 9 Đặc trưng nắng nóng từ 1996-2015 theo số liệu quan trắc tại trạm Hòn
Dấu 30Bảng 2 10 Bộ chỉ số đánh giá khả năng thích ứng và khả năng tổn thương
huyện Cát Hải 47Bảng 3 1 Kết quả chỉ số đánh giá mức độ nhạy cảm với BĐKH năm 2006 và
2016 huyện Cát Hải 56Bảng 3 2 Kết quả chỉ số đánh giá khả năng thích ứng với BĐKH năm 2006 và
2016 huyện Cát Hải 57Bảng 3 3 Kết quả chỉ số đánh giá mức độ tổn thương sinh kế năm 2006 và 2016 60Bảng 3 4 Tác động của thời tiết đối với nuôi trồng thủy sản tại xã Phù Long 63Bảng 3 5 Hoạt động trồng rau tại xã Xuân Đám 70
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Khung đánh giá tính tổn thương với BĐKH của IPCC [1] 8
Hình 1 2 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển 11
Hình 2 1 Xu thế biến động nhiệt độ trung bình năm và so sánh 2006-2015 với 1961-2005 tại trạm KT Hòn Dấu 21
Hình 2 3 Xu thế mực nước trung bình và so sánh mực nước trung bình đo tại trạm Hòn Dấu qua các năm từ 1961 – 2015 23
Hình 2 4 Kịch bản BĐKH về nhiệt độ trung bình năm tại Cát Hải 25
Hình 2 5 Kịch bản BĐKH về mức tăng lượng mưa năm ở Cát Hải 26
Hình 2 6 Bản đồ nguy cơ ngập theo kịch bản phát B2 năm 2030 ứng với NBD trung bình và cao tại huyện Cát Hải 27
Hình 2 7 Biểu đồ diện tích ngập ứng với các kịch bản NBD (B2) 28
Hình 2 8 Biểu đồ thống kê các đặc trưng nắng nóng từ 1996-2015 xảy ra ở Cát Hải 31 Hình 2 9 Khung xây dựng chỉ số thích ứng với Biến đổi khí hậu [24] 43
Hình 2 10 Khung xây dựng bộ chỉ số đánh giá khả năng tổn thương 46
và thích ứng ở các xã ven biển huyện Cát Hải 46
Hình 3 1 Mức độ nhạy cảm sinh kế với BĐKH tính cho 2006 của các xã trong huyện 53 Hình 3 2 Mức độ nhạy cảm sinh kế với BĐKH tính cho 2016 của các xã trong huyện 54 Hình 3 3 Bản đồ mức độ nhạy cảm với Biến đổi khí hậu huyện Cát Hải năm 2006 và 2016 54
Hình 3 4 Khả năng thích ứng với BĐKH tính cho 2006 của các xã trong huyện 58
Hình 3 5 Khả năng thích ứng với BĐKH tính cho năm 2016 của các xã trong huyện 58 Hình 3 6 Bản đồ khả năng thích ứng với Biến đổi khí hậu huyện Cát Hải năm 2006 và 2016 59
Hình 3 7 Các chỉ số nhạy cảm và thích ứng xã Phù Long năm 2006 và 2016 61
Hình 3 8 Các chỉ số nhạy cảm và thích ứng xã Xuân Đám năm 2006 và 2016 62
Hình 3 9 Bản đồ vị trí xã Phù Long và Xuân Đám 65
Hình 3 10 Kết quả phỏng vấn 42 hộ dân xã Xuân Đám 74
ix
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hải Phòng là thành phố cảng biển, là đầu mối giao thông quan trọng giao lưukinh tế trong nước và quốc tế, có vị trí chiến lược quan trọng trong việc phát triểnkinh tế và an ninh quốc phòng của cả nước Thành phố có tổng diện tích tự nhiên là1.523 km2, diện tích mặt nước biển là 4.000 km2, đường bờ biển dài trên 125 kmvới khoảng 360 hòn đảo lớn nhỏ Địa hình của Hải Phòng rất đa dạng, hệ thốngsông ngòi chiếm 20,1% diện tích toàn thành phố với 5 cửa sông chính đổ ra biển.Bên cạnh những lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên, hiện nay thành phốcũng đang phải đối mặt với những thách thức do tác động của biến đổi khí hậu, suythoái môi trường
Huyện Cát Hải là một trong những đơn vị hành chính ven biển của thành phốHải Phòng, một địa bàn chiến lược có tầm quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh,quốc phòng ở vùng duyên hải Bắc Bộ nước ta Trong chiến lược phát triển kinh tếcủa thành phố, Cát Hải nằm trong vùng trọng điểm kinh tế, có cảnh quan thiênnhiên hấp dẫn đầu tư phát triển dịch vụ, du lịch Những năm gần đây do ảnh hưởngcủa nước biển dâng đã làm tăng xói lở đường bờ biển, bão lụt, nhiễm mặn gây rathiệt hại và rủi ro đến đời sống kinh tế xã hội và nguồn lợi ven biển
Xói lở làm ảnh hưởng 16,1 km trên tổng số 125 km bờ biển tại Hải Phòng vàxói sạt diễn biến phức tạp tại khu vực đảo Cát Bà và một số xã thuộc huyện Cát Hải,ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng dân cư do người dân sống chủ yếu nhờ vàonguồn tài nguyên tại chỗ Các hiện tượng thời tiết cực đoan (mưa kéo dài và bão )tái biến thiên nhiên thường xuyên xảy ra phức tạp đã ảnh hưởng tới các hoạt độngsản xuất và sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển [33] Vấn đề mà các cơ quanchức năng, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư quan tâm là khả năng thích ứng vớibiến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư tại đây có đủ để giảm nhẹ tính dễ bị tổnthương do biến đổi khí hậu gây ra không? Một cách cụ thể hơn, vấn đề được đặt ra
là sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội giữa các xã, sự khác biệt này cóảnh hưởng đến khả năng thích ứng của các xã hay không?
Với các nhận thức như vậy, học viên đã chọn nghiên cứu đề tài: Đánh giá
khả
Trang 11năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư ven biển tại một số xã huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng cho luận văn.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư venbiển tại huyên Cát Hải, thành phố Hải Phòng
3 Đối tượng nghiên cứu
Các tác động của biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng của cộng đồng dân
cư ven biển
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trong phạm vi 02 xã ven biển thuộc huyệnCát Hải, thành phố Hải Phòng, xác định mức độ ảnh hưởng và đề xuất giải phápứng phó, thích ứng và giảm nhẹ để nâng cao tính chống chịu và tận dụng những ảnhhưởng tích cực của biến đổi khí hậu tại khu vực nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Dự kiến tiến hành luận văn từ tháng 3/2018 đến hết tháng9/2018, số liệu được hồi cứu trong các thập kỷ đã qua
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Tiếp cận liên ngành: Luận văn sử dụng một số khung lý thuyết và dữ liệu, số
liệu thuộc các chuyên ngành khác nhau Cụ thể là các lĩnh vực khí tượng, khí hậu,
sử dụng đất đai, sinh kế cộng đồng, kinh tế - xã hội…
Tiếp cận hệ thống: Luận văn nghiên cứu quan hệ mang tính hệ thống giữa tác
động của biến đổi khí hậu, tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng của cộngđồng dân cư các xã huyện đảo Cát Hải, Hải Phòng
Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Tổng quan tài liệu: Học viên tiến hành thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp
nhằm đưa ra được một cái nhìn tổng quan về Biến đổi khí hậu, về sinh kế bền vững
và các phương pháp đánh giá khả năng bị tổn thương và khả năng thích ứng củacộng đồng dân cư vùng ven biển trên thế giới và Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận văn sử dụng các phương pháp
phân tích thống kê để phân tích các thông số kỹ thuật về khí tượng thủy văn để đánh
2
Trang 12giá sự thay đổi của khí hậu trong vòng 30 năm và phân tích các số liệu về điều traNông nghiệp nông thôn cấp nông hộ ở huyện Cát Hải trong vòng 10 năm để đánhgiá sự thay đổi các loại hình sinh kế và tính toán các chỉ số đưa vào đánh giá khảnăng thích ứng của cộng đồng dân cư.
Phương pháp nghiên cứu định tính: Luận văn cũng sử dụng các phương
pháp nghiên cứu định tính gồm các công cụ như quan sát tham dự, phỏng vấn sâutrực tiếp các cá nhân trong ban lãnh đạo xã, đại diện các hộ gia đình để thấy đượccảm nhận các tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu tới người dân và cách thứcứng phó của người dân với biến đổi khí hậu
+ Tham quan thực địa: Đã tiến hành khảo sát việc trồng rau của người dân xãXuân Đám và đầm nuôi trồng thủy sản kết hợp với rừng ngập mặn của người dân xã PhùLong Thông qua việc lấy ý kiến của người dân đã thu thập được các tư liệu phục vụ choviệc phân tích các mô hình, thu thập được hình ảnh, lời dẫn của người
dân, các ưu nhược điểm và đưa ra được các khuyến nghị
+ Họp nhóm cộng đồng: Có sự tham gia của cán bộ xã và đại diện các nhómsinh kế
+ Phỏng vấn sâu cán bộ xã: Tại mỗi xã, Chủ tịch Hội phụ nữ, hội nông dân, cán bộ địa chính được phỏng vấn sâu với các câu hỏi liên quan
+ Phỏng vấn người dân: Các thông tin đánh giá về năng lực thích ứng vớiBĐKH của người dân địa phương được thực hiện tại 02 xã (20 mẫu cho xã Xuân Đám
và 20 mẫu cho xã Phù Long); Lựa chọn một số hộ điển hình tham gia mô hình trồng rautại xã Xuân Đám và nuôi trồng thủy sản tại xã Phù Long (9 hộ gia đình đang tiến hànhsinh kế trồng rau tại xã Xuân Đám; 10 hộ gia đình nuôi trồng thủy sản tại xã Phù Long)
Phương pháp đánh giá khả năng bị tổn thương và khả năng thích ứng đối với biến đổi khí hậu: Dựa trên việc tổng quan các phương pháp đánh giá khả năng
bị tổn thương và khả năng thích ứng đối với biến đổi khí hậu đang được áp dụngtrên thế giới và Việt Nam, nghiên cứu lựa chọn một phương pháp đánh giá phù hợpvới khu vực huyện đảo
Trang 136 Ý nghĩa và thực tiễn của đề tài
- Đánh giá diễn biến của thời tiết, khí hậu trong những năm gần đây tại huyện Cát Hải và tại 02 xã nghiên cứu
- Đánh giá được những tác động của biến đổi khí hậu đối với cộng đồng dân
cư ven biển tại địa bàn nghiên cứu
- Xây dựng được bộ chỉ đánh giá khả năng tổn thương và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng 10 xã nông thôn huyện Cát Hải
- Đánh giá chuyên sâu khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộngđồng dân cư ven biển của 02 xã (tìm hiểu các biện pháp thích ứng mà người dân đang ápdụng)
- Cung cấp các cơ sở thực tiễn phục vụ khuyến nghị và đề xuất các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ với biến đổi khí hậu
7 Những đóng góp của đề tài
- Đánh giá hiện trạng của biến đổi khí hậu đang diễn ra tại địa phương vàcộng đồng dân cư ven biển, qua đó đề xuất những giải pháp ứng phó để thích ứng phù hợp với thực tế như:
- Đề xuất bổ sung, sửa đổi những chính sách gắn liền với thích ứng về biến đổi khí hậu
- Xây dựng năng lực thích ứng cho cộng đồng dân cư gắn với bối cảnh thực
tế về biến đổi khí hậu, như: thích ứng trong hoạt động sản xuất của hộ dân, kiến thức, kỹnăng trong việc ứng phó biến đổi khí hậu
- Đề xuất các khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư ven biển
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn được cấu trúc gồm phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và
3 chương với nội dung như sau:
Chương 1 Tổng quan và cơ sở lý luận
Chương 2 Khu vực nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Một số khái niệm:
Biến đổi khí hậu (BĐKH) được định nghĩa bởi Ban liên chính phủ về BĐKH
(IPCC) là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sựbiến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trongmột thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể
do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thườngxuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấutạo của khí quyền [2] Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu là: Nhiệt độ trung bìnhnăm tăng; sự biến đổi và độ khác thường của thời tiết và khí hậu tăng; Nước biểndâng do băng tan từ các cực Trái đất và các đỉnh núi cao; Các hiện tượng cực đoancủa thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại, bão, lũ lụt, hạn hán, v.v…) xảy ra với tầnsuất cao hơn, cường độ và độ khác thường lớn hơn [3]
Các khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu là cácđảo nhỏ, các vùng châu thổ của các con sông lớn, dải ven biển và vùng núi Cộngđồng dễ bị tổn thương nhất bao gồm: nông dân, ngư dân, các dân tộc thiểu số ởmiền núi, người già, phụ nữ, trẻ em và các tầng lớp nghèo nhất ở đô thị là nhữngđối tượng ít có cơ hội lựa chọn [2] Những tác động trên cho thấy biến đổi khí hậu
là vấn đề phát triển quan trọng hiện nay Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng lớn đến sựphát triển kinh tế-xã hội của tất cả các quốc gia và mọi nỗ lực phát triển của conngười đều đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi biến đổi khí hậu Do phụ thuộc trực tiếpvào các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm với biến đổi khí hậu, nông nghiệp
sẽ là ngành dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu Sự gia tăngnhiệt độ và các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ làm cho các khu vực thích hợp vớisản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, độ dài của mùa sinh trưởng bị rút ngắn, từ đó năngsuất nông nghiệp có thể bị giảm sút trên toàn thế giới, đặc biệt tại các vùng nhiệtđới, ngay cả khi có những thay đổi trong tập quán canh tác
động của biến đổi khí hậu là các đảo nhỏ, các vùng châu thổ của các con sông lớn,
Trang 15dải ven biển và vùng núi, trong đó vùng ven biển là khu vực sẽ bị tổn thương nhiềunhất Các vùng duyên hải ngày càng có nhiều nguy cơ bị ảnh hưởng bởi bão, ngậplụt, xâm thực bờ biển và những ảnh hưởng này đều có nguy cơ gây ra những tácđộng mang tính thảm họa và không thể đảo ngược [4].
Bảng 1.1 Các ngành và đối tượng chịu tác động của biến đổi khí hậu tại vùng
ven biển và hải đảo Việt Nam [5]
Các tác động của biến Ngành chịu tác động của biến Đối tượng dễ bị tổn
- Mực nước biển dâng; - Nông nghiệp và an ninh - Nông dân và ngư
- Gia tăng bão và áp thấp lương thực dân nghèo ven biển
- Gia tăng lũ lụt và sạt lở - Giao thông vận tải phụ nữ
đất (Trung Bộ) - Xây dựng, hạ tầng, phát triển
đô thị/nông thôn
- Môi trường/tài nguyênnước/đa dạng sinh học
- Y tế, sức khỏe cộng đồng/cácvấn đề xã hội khác
- Kinh doanh dịch vụ, thươngmại và du lịch
Tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu: Khái niệm về tính dễ bị
tổn thương do biến đổi khí hậu đã được đưa ra từ nhiều nghiên cứu, nhưng đượcxem xét một cách đầy đủ nhất, bao trùm nhất là định nghĩa của Ủy ban Liên chínhphủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2001): tính tổn thương là “mức độ một hệ thống tựnhiên hay xã hội bị thay đổi trạng thái ban đầu theo hướng xấu đi dưới tác động bấtlợi của BĐKH dẫn đến không thể ứng phó với các tác động bất lợi do BĐKH (baogồm các hình thái thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu” Để định lượng tính tổnthương do BĐKH, IPCC đã chỉ rõ tính tổn thương (V) là một hàm số của 3 yếu tốsau: (i) mức độ phơi nhiễm của hệ thống trước các tác động bất lợi của BĐKH(Exposure - E); (ii) mức độ nhạy cảm của hệ thống trước những thay
6
Trang 16đổi của khí hậu (Sensitivity - S); (iii) năng lực thích ứng với BĐKH (AdaptiveCapacity - AC).
Đến Báo cáo Thứ 4 (FAR), định nghĩa tính tổn thương được phát triển và nêu
cụ thể hơn so với Báo cáo Thứ 3 IPCC nhấn mạnh chỉ số tính tổn thương là mộtchỉ số tổng hợp của nhiều yếu tố thành phần Tính tổn thương phụ thuộc vào haiyếu tố là (1) yếu tố tự nhiên: các tác động liên quan đến thay đổi khí hậu và thời tiết;(2) yếu tố con người: các tác động do con người tạo ra Chỉ số tổn thương tổng hợpphải phản ánh được tính tổn thương về kinh tế (economic vulnerability), tổnthương về môi trường (environmental vulerability) và tổn thương về xã hội (social
vulnerability) [6] Trong đó các yếu tố liên quan đến tính tổn thương về xã hội như
giảm nghèo, đa dạng hóa sinh kế, bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạtđộng đa dạng hóa sinh kế, bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạt độngcủa tập thể ngày càng quan trọng vì chúng liên quan trực tiếp đến năng lực ứng phóvới BĐKH IPCC cũng nêu rõ tính tổn thương do BDKH phụ thuộc vào nhiều địađiểm khảo sát và quy mô đánh giá
Đến năm 2010, tác giả Armitage và Plummer cũng đưa đánh giá khả năng bịtổn thương của con người trước tác động của biến đổi khí hậu phụ thuộc vào 4 yếu
tố sau [7] : (i) Bản chất và độ lớn của biến đổi khí hậu, (ii) Mức độ phụ thuộc củacon người vào các nguồn lực nhạy cảm với biến đổi khí hậu (bao gồm nguồn lực tựnhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực con người, nguồn lực xãhội), (iii) Mức độ nhạy cảm của các nguồn lực này trước tác động của biến đổi khíhậu, và (iv) Năng lực thích ứng của con người trước những thay đổi của các nguồnlực nhạy cảm với biến đổi khí hậu
Như vậy áp dụng quan điểm lý thuyết của IPCC và được nhiều nhà khoa học
áp dụng trong đánh giá, mối quan hệ của chỉ số tính tổn thương với các chỉ số thànhphần có thể viết ngắn gọn lại theo mối quan hệ toán học là:
VI = f(E,S,AC).
Trang 17Mức độ nhạy cảm (S) được xác định là mức độ mà hệ thống phản ứng lại một
sự thay đổi của khí hậu (bao gồm cả sự thay đổi bất lợi hoặc có lợi của khí hậu)
Năng lực thích ứng (AC) được xác định là mức độ mà các điều chỉnh
của hệ thống có thể làm giảm nhẹ khả năng gây tổn thương do BĐKH hoặc
bù đắp các thiệt hại do BĐKH gây ra hoặc tận dụng các cơ hội do tác động
tích cực của BĐKH đem lại.
Hình 1.1 Khung đánh giá tính tổn thương với BĐKH của IPCC [1]
Thích ứng với biến đổi khí hậu: Thích ứng với BĐKH là “sự điều chỉnh hệ
thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục
đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động hoặc biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc
tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [2] Thích ứng với biến đổi khí hậu từ
trước đến nay vẫn được coi là mối quan tâm thứ yếu của các chương trình quốc tế về
xóa đói giảm nghèo, bởi vì giảm nhẹ biến đổi khí hậu mới được coi là yêu cầu bắt buộc
và cấp bách vì nó quyết định triển vọng tránh được các hiểm họa của biến đổi khí hậu
trong tương lai để hướng tới một xã hội ít các bon Tuy nhiên, đối với các cộng đồng
dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu thì thích ứng lại là một nhiệm vụ cấp thiết [8]
Mục tiêu của thích ứng là nâng cao năng lực thích ứng và giảm nhẹ khả năng dễ bị tổn
Trang 18thương do tác động biến đổi khi hậu, góp phần duy tài các hoạt động kinh tế xã hội củađịa phương tiến đến phát triển bền vững [5] Người nghèo và những người dễ bị tổn
8
Trang 19thương trước tác động của biến đổi khí hậu cần được hỗ trợ để tăng cường nănglực thích ứng với biến đổi khí hậu.
Như vậy, thích ứng bao gồm những hoạt động điều chỉnh trong các hệ thống tựnhiên và con người để đối phó với những tác động có thể có của biến đổi khí hậu, làmgiảm bớt sự nguy hại hoặc khai thác những cơ hội có lợi từ biến đổi khí hậu Các hoạtđộng thích ứng được thực hiện nhằm giảm thiểu khả năng bị tổn thương, là hợp phầntrong đánh giá tổn thương Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu là cơ sởkhoa học quan trọng để xây dựng các chiến lược thích ứng BĐKH hiệu quả
- Thích ứng dựa vào cộng đồng được tổ chức CARE (2009) đưa ra trong
cẩm nang phân tích năng lực và thích ứng với biến đổi khí hậu [9], đó là một quá trình docộng đồng xây dựng và làm chủ dựa vào các ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng củacộng đồng Mục đích của quá trình này là nâng cao khả năng của cộng đồng trong việclập kế hoạch và thực hiện các biện pháp ứng phó với tác động của BĐKH Thông quaphương pháp tiếp cận có sự tham gia, kinh nghiệm của cộng đồng trong việc quản lý tàinguyên thiên nhiên theo hướng có hiệu quả Các mô hình thích ứng thân thiện với môitrường sẽ được khuyến khích phát triển bởi vì họ là người hiểu rõ nhất đặc điểm của địaphương mình Bên cạnh đó phương pháp này còn giúp đẩy mạnh việc thực hiện chínhsách theo cả hai chiểu từ trên xuống và từ dưới lên cũng như tăng cường khả năng củacán bộ địa phương về kỹ năng và ý thức phục vụ người dâncho công việc thực tiễn của
họ Từ đó bảo đảm tính bền vững của các chính sách cả về kinh tế, xã hội và môi trường
Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng để hướng tới cộng đồng, dựa vàonhững ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng của cộng đồng nhằm trao quyền cho
họ trong việc lập kế hoạch để ứng phó với những tác động của BĐKH Đồng thờithích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cố gắng tính đến tác động tiềm tàng củaBBĐKH lên sinh kế và giảm tình trạng đễ bị tổn thương với thiên tai bằng cách sửdụng tri thức bản địa và kiến thức khoa học về BĐKH và tác động có thể của nó.Hiện nay phương pháp thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng kế thừa và pháttriển dựa trên các phương pháp quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, pháttriển cộng đồng có sự tham gia hay các phương pháp cho từng ngành cụ thể như
9
Trang 20phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của người dân Các phương pháp mớicũng đưa vào áp dụng nhằm cùng cộng đồng phân tích nguyên nhân và hậu quả củaBĐKH, đồng thời kết hợp các số liệu khoa học và kiến thức bản địa về khí hậu đểđưa ra các giải pháp ứng phó.
1.2 Tổng quan về đánh giá khả năng thích ứng và đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng cư dân ven biển
1.2.1 Sinh kế vùng ven biển và thích ứng với biến đổi khí hậu
Khái niệm về sinh kế thường được sử dụng và trích dẫn trong các nghiêncứu sau này đều dựa trên ý tưởng về sinh kế của Chambers và Conway (1992),trong đó, sinh kế, theo cách hiểu đơn giản nhất, là phương tiện để kiếm sống Mộtđịnh nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway về sinh kế là: “sinh kế bao gồmkhả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của conngười” Một sinh kế là bền vững “khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năngphục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng vànguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợiích ròng cho các sinh kế khác ở cả cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn
và dài hạn” [10] Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cánhân, hộ gia đình, thôn, vùng… nhưng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình Theo quanđiểm của Chambers và Conway, sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép của 3yếu tố cơ bản là: khả năng, công bằng và bền vững Sau này, Scoones (1998) [11],
đã phát triển tính bền vững của sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế và điđến thống nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xãhội, môi trường và thể chế
Khung sinh kế bền vững được sử dụng như một công cụ để phân tích cácnguồn lực sinh kế được sử dụng, các chiến lược sinh kế được thực hiện từ việc sửdụng các nguồn lực sinh kế đó và các kết quả sinh kế đạt được từ việc thực hiện cácchiến lược sinh kế, từ đó đề xuất các sinh kế bền vững về kinh tế, xã hội và môitrường ở cấp hộ gia đình và cộng đồng Trong báo cáo của MARD năm 2008 [15],IMM đã sửa đổi tổng hợp các khung sinh kế bền vững được đưa ra của Scooner và
Trang 21DFID để áp dụng cho các cộng đồng ven biển Trong khung phân tích này, sinh kếcủa các hộ gia đ.nh ven biển chịu tác động của 3 nhóm yếu tố Các yếu tố thuộcnhóm thứ nhất bao gồm các nguồn lực sinh kế (5 loại nguồn lực) mà hộ gia đình sửdụng để thực hiện các chiến lược sinh kế Thuộc nhóm thứ hai là các yếu tố về đặcđiểm cá nhân (như tuổi tác, giới tính, tôn giáo ) và các yếu tố xã hội (như cơ cấuchính trị, chính sách, luật pháp…) bao quanh cộng đồng ven biển và có ảnh hưởngtrực tiếp đến cộng đồng ven biển Nhóm thứ ba bao gồm các yếu tố ảnh hưởng giántiếp như tính mùa vụ, thiên tai, xu hướng bên ngoài… Sự lựa chọn về chiến lượcsinh kế của cộng đồng ven biển dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quảcủa sự tương tác giữa 3 nhóm yếu tố cơ bản này
Hình 1 2 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển
11
Trang 22Khi xem xét các tác động hiện tại và tương lai của biến đổi khí hậu, có thểnhận thấy rằng, biến đổi khí hậu là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả năng bịtổn thương của sinh kế Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (ví dụ như mực nướcbiển dâng và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt) lên các nguồn lực tự nhiên (nhưđất, nước, thủy sản) và các nguồn lực vật chất (như đường sá, hệ thống thủy lợi,mạng lưới điện) là rất đáng kể Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở nênphức tạp cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vàoviệc các sinh kế này có bền vững trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trườnghay không mà còn dựa vào việc các sinh kế này có thể giảm nhẹ biến đổi khí hậuhoặc thích ứng với biến đổi khí hậu hay không [2, 16].
Sinh kế ven biển cũng được rất nhiều nghiên cứu đề cập đánh giá trong bối
cảnh Biến đổi khí hậu [4, 15, 17] Sự lựa chọn các chiến lược sinh kế của hộ giađình thường phụ thuộc vào những nguồn lực sinh kế mà hộ gia đình nắm giữ và cácyếu tố tác động từ bên ngoài như yếu tố mùa vụ, thời tiết, chính sách và thể chế tạiđịa phương Tại hầu hết các cộng đồng ven biển, với nguồn lợi hải sản phong phú,đánh bắt là một sinh kế chính Ngoài ra, các sinh kế khác cũng phụ thuộc vào đánhbắt như dịch vụ nghề cá, chế biến thủy hải sản và thương mại nghề cá Do đó,nguồn lợi thủy sản là một nguồn lực sinh kế quan trọng đối với cộng đồng ven biển.Bên cạnh đó nuôi trồng thủy sản đang dần dần trở thành một sinh kế thay thế mặc
dù hoạt động nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát thường gây ra các tác động môitrường và không khả thi đối với các hộ nghèo Nông nghiệp cũng đóng vai trò quantrọng trong việc tạo việc làm và đảm bảo an ninh lương thực ở nông thôn, nhưngtrong một số trường hợp, người dân không có khả năng tiếp cận với việc sử dụngđất, đặc biệt đối với các đảo nhỏ vùng ven biển Một số ngành dịch vụ như buônbán nhỏ, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, cũng từng bước được hình thành vàphát triển ở các cộng đồng ven biển Tất cả những ảnh hưởng của biến đổi khí hậulên sinh kế ven biển được tổng hợp theo bảng dưới đây:
Trang 23Bảng 1 2 Khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển
trước tác động của biến đổi khí hậu [4]
Các tác động
Nguồn lực sinh kế Chiến lược sinh kế Kết quả sinh kế bị ảnh của biến đổi khí
bị ảnh hưởng bị ảnh hưởng hưởng hậu
Không thể thực hiệnMất đất canh tác được hoạt động trồng Sản lượng thu hoạch giảm
do ngập lụt trọt trên vùng đất bị Thu nhập giảm
ngập lụtKhông thể thực hiệnĐất nông nghiệp bị các hoạt động trồng Sản lượng thu hoạch giảmnhiễm mặn trọt trên đất bị nhiễm Thu nhập giảm
Cơ sở hạ tầng hiện
Các hoạt động nông Năng suất/sản lượng nôngtại (đê điều, hệ nghiệp, thuỷ sản giảm;
nghiệp, thủy sản, duthống thủy lợi, cầu doanh thu từ du lịch giảm
Tăng độ mặn của Hoạt động đánh bắt
Năng suất giảmnguồn nước và và nuôi trồng bị ảnh
Hoạt động nông Năng suất/sản lượng nông
Trang 24tầng hiện tại (đê nghiệp, thuỷ sản giảm;
nghiệp, thủy sản, duđiều, thủy lợi, doanh thu từ du lịch giảm
Trang 251.2.2 Tổng quan về phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu
Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu là đánh giá mức độ dễ bị
ảnh hưởng của một (các) đối tượng (các cộng đồng, khu vực, nhóm người hoặc hoạtđộng kinh tế - xã hội/ngành) dưới tác động của biến đổi khí hậu Mức độ dễ bị tổnthương của một đối tượng không chỉ phụ thuộc vào bản chất của biến đổi khí hậu màcòn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của đối tượng đó Kết quả đánh giá tổn thương
có thể được thể hiện trên ma trận hoặc các bản đồ tổn thương chỉ ra các vùng/khu vực
và nhóm dân cư có khả năng dễ bị tổn thương cao do biến đổi khí hậu
Theo IPCC [18], các phương pháp đánh giá tính DBTT nhìn chung được chiathành 02 nhóm chính (i) Tuyệt đối hoá và (ii) Tương đối hoá mức độ tổn thươngđánh giá mức độ tổn thương tuyệt đối hoá, tất cả các mối ràng buộc đều được môhình hoá và kết quả đạt được là mức độ tổn thương được thể hiện bằng tiền Cáchtiếp cận này mang tính minh bạch cao bởi định lượng được mức độ tổn thươngbằng tiền, tuy nhiên tồn tại nhiều nguy cơ sai số vì rất khó xây dựng được tất cả các
mô hình sát với thực tế Hơn nữa, khối lượng công việc sẽ rất lớn khi mức độ tổnthương tổng quát do nhiều hiện tượng cùng gây ra Theo cách tương đối hóa, mức
độ tổn thương được đánh giá bằng cách liệt kê các yếu tố gây tổn thương (xâydựng bộ chỉ thị); cho điểm theo một thang định sẵn; tổng hợp lại bằng cách sử dụngtrọng số cho từng chỉ thị Kết quả đạt được là một giá trị định tính (điểm trung bình)chứ không được qui đổi ra thành tiền Khó khăn lớn nhất trong phương pháp này làxây dựng thang điểm và xác định các trọng số cho từng chỉ thị; kết quả tính toánthường gây tranh cãi về tính thuyết phục Tuy nhiên, cách tiếp cận này vẫn được sửdụng rộng rãi bởi cung cấp bức tranh tổng quát mang tính so sánh tương đối giữacác vùng [19]
Song song với hai nhóm phương pháp trên là hai cách tiếp cận đánh giá tính dễ bịtổn thương: tiếp cận từ trên xuống và tiếp cận từ dưới lên Tiếp cận từ trên xuống tậptrung đánh giá các rủi ro khí hậu trong dài dạn như vài thập kỷ và thường đến 2100 vàthường dựa trên các kịch bản BĐKH Tiếp cận từ dưới lên dựa trên dựa trên các chiếnlược đối phó của địa phương, công nghệ và kiến thức bản địa, năng
14
Trang 26lực và khả năng đối phó của cộng đồng và chính quyền trước các dao động khí hậuhiện tại Đối với cách tiếp cận này, nhiều nghiên cứu sử dụng định nghĩa về mức độBĐKH, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng để định lượng TTDBTT Hầu hết cáckhung và phương pháp đánh giá tính DBTT được sử dụng tại Việt Nam đều theocách tiếp cận từ dưới lên [19].
Trang 27CHƯƠNG 2 KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Cát Hải.
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện có 12 đơn vị hành chính, trong đó có 2 thị trấn Cát Bà, Cát Hải và các
xã Đồng Bài, Nghĩa Lộ, Văn Phong, Hoàng Châu, Phù Long, Trân Châu, XuânĐám, Việt Hải, Gia Luận, Hiền Hào
Địa hình Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi và một số đồi đất thấp xen kẽ nhiềuthung lũng lớn nhỏ, rừng núi chiếm 2/3 diện tích
2.1.1.2 Tài nguyên, môi trường
Địa hình
Địa hình chủ yếu tại quần đảo Cát Bà là địa hình Karst nhiệt đới bị ngập chìm
do biển tiến Điều này đã tạo nên cảnh quan độc đáo, nhiều dạng địa hình đặc biệtnhư đảo đá, hang động, đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái, các loại độngthực vật phong phú Đảo chính Cát Bà rộng khoảng 144km2, chỗ cao nhất 331m, làđảo đá vôi lớn nhất trong hệ thống quần đảo phía Nam vịnh Hạ Long và vùng ven
bờ Tây biển Đông Trên đảo có các thung lũng Karst và nhiều hang động nổi tiếngnhư: Hoa Cương, Trung Trang, Quân Y, Áng Mả, Phù Long, Quả Vàng, v.v
Thổ nhưỡng
Đất của huyện đảo Cát Hải gồm: 1) Đất Feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôivới diện tích 4.482,2 ha, có nhiều tại các xã Trân Châu, Gia Luận, Việt Hải; 2) ĐấtFeralit nâu đỏ với diện tích: 900,2 ha, phân bố hầu hết các xã trong quần đảo, đấtthích hợp trồng cây ăn quả như Cam, Quýt, Nhãn Vải; 3) Đất Feralit nâu vàng pháttriển từ các sản phẩm phong hóa đá vôi dốc tụ hỗn hợp, diện tích: 1.001,5 ha; 4) Đấtdốc tụ thung lũng, khoảng 342,5 ha, đã được khai phá trồng lúa và hoa màu; 5) Đấtmặn Sú vẹt, diện tích: 826,7 ha, tập trung chủ yếu vùng Cái Viềng, Phù Long và rải
16
Trang 28rác ở vài nơi quanh đảo; 6) Đất bồi chua mặn, diện tích nhỏ, chỉ khoảng trên 40ha,phân bố ở xã Xuân Đám về phía biển Phân theo mục đích sử dụng thì Cát Hải cócác loại nhóm đất, gồm: đất đồi, núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên với 32.311,3ha;đất nông nghiệp: 375ha; đất lâm nghiệp: 171.34ha, đất chuyên dùng 620,4ha; đất ở360ha và đất chưa sử dụng 10.821ha.
Đa dạng sinh học và các hệ sinh thái chính:
Vườn quốc gia, Khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ) quần đảo Cát Bà là nơi có đadạng sinh học cao với sự đa dạng về loài, các hệ sinh thái và nguồn gen Khu DTSQ
có tổng diện tích 26.241ha (gồm phần đảo và phần biển), được chia thành 3 vùng:vùng Lõi, vùng Đệm và vùng Chuyển tiếp Các hệ sinh thái (HST) tiểu biểu, đặc thùgồm: HST rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi; HST rừng ngập mặn; HST vùngtriều; HST rạn san hô; HST hồ nước mặn; HST đáy mềm; HST hang động
Rừng nguyên sinh trên đảo đã thống kê được: 745 loài thực vật trong đó cónhiều dược liệu quả và 200 loài động vật trên cạn trong đó điển hình nhất là loàivoọc đầu trắng đặc hữu (voọc Cát Bà) Sinh vật biển thuộc vùng biển - đảo Cát Hảicũng rất phong phú, đa dạng, với trên 1.200 loài Vịnh Lan Hạ (Cát Bà) là mộttrong những vịnh biển đẹp nhất trong quần thể danh thắng vịnh Hạ Long
Hệ sinh thái rừng ngập mặn: phân bố chủ yếu ở khu vực xã Phù Long với
tổng diẹn tích là 775,98 ha và đuợc phân chia ra làm 2 loại: rừng ngạp mạn phân bốngoài khu đầm nuôi thủy sản và rừng ngạ p mạn phía trong khu đầm nuôi thủy sản.Các dải rừng ngập mặn ven đảo là ngôi nhà của hàng chục loài thủy sản, cung cấpthức ăn với nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như cua, tôm, cá, v.v
Với các giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học (ĐDSH), đảo Cát Bà nói riêng vàkhu DTSQ quần đảo Cát Bà được xem như lá phổi xanh của thành phố Hải Phòng,điển hình cho mô hình “phòng thí nghiệm học tập về phát triển bền vững”(UNESCO)
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội
2.1.2.1 Kinh tế
Trong khoảng 10 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của huyện Cát Hải đạt mứckhá GDP bình quân đầu người tăng hàng năm Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
Trang 2910,3% /năm, trong đó tốc độ tăng trưởng nhóm ngành nghề du lịch – dịch vụ tăngbình quân 11,7% /năm, công nghiệp – xây dựng tăng 12,3% /năm, nông lâm – thủysản tăng bình quân 2% /năm;
Cơ cấu giá trị sản xuất: Nhóm ngành du lịch-dịch vụ: 72,9%, nhóm ngànhcông nghiệp-xây dựng: 16,4%, nhóm ngành nông-lâm-thuỷ sản: 10,7% (2017)
Du lịch, dịch vụ:
Du lịch là lĩnh vực kinh tế chủ đạo, phát triển và hiện chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu kinh tế của huyện Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành du lịch đạt 6,6%/năm Khách du lịch đạt 2.160.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 477.500 lượt.Tổng doanh thu từ dịch vụ lưu trú ăn uống ước đạt 1.250 tỷ đồng (2017)
Hoạt động dịch vụ, thương mại phát triển với nhiều loại hình dịch vụ đa dạng, phongphú, hình thức kinh doanh linh hoạt, thị trường ổn định đáp ứng nhu cầu của nhân dân và
du khách Tổng mức luân chuyển hàng hóa bán lẻ ước đạt 1.060 tỷ đồng (2017)
Thủy sản:
Ngành nghề thủy sản phát triển cả về khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch
vụ Tổng sản lượng thủy sản đạt bình quân 9.970 tấn/năm Khai thác thủy sản chủyếu là khai thác ven bờ, sản lượng khai thác đạt bình quân 4.292 tấn/năm; nuôitrồng thủy sản bình quân đạt 5.678 tấn/năm Chế biến thủy sản phát triển với đadạng sản phẩm và chất lượng cao
Dịch vụ và cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển thủy sản cơ bản được hoàn thiện,
hệ thống các cảng biển, khu neo đậu tàu thuyền, các trung tâm dịch vụ hậu cần vàphát triển thủy sản được đầu tư nâng cấp đáp ứng được yêu cầu phát triển ngànhthủy sản trên vùng biển Cát Bà
Nông, lâm, diêm nghiệp:
Sản xuất nông nghiệp đã có sự phát triển tích cực theo hướng sản xuất hànghóa, ứng dụng khoa học kỹ thuật, chú trọng chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi cósản lượng và giá trị kinh tế cao Năm 2017, diện tích trồng lúa đạt 18 ha đạt 84% kếhoạch năm Diện tích trồng rau màu đạt 34 ha đạt 99% kế hoạch năm, v.v Giá trịsản xuất ngành trồng trọt tăng bình quân 2,8%/năm, sản lượng lúa bình quân đạt 81tấn/năm Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân 8,5 %/năm Cụ thể vào
18
Trang 30năm 2017, huyện có 15.000 con lợn, 5.000 con dê, 88.300 con gia cầm, 2.302 đànong, công tác thú y phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được quantâm Sản xuất muối: năng suất và diện tích giảm, hiệu quả thấp.
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Sản lượng nước mắm bình quân đạt 6.500.000 lít năm (2017), các doanhnghiệp đã đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình sảnphẩm mở rộng thị trường, v.v Tổng giá trị sản xuất bình quân đạt 147 tỷ đồng/năm.Sửa chữa tàu thuyền tăng trưởng khá, sản lượng sửa chữa tàu thuyền bìnhquân đạt 12.000 phương tiện/năm; sản lượng sản xuất nước đá bình quân đạt350.000 tấn năm 2017
Giao thông vận tải:
Năm 2017, vận chuyển hành khách của các doanh nghiệp vận tải đường bộ,đường thủy trên địa bàn huyện đạt: 2.969.000 lượt Trong đó vận chuyển kháchđường bộ ước đạt: 2.673.000 lượt, vận chuyển khách đường thủy ước đạt 296.000lượt Vận tải hàng hóa đường thủy ước đạt 78.000 lượt
2.1.2.2 Xã hội
Dân số, lao động và việc làm:
Dân số: 30.659 người (2016), tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 0,53%, cơ cấulao động được phân bổ như sau: du lịch – dịch vụ chiếm: 44%, công nghiệp – xâydựng chiếm 15,6%, nông lâm – thủy sản chiếm 13,5% Tỷ lệ lao động qua đào tạođạt 60%
Lao động và việc làm: Năm 2017, huyện đã mở 6 lớp đào tạo nghề cho lao độngnông thôn (210 học viên); tạo việc làm mới cho 3.150 lao động Tỷ lệ hộ nghèo là1,96%, cận nghèo là 2%
Văn hóa, Giáo dục, Y tế:
Văn hóa, thể thao: Trung tâm Văn hóa- Thể thao huyện đạt chuẩn, có nhiềuhoạt động văn hóa thể thao kết nối với các xã có hiệu quả Toàn huyện hiện có 40nhà văn hoá, trong đó 12 Nhà văn hóa xã, thị trấn, 28 nhà văn hóa tổ dân phố và có
33 công trình thể dục, thể thao, trong đó có 12 sân bóng chuyền, 12 sân cầu lông,hai sân tenis và 7 sân bóng đá Đài phát thanh huyện và các xã, thị trấn thực hiện
Trang 31tốt công tác truyền thông, xây dựng được 290 chương trình phát thanh Toàn huyệnhiện có 74 trạm thu phát sóng di động (BTS), 19 điểm kinh doanh dịch vụ internet.Giáo dục - Đào tạo: Toàn huyện có hai trường trung học phổ thông với chấtlượng đào tạo tốt, có 17 trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục ở cấp độ caonhất, giữ vững bảy trường đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng, tỷ lệ đỗtốt nghiệp đạt trên 96% Niên học 2016 – 2017, lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo đã có
15 sáng kiến khoa học – công nghệ được công nhận
Y tế: Bệnh viện huyện đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng 3 trở lên, trung tâm y tế huyệnđạt chuẩn quốc gia Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, y tế được tăng cường về số lượng vànâng cao về chất lượng: Toàn huyện có 6/12 trạm y tế xã và thị trấn đạt Bộ tiêu chí Quốcgia về y tế, 32 bác sỹ và 100% các thôn/ xóm có y tế thôn/ xóm Có 127 đơn vị và 2.584người tham gia bảo hiểm xã hội và 29.809 người tham gia bảo hiểm y tế
Tình hình thực hiện Chương trình Nông thôn mới:
Đến cuối năm 2017, huyện Cát Hải đã hoàn thiện hồ sơ báo cáo UBND Thànhphố xét, công nhận huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới năm 2017(riêng 4 xã trên đảo Cát Hải không tham gia chương trình Nông thôn mới vì thuộcvùng quy hoạch cảng Đình Vũ) Huyện đã kiện toàn Văn phòng điều phối Nôngthôn mới của huyện, đánh giá kết quả bước đầu thực hiện đề án phát triển Kinh tếnông thôn giai đoạn 2017 – 2020 Các xã của huyện Cát Hải đã được công nhận xãđảo (theo Quyết định 1859/QĐ-TTg ngày 23 tháng 11 năm 2017) Đây là cơ hộimới cho các xã sẽ được hưởng những chính sách ưu đãi trong phát triển KT-XHđối với xã đảo theo quy định của Luật biển Việt Nam và theo Quy hoạch phát triểnkinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020
2.2 Biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu tại huyện Cát Hải
2.2.1 Diễn biến các yếu tố khí hậu
Ở vị trí đặc thù của một huyện đảo, Cát Hải đã ghi nhận nhiều biến động trongcác yếu tố khí hậu trong vòng ba thập kỷ qua Kết quả tổng hợp các yếu tố nhiệt độ,lượng mưa, mực NBD, v.v được thu thập từ mạng lưới các trạm khí tượng thủy văntrên địa bàn huyện và lân cận
20
Trang 322.2.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình (NĐTB) năm trên địa bàn huyện Cát Hải có xu hướngtăng dần từ năm 1961 đến 2005 Trong hơn 50 năm nhiệt độ trung bình năm tăngkhoảng 0,70C, tuy nhiên, mức độ tăng của các thập kỷ khác nhau Tại trạm khítượng Hòn Dấu, trong 2 thập kỷ đầu (1966-1975, 1976-1985), NĐTB năm ít thayđổi và duy trì ở mức 23,4-23,50C, thấp hơn trung bình nhiều năm từ 0,3-0,40C; 2thập kỷ tiếp theo (1986-1995 và 1996-2005) nhiệt độ có xu hướng tăng mạnh lên0,30C/thập kỷ Nhưng từ năm 2006 đến 2015, nhiệt độ không tăng so với thập kỷtrước đó So sánh thập kỷ 2006-2015 với thời kỳ 1961-2005, NĐTB năm tăng0,40C với tỷ lệ tăng 1,68% (Hình 4)
Hình 2 1 Xu thế biến động nhiệt độ trung bình năm và so sánh 2006-2015 với
1961-2005 tại trạm KT Hòn Dấu
Nhiệt độ tăng giảm không đều giữa các mùa NĐTB trong các tháng mùa đông(từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) tại Hòn Dấu có xu thế tăng mạnhtrong hơn 5 thập kỷ qua (1961-2015) khoảng 0,80C, nhưng NĐTB tháng thấp nhất(tháng 1) lại tăng ít hơn, khoảng 0,30C Tuy nhiên, trong thập kỷ gần đây NĐTBtháng lại có xu hướng giảm rõ rệt; so với trung bình nhiều năm giảm 0,20C Nhiệt
độ mùa đông có xu hướng giảm trong thập kỷ gần đây do có một số mùa đông rétbất thường Nhưng nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối lại có xu thế tăng mạnh trong hơn
50 năm qua và trong thập kỷ gần đây so với 4 thập kỷ trước tăng 0,70C (Bảng 1).Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối tại Cát Hải cũng có xu thế tăng mạnh, đặc biệt làtrong 10 năm trở lại đây Nhiệt độ cao nhất trung bình trong thập kỷ 2006-2015 tăng0,40C (tăng khoảng 1,03%) so với hơn 4 thập kỷ trước đó (1961-2005)
Trang 33Bảng 2 1 Tổng hợp đặc trưng nhiệt độ trung bình nhiều năm
giai đoạn 1961-2015 Đặc
Hình 2 2 Xu thế lượng mưa năm và so sánh giữa thời kỳ 2006-2015
với 1961-2004 tại các trạm đo mưa ở huyện Cát Hải và lân cận
(Nguồn: Trung tâm KTTV quốc gia và Dự án READY, 2016)
Lượng mưa trung bình mùa khô (tháng 11- tháng 4) ở Cát Hải trong thập kỷgần đây có xu thế tăng mạnh so với trung bình những năm trước đó (28,42%) trongkhi mùa mưa cũng tăng nhưng không nhiều
Trang 3422
Trang 35Bảng 2 2 Xu thế đặc trưng mưa và so sánh giữa thời kỳ 2006-2015 với
1961-2004 tại các trạm đo mưa ở huyện Cát Hải và lân cận
Xu thế tăng giảm trung bình, T
(Nguồn: Trung tâm KTTV quốc gia và Dự án READY, 2016)
2.2.1.3 Nước biển dâng
Trong hơn 50 năm, mực nước biển trung bình năm tại trạm Hòn Dấu tăng gần
20cm/ 50 năm (khoảng 4mm/ năm) So sánh mực nước trung bình của thập kỷ gần
đây (2006-2015) với mực nước trung bình từ 1961-2005 thấy có sự tăng mạnh, tới
8cm (tỷ lệ tăng 4,52%)
(Nguồn: Trung tâm KTTV quốc gia và Dự án READY, 2016)
Hình 2 3 Xu thế mực nước trung bình và so sánh mực nước trung bình
đo tại trạm Hòn Dấu qua các năm từ 1961 – 2015
Theo số liệu thống kê, có trên 50% cơn bão đổ bộ vào Bắc Bộ gây nước dâng
trên 1m, 30% cơn bão gây nước dâng 1,5m trở lên và 11% cơn bão gây nước dâng trên
2m Khi bão đổ bộ vào ven biển thường kèm theo nước dâng, là hiệu ứng nước dồn
khi gió thổi mạnh và quá trình giảm áp suất khí quyển Bão Kate gây nước dâng trùng
kỳ triều cường ngày 26/9/1955 gây thảm hoạ lớn cho Hải Phòng trong đó có huyện Cát
Trang 3623
Trang 37Hải Tháng 7/2005, bão đổ bộ vào Hải Phòng với gió cấp 12 đã gây ra nước dâng trên2m, nước biển làm ngập nhiều diện tích đảo Cát Hải và một số vùng thuộc Cát Bà tới
50 - 60cm, có nơi tới 100cm Tháng 7/1980, bão đổ bộ vào Hải Phòng gây ra nướcdâng cao 1,76m Hiện tượng nước dâng thường xảy ra trễ khoảng 1 ngày so với thờigian bão đổ bộ vào đất liền, thời gian tồn tại nước dâng thường từ 12 - 30 giờ, đa sốcác lần nước dâng ngắn hơn 24 giờ với khoảng 7 giờ nước dâng tới đỉnh và 9 - 12 giờnước rút tới chân, thời gian duy trì mực nước dâng cao nhất khoảng 3 giờ
Bảng 2 3 Số lần xuất hiện mực nước dâng do bão gây ra
2.2.2 Dự báo theo kịch bản biến đổi khí hậu huyện Cát Hải
Xuất phát từ tình hình thực tế, huyện Cát Hải (với sự hỗ trợ của dự án READY)
đã lựa chọn để tính toán xây dựng kịch bản BĐKH là kịch bản phát thải trung bình(B2) và thực hiện thêm kịch bản phát thải trung bình của nhóm phát thải cao (A2) Thời
kỳ cơ sở để so sánh là 1980 – 1999 Các kịch bản BĐKH với nhiệt độ và lượng mưađược xây dựng cho huyện đảo Cát Hải, lấy trạm khí tượng-hải văn Hòn Dấu làmchuẩn
24
Trang 38Bảng 2 5 Mức tăng nhiệt độ ( 0 C) trung bình năm
so với thời kỳ 1980-1999 Cát Hải
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), 2016)
Hình 2 4 Kịch bản BĐKH về nhiệt độ trung bình năm tại Cát Hải
2.2.2.2 Lượng mưa
Theo các kịch bản phát thải, vào giữa thế kỷ 21, mức tăng lƣợng mƣa trên địabàn huyện Cát Hải có thể từ 2,1% (B1) đến 2,4% (A2); đến cuối thế kỷ 21, lƣợng mƣatăng khá mạnh, từ 2,9% (B1) đến 5,7% (A2) Đến cuối thế kỷ, tỷ lệ tăng giữa các kịchbản có sự chênh lệch nhiều, tới 30% và gần gấp 2 lần giữa kịch bản A2 và B1
Bảng 2 6 Mức thay đổi lƣợng mƣa năm ( ) so với thời kỳ 1980-1999
Trang 39Hình 2 5 Kịch bản BĐKH về mức tăng lượng mưa năm ở Cát Hải
Lượng mưa mùa khô có xu thế giảm chậm và đến cuối thế kỷ 21 mức giảm
nhiều hơn Lượng mưa mùa hè tăng không đánh kể nhưng đến cuối thế kỷ 21 thì
lượng mưa tăng lên nhiều hơn, từ 3,8% (B1) đến 7,3% (A2) Lượng mưa ngày lớn
nhất vào cuối thế kỷ 21 ở Cát Hải có thể tăng khoảng 50% so với thời kỳ
1980-1999 Tuy nhiên, ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện lượng mưa ngày dị
thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay
2.2.2.3 Xu thế nước biển dâng cho huyện đảo Cát Hải
Mực NBD trung bình cho khu vực ven biển huyện đảo Cát Hải ứng với các kịch
bản được trình bày trong Bảng 7 và Hình 6 Đến năm 2030 mực NBD vùng biển quần
đảo Cát Hải khác nhau không nhiều đối với cả 3 kịch bản thấp, trung bình và cao, trị số
dao động từ 12-13cm so với thời kỳ cơ sở 1980-1999 Vào giữa thế kỷ 21, mực NBD
trung bình có thể ở mức 21cm với kịch bản phát thải thấp (B1), 22cm với kịch bản B2
và 24cm với kịch bản A2 Tương ứng với các kịch bản này đến cuối thế kỷ 21, mực
NBD trung bình có thể ở mức 50cm (B1), 7cm (B2) và 76cm (A2)
Bảng 2 7 Mực NBD (cm) trung bình huyện Cát Hải theo các kịch bản
Thời kỳ Các mốc thời gian của thế kỷ 21
Trang 4026