1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá trữ lượng carbon tại rừng xã bình long, huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên phục vụ ước tính chi trả dịch vụ môi trườngluận văn ths biến đổi khí hậu

104 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 328,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sinh khối cũng là xác định trữ lượng cácbon của rừng với mong muốn tăng cường trồng rừng trên các diện tích đất trống đồinúi trọc ở các vùng nhiệt đới từ lâu đã được thừa nhận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGUYỄN NHƯ YẾN

ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG CARBON TẠI RỪNG NÚI ĐÁ

XÃ BÌNH LONG, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN PHỤC VỤ ƯỚC TÍNH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGUYỄN NHƯ YẾN

ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG CARBON TẠI RỪNG NÚI ĐÁ XÃ BÌNH LONG, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN PHỤC VỤ ƯỚC TÍNH

CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Văn Giới

2

Hà N ội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiệndưới sự hướng dẫn khoa học của TS Ngô Văn Giới, không sao chép các công trìnhnghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố

ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được tríchdẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Nguyễn Như Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình của rất nhiều thầy cô giáo, cá nhân, các cơ quan và các tổchức Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới tất cả các thầy

cô giáo, cá nhân, các cơ quan và tổ chức đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện chotôi hoàn thành luận văn này

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn TS Ngô Văn Giới – Trưởng khoa KhoaMôi trường và Trái đất trường Đại học khoa học Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn

và tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luậnvăn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Các khoa họcliên ngành, các thầy cô giáo Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp

đỡ tôi về nhiều mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè và gia đình đã chia sẻ cùngtôi những khó khăn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập, nghiêncứu và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Nguyễn Như Yến

ii

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Hiệu ứng nhà kính và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu 5

1.2 Hấp thụ CO2 từ rừng 7

1.3 Một số nghiên cứu về khả năng tích lũy các bon rừng trên thế giới 9

1.4 Những nghiên cứu về khả năng tích lũy các bon rừng tại Việt Nam 12

1.5 Nhận xét chung 14

1.6 Tổng quan về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 14

1.6.1 Điều kiện tự nhiên 14

1.6.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 15

1.6.3 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng trên địa bàn xã Bình Long 16

CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 18

2.1.1 Mục tiêu 18

2.1.2 Nội dung nghiên cứu 18

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

Trang 6

2.3.2 Phương pháp tiếp cận 19

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 20

2.3.3.3 Phương pháp đo đếm các bon 21

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 Sinh khối cây rừng tại khu vực nghiên cứu 26

3.1.1 Thành phần, danh mục loài cây tại khu vực nghiên cứu 26

3.1.2 Sinh khối trạng thái cây rừng 27

3.1.3 Phân bố cây theo cấp đường kính 28

3.1.4 Sinh khối trên mặt đất của cây rừng 30

3.2 Sinh khối tầng thảm tươi cây bụi và thảm mục tại khu vực nghiên cứu 32

3.2.1 Thành phần loài thảm tươi cây bụi 33

3.2.2 Sinh khối tươi của tầng thảm tươi cây bụi và thảm mục 33

3.2.3 Sinh khối khô của tầng thảm tươi cây bụi và thảm mục 35

3.3 Trữ lượng các bon rừng tại xã Bình Long huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 36

3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng phục vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng 40 3.4.1 Chú trọng các phương thức quản lý rừng tại địa phương 40

3.4.2 Đẩy mạnh khả năng tham gia chi trả dịch vụ môi trường từ rừng 44

3.4.3 Thực hiện tốt cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng 50

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 55

iv

Trang 7

BQL : Ban quản lý

Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

biến đổi khí hậu

thải khí nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng

đang phát triển; Quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng caotrữ lượng các bon rừng

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Dự đoán phát thải khí nhà kính tính tương đương CO2 đến năm 2030 (triệu

tấn) 8

Bảng 1.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 16

Bảng 2.1 Thống kê số phiếu điều tra phát ra ở các xóm 21

Bảng 3.1 Danh mục các loài cây gỗ tái sinh tại các OTC 26

Bảng 3.2 Đường kính bình quân của tầng cây gỗ 27

Bảng 3.3 Đường kính bình quân của tầng cây gỗ tại rừng trồng 28

Bảng 3.4 Số lượng cây phân theo cấp kính trong từng OTC 29

Bảng 3.5 Sinh khối trên mặt đất của cây rừng 31

Bảng 3.6 Một số loài cây bụi tại khu vực nghiên cứu 33

Bảng 3.7 Sinh khối tươi của tầng thảm tươi, cây bụi và thảm mục 34

Bảng 3.8 Sinh khối khô của cây bụi và thảm mục (tấn khô/ha) 35

Bảng 3.9 Trữ lượng các bon tích lũy rừng xã Bình Long, huyện Võ Nhai 37

Bảng 3.10 Trữ lượng các bon rừng tích lũy tại khu vực nghiên cứu 40

Bảng 3.11 Thống kê tiền chi trả các bon rừng theo diện tích rừng quản lý 48

vi

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của xã Bình Long 17

Hình 1.2 Cơ cấu rừng tại xã Bình Long 17

Hình 2.1 Phương pháp đo đường kính ngang ngực DBH 23

Hình 3.1 Biểu đồ phân bố số lượng cây theo cấp kính ở khu vực rừng tự nhiên 29

Hình 3.2 Biểu đồ phân bố số lượng cây theo cấp kính ở khu vực rừng trồng 30

Hình 3.3 Biểu đồ so sánh sự phân bố số lượng cây theo cấp kính ở 6 OTC 30

Hình 3.4 Sinh khối trên mặt đất của cây rừng trong các OTC (tấn/ha) 32

Hình 3.5 Sinh khối tươi của tầng thảm tươi cây bụi và thảm mục tại các OTC 35

Hình 3.6 Biểu đồ trữ lượng các bon trong các OTC nghiên cứu 38

Hình 3.7 Cơ cấu tổ chức của HTX Hòa Bình 42

Hình 3.8 Mức độ tham gia hoạt động tuần tra rừng tại 10 xóm tiến hành điều tra 45

Hình 3.9 Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại 10 xóm tiến hành điều tra 47

Trang 10

MỞ ĐẦU + Lý do lựa chọn đề tài:

Môi trường đã và đang trở thành vấn đề quan tâm chung của nhân loại Hiệnnay, con người đang phải đối mặt với những thay đổi bất thường của thời tiết, mànguyên nhân chính là do biến đổi khí hậu Việt Nam là một trong những quốc gia chịuảnh hưởng rất lớn do hậu quả của việc biến đổi khí hậu gây ra Sự gia tăng khí cácbondioxit (CO2) là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng cường độ, phạm

vi ảnh hưởng từ các hậu quả mà quá trình biến đổi khí hậu gây ra Biến đổi khí hậu vàmối quan hệ của nó với phát thải khí CO2 từ việc suy thoái và mất rừng là một vấn đềđang thu hút được sự quan tâm của toàn cầu trong đó có Việt Nam Hội đồng liênchính phủ về biến đổi khí hậu - The Intergovernmental Panel on Climate Change(IPCC) dự báo có khoảng 1,5 tỷ tấn các bon sẽ phát thải hàng năm do thay đổi mụcđích sử dụng đất rừng nhiệt đới, chiếm 1/5 khí CO2 phát thải trên toàn thế giới

Việc nghiên cứu vai trò của rừng trong việc hấp thụ các bon, giảm nhẹ phát thảikhí nhà kính đang được cộng đồng Quốc tế và Việt Nam rất quan tâm, đặc biệt từ saukhi triển khai các nội dung của nghị định thư Kyoto trong đó nêu rõ khả năng hấp thụkhí CO2 của rừng là vấn đề tiên quyết trong việc thúc đẩy các dự án hấp thụ các bon ởcác nước đang phát triển, các quốc gia này có thể nhận đầu tư từ các công ty, chínhphủ có mong muốn bù đắp lại lượng phát thải khí nhà kính của họ theo cơ chế pháttriển sạch (CDM) của Nghị định thư Kyoto Vì vậy, việc nghiên cứu sinh khối là mộtyêu cầu khách quan và cấp bách phục vụ cho việc tính toán phát thải và thương mạigiá trị hấp thụ các bon của rừng Nghiên cứu sinh khối cũng là xác định trữ lượng cácbon của rừng với mong muốn tăng cường trồng rừng trên các diện tích đất trống đồinúi trọc ở các vùng nhiệt đới từ lâu đã được thừa nhận là một giải pháp hữu hiệu trongviệc giảm tỷ lệ gia tăng của khí CO2 trong khí quyển Khi cây sinh trưởng và pháttriển, chúng hấp thụ các bon trong các tế bào và đồng nghĩa với việc gia tăng sinh khốicủa cây (trong rừng hoặc trong các sản phẩm từ rừng), như vậy nồng độ khí CO2 trongkhí quyển sẽ giảm đi

Bình Long là một xã đặc biệt khó khăn của huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.Diện tích đất đồi núi chiếm trên 60% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó có trên 42%diện tích đất tự nhiên là đất rừng, chiếm tới 76,5% diện tích đất nông nghiệp của xã

1

Trang 11

[18] Điều kiện kinh tế, xã hội còn chưa phát triển Thu nhập của người dân chủ yếudựa vào sản xuất nông nghiệp đặc biệt là dựa vào rừng Vậy làm sao để người dân cóđiều kiện phát triển kinh tế, xã hội nhưng vẫn bảo vệ được môi trường đặc biệt làrừng trong khi rất nhiều nguồn thu nhập chính của người dân đã và đang lấy từ rừng?

Do đó, nghiên cứu cơ sở để thực hiện chi trả dịch vụ môi trường cho địa bàn xã là việclàm cần thiết cho cộng đồng bản địa cũng như góp phần bảo vệ và phát triển rừng theohướng bền vững

Hiện nay, diện tích và chất lượng rừng ngày càng giảm dần dẫn tới lượng cácbon hấp thụ cũng giảm Trong khi đó, các hoạt động của con người ngày càng làm giatăng nhanh chóng lượng phát thải CO2 vào trong khí quyển Vì vậy, việc xác định khảnăng hấp thụ các bon của rừng là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng từ đó đề xuấtcác phương thức quản lý rừng làm cơ sở khuyến khích, xây dựng các cơ chế chi trảcho các chủ rừng và các cộng đồng Đặc biệt với các cộng đồng nghèo tại các khu vựcmiền núi như xã Bình Long huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Với những lý do trên

đề tài “Đánh giá trữ lượng Carbon tại rừng núi đá xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên phục vụ ước tính chi trả dịch vụ môi trường” được thực hiện.

+ Mục đích nghiên cứu:

- Xác định đặc điểm sinh khối và tích lũy các bon của rừng núi đá xã Bình Long

huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trồng và phát triển rừng tại khu vực nghiên cứu

+Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Điều tra xác định khu vực lập ô tiêu chuẩn đối với rừng trồng và rừng tự nhiên

- Điều tra thành phần số lượng chiều cao ngang ngực của các cây cá lẻ trong ô tiêu chuẩn

- Xác định lượng các bon rừng tích luỹ trong sinh khối thân đứng tại rừng xã Bình Long

Trang 12

- Đánh giá khả năng tham gia chi trả dịch vụ môi trường từ rừng tại khu vực nghiên cứu.

+Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu:

Rừng núi đá xã Bình Long, huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Trong đó có rừng

Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở cho việc so sánh, phân tích

và phục vụ cho việc viết tổng quan tài liệu và đánh giá hiện trạng rừng

Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng

Điều tra cộng đồng để xác định các nguy cơ và mức độ của các hoạt động gâysuy thoái rừng và sự sẵn sàng của cộng đồng đối với các hoạt động liên quan đến tăngcường và bảo tồn các bon rừng

Điều tra sơ bộ khu vực nghiên cứu và lựa chọn điểm nghiên cứu

Cụ thể đề tài đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp cán bộ địa phương với bộ câu hỏi theo phụ lục 1, phỏng vấn người dân thông qua bảng hỏi với bộ câu hỏi theo phụ lục 2

Phương pháp đo đếm các bon

- Phương pháp đo đếm các bon tầng cây gỗ

- Phương pháp đo đếm các bon tầng thảm tươi cây bụi, thảm mục

+ Giới thiệu kết cấu luận văn:

3

Trang 13

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu

Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hiệu ứng nhà kính và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ phá rừng và suy thoái rừng ở cácnước đang phát triển là sáng kiến toàn cầu đã được Hội nghị các nước thành viên lầnthứ 13 của Công ước khung Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thưKyoto thông qua tại Ba-li (Indonesia) năm 2007 Hàng năm, lượng khí thải từ phárừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển chiếm khoảng 20% so với tổnglượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu, vì thế sáng kiến REDD đượchình thành từ ý tưởng ban đầu là trả tiền cho các nước đang phát triển để làm giảmphát thải khí CO2 từ ngành lâm nghiệp Một vấn đề đặt ra là cần phải lượng hóa đượccác bon cơ sở, hiện đang được lưu giữ trong các cánh rừng Hiện nay, đã có nhiềunghiên cứu về tích lũy các bon trong các hệ sinh thái rừng ở trên Thế giới và ViệtNam

Các khí nhà kính như CO2, CH4, NOx, CFC… có vai trò như lớp kính baoquanh Trái Đất làm Trái Đất nóng dần lên, hiệu ứng nhà kính có vai trò quan trọngtrong việc duy trì sự sống Trái Đất Tuy nhiên, do hoạt động của con người khiến khínhà kính ngày càng gia tăng gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu vô cùng nghiêm trọng

Biến đổi khí hậu làm tổn hại lên tất cả các thành phần của môi trường sống, gâytác động như nước biển dâng cao, gia tăng hạn hán, ngập lụt, thay đổi các kiểu khíhậu, gia tăng các loại bệnh tật, thiếu hụt nguồn nước ngọt, suy giảm đa dạng sinh học

và gia tăng các hiện tượng khí hậu cực đoan

Năm 1958 các nhà khoa học ở Mauna Loa Observatory tại Hawai đã chứngminh được khí CO2 là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng nhiệt độ Năm 1976, các khímetan, CFC, NOx cũng được xác minh là nguyên nhân gây nên hiện tượng hiệu ứngnhà kính [17]

Theo ước tính của IPCC, CO2 chiếm tới 60% nguyên nhân của sự nóng lêntoàn cầu, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng 28% từ 288 ppm lên 366 ppm tronggiai đoạn 1850-1998 Ở giai đoạn hiện nay, nồng độ khí CO2 tăng khoảng 10% trongchu kỳ 20 năm

5

Trang 15

Cơ quan Khí quyển và Đại dương Mỹ cho biết trong năm 2015, tốc độ tăngtrưởng hàng năm của nồng độ CO2 trong khí quyền là 3,05 ppm, mức tăng hàng nămlớn nhất trong vòng 56 năm qua Viện nghiên cứu Liên minh Trái Đất đã dự đoán cótới 1/10 khả năng nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng lên 60C vào năm 2100 nếu lượng khí thảikhông được cắt giảm [17] Nếu nhiệt độ Trái Đất tăng từ 1,1 – 6,40C thì 30% loàiđộng thực vật hiện nay sẽ có nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 Trong 50 năm trở lạiđây, tần suất xảy ra các đợt nắng nóng đã tăng từ 2-4 lần Nhiều khả năng trong 40năm tới, số lượng các đợt nắng nóng sẽ tăng 100 lần Chỉ trong vòng 30 năm gần đây,những cơn bão mạnh cấp 4 và cấp 5 đã tăng lên gấp đôi [5].

Tại Việt Nam, theo kịch bản phát thải trung bình, đến năm 2100, nhiệt độ trungbình sẽ tăng khoảng 2,30C, mực nước biển dâng thêm 75 cm và lượng mưa sẽ tăngkhoảng 5% so với giai đoạn 1980-1990 [5]

Nhận thức được rằng sự thay đổi khí hậu đang thực sự xảy ra với một tốc độnhanh chóng và hành động giảm thiểu cần phải được thực hiện, tại Hội nghị thượngđỉnh về Môi trường và phát triển tại Brazin (1992), Công ước khung của Liên HợpQuốc về biến đổi khí hậu đã được ký kết Tại hội nghị các bên tham gia UNFCCC lầnthứ 3 tổ chức tại Kyoto (Nhật Bản) tháng 12 năm 1997, Nghị định thư của Công ước

đã được thông qua gọi là Nghị định thư Kyoto và đã thiết lập một khuôn khổ pháp lýmang tính toàn cầu cho các bước khởi đầu nhằm kiềm chế và kiểm soát xu hướng giatăng phát thải khí nhà kính Nghị định thư Kyoto cũng giới thiệu cơ chế phát triển sạch

là một phương thức hợp tác quốc tế mới trong lĩnh vực môi trường giữa các quốc giađang phát triển và các quốc gia công nghiệp hóa với mục tiêu cơ bản nhất là hướng tớiphát triển bền vững bằng các cam kết cụ thể về hạn chế và giảm lượng khí nhà kínhphát thải định lượng của các nước trên phạm vi toàn cầu

Chương trình nghị sự của Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên HợpQuốc đưa ra cơ chế giảm phát thải nhà kính do suy thoái rừng và mất rừng ở các nướcđang phát triển Hội nghị các bên liên quan đưa ra khái niệm mở “REDD+” được lồngghép để tăng cường trữ lượng các bon lâm nghiệp hiện có, trong kế hoạch Hành động

Trang 16

Theo chương trình REDD, các nước sẽ đo đếm và giám sát lượng phát thải

CO2 từ mất rừng và suy thoái rừng trong phạm vi biên giới nước mình Sau một giaiđoạn nhất định, các nước sẽ tính toán lượng giảm phát thải và nhận được số lượng tínchỉ các bon rừng có thể trao đổi trên thị trường dựa trên sự giảm thiểu này Các tín chỉsau đó có thể được đem bán trên thị trường các bon toàn cầu

Trước những tác động tiêu cực của sự gia tăng hiệu ứng nhà kính và biến đổikhí hậu, các quốc gia trên thế giới đã và đang tập trung tăng cường các biện pháp giảmphát thải khí nhà kính đặc biệt là khí CO2 Tại hội nghị biến đổi khí hậu quốc tế COP

21 tại Paris năm 2015, các quốc gia đã đi đến thỏa thuận chung Trong đó, có đưa ramục tiêu kiểm soát phát thải để sự gia tăng nhiệt độ của Trái Đất đến năm 2100 là thấphơn đáng kể so với ngưỡng 20C và cố gắng tiến tới ngưỡng thấp hơn 1,50C

Với tầm quan trọng của các bể chứa các bon rừng đã có nhiều những tổ chức, cánhân tiến hành nghiên cứu về sinh khối cũng như trữ lượng các bon tích lũy trong các

hệ sinh thái rừng để đưa ra các phương pháp luận hay đề xuất các chính sách trongviệc bảo vệ rừng

1.2 Hấp thụ CO 2 từ rừng

Theo dự đoán phát thải khí nhà kính đến năm 2030 thì phát thải khí nhà kínhcác ngành sản xuất gồm năng lượng và nông nghiệp đều tăng lên nhanh chóng, thậmchí đối với ngành năng lượng năm 2030 gấp hơn 14 lần so với năm 1993 (396,35 triệutấn so với 27,5 triệu tấn) Chỉ duy nhất ngành lâm nghiệp được kỳ vọng sẽ tăng dầnlượng hấp thụ các bon và lên đến khoảng 32,10 triệu tấn vào năm 2030 Lượng hấpthụ này sẽ đóng góp vào việc giảm tổng phát thải của Việt Nam đồng thời là nguồntiềm năng để tham gia CDM, REDD qua đó nhận được tín dụng từ các quốc gia pháttriển [1]

7

Trang 17

Bảng 1.1 Dự đoán phát thải khí nhà kính tính tương đương CO 2 đến năm 2030

(triệu tấn) Năm

Nguồn: (Hydrometeorological Service of Vietnam, 1999)

Tổng sinh khối của một lâm phần biến động mạnh và phụ thuộc vào nhiều yếu

tố khí hậu và thổ nhưỡng Sinh khối và các bon cũng bị ảnh hưởng bởi độ tuổi củarừng và các cây trong rừng Đối với các rừng non, việc tích lũy các bon sẽ diễn ra liêntục thông qua việc sinh trưởng của cây và rừng Mối quan hệ giữa kích thước cây vàsinh khối của chúng không phải là quan hệ đường thẳng Điều này có nghĩa là khiđường kính và chiều cao tăng lên, sinh khối của cây cũng tăng nhưng với tỉ lệ hoàntoàn khác

Các bon trong sinh khối cây đều bắt nguồn từ CO2 trong không khí thông quaquá trình quang hợp và sinh trưởng của cây Việc mất thảm thực vật che phủ, đốt rừnghoặc phân hủy gỗ sẽ làm các bon trở lại bầu không khí ở dạng CO2, hoặc khí metan(CH4) nếu cây bị phân hủy Như vậy, rừng là kho chứa đựng các bon hấp thụ trongkhông khí Một trong những chu trình luân chuyển sẽ làm các bon quay trở lại bầu khíquyển, nhưng một phần sẽ đi vào chuỗi thức ăn hoặc được giữ lại trong đất

Sinh khối trong lâm phần bao gồm sinh khối trên mặt đất (sinh khối thân gỗ, sinhkhối thảm tươi, cây bụi, sinh khối vật rơi rụng) và sinh khối dưới mặt đất (sinh khối

Trang 18

1.3 Một số nghiên cứu về khả năng tích lũy các bon rừng trên thế giới

Theo FAO tổng diện tích rừng trên thế giới hiện nay khoảng 4 tỉ ha, chiếm gần30% diện tích đất toàn cầu Hàng năm trên toàn thế giới bị mất đi khoảng 13 triệu harừng (trong đó có khoảng 0,4% là rừng nguyên sinh) và con số này vẫn chưa có dấuhiệu giảm [17] Phá rừng cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho lượng

CO2 tăng lên và là nguyên nhân gây biến đổi khí hậu

Ước tính lượng các bon lưu giữ trong sinh khối và đất gấp khoảng 3 lần lượngcác bon có trong khí quyển Khoảng 35% khí nhà kính trong khí quyển là hậu quả củanạn phá rừng trong quá khứ và 18% lượng khí này phát thải hàng năm là do nạn phárừng [16] Các bể chứa các bon chính trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới là các sinhkhối sống của cây cối và thực vật dưới tán và khối lượng vật liệu chết của vật rơirụng, mảnh vụn gỗ và các chất hữu cơ trong đất Các bon được lưu trữ trong sinh khốisống trên mặt đất của cây thường là các bể chứa lớn nhất và ảnh hưởng trực tiếp nhấtbởi nạn phá rừng và suy thoái Như vậy, ước tính các bon trong sinh khối trên mặt đấtcủa rừng là bước quan trọng nhất trong việc xác định số lượng, dòng các bon từ rừngnhiệt đới Phương thức đo lường đối với các bể chứa các bon khác nhau đã được mô

tả ở các tài liệu của Post và cộng sự (1999), Brown và Masera (2003), Pearson và cộng

sự (2005), IPCC (2006) Rừng cô lập và lưu trữ các bon nhiều hơn bất kỳ hệ sinh tháinào trên trái đất khác và là “phanh” tự nhiên quan trọng đối với biến đổi khí hậu Khirừng bị chặt phá hoặc suy thoái, lưu trữ các bon của chúng được giải phóng vào khíquyển như dioxide các bon (CO2) Nạn phá rừng nhiệt đới ước tính đã phát thải từ 1-2

tỷ tấn C/năm trong những năm 1990, khoảng 15-25% lượng phát thải khí nhà kínhtoàn cầu hàng năm Các nguồn phát thải khí nhà kính trong hầu hết các nước nhiệt đớilớn nhất là từ nạn phá rừng và suy thoái rừng

Trong những năm gần đây đã có rất nhiều nghiên cứu về xác định tích lũy cácbon trong các loại rừng nhiệt đới điển hình là nghiên cứu của Houghton (1999) vàDeFries và cộng sự (2002) cho thấy lượng các bon tích lũy tại rừng nhiệt đới xích đạo

Mỹ La tinh là 200 tấn C/ha, rừng nhiệt đới thay đổi theo mùa là 140 tấn C/ha, rừngnhiệt đới khô là 55 tấn C/ha, rừng lá rộng là 100 tấn C/ha Các nghiên cứu của IPCCnăm 2006 tại các khu vực này cũng cho số liệu lần lượt là: 193 tấn C/ha, 128 tấn C/ha,

126 tấn C/ha Nghiên cứu của Gibbs và Brown (2007) tại khu vực cận Sahara ChâuPhi cho thấy khả năng tích lũy các bon của rừng nhiệt đới xích đạo là 99 tấn C/ha,

9

Trang 19

rừng nhiệt đới thay đổi theo mùa là 38 tấn C/ha, rừng nhiệt đới khô là 17 tấn C/ha.Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng nhiệt đới Châu Á năm 2006 IPCC chokết quả là: rừng nhiệt đới xích đạo 180-225tấn C/ha, rừng nhiệt đới thay đổi theo mùa

là 105-169 tấn C/ha, rừng nhiệt đới khô là 78-96 tấn C/ha Nghiên cứu của Brown(1997) và Achard (2004) tại khu vực Trung Mỹ với rừng tại Panama-Amazon là 129tấn C/ha, rừng tại Braxin –Amazon là 186 tấn C/ha

Có rất nhiều nghiên cứu khẳng định rằng rừng là bể chứa các bon Đối với rừngnhiệt đới, có tới 50% lượng các bon dự trữ trong thảm thực vật và 50% dự trữ trongđất; IPCC (2000); Pregitzer và Euskirchen, (2004)

Theo ước tính hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng trên thế giới có tỷ lệ hấp thu

CO2 ở sinh khối là 0,4 – 1,2 tấn/ha/năm ở vùng cực bắc; 1,5 – 4,5 tấn/ha/năm ở vùng

ôn đới và 4 – 8 tấn/ha/năm ở các vùng nhiệt đới; IPCC (2000) Brown và cộng sự(1996) đã ước lượng tổng lượng các bon mà hoạt động trồng rừng trên thế giới có thểhấp thu tối đa trong vòng 5 năm (1995 - 2000) là khoảng 60 – 87 Gt C, với 70% ở rừngnhiệt đới, 25% ở rừng ôn đới và 5% ở rừng cực bắc Tính tổng lại rừng trồng có thểhấp thu được 11 – 15% tổng lượng CO2 phát thải từ nguyên liệu hoá thạch trong thờigian tương đương Năm 1986, Paml và cộng sự đã cho rằng lượng các bon trung bìnhtrong sinh khối phần trên mặt đất của rừng nhiệt đới châu Á là 185 tấn/ha và biến động

từ 25 – 300 tấn/ha Kết quả nghiên cứu của Brown (1991) cho thấy rừng nhiệt đớiĐông Nam Á có lượng sinh khối trên mặt đất từ 50 – 430 tấn/ha (tương đương 25 –

215 tấn C/ha) và trước khi có tác động của con người thì các trị số tương ứng là 350 –

400 tấn/ha (tương đương 175 – 200 tấn/ha)

Murdiyarso (1995) đã nghiên cứu và đưa ra dẫn liệu rừng Indonesia có lượngcác bon hấp thụ từ 161 – 300 tấn/ha trong phần sinh khối trên mặt đất

Tại Philippines, năm 1999 Lasco cho biết ở rừng tự nhiên thứ sinh có 86 – 201tấn C/ha (tương đương 370 – 52 tấn sinh khối khô/ha, lượng Các bon ước chiếm 50%sinh khối)

Ở Malayxia, lượng các bon trong rừng biến động từ 100 – 160 tấn/ha và tính

Trang 20

Tại Indonesia, Noordwijk (2000) đã nghiên cứu khả năng tích luỹ Các bon củacác rừng thứ sinh, các hệ thống nông lâm kết hợp và thâm canh cây lâu năm Kết quảcho thấy lượng các bon hấp thụ trung bình là 2,5 tấn/ha/năm.

Theo McKenzie (2001), Các bon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở bốn

bộ phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng.Việc xác định lượng Các bon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác địnhsinh khối rừng [14]

Nghiên cứu của Joyotee Smith và Sara J.Scherr (2002) đã định lượng đượclượng các bon lưu giữ trong các kiểu rừng nhiệt đới và trong các loại hình sử dụng đất

ở Brazil, Indonesia và Cameroon, bao gồm trong sinh khối thực vật và dưới mặt đất từ

0- 20 cm Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng các bon lưu trữ trong thực vật giảm dần

từ kiểu rừng nguyên sinh đến rừng phục hồi sau nương rẫy và giảm mạnh đối với cácloại đất nông nghiệp Trong khi đó phần dưới mặt đất lượng các bon ít biến động hơn,nhưng cũng có xu hướng giảm dần từ rừng tự nhiên đến đất không có rừng [32]

Để tính Các bon trong cây, Erica A H Smithwick cùng cộng sự đã phân chiacây mẫu thành các bộ phận khác nhau, đo đường kính của toàn bộ cây trong ô tiêuchuẩn Sinh khối của từng bộ phận được tính toán thông qua các hàm hồi quy sinhtrưởng riêng cho từng loài, trong một số trường hợp, loài nào đó chưa xây dựng hàmhồi quy sinh trưởng thì sẽ áp dụng hàm sinh trưởng của loài tương đối gần gũi.Nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ các bon chiếm trong từng bộ phận như cành nhánh chiếm5,9%; thân: 33,8%, vỏ chiếm 5,1% Theo Sara Beth Gann (2003), các bon cần đượctính đối với tất cả các bộ phận của cây như lá, thân, cành nhánh, rễ, tuy vậy việc tínhtoán cần phải phù hợp với điều kiện thực tế cũng như chi phí để thực hiện Việc ướctính các bon trong cây rừng, lâm phần thường được tính trên cơ sở dự báo khối lượngsinh khối khô của rừng trên đơn vị diện tích (tấn/ha) tại từng thời điểm trong quá trìnhsinh trưởng Từ đó tính trực tiếp lượng CO2 hấp thụ và lưu trữ trong vật chất hữu cơcủa rừng, hoặc tính khối lượng các bon với bình quân là 50% của sinh khối khô rồi từ

đó suy ra CO2 [12]

Jenkins và cộng sự (2004) đã thiết lập mối tương quan giữa lượng các bon hấp thụ

và đường kính ngang ngực cho các loài cây khác nhau ở Bắc nước Mỹ, phương pháp nàydựa trên sự thống nhất về một mối quan hệ tương quan sinh trưởng giữa kích

11

Trang 21

thước cây, đường kính ngang ngực (DBH), chiều cao và sinh khối cho một loài, nhómloài, hoặc hình thức tăng trưởng Sử dụng phương pháp phân tích kích thước, nghiêncứu các thân cây qua đường kính hoặc chiều cao trong phạm vi quan tâm, sau đó sửdụng một mô hình hồi quy để ước lượng các mối quan hệ giữa một hoặc nhiều kíchthước cây (các biến độc lập) và trọng lượng cây thành phần (biến phụ thuộc) [14].

Nghiên cứu lượng các bon lưu trữ trong rừng trồng nguyên liệu giấy, RomainPirard (2005) đã tính lượng các bon lưu trữ dựa trên tổng sinh khối tươi trên mặt đất,thông qua lượng sinh khối khô (không còn độ ẩm) bằng cách lấy tổng sinh khối tươinhân với hệ số 0,49, sau đó nhân sinh khối khô với hệ số 0,5 để xác định lượng cácbon lưu trữ trong cây [15]

Timothy R.H Pearson và cộng sự (2007) Hướng dẫn đo lường các bon từ rừngtrong báo cáo cung cấp các hướng dẫn về việc đo lường các bon như: xác định ranhgiới, đo lường, giám sát và ước lượng thay đổi trong trữ lượng các bon, thực hiện kếhoạch để đo lường và giám sát các bon [20]

1.4 Những nghiên cứu về khả năng tích lũy các bon rừng tại Việt Nam

Hiện tại Việt Nam là nước đang phát triển và không thuộc diện phải cắt giảmlượng phát thải khí nhà kính, song từ những tính toán và dự báo của các nhà khoa học

đã chỉ ra sử cần thiết trong việc thể hiện vai trò và trách nhiệm của mình với thế giớinên Việt Nam đã sớm tham gia vào các diễn đàn quốc tế về các vấn đề liên quan như

kí Công ước khung (1992), Nghị định thư Kyoto (1997) Việt Nam đang là 1 trong số

9 quốc gia trên thế giới tham gia thí điểm về REDD+, Chương trình UN-REDD giúpcác quốc gia đang phát triển bao gồm Việt Nam tham gia bảo vệ rừng hoặc nâng caochất lượng rừng Nguyên tắc chính của REDD là: Cần phải giảm phát thải khí nhàkính từ mất rừng và suy thoái rừng REDD và REDD+ là cơ hội tạo thu nhập mới vàbền vững cho các cộng đồng sống gần rừng, trong rừng và cũng là cơ hội để người dântham gia vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu đem lại lợi ích cho chính mình vàcộng đồng thế giới Mặt khác, Việt Nam cũng đang triển khai cơ chế chi trả dịch vụmôi trường rừng theo nghị định 99/2010/NĐ - CP, trong đó cũng đề cập đến việc chi

Trang 22

phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước chúng ta đã vận dụng linhhoạt những phương pháp nghiên cứu đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Rừng nhiệt đới ở Việt Nam liên tục thay đổi do hệ quả của việc khai thác rừng

và chuyển đổi sang các loại hình sử dụng đất khác Do vậy, đã có một số nghiên cứu

về tích lũy các bon của các hệ sinh thái rừng được tiến hành trong những năm gần đây.Các nghiên cứu điển hình bao gồm “Nghiên cứu trữ lượng các bon trong các thảmthực vật như cỏ tranh, lau lách và cây bụi” của Vũ Tấn Phương và công sự, 2005;

“Trữ lượng các bon của rừng trồng Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn urophylla”của Ngô Đình Quế và cộng sự, 200; “Thông” của Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự,

2004 Thông ba lá là loài cây có phân bố tự nhiên ở vùng Tây Nguyên (như LâmĐồng, Kon Tum, v.v) và Tây Bắc (Hà Giang) Thông ba lá là loài cây chủ lực trongtrồng rừng ở các tỉnh Tây Nguyên và một số vùng ở Hà Giang Vũ Tấn Phương (2009)

đã có những nghiên cứu tổng hợp về giá trị của rừng tự nhiên trên phạm toàn quốc vớicác trạng thái (1) rừng giàu, (2) rừng trung bình, (3) rừng nghèo và (4) rừng phục hồi,lần lượt các giá trị tích lũy các bon (tấn C/ha) nằm trong khoảng: (1) 123,77 – 206,23;(2) 100,10 – 155,49; (3) 84,61 – 123,88; (4) 66,05 – 106,27 Ngô Đình Quế (2008) cónhững nghiên cứu xác định lượng các bon tích lũy trong các trạng thái cỏ và cây bụitại Thừa Thiên Huế, giá trị lần lượt đạt: 7,60 –25,99 (tấn C/ha); 14,97 (tấn C/ha) TrầnBình Đà và Lê Quốc Doanh (2009) sử dụng phương pháp đánh giá nhanh tích lũycácbon Đối tượng là các phương thức nông lâm kết hợp tại vùng đệm vườn quốc giaTam Đảo, khả năng tích lũy cácbon tại các phương thức Vải + Bạch đàn; Vải + Keo taitượng và Vải + Thông lần lượt đạt 16,07 tấn/ha; 21,84 tấn/ha và 20,81 tấn/ha ĐỗHoàng Chung và cộng sự (2010) đã đánh giá nhanh lượng các bon tích lũy trên mặtđất của một số trạng thái thảm thực vật tại Thái Nguyên, kết quả cho thấy: Trạng tháithảm cỏ, trảng cây bụi và cây bụi xen cây gỗ tái sinh lượng các bon tích lũy đạt 1,78 –13,67 tấn C/ha; Rừng trồng đạt 13,52 – 53,25 tấn C/ha; Rừng phục hồi tự nhiên đạt19,08 – 35,27 tấn C/ha [7]

Năm 2013, Đỗ Hoàng Chung và Nguyễn Công Hoan nghiên cứu trữ lượng cácbon trên mặt đất của rừng tự nhiên tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên,kết quả cho thấy lượng các bon tích lũy trên mặt đất trong các loại rừng, được tínhbằng cách nhân giá trị sinh khối thu được trong phần trên mặt đất như cây gỗ, dướitán và lớp thảm mục với hệ số 0,48 Tích lũy các bon (tấn C/ha) trong các

13

Trang 23

trạng thái rừng IIa, IIb, IIIa1 lần lượt là: 19,63±1,3; 32,36±2,4; 50,05±3,1 Các yếu tốquyết định khả năng tích lũy các bon bao gồm lịch sử biến động, cấu trúc nội tại vàmức độ tác động của con người [6].

Gần đây, Trung tâm phát triển môi trường miền núi triển khai dự án thí điểm vềREDD tại huyện Võ Nhai và Đại Từ Thái Nguyên, dự án đã hướng dẫn người dânthực hiện đo đếm các bon rừng theo hàm hồi quy có sẵn Tuy nhiên dự án đang trongquá trình thực hiện Một số kết quả nghiên cứu của đề tài là sự kế thừa và tham khảokết quả của dự án này

1.5 Nhận xét chung

Có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu trên thế giới được tiến hành khá đồng

bộ ở nhiều lĩnh vực, từ nghiên cứu cơ bản cho tới các nghiên cứu ứng dụng, trong đó,nghiên cứu sinh khối của rừng được nhiều tác giả quan tâm trong những năm gần đây,các phương pháp nghiên cứu cũng khá đa dạng và được hoàn thiện dần Các nghiêncứu tại Việt Nam về sinh khối của các loại rừng, đăcc̣ biêṭlàcác tr ạng thái rừng tư c̣nhiên

v ẫn còn là một vấn đề khá mới, số lượng các công trình nghiên cứu còn ít, nội dung

và cách tiếp cận trong nghiên cứu còn nhiều giới hạn Hầu hết các nghiên cứu mới chỉtập trung ở rừng trồng các loài cây chủ yếu như Keo, Thông, Mỡ, Đước, Trang, Sốliệu nghiên cứu được công bố chưa nhiều, chưa hệ thống Các nghiên cứu về tính trữlượng các bon tích lũy tại rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng tự nhiên trên núi đá rất hạnchế Mặt khác, các nghiên cứu trước hầu hết chỉ quan tâm

tới các bộ phận có ý nghĩa kinh tế của cây, các bộ phận khác cũng rất quan trọng nhưcành, lá, rễ, cây bụi thảm tươi, rác hữu cơ, các bon trong đất,… còn ít được chú ý đến

Vì vậy, đề tài đặt ra là hết sức cần thiết, góp phần làm phong phú thêm những hiểu biết

về sinh khối của các trạng thái rừng, xây dựng luận cứ cho việc xác đinḥ khả năng hấpthụ các bon và lượng hóa những giá trị kinh tế - môi trường mà r ừng đem lại, xa hơnnưữa là xây d ựng chính sách , cơ chếchi tr ả các dịch vụ môi trư ờng cho các chủ rừng

và các cộng đồng quản lý rưừng ở nước ta

1.6 Tổng quan về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Trang 24

Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, có giới hạn địa lí 105017’

-106017’ đông, 21036 - 212056’ vĩ bắc Bình Long là một xã đặc biệt khó khăn, cáchtrung tâm huyện Vő Nhai 24 km về phía Đông Nam, xã Bình Long được chia thành 20đơn vị xóm

+ Phía đông giáp với xã Quyết Thắng, Hữu Lũng, Lạng Sơn

+ Phía tây giáp với xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

+ Phía nam giáp với xã Đồng Vương, Yên Thế, Bắc Giang

+ Phía bắc giáp với xã Phương Giao, Võ Nhai, Thái Nguyên

1.6.1.2 Địa hình

Địa hình xã khá đa dạng, đồi núi chiếm 60,64% diện tích đất tự nhiên toàn xã,

độ dốc lớn, con sông Dong chảy qua và nhiều sông suối nhỏ, cùng với hệ thống kênhmương nội đồng Giao thông đi lại còn khó khãn, chủ yếu là đường đất, sỏi, đá nhỏ vàdốc

1.6.1.3 Khí hậu

Bình Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa nóng thường mưanhiều từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến hết tháng 3 Nhiệt độ trungbình năm là 22,4oC, các tháng 6, 7, 8 là các tháng nóng, nhiệt độ nóng nhất vào tháng

7 nhiệt độ trung bình là 39,5oC Tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình là14,9oC Biên độ nhiệt ngày và đêm trung bình 7oC, lớn nhất là vào tháng 10 nhiệt độtrung bình 8,2oC Độ ẩm không khí trên địa bàn xã dao động từ 80% đến 87% Cáctháng 11, 12 có độ ẩm thấp gây nhiều khó khăn cho phát triển nông nghiệp Lượngmưa lớn nhất vào tháng 8 chiếm gần 20% tổng lượng mưa cả năm [18]

1.6.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Do đặc thù về điều kiện tự nhiên của xã nên cấp Ủy và Chính quyền xã BìnhLong đã tập trung chỉ đạo nhân dân áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất, chăn nuôi, đặc biệt là khâu đổi mới cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi có năng suấtcao Đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương nội đồng, các dịch

vụ phục vụ cho sản xuất như: dịch vụ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật được cung ứngkịp thời, kết hợp các biện pháp khuyến nông

15

Trang 25

Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 của xã đạt 10.000.000đ/người/năm.

Xã Bình Long có tổng số 1.449 hộ; 5.886 nhân khẩu, trong đó nữ: 2.918 người;dân tộc Kinh chiếm 48,02%; Tày chiếm 13,1%; Nùng chiếm 22,8%; Dao chiếm 12%;còn lại là các dân tộc Cao Lan, Mường, Mông, Sán Dìu, Thái

Trên địa bàn xã có 6 trường học, 2 trường mầm non, 2 trường tiểu học, 2trường Trung học cơ sở [18]

1.6.3 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng trên địa bàn xã Bình Long

1.6.3.1 Hiện trạng sử dụng đất

Diện tích đất tự nhiên toàn xã là 2777,49 ha, trong đó nông nghiệp là 1713,96

ha, đất phi nông nghiệp là 387,06 ha và đất chưa sử dụng là 676,47 ha Chi tiết về hiệntrạng sử dụng đất tại xã Bình Long được thể hiện tại Bảng 1.2

Bảng 1.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Tổng diện tích tự nhiên toàn xã

(Nguồn: Thống kê diện tích tự nhiên xã Bình Long, 2015)

Bảng 1.2 cho thấy tỷ lệ diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp của xã chiểm tỷ

Trang 26

Đất sản xuất nông nghiệp

21.63%

Đất lâm nghiệp Đất nuôi trồng thủy sản

77.58%

Hình 1.1 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của xã Bình Long

1.6.3.2 Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê đến tháng 12/2015 diện tích đất rừng của xã Bình Long

có 1188,81 ha, chiếm 42,8% diện tích đất tự nhiên, trong đó:

- Rừng trồng: 756,38 ha, chiếm 27,23% diện tích tự nhiên toàn xã

- Rừng tự nhiên trên núi đá: 946,22 ha, chiếm 34,07% diện tích tự nhiên toànxã

- Núi đá không có rừng: 1,27 ha, chiếm 0,06% diện tích tự nhiên toàn xã [18]

Hiện trạng cơ cấu tài nguyên rừng tại xã Bình Long đƣợc thể hiện tại hình 1.2

55.53%

Hình 1.2 Cơ cấu rừng tại xã Bình Long

Trang 27

17

Trang 28

CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu

- Xác định đặc điểm sinh khối và tích lũy các bon của rừng núi đá xã Bình Long

huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng phục vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng tại khu vực nghiên cứu

2.1.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra xác định khu vực lập ô tiêu chuẩn đối với rừng trồng và rừng tự nhiên

- Điều tra thành phần số lượng chiều cao ngang ngực của các cây cá lẻ trong ô tiêu chuẩn

- Xác định lượng các bon rừng tích luỹ trong sinh khối thân đứng tại rừng xã Bình Long

- Xác định lượng các bon tích luỹ trong tầng thảm tươi cây bụi và thảm mục tại rừng núi đá xã Bình Long

- Điều tra, đánh giá phương thức quản lý rừng tại khu vực nghiên cứu

- Đánh giá khả năng tham gia chi trả dịch vụ môi trường từ rừng tại khu vực nghiên cứu

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Rừng núi đá xã Bình Long, huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Trong đó có rừng

tự nhiên và rừng trồng (bạch đàn)

Các hộ dân tại các xóm: Long Thành, Phố, Đại Long, Cây Trôi, Nà Sọc, Chiến Thắng, Ót Giải, xóm Chịp, Đồng Bản, Trại Rẽo

Trang 29

18

Trang 30

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: Xã Bình Long huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên

Phạm vi về thời gian: Từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 10 năm 2016

Phạm vi về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu và xác định sinh khối trênmặt đất cho rừng trên núi đá và rừng trồng tại xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh TháiNguyên

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Cơ sở phương pháp luận

Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại sự biến đổi khí hậu toàn cầu

do ảnh hưởng của nó đến chu trình tuần hoàn Các bon Rừng trao đổi Các bon với môitrường không khí qua quá trình quang hợp và hô hấp Thông qua quá trình quang hợp,

CO2 ngoài môi trường sẽ được cây rừng hấp thụ và chuyển thành năng lượng dướidạng chất hyđratCác bon

6n CO2 + 5n H2O => (C6H10O5)n + 6n O2

Hợp chất này tích luỹ trong các bộ phận của cây tạo ra sinh khối (Biomass).Sinh khối được xác định là tất cả chất hữu cơ ở dạng sống và chết (còn ở trêncây) Sinh khối là đơn vị đánh giá năng suất của lâm phần Mặt khác để có được sốliệu hấp thụ Các bon, khả năng và động thái hấp thụ Các bon của rừng, chúng ta phảitính từ sinh khối của rừng Chính vì vậy, việc điều tra sinh khối của cây là điều tra hấpthụ Các bon của rừng

Sinh khối rừng được biểu thị bằng nhiều đại lượng khác nhau nhưng phổ biếnnhất là thể tích và trọng lượng chất hữu cơ do cây tạo ra Theo nguyên tắc của chọn lọc

tự nhiên, mỗi cây rừng phải thu xếp cho mình một sinh khối hợp lý nhất Vì vậy, các

bộ phận sinh khối khác nhau trên thân sẽ hình thành một tỷ lệ nhất định Do đó, việcnghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng, mối tương quan giữa chúng với nhau và với sinhkhối là rất cần thiết

2.3.2 Phương pháp tiếp cận

Đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để giải quyết các nội dung đặt ra.Ngoài ra các cách tiếp cận tự nhiên và tiếp cận cộng đồng cũng được sử dụng Lựa

19

Trang 31

chọn và xác định hệ thống các ô tiêu chuẩn để phục vụ cho các hoạt động điều tra rừng

để xác định lượng các bon tích lũy trong các loại rừng ở khu vực nghiên cứu Kết hợpvới điều tra thực địa là hoạt động điều tra cộng đồng nhằm xác định các nguy cơ gâysuy thoái rừng tại khu vực nghiên cứu cũng như xác định khả năng chi trả và mức độsẵn sàng tham gia của các hộ dân về dịch vụ môi trường từ rừng

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.3.1 Phương pháp kế thừa

Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở cho việc so sánh, phân tích

và phục vụ cho việc viết tổng quan tài liệu và đánh giá hiện trạng rừng

Thu thập tài liệu, sử dụng tài liệu thứ cấp, bản đồ hiện trạng rừng do BQL rừngcung cấp để xác định khu vực nghiên cứu Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn

đề nghiên cứu Các tài liệu về công tác quản lý sử dụng đất trên địa bàn xã BìnhLong Tài liệu về các chương trình dự án phát triển lâm nghiệp thực hiện trên địa bàn

2.3.3.2 Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng

Điều tra cộng đồng để xác định các nguy cơ và mức độ của các hoạt động gâysuy thoái rừng và sự sẵn sàng của cộng đồng đối với các hoạt động liên quan đến tăngcường và bảo tồn các bon rừng

Phỏng vấn cán bộ BQL rừng núi đá Bình Long để xác định khu vực tiến hành

đo đếm

Điều tra sơ bộ khu vực nghiên cứu và lựa chọn điểm nghiên cứu

Cụ thể đề tài đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp cán bộ địa phương với bộ câu hỏitheo phụ lục 1, phỏng vấn người dân thông qua bảng hỏi với bộ câu hỏi theo phụ lục

2 Đối tượng được phát phiếu là các hộ gia đình tham gia LNCĐ của xã Bình Long

Cụ thể đã phát ra 160 phiếu Tại các xóm tiến hành điều tra (10/20 xóm): Xóm LongThành, xóm Phố, Đại Long, Cây Trôi, Nà Sọc, Chiến Thắng, Ót Giải, xóm Chịp, ĐồngBản, Trại Rẽo chi tiết thể hiện tại bảng 2.1

Trang 32

Bảng 2.1 Thống kê số phiếu điều tra phát ra ở các xóm

- Cơ sở lựa chọn các xóm thực hiện điều tra, phỏng vấn:

+ Xóm có diện tích rừng được giao cho các hộ gia đình lớn

+ Xóm có nhiều hộ gia đình tham gia LNCĐ

+ Địa hình đi lại thuận tiện, dân cư sống tập trung, thuận lợi cho việc điều tra phỏng vấn

2.3.3.3 Phương pháp đo đếm các bon

a Phương pháp đo đếm các bon tầng cây gỗ

• Dụng cụ: GPS, thước dây dài 50m, thước dây đo đường kính ngang ngực, cân,các vật liệu khác (bao tải, sơn, bút viết, túi nilon, dây nilon, phiếu điều tra hiện trường)

21

Trang 33

Thiết lập ô tiêu chuẩn: Chọn ngẫu nhiên vị trí lập OTC trên bản đồ, sử

tự nhiên với tổng số 6 OTC

+ Trạng thái rừng tự nhiên trung bình chọn vị trí ngẫu nhiên lập 2 ô mẫu là OTC1, OTC2

+ Trạng thái rừng tự nhiên nghèo chọn vị trí ngẫu nhiên lập 1 ô mẫu OTC3

+ Rừng trồng lựa chọn vị trí ngẫu nhiên lập ô mẫu đại diện cho các cấp tuổi 3 tuổi, 5 tuổi, 7 tuổi lần lượt là OTC4, OTC5, OTC6

• Điều tra trên ô tiêu chuẩn sau khi đã tiến hành lập được ô tiêu chuẩn:

+ Điều tra thành phần loài toàn bộ cây trong OTC

+ Điều tra cấp đường kính

• Điều tra trong ô tiêu chuẩn

Đo đường kính ngang ngực bằng thước dây: Sử dụng thước dây để đo chu vi thân tất cả những cây có đường kính > 6cm, tại vị trí 1,3m

Từ kết quả đo chu vi thân tại vị trí 1,3m, tính được D1.3 theo công thức:

D 1.3 = Chu vi/π

Trang 34

Hình 2.1 Phương pháp đo đường kính ngang ngực DBH [27]

* Đối với rừng tự nhiên

Công thức tính sinh khối cây đứng:

Tính trữ lượng các bon dựa trên sinh khối rừng:

Trữ lượng các bon = sinh khối * 0,47 [19]

Trong đó: - Sinh khối (tấn khô/ha)

- 0,47 hệ số các bon mặc định theo IPCC, 2006

23

Trang 35

Với tầng thảm tươi cây bụi: Sử dụng phương pháp chặt hạ toàn diện để đo đếm

sinh khối, chặt toàn bộ cây bụi ở vị trí sát mặt đất và tiến hành cân để xác định tổngtrọng lượng, nếu có các cây gốc ở bên ngoài ODB nhưng cành chìa vào bên trongkhung thì cắt tất cả những cành bên trong khung (điều này nghĩa là chỉ một phần nằmtrong khung được tính, phần còn lại không được tính) Đo trọng lượng của mẫu thuthập được bằng cân và ghi lại

Đối với vật rơi rụng (thảm mục): Vật rơi rụng được hiểu là các bộ phận của cây

như cành cây, lá, hoa, trái cây… đã rơi xuống và tích lũy trên mặt đất rừng Chúng cóthể vẫn còn tươi hoặc bị phân hủy một phần Vật rơi rụng cũng được thu thập trongphạm vi ODB và quy trình đo lường cũng giống như đối với các cây mặt đất thu thậptất cả các loại rác và cân trọng lượng

Sấy mẫu:

Trang 37

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Sinh khối cây rừng tại khu vực nghiên cứu

3.1.1 Thành phần, danh mục loài cây tại khu vực nghiên cứu

Các kết quả điều tra thành phần các loài cây gỗ trong rừng tự nhiên xã Bình Long, huyện Võ Nhai ở các OTC được trình bày tại bảng 3.1

Bảng 3.1 Danh mục các loài cây gỗ tái sinh tại các OTC STT

Trang 39

Kết quả nghiên cứu tại bảng 3.1 cho thấy trong các OTC xuất hiện 31 loài cây

gỗ, với mật độ 1113 cây/ha, đa phần là các cây gỗ tái sinh Một số loài cây xuất hiệntrong các OTC với mật độ khá cao như: Đèo đỏ, Sang, Sảng, Đu đủ rừng Trong đóĐèo đỏ là loài cây xuất hiện nhiều nhất với mật độ 347 cây/ha, phổ biến trong khu vựcnghiên cứu, tuy nhiên những loài cây này có giá trị kinh tế thấp, một số loài không cógiá trị về kinh tế mà chỉ có giá trị về mặt môi trường Một số loài cây có giá trị kinh tếcao là Da đen, Sặm, Kẽn, Sau, Phay những loài cây này cho trữ lượng gỗ, chất gỗ tốt,tuy nhiên các loài cây này xuất hiện không nhiều, mật độ cây thấp

3.1.2 Sinh khối trạng thái cây rừng

* Rừng tự nhiên

Kết quả nghiên cứu sinh khối trạng thái cây rừng trong rừng tự nhiên tiến hànhtrên ba OTC lần lượt là OTC1, OTC2 và OTC3 đại diện cho các trạng thái rừng làrừng trung bình và rừng nghèo Kết quả đo đường kính ngang ngực trung bình của các

Trang 40

OTC3

27

Ngày đăng: 27/10/2020, 19:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w