1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa dân gian làng cảnh dương luận văn ths khu vực học 60 31 60001

148 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 273 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học giả Nguyễn Kinh Chi với tác phẩm Du lịch Quảng Bình đã đưa mọi người đến với Cảnh Dương bằng nghệ thuật hết sức khéo léo: “Làng này ởgần biển, dân cư trù mật và giàu có, họ sinh nhai

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

PHÙNG THỊ LOAN

VĂN HOÁ DÂN GIAN LÀNG CẢNH DƯƠNG

Chuyên ngành: Việt Nam học

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Là một trong tám làng văn vật của tỉnh Quảng Bình, Cảnh Dương nhưmột nét chấm phá độc đáo và ấn tượng trong bức tranh văn hoá đầy màusắc Từ lâu, làng Cảnh Dương với những vẻ đẹp rất riêng cứ lặng thầm toảsáng, năm tháng trôi qua người dân bên bến Loan giang vẫn luôn tự hào vềcon người và cảnh vật nơi đây Theo dòng chảy của thời gian, Cảnh Dương làminh chứng hùng hồn cho sức sống tiềm tàng và đầy khát vọng Nếu như ai

đó nhắc đến Cảnh Dương với thời kz oanh liệt chống giặc ngoại xâm, sẵnsàng xả thân khi Tổ quốc cần thì Cảnh Dương còn được biết đến với nhữnggiá trị văn hoá đặc trưng của một làng ven biển miền Trung đầy nắng gió

Làng Cảnh Dương với bề dày lịch sử hơn 366 năm, trải qua bao thăngtrầm của lịch sử, từ thời kz Trịnh Nguyễn phân tranh cho đến hai cuộc khángchiến chống Pháp và chống Mỹ, Cảnh Dương vẫn đứng vững, hiên ngang.Không những khẳng định mình trong những khó khăn, thử thách, CảnhDương còn giữ gìn và sở hữu cho mình kho tàng văn hoá hết sức giá trị.Nhiều di sản, nhiều truyền thống văn hoá vẫn được lưu truyền và bảo tồncho đến hôm nay Một trong những công trình được đánh giá là "công trìnhvăn hoá mang tính tầm cỡ quốc gia thu nhỏ, thật hiếm thấy " [68,

200] hay "độc nhất vô nhị" [43, 368], đó chính là các công trình bi k{ gồm:Khai khẩn thất công bi k{, Cảnh Dương xã từ vũ bi k{, Văn bia Hội tích bi k{,Bốn xã khai khẩn truyện k{ "Công trình văn bia của một làng xã như vậyquả thật là lớn, có tác dụng khuyến học, khuyến đức, khuyến dân theo

Trang 3

thuần phong mỹ tục rất sâu sắc, làm nên truyền thống tốt đẹp cho địaphương "[68, 200] Chúng ta còn có thể tìm thấy ở Cảnh Dương những giátrị kết tinh, những nét tiêu biểu của văn hoá dân gian nói chung và văn hoádân gian ven biển nói riêng.

Cảnh Dương là làng biển có khá nhiều công trình kiến trúc mang tínhquy mô và bề thế như đình, chùa, miếu Đây là những công trình có giá trịnghệ thuật thẩm mỹ cũng như giá trị tinh thần to lớn, nhưng đáng tiếc bomđạn chiến tranh đã phá huỷ, nay chỉ còn là phế tích Ngoài ra người dân nơiđây có đời sống tín ngưỡng khá phong phú như tín ngưỡng thờ cúng tổtiên, thờ Thành hoàng làng, thờ cúng Cá Ông Đặc biệt ít có làng biển nào

tổ chức nhiều lễ hội trong năm như làng Cảnh Dương Các lễ hội như lễ tếThành hoàng làng, Lễ tế Cá Ông, lễ hội chùa, hội bơi trải diễn ra hàng nămtạo nên đời sống tinh thần phong phú cho cộng đồng dân cư Không chỉdừng lại ở đó, làng chài trải mình bên bến sông Loan này còn có kho tàngngữ văn dân gian đa dạng và đậm chất dân dã với nhiều thể loại khác nhaunhư ca dao, tục ngữ và truyện kể Tất cả tạo nên bức tranh nhiều màu sắc,rất sinh động và đậm chất biển

Văn hoá dân gian Cảnh Dương với những nét đặc trưng khá độc đáo

sẽ làm giàu kho tàng văn hoá dân gian Quảng Bình nói riêng và Việt Nam nóichung, góp phần tô đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việc nghiên cứu văn hoádân gian làng Cảnh Dương sẽ là căn cứ khoa học góp phần vào việc bảo tồn

và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống Điều đó càng có { nghĩahơn trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với xuthế hội nhập quốc tế, khi những giá trị văn hoá truyền thống đang có xu thế

bị mai một và rất cần được bảo tồn, phát triển hơn bao giờ hết Đó cũng

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu

Dưới thời Nguyễn, Cảnh Dương đã được nhắc đến trong tác phẩm

Đại Nam nhất thống chí với những nét phác hoạ về sự trù phú và tên tuổi

những người học hành đỗ đạt được ghi danh Cảnh Dương từ thời kz này

đã được biết đến với những tiềm năng về biển, về truyền thống hiếu học

Đó cũng chính là niềm tự hào của người Cảnh Dương từ xưa đến nay

Học giả Nguyễn Kinh Chi với tác phẩm Du lịch Quảng Bình đã đưa mọi

người đến với Cảnh Dương bằng nghệ thuật hết sức khéo léo: “Làng này ởgần biển, dân cư trù mật và giàu có, họ sinh nhai về nghề biển, nước mắmcủa họ ngon nổi tiếng, mỗi năm chở ra ngoài Bắc buôn bán thu về trênmười vạn bạc…” Có lẽ chỉ với một vài câu giới thiệu nhưng ít nhiều đã nóilên được những nét riêng của làng Cảnh Dương, từ vị trí địa l{, dân cư, nghềnghiệp, đặc sản và cả những con người nơi đây Ngoài ra tác phẩm còn chongười đọc đến với lệ cống mắm Hàm Hương, một trong những câu chuyệnđược lưu truyền trong làng từ rất lâu Mặc dù những thông tin về làng CảnhDương chỉ khiêm tốn trong rất nhiều những địa danh khác nhưng có lẽ đây

là một trong những dòng ghi chép đầu tiên về cảnh vật, cuộc sống và conngười nơi đây

Ở miền Nam trước năm 1975, những người Quảng Bình xa quê

hương đã xuất bản tập san Quảng Bình quê tôi Trong tập san này đã có một

số bài viết về vùng Ròn (nước non Quảng Bình, Xứ Ròn, chợ Ba Đồn, nhânvật Cảnh Dương…) Tuy nhiên những bài viết này chỉ mang tính chất giớithiệu sơ lược về một vài sản phẩm đặc trưng của miền quê nơi đây như

Trang 5

cá biển, thịt heo, mắm nêm… hoặc ghi lại các câu ca dao, bài thơ được lưutruyền trong dân gian.

Một trong những tác phẩm không thể không kể đến viết về Cảnh

Dương đó chính là tập sách Cảnh Dương chí lược Có thể nói đây là một

trong những tác phẩm đề cập và giới thiệu một cách toàn diện và sâu sắc về

Cảnh Dương Cảnh Dương chí lược được biên soạn bởi tác giả Trần Đình

Vĩnh, xuất bản năm 1993 Quyển sách càng có { nghĩa hơn khi nó ra đờinhân dịp kỷ niệm 350 năm ngày thành lập làng, vì vậy nó như một món quàhết sức có { nghĩa đối với người dân Cảnh Dương nói chung và Quảng Bìnhnói riêng Tác phẩm là một công trình kết tinh những tình cảm, tâm huyếtcủa một người con của làng và được viết, trình bày một cách rất khoa học

Đến với Cảnh Dương chí lược, người đọc như được chiêm ngưỡng

một bức tranh sinh động về cuộc sống và con người nơi đây Đây được đánhgiá là một trong những đóng góp rất lớn của tác giả trong việc sưu tầm, giớithiệu và giữ gìn những nét văn hoá đặc sắc của làng Luận văn sẽ kế thừanhiều kết quả nghiên cứu của công trình này

Viết về làng Cảnh Dương, chúng ta cũng không thể bỏ qua tác phẩm

Kể chuyện làng biển Cảnh Dương của tác giả Nguyễn Viễn Có thể nói so với

Cảnh Dương chí lược, tác phẩm không đưa ra được nhiều tư liệu qu{ nhưngquyển sách này đã giới thiệu về lịch sử hình thành của làng, các ngành nghề,các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo cũng như những thành tíchtrong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước…

Như vậy có thể nói Cảnh Dương chí lược và Kể chuyện làng biển Cảnh

Dương là hai tác phẩm có cách viết khác nhau nhưng tính đến nay đây là hai

Trang 6

có thể tìm thấy ở đây lịch sử hình thành, những sinh hoạt kinh tế, văn hoá,

xã hội, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm… Tuy nhiên hai tập sáchchỉ dừng lại ở việc giới thiệu chứ chưa đi sâu vào giải thích, đặc biệt là vềvăn hoá dân gian

Về văn hoá dân gian làng Cảnh Dương phải kể đến một tác phẩmđược xây dựng khá công phu của tập thể tác giả của Viện nghiên cứu văn

hoá dân gian: Văn hoá dân gian làng ven biển (Từ trang 541 đến trang 600)

được xuất bản năm 2000 Tác phẩm đã đi sâu tìm hiểu khá kỹ văn hoá dângian của các làng ven biển Việt Nam, trong đó có Cảnh Dương Có thể nóicác tác giả đã hết sức cố gắng để đưa ra một cái nhìn tổng quát về văn hoádân gian của các làng ven biển Việt Nam và Cảnh Dương là một trong nhữnglàng được tìm hiểu và nghiên cứu rất công phu Ở tác phẩm này độc giả cóthể hình dung về các giá trị, các nét văn hoá rất riêng của Cảnh Dương, từthiên nhiên con người cho đến các lĩnh vực khác nhau của văn hoá dân giannhư văn học dân gian, các di tích kiến trúc cổ truyền, lễ hội – tín ngưỡng,diễn xướng dân gian, tri thức dân gian… Chúng ta có thể bắt gặp ở đây khotàng văn hoá dân gian phong phú và giàu chất biển, tập thể tác giả đã cónhững nhận xét khá ưu ái cho vùng đất này: “Với thế đứng mặt hướng rabiển, lưng tựa vào núi người dân Cảnh Dương nói riêng và miền Trung nóichung đã làm nên những kz tích vĩ đại về quân sự, kinh tế cũng như vănhoá Thời gian cứ trôi đi nhưng hồn thiêng sông núi, hào khí dân tộc vẫnluôn lắng đọng trên mảnh đất này” *56, 599] Tuy nhiên trong phần nghiêncứu văn hoá dân gian làng Cảnh Dương, các tác giả chỉ mới dừng lại ở mức

độ khái quát, chưa đi sâu phân tích kỹ, l{ giải vấn đề cũng như có sự đốichiếu, so sánh với văn hoá dân gian các làng khác trong tỉnh

Trang 7

Quảng Bình và các làng ven biển của các vùng miền khác để làm nổi bậtnhững giá trị văn hoá đặc trưng của Cảnh Dương.

Năm 2001, hai tác giả Văn Lợi và Nguyễn Tú đã cho ra mắt tập sách

Địa chí văn hoá miền biển Quảng Bình, trong đó tác phẩm có giới thiệu về

các làng ven biển Quảng Bình Song các tư liệu mà tác phẩm cung cấp chủyếu dựa vào nội dung của Cảnh Dương Chí lược Mặc dù vậy nhưng tácphẩm đã cho độc giả cái nhìn khá đầy đủ và toàn diện về các làng biểnQuảng Bình như Ngư Thuỷ, Bảo Ninh, Quang Phú, Thanh Trạch…

Một công trình nghiên cứu khác cũng không thể không nhắc đến đó

là đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp bộ của tác giả Th.S Trần Hoàng

với nội dung Tìm hiểu sinh hoạt văn hoá dân gian cổ truyền làng biển Cảnh

Dương Đề tài được hoàn thành năm 2003 với sự dày công nghiên cứu về

văn hoá dân gian làng Cảnh Dương Công trình đã thể hiện sự đầu tư vềthời gian và công sức rất lớn của tác giả khi đã đưa ra những nghiên cứu rất

có giá trị, đặc biệt là phần phụ lục về văn học dân gian và những tài liệuqu{ như Bổn xã khai khẩn truyện k{, khoán lệ cựu dịnh, tân tăng khoán lệ,kim tham nghĩ khoán lệ, chước nghĩa khoán lệ Ngoài ra đề tài còn đưa ranhững nhận xét cũng như những giải pháp kế thừa và phát huy di sản vănhoá dân gian cổ truyền Song những nội dung nghiên cứu của đề tài nhưmột bức tranh tổng thể, trong đó đề cập đến hầu hết các vấn đề như sinhhoạt văn hoá vật thể, phi vật thể… mà không đi sâu nghiên cứu kỹ từng loạihình văn hoá dân gian

Ngoài ra, Cảnh Dương còn được nhắc đến trong tác phẩm được ra

đời trong thời gian gần đây đó là Những nét đẹp về văn hoá cổ truyền

Quảng Bình của tác giả Nguyễn Tú Trong tác phẩm này, chúng ta có thể tìm

Trang 8

thấy rất nhiều thông tin về những nét văn hoá đặc trưng của Quảng Bình,trong đó Cảnh Dương được giới thiệu về những sinh hoạt văn hoá dân gianđộc đáo như tục bơi trải các làng biển (từ trang 620 đến trang 621).

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Tìm hiểu một số hiện tượng văn hoá dân gian độc đáo củalàng Cảnh Dương, từ đó có sự phân tích, đi sâu l{ giải các hiện tương vănhoá đó Đồng thời có sự so sánh để thấy được những nét tương đồng vàkhác biệt của văn hoá dân gian làng Cảnh Dương so với các làng khác; tìm racác giải pháp để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá dân gian trongbối cảnh hiện nay

Nhiệm vụ: để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyếtnhững nhiệm vụ sau:

- Khảo sát, miêu tả một số hiện tượng văn hoá dân gian đặc trưng của làng Cảnh Dương

- Phân tích, so sánh, tìm ra những nét chung và riêng trong từng hiệntượng văn hoá đồng thời có sự nhận xét, đánh giá những hiện tượng vănhoá đó theo sự diễn trình lịch sử

- Từ sự phân tích, so sánh để rút ra những giá trị, đặc trưng của cáchiện tượng văn hoá dân gian làng Cảnh Dương, góp phần vào quá trình bảo tồn, làm giàu và phát huy những giá trị các hiện tượng văn hoá đó

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 9

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được xác định là văn hoá dân gian làng CảnhDương Đối tượng khảo sát là những hiện tượng văn hoá dân gian tiêu biểucủa làng Cảnh Dương

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Trang 10

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng quan điểm của chủ nghĩaMác- Lênin về kế thừa vốn văn hoá truyền thống cũng như quan điểm,đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc giữ gìn và phát huy vốn di sảnvăn hoá dân tộc để xây dựng nền văn hoá mới.

5.2 Phương pháp cụ thể

Luận văn sử dụng các phương pháp chuyên ngành về nghiên cứu vănhoá dân gian như phương pháp điền dã thực địa, phương pháp tiếp cận hệthống, phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ nét các hiện tượng văn hoá dân gian đặctrưng và tiêu biểu của làng Cảnh Dương, đi sâu vào l{ giải, so sánh và rút ramột số nhận xét Từ đó có cái nhìn tổng thể về văn hoá dân gian CảnhDương trong bức tranh chung văn hoá dân gian Quảng Bình

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiêncứu về văn hoá dân gian của các làng ven biển ở Quảng Bình và các tỉnhmiền Trung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luậnvăn được kết cấu ba chương, mười một tiết

Trang 12

tác phẩm Những nét đẹp văn hoá cổ truyền Quảng Bình đã nhận định: Làng

Cảnh Dương "là một làng nổi tiếng văn vật, làng học, làng nghề, làng chiếnđấu, một làng có vị trí phong thuỷ hết sức phong phú" Sở dĩ khẳng địnhnhư vậy vì Cảnh Dương ở vào vị trí địa l{ khá độc đáo, có cảnh quan sôngnúi, có biển bao la ôm ấp

Làng Cảnh Dương nằm trên cửa biển Di Luân với toạ độ:

170,50 - 170,52 vĩ Bắc

1060,26 - 1060,27 kinh Đông

Cảnh Dương được ví như "một con thuyền đang thả neo trên sôngnước" [73,8+ hay như một bán đảo nhỏ

- Phía Đông là biển cả mênh mông bao bọc

- Phía Tây là con Kênh Xuân Hưng lịch sử

Trang 13

- Phía Bắc là sông Ròn

- Phía Nam là bãi cát vàng trải dài

Địa thế này còn được phác họa trong Văn tế tổ với những câu thơ khámượt mà:

"Phía đông ngọc đổng chầu về

Rùa vàng mũi vích nằm kề phía Tây

Bảng vàng phía Bắc gần đây

Phượng Hoàng chất ngất núi xây nghìn trùng

Phía Nam bãi cát một vùng

Như hình xa thổ vốn cung chầu về

Chung quanh nước bọc ba bề

Nghiên tần, bút tốn nằm kề Loan giang"

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Sông Loan núi Phượng hữu tìnhBảng vàng ấn ngọc phân minh chầu về

Nếu là người con của Cảnh Dương, hoặc đã từng đến Cảnh Dươngkhông ai không biết đến hai câu thơ đầy { nghĩa này Đây là những dòng thơ

đã từng được khắc trên một văn bia dựng ở đầu làng, trên đường đi vàocổng làng trước năm 1945 Không phải ngẫu nhiên mà câu thơ lại được đặt

Trang 14

vào vị trí trang trọng đó, phải chăng nó thay lời giới thiệu, như một lời nhắngửi hay { nghĩa hơn là một thông điệp muốn gửi gắm đến tất cả những ai

đã, đang và sẽ đến Cảnh Dương Bởi ẩn chứa trong đó không chỉ là cảnhvật, con người mà cả tâm hồn của người dân nơi đây "Đây là cảnh quantrên bến dưới thuyền, là cảnh quan sông núi âm dương hoà hợp trong bứctranh sơn thuỷ" [73,14+ Hình ảnh "sông Loan", "núi Phượng" tạo cho CảnhDương vẻ thơ mộng, độc đáo và đầy sức quyến rũ, tạo nên cảm hứng bấttận cho các nhà văn, nhà thơ: "Cái đẹp! Ôi, cái đẹp, đến các bậc thánh như

cụ Khổng Tử còn mê cái đẹp, huống chi các cụ nho sĩ nhà ta" *74, 29+ Cáiđẹp chẳng phải ở đâu quá xa vời mà chính là đây, là non xanh, là nước biếc,

là sự kết hợp hài hoà đến ngỡ ngàng khiến các bậc hiền tài không thể khôngviết thành thơ "Sông Loan, núi Phượng như một bức tranh đẹp, hài hoà vàcân xứng làm nên cảnh sắc riêng của xứ Ròn, mà làng Cảnh Dương chính làmột điểm son rực rỡ trong bức tranh thiên nhiên kz thú đó" *27,9]

Sông Loan hay còn được gọi là sông Ròn, sông Di Luân, sông NểGiang Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau nhưng "tên gọi nào cũng mangdấu ấn văn hoá đẹp" [68, 139] Cụ Tố Như Nguyễn Du khi đương chức cai bạQuảng Bình thời Gia Long, nhớ quê Tiên Điền ngoài huyện Nghi Xuân, HàTĩnh, đến Di Luân đứng bên sông Ròn làm thơ chữ Hán cũng đành gọi tênsông theo bọn người Hán thuở quận Nhật Nam, bộ Giao Chỉ là Nể Giang:

Nể giang trào trướng bạch hàm thiên

(Sông Nể lồng lộng bóng trời trắng xoá khi thuỷ triều lên)

Sông Ròn là một trong năm con sông lớn của Quảng Bình và là consông ở miền Trung phát nguyên từ dãy Hoành Sơn Phải chăng vì thế màngười ta ví sông Ròn chính là "người bạn tình" của dãy Hoành Sơn? Tuy là

Trang 15

một con sông lớn nhưng sông có chiều dài chỉ khoảng 30 km, lưu vực sôngkhoảng 260 km2 Sông có hai nguồn chính là hai con suối tạo thành, mộtnguồn là khe Hùng Sơn bắt đầu từ khe Chùa Thông, vùng Đá Đen (xã QuảngHợp), nguồn khác là khe Thai bắt đầu từ vùng Đá Bạc (xã Quảng Kim) Sôngchảy qua các xã Quảng Kim, Quảng Châu, Quảng Tùng, Quảng Phú rồi rabiển qua cửa Cảnh Dương Cửa sông hẹp, sông lại cạn nên không thuận lợicho các loại thuyền bè ra vào (chỉ thích hợp với một số loại thuyền nhỏ).

Sông Ròn là người bạn tri kỷ, gắn bó thân thiết với người dân nơi đây

Tự bao giờ, theo dòng chảy của tự nhiên, con sông như nhịp cầu nối liềnnhững con người, vùng đất lại với nhau và hơn thế, nó đã chảy vào tâm hồnmỗi người những tìm cảm, sự sẻ chia và cộng cảm Đâu đó đã không cònkhoảng cách giữa con người và thiên nhiên, tất cả như hài hoà, đan xen.Người Cảnh Dương đã không biết bao nhiêu lần, trên con sông này, họ tìmđến những vùng đất khác để làm ăn, buôn bán, đánh bắt tôm, cá vàkhông hiểu từ khi nào, hình ảnh con sông đã ăn sâu vào tâm thức của mỗingười, như một nét văn hoá khó phai mờ

Trong bức tranh tuyệt đẹp của tạo hoá, sông Ròn sẽ trở nên mềm mạihơn, thơ mộng hơn khi xuất hiện dãy Hoành Sơn sừng sững, hùng vĩ và đầysức sống Vì thế Hoành Sơn được ví như con chim Phượng đang mạnh mẽdang rộng đôi cánh: "chim đang bay ra biển Đông, hai cánh xoè ra hai bên.Cánh trái của chim là phía Hà Tĩnh, cánh phải là Quảng Bình, chỗ cao nhấtcủa chim có bình độ 1.089 m, và nơi mỏ chim cúi xuống biến là đỉnh ĐèoNgang (cũ) có cổng Hoành Sơn Quan, phân chia địa giới hai tỉnh" [68, 47]

Trang 16

Hoành Sơn có chiều dài 129km, đỉnh cao nhất là đỉnh Chóp Chài cao1.044 km ngăn cách giữa hai vùng Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên Đèo Ngang

và Hoành Sơn được xem là "địa đầu bình phong cho cả hai miền Bắc vàNam - Hoành Sơn nhất đái - cho nên vua Minh Mạng cũng lấy Hoành Sơnlàm trường thành án ngữ - dĩ Hoành Sơn vi án" *73,15+ Nơi đây đã từngdiễn ra trận chiến giữa hai nước Việt Chăm và "vết tích Lâm Ấp vẫn còn indấu" [27, 9+ Đại Nam nhất thống chí ghi:

"Thạch thành Lâm ấp trúcLục lộ Tử An bình"

Dịch nghĩa: Thành đá Lâm Ấp đắpĐường bộ Tử An xây (Bùi Quang dịch)

Trên đỉnh Đèo Ngang hiện vẫn sừng sững uy nghi một cổng thànhHoành Sơn Quan Về gốc tích của Hoành Sơn Quan, tác giả Nguyễn Tú nhậnđịnh: "Năm thứ tư, đời vua Minh Mạng, Quảng Bình bộ tâu nói: Hoành Sơn,chỗ giáp giới tỉnh Quảng Bình với Hà Tĩnh, núi cao, lại giáp biển là chỗ quantrọng, xin đặt quan ải ở đây Vua nghe lời tâu mà đặt tên là Hoành SơnQuan, sai công bộ Thị lang Đoàn Công Phú đốc xuất việc làm và dụ rằng: Nayphương Nam phương Bắc họp thành một nhà, bốn mặt biên thuz đềukhông xảy ra việc gì, dải núi Hoành Sơn mà đặt thêm quan ải để xét hỏi bọngian phi, không cần cao rộng lắm " [68, 49]

Đến tháng 3 năm 1842, vua Thiệu Trị, con vua Minh Mạng, ông vuathứ ba triều Nguyễn, ngự giá ra Bắc đón nhận lễ sắc phong của Hoàng đếTrung Quốc ngang qua Đèo Ngang đã làm bài thơ vịnh cổng thành, khắc vàobia bên cạnh cửa như sau:

Trang 17

Nhất đái miên thành hạn tiết sanUyển diên khởi phục hải tần quanDịch nghĩa:

Hoành Sơn một dải núi như dải lụa chắn ngangNhấp nhô trùng điệp uốn khúc bên bờ biểnHoành Sơn quan không chỉ có { nghĩa về mặt lịch sử mà nó còn kếttinh giá trị văn hoá vô cùng qu{ giá Mặc dù trải qua biết bao thăng trầm củalịch sử, chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước, nhưng Hoành Sơn quankhông vì thế mà nhạt phai trong tâm thức của mỗi người Đến tận hôm nay,khi đặt chân đến chốn này, tận mắt chứng kiến sự tồn tại, thách thức vớithời gian của Hoành Sơn quan - một trong những công trình được đánh giá

là "chắc chắn hơn cả những cổng thành chốn kinh kz" [70, 49] chúng ta mớihiểu hết sức sống tiềm tàng đang ẩn chứa đâu đây: " trải bao nhiêu giónúi, mưa ngàn, chịu đựng trước biết bao cơn bão ác liệt, cả bão trời lẫn bãobom đạn của địch mà vẫn vững chãi, chắc chắn, thi gan cùng tuế nguyệt,thách đố với thời gian Đứng trước Hoành Sơn Quan, nhìn lên vòm cửa caongất, tưởng như núi non xung quanh đều thấp xuống mà tự thấy con ngườilớn lên, vít được tầng mây, nhìn suốt được biển trời bát ngát, mà động lònghoài cổ, tưởng tượng ra những điều kz diệu!" [70, 49] “Việc xây dựngHoành Sơn Quan, người ta không hiểu, người xưa, với hai bàn tay không,lưng trần chân đất, không một tấc sắt thép, máy móc, họ làm sao đưa lênngọn núi này một khối lượng đá gạch, vôi vữa, bằng con đường bậc thangtưởng như chọc trời này, để xây một cổng thành, đến nay trải hơn 150 năm,vẫn còn vững chắc tưởng như chưa hề hư hỏng” *68, 50]

Trang 18

Hoành Sơn không chỉ có { nghĩa quan trọng về mặt kinh tế đối vớingười dân Cảnh Dương nói riêng và người dân vùng phía Bắc Quảng Bìnhnói chung mà còn rất đỗi thiêng liêng đối với Cảnh Dương: "Nằm trước mặtlàng, Hoành Sơn cách Cảnh Dương (nơi gần nhất) 4 cây số, là một kz quan

mà thiên nhiên ban tặng cho con người, miền đất "Địa linh, nhân kiệt".Người Cảnh Dương xưa đã chọn làm hướng làng

"Tả Thanh long: Di lộc, Di Luân; hữu Bạch Hổ: Trung Hoà, Cươnggiáng"

"Trái thi vạn con nước, phải thu về vạn ngọn đá ngầm"

"Di Hoành sơn vi án" (Trích Phạm tộc phả k{)

Con người tắm mình trong cảnh quan sông núi, cảnh quan sông núitiềm ẩn trong lòng người đã hình thành một tình cảm đẹp, một triết l{ đẹp,một lối sống đẹp - đấy là niềm tự hào chính đáng về quê hương" *73,11,12]

Phải, làm sao không tự hào được khi Cảnh Dương từ xưa đến naynhư đẹp hơn, rạng ngời hơn và anh linh hơn bởi sở hữu riêng cho mình một

vị trí phong thuỷ hết sức độc đáo: có sông, có núi và biển cả bao la

Sẽ thật là khiếm khuyết nếu nhắc đến Cảnh Dương mà chúng takhông nói đến sự hiện hữu của biển trong đời sống kinh tế và văn hoá củanhân dân Cảnh Dương Ngay từ những năm đầu mới lập làng, quay mặt rabiển là sự lựa chọn được đánh giá là "có tầm nhìn" của các bậc tiền hiền,điều đó đã góp phần đưa Cảnh Dương nhanh chóng trở thành một làngbiển trù phú và thịnh vượng bậc nhất của châu Bố Chính xưa Phía Đông của

Trang 19

làng được bao bọc bởi mênh mông biển cả, đây là vùng biển thuộc vịnh Bắc

Bộ với sự đa dạng về địa hình như bãi ngang, rạng ngầm, hải đảo

Vùng biển Cảnh Dương có thể chia làm 2 vùng với đặc điểm hoàntoàn khác nhau, vùng cửa lạch Ròn lên phía Bắc và vùng cửa lạch Ròn xuốngphía Nam

Vùng cửa lạch Ròn lên phía Bắc là vùng có địa hình phức tạp với khánhiều đảo, rạng ngầm hay còn gọi là vùng biển san hô Do có dãy HoànhSơn đâm ngang ra biển, thường là đá hoa cương nham thạch cứng - là tàn

dư của các kiến tạo của dãy Trường Sơn - tạo nên các mũi đá cách nhaukhoảng vài ba km Tính từ hướng Bắc vào có các mũi biển với những tên gọi

ấn tượng, dân dã như Mũi Đao, Mũi Độc, Mũi Ông, Mũi Rồng Sở dĩ cónhững tên gọi này là xuất phát từ hình dáng của các mũi biển, theo quan sátcủa người dân thì Mũi Đao có hình giống thanh đao, Mũi Độc giống hình conrắn, Mũi Rồng giống hình đầu rồng Giản đơn vậy thôi nên rất dễ nhớ, dễ đivào lòng người bởi tính mộc mạc và gần gũi của nó Ngoài ra, phần cuối củadãy Hoành Sơn đâm ra biển tạo thành những hình dáng khác nhau của cácmỏm núi: có nơi vách núi thẳng đứng sừng sững như một bức thành cao vớichân móng cắm sâu xuống biển, có nơi các hòn núi nhỏ rải rác, nổi lên trênmặt nước khiến người ta liên tưởng đến hình thù các con vật như "hoặcnhư trầu nằm, hoặc như ngựa nhảy, hoặc như chim lượn, én bay, lại cónhững mỏm núi có hang sâu nằm sát mép nước, mỗi lần sóng vỗ vào trắngxoá như con quái vật phun nước ra [68, 197]

Nối liền giữa các mỏm đá là bãi cát trắng phẳng lz, trắng tinh viềnquanh chân núi như "sân chơi của thiên nga", là nơi l{ tưởng cho những ai

Trang 20

muốn nghỉ chân để chiêm ngưỡng quang cảnh nơi đây, bởi ai đã từng qua đây đều thấy lòng mình ngây ngất bởi cảnh non xanh nước biếc" [73, 14].

Ở phía nam của Mũi Rồng, dưới chân đèo Ngang, biển lấn sâu hìnhthành một cái vũng gọi là Vũng Chùa - là vùng biển kín gió nên đây là nơil{ tưởng để tàu thuyền trú ngụ khi trời trở gió Người Cảnh Dương không aikhông thuộc hai câu thơ:

Đông Bắc thì dựa Vũng ChùaNồm Nam dựa Chụt bốn mùa như ao

Đứng từ Vũng Chùa phóng tầm mắt ra xa, sẽ hiện lên hình ảnh của bahòn đảo với thế đứng chân vạc là Hòn Nồm, Hòn La và Hòn Cỏ Đảo La (haycòn gọi là Đảo Yến) cách bờ biển khoảng 3 - 4 km, là con mắt tiền tiêu củacửa ngỏ vùng biển phía Bắc Quảng Bình

Từ cửa biển Cảnh Dương nhìn ra khơi xa, còn có một hòn đảo gọi làHòn Ông Hòn Ông còn có tên gọi khác là Hòn Gió, sở dĩ có tên gọi này là vìhình dạng của nó thường thay đổi theo gió nước, bầu trời Có khi có hìnhchóp nón, có khi giống hình cỗ xôi, cái nấm

Ngoài Vũng Chùa, các mỏm đá, hòn đảo , vùng biển này còn cónhững rạng ngầm dài hàng chục km với đặc điểm độc đáo Đó là những rạng

đá san hô có nhiều hang hốc, nhiều tầng, nhiều lớp vì thế đây là nơi trú ngụcủa nhiều loài cá, tôm, cua Đặc biệt hơn cả là Rạng Lố (Hòn Lố) được ví là

"toà lâu đài có nhiều biệt thự trên con đường giao lưu của các luồng cá" Vìthế người dân Cảnh Dương có câu tục ngữ: "Tháng tám Hòn La, tháng baHòn Lố" Tháng ba là tháng mà có nhiều rong rêu nhất, vì thế rất nhiều loài

cá qu{ hội tụ về đây sinh sôi, nảy nở như cá Tho, cá Dưa, cá

Trang 21

Hàm hương Sự ưu ái của thiên nhiên đã ban tặng cho Cảnh Dương "mộtvùng đặc sản qu{ hiếm" [73, 14+, chính món quà của tạo hoá đã giúp cholàng biển phát triển kinh tế ngày càng thịnh vượng và khởi sắc.

Nếu vùng biển từ cửa lạch Ròn lên phía Bắc có địa hình đa dạng,phức tạp thì vùng viển từ cửa lạch Ròn xuống phía Nam lại là vùng Bãingang Ở vùng biển này do có đáy cạn, chủ yếu là cát và bùn pha trộn vớinhau nên rất thuận lợi phát triển các nghề lưới trủ, lưới vây, lưới quét

Cảnh Dương có diện tích khoảng 3 km2, đất làng toàn cát, không cóđất ruộng để sản xuất nông nghiệp nên theo lời kể của các vị bô lão, đấttrồng của Cảnh Dương phải mua bên làng Di Lộc Vì thế Cảnh Dương cònđược gọi là một làng (xã) giàu cát nhưng lại "nghèo đất" Nhìn tổng thể,Cảnh Dương nổi lên như một hòn cù lao cát trắng - một làng cát điển hìnhcủa vùng duyên hải miền Trung Xung quanh làng được bao bọc bởi sôngbiển mặn mòi, dân cư sinh sống trên một diện tích đất đai nhỏ hẹp Người

ta còn xem Cảnh Dương có "phong cảnh khác thường của một làng quê venbiển - một bán đảo cát trắng" Đến với Cảnh Dương, chúng ta sẽ thấy đâuđâu cũng có sự hiện hữu của cát, từ đường làng, ngõ xóm, sân chơi

Với mô hình kết cấu nhà cửa khá độc đáo đã tạo nên vẻ rất riêng củalàng, vì thế Cảnh Dương được ví như "một thành phố văn minh tối cổ" [70,54], "vẻ đẹp cổ kính" *68, 199] hay "một thành cổ" [73, 9] Sở dĩ có sự sosánh đó bởi các ngôi nhà ở đây được xây toàn gạch ngói san sát theo "kiểu

úp bát", xung quanh mỗi nhà đều có khuôn viên thành trì san hô bao bọc.Đường ngang ngõ dọc trong làng được bố trí như hình bàn cờ, thẳng tắpkhiến người ta liên tưởng đến những làng phố cổ Quan sát từ xa, CảnhDương toát lên sự sạch sẽ, văn minh của một đô thị phồn vinh

Trang 22

Mặc dù không có đất đai màu mỡ để trồng lúa, trồng khoai nhưngngười Cảnh Dương với mệnh danh là "luôn nhạy cảm với cái mới" đã pháttriển kinh tế theo hướng khai thác thế mạnh nghề chài lưới và chế biến hảisản Chính sự nỗ lực rất lớn của người dân Cảnh Dương thế hệ tiếp nối thế

hệ đã nhanh chóng đưa kinh tế, văn hoá, giáo dục của làng ngày càng pháttriển và phồn vinh đúng như tâm niệm của tác giả Trần Đình Vĩnh: "NgườiCảnh Dương từ khi lập nghiệp là hướng ra biển, từ mảnh đất kz thú này,bằng tấm lòng và trí tuệ đã tạo cho mình một cuộc sống ấm êm, hạnhphúc " *73, 14]

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển làng cảnh Dương

Tính đến nay làng Cảnh Dương vừa tròn 366 tuổi Trải qua bao thăngtrầm của lịch sử, cùng với những biến động của thời gian, làng vẫn đứng đó,hiền hoà nhưng rất đỗi kiên trung, mềm mại nhưng không hề yếu đuối bởinơi đây đã chứng kiến bao nhiêu bom đạn, vết chân giày xéo của kẻ thù,từng bờ cây, bụi cỏ vẫn còn đó dấu tích một thời Nhưng không vì thế màCảnh Dương mất đi dáng vẻ rất riêng của mình mà hơn thế, chúng ta vẫntìm thấy ở đây dáng vóc hào hùng, những giá trị văn hoá vô cùng qu{ giá, nó

đã cùng với con người và cảnh vật nơi đây lặng lẽ toả sáng và trường tồnvới thời gian Chúng ta hãy một lần ngược dòng thời gian, ngược dòng lịch

sử để trở về với những ngày đầu tạo lập và hình thành làng Cảnh Dương

Qua nghiên cứu tư liệu lịch sử, các phả tộc dòng họ và những sưutầm truyền tụng trong dân gian, chúng tôi đã tìm thấy một số cứ liệu cơ bản

về sự ra đời và phát triển của làng Cảnh Dương Từ ngày đầu thành lập làng

Trang 23

cho đến dưới các triều đại phong kiến và khi đất nước được soi sáng bởi sựlãnh đạo của Đảng, người dân trong làng luôn biết gìn giữ và phát huy giá trịtruyền thống, đó là sự tương thân tương ái, là tinh thần đoàn kết, vượt khó

và đặc biệt là lòng yêu nước Suốt chặng đường với những bước đi đầu tiênđầy gian khó nhưng người dân Cảnh Dương luôn tự hào về quá khứ và lạcquan, tự tin hướng đến tương lai, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp

1.2.1 Cảnh Dương trong những ngày đầu mới hình thành

Vùng đất làng Cảnh Dương trước thuộc châu Bố Chính nước ChiêmThành Năm 1069, Vua L{ Thánh Tông cử L{ Thường Kiệt làm tướng tiênphong đánh Chiêm Thành nhằm chế ngự mặt phương Nam Trong trận đánhnày vua Chiêm bị bắt xin dâng ba châu là Bố Chính, Địa L{ và Ma Linh, từphía Nam trở vào (Quảng Trị ngày nay) để chuộc mạng Đến đời nhàL{ (1075), vùng đất làng Cảnh Dương thuộc đất Bố Chính Nhà L{ nhân đó

mở rộng biên giới phía Nam

Châu Bố Chính bắt đầu thực sự phát triển từ cuộc di dân khi vua LêThánh Tông (1460 - 1497) kêu gọi nhân dân bốn trấn và Hoan, Ái vào BốChính khai hoang lập nghiệp "Về đời Hồng Đức, ở phía Nam Quảng Bìnhdân cư đã tiệm đông, nhưng ở phía bắc tức là châu Bố Chánh (Tuyên Hoá,Quảng Trạch và Bố Trạch) vì ruộng xấu, đất cao, sinh kế khó nhọc nên dân

cư còn lơ thơ lắm Năm 1467 nhân có lời xin của quan thừa chánh sứ tưtham nghị Thuận Hoá là ông Đặng Thiêm, vua bèn hạ dụ chiêu tập dân gianvào khai khẩn ở châu Bố Chánh Kể từ thời đó mới có người vào sinh cơ lậpnghiệp ở phía bắc Quảng Bình Nếu hai đợt di dân trước theo lối "ngụ binh

ư nông", nặng về nông nghiệp thì đợt di dân này chú trọng cả nông nghiệp

Trang 24

hay Phường (mà không gọi là Xá), bắt đầu xây dựng những làng nghềchuyên nghiệp.

Sách Thiên Nam Dư Hạ Tập, từ thời Hồng Đức (Lê Thánh Tông) đãthống kê số làng xã ở châu Bố Chính, phủ Tân Bình như sau: " châu BốChính 12 tổng, 64 xã, 24 phường, 20 trang" Như vậy với phong trào di dânvào phương Nam để khai hoang lập ấp, làng xã Quảng Bình đã phát triển rấtnhanh Đặc biệt là dưới thời vua Lê Thánh Tông, châu Bố Chính là điểm khaikhẩn trọng yếu và từ đó làng Cảnh Dương cũng bắt đầu được hình thành vàphát triển

Theo Bản Hương ước được viết từ đời Cảnh Hưng thứ 22 và phần

"khai khẩn truyện k{ của một số bản Gia phả của các họ Nguyễn, họ Phạm(Phạm tộc gia phả k{, Nguyễn Thị Tiểu tông gia phả ) đều đề cập đếnnguồn gốc và quá trình hình thành của làng Trong bài tựa cuốn: "NguyễnThị tiểu tông gia phả" do tú tài Nguyễn Gia Miễn viết năm Tự Đức thứ 24(1871) - có đoạn viết về nguồn gốc làng Cảnh Dương như sau: "Nguyêntrước, Tổ tiên ta người trang Cảnh Dương, huyện Chân Phúc, Phủ ĐứcQuang, tỉnh Nghệ An Ngày 18/11 năm Qu{ Mùi (1643) triều Lê Chân Tông,hiệu Phúc Thái, tổ tiên ta cùng khai khẩn (vùng ấy), rồi liệt vị tiên hiền cũngvào xứ Cồn Dưa (tức thôn Bắc Hà) xã Thuần Thần, châu Bố Chính" Đặc biệtcuốn “Bổn xã khai khẩn truyện k{” ghi rất rõ:

“Thuỷ tổ làng ta vốn sinh ra ở trang Cảnh Dương, huyện Chân Phúc,phủ Đức Quang, Nghệ An Các ngài Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh bắt đầuvào xứ Cồn Dưa xã Thuần Thần, châu Bố Chính khẩn hoang làm nghề, saudời đến xứ Lòi Mắm làng Di Phúc dựng lên 5 cái nhà, từ đó sinh sản ngàycàng đông, mới phân bổ việc quan, chịu thuế lệ, định cách thức Lòi Mắm

Trang 25

xứ tức là làng Cảnh Dương Cồn Dưa xứ nay là thôn Bắc Biên cho đến ngàynay bèn ghi lại vậy.

Năm Qu{ Mùi (1643), Phúc Thái thứ nhất, ngày 18 tháng 11 mùaĐông, Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Văn Lẫm,Phạm Văn Hựu, Phạm Văn Sạo vào châu Bố Chính, ngụ cư ở xứ Thuần Thần,lúc đó mới có 6 người kết làm anh em, lập nên nhà cửa, bắt đầu đào giếnggọi là giếng Đông”

Với những tư liệu trên, mốc thời gian năm 1643 là năm khai sinh làngCảnh Dương, đánh dấu bước ngoặt vô cùng có { nghĩa đối với lịch sử hìnhthành và phát triển của làng Sự khởi đầu quan trọng đó với công lao mởđất, lập làng của sáu vị tổ đã mở đầu cho những năm tháng tiếp theo trongviệc khai hoang, lập ấp Đặc biệt tư liệu còn cho chúng ta nguồn thông tinqu{ giá: “Cảnh Dương” là tên gốc của trang Cảnh Dương huyện Nghi Lộc,tỉnh Nghệ An Đó cũng chính là quê gốc của người Cảnh Dương Mảnh đấtđầu tiên mà sáu vị tổ đặt chân đến chính là xã Thuần Thần, châu Bố Chính

Sau ba năm kể từ ngày sáu vị tổ đặt bước chân đầu tiên lên vùng đấtnày, năm 1647 đã có thêm 4 người nữa đến sinh cơ lập nghiệp: “Ngày 20tháng 9 năm Đinh Hợi, Phúc Thái thứ 5 (1647) Phạm Văn An, Phạm Văn Hảo,

Võ Văn Lan, Phạm Khắc Hoành lại cùng vào sinh sống, lập nghiệp với cácngài Nguyễn Văn An… (Nay xét Quốc sử Phúc Thái là niên hiệu triều vua LêThần Tông hoàng đế)

Và đến năm 1653 (tức là sau 10 năm kể từ ngày lập làng) số lượng đãtăng lên là 19 người: “Ngày 8 tháng 6 năm Qu{ Tỵ, Thịnh Đức thứ nhất(1653), các ông Đỗ Phú Thanh, Đỗ Văn La, Trương Văn Trác, Trương Văn

Trang 26

Pháo, Võ Văn Nhiên, Nguyễn Văn Vệ (hay Thuật)… gồm 20 người đến xứ CồnDưa cùng vào cư trú với các tiền bối”.

Như vậy có thể thấy sau 10 năm, vùng đất này đã “đón tiếp” thêmnhững dấu chân đến khai phá và viết nên những trang lịch sử mới cho làng.Sau này dân làng Cảnh Dương đã lập bia đá tôn vinh và xây Đình Tổ để thờcác vị tổ đã có công lập làng (Nay Đình Tổ không còn (bị chiến tranh tàn phá)nên dân làng đã xây dựng Đình Tổ mới và đặt bài vị thờ các vị tiền hiền

ở đây) Các vị được thờ tự bao gồm: Bảy vị tiền hiền khai khẩn (Nguyễn Văn

An, Ngô Cảnh Xuân, Nguyễn Văn Đức, Đỗ Phú Thanh, Vũ Văn Nhiên, PhạmKhắc Hoành, Trương Văn Trác) và thập nhị vị tiền hiền đồng khẩn (NguyễnVăn Yên, Phạm Văn Ánh, Trương Văn Pháp, Phạm Văn Hữu, Đỗ Văn La, VũVăn Vượng, Nguyễn Văn Lẫm, Phạm Văn Hảo, Ngô Văn Hoà, Phạm Văn Sào,Ngô Phúc Lai, Vũ Văn Lan)

Một sự kiện có { nghĩa quan trọng nữa đó là việc quyết định chuyển

từ Cồn Dưa (đã sinh sống được 12 năm) sang bờ Nam sông Ròn, chọn xứ LòiMắm làm nơi định cư lâu dài “Mùa xuân tháng 2 năm Ất Mùi, Thịnh Đứcthứ 3 (1655), các ông Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh dời đến xứ Lòi Mắmdọc bờ sông làng Di Phúc (tức nay là đất làng ta) Lúc đó được 20 người,dựng nhà cửa, từ đó số người dần đông” Phải chăng đây là sự lựa chọnsáng suốt thể hiện tầm nhìn, tài trí của các bậc tiền bối? Sở dĩ đặt ra câu hỏinhư vậy bởi xứ Lòi Mắm (Cảnh Dương ngày nay) ẩn chứa rất nhiều tiềmnăng mà đến tận bây giờ nó đã được khẳng định qua sự phát triển kinh tế,văn hoá của làng trong những bước đi của lịch sử "Người Cảnh Dương khiđặt chân lên mảnh đất này là hướng ra biển, biển cả bao la vẫy gọi, nuôisống và rèn luyện con người mang đầy đủ những đức tính lanh lợi,

Trang 27

dũng cảm, sáng dạ, nhạy cảm trước cái mới" [73, 19+ Chính mảnh đất này

đã tạo nên một Cảnh Dương rất riêng với cuộc sống gắn liền với biển cả, vớinhững thế mạnh về phát triển nghề chài lưới, với những con người dẻo dai,mạnh mẽ, thông minh… để chúng ta có Cảnh Dương trù phú, giàu có nhưhôm nay “Sự thịnh đạt của làng biển bên bờ sông Loan này (…) là một minhchứng hết sức thuyết phục cho sự sáng suốt và tầm nhìn xa, trông rộng củacác bậc tiền bối làng Cảnh Dương trong việc chọn đất, lập làng” [27, 17],

“tiếp cận với biển là một yêu cầu của người làm nghề chài lưới Làng CảnhDương ngày nay có nhiều ưu thế: cảnh quan đẹp, chài lưới thuận lợi, bốphòng tốt, thuyền bè kín gió, đó phải chăng là tầm nhìn chiến lược củangười xưa” [73, 27] Với những nhận xét trên, có thể khẳng định rằng ngườidân ngày xưa và hôm nay luôn tự hào và biết ơn công lao mở đất, lập làngcủa các vị tiền hiền, chính tên đất, tên người ấy đã tạo nên diện mạo củalàng biển này hôm nay và mãi mãi về sau

Nếu năm 1643, năm 1655… đều đánh dấu sự kiện quan trọng củalàng thì đến năm 1658, tên làng đã được ra đời và hai tiếng “Cảnh Dương”cũng vang lên từ thời khắc đó Việc đặt tên làng như một lời nhắn gửi chínhthức đến tất cả mọi người, mọi nơi rằng tại đây, ở vùng đất này CảnhDương đã khẳng định về “chủ quyền”, về “lãnh thổ” và xưng danh với cáclàng, các vùng khác Đối với nhân dân nơi đây, “Hai chữ Cảnh Dương vừađẹp về tên chữ, vừa đẹp về ước mơ”, thể hiện khát khao muốn khẳng địnhmình [73, 14]

1.2.2 Cảnh Dương dưới các triều đại phong kiến

+ Về kinh tế

Trang 28

Với vị trí địa l{ “phía đông là biển cả bao la”, Cảnh Dương đã nhanhchóng phát huy lợi thế và khai thác tiềm năng về biển Ngày từ những ngàyđầu lập làng, các vị tiền bối đã “chọn” nghề chài lưới làm kế sinh nhai Chính

vì thế sau thời gian khi số lượng dân ngày càng tăng, các dụng cụ phục vụcho hoạt động khai thác hải sản nhiều hơn, quy mô hơn thì cũng là lúc kinh

tế của Cảnh Dương bắt đầu khởi sắc Làng biển trù phú này đã được nhắcđến trong các tác phẩm nổi tiếng (như đã nêu ở phần trên) với thế mạnh vềnghề đi biển của mình Với nghề nghiệp chủ yếu của họ là đánh bắt tôm cá,chế biến hải sản, buôn bán và hàng hải, người dân nơi đây đã nhanh chóng

xây dựng cho làng nền tảng kinh tế vững chắc Tác phẩm Bổn xã khai khẩn

truyện ký đã ghi nhận điều đó: “Tháng 4 năm Nhâm Dần, Vĩnh Thọ thứ nhất

(1662) đã viết bộ đinh được 47 suất, ghe buôn được 4 chiếc, ghe chài được

6 chiếc” và “tháng 4 năm Giáp Thìn, Cảnh Trị thứ hai (1664) làng được phân

bố thuế Hàm Hương, hàng năm dâng nạp…” Với số lượng ghe chài, ghebuôn và cống mắm Hàm hương đã phần nào phản ánh đời sống kinh tếCảnh Dương lúc bấy giờ “Nghề buôn thuyền và nghề làm nước mắm lúcnày đã phát triển” *73, 30] Mặc dù chỉ mới 19 năm kể từ ngày khai khẩnmảnh đất này, người dân đã biết tạo lập và phát triển cho mình nghề nghiệp

ổn định, tạo được tên tuổi về sản phẩm mắm Hàm Hương - một trongnhững sản phẩm nổi tiếng của làng dâng lên cho triều đình (sau này đếnnăm 1670, mắm Hàm hương đem dâng nộp cho Đại mẫu quốc vương (mẹvua)

Đến triều đại Tây Sơn, kinh tế của Cảnh Dương có những bước pháttriển nhất định, điều đó đã được thể hiện qua việc nhân dân đóng góp, ủng

hộ cho đội quân nhà Tây Sơn “Nhân dân Cảnh Dương đã đón tiếp đoànquân của Nguyễn Huệ với một niềm cảm kích” *73, 32+ Không chỉ cổ động

Trang 29

về mặt tinh thần mà hoà chung phong trào của nhân dân tỉnh Quảng Bình,người dân ở đây đã đem cả “nhân tài, vật lực” phục vụ phong trào Tây Sơn,

cụ thể trong cuộc chiến chinh của ba anh em nhà Tây Sơn đã có sự góp mặtcủa 5 chiếc ghe Tràng Đà và 50 người con của Cảnh Dương, cùng với sự xuấthiện và tồn tại của chiếc chuông “Hồng chung, cảnh viện” suốt mấy trămnăm đã minh chứng cho tấm lòng của nhân dân Cảnh Dương đối với nhàTây Sơn Nó vừa phản ánh tình cảm của người dân nơi đây nhưng đồng thờithể hiện tiềm năng kinh tế rất lớn của Cảnh Dương: “Phải nhìn thấy sứcmạnh kinh tế, xã hội của một làng như thế nào mới đủ sức làm được nhữngviệc to lớn ghi lại truyền thống cho mai sau” *73, 33+ Tác giả Trần ĐìnhVĩnh đã có nhận xét khi đọc những lời cầu nguyện do giám sinh Nguyễn ĐứcQu{nh soạn được khắc trên quả chuông

Dưới triều Nguyễn, kinh tế Cảnh Dương đã có những bước phát triểnvượt bậc Các nghề truyền thống như nghề đánh bắt tôm cá, nghề làmnước mắm… đã đem lại rất nhiều nguồn lợi cho làng Nhân dân khôngnhững đã tích luỹ nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong việc khai thác tiềmnăng về biển mà còn không ngừng nâng cao kỹ năng chế biến hải sản,những sản phẩm của làng đã được nhiều nơi biết đến, thậm chí những vùng

xa xôi như Phan Thiết, Nam Định… Ngoài ra, người dân đã biết dựa vào vị tríđịa l{ thuận lợi để phát triển kinh tế, lưu thông hàng hoá, góp phần thúcđẩy buôn bán Về đường bộ, nằm trên trục đường xuyên suốt bắc nam nênnơi đây khá dễ dàng trong việc mở rộng mối quan hệ làm ăn, buôn bán, vậnchuyển Đặc biệt là đường thuỷ, Cảnh Dương không những khai thác vùngmiền Bắc mà còn mở rộng địa bàn buôn bán về hướng nam, đưa sản phẩmcủa Cảnh Dương đến với nhiều vùng miền của đất nước, đồng thời buôn về

Trang 30

những mặt hàng rất phong phú, phục vụ ngày càng tốt hơn đời sống sinhhoạt vật chất cũng như tinh thần của nhân dân.

Tóm lại, kinh tế Cảnh Dương dưới các triều đại phong kiến từng bước

đã có sự khởi sắc, dần khẳng định vị trí của mình Nhân dân của làng bằngchính lòng quyết tâm, tinh thần vượt khó, sẵn sàng đối mặt với thử thách,gian khổ để tự tạo nên một diện mạo rất riêng mảnh đất quê hương để rồiCảnh Dương trong mắt của mọi người là hình ảnh một làng biển trù phú vàgiàu có, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc

+ Về văn hoá - giáo dục

Với nền kinh tế khá phát triển, văn hoá làng Cảnh Dương cũng vì thếnhanh chóng tạo nên được những nét rất riêng Cụ thể từ những năm đầulập làng, dưới thời Lê - Trịnh, nhân dân Cảnh Dương đã đầu tư xây dựng cáccông trình có quy mô cũng như tổ chức sinh hoạt văn hoá lành mạnh, tạonên đời sống tinh thần phong phú Những cứ liệu tại Bổn xã khai khẩntruyện k{ đã minh chứng điều đó:

“Tháng 3 năm Kỷ Hợi, Thịnh Đức thứ bảy (1659) làng ta dâng lễ bácáo Hà Bá để cầu ngư (…) Tháng 6, năm Bính Ngọ, Cảnh Trị thứ tư (1666)làng ta bố trí nơi thờ thần, phật, đào ao, làm giếng”

Như vậy không những mở rộng các hoạt động như mở đường, đàogiếng, lập chợ…mà làng còn hình thành những sinh hoạt rất có { nghĩa như

lễ cầu ngư… những nét văn hoá mà đến bây giờ những thế hệ sau này vẫngiữ gìn và kế thừa

Trang 31

Cũng vào thời kz này, Cảnh Dương đã có người đỗ đạt sinh đồ, hươngcống Một số người đã ra làm quan dưới triều Lê như ông Đỗ Đức Huy,Nguyễn Như Kim Giáo dục được xem là nội dung quan trọng ngay từ nhữngngày đầu, bản Hương ước cổ của làng (1767) có quy định: "Đối với trẻ con

từ 7 tuổi trở lên thì cha mẹ phải cho tới trường học Trẻ con đi học, làng xét

ra nhà túng quá thì lấy tiền công quỹ trợ cấp cho mỗi trẻ mỗi tháng 0,3 đồng

để mua giấy mực" Cũng trong thời gian này Cảnh Dương đã đóng góp rấtnhiều sức người sức của cho tập đoàn phong kiến họ Trịnh

Đến triều đại Tây Sơn, nét văn hoá nổi bật nhất mà đến tận bây giờ,trải qua hàng trăm năm với biết bao biến động của lịch sử, nó vẫn đượcnhân dân giữ gìn và nâng niu, trở thành một vật rất thiêng liêng đối với làng

Đó chính là chiếc chuông “Hồng chung, cảnh viện” - một bằng chứng về ảnhhưởng của văn hoá Tây Sơn đối với nhân dân Cảnh Duơng Đến tận bây giờ,khi ngôi chùa của làng đã không còn do sự tàn phá của chiến tranh thì chiếcchuông vẫn được trân trọng giữ gìn như một báu vật, phải chăng đó cũng làmột cách thể hiện tình cảm của con người nơi đây, mộc mạc, chân thành vàrất đỗi vẹn tình

Dưới triều Nguyễn, Cảnh Dương có rất nhiều thành tích về văn hoá giáo dục "Tính từ triều Nguyễn mở khoa thi làng Cảnh Dương được gọi làlàng khai khoa Tiến sĩ, làng mở đầu tiên khoa Tiến sĩ trong huyện QuảngTrạch, cùng với làng Hoàng Công ở huyện Lệ Thuỷ là hai làng khai khoa Tiến

-sĩ của tỉnh Quảng Bình *68, 200] Cảnh Dương cũng là địa phương mởtrường học khá sớm Năm 1918, ông Đỗ Phúc Túc đã vận động nhân dân xâytrường học sau này gọi là trường tiểu học Pháp - Việt "Khi chữ Hán bị bãi

bỏ, các trường Tiểu học Pháp - Việt chỉ được Nhà nước bảo hộ Pháp cho

Trang 32

mở từ tỉnh đến huyện là cùng, thế mà riêng làng Cảnh Dương được mở mộttrường" [68, 200].

Ở Cảnh Dương hiện nay còn lưu giữ 11 sắc phong thần được triềuđình nhà Nguyễn phong từ thời vua Thiệu Trị đến đời vua Khải Định

1.2.3 Cảnh Dương sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay

Sau cách mạng tháng 8 thành công, Cảnh Dương nhanh chóng ổnđịnh về mọi mặt Chính quyền được củng cố và xây dựng đúng mục tiêu,bản chất của cách mạng, nhân dân hăng hái tham gia các cuộc phát động,ủng hộ phong trào cách mạng như tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm,

hũ gạo cứu đói, phong trào bình dân học vụ, xây dựng lực lượng tự vệ ở cácxóm

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, CảnhDương càng nổi lên như một điểm sáng về tinh thần chiến đấu quật cường,không hề lung lay trước những thủ đoạn và tấn công tàn ác của kẻ thù Cóthể nói tên làng Cảnh Dương được nhiều người biết đến cũng chính là thời

kz này Tên tuổi làng kháng chiến Cảnh Dương đã trở thành một biểu tượngmẫu mực của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Đã không biết baonhiêu lời ca ngợi, sự ngưỡng mộ và cả lòng biết ơn về một "làng chiến đấu"anh hùng Chưa bao giờ chúng ta bắt gặp một Cảnh Dương ngoan cường vàanh dũng như thế

"Phong trào “Quyết tử giữ làng” được nhân dân đồng lòng hưởng ứng:

Thuyền đánh cá cỡ lớn được đánh đắm ở cửa sông để chặn tàu giặc Thùnglớn đựng nước mắm được đổ đầy cát dựng công sự Hệ thống phòng thủ

Trang 33

còn được chất nhiều lớp đá san hô, cây dương liễu, chum vại Nhà nào cũngđào hầm bí mật Vỏ chai, đồng, sắt được gom lại chế tạo vũ khí Nhân dânkhông những đóng góp tài sản, tiền bạc mà còn kề vai sát cánh cùng các đội

du kích đánh giặc bằng đại đao và mìn tự tạo Những người già yếu đi tản

cư, còn lại mỗi người dân ở đây là một chiến sĩ sẵn sàng đánh địch bảo vệxóm làng" Đây chỉ một trong những nét chấm phá về hình ảnh của làngCảnh Dương trong thời kz chống Pháp, nhưng chúng ta có thể bắt gặp ở đómột tinh thần thép, một { chí sắt đá và một trái tim yêu nước, yêu xóm làngđến tha thiết Nhân dân Cảnh Dương đã quên mình để chiến đấu bảo vệmảnh đất quê hương, anh dũng vượt qua 120 trận càn lớn nhỏ của quânthù Không những kiên cường đối mặt với quân thù mà người dân nơi đâyvừa hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất, ngư dân vẫn bám biển, đóng gópcho gia đình và làng xã "Năm giờ tối mới xô thuyền ra biển, Tất cả mọi sinhhoạt chuyển sang đêm" *73, 50+ Tuy nhiên không vì thế mà Cảnh Dươngmất đi vẻ mềm mại và lạc quan, nhân dân tay cầm súng nhưng vẫn hát vangnhững lời ca tiếng hát, phong trào trào văn nghệ, thể thao vẫn được duy trì.Đâu đó trên gương mặt của mỗi người dân vẫn sáng ngời niềm tin chiếnthắng, vào một tương lai tươi sáng đang chờ đón Chúng ta có thể gặp bất

cứ nơi đâu, bất cứ người nào trên mảnh đất làng Cảnh Dương những nhịpđập, những tiếng nói, những hơi thở hoà quyện với nhau về tình yêu quêhương làng xóm, nó đã thấm vào từng ngọn cỏ, từng mảnh đất và máu thịtcủa người dân nơi đây

Thời chống Mỹ, gần mười năm đương đầu với tên đế quốc khét tiếngtrong cuộc chiến tranh có thể nói là tàn bạo nhất trong lịch sử, nhân dânCảnh Dương không vì thế mà nhụt chí Phát huy truyền thống anh dũngkiên cường đánh giặc giữ nước, giữ làng trong cuộc chiến tranh chống

Trang 34

Pháp, người dân nơi đây đã bám đất, bám làng tiêu diệt được 4 máy bay, 2tàu chiến hiện đại của kẻ thù Biết bao người đã hy sinh, ngã xuống vì sựbình yên của đất nước, xóm làng, máu hàng trăm đồng bào đã nhuộm thắmtừng dòng sông bãi biển, hàng trăm ngôi nhà và hầu hết các công trình kiếntrúc đình, chùa, miếu đã bị huỷ diệt Những hy sinh đó, những mất mát đónhư được ghi tạc vào trời xanh và trong lòng người dân xứ sở, Cảnh Dươngnhư càng đẹp hơn, lung linh hơn trong trái tim của đồng bào cả nước Hàngloạt phần thưởng cao qu{ được trao cho nhân dân Cảnh Dương: Huânchương chiến công hạng nhất, Huân chương chiến công hạng hai, Huânchương chiến công hạng ba, Huân chương Quân công hạng 3 và đặc biệtvào dịp 2 - 9 - 1976, Cảnh Dương đã được phong tặng danh hiệu Anh hùnglực lượng vũ trang.

Tất cả những truyền thống, thành tích rất đáng trân trọng đó đượcngười Cảnh Dương khắc sâu vào tâm thức, chính vì thế trong công cuộc xâydựng và đổi mới đất nước, Cảnh Dương vẫn mang trong mình tinh thần ấy, {chí ấy, không bao giờ biết lùi bước trước những khó khăn Mặc dù còn đórất nhiều những thử thách, trở ngại nhưng Cảnh Dương vẫn bừng sáng tinhthần lạc quan và tin tưởng vào ánh sáng soi đường của Đảng Hôm naychúng ta bắt gặp những gương mặt hồng lên trong nắng sớm, long lanhtrong niềm vui bởi họ đã góp một phần tô điểm thêm truyền thống củanhân dân nơi đây Những đoàn thuyền đầy ắp cá ánh lên trong mắt củangười dân chài, những ngày mùa bội thu, những làng nghề phát triển,chúng ta bắt gặp không khí lao động sản xuất hăng say, hồ hởi Khôngnhững thế người dân nơi đây rất tự hào về kho tàng văn hoá dân gian củamình Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong thiên tai nhưng họ vẫn rất yêuđời và hào phóng Ngày xuân nhân dân nô nức những lễ hội cầu ngư, cầu

Trang 35

mùa mong một mùa bội thu Những trò chơi: Chèo cạn, cờ người, cơm thi,cơm cần, hội bơi trải càng làm cho thôn xóm thêm náo nức, thanh bình.Những tiềm ẩn văn học dân gian trong lòng người như: ca dao, hò vè, tụcngữ đa dạng và độc đáo Tất cả tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp về vănhoá của làng ven biển.

Kết luận chương 1

Cảnh Dương là vùng đất có cảnh quan môi trường và hệ sinh thái khá

đa đạng Với sự hiện hữu của núi, sông, biển cư dân nơi đây đã hướngvào việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên sẵn có, trong đó nổi bật nhất

là môi trường biển Chính vì thế đời sống văn hoá của cư dân Cảnh Dươngmang sắc thái văn hoá biển khá rõ nét Cảnh Dương cũng là một trongnhững nơi dừng chân của người Việt trong quá trình Nam tiến, các bậc tiềnhiền đã chọn nơi này để định cư lâu dài và bắt đầu viết nên những trang sửđầu tiên đầy { nghĩa đối với biết bao thế hệ người dân của làng Đây là l{ do

vì sao văn hóa dân gian làng cảnh Dương ngoài những nét văn hóa kháphong phú, đa dạng vẫn mang đậm dấu ấn của vùng đất Thanh – Nghệ -Tĩnh

Trang 37

Trong đó khẳng định: "Miếu mạo trong làng hiện thành nền tảng, cũng làđịa linh un đúc anh túc, là một đại cơ quan vậy, như thái miếu, thành miếu,linh ứng miếu, chùa phật, nơi cầu phúc, cầu ngư, nhà thờ khai khẩn ( ) đềuđời đời tuân thủ không thể thay đổi, xâm phạm" [74, 56] Trong phạm viluận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số kiến trúc khá độc đáonhư: Đình Lớn, Chùa làng và Miếu thờ Cá Ông.

2.1.1 Đình Lớn

Đình Lớn là một trong những công trình kiến trúc quy mô và có{ nghĩa rất lớn đối với nhân dân trong làng Đó không chỉ là nơi thờ Thànhhoàng Bổn thổ - Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương mà còn được xem là "bộ mặt"của làng Người dân dù đi đâu về đâu vẫn hướng về Đình Lớn với lòng tônkính và ngưỡng vọng Ngay từ những ngày đầu mới lập làng, việc chọn đất

để xây dựng các công trình kiến trúc trong đó có Đình Lớn đã được các vịchức sắc và nhân dân trong làng rất quan tâm, thậm chí xem đó là một côngviệc có tính quyết định đối với sự phát triển của làng sau này Cũng giốngnhư các làng khác ở Bắc Bộ, đình làng được quan niệm là nơi rất linh thiêng

và tất cả khi đến đây đều phải cúi mình thành kính Chính vì thế khi quyếtđịnh khởi dựng Đình Lớn, phải chọn được đất tốt, "đất thiêng" Bản Hươngước cổ của làng chép: "Tháng 6 năm Bính Ngọ, Cảnh Trị thứ tư (1666) làng

ta bố trí nơi thờ thần, phật, đào ao, làm giếng Đỗ Phú Thanh và Phạm KhắcHoành đi buôn đến Đông Lan, giáp huyện Tây Lan tìm được minh sư (thầygiỏi) Nguyễn Quang Diệu bèn mời về xin chọn đất lập miếu thờ thần, chùaphật" "Việc mời thầy "Minh sư" lấy hướng làng theo thuyết phong thuỷ,chọn được 3 sở cát địa (đất tốt) "tọa khôn hướng cấn" Thầy đoán rằng 3

Trang 38

chỗ rất linh thiêng "đinh tài, lưỡng vượng", căn cứ vào âm dương chảytrong lòng đất dân gian thường gọi là long mạch" Chính vì đây được xem làđất thiêng nên "tất cả các nhà trong làng đều ngoảnh về hướng Đông - Bắc,hướng của đình và chùa làng" *72, 14] Mặc dù hiện nay, người dân đã linhhoạt hơn trong việc chọn hướng nhà để tiện lợi trong quá trình sinh hoạt và

đi lại nhưng về cơ bản "cảnh quan tổng thể của hướng làng đã định hình,không thay đổi" [72, 14] Điều đó khẳng định một lần nữa tầm quan trọng

và { nghĩa của Đình Lớn đối với đời sống sinh hoạt kinh tế và văn hoá củalàng Đây được xem là "trái tim", là trung tâm, là nơi tiếp thêm sức mạnhtinh thần to lớn cho nhân dân Đình Lớn cũng vì thế được xây dựng rất côngphu và tỉ mỉ

Đình Lớn trong những ngày đầu mới khởi dựng khá đơn giản, hầunhư trong Đình không có hiện vật gì qu{ giá, nội thất bài trí sơ sài Đìnhđược dựng lên bằng tranh, các cột xung quanh làm bằng tre, lợp mái lá.Hướng của Đình "ngồi hướng qu{ trở mặt về hướng đinh", lấy sông Ròn làmminh đường và núi Hoành Sơn làm tiền án Tuy nhiên qua nhiều lần trùng

tu, nâng cấp Đình Lớn đã trở thành công trình to lớn, bề thế với kết cấu kháhoàn chỉnh và nội thất trang trí đẹp đẽ, lộng lẫy

Sân đình được lát gạch trông rất sạch sẽ và thoáng mát Trước sânđình là tấm bình phong to lớn với những hình đắp nổi lưỡng long chầunguyệt Phía trước bình phong là khoảng không gian khá rộng và bằngphẳng, là nơi dân làng thường tổ chức các sinh hoạt vui chơi và hội hè Nơiđây đã từng ghi dấu những khoảnh khắc lịch sử của làng bởi trải qua biếtbao biến động, thăng trầm của lịch sử, mảnh đất này đã từng chứng kiến sựhiện diện của biết bao thế hệ với ít nhiều thay đổi về con người và cảnh vậtcủa làng chài nhỏ bé này Phía sau bình phong là những cột nanh cao lớn,

Trang 39

trên các cột nanh là hình 4 con nghê làm bằng đất nung Các cột nanh tạonên cổng đình với 2 lớp trong và ngoài, lớp trong có một cổng chính và haicổng phụ, lớp ngoài là cổng chính khá rộng Hai bên cổng đình là 2 ngôimiếu nhỏ, phía trong miếu là pho tượng của hai ông hộ pháp làm bằng vôigạch, tô vẽ màu sắc sinh động, trông rất giống người thật Gần 2 miếu làtượng của hai con voi được đúc bằng vôi với kích cỡ to bằng voi thật nêntrông rất bề thế.

Đình Lớn với 3 toà: tiền đình, trung đình và hậu đình liên kết với nhauthành hình chữ tam Tiền đình được xây dựng to lớn, thoáng mát, là nơinghỉ ngơi, hội họp của các vị chức sắc và những người cao tuổi mỗi khi làng

có dịp tế lễ Xung quanh treo các hoành phi và câu đối với màu sắc lộng lẫy(sơn son thiếp vàng) Gần sát với tiền đình là một cặp ngựa gỗ được chạmkhắc rất công phu, thể hiện tính nghệ thuật rất cao Hai con ngựa với kích cỡkhá to, một con màu trắng và một con màu hồng, phía dưới chân có bánh

xe lăn để tiện lợi cho việc di chuyển Đây được xem là tác phẩm khá nổi bậtcủa đình

Trung đình là nơi đặt các hương án, đồ thờ cúng, các loại trốngchiêng, kiệu, lọng Đáng chú { là Đình có lưu giữ hơn hai chục chiếc kiệu vớinhững kiểu dáng và kích cỡ khác nhau, được trang trí khác nhau được dùngvào những lúc làng có dịp tế lễ

Hậu điện được quan niệm là nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của thần Thànhhoàng nên nó được kết cấu và trang trí theo kiểu tư thất, khá kín đáo và tỉ

mỉ Nơi đây có đặt bài vị và bát hương để nhang khói mỗi lần tế lễ Ngoài racòn có một số đồ dùng, tư trang của Nữ thần như chăn, gối, màn, quạt, cơi

Trang 40

trầu Đây được xem là nơi linh thiêng và không phải ai cũng được vào để nhang đèn, chỉ một số vị chức sắc, các vị chủ lễ

Đình được lợp bằng ngói âm dương, toàn bộ sườn đình được dựnglên bởi các loại gỗ qu{ như táu, lim Chính vì thế trông rất chắc chắn vàvững chãi Hơn nữa với kỹ thuật ghép mộng mà hầu như không dùng đếnđinh thể hiện bàn tay khéo léo, tinh xảo và rất khoa học của người dân

Trải qua hai cuộc kháng chiến với sự tàn phá của hàng loạt bom đạn,Đình Lớn là một trong những công trình chịu nhiều tổn thất Tất cả đã bị hưhại chỉ còn là đống đổ nát Đây là nỗi đau, là dấu tích của chiến tranh, ngườidân nơi đây luôn ngoảnh về quá khứ với sự luyến tiếc vô bờ bến bởi làng đãmất đi một công trình ghi dấu biết bao thời khắc lịch sử, là nơi bình yêntrong đời sống tâm tinh của mỗi một người dân Đình Lớn mãi chỉ còn nằmtrong k{ ức của người dân

2.1.2 Chùa làng

Sau 24 năm kể từ ngày các vị khai khẩn đến mảnh đất này khai hoanglập ấp, Chùa làng Cảnh Dương với tên gọi "Cảnh Phúc Tự" đã được xây dựng(vào năm 1667) Theo Bản hương ước cổ của làng, chùa được khởi dựngtrên địa thế rất đẹp: Chùa phật bên trái làng, lấy mạch từ long về, toạ khônhướng cấn" Được đánh giá là một trong những nơi đất thiêng, chùa làngcũng vì thế càng có ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người dân tronglàng

Chùa nằm ở phía Tây của làng, trên nền đất cao Cũng như Đình Lớn,chùa lấy sông Loan làm minh đường và núi Hoành Sơn làm tiền án Trải qua

Ngày đăng: 27/10/2020, 19:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w