Tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ dành cho cán bộ thuộc các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ (Tài liệu tập huấn nâng cao) - Phần 2 gồm có những nội dung: Đánh giá hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và cạnh tranh không lành mạnh; thực tiễn xử lý các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
Trang 1Chuyên đề 3 ĐÁNH GIÁ HÀNH VI XÂM PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
SÁNG CHẾ, TÊN THƯƠNG MẠI, CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
VÀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Mỗi đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ có những đặc thù riêng Các đặc thù này bao gồm cách thức được bảo hộ, phạm vi bảo hộ, thời gian bảo hộ và các trường hợp đặc thù
Nguyên tắc chung để đánh giá và xác định có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp hay không là phải căn cứ vào các nội dung sau:
1 Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo
hộ quyền SHCN;
2 Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét;
3 Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền SHCN và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền SHCN;
4 Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam Đối với các hành vi xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người sử dụng mạng internet tại Việt Nam thì cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam
Về cơ bản, các quy định nêu trên được áp dụng để đánh giá có hay không có hành vi xâm phạm quyền SHCN Tuy nhiên, đối với mỗi đối tượng SHCN cụ thể thì ngoài các nội dung nêu trên, còn phải lưu ý đến các trường hợp ngoại lệ hoặc đặc điểm riêng
Trang 21 Đánh giá xâm phạm quyền SHCN đối với sáng chế 1.1 Xác định chủ thể quyền sở hữu đối với sáng chế
Chủ thể quyền sở hữu đối với sáng chế là tổ chức hoặc cá nhân sở hữu sáng chế hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở
hữu sáng chế, tác giả sáng chế (Điều 121, Điều 122 của Luật Sở hữu trí tuệ) và được xác định trên cơ sở văn bằng bảo hộ hoặc hợp đồng chuyển
giao quyền sở hữu sáng chế được nhà nước ghi nhận
Trong trường hợp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được cấp chung cho nhiều tổ chức, cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 86, khoản 5 Điều 87 và khoản 2 Điều
90 của Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền sở hữu công nghiệp thuộc sở hữu chung của các tổ chức, cá nhân đó Các chủ sở hữu chung thực hiện quyền
sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự
Tài liệu chứng minh tư cách chủ thể quyền, gồm một trong các tài liệu
sau (xem Điều 24 Nghị định 105/2006/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 119/2010/NĐ-CP):
i) Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích ii) Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp do Cục
Sở hữu trí tuệ cấp có ghi nhận về chủ sở hữu sáng chế
Trong hoạt động thực thi quyền sở hữu công nghiệp thì việc xác định chủ thể quyền sở hữu công nghiệp là rất quan trọng để khẳng định người
đó có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của mình, hoặc có quyền gửi đơn đến các cơ quan thực thi yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp hay không
1.2 Xác định phạm vi bảo hộ đối với sáng chế
Phạm vi bảo hộ của sáng chế được xác định trong văn bằng bảo hộ sáng chế, cụ thể là tại phần Yêu cầu bảo hộ sáng chế Yêu cầu bảo hộ sáng chế có thể bao gồm một hoặc nhiều điểm bảo hộ độc lập Tiếp theo mỗi yêu cầu bảo hộ độc lập có thể có một hoặc nhiều điểm yêu cầu bảo hộ phụ thuộc để cụ thể hoá điểm độc lập trước nó
Trang 31.3 Xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với sáng chế
Để xác định đánh giá về yếu tố xâm phạm quyền đối với sáng chế phải xác định có hay không có sự đồng nhất giữa sản phẩm/bộ phận của sản phẩm, quy trình/bộ phận của quy trình bị nghi ngờ vi phạm với sản phẩm/quy trình được bảo hộ
Do vậy, cần phải so sánh tất cả các dấu hiệu (đặc điểm kỹ thuật) thuộc
từng điểm trong Yêu cầu bảo hộ với các dấu hiệu của sản phẩm/bộ phận
của sản phẩm, quy trình/bộ phận của quy trình bị nghi ngờ vi phạm 1.3.1 Đối với sáng chế được bảo hộ là sản phẩm
Bị coi là có yếu tố xâm phạm quyền SHCN đối với sáng chế khi: i) Sản phẩm được làm trùng với sản phẩm thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế;
ii) Sản phẩm được làm tương đương với sản phẩm thuộc phạm vi bảo
1.3.2 Đối với sáng chế là quy trình
Quy trình trùng với với quy trình thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế;
Quy trình tương đương với quy trình thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế;
Sản phẩm hoặc bộ phận (phần) của sản phẩm được sản xuất theo quy trình trùng với quy trình thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế;
Sản phẩm hoặc bộ phận (phần) của sản phẩm được sản xuất theo quy trình tương đương với quy trình thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế
1.3.3 Xác định phạm vi trùng
Một sản phẩm (bộ phận sản phẩm) hoặc quy trình bị coi là trùng với sản phẩm (bộ phận sản phẩm) hoặc quy trình thuộc phạm vi bảo hộ sáng
Trang 4chế nếu sản phẩm (bộ phận sản phẩm) hoặc quy trình đó có tất cả các dấu hiệu (đặc điểm kỹ thuật) cơ bản trùng nhau hoặc tương đương nhau
Một dấu hiệu được so sánh bị coi là đồng nhất với một dấu hiệu được bảo hộ nếu có cùng bản chất, cùng mục đích sử dụng và cùng mối quan hệ với các dấu hiệu khác nêu trong Yêu cầu bảo hộ
Nếu trong sản phẩm (bộ phận sản phẩm) hoặc quy trình nghi ngờ có tất cả các dấu hiệu (đặc điểm kỹ thuật) cơ bản trùng hoặc gần như trùng hoàn toàn (tức là có thể sử dụng thay thế) và có kết quả như sử dụng các dấu hiệu (đặc điểm kỹ thuật) cơ bản thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế thì
được coi là trùng với sáng chế đang được bảo hộ
1.3.4 Xác định phạm vi tương đương
Một sản phẩm (bộ phận sản phẩm) hoặc quy trình bị coi là tương đương với sản phẩm (bộ phận sản phẩm) hoặc quy trình thuộc phạm vi yêu cầu bảo hộ sáng chế nếu có phần lớn các dấu hiệu (đặc điểm kỹ thuật)
cơ bản trùng hoặc gần như trùng hoàn toàn (tức là có thể sử dụng thay thế)
và có kết quả như sử dụng các dấu hiệu (đặc điểm kỹ thuật) cơ bản thuộc
phạm vi bảo hộ sáng chế
Một dấu hiệu được so sánh bị coi là một biến thể tương đương với một dấu hiệu được bảo hộ nếu bản chất của dấu hiệu đó đã được biết đến trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng, có cùng mục đích sử dụng với cách thức đạt được mục đích về cơ bản như nhau
1.4 Trường hợp ngoại lệ không bị coi là xâm phạm quyền đối với sáng chế
Trong trường hợp xác định được yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ nhưng chủ thể sử dụng sản phẩm (bộ phận sản phẩm), quy trình thuộc
phạm vi bảo hộ sáng chế vẫn không bị coi là có hành vi xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ nếu thuộc các trường hợp ngoại lệ dưới đây:
1.4.1 Quyền sử dụng trước
Trường hợp trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu có) của đơn
đăng ký sáng chế mà có người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần
Trang 5thiết để sử dụng sản phẩm (bộ phận sản phẩm) hoặc quy trình đồng nhất
với sáng chế trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập thì sau khi bằng độc quyền sáng chế được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế nhưng không được mở rộng phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu sáng chế và không bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
1.4.2 Sử dụng sáng chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm (bộ phận sản phẩm) hoặc quy
trình thuộc phạm vi bảo hộ sáng chế của tổ chức, cá nhân khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.5 Ví dụ vụ xâm phạm sáng chế "Hộp chở đồ của xe máy có thể điều chỉnh chuyển động của cơ cấu đóng mở nắp"
Nội dung vụ việc
Công ty GIVI SRL (Italy) là chủ sở hữu sáng chế "Hộp chở đồ của xe
máy có thể điều chỉnh chuyển động của cơ cấu đóng mở nắp" đang được
bảo hộ tại Việt Nam theo Bằng độc quyền sáng chế số 4916 (cấp ngày
05/5/2005)
Thực hiện Quyết định số 46/QĐTTra, ngày 06/11/2008, Đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra việc sản xuất sản phẩm Hộp chở đồ của xe máy gắn nhãn hiệu "ASEAN" tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Giày
Đức Minh (gọi tắt là Công ty Đức Minh) theo nội dung Đơn yêu cầu xử lý
xâm phạm quyền đối với sáng chế của Công ty GIVI SRL
Tại thời điểm thanh tra, Đoàn thanh tra đã phát hiện Công ty Đức Minh sản xuất để bán sản phẩm Hộp chở đồ của xe máy gắn dấu hiệu
"ASEAN" trong đó có 95 bộ ổ khoá có các đặc điểm như mô tả trong Đơn yêu cầu xử lý xâm phạm của Công ty GIVI SRL
Trang 6Sản phẩm được làm theo sáng chế
Vấn đề: Xác định các dấu hiệu gồm phần đáy, phần nắp, chi tiết
hãm (lẫy khoá), đặc biệt là cơ cấu điều chỉnh có phương tiện mở có trùng với tập hợp các dấu hiệu của "Hợp chở đồ của xe máy có thể điều chỉnh chuyển động của cơ cấu đóng mở nắp" trong yêu cầu bảo hộ của Bằng độc quyền sáng chế số 4916 đang được bảo hộ tại Việt Nam cho GIVI SRL
(Italy) hay không?
Kết luận và quyết định xử lý
Xem xét các dấu hiệu trên sản phẩm phát hiện tại Công ty Đức Minh, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ thấy rằng:
Sản phẩm "Hộp chở đồ của xe máy" do Công ty Đức Minh sản xuất
có tập hợp các dấu hiệu gồm phần đáy, phần nắp, chi tiết hãm (lẫy khoá),
đặc biệt là cơ cấu điều chỉnh có phương tiện mở trùng với tập hợp các dấu hiệu của "Hộp chở đồ của xe máy có thể điều chỉnh chuyển động của cơ cấu đóng mở nắp" trong yêu cầu bảo hộ của Bằng độc quyền sáng chế số
4916 đang được bảo hộ tại Việt Nam cho GIVI SRL (Italy) Do đó việc
sản xuất các sản phẩm nêu trên mà không do Chủ văn bằng hoặc người người được Chủ văn bằng cho phép sản xuất là hành vi xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp đối với sáng chế được bảo hộ, vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 106/NĐ-CP ngày 22/9/2006
Ngày 11/11/2007, Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã có Quyết định số 50/QĐTTra xử phạt hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
Trang 7nghiệp đối với Công ty Đức Minh với số tiền là 4.750.000 đồng, buộc Công ty Đức Minh tự tiêu huỷ 95 bộ ổ khoá xâm phạm quyền đối với sáng
chế của Công ty GIVI SRL (Italy)
Vấn đề cần lưu ý
Sản phẩm "Hộp chở đồ của xe máy" do Công ty Đức Minh sản xuất
có tập hợp các dấu hiệu gồm phần đáy, phần nắp, chi tiết hãm (lẫy khoá), đặc biệt là cơ cấu điều chỉnh có phương tiện mở trùng với tập hợp các dấu hiệu của "Hộp chở đồ của xe máy có thể điều chỉnh chuyển động của cơ cấu đóng mở nắp" trong yêu cầu bảo hộ của Bằng độc quyền sáng chế số
4916 cho GIVI SRL (Italy)
Khi đánh giá tính trùng hoặc tương tự của sáng chế cần lưu ý đến các dấu hiệu kỹ thuật được xác định trong các điểm yêu cầu bảo hộ của sáng chế
1.6 Tình huống thảo luận
1.6.1.Tình huống 1
Công ty Rhone Puolenc Agrochime (CH Pháp) được cấp Bằng độc
quyền sáng chế số 1928 (cấp ngày 20/3/2001 và có thời hạn hiệu lực đến hết ngày 14/8/2017) bảo hộ sản phẩm "Hỗn hợp thuốc trừ sâu bao gồm
thuốc trừ sâu thuộc họ Clonicotinyl và thuốc trừ sâu có nhóm Pyrazol, Pyrol hoặc Phenylimidazol"
Phần Yêu cầu bảo hộ của Bằng độc quyền số 1928 gồm 20 điểm Trong đó, nội dung tại điểm 1, 2, 3 được thể hiện như sau:
Điểm 1: Hỗn hợp nông hoá để bảo vệ thực vật chống lại sâu bọ hoặc các động vật chân khớp, khác biệt ở chỗ, hỗn hợp này bao gồm: Thuốc trừ sâu A thuộc nhóm Clonicotinyl như Imidacloprit, Axetamiprit hoặc Nitenpyram, và thuốc trừ sâu B có nhóm Pyrazol, Pyrol, hoặc Phenylimidazol với một lượng hữu hiệu
Điểm 2: Hỗn hợp theo điểm 1, khác biệt ở chỗ, thuốc trừ sâu B là thuốc trừ sâu có nhóm Pyrazol;
Trang 8Điểm 3: Hỗn hợp theo điểm 2, khác biệt ở chỗ thuốc trừ sâu B là Fipronil bao gồm các dược chất có công thức hoá học (±)-5-amino-1(-2,6-diclo-α,α,α-triplo-p-tolyl)-4-triflometylsulfinylpyrazol-3-cacbonitril; hợp chất 5-amino-1 (-2,6-diclo-α,α,α-triplo-p-tolyl) -4-elysulfilylpyrazol-3- cacbonitril; hoặc hợp chất 5-metylamino-1-(2,6-diclo-α,α,α-triplo-p-tolyl)-4-etylsulfinylpyrazol-3-cacbonitril
Công ty Rhone Puolenc Agrochime phát hiện trên thị trường Việt Nam có Công ty MC sản xuất thuốc trừ sâu mang nhãn hiệu "HENRR 500WG", trên mẫu bao gói có ghi thành phần hoạt chất bao gồm Imdacloprid thuốc trừ sâu A và Fipronil thuốc trừ sâu B
3 như sau:
Điểm 1: Thiết bị gieo hạt bao gồm một trục chính (1) có hai bánh xe (2) lắp cố định vào hai đầu của nó, các ông chứa hạt (3) lắp cố định dọc theo trục chính này vào một càng kéo (7) lắp có thể xoay quanh trục chính, khác biệt ở chỗ, ông chứa hạt (3) có phần giữa hình trụ (4) và được làm thon dần về hai đầu của nó, phần giữa hình trụ (4) này có các lỗ gieo hạt (5) được tạo ra cách đều nhau trên chu vi của nó và một trong số các phần thon dần nêu trên có trang bị cửa nạp hạt (6)
Trang 9Điểm 2: Thiết bị gieo hạt theo điểm 1, khác biệt ở chỗ, ống chứa hạt (3) còn có phương tiện điều chỉnh độ mở của các lỗ gieo hạt là một chi tiết dạng vành 98) lắp bao quanh phần giữa hình trụ (4) nêu trên, sao cho nó
có thể điều chỉnh được vị trí so với phần giữa hình trụ này, chi tiết dạng vanh (8) cũng có các lỗ (9) ở các vị trí tương ứng với các lỗ (5) trên phần hình trụ (4)
Điểm 3: Thiết bị gieo hạt bao gồm một trục chính 91) có hai bánh xe (2) lắp cố định vào hai đầu của nó, ống chứa hạt (10) lắp cố định dọc theo trục chính này và một càng kéo 97) lắp có thể xoay quanh trục chính, khác biệt ở chỗ, ống chứa hạt (10) có mặt cắt ngang hình sao và kéo dài trên gần như toàn bộ chiều dài của trục chính (1), các lỗ gieo hạt (11) được bố trí ở các khoảng cách nhất định dọc trên đỉnh của mỗi cánh sao và các cửa nạp hạt (12) được bố trí ở những khoảng cách nhất định dọc theo ống chứa hạt này và nằm trên thành bên của một trong số các cánh sao và ống chứa hạt (10) này được trang bị trên một phương tiện điều chỉnh độ mở của các
lỗ gieo hạt
Ảnh sáng chế được bảo hộ cho ông Phạm Hoàng Thắng
Ông Phạm Hoàng Thắng phát hiện Công ty CN có sản xuất "Giàn sạ lúa theo hàng" có những đặc điểm tương tự với SC "Thiết bị gieo hạt" mà không được ông cho phép và đã làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
xử lý Công ty CN
Yêu cầu: Xác định có yếu tố xâm phạm quyền đối với Bằng độc
quyền sáng chế số 3399 hay không?
Trang 10Ảnh "Giàn sạ lúa theo hàng" do Công ty CN sản xuất và bán trên thị trường
2 Đánh giá xâm phạm quyền đối với tên thương mại 2.1 Xác định tên thương mại được bảo hộ
Khác với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác, quyền sở hữu đối với tên thương mại không phát sinh trên cơ sở văn bằng bảo hộ do cơ quan
có thẩm quyền cấp mà trên cơ sở thực tiễn sử dụng tên thương mại Tổ chức, cá nhân khi yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại có nghĩa vụ chứng minh về việc quyền sở hữu đối với tên thương mại đó đã được xác lập
Phạm vi quyền đối với tên thương mại được xác định theo phạm vi bảo hộ tên thương mại, gồm tên thương mại, lĩnh vực kinh doanh và lãnh thổ kinh doanh trong đó tên thương mại được chủ thể mang tên thương
mại sử dụng một cách hợp pháp Việc đăng ký tên gọi của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong thủ tục kinh doanh không được coi là sử dụng tên gọi đó mà chỉ là một điều kiện để việc sử dụng tên gọi đó được coi là hợp pháp
Sử dụng hợp pháp tên thương mại là việc sử dụng tên thương mại đã được cơ quan có thẩm quyền cấp để xưng danh trong các hoạt động kinh
Trang 11doanh như: thể hiện trên giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, phương tiện quảng cáo Tên thương mại được xem xét, bảo hộ dưới góc độ sở hữu công nghiệp là bảo hộ yếu tố phân biệt được của tên đó Ví dụ: tên thương mại
"Công ty TNHH (hoặc Cổ phần) vật liệu xây dựng Trường Sơn" thì yếu
tố phân biệt được bảo hộ là chữ "Trường Sơn", yếu tố còn lại không
được bảo hộ vì không có khả năng phân biệt với các Công ty TNHH vật liệu xây dựng khác
2.2 Yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại
Yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại được thể hiện dưới dạng chỉ dẫn thương mại gắn trên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ
Căn cứ để xem xét có hay không có yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại là phạm vi bảo hộ tên thương mại được xác định trên cơ sở các chứng cứ thể hiện việc sử dụng tên thương mại đó một cách hợp pháp
(như Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động Hộ kinh doanh cá thể do cơ quan có thẩm quyền cấp); lĩnh
vực kinh doanh và sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại đó; khu vực kinh doanh; quá trình sử dụng tên thương mại đó, trong đó xác định cụ thể
về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh và sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại
Để xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải là yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại hay không, cần phải so sánh dấu hiệu đó với tên thương mại được bảo hộ và phải so sánh sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu đó với sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ Cụ thể:
Trang 12 Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng với tên thương mại được bảo hộ và sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng với sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại được bảo hộ;
Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng với tên thương mại được bảo hộ và sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ tương tự với sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại được bảo hộ;
Dấu hiệu bị nghi ngờ tương tự gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ và sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng với sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại được bảo hộ;
Dấu hiệu bị nghi ngờ tương tự gây nhầm lẫn với tên thương mại được bảo hộ và sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ tương tự với sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại được bảo hộ
Trong đó:
+ Một dấu hiệu bị coi là trùng với tên thương mại được bảo hộ nếu giống với tên thương mại về cấu tạo từ ngữ, kể cả cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái;
+ Một dấu hiệu bị coi là tương tự với tên thương mại được bảo hộ nếu tương tự về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại được bảo hộ;
+ Sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là trùng với sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại được bảo hộ nếu giống nhau về bản chất, chức năng, công dụng và kênh tiêu thụ;
+ Sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là tương tự với sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại được bảo hộ nếu tương tự nhau
về bản chất, chức năng, công dụng và kênh tiêu thụ
Trong thực tiễn, khi có yếu tố xâm phạm quyền đối với tên thương mại, để xác định có hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại hay không cần phải căn cứ vào thời điểm tên thương mại đó được sử dụng
Trang 13thông qua các hoá đơn, giấy tờ giao dịch, biển hiệu Thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không đương nhiên đồng nghĩa với việc tên thương mại đã được sử dụng từ thời điểm đó
Việc sử dụng loại hình doanh nghiệp trên biển hiệu có thành phần
phân biệt (tên riêng) được trình bày nổi bật hơn so với các thành phần còn
lại thì cũng không thể coi là sử dụng tên thương mại được bảo hộ
2.3 Tình huống thảo luận
Doanh nghiệp tư nhân Thiết kế thời trang Cường Thịnh có địa chỉ tại phường 11, quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động theo GCNĐK kinh doanh số 0304173727 cấp ngày 16/01/2006 với nhiều ngành kinh doanh, trong đó có "Thiết kế tạo mẫu Mua bán, gia công hàng may mặc, vải sợi"
Doanh nghiệp tư nhân Thiết kế thời trang Cường Thịnh là chủ của
GCNĐK nhãn hiệu số 91308 (ngày nộp đơn 18/10/2005 và cấp ngày 11/7/2007) bảo hộ nhãn hiệu "CT, Cường Thịnh, Hình" cho sản phẩm
"quần áo" thuộc nhóm 25 và "dịch vụ may quần áo" thuộc nhóm 40 Trong thực tế, DNTN Thiết kế thời trang Cường Thịnh sử dụng tên
thương mại "Cường Thịnh" trong quá trình kinh doanh (biển hiệu, hoá đơn, catalogue ) từ thời điểm cấp GCNĐK kinh doanh
Doanh nghiệp tư nhân Thiết kế thời trang Cường Thịnh gửi đơn đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu "CT, Cường Thịnh, Hình" và tên thương mại Cường Thịnh của Hộ kinh doanh cá thể Cường Thịnh có địa chỉ tại phường 5, quận 3, TP Hồ Chí Minh
Theo hồ sơ do doanh nghiệp tư nhân Thiết kế thời trang Cường Thịnh cung cấp thì Hộ kinh doanh cá thể Cường Thịnh hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể với tên cơ sở là
"Cường Thịnh" cấp đăng ký lần đầu ngày 25/12/2006 với ngành nghề kinh doanh là "cắt may quần áo"
Xác định Hộ kinh doanh cá thể Cường Thịnh có hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và tên thương mại hay không?
Trang 153 Đánh giá xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý 3.1 Xác định phạm vi bảo hộ
Phạm vi bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý được xác định căn cứ vào Quyết định đăng bạ chỉ dẫn địa lý
3.2 Căn cứ xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Yếu tố xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được thể hiện dưới dạng dấu hiệu gắn trên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với chỉ dẫn
địa lý được bảo hộ
3.2.1 Bị coi là xâm phạm quyền chỉ dẫn địa lý khi
i) Sử dụng chỉ dẫn cho sản phẩm không đáp ứng tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù cho dù có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó;
ii) Sử dụng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm tương tự nhằm mục đích lợi dụng danh tiếng, uy tín;
iii) Sử dụng bất kỳ chỉ dẫn nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý cho hàng hoá không có nguồn gốc địa lý, làm hiểu sai là có nguồn gốc mang chỉ dẫn địa lý;
iv) Sử dụng chỉ dẫn địa lý về rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất từ khu vực địa lý tương ứng
3.2.2 Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với chỉ dẫn địa lý
Một dấu hiệu bị coi là trùng với chỉ dẫn địa lý nếu giống với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ về cấu tạo từ ngữ, kể cả cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái, ý nghĩa hoặc về hình ảnh, biểu tượng thuộc phạm vi bảo hộ của chỉ dẫn địa lý;
Một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với chỉ dẫn địa lý nếu tương tự đến mức gây nhầm lẫn với chỉ dẫn địa lý đó về cấu tạo
từ ngữ, kể cả cách phát âm, phiên âm đối với chữ cái, ý nghĩa hoặc về hình ảnh, biểu tượng thuộc phạm vi bảo hộ của chỉ dẫn địa lý;
Trang 163.2.3 Sản phẩm mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
Sản phẩm bị coi là trùng hoặc tương tự nếu giống nhau hoặc tương tự nhau về bản chất, chức năng, công dụng và kênh tiêu thụ
Các tiêu chí dùng để đánh giá một dấu hiệu có bị coi là có khả năng gây nhầm lẫn với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ được đánh giá tổng thể dấu hiệu với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, có sự xem xét thích đáng về các thành phần mạnh, yếu của chỉ dẫn địa lý đó ở các đặc điểm chính, nổi bật của chỉ dẫn địa lý đó Việc đánh giá có hay không yếu tố xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý cần phải dựa trên đánh giá tổng thể các dấu hiệu và đặc biệt nhấn mạnh những thành phần nổi bật nói trên Việc phân nhỏ dấu hiệu để đánh giá không phải là cách để xác định yếu tố xâm phạm quyền
3.3 Tình huống thảo luận
Sự khác nhau giữa hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý và việc sử dụng "trái phép" chỉ dẫn địa lý Nước mắm Phan Thiết là gì? Điều kiện phân biệt giữa việc sử dụng trái phép chỉ dẫn địa lý và giả mạo chỉ dẫn địa lý? Việc sử dụng chỉ dẫn không tuân thủ quy chế sử dụng do tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý đặt ra có bị coi là vi phạm quy định pháp luật
sở hữu trí tuệ? Việc xử lý hành vi sử dụng chỉ dẫn địa lý không được phép hoặc không tuân thủ quy chế sử dụng chỉ dẫn địa lý của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý tuân theo thủ tục, chế tài quy định ở đâu, ai có thẩm quyền xử lý?
Ví dụ việc sử dụng Chỉ dẫn địa lý Phan Thiết cho sản phẩm nước mắm
Sản phẩm nước mắm Phan Thiết, tỉnh Bình
Thuận được cấp GCNĐK chỉ dẫn địa lý số
000010
Tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý: Sở KH&CN tỉnh
Bình Thuận
Tổ chức quản lý chất lượng: Chi cục Tiêu
chuẩn đo lường chất lượng tỉnh Bình Thuận
Hiệp hội kinh doanh sản phẩm mang chỉ dẫn
địa lý: Hiệp hội nước mắm Phan Thiết với 29
thành viên được phép sử dụng chỉ dẫn địa lý
được bảo hộ
Trang 17Sơ đồ quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý
"Phan Thiết" dùng cho sản phẩm nước mắm
-Kết quả +(****)
Thông báo không đủ điều kiện cấp GCN
Ghi chú:
1 Tổ chức, cá nhân muốn sử dụng chỉ dẫn địa lý;
2 Cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý;
3 Các tổ chức, cá nhân khác
(*) : Đơn không đáp ứng các yêu cầu quy định;
(**) : Đơn đáp ứng các yêu cầu quy định;
(***) : Điều kiện sử dụng không được đáp ứng;
(****) : Điều kiện sử dụng được đáp ứng
Kết quả (****)
Trang 18Tháng 3/2009, Hiệp hội nước mắm Phan Thiết phát hiện Cơ
sở sản xuất nước mắm Hoàng Ngư có địa chỉ tại Khu chế
biến nước mắm Phú Hải, thành phố Phan Thiết sản xuất sản
phẩm nước mắm có sử dụng dấu hiệu "NƯỚC MẮM HOÀNG
NGƯ, MẮM XAY CÓ GIA VỊ PHAN THIẾT, HIỆU CÁ ÁNH
VÀNG" trên tem sản phẩm
Yêu cầu:
Đánh giá Cơ sở sản xuất nước mắm Hoàng Ngư có yếu tố xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý "Phan Thiết" cho sản phẩm nước mắm hay không?
Vấn đề đặt ra:
1 Tổ chức, cá nhân ở thành phố Phan Thiết sử dụng chỉ dẫn địa lý Phan Thiết nhưng không tham gia vào hiệp hội nước mắm và không được
Trang 19Sở KHCN cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý nhưng thực
tế sản phẩm của tổ chức, cá nhân đó đáp ứng các tiêu chuẩn, chất lượng mang chỉ dẫn địa lý đã đăng ký với Cục Sở hữu trí tuệ Hành vi sử dụng trái phép chỉ dẫn địa lý (không được phép của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý) đó có bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý không? Có thể
bị coi là hành vi giả mạo chỉ dẫn địa lý theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ không?
2 Việc tổ chức, cá nhân (kể cả được phép và không được phép sử dụng) sử dụng chữ Phan Thiết không đúng mẫu tem, vị trí trên bao bì sản phẩm nước mắm theo quy định của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý thì có bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý không? Có bị xử lý vi phạm theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ không?
4 Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh
4.1 Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
Luật Sở hữu trí tuệ tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong việc độc quyền sử dụng các tài sản trí tuệ đã được cấp văn bằng bảo hộ, hoặc được thừa nhận qua thực tế sử dụng Tuy nhiên, trong trường hợp hành vi vi phạm chưa đến mức xâm phạm quyền SHTT nhưng ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác thì không thể đánh giá là hành vi xâm phạm quyền SHCN Do đó, Luật Sở hữu trí tuệ đã tạo
cơ chế để bảo vệ các chủ thể chống lại các hành vi sử dụng các chỉ dẫn gây nhầm lẫn bằng việc quy định quyền của tổ chức, cá nhân yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trang 20Việc xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa
lý căn cứ vào phạm vi bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của văn bằng bảo hộ; xâm phạm quyền đối với tên thương mại căn cứ vào việc tên thương mại đã được xác lập và sử dụng hợp pháp trong một khu vực và lĩnh vực kinh doanh
Nhưng hành vi cạnh tranh không lành mạnh được xác định trên cơ sở một chỉ dẫn thương mại chưa đến mức trùng hoặc tương tự với các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Tuy nhiên, cách trình bày
các chỉ dẫn thương mại này có những dấu hiệu (như màu sắc, font chữ, kiểu chữ ) khiến người tiêu dùng liên tưởng đến chỉ dẫn thương mại của
doanh nghiệp khác đã sử dụng rộng rãi, được nhiều người tiêu dùng biết đến Thông thường các chỉ dẫn thương mại được biết đến là các nhãn hàng hoá, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, kiểu dáng bao bì hàng hoá
Ví dụ về chỉ dẫn thương mại liên quan đến nhãn hàng hoá, khẩu hiệu kinh doanh:
Bitis: "Nâng niu bàn chân Việt"
Slogan của Sfone: "Nghe là thấy"
Cà phê Trung Nguyên: "Khơi nguồn sáng tạo"
Một hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại tương tự với chỉ dẫn thương mại của người khác đã sử dụng có thể đã gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng hoặc có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Hậu quả gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng không phải là điều kiện bắt buộc khi yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có những
điểm khác so với cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại nói chung (theo Luật Cạnh tranh)
Trang 214.2 So sánh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và lĩnh vực thương mại
Sở hữu trí tuệ Thương mại
Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây
nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt
động kinh doanh, nguồn gốc thương
mại của hàng hoá, dịch vụ
Tuyên truyền, nói xấu, đưa tin thất thiệt đối với hoạt động kinh doanh hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh khác;
Mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc khách hàng trong mua bán hàng hoá, dịch vụ;
Găm giữ hàng hoá để đầu cơ
Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây
nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất,
tính năng, chất lượng, số lượng hoặc
đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ;
về điều kiện cung cấp hàng hoá dịch
Sử dụng nhãn hiệu tại một số nước
thành viên của điều ước có quy định
cấm đại diện, đại lý sử dụng nhãn hiệu
nếu không được sự đồng ý của Chủ
nhãn hiệu và không có lý do chính
đáng
Bán phá giá hàng hoá;
Tổ chức bán hàng đa cấp trái phép
Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng
hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương
mại, chỉ dẫn địa lý mà mình không có
quyền sử dụng, nhằm chiếm giữ tên
miền hoặc làm thiệt hại đến uy tín,
danh tiếng nhãn hiệu, tên thương mại,
chỉ dẫn địa lý
Trang 224.3 Sử dụng chỉ dẫn thương mại trong cạnh tranh không lành mạnh
Là hành vi gắn chỉ dẫn thương mại lên hàng hoá, bảo bì, phương tiện kinh doanh phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo, bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó
4.4 Yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
4.4.1 Khi yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, người yêu cầu phải cung cấp các bằng chứng chứng minh
Chỉ dẫn thương mại đã được sử dụng trước về thời gian trên sản phẩm, dịch vụ so với tổ chức, cá nhân bị yêu cầu xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
Chỉ dẫn thương mại này đã được người tiêu dùng biết đến (thông qua thời gian sử dụng; số lượng khách hàng đã tiếp cận, mua hoặc sử dụng hàng hoá, dịch vụ; doanh thu của hàng hoá, dịch vụ; chi phí quảng cáo sản phẩm );
Đánh giá về các yếu tố tương tự, gây nhầm lẫn giữa chỉ dẫn thương mại của sản phẩm, dịch vụ do mình cung cấp với chỉ dẫn thương mại của sản phẩm, dịch vụ bị yêu cầu xử lý
4.4.2 Đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền
Người yêu cầu xử lý phải chứng minh việc đăng ký, chiếm giữ quyền
sử dụng hoặc sử dụng tên miền cho sản phẩm, dịch vụ tương tự để lợi dụng uy tín của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý hoặc gây thiệt hại đến uy tín của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý
Người đăng ký, chiếm giữ tên miền nhằm mục đích thu lợi và người đăng ký, chiếm giữ, sử dụng tên miền này không phải là chủ sở hữu của nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý hoặc tên thương mại tương ứng
Việc gây thiệt hại ở đây có thể là làm giảm sút thu nhập, thị phần của sản phẩm, dịch vụ, làm ảnh hưởng đến uy tín của thương nhân
Ví dụ: vụ việc cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến các chỉ dẫn
thương mại
Trang 23Nhãn hiệu, bao bì sản phẩm mang
chỉ dẫn thương mại
Bao bì sản phẩm gắn chỉ dẫn thương mại
có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh
Vụ việc:
Công ty Cổ phần Dược phẩm Trung ương MEDIPLANTEX (gọi tắt là Công ty MEDIPLANTEX) là chủ sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 44906 bảo hộ nhãn hiệu "Superkan" cho các sản phẩm thuốc và dược phẩm các loại thuộc nhóm 05
Ngày 25/7/2007, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ nhận được Đơn yêu cầu của Công ty Sở hữu trí tuệ Sao Việt, đại diện sở hữu công nghiệp theo uỷ quyền của Công ty MEDIPLANTEX đề nghị thanh tra và
xử lý Công ty Cổ phần Dược và Vật tư Thanh Hoá (gọi tắt là Công ty Dược Thanh Hoá) vì có hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu công nghiệp đối với sản phẩm thuốc mang nhãn hiệu "Superkan"
Ngày 29/10/2007, Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã ra Quyết định số 51/QĐTTra tiến hành thanh tra việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm dược phẩm mang nhãn hiệu "Thekan" tại Công ty Dược Thanh Hoá Tại thời điểm thanh tra, Đoàn Thanh tra phát hiện trong kho của Công ty Dược Thanh Hoá đang tàng trữ 13.000 hộp sản phẩm mang nhãn hiệu "Thekan" chờ xuất bán
Vấn đề: Xác định việc Công ty Dược Thanh Hoá sử dụng chỉ dẫn thương mại "Thekan & Hình" trên vỏ hộp thuốc có tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn thương mại "Superkan và Hình" trên hộp thuốc của Công ty MEDIPLANTEX hay không?
Trang 24Kết luận và quyết định xử lý:
So sánh các chỉ dẫn thương mại trên sản phẩm thuốc mang nhãn hiệu
"Superkan" (được Cục Quản lý Dược cấp giấy phép lưu hành năm 2001)
và chỉ dẫn thương mại trên sản phẩm thuốc mang nhãn hiệu "Thekan’
(được Cục Quản lý Dược cấp giấy phép lưu hành năm 2004), Thanh tra
Bộ KH&CN thấy rằng tuy có khác biệt về mặt nhãn hiệu (nhãn hiệu Thekan và nhãn hiệu Superkan đều được bảo hộ tại Việt Nam), về vị trí
hình lá cây Ginko cách điệu, cách thể hiện bốn góc hình chữ nhật, cách trình bày dòng chữ "Cao bạch quả " nhưng về tổng thể cách trình bày, kết hợp phần chữ và hình, màu sắc thể hiện là tương tự nhau, phần hình lá cây Ginko cách điệu cùng được thể hiện bằng màu xanh lá cây có cùng tỷ lệ trên mặt chính diện của hộp thuốc Do Công ty MEDIPLANTEX sử dụng chỉ dẫn thương mại "Superkan và Hình" trước Công ty Dược Thanh Hoá nên việc sử dụng chỉ dẫn thương mại "Thekan và Hình" của Công ty Dược Thanh Hoá sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về xuất xứ của sản phẩm Đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ, vi phạm điểm a khoản 2 Điều 30 của Nghị định 120/2005/NĐ-
CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
Ngày 10/11/2007, Công ty MEDIPLANTEX đã có đơn số 112/CV/MNP gửi Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ xin rút yêu cầu
xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu công nghiệp đối với Công ty Dược Thanh Hoá do hai Công ty đã có thoả thuận, thống nhất tự giải quyết vụ việc
Do đó căn cứ khoản 5 Điều 21 Nghị định 106/2006/NĐ-CP và Đơn xin rút yêu cầu xử lý vi phạm, ngày 15/11/2007, Thanh tra Bộ Khoa học
và Công nghệ đã có Công văn số 337/TTra thông báo không xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với Công ty Dược Thanh Hoá
Vấn đề cần lưu ý:
Các chỉ dẫn thương mại trên sản phẩm thuốc mang nhãn hiệu
"Superkan" và chỉ dẫn thương mại trên sản phẩm thuốc mang nhãn hiệu
Trang 25"Thekan" tuy có khác biệt về mặt nhãn hiệu, về vị trí hình lá cây Ginko cách điệu, cách thể hiện bốn góc hình chữ nhật, cách trình bày dòng chữ
"Cao bạch quả " nhưng về tổng thể cách trình bày, kết hợp phần chữ và hình, màu sắc thể hiện là tương tự nhau, phần hình lá cây Ginko cách điệu cùng được thể hiện bằng màu xanh lá cây có cùng tỷ lệ trên mặt chính diện của hộp thuốc Do Công ty MEDIPLANTEX sử dụng chỉ dẫn thương
mại "Superkan và Hình" trước Công ty Dược Thanh Hoá nên việc sử dụng chỉ dẫn thương mại "Thekan và Hình" của Công ty Dược Thanh Hoá sẽ
gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về xuất xứ của sản phẩm
Do đó, khi xác định yếu tố cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu
công nghiệp cần lưu ý: so sánh việc sử dụng chỉ dẫn thương mại (hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá ) Chứng minh
quyền sử dụng trước của đối tượng đối với chỉ dẫn thương mại
Trang 26Chuyên đề 4 THỰC TIỄN XỬ LÝ CÁC VỤ XÂM PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Hệ thống các cơ quan chức năng thực thi quyền được xây dựng thêm các đơn vị chuyên trách thực thi quyền sở hữu trí tuệ từ Trung ương đến địa phương, nhiệm vụ thực thi quyền sở hữu trí tuệ đã được giao là nhiệm
vụ trọng tâm và thường xuyên của các cơ quan chức năng, nguồn lực cán
bộ thực thi đã được bổ sung và đào tạo, bồi dưỡng nhiều hơn
Các hoạt động liên quan đến cấp phép kinh doanh, đăng kiểm phương tiện, cấp phép đơn hàng nhập khẩu, thủ tục xác nhận công bố chất lượng hàng hoá, công bố hợp chuẩn, hợp quy đã và đang xem xét đến yếu tố không gây xâm phạm quyền
Số lượng các vụ xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tăng dần từng năm, tăng cả đối tượng bảo hộ như bản quyền tác giả, chỉ dẫn đại lý,
Trang 27cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ Việc kiểm tra và xử lý xâm phạm quyền đã được các Đội nghiệp vụ của Hải quan, Công an kinh
tế và Quản lý thị trường xử lý khá bài bản Có thể thấy vài năm trước đây, việc xử lý 3 công ty vi phạm bản quyền phần mềm của Công ty Microsoft
đã đòi hỏi nhiều cuộc họp tham vấn từ cấp tỉnh đến Trung ương do có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau, kéo dài nhiều tháng, thì nay những việc kiểm tra và xử lý như vậy đã là việc kiểm tra và xử lý bình thường của cấp Đội Quản lý thị trường
Số lượng doanh nghiệp và trình độ doanh nghiệp khi đề nghị xử lý xâm hại quyền sở hữu trí tuệ đã thực hiện ngày càng bài bản hơn, sự hợp tác với các cơ quan chức năng có chiều sâu và hầu hết các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu, kinh doanh trong nước đã coi trọng việc xác lập quyền cho các sản phẩm của mình cũng như hạn chế việc xâm phạm quyền của người khác
Đáng chú ý là sự quan tâm về thực thi quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gắn với quyền lợi của doanh nghiệp mà nó còn luôn gắn chặt với lợi ích quốc gia Thực tế nhiều năm qua cho thấy người Mỹ quan tâm đến hoàn thiện văn pháp pháp quy và các lực lượng chức năng tại Việt Nam chủ yếu
là đến vấn đề xâm phạm bản quyền, nhất là các phần mềm, thì người Pháp lại chỉ quan tâm nhiều đến chỉ dẫn địa lý của rượu vang và nhãn hiệu thời trang cao cấp, trong khi đó người Nhật quan tâm đến kiểu dáng và nhãn hiệu xe máy và nhãn hiệu đồ điện tử, gia dụng, người Trung Quốc mặc dù
có rất nhiều hàng hoá lưu thông tại Việt Nam nhưng hiếm thấy doanh nghiệp và các đại diện pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc quan tâm đến thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các thương hiệu của họ tại Việt Nam, với lý do dễ hiểu họ là trung tâm sản xuất và cung ứng lớn nhất các loại hàng hoá xâm phạm quyền cho cả thế giới, quốc gia và doanh nghiệp của họ đang được hưởng lợi về vấn đề này
Trong hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, vấn đề lợi ích quốc gia gắn với lợi ích doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức,