1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về quyền bí mật đời tư ở việt nam thực trạng và giải pháp

75 127 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 550,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền bí mật đời tư là một trong các quyềnnhân thân quan trọng, bất khả xâm phạm của cá nhân, đây là quyền hiến định nhưngđồng thời cũng là quyền nhân thân cơ bản được ghi nhận trong các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA KINH TẾ - LUẬT

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Vinh

Hương

Đơn vị công tác: Bộ môn Luật Căn bản

Khoa Kinh tế - Luật

Hà Nội, 2017

Trang 2

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN

BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI 4

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5

1.3 XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ VẤN ĐỀ TRONG ĐỀ TÀI 7

1.4 CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 8

1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 9

1.7 KẾT CẤU BÁO CÁO NGHIÊN CỨU 10

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 11

2.1.1 Khái niệm quyền bí mật đời tư 11

2.1.2 Đặc điểm của quyền bí mật đời tư 14

2.1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền bí mật đời tư 21

2.2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 22

2.2.1 Cá nhân có quyền đối với các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của mình 22

2.3.2 Cá nhân có quyền bí mật đối vói thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân 23

2.3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 25

2.4 QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 29

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM 32

3.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 32

3.1.1 Thực trạng quy định pháp luật dân sự về quyền bí mật đời tư 32

Trang 3

3.1.2 Các nhóm hành vi xâm phạm bí mật đời tư thông qua các văn bản pháp luật chuyên ngành 36

3.1.3 Các biện pháp bảo vệ quyền bí mật đời tư 45

3.2 THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM 51

3.2.1 Việc cung cấp các thông tin liên quan đến bản thân, gia đình cho cơ quan

sử dụng lao động 52

3.2.2 Về việc liệu có tồn tại bí mật đời tư trong đời sống hôn nhân? 53

3.2.3 Tiết lộ, rao bán thông tin khách hàng 55

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 57 4.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN` THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 57 4.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 60

4.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền bí mật đời tư 60

4.2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền bí mật đời tư 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT

VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM



1.1 TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Con người là vốn quý của xã hội, một xã hội càng tiến bộ, quyền tự do dân chủcàng được mở rộng bao nhiêu thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu Kèm theo

đó các quyền nhân thân cũng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng cùng với cácbiện pháp bảo vệ ngày càng hiệu quả hơn Quyền bí mật đời tư là một trong các quyềnnhân thân quan trọng, bất khả xâm phạm của cá nhân, đây là quyền hiến định nhưngđồng thời cũng là quyền nhân thân cơ bản được ghi nhận trong các văn bản pháp luật

về dân sự…

Trong bối cảnh phát triển công nghệ thông tin hiện đại, sự phổ biến của internetkhiến hình ảnh xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật của cá nhân ai đó sẽ bị lan truyền,phát tán với tốc độ cực nhanh chỉ sau một cú nhấp chuột, không chỉ giới hạn ở ViệtNam mà còn trên phạm vi thế giới Việc ngăn chặn và truy tìm thủ phạm càng trở nênkhó khăn hơn Từ những vụ việc mang tính chất điển hình như vụ ca sỹ Hồ Ngọc Hà

có đơn khiếu nại Báo Pháp luật và Cuộc sống về việc thông tin sai sự thật và xâmphạm đời tư bất hợp pháp trong bài viết “Chuyện Hồ Ngọc Hà cưới chồng năm 2001

ở khách sạn Daewoo, Hà Nội” đăng ngày 12/5/2012 cho đến vụ việc bị báo chí xâmhại đời tư liên quan tới scandal sex của MC Đan Lê, Đài Truyền hình KTS VTC Ngày21/3/2008, trên các trang web, blog đen xuất hiện một vài đoạn phim đồi trụy, đượclén lút phát tán, truyền tay nhau, MC Đan Lê bị gán ghép là nhân vật trong đoạn phim

đó và một tờ báo điện tử đã cố tình xuyên tạc, khai thác thông tin trên gây hiểu lầmcho độc giả Sau nhiều tháng theo đuổi vụ kiện, MC Đan Lê đã buộc được tờ báo nọcải chính, xin lỗi, bồi thường thiệt hại vật chất cũng như tinh thần Hoặc vụ tranh cãilùm xùm xung quanh việc VTV chương trình “Chuyển động 24h“ tự ý thu thập vàcông bố về thông tin đời tư của cầu thủ Công Phượng Ngoài ra, những hành vi nhưbóc mở thư tín trái phép, gây thất lạc thư tín của công dân, sử dụng thiết bị, phần mềmnghe trộm, nghe lén điện thoại nhằm theo dõi để kiểm soát, khai thác bí mật đời tưngười khác, gây tâm lý bất an cho mọi người, hành vi phát tán trái phép những hìnhảnh nhạy cảm riêng tư của cá nhân, công bố chuyện riêng tư, những thông tin sai sự

Trang 6

thật gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, hành vi chụp và đăng ảnh của người kháclên mạng khi chưa được phép, đăng hồ sơ cá nhân của người khác lên mạng, nhữnghành vi này đều tiềm ẩn rất nhiều hệ lụy

Có thể nói chưa bao giờ nguy cơ xâm phạm về quyền bí mật đời tư lại cao nhưhiện nay, bởi lẽ bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân bị xâm phạm đời sống riêng

tư và bí mật cá nhân, bí mật gia đình, hệ quả là gây ra những thiệt hại nặng nề, ảnhhưởng nghiêm trọng tới cuộc sống, công việc, danh dự, nhân phẩm của người trongcuộc, một số vụ đã được khởi kiện ra tòa Đã đến lúc chúng ta cần lấp các “lỗ hổng”,hoàn thiện các quy định pháp luật để bảo vệ sự riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật giađình

Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã cónhững quy định về quyền bí mật đời tư, nhưng việc hiểu và áp dụng các quy định đótrong thực tế còn nhiều bất cập, vướng mắc như: xác định thế nào là quyền bí mật đờitư; biểu hiện cụ thể của các hành vi xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân; cơ chế giảiquyết tranh chấp; mức độ bồi thường khi bị xâm phạm đời tư được xác định như thếnào; các hình thức áp dụng để hạn chế và bảo vệ quyền này ra sao;… Trong thời gianvừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng có đề cập rất nhiều đến bí mật đời tưcũng như quyền bí mật đời tư, sở dĩ vấn đề này được bàn luận sôi nổi bởi xuất hiệnmột loạt tình huống trong thực tế dẫn tới tranh chấp, nhiều vụ việc được đưa ra Tòa án

để giải quyết nhưng ngay cả khi giải quyết tại Toà, các cán bộ Toà án cũng có nhữnglúng túng nhất định xung quanh việc xác định hành vi đó có bị coi là xâm phạm bí mậtđời tư hay không? Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2005 vẫn bỏ ngỏ khái niệm này, dẫn tớinhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn trong quá trình xét xử cho cơ quan xét xử.Trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ 01/011/2017) thuật ngữ “quyền

bí mật đời tư” được sửa đổi thành “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mậtgia đình” (Điều 38) cho phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 Tuy nhiên,nội dung các quy định về quyền bí mật đời tư hầu như được giữ nguyên, trong đó cócác cụm từ “trừ trường hợp luật có quy định khác”, “chỉ được thực hiện trong trườnghợp luật định” Về các luật liên quan, ngoài một vài quy định của Bộ luật Hình sự vàBLTTHS thì khó có thể tìm thấy hoặc làm rõ luật nào “có quy định khác”, “trường hợpluật định” là các trường hợp nào

Trang 7

Về nguyên tắc, quyền bí mật đời tư được bảo vệ chủ yếu bởi các quy định của Bộluật Hình sự và Bộ luật Dân sự Thực tế cho thấy chỉ khi có “thiệt hại” của cá nhân bịxâm hại (bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng), người vi phạm mới phải chịu các chếtài vật chất Ngoài việc thiếu vắng các chế tài hành chính có thể áp dụng với cả nhữngtrường hợp không có thiệt hại xảy ra nhằm bảo vệ quyền hợp pháp của cá nhân cũngnhư mang tính giáo dục chung, ngăn ngừa vi phạm, cho đến nay chưa có văn bản phápluật nào giải thích cụ thể hơn về bí mật đời tư của cá nhân.

Những người quan tâm đặt ra nhiều câu hỏi: Các dạng thông tin cụ thể nào đượccoi là bí mật cá nhân? Phạm vi đời sống riêng tư của một cá nhân thế nào? Có sự khácnhau giữa “dân thường” và quan chức, người nổi tiếng hay không? Đối với người bịtạm giữ, khởi tố về hình sự và người đã bị kết án, quyền của họ ra sao? Việc thu thập,lưu trữ, sử dụng, công bố thông tin riêng, nhận dạng cá nhân được thực hiện thế nào,

cơ quan có thẩm quyền tiến hành, xử lý với từng trường hợp vi phạm ra sao? Nhữngcâu hỏi này đều là các vấn đề có thể gây tranh cãi khó đi đến hồi kết, nếu không đượcluật hóa bằng các quy định cụ thể

Như vậy, nếu không làm rõ được khái niệm bí mật đời tư hay “đời sống riêngtư”, “bí mật cá nhân”, nếu không chỉ rõ được ranh giới giữa an toàn và vi phạm, thì

“đời sống riêng tư”, “bí mật cá nhân” khó được bảo đảm an toàn, dẫn tới cách hiểukhác nhau và sự tùy tiện trong áp dụng, thực hiện pháp luật nhất là khi chính hoạt độngcủa cơ quan nhà nước (cơ quan điều tra, Tòa án) và của báo chí rất dễ trở thành “chủthể” của hành vi xâm phạm bí mật đời tư Do đó, việc quy định các quyền này trong

Bộ luật Dân sự 2005 như hiện nay và kể cả như trong Bộ luật Dân sự 2015 chưa manglại ý nghĩa thiết thực

Xuất phát từ yêu cầu có tính thời sự và cấp thiết đó, tác giả đã lựa chọn đề tài

“Pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” làm đề

tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của mình Qua nghiên cứu, tác giả muốn làm rõnhững quy định của pháp luật về quyền bí mật đời tư, xác định vai trò quan trọng củaquyền nhân thân nói chung cũng như quyền bí mật đời tư nói riêng trong pháp luật dân

sự Việt Nam Đồng thời, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cũng như nâng caohơn nữa hiệu quả thực thi pháp luật về quyền bí mật đời tư và bảo vệ quyền bí mật đời

tư của cá nhân ở nước ta hiện nay

Trang 8

1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA

ĐỀ TÀI

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Quyền bí mật đời tư là quyền nhân thân bất khả xâm phạm được pháp luật cácquốc gia bảo vệ chặt chẽ Ở các nước phát triển trên thế giới, vấn đề bảo vệ quyền conngười nói chung và quyền bí mật đời tư nói riêng được pháp điển hóa một cách cụ thể.BLDS Pháp ghi nhận mọi người đều có quyền được tôn trọng đời tư của mình vàquyền riêng tư này được pháp luật bảo vệ bằng nhiều hình thức khác nhau Tòa án tốicao Pháp đã có phán quyết giải thích về phạm vi của quyền riêng tư, theo đó thì đời

sống riêng tư của một người bao gồm: Đời sống tình cảm, bạn bè, gia đình, sinh hoạt

hằng ngày, quan điểm chính trị, công việc làm ăn hay tư tưởng tôn giáo và tình trạng sức khỏe Có thể thấy rằng theo BLDS Pháp thì quyền riêng tư của mọi cá nhân là như

nhau Đồng thời phạm vi bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân là rất rộng, bao gồm cácthông tin được đưa ra cả tại nơi công cộng lẫn nơi riêng tư của cá nhân

Hiến pháp Nhật Bản ghi nhận rằng công dân có quyền sống, tự do và theo đuổihạnh phúc và được tôn trọng với tư cách là một công dân Đây là quy định làm nềntảng cho những quy định của pháp luật chuyên ngành về quyền bí mật đời tư như:Công dân không được phép xây nhà có thể nhìn vào nhà của người khác, nghiêm cấmnhìn ngó nơi cư ngụ của người khác hay đọc thư cá nhân của người khác Năm 2003,Nhật Bản ban hành Luật Bảo vệ những thông tin cá nhân Đồng thời, tòa án Nhật Bản

đã giải thích quyền về bí mật đời tư của cá nhân, bao gồm: i) Quyền không bị công bốthông tin cá nhân nếu không có lý do chính đáng; ii) Quyền quyết định đối với thôngtin cá nhân Cũng theo Tòa án Nhật Bản, để xác định có sự vi phạm về quyền bí mậtđời tư hay không phải đảm bảo các yêu cầu sau: i) Có liên quan đến đời sống riêng tưcủa cá nhân ii) Cá nhân đó có mong muốn giữ bí mật iii) Không phải là thông tin,hiểu biết công cộng iv) Gây ảnh hưởng nặng nề đối với cá nhân nếu bị xâm phạm

Bên cạnh đó, Hội đồng Calcutt ở Vương quốc Anh cho rằng: “không nơi nào chúng ta

có thể tìm thấy một định nghĩa hoàn toàn thỏa đáng về quyền riêng tư” Nhưng Hội

đồng này đã hài lòng với định nghĩa sau: Quyền riêng tư là các quyền của cá nhânđược bảo vệ để chống lại sự xâm nhập vào đời sống cá nhân hay công việc của mình(hoặc những người trong gia đình) bằng các phương tiện vật lý trực tiếp hoặc bằngcách công bố thông tin

Trang 9

Như vậy, nhìn chung có thể thấy rằng pháp luật các quốc gia trên thế giới đều rất

quan tâm tới việc bảo vệ “quyền bí mật đời tư” của cá nhân.

Không những thế, quyền bí mật đời tư cũng là chủ đề được các nhà nghiên cứukhoa học tập trung khai thác dưới nhiều khía cạnh khác nhau Có thể kể đến như Luận

văn thạc sỹ “Antitrust Investigations and the Right to Privacy” của tác giả Mar’yana

Yarmolenko, Faculty of Law, University of Lund, 2003 Luận văn đã nghiên cứu cácvấn đề cơ bản về quyền riêng tư của cá nhân, đồng thời đưa ra các giải pháp thiết thực

để bảo vệ quyền con người nói chung và quyền riêng tư nói riêng

Hay bài viết “Privacy law' may need rewriting due to modern technology, says

senior judge” By David Barrett, Home Affairs Correspondent, bài viết đã đưa ra quan

điểm thay đổi hành lang pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư cho phù hợp với sự pháttriển của xã hội hiện đại, khi mà vấn đề xâm phạm quyền bí mật đời tư của cá nhândiễn ra khá phổ biến

Hay bài nghiên cứu “The Right to Privacy” của hai tác giả: Warren and

Brandeis, Harvard Law Review, 1890; bài viết cũng đã tập trung phân tích các vấn đề

lý luận và thực tiễn về quyền bí mật riêng tư

Nói tóm lại, quyền bí mật đời tư là quyền con người cơ bản được pháp luật hầuhết các quốc gia trên thế giới bảo vệ thông qua việc quy định khá chặt chẽ trong cácvăn bản pháp lý quan trọng Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đặc biệt quan tâmđến vấn đề này Điều đó cho thấy việc nghiên cứu và bảo vệ quyền bí mật đời tư của

cá nhân là hết sức quan trọng, đây là lĩnh vực được quan tâm rất lớn trong xã hội hiệnnay, khi mà quyền con người được chú trọng hơn bao giờ hết

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trước khi có Bộ luật Dân sự 1995, gần như không có một công trình khoa họcnào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về quyền bí mật đời tư Sau khi Bộ luậtDân sự 1995 ra đời, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về quyền nhân thândưới góc độ là một quyền của con người trong lĩnh vực dân sự như

“Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị“ – Sách chuyên khảo của Trung

tâm Nghiên cứu quyền con người – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nội dungcuốn sách có đề cập nhưng không chi tiết về các quyền nhân thân theo quy định của Bộluật Dân sự, trong đó có quyền đối với bí mật đời tư

Trang 10

“Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công

dân theo quy định của Bộ luật Dân sự“ – Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của

Tòa án Nhân dân Tối cao Công trình này cũng chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò củaTòa án Nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân nói chung chứ chưa đưa ra đượcphương hướng giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân ở nhữngtrường hợp cụ thể - trong khi đó mỗi quyền nhân thân lại có đặc thù riêng

Mãi tới sau khi Bộ luật Dân sự 2005 ra đời, thay thế Bộ luật Dân sự 1995 cũng đã

có thêm vài công trình khoa học tuy không nhiều được đăng ở một số báo, tạp chíchuyên ngành nhưng thực chất mới chỉ dừng lại ở khía cạnh nêu, liệt kê một vài vụviệc tranh chấp điển hình liên quan đến xâm phạm bí mật đời tư, kèm theo những ýkiến đánh giá mang tính chủ quan, một chiều Một số bài viết trên các tạp chí khoa

học pháp lý như: “Sự phát triển của pháp luật dân sự liên quan đến các quy định về

quyền nhân thân” (Lê Đình Nghị, Nghề Luật, số 3/2007) đã khái quát được quá trình

hình thành và phát triển các quy định về quyền nhân thân trong pháp luật dân sự; “Bàn

về khái niệm quyền bí mật đời tư” (Lê Đình Nghị, Nghề Luật, số 3/2007) đã phân tích

những quy định pháp lý liên quan đến khái niệm quyền bí mật đời tư, tuy nhiên mớichỉ dừng ở đó chưa chỉ ra được đặc điểm hay các nội dung của quyền bí mật đời tư,

biểu hiện cụ thể của các hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư ; “Xung quanh một

vụ kiện về việc xâm phạm bí mật đời tư” (Lê Đình Nghị, Nghề Luật, số 6/2007) đã đưa

đến cho người đọc một vụ việc điển hình, gây nhức nhối trong dư luận và những tranhcãi về hướng xử lý sau đó, đây là một trong vô số các trường hợp có biểu hiện xâm

phạm đến quyền bí mật đời tư của cá nhân; “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân”

(TS Bùi Đăng Hiếu, Tạp chí Luật học, số 7/2012) đã phân tích khái niệm quyền nhânthân và phân loại các quyền nhân thân thành các nhóm quyền khác nhau Ngoài ra,quyền bí mật đời tư còn được nghiên cứu trong Luận án TS Luật học của NCS Lê

Đình Nghị năm 2007: “Quyền bí mật đời tư theo qui định của pháp luật dân sự Việt

Nam”, tuy nhiên, cũng giống như một số công trình nghiên cứu trên đây, công trình

này vì đã khá lâu – 10 năm nên thiếu tính cập nhật, hơn nữa chủ yếu nghiên cứu tronglĩnh vực dân sự chứ ít đặt trong mối tương quan tới các văn bản pháp luật chuyênngành

Trang 11

Như vậy, có thể thấy những công trình trên hoặc là không nghiên cứu riêng; nếu

có thì vẫn còn lẻ tẻ, tản mạn chưa có tính hệ thống về quyền bí mật đời tư và bảo vệ bímật đời tư, hoặc thời gian nghiên cứu khá xa trong bối cảnh BLDS và các văn bảnpháp luật chuyên ngành có liên quan đều đã có nhiều thay đổi

Trong giai đoạn gần đây, nhất là trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005 vàđến nay Bộ luật Dân sự 2015 đã được thông qua nhưng vẫn chưa có hiệu lực thì bí mậtđời tư, nội dung của bí mật đời tư và cơ chế bảo vệ quyền bí mật đời tư dường như vẫncòn là vấn đề khá mới, hầu như chưa có thêm bất kỳ công trình nghiên cứu toàn diệnnào về vấn đề này

Nhận thức được điều đó, đề tài “Pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam –

Thực trạng và giải pháp ” lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ đề tài nghiên cứu

khoa học cấp cơ sở, trên cơ sở kế thừa một số đánh giá của các công trình nghiên cứutrước, đồng thời hướng tới phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và đảm bảo được tínhlogíc, hệ thống về quyền bí mật đời tư, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ bévào công cuộc hoàn thiện và thực thi có hiệu quả pháp luật về quyền bí mật đời tư ởViệt Nam hiện nay

Đề tài tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản sau:

- Một số vấn đề lý luận trong quy định của pháp luật về quyền bí mật đời tư(khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật điều chỉnh về quyền bí mật đời tư ), việcnghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quy định trong BLDS 2005, 2015 và các văn bảnpháp luật chuyên ngành

- Rà soát quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về quyền bí mật đời tư,nghiên cứu vấn đề bí mật đời tư theo quy định của của một số quốc gia khác và Công ước quốc tế

- Trên cơ sở lý luận, đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng trong quy định củapháp luật về quyền bí mật đời tư và thực tiễn bảo vệ quyền bí mật đời tư ở Việt Nam hiệnnay

Trang 12

- Từ việc tìm ra những điểm bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật vềquyền bí mật đời tư và bảo vệ bí mật đời tư, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hoànthiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền bí mật đời tư

1.4 CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Lựa chọn nghiên cứu đề tài trên, tác giả mong muốn phân tích làm sáng tỏ cácquy định của pháp luật về quyền bí mật đời tư và bảo vệ quyền bí mật đời tư, thực tiễnthi hành các quy định này trên thực tế, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp góp phầnhoàn thiện hệ thống pháp luật và giải quyết tranh chấp liên quan đến bảo vệ quyền bímật đời tư, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục đích trên, tác giả đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau:

- Phân tích khái niệm, đặc điểm của quyền bí mật đời tư

- Phân tích quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành cũng như trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác về quyền bí mật đời tư: Nội dung pháp luật điều chỉnh,

cơ chế bảo vệ, giải quyết tranh chấp…

- Khái quát quá trình phát triển trong quy định của pháp luật Việt Nam về quyền

- Phân tích thực trạng pháp luật về quyền bí mật đời tư, tìm hiểu thực tiễn của việc bảo vệ quyền bí mật đời tư, những thuận lợi, khó khăn…

- Xây dựng quan điểm và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định củapháp luật về quyền bí mật đời tư và bảo vệ quyền bí mật đời tư, từ đó nâng cao hiệu quả

áp dụng pháp luật trên thực tế

Về nội dung, đề tài hướng tới việc nghiên cứu những vấn đề lý luận như khái

niệm, đặc điểm của quyền bí mật đời tư, ý nghĩa của cơ chế bảo vệ quyền bí mật đời

Trang 13

tư, nội dung pháp luật điều chỉnh về quyền bí mật đời tư… Đồng thời, đề tài cũng chỉ

ra và phân tích những biểu hiện cụ thể của hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư của

cá nhân, những bất cập; hạn chế của pháp luật về quyền bí mật đời tư và bảo vệ quyền

bí mật đời tư gây khó khăn trong quá trình xử lý vi phạm trên thực tế; từ đó đưa ra cáinhìn bao quát và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nângcao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực quyền bí mật đời tư của cá nhân

Về không gian, đề tài nghiên cứu dựa trên phạm vi các quy định của pháp luật

về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam hiện hành chủ yếu trong Bộ luật Dân sự, một số vănbản luật chuyên ngành và các văn bản hướng dẫn thi hành Ngoài ra đề tài còn có sự đốichiếu với các quy định pháp luật về quyền bí mật đời tư của một số nước trên thế giới

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu các quy định hiện hành của Việt Nam liên

quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là từ năm 2005 cho đến nay

Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài “Pháp luật về quyền bí mật

đời tư ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”được nghiên cứu trên cơ sở phương

pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu quyền bímật đời tư trong mối quan hệ với điều kiện kinh tế - xã hội; trong sự tương quan vớicác quyền nhân thân khác

Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử để thấy rõ đượcquá trình phát triển của pháp luật Việt Nam trong việc quy định quyền bí mật đời tư,phương pháp so sánh để thấy những điểm tiến bộ, những điểm hạn chế trong quy địnhcủa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước khác trên thế giới, phương phápthống kê - phân tích nhằm cụ thể hóa và làm rõ những nội dung quan trọng của phápluật về quyền bí mật đời tư và thực tiễn bảo vệ quyền bí mật đời tư ở Việt Nam hiệnnay, các phương pháp tổng hợp, đánh giá thực trạng pháp luật liên quan đến vấn đềnghiên cứu Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp khắc phục những bất cập trong phápluật về quyền bí mật đời tư, góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng caohiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế

Bên cạnh đó, phương pháp quy nạp, diễn giải… cũng được sử dụng rất nhiềutrong quá trình nghiên cứu đề tài

9

Trang 14

1.7 KẾT CẤU BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

Đề tài có kết cấu gồm 4 chương:

- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam

- Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quyền bí mật đời tư

- Chương 3: Thực trạng pháp luật về quyền bí mật đời tư và thực tiễn bảo vệ quyền bí mật đời tư ở Việt Nam

- Chương 4: Phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng caohiệu quả áp dụng pháp luật về quyền bí mật đời tư

Trang 15

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ

Quyền bí mật đời tư là một quyền nhân thân quan trọng của cá nhân và là cũng

là một quyền dân sự Đưa ra khái niệm bí mật đời tư cùng những đặc điểm của bí mậtđời tư có ý nghĩa rất lớn trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền của cá nhân trong lĩnhvực khá nhạy cảm này, đồng thời đây còn là cơ sở để Tòa án, cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền khác bảo vệ quyền của cá nhân đối với bí mật đời tư khi quyền đó bị xâmphạm

2.1.1 Khái niệm quyền bí mật đời tư

Cho đến nay, mặc dù “bí mật đời tư” được đề cập khá nhiều trong các văn bảnpháp luật cũng như các văn bản áp dụng, hướng dẫn thi hành pháp luật của Nhà nước

ta như Hiến pháp, BLDS, Luật báo chí, Luật Xuất bản, Luật Viễn thông, một số vănbản của Bộ Y tế Tuy nhiên trên thực tế vẫn chưa hề có một quy định rõ ràng như thếnào là bí mật đời tư mà chỉ ghi nhận về quyền bí mật đời tư, coi đó là quyền mà cácchủ thể có liên quan, được xác định phải tôn trọng Đây cũng chính là một trongnhững khó khăn khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việcgiải quyết các tranh chấp liên quan đến bí mật đời tư Bởi lẽ quyền bí mật đời tư đượcxây dựng trên khái niệm bí mật đời tư, muốn xác định được phạm vi của quyền bí mậtđời tư đòi hỏi chúng ta phải xác định được khái niệm về bí mật đời tư Vậy bí mật đời

tư là gì?

Có rất nhiều lập luận, căn cứ được các nhà nghiên cứu trong nước đưa ra khi đềcập đến khái niệm bí mật đời tư, tác giả xin trích dẫn một số quan điểm xoay quanhvấn đề này như sau:

- Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt thì bí mật được giải thích là “giữ kín, không

để lộ ra, không công khai.” [26, tr 155]

Một cách giải thích khác thì cho rằng: “Bí mật là thông tin cần che giấu, chỉ để

một số nhất định những người có liên quan được biết Những thông tin được xác định

là bí mật chỉ mang ý nghĩa tương đối Dưới góc độ này hay đối với một bên thì nó có thể cần phải che đậy, giữ kín, nhưng dưới góc độ khác, đối với bên khác nó có thể

11

Trang 16

không cần che giấu Tính bí mật có được do những gì chứa đựng trong thông tin đó có liên quan đến một điều gì đó mà nếu để người không có nhiệm vụ biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu Bí mật thông thường được chia làm ba cấp độ, từ thấp đến cao là: Mật; Tối mật; Tuyệt mật” [2] Như vậy, theo sự

giải thích này thì bí mật được xác định bởi các yếu tố sau: 1 Bí mật là những “thôngtin”; 2 Những “thông tin” này được che giấu bằng những biện pháp, cách thức khácnhau; 3 Những “thông tin” được coi là bí mật này nếu để người không có nhiệm vụbiết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu thông tin.Tuy nhiên, quan điểm này cũng cho rằng những “thông tin” được coi là bí mậtcũng chỉ mang tính tương đối

- Một số người làm công tác pháp luật lại cho là:

“Bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai “Bí mật đời tư”có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín,…” [2]

Như vậy, quan điểm này cũng chỉ ra bí mật đời tư là những thông tin gắn liền với cánhân, chỉ có thể mình họ hoặc một số người hạn chế biết được Tuy nhiên, nếu hiểu nhưvậy thì cũng chưa bao quát được nội hàm của khái niệm bí mật đời tư, bởi lẽ nếu hiểu bímật đời tư là những thông tin chưa từng công bố cho bất kỳ ai thì cũng không đúng Cótrường hợp thông tin này đã được công bố nhưng bản thân người tiếp nhận thông tin phải

có nghĩa vụ bảo mật thông tin thì thông tin đó vẫn được coi là bí mật đời tư

- Trong một Công trình Nghiên cứu khoa học cấp Bộ của TAND tối cao,

PGS.TS Nguyễn Văn Luật đã khẳng định:

“…bí mật đời tư của cá nhân được hiểu trên hai phương diện: 1 Bí mật về đời sống tình cảm,tinh thần: Bí mật về đời sống tình cảm của cá nhân thể hiện tính chất đặc biệt riêng tư của cá nhân đó Điều luật cấm công khai cho mọi người biết các mối quan hệ thực tại hoặc mang tính chất hình tượng mà cá nhân đó vốn có 2 Bí mật về

Trang 17

đời sống nghề nghiệp, vật chất của cá nhân thể hiện là những bí mật về hoạt động nghề nghiệp; tình trạng vật chất gắn liền với hoạt động đó.” [37, tr.167]

Theo cách diễn giải này thì khái niệm bí mật đời tư được bao quát trên cácphương diện: “tình cảm, tinh thần” và “nghề nghiệp, vật chất” Như vậy khái niệm bímật đời tư có thể được khái quát theo hướng liệt kê mà không được khái quát theohướng bao quát, tuy nhiên sẽ có những trường hợp việc liệt kê sẽ không đầy đủ

Có thể thấy rằng, mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng hầu hết các cácnhà nghiên cứu đều đồng ý rằng bí mật đời tư là những thông tin liên quan và gắn liềnvới chính chủ thể đó, đó là những nội dung mang tính chất thầm kín cá nhân và họkhông muốn công khai cho người khác biết Đó có thể là các thông tin liên quan đếncác yếu tố như tinh thần, vật chất, các quan hệ xã hội

Quan điểm của tác giả đồng ý với cách nhìn nhận khái niệm “bí mật đời tư” nhưtrên Bởi lẽ, “Bí mật đời tư” là một cụm từ Hán – Việt, có nguồn gốc từ chữ Hán vàđược Việt hóa, do vậy để xây dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được haikhái niệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và kháiniệm “đời tư”

- “Bí mật” được hiểu là giữ kín, không để lộ ra, không công khai Tính “bí mật”này có thể được xác định theo các tiêu chí cụ thể như:

 Bản thân thông tin đó đã mang tính bí mật Việc xác định thông tin mang tính

bí mật có thể dựa vào bản chất của thông tin, có thể xác định theo qui định của pháp luật(thư tín, điện thoại, tình trạng bệnh tật… – những thông tin này đã có văn bản pháp luậtcủa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành xác định rõ đó là bí mật mà

không được tiết lộ hoặc xâm phạm)

 Người nắm giữ thông tin có thể đã áp dụng mọi biện pháp để bảo mật như khoá, cài đặt mã số bảo vệ, hoặc áp dụng mọi biện pháp bảo vệ khác

 Giữa chủ sở hữu thông tin bí mật với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đã có sựthoả thuận về nghĩa vụ giữ bí mật Ví dụ: Anh A đến nhờ Văn phòng luật sư X tư vấnpháp luật liên quan đến việc ly hôn của anh Giữa A và Văn phòng luật sư X có ký hợpđồng dịch vụ trong việc tư vấn, theo hợp đồng này thì Văn phòng có nghĩa vụ giữ bímật các thông tin của A khi A cung cấp cho Văn phòng luật sư X

Trang 18

Tuy nhiên, chúng ta sẽ không coi là “bí mật” nếu những thông tin đó xâm phạmlợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác (Ví dụ: thông tin liên quan đến hành vi phạm tội, chuẩn bị phạm tội) Trongtrường hợp này việc tiết lộ thông tin sẽ không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư.

Mặt khác, khái niệm “bí mật đời tư” chỉ có ý nghĩa tương đối Bởi vì, cùng mộtnội dung vụ việc có tính chất như nhau, đối với người này có thể là bí mật nhưng đốivới người khác chỉ là một thông tin bình thường, có thể công bố rộng rãi Đối với mỗingười thì việc xác định như thế nào là bí mật đời tư chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu

tố như: quan điểm, quan niệm, thói quen sống, làm việc, phong tục tập quán, các quiđịnh của pháp luật có liên quan

- “Đời” là đời sống, cuộc sống hàng ngày, “tư” có nghĩa là riêng, việc riêng, củariêng, một cách giải thích khác của cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì “Tư: Riêng, của cánhân; trái với công (chung), đời tư, riêng tư ”

Qua phân tích các yếu tố liên quan đến bí mật đời tư, chúng ta có thể đưa ra kháiniệm bí mật đời tư như sau:

“Bí mật đời tư là những thông tin về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận.”

Quyền bí mật đời tư là quyền nhân thân bất khả xâm phạm của cá nhân Về cơ

bản có thể hiểu rằng: “Quyền bí mật đời tư của cá nhân là quyền được bảo vệ về bí

mật đời tư, nói cách khác không ai được quyền xâm phạm đến bí mật đời tư của cá nhân khi chưa được phép”.

2.1.2 Đặc điểm của quyền bí mật đời tư

Là một trong những quyền nhân thân được pháp luật quy định và bảo vệ, quyền

bí mật đời tư cũng mang đầy đủ các đặc điểm của quyền nhân thân Bên cạnh đó quyền

bí mật đời tư còn có những đặc điểm riêng Việc xem xét những đặc điểm này có ýnghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu và trong thực tiễn giải quyết các tranhchấp tại Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác khi cần xác định như thế nào

là một hành vi xâm phạm bí mật đời tư

Trang 19

Quyền bí mật đời tư có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, quyền bí mật đời tư được pháp luật dân sự thừa nhận và bảo vệ luôn thuộc về cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác

Dưới góc độ pháp luật dân sự thì cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên, quantrọng và phổ biến của quan hệ dân sự Các quyền mà pháp luật quy định cho cá nhân là

vì con người và hướng tới con người, trong đó có các quyền nhân thân nói chung vàquyền bí mật đời tư nói riêng Quyền bí mật đời tư chỉ thuộc về cá nhân trong khi đócác quyền khác (quyền tài sản) có thể thuộc về chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình).Quyền bí mật đời tư là do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa trên điều kiệnkinh tế - xã hội nhất định, do vậy, về mặt nguyên tắc, quyền bí mật đời tư không thểdịch chuyển cho chủ thể khác, nói cách khác thì quyền bí mật đời tư không thể là đốitượng trong các giao dịch dân sự giữa cá nhân Bản thân chủ thể hưởng quyền bí mậtđời tư chứ họ không thể ủy quyền cho ai đó và thông thường, không ai có thể đại diệncho họ để thực hiện những quyền này trừ trường hợp pháp luật quy định

Thứ hai, mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền bí mật đời tư, tuy nhiên

vẫn có trường hợp ngoại lệ

Mọi cá nhân đều có quyền nhân thân nói chung, quyền bí mật đời tư nói riêng kể

từ khi họ được sinh ra, không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội, trình độ họcvấn, tuổi tác Cá nhân có thể có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, mất năng lực hay bịhạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi,tuy nhiên quyền bí mật đời tư của họ vẫn luôn được pháp luật bảo hộ như nhau

Mặt khác, trong một số trường hợp nhất định sẽ có sự ngoại lệ đối với một số đốitượng Việc quy định những ngoại lệ này cũng không nằm ngoài mục đích công - vì lợiích của cả cộng đồng Ví dụ, mọi cá nhân trong xã hội đều có quyền giữ bí mật về thunhập và tài sản của mình nếu nguồn gốc của tài sản, thu nhập là họp pháp Tuy vậy,trong một số trường hợp do pháp luật quy định thì cá nhân phải công khai thu nhậpcũng như tài sản của mình Chẳng hạn, theo quy định của Luật Phòng, chống thamnhũng 2005 sửa đổi bổ sung năm 2012 thì kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản lànghĩa vụ thuộc về một số cán bộ nhất định như cán bộ từ Phó trưởng phòng trở lên,một số cán bộ, công chức tại xã, phường, thị trấn, người làm công tác quản lý ngânsách, người ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân Sở dĩ pháp luật quy

Trang 20

định như vậy nhằm phòng và chống các hành vi tham nhũng bởi công việc, chức vụ

mà những người này đảm trách thuộc lĩnh vực “nhạy cảm”, có thể vụ lợi

Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật của Việt Nam chưa có quy định cụ thể nhưngtrên thực tế, những người được coi là “người của công chúng” thì vấn đề bí mật đời tưcủa họ cũng rất khó xác định Chẳng hạn, bí mật đời tư của các vị lãnh đạo Đảng vàNhà nước Những thông tin liên quan đến họ luôn là một trong những tâm điểm chú ýcủa mọi người trong xã hội Họ bị coi là ít có quyền riêng tư hơn vì họ là công bộc củadân, giữ những vị trí quan trọng mà hành động có thể tác động tới hầu hết nhân dân

Là “người của công chúng” nên công chúng có quyền khai thác các thông tin, hình ảnhcủa họ Nếu đối với một cá nhân bình thưòng, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân đóphải được sự đồng ý của bản thân họ, nhưng đổi với một người lãnh đạo Đảng, lãnhđạo Nhà nước thì việc sử dụng hình ảnh của họ lại không bị coi là xâm phạm đến bímật đời tư, trừ khi việc sử dụng đó nhằm những mục đích trái pháp luật

Thứ ba, về không gian quyền bí mật đời tư được bảo hộ ở một không gian rộng

Quan hệ giữa cá nhân đối với mọi người trong xã hội là cơ sở để chúng ta ghinhận sự tồn tại của các quyền liên quan đến cá nhân đó, trong đó có quyền riêng tư,quyền đảm bảo sự bí mật đời tư Nếu xét dưới góc độ nội dung của quyền bí mật đời tưthì bí mật đời tư của cá nhân có thể là những thông tin về tình cảm gia đình, quan hệcha mẹ - con, quan hệ vợ - chồng; những quan hệ với đồng nghiệp ở cơ quan công táchoặc những quan hệ xã hội khác Ngoài ra bí mật đời tư cũng có thể là các vấn đề cụthể của cá nhân như tình trạng bệnh tật, sức khoẻ thậm chí những thông tin liên quanđến thu nhập (thu nhập hợp pháp), thông tin liên quan đến các nghĩa vụ mà cá nhânthực hiện đối với Nhà nước hoặc chủ thể khác (tiền thuế mà cá nhân phải nộp, tiềnđiện thoại mà cá nhân phải thanh toán ) cũng được coi là thông tin mang tính bí mật.Xuất phát từ những yếu tố trên đây, với ý nghĩa là bảo hộ quyền bí mật đời tưtheo một không gian cụ thể, chúng ta có thể hiểu bí mật đời tư của cá nhân có thể đượcđảm bảo không chỉ trong cuộc sống hàng ngày của cá nhân ở nơi cư trú mà còn có thểđược đảm bảo ở môi trường xung quanh, ví dụ ở cơ quan nơi cá nhân công tác, thậmchí ở bất cứ nơi nào có thể bảo vệ được Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa vớiviệc bí mật đời tư của cá nhân được bảo hộ ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Trang 21

Thứ tư, quyền bí mật đời tư được bảo hộ vô thời hạn

Quyền nhân thân nói chung, quyền bí mật đời tư nói riêng là một trong những nộidung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân (Khoản 1, Điều 17 BLDS 2015) Quyền bímật đời tư của cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ trong suốt cuộc đời của cánhân Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, khi cá nhân không thể tự bảo vệquyền và lợi ích họp pháp của mình (người chưa thành niên, người mất năng lực hành

vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi năng lực hành vi dânsự) thì người đại diện theo pháp luật có thể thực hiện việc bảo vệ quyền bí mật đời tưcủa cá nhân bằng cách áp dụng các biện pháp bảo vệ theo đúng quy định của pháp luậthoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thấm quyền bảo vệ

Nếu như chúng ta khẳng định “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi

người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết "(Khoản 3 Điều 16, BLDS 2015) thì

dường như đối với các quyền nhân thân của cá nhân lại là trường hợp ngoại lệ, điều đó cónghĩa là ngay kể cả sau khi cá nhân chết thì các quyền nhân thân vẫn được pháp luật bảo

vệ Khoản 2, Điều 25 BLDS 2015 quy định: “Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên

quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”

Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, khi cá nhân còn sống nếu như việccông bố bí mật đời tư mà không được sự đồng ý của họ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đếncuộc sống, sinh hoạt của bản thân cá nhân đó (chủ sở hữu thông tin liên quan đến bímật đời tư) Khi cá nhân chết hoặc bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết, nhữngthông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân này vẫn được pháp luật bảo vệ bởi điều đó sẽảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của những người thân thích của họ Do đó,thu thập công bố thông tin tư liệu của cá nhân khi cá nhân đã chết hoặc bị Tòa án tuyên

bố là đã chết thì phải được cha, mẹ hoặc vợ, chồng hoặc con đã thành niên của người

đó đồng ý

Thứ năm, những thông tin liên quan đến đời tư được bảo hộ phải là những thông tin mang tính bí mật, không được trái pháp luật và đạo đức xã hội

Trang 22

- Những thông tin liên quan đến đời tư được bảo hộ phải là những thông tin mang tính bí mật

Cuộc sống của mỗi một con người gắn liền với nhiều thông tin và theo thời gian,các thông tin này ngày càng được bổ sung, phát triển Trong những thông tin đó, cónhững thông tin mà người ta không cần giấu giếm, hoặc thậm chí không thể giấu giếmđược: bị bắt và đi tù vì phạm tội, người thân trong gia đình chết, bị tai nạn lao động, tainạn giao thông nhưng bên cạnh đó còn có những thông tin mà người ta hoàn toàn cóthể không công khai và nếu họ không công khai thì những người khác không thể biếtđược Để có thể được thừa nhận là những thông tin được bảo hộ trong phạm trù “bímật đời tư” thì những thông tin đó phải mang tính “bí mật” Vậy tính bí mật của thôngtin được xác định theo những tiêu chí nào ?

Một là, tính “bí mật” của thông tin được xác định theo bản chất của thông tin đó

hoặc thông qua những hình thức chứa đựng thông tin, truyền thông tin cụ thể để chúng

ta xác định đó là bí mật

Ví dụ: cảm xúc vui buồn của cá nhân có thể được người ta bày tỏ trước một sốchủ thể nhất định – trường hợp này sẽ không coi đó là bí mật Tuy nhiên, nếu cảm xúc

đó được bản thân cá nhân thể hiện thông qua một hình thức khác như ghi nhật ký (kể

cả trong trường hợp nhật ký đã được viết dưới dạng ký hiệu, mật mã và không có bất

kỳ biện pháp nào để bảo vệ thông tin) thì những thông tin được thể hiện trong nhật kývẫn được coi là bí mật riêng tư, nếu ai đó tự ý công bố cuốn nhật ký này mà khôngđược phép của chủ sở hữu sẽ bị coi là xâm phạm bí mật đời tư

Ngoài ra trong một số trường hợp, hình thức của việc truyền tải thông tin cũngthể hiện được bí mật của thông tin đang truyền tải Ví dụ những cuộc điện thoại, nhữngtin nhắn qua lại, gửi thư cho nhau (thư tay or thư điện tử) thì mặc nhiên chúng ta phảihiểu nội dung trao đổi trong những cuộc trò chuyện đó là mang tính bí mật

Hai là, tính bí mật của thông tin còn có thể được xác định theo quy định của pháp

luật Tất nhiên, tính bí mật được xác định theo quy định của pháp luật đối với thông

tin ở đây là những thông tin liên quan đến bản thân cá nhân, không áp dụng đối với bímật Nhà nước Pháp luật không thể dự liệu và liệt kê được toàn bộ những thông tinliên quan đến cá nhân mà chỉ có thể có sự khái quát và cụ thể hoá trong một số trườnghợp cụ thể Chẳng hạn, trong một số văn bản pháp luật của Nhà nước ta, chúng ta có

Trang 23

những quy định cụ thể như các xuất bản phẩm không được có nội dung tiết lộ bí mậtđời tư của cá nhân khi không được phép, hoặc nghiệp vụ báo chí không cho phép tiết

lộ bí mật đời tư của cá nhân, ngoài ra cấm đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vukhống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân Cónhững trường hợp không được công bố thông tin liên quan đến cá nhân, nếu công bốnhững thông tin nảy thì sẽ bị coi là xâm phạm bí mật đời tư, ví dụ: Tại Điều 8 của LuậtPhòng, chống nhiễm virut gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người(HIV/AIDS) 2006 nghiêm cấm hành vi: “Công khai tên, địa chỉ, hình ảnh của ngườinhiễm HIV hoặc tiết lộ cho người khác biết việc một người nhiễm HIV khi chưa được

sự đồng ý của họ - đây chính là hành vi xâm phạm bí mật đời tư của chủ sở hữu thôngtin Tuy nhiên, bản thân họ phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho quá trình bảomật thông tin của mình

Bốn là, tính bí mật của thông tin còn có thể được xác định thông qua quan hệ

nghĩa vụ giữa chủ sở hữu thông tin với chủ thể khác

Theo những quan hệ này, giữa chủ sở hữu thông tin và những người biết đượcthông tin đó đã có sự thoả thuận, theo đó những người biết được thông tin do chủ sởhữu cung cấp phải có nghĩa vụ “bảo mật” - tức là giữ bí mật các thông tin mà mình đãbiết Ví dụ: trong quan hệ hợp đồng dịch vụ, giữa các bên tham gia giao kết thoả thuậntheo đó bên cung ứng dịch vụ phải giữ bí mật thông tin mà bên thuê dịch vụ cung cấpthì bên cung ứng dịch vụ phải có nghĩa vụ này Điều 517 của BLDS 2015 khi quy định

về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ có quy định, bên cung ứng dịch vụ phải “ 5.Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu

có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định; ”

Trang 24

- Những thông tin được coi là “bí mật đời tư” không được trái pháp luật và đạođức xã hội

Sự đan xen các mối quan hệ trong xã hội là một điều không thể tránh khỏi, sốngtrong một cộng đồng, một tập thể, rộng hơn nữa là sống trong một xã hội nhất định thìlợi ích chung - riêng luôn có sự kết hợp hài hoà Cá nhân không thể vì lợi ích của bảnthân mình mà bỏ qua lợi ích của người khác Những thông tin chỉ có thể được coi là bímật đời tư và được pháp luật bảo vệ với điều kiện là những thông tin đó không đượccoi là trái pháp luật và trái với đạo đức xã hội

Nếu thông tin có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợppháp của người khác, thì việc công bố thông tin mặc dù không được phép của chủ sởhữu thông tin cũng không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư như việc công khai cáchành vi vi phạm pháp luật Ví dụ: A và B chơi thân với nhau, A đến nhà người yêuchơi, do cãi vã nên lỡ tay giết người yêu nhưng không bị phát hiện Để bớt mặc cảmtội lỗi A đã nói điều này với B và yêu cầu B giữ kín thông tin đó Sau đó, chính B làngười đã công khai thông tin và hành vi giết người của A bị xử lý theo quy định củapháp luật Mặc dù B là người đã công khai “thông tin bí mật” mà A đã cung cấp chomình nhưng việc cung cấp thông tin đó không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư Thậmchí, hành vi không bộc lộ thông tin, cố tình che giấu thông tin trong trường hợp này lại

bị coi là hành vi phạm tội

Khi xác định những thông tin không trái pháp luật, chúng ta căn cứ vào các quyđịnh của pháp luật Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc xác định thông tin như thếnào là trái đạo đức xã hội thì còn khó khăn, bởi đạo đức xã hội là vấn đề thuộc về ýthức xã hội - đó là sự đánh giá của mọi ngưòi trong xã hội về một hành vi và xử sự cụthể Hơn nữa, vấn đề đạo đức xã hội lại có thể thay đổi theo thời gian, không gian vàphụ thuộc vào phong tục, tập quán

Thứ sáu, việc công bố những thông tin thuộc về bí mật đời tư sẽ tạo ra sự bất lợi đối với chủ sở hữu thông tin

Đối với bí mật đời tư của cá nhân, vì nhiều lý do khác nhau mà bản thân cá nhânkhông muốn công khai cho người khác biết bởi nếu công bố công khai thì có thể ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt, tình cảm, công việc của bản thân họ hoặc củanhững người có liên quan Chẳng hạn, khi một người bị nhiễm vi rút HIV, cuộc sống

Trang 25

của họ sẽ trở lên khó khăn hơn nếu như nhiều người trong cộng đồng biết được điều

đó, họ có thể bị xa lánh, bị từ chối tiếp xúc, bị buộc thôi việc Trong nhiều trườnghợp, hậu quả bất lợi không chỉ do bản thân người này gánh chịu mà những người thânthích của họ cũng có thể gặp phải tình trạng tương tự Trong khi chúng ta tuyên truyềnvận động để xã hội có cái nhìn cảm thông hơn thì việc giữ bí mật các thông tin liênquan đến người nhiễm HIV vẫn là biện pháp khả thi để người nhiễm HIV vẫn có thểhoà nhập vào cộng đồng

Sự bất lợi của chủ sở hữu bí mật đời tư khi bí mật đời tư của họ được công bố cóthể được hiểu trên nhiều phương diện:

- Bất lợi về mặt kinh tế: Cá nhân có thể phải mất những chi phí để cải chính cácthông tin, hoặc phải gánh chịu những thiệt hại khác do không thu được những lợi ích vềmặt kinh tế nếu như bí mật đời tư bị tiết lộ

- Bất lợi trong sinh hoạt, cuộc sống hàng ngày: Bản thân người bị xâm phạm bímật đời tư phải gánh chịu những “búa rìu” của dư luận, gặp phải sự dè bỉu, bình luận,chê cười của những người xung quanh

- Bất lợi trong công việc: Vì hành vi xâm phạm bí mật đời tư mà bản thân người

bị xâm phạm có thể bị mất việc làm hoặc gặp rất nhiều khó khăn trong công việc

- Bất lợi trong quan hệ với đồng nghiệp, những người xung quanh khác

2.1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền bí mật đời tư

Quyền bí mật đời tư nói riêng, quyền nhân thân nói chung được pháp luật quyđịnh, bảo vệ và pháp luật luôn có các cơ chế pháp lý để đảm bảo cho các quyền nàyđược thực hiện trên thực tế Các biện pháp bảo vệ quyền bí mật đời tư đa dạng với sựphối kết hợp đồng bộ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ là sự đảm bảo tíchcực cho quyền bí mật đời tư của cá nhân được phát huy tác dụng

Bảo vệ quyền bí mật đời tư có ý nghĩa rất quan trọng, được thể hiện trênnhững phương diện sau đây:

- Bảo vệ quyền bí mật đời tư chính là sự đảm bảo cho quyền của cá nhân đối với

bí mật đời tư được Nhà nước ghi nhận cho cá nhân trở thành hiện thực

- Tăng cường sự tôn trọng các quyền của con người, trong đó có quyền đối với giá trị tinh thần được Nhà nước thừa nhận

Trang 26

- Góp phần hạn chế các hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư của cá nhân

- Tạo điều kiện cho các cá nhân có thể lựa chọn các biện pháp phù hợp nhất khi

có hành vi xâm phạm (bởi lẽ, các biện pháp bảo vệ quyền bí mật đời tư đa dạng)

- Giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, thẩm quyềncủa mình lựa chọn cơ sở pháp lý cũng như các biện pháp giải quyết tranh chấp liên

quan đến bí mật đời tư

2.2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ

Hiện nay trong BLDS chưa có quy định cụ thể như thế nào là bí mật đời tư của cá

nhân mà chỉ khẳng định: “Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất

khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.” – Điều 38 BLDS 2015 Chính từ quy định

còn mang tính chung chung này nên rất khó có thể xác định được nội dung của quyền

bí mật đời tư của cá nhân, vốn được hiểu là phạm vi các quyền liên quan đến bí mậtđời tư được Nhà nước ghi nhận và bảo vệ cho cá nhân Việc xem xét nội dung quyền

bí mật đời tư để làm cơ sở cho cá nhân hưởng quyền này và để xác định, xử lý cáchành vi xâm phạm – là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng

Theo quy định tại Điều 38 BLDS 2015 có thể xác định quyền bí mật đời tư nhưsau:

2.2.1 Cá nhân có quyền đối với các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư,

bí mật cá nhân, bí mật gia đình của mình

Bí mật cá nhân, bí mật gia đình là những thông tin, tư liệu về cá nhân, về gia đìnhđược giữ kín bằng các biện pháp thông thường hoặc biện pháp kỹ thuật Đời sốngriêng tư tuy không phải là các bí mật nhưng cũng là các quyền nhân thân cần thiếtđược bảo vệ Điều 38 BLDS 2015 đã nhấn mạnh về các quyền nhân thân này (đời sốngriêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình), yêu cầu sự tuyệt đối tôn trọng (bất khả xâmphạm) và được pháp luật bảo vệ Khi có hành vi xâm phạm, cá nhân có quyền áp dụngcác phương thức do pháp luật quy định để bảo vệ quyền lợi của mình

Cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa

“Thông tin” là “Tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh”[26, tr.1756]

Phạm vi các thông tin thuộc về cá nhân là rất rộng lớn Đó có thể là những thông tinliên quan đến cuộc đời của cá nhân được thể hiện ở nhiều hình thức chứa

Trang 27

đựng thông tin khác nhau như một câu chuyện, hình ảnh, những trang nhật ký, những

kỷ vật Các thông tin đó có thể có từ khi cá nhân mới sinh ra, thông tin trong suốtcuộc đời của cá nhân và thậm chí ngay kể cả khi cá nhân đã chết

Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng

tư, bí mật cá nhân phải được bản thân cá nhân đó đồng ý Quy định này hướng tới việctôn trọng đời sống riêng tư của mỗi cá nhân trong xã hội, trước thực tế hiện nay, rấtnhiều chủ thể, đặc biệt là những người nổi tiếng thường bị xâm phạm nghiêm trọng vềđời sống riêng tư của mình bởi sự hiếu kỳ, quan tâm thái quá của người hâm mộ Nhưvậy cá nhân có quyền công bố hoặc không công bố các thông tin này, khi cá nhânkhông công bố - điều đó có nghĩa là các thông tin này được coi là “bí mật” Bất cứhành vi nào tiết lộ các thông tin mà không được phép của chủ sở hữu thông tin sẽ bịcoi là xâm phạm quyền của cá nhân đối với bí mật đời tư (nếu chủ sở hữu thông tinchưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làmchủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, nếu chủ sở hữuthông tin đã chết, hoặc bị tuyên bố đã chết, đã mất tích cần phải được sự đồng ý củacha mẹ hoặc vợ chồng hoặc con đã thành niên theo quy định của pháp luật)

Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đìnhphải được các thành viên của gia đình đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác Đó là một quy định rất mới trong BLDS, bởi có những thông tin không phải là bímật riêng tư hoặc thuộc đời sống riêng tư không chỉ của riêng một cá nhân mà là củachung các thành viên trong cùng gia đình Do đó, nếu chỉ bảo vệ quyền riêng tư cánhân thì sẽ dẫn đến quyền riêng tư của gia đình bị bỏ ngỏ

Bên cạnh đó, BLDS còn quy định việc đảm bảo bí mật riêng tư của cá nhân, giađình trong trường hợp có những chủ thể khác được quyền tiếp cận do gắn liền với cáchợp đồng Thông thường, ở đây tồn tại một cam kết giữ bí mật giữa hai bên, bên đượccung cấp thông tin cần phải giữ kín những thông tin tiếp nhận được từ chủ sở hữuthông tin trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng

2.3.2 Cá nhân có quyền bí mật đối vói thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân

Khoản 2, Điều 21 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền bí mật thư

tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác Không ai

Trang 28

được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác” Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 38 BLDS

2015 cũng quy định: “Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình

thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật”.

Khi xã hội ngày càng phát triển, việc trao đổi thông tin được thực hiện bằngnhiều cách thức khác nhau, phổ biến nhất là sử dụng điện thoại di động, thư tín điện tử

Vì vậy, thư tín, điện thoại, điện tín và nói chung là những phương tiện liên lạc cá nhân

là những “kênh” thông tin rất quan trọng, trong đó có chứa nhiều thông tin thuộc bímật đời tư của cá nhân, những thông tin được chuyển tải có thể là những lời hỏi thămmang tính chất tình cảm, công việc hoặc bất kỳ nội dung nào khác, tuy nhiên dù thếnào cũng không thể bị người khác tự tiện xâm phạm Đó là quyền tự do dân chủ chínhđáng của mọi công dân, bảo đảm cho sinh hoạt xã hội an toàn một cách cần thiết.Pháp luật về bưu chính viễn thông của Nhà nước ta cũng đã đưa nguyên tắc bảomật là một trong những nguyên tắc trong hoạt động bưu chính, viễn thông Điều 4 LuậtBưu chính 2010 quy định một trong các nguyên tắc của hoạt động bưu chính đó là:

“Bảo đảm bí mật thư theo quy định của pháp luật” Điều 6 Luật Viễn thông 2009 ghi nhận vấn đề bảo đảm bí mật thông tin như sau: “Thông tin riêng chuyển qua mạng

viễn thông công cộng của mọi tổ chức, cá nhân được bảo đảm bí mật; Doanh nghiệp viễn thông không được tiết lộ thông tin riêng liên quan đến người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm tên, địa chỉ, số máy gọi, số máy được gọi, vị trí máy gọi, vị trí máy được gọi, thời gian gọi và thông tin riêng khác mà người sử dụng đã cung cấp khi giao kết hợp đồng với doanh nghiệp ” Bên cạnh đó Điều 12 Luật Viễn thông 2009

còn nghiêm cấm hành vi: “Thu trộm, nghe trộm, xem trộm thông tin trên mạng viễn

thông; trộm cắp, sử dụng trái phép tài nguyên viễn thông, mật khẩu, khóa mật mã và thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác” Luật pháp cũng có những chế tài nhằm

ngăn chặn những trường hợp xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện

tín của người khác trong những điều luật cụ thể Tội xâm phạm bí mật hoặc an toànthư tín, điện thoại, điện tín của người khác là hành vi chiếm đoạt thư, điện báo, telex,fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và vi tính,hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điệntín của người khác Hành vi vi phạm các quy định trên đây có thể bị xử lý vi phạmhành chính

Trang 29

hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh xâm phạm bí mật hoặc antoàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác Như vậy, các quy định của pháp luậtViệt Nam không chỉ ghi nhận và thể hiện sự tôn trọng các quyền bí mật thư tín, bí mậtđời tư mà còn đề ra các biện pháp để bảo vệ những quyền này.

Tuy nhiên, bí mật đối với thư tín, điện thoại, điện tín và cơ sở dữ liệu điện tử vàcác hình thức thông tin điện tử khác cũng phải chịu những giới hạn nhất định theo quyđịnh của pháp luật Việc kiểm soát thư tín, điện tín cũng như các hình thức thông tinđiện tử khác nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, giữ gìn an ninh, trật tự - hay nói cáchkhác ỉà nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của quốc gia Hầu hết các quốc gia trên thế giớiđều có sự kiểm soát này, kể cả Hoa Kỳ - một trong những quốc gia vẫn được coi là tôntrọng bí mật riêng tư một cách chặt chẽ nhất Mặc dù có thể có sự can thiệp vào thưtín, điện tín và các hình thức thông tin điện tử khác nhưng phải tuân theo một trình tự,

thủ tục nhất định Điều 6 Luật Viễn thông 2009 quy định: “Việc kiểm soát thông tin

trên mạng viễn thông do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật “

Trong trường hợp người có điện thoại, điện tín, thư tín (bao gồm cả người nhận

và người gửi) đang liên quan đến vụ án hình sự, nếu thấy cần thiết, cơ quan điều tra cóthể áp dụng các biện pháp kiểm soát, thu giữ điện thoại, điện tín, thư tín để phục vụcho hoạt động điều tra, nhưng việc áp dụng các biện pháp này phải theo đúng quy địnhcủa BLTTHS 2015 về thẩm quyền, trình tự, thủ tục

Xét về hành vi thì đây là những hành vi can thiệp vào bí mật đời tư của cá nhân,tuy vậy điều này là hết sức cần thiết Nhiều vụ án đã được phá, nhiều âm mưu phảnđộng chống phá chính quyền cũng như gây thiệt hại cho Nhà nước, cho nhân dân đãđược ngăn chặn thông qua việc kiểm soát thư tín, điện tín và các hình thức thông tinđiện tử khác

2.3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ

Quyền bí mật đời tư là một trong những quyền nhân thân có lịch sử hình thành

từ rất sớm Tuy mới chính thức được ghi nhận trong BLDS 1995 nhưng một số quyđịnh cụ thể liên quan đến nội dung của quyền bí mật đời tư cũng đã được đề cập rải rác

Trang 30

trong một số văn bản trước đó Có thể chia quá trình phát triển của pháp luật nước tatrong quy định về quyền bí mật đời tư thành các giai đoạn sau đây:

Giai đoạn 1946 – 1959: Đây là giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ về chất của hệ

thống chính trị, Việt Nam đã chính thức là một quốc gia độc lập Ngay sau đó, Nhànước ta cho ra đời bản Hiến pháp đầu tiên – Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho việcban hành các văn bản có hiệu lực sau Hiến pháp, trong đó có các văn bản pháp luật về

dân sự Điều 11 của Hiến pháp 1946 quy định: “… Nhà ở và thư tín của công dân Việt

Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” Như vậy, sau bao nhiêu năm

dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến, các quyền của conngười đã được thừa nhận và một trong những quyền đó có liên quan đến bí mật đời tưcủa công dân, trước đó bất cứ lúc nào sự riêng tư của con người cũng có thể bị xâmphạm một cách thô bạo Do đó, bằng quy định này của bản Hiến pháp 1946 chúng tathấy có một sự tiến bộ vượt bậc của pháp luật nước nhà trong việc khẳng định cácquyền của công dân

Giai đoạn sau năm 1959 – 1980: Điểm mốc của giai đoạn này được đánh dấu

bằng bản Hiến pháp 1959 thay cho Hiến pháp 1946, trong hoàn cảnh lịch sử mới:chúng ta tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam, xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc Liên quan đến quyền bí mật đời tư, Điều 28 Hiến pháp 1959

ghi nhận: “Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật…” Do hoàn cảnh lịch sử, giai đoạn này

chúng ta cũng chưa có những văn bản pháp luật quy định cụ thể hoá quyền bí mật đời

tư của cá nhân

Giai đoạn sau năm 1980 – 1992: Đây là giai đoạn đất nước thống nhất và cả

nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước ta đã cho ra đời bảnHiến pháp mới – Hiến pháp 1980, thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng ta tronggiai đoạn mới Liên quan tới quyền bí mật đời tư , Điều 71 Hiến pháp 1980 quy định:

“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép Việc khám xét chỗ ở phải do đại diện cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành, theo quy định của pháp luật Bí mật thư tín, điện thoại, điện tín được bảo đảm Quyền tự do đi lại và cư trú được tôn trọng, theo quy định của pháp luật”.

Trang 31

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 1980, một loạt các văn bản có hiệu lực sauHiến pháp đã cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền liên quanđến “bất khả xâm phạm về chỗ ở”, quyền được giữ bí mật về thư tín, điện thoại, điệntín như: Thông tư liên ngành số 249 – HK/BĐ ngày 20/3/1981 của Tổng cục hàngkhông – Tổng cục bưu điện về việc tổ chức vận chuyển túi, gói bưu phẩm, bưu kiệnqua đường hàng không, BLTTHS 1988, Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng số 384 –HĐBT ngày 5/11/1990 về tăng cường quản lý công tác báo chí, xuất bản, Luật Báo chí

1990, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989… Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở mức

độ quy định của pháp luật chuyên ngành chứ chưa có một văn bản pháp luật cụ thểđiều chỉnh quyền bí mật đời tư

Giai đoạn sau năm 1992 – 1995: Đây là giai đoạn có sự chuyển biến mạnh mẽ

của hệ thống pháp luật nước ta Hiến pháp 1992 ra đời, thay thế cho Hiến pháp 1980.Làm cơ sở cho các văn bản pháp luật có hiệu lực sau này cụ thể hóa quyền của cá nhân

đối với bí mật đời tư, Điều 73 Hiến pháp 1992 quy định: “ Công dân có quyền bất khả

xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật” Sau khi Hiến pháp 1992 được ban hành, một loạt

các văn bản pháp luật ra đời đã đề cập đến việc bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân

như Quyết định số 259/QĐ – NH6 ngày 22/10/1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhànước Việt Nam ban hành Quy chế về nhận bảo quản tài sản quý hiếm, Nghị định số

133 – HĐBT ngày 20/4/1992 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật báo chí, Luật Xuất bảnnăm 1993… Các văn bản này cũng đã đưa ra được những hành vi bị cấm như cấm tiết

lộ bí mật đời tư của cá nhân liên quan như tiền gửi, cấm tiết lộ bí mật đời tư của cánhân trong các xuất bản phẩm…

Một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển vượt bậc của phápluật dân sự là sự ra đời của BLDS 1995, được đánh giá có vị trí thứ 2 sau Hiến pháp.Lần đầu tiên, BLDS đã quy định về quyền đối với bí mật đời tư với tư cách một quyềnnhân thân của cá nhân tại Điều 34, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan Nhà

Trang 32

nước có thẩm quyền xác định các hành vi xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân và cơchế bảo vệ thích hợp.

Giai đoạn sau năm 1995 – 2013: BLDS 1995 đã phát huy vai trò to lớn trong

việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tuy nhiên qua thời gian áp dụng vàothực tiễn đời sống cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định cần được sửa đổi, bổ sung.Đây chính là lý do để BLDS 2005 ra đời Quy định về quyền bí mật đời tư của cá nhân

có sự thay đổi nhỏ, theo đó tên điều luật được quy định là “Quyền bí mật đời tư” thay

vì “Quyền đối với bí mật đời tư” như trước đây

Một loạt các văn bản pháp luật ra đời trong giai đoạn này đã đề cập đến quyền bímật đời tư của cá nhân theo các quy định dưới dạng cấm tiết lộ như Pháp lệnh Quảngcáo, Luật Quảng cáo 2012, Luật Báo chí, Luật Xuất bản 2004 và 2012, Pháp lệnh giámđịnh tư pháp 2004 và 2012, Pháp lệnh Bưu chính viễn thông 2002, Luật Bưu chính

2010 (có nguyên tắc bảo mật, nghiêm cấm hành vi thu, nghe trộm thông tin, tiết lộ nộidung thư, bưu phẩm…), Luật Luật sư 2006 sửa đổi 2012 (nghiêm cấm tiết lộ thông tinkhách hàng), Luật quản lý thuế (giữ bí mật thông tin của người nộp thuế), Luật Hiến,lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 (nghiêm cấm tiết lộthông tin, bí mật về người hiến và người được ghép)… Bên cạnh đó, còn có các vănbản dưới luật được ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến quy định vàbảo vệ quyền bí mật đời tư, như Nghị định số 97/2008/NĐ – CP ngày 28/8/2008 vềquản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet…

Giai đoạn sau 2013 đến nay: Trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 được Quốc hội

thông qua ngày 28/11/2013, vấn đề quyền con người, quyền công dân được quy địnhtrong Chương II với nhiều điểm mới và tiến bộ, mở rộng một cách toàn diện phạm viquy định quyền được bảo vệ bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Điều 21 Hiến pháp 2013 ghi nhận: “1 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời

sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn 2 Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của

Trang 33

người khác” Trên cơ sở những quy định nhằm đảm bảo quyền riêng tư trong Hiến

pháp mới, BLDS 2015 ra đời đã sửa đổi một số điểm trong BLDS 2005 cho phù hợpvới Hiến pháp 2013, điều luật “Quyền bí mật đời tư” được sửa thành “Quyền về đờisống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”

Ngoài ra, các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng có những quy định tương đối

cụ thể nhằm bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân như Luật an toàn thông tin mạng 2015,Luật giao dịch điện tử, Luật báo chí 2016

Tóm lại, nếu như trước đây quyền bí mật đời tư của cá nhân mới chỉ được quyđịnh trong Hiến pháp thì hiện nay, quyền bí mật đời tư của cá nhân đã được cụ thể hóatrong rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau Đó cũng chính là biểu hiệncủa sự tiến bộ trong hệ thống pháp luật nước ta

2.4 QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA MỘT

SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Nghiên cứu so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới, có thể thấyrằng quyền bí mật đời tư được hầu hết các nước thừa nhận với tên gọi và phạm vi khácnhau Một số quốc gia đã ban hành luật về quyền riêng tư như Anh, Mỹ, Nga, Úc hoặc ban hành văn bản pháp luật liên quan đến quyền bí mật đời tư như Luật bảo vệthông tin cá nhân của Nhật Bản Không những thế, trong các công ước quốc tế đượccác quốc gia trên thế giới ký kết cũng đã đề cập đến quyền này

Trong Công ước châu Âu về Nhân quyền được soạn thảo và thông qua bởi Hộiđồng Châu Âu vào năm 1950, nhằm bảo vệ quyền tôn trọng cuộc sống riêng tư, Điều 8

quy định: “Mọi người đều có quyền tôn trọng cuộc sống riêng tư và gia đình của

mình, nhà của mình và thư từ của cá nhân” Ngoài ra Điều 12 Tuyên ngôn Quốc tế

Nhân quyền (UDHR) ghi nhận: "Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào

cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc

uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp

và xâm phạm như vậy” Tại Điều 17 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính

trị: “Không ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư,

gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy” Những qui định trên là một sự tôn trọng tuyệt đối đến quyền

Trang 34

riêng tư của con người bằng một qui chế pháp lí cao nhất đối với các nước là thànhviên của Công ước.

Pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng có những qui định riêng liên quanđến việc bảo vệ bí mật đời tư từ rất sớm

Theo quy định của pháp luật Pháp thì quyền đối với đời tư của cá nhân luôn được

tôn trọng một cách tuyệt đối: “Cá nhân có quyền được tôn trọng về đời tư Ngoài biện

pháp yêu cầu bồi thường thiệt hại, thẩm phán có thể quyết định mọi biện pháp như giao tài sản cho người khác quản lý, kê biên tài sản và các biện pháp khác, nhằm ngăn chặn hoặc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm bí mật đời tư, trong trường hợp khẩn cấp các biện pháp này có thể được quyết định theo thủ tục khẩn cấp tạm thời”

(Điều 9 - BLDS Pháp) Bên cạnh đó án lệ Pháp đã có những bổ sung rất quan trọng đối

với các hành vi bị coi là xâm phạm đời tư, theo đó, phạm vi của quyền riêng tư rấtrộng, có thể là bí mật thư tín, tình trạng sức khỏe, đời sống tình cảm, trạng thái tâm lý,hình ảnh, chỗ ở, địa chỉ, số điện thoại, thậm chí giọng nói…

Pháp luật của Liên bang Nga lại thông qua Hiến pháp để đưa ra các nguyên tắc

chung nhằm bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân: “Mỗi cá nhân đều có quyền bí

mật về đời tư, gia đình, có quyền được bảo vệ nhân phẩm và tên tuổi của mình Mỗi người đều có quyền được bảo đảm bí mật thư tín, điện tín, điện thoại Việc hạn chế quyền này của cá nhân phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật…” (Điều 23,

24) Ngoài ra theo quy định tại Điều 150 BLDS Liên bang Nga thì tính mạng, sứckhỏe, thân thể, uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư (bao gồm của cá nhân và giađình), quyền tác giả và các quyền cá nhân khác đều được pháp luật bảo vệ Đây đượccoi là cơ sở pháp lý quan trọng để cá nhân thực hiện quyền của mình đối với các thôngtin thuộc về bí mật đời tư Ngoài ra vì lợi ích công cộng, pháp luật cũng quy định vềviệc xử lý thông tin cũng như các trường hợp thuộc giới hạn xử lý thông tin của chủthể (không được phép xử lý những thông tin thuộc loại đặc biệt, nhạy cảm như: nòichủng, dân tộc, khuynh hướng chính trị, tôn giáo, tình trạng sức khỏe, đời sống riêngtư…)

Đối với pháp luật Nhật Bản, Điều 35 - Hiến pháp Nhật Bản ghi nhận: “Nhà ở, thư từ và các

đồ vật đều được đảm bảo chống lại sự khám xét, tìm tòi và tịch thu, trừ có trát của toà án trình bày lý do, ghi chỗ khám xét, đồ vật có thể bị tịch thu theo điều kiện trong khoản 33 Mọi sự

Trang 35

khám xét và tịch thu phải do lệnh của thẩm phán có trát riêng biệt” Còn BLDS Nhật Bản quy

định cho cá nhân có quyền năng kể từ khi sinh ra, tuy nhiên quyền đối với bí mật đời tư khôngđược đề cập tại đây Trong bối cảnh có sự gia tăng việc sử dụng thông tin cá nhân do có sựphát triển mạnh mẽ của xã hội thông tin và truyền thông, năm 2003 Nhật Bản ban hành Luật

về bảo hộ thông tin cá nhân, một trong những nội dung liên quan đến bí mật đời tư của cánhân Những thông tin này thuộc về một cá nhân cụ thể và cá nhân có quyền đối với các thôngtin đó Việc khai thác, xử lý thông tin cá nhân, cung cấp thông tin cá nhân cho người thứ baphải tuân theo quy định của pháp luật nhưng trên tinh thần không xâm hại tới quyền và lợi íchhợp pháp của chủ sở hữu thông tin Đây có thể coi là kinh nghiệm quý báu đối với nước ta khixây dựng các văn bản pháp luật chuyên ngành trong các lĩnh vực tương ứng để bảo vệ thôngtin cá nhân cũng như quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật

Ngoài ra quyền bí mật đời tư còn được ghi nhận tại nhiều quốc gia khác trên thế

giới như: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “ Quyền lợi của các công dân được đảm bảo về

bản thân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và tịch thu vô lý, sẽ không

bị xâm phạm và sẽ không bị trát khám nhà nào được cấp nếu không phải là có lí do chắc chắn, căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận cần nhất trát đó phỉa tả rõ nơi

và chốn phải khám xét và chỉ rõ người hay vật phải bắt giữ (Điều 4 - Hiến pháp Hợp

chủng quốc Hoa Kỳ) Trung Quốc: “Công dân có quyền được tự do về ngôn luận, thư

tín, báo chí, hội họp, tuần hành, biểu tình, tự do bãi công, tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng và tuyên truyền chủ nghĩa vô thần Tự do cá nhân của công dân và nhà ở của họ là bất khả xâm phạm Không một công dân nào có thể bị bắt nếu không

có quyết định của toà án, chứng nhận hoặc phê chuẩn của một cơ quan an ninh " (Điều

28 - Hiến pháp CHND Trung Hoa)

Trên đây là một số quy định pháp luật về quyền bí mật đời tư của các quốc giatiên tiến trên thế giới, hầu hết các nước đều có những ghi nhận về việc bảo hộ quyềnnày trong Hiến pháp, BLDS hoặc ban hành những đạo luật liên quan để bảo vệ quyềnriêng tư Từ đó có thể thấy nhu cầu con người trong xã hội mới ngày càng được nângcao thì nhu cầu bảo vệ bí mật đời tư ngày càng được quan tâm Việc tìm hiểu quyền bímật đời tư của một số quốc gia trên thế giới có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu,tìm hiểu về quyền bí mật đời tư theo quy định pháp luật Việt Nam

Trang 36

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ VÀ

THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM 

3.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ

3.1.1 Thực trạng quy định pháp luật dân sự về quyền bí mật đời tư

Quyền bí mật đời tư là một quyền cơ bản của con người, lần đầu tiên được quyđịnh một cách chính thức trong BLDS 1995, và sau này là trong BLDS 2005, tuy nhiêntrước đó đã được ghi nhận một cách rải rác trong một số văn bản pháp luật chuyênngành, thậm chí trở thành một nguyên tắc hiến định

Nhưng, có thể thấy rằng trải qua các thời kỳ phát triển các bản Hiến pháp chỉ quyđịnh việc bảo vệ bí mật đời tư công dân đối với thư tín, điện thoại, điện tín mà thôi, tứcphạm vi quyền bí mật đời tư còn tương đối hẹp Đến Hiến pháp 2013 quyền bí mật đời

tư của cá nhân đã được tiếp cận theo một cách khác, mà theo đó, như Điều 21 Hiếnpháp 2013 quy định đã mở rộng hơn rất nhiều đối với quyền bí mật đời tư, không chỉbao gồm thư tín, điện thoại, điện tín mà tất cả các vấn đề về đời sống riêng tư, bí mật

cá nhân và bí mật gia đình đều được pháp luật bảo vệ

Tiếp thu quan điểm tiến bộ này, BLDS 2015 (có hiệu lực từ 01/01/2017) đượcban hành thay thế BLDS 2005 trước đây đã sửa đổi “Quyền bí mật đời tư” thành

“Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” cho phù hợp với quyđịnh mới trong Hiến pháp Để tiện bề so sánh, chỉ ra điểm tiến bộ, hạn chế của điềuluật, xin trích đăng cả hai quy định trong BLDS 2005 và BLDS 2015 như sau:

Điều 38 – BLDS 2005:

“1 Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2 Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

3 Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.”

Trang 37

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3 Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử

và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.

4 Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Như đã chỉ ra ở trên, tên điều luật đã được sửa đổi cho phù hợp với tình hìnhmới, theo hướng mở rộng hơn về quyền bí mật đời tư, trên cơ sở đó nội dung được quyđịnh tại các điều khoản cũng có nhiều thay đổi

- Ở BLDS 2005 quyền bí mật đời tư của cá nhân “được tôn trọng và được phápluật bảo vệ”, nhưng ở BLDS 2015 thì quyền đó không chỉ là được tôn trọng mà còn làquyền “bất khả xâm phạm” – tức là yêu cầu một sự tuyệt đối tôn trọng và được pháp luậtbảo vệ Tính chất bảo hộ, đảm bảo thực hiện cũng đã nâng cao chặt chẽ hơn

- Khoản 2 Điều 38 BLDS 2015 đã bổ sung thêm hai hành vi được coi là xâmphạm bí mật đời tư, nếu trước đây chỉ giới hạn ở việc thu thập và công bố thông tin

liên quan đến bí mật đời tư thì nay luật quy định ngoài thu thập, công khai (tiết lộ thông tin) còn có lưu giữ, sử dụng thông tin mà không được sự đồng ý của chủ sở hữuthông tin, điều này góp phần làm rõ, chi tiết hơn phạm vi của các hành vi xâm phạm,

Ngày đăng: 27/10/2020, 17:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w