Trả lời đầy đủ và rõ ràng các câuhỏi nêu trên sẽ phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy, hoàn thiện giáo trình, bài giảngcũng như chỉ ra các hướng nghiên cứu khả dĩ về hoạch định nhu cầu n
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
1.2Các mục tiêu nghiên cứu
1.3Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
1.4Phương pháp nghiên cứu
1.5Kết cấu đề tài nghiên cứu
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ TỔNG HỢP LÝ THUYẾT HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG QUẢN TRỊ SẢN XUẤT
2.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1.1Các nghiên cứu trong nước
2.1.2Các nghiên cứu nước ngoài
2.2 KHÁI NIỆM, LỢI ÍCH VÀ CÁC YÊU CẦU ỨNG DỤNG MRP
2.2.1Khái niệm hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
2.2.2Lợi ích của hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
2.2.3Các yêu cầu trong ứng dụng MRP
2.3 CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT LIỆU
2.3.1Các yếu tố đầu vào
2.3.2Các yếu tố đầu ra cơ bản
2.4 QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT LIỆU
2.4.1Phân tích cấu trúc sản phẩm
2.4.2Tính tổng nhu cầu và nhu cầu thực của các bộ phận, chi tiết cấu thành sản phẩm cuối cùng
2.4.3Xác định thời gian phát lệnh sản xuất hoặc phát đơn đặt hàng
2
Trang 32.5 MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT MRP 28
2.5.1 Hoạch định nguồn lực cho sản xuất (ressource planning for manufacturing) 28
2.5.2 Xác định cỡ lô trong MRP 31
2.6 ĐẢM BẢO SỰ THÍCH ỨNG CỦA HỆ THỐNG MRP VỚI NHỮNG THAY ĐỔI CỦA MÔI TRƯỜNG 33
2.6.1 Sự cần thiết phải đảm bảo MRP thích ứng với môi trường 33
2.6.2 Các kỹ thuật đảm bảo MRP thích ứng với những thay đổi của môi trường 34 CHƯƠNG 3 BÀN LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ VIỆC ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT LIỆU (MRP) 37
3.1 BÀN LUẬN VỀ LÝ THUYẾT HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT LIỆU 37
3.2 CÁC KHUYẾN NGHỊ CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY, NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG MRP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 40
3.2.1 Đối với việc giảng dạy 40
3.2.2 Đối với việc nghiên cứu 41
3.2.3 Đối với việc ứng dụng lý thuyết hoạch định nguyên vật liệu tại các doanh nghiệp 42
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC: TÌNH HUỐNG VÀ BÀI TẬP PHỤC VỤ GIẢNG DẠY 48
3
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu tổng quát 17
Hình 2.2 : Lịch trình sản xuất tổng hợp nệm giường 18
Hình 2.3: Cấu trúc hình cây của sản phẩm cuối cùng 21
Hình 2.4: Cấu trúc hình cây của chiếc bàn gỗ 22
Hình 2.5: Cấu trúc hình cây của sản phẩm X 23
Hình 3.1: Phân loại nhu cầu nguyên vật liệu 37
DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Khả năng ứng dụng của lý thuyết MRP đối với các DN sản xuất 39
Bảng 3.2 Các nhà cung cấp phần mềm MRP và ERP 42
4
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Quản trị sản xuất là một trong những học phần chuyên ngành được Nhà trườngphân công cho Bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh giảng dạy bắt buộc cho sinhviên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, sinh viên cử nhân thực hành của Khoa Đàotạo quốc tế và là học phần lựa chọn của các chuyên ngành khác về kinh tế và quảnlý
Lý thuyết về hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (Material Requirement Planning MRP) chiếm một vị trí rất quan trọng trong lý thuyết Quản trị sản xuất vì nguyênvật liệu là một yếu tố đầu vào đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp sản suất.Việc hoạch định chính xác và quản lý tốt nguồn nguyên liệu sẽ góp phần đảm bảonhịp độ sản xuất, thỏa mãn kịp thời nhu cầu của khách hàng và giảm chi phí sảnxuất
-Lý thuyết hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu hiện nay dựa trên mô hình cơ bản baogồm các yếu tố đầu vào là kế hoạch sản xuất, hồ sơ cấu trúc sản phẩm và hồ sơ dựtrữ nguyên vật liệu để hoạch định các yếu tố đầu ra bao gồm lệnh mua hàng, lệnhsản xuất và kế hoạch điều chỉnh Tuy nhiên, việc trình bày lý thuyết về hoạch địnhnhu cầu nguyên vật liệu còn tản mạn trong nhiều tài liệu khác nhau, có nhiều nộidung trùng lặp hoặc rất khác biệt nhau cần được hệ thống hóa và chủ giải rõ ràng.Hơn nữa, hiện có nhiều quan điểm, cách tiếp cận và tranh luận khác nhau về hoạchđịnh nhu cầu nguyên vật liệu Cần phải sử dụng phần mềm về hoạch định nhu cầunguyên vật liệu để giảng dạy cho sinh viên hay chỉ dạy cho sinh viên hiểu nhữngnguyên lý cơ bản trong vấn đề này? Nên tách nội dung MRP để giảng day như mộtnội dung độc lập hay cần gắn vấn đề này với nội dung hoạch định nguồn lực doanhnghiệp (Enterprise Resource Planning -ERP)? Đâu là những hạn chế của lý thuyếthiện nay và khả năng ứng dụng lý thuyết này đối với các doa nh nghiệp sản xuất ởViệt Nam? Việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển lý thuyết này nên được thực hiện
5
Trang 6theo hướng nào? Đây là rất nhiều các câu hỏi về lý thuyết hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu cần được nghiên cứu và giải đáp một cách thỏa đáng.
Như vậy, việc nghiên cứu, hệ thống hóa và đánh giá lý thuyết hiện tại về hoạch địnhnhu cầu nguyên vật liệu có ý nghĩa rất quan trọng Trả lời đầy đủ và rõ ràng các câuhỏi nêu trên sẽ phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy, hoàn thiện giáo trình, bài giảngcũng như chỉ ra các hướng nghiên cứu khả dĩ về hoạch định nhu cầu nguyên vậtliệu cho Bộ môn QTDNTM
1.2 Các mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung là hệ thống hóa lý thuyết hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu trong
quản trị sản xuất, đánh giá khả năng ứng dụng các lý thuyết này vào việc giảng dạy,nghiên cứu và biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo học phần Quản trị sản xuấtcủa Bộ môn Quản trị tác nghiệp kinh doanh
Mục tiêu cụ thể:
vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất;
liệu hiện nay và các đóng góp của các lý thuyết này tới việc lập kế hoạch nguyênvật liệu trong doanh nghiệp sản xuất;
dạy, nghiên cứu và hoạch định nhu cầu vật tư tại các doanh nghiệp sản xuấttrong thực tế
1.3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý thuyết về hoạch định nhu cầu nguyên vật liệucũng như việc vận dụng lý thuyết này trong việc giảng dạy, nghiên cứu, biên soạngiáo trình, tài liệu học tập học phần Quản trị sản xuất ở Bộ môn Quản trị TNKD
6
Trang 7Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu vào việc tổng quan và hệ thống hoá lý thuyết vềhoạch định nhu cầu nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất; khả năng vậndụng lý thuyết này trong việc giảng dạy, nghiên cứu và trong việc hoạch định nhucầu nguyên vật liệu tại các doanh nghiệp
Đề tài tập trung tổng quan các giáo trình và công trình nghiên cứu về quản trị sảnxuất và hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu của các tác giả trong và ngoài nước,được công bố trong thời gian từ khoảng 15 năm trở lại đây
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu Các tài liệu được tìm kiếm và tậphợp là các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được xuấtbản dưới dạng sách, giáo trình, bài báo khoa học, tài liệu giảng dạy và học tập Cácchủ đề và từ khoá chính được tìm kiếm là quản trị sản xuất, quản trị tác nghiệp,quản trị vận hành, hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, doanh nghiệp sản xuất
Để xử lý tài liệu, tác giả dùng phương pháp tổng hợp, phân tích nội dung, đối sánhgiữa nhiều nghiên cứu và tài liệu khác nhau (đặc biệt là giữa các công trình nghiêncứu trong nước và nước ngoài) để hệ thống hoá cũng như đưa ra các đánh giá, nhậnxét và kết luận
1.5 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương mở đầu này trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài
nguyên vật liệu
7
Trang 8Sau khi tóm tắt các nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước về lý thuyết hoạch địnhnhu cầu nguyên vật liệu, chương này trình bày phần tổng hợp các nội dung cơ bảncủa lý thuyết này, bao gồm: khái niệm, lợi ích và các yêu cầu ứng dụng; cấu trúc hệthống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và quy trình hoạch định nhu cầu nguyênvật liệu.
định nhu cầu nguyên vật liệu
Chương này đưa ra các đánh giá và bàn luận về mức độ hoàn thiện của lý thuyếthoạch định nhu cầu nguyên vật liệu hiện tại, các khuyến nghị về việc sử dụng lýthuyết này trong giảng dạy, nghiên cứu và công tác hoạch định sản xuất tại doanhnghiệp Tác giả cũng đề xuất bổ sung một số tình huống, bài tập, câu hỏi hỗ trợ quátrình giảng dạy học phần của bộ môn
8
Trang 9CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ TỔNG HỢP LÝ THUYẾT HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG QUẢN TRỊ SẢN
XUẤT
Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào thiết yếu cho quá trình sản xuất Doanh nghiệp cần một cách tính toán khoa học và logic để xác định được số phụ tùng, chi tiết, vật liệu,… cần thiết để sản xuất từng mặt hàng/sản phẩm Và hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (Material Requirements Planning- MRP) đã được xây dựng th ành một phần mềm thiết yếu và phổ biến phục vụ quá trình hoạch định sản xuất
Trong chương này, sau khi tóm tắt kết quả tổng quan các tài liệu trong và ngoàinước, chúng tôi trình bày một cách có hệ thống các nội dung của lý thuyết hoạchđịnh nhu cầu nguyên vật liệu bao gồm những hiểu biết cơ bản; cấu trúc của hệthống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, quy trình hoạch định hoạch định, lýthuyết hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu mở rộng và cách đảm bảo sự thích ứngcủa hệ thống hoạch định nguyên vật liệu với các thay đổi từ môi trường
2.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Các nghiên cứu trong nước
Lý thuyết hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu cơ bản được trình bày trong các giáotrình về Quản trị sản xuất, Quản trị tác nghiệp hay Quản trị vận hành Sau đâychúng tôi xin được tóm tắt một số nghiên cứu tiêu biểu nhất theo thời gian xuất bản.Nguyễn Văn Nghiến (2001) trình bày về hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu như một nội dung trong chương kế hoạch hoá sản xuất Đây là một trong những cuốn giáo trình đầu tiên về quản trị sản xuất Tuy nhiên, vì chỉ được coi là một nội dung nhỏ trong kế hoạch hoá sản xuất, nên hoạch định nguyên vật liệu chỉ được giới thiệu khái quát mà không đi vào các kỹ thuật và tác nghiệp cụ thể Tác giả có để cậptới việc phải có một hệ thống kết nối giữa nhu cầu đầu ra, hệ thống sản xuất, mua,
dự trữ nguyên vật liệu Đó là MRP Sự kết nối này phải được thiết lập từ khi mua nguyên vật liệu (chi tiết mua ngoài) đến phân xưởng sản xuất, từ phân xưởng này
9
Trang 10rời tới phân xưởng khác và cứ như vậy cho đến khi chúng được lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng.
Nghiên cứu của Đồng Thị Thanh Phương (2004) dành một chương đề cập tới vấn
đề “hoạch định nhu cầu vật tư” Theo đó, trước khi đề cập tới hệ thống hoạch địnhnguyên vật liệu, tác giả trình bày các yêu cầu của quản trị tồn kho đối với các mặthàng (nhu cầu) phụ thuộc và các yếu tố đầu vào của MRP Tuy nhiên, nội dung tácgiả trình bày không rõ ràng và nhầm lẫn giữa bản chất của hệ thống hoạch định nhucầu nguyên vật liệu với các yếu tố đầu vào Phần tác giả trình bày rõ nhất là cấu trúc
hệ thống MRP và những ví dụ về sự thay đổi thực trong hệ thống hoạch định nhucầu nguyên vật liệu Tác giả cũng dành một thời lượng quan trọng trong chương này
để trình bày về kỹ thuật xác định kích thước lô hàng
Giáo trình của Trương Đoàn Thể (2007) và Trương Đức Lực và Nguyễn ThànhTrung (2012) trình bày vấn đề hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) gắn vớihoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) Sau khi trình bày các nội dung tổngquan như bản chất, vai trò và các yêu cầu ứng dụng, các tác giả trình bày các bướchoạch định nhu cầu nguyên vật liệu và các phương pháp xác định lô hàng muanguyên vật liệu Các phương pháp xác định lô hàng mua nguyên vật liệu có sự trùnglặp so với các nội dung trình bày trong chương về Quản trị hàng dự trữ Hơn nữa,việc không trình bày rõ về cấu trúc hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệucũng làm cho người học rất khó hiểu các nội dung này Các tác giả cũng không chỉ
rõ được bản chất của MRP khác với việc lên kế hoạch nguyên vật liệu thôngthường Ưu điểm trong nghiên cứu này là các tác giả trình bày kết nối MRP vớiERP, chắc chắn MRP là một phân hệ trong hệ thống hoạch định nguồn lực củadoanh nghiệp
Giáo trình của Trần Đức Lộc và Trần Đình Phùng (2008) có nhiều nội dung tương
tự như của Trương Đoàn Thể (2004) tuy nhiên kết cấu trình bày có khác nhau Cáctác giả sử dụng một chương riêng để trình bày về hoạch định nhu cầu nguyên vật
10
Trang 11liệu Chỉ tiếc rằng sơ đồ chính (trang 273) về cấu trúc hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu có nhiều điểm không chính xác, các yếu tố đầu ra được đặt tên không chính xác và được đánh mũi tên ngược (như là các yếu tố đầu vào).
Đặng Minh Trang và Lưu Đan Thọ (2015) đề cập tới hoạch định nhu cầu nguyênvật liệu gắn với vấn đề quản trị tồn kho Lý do các tác giả này nêu ra là cách hoạchđịnh nhu cầu nguyên vật liệu theo quan điểm mới phải gắn với triết lý về dự trữnguyên vật liệu “đúng lúc” và cung “đúng lúc” Theo các tác giả này, MRP là trungtâm kết nối giữa “kiểm tra tồn kho”, “mua hàng” và “điều độ sản xuất” (sơ đồ trang348) Điều này là hoàn toàn đúng vì suy cho cùng MRP cũng là một công cụ điều
độ kết nối mua hàng, dự trữ và quá trình sản xuất ra sản phẩm gắn với nguyên vậtliệu Tuy nhiên, trình bày chung nội dung này với nội dung về quản trị dự trữ thìkhông thật logic Sau khi trình bày chi tiết về các yếu tố cấu thành hệ thống MRP,các tác giả trình bày về việc xác định kích cỡ lô hàng, điều này bị trùng lặp với phầncác mô hình của dự trữ Các tác giả cũng kết nối việc hoạch định nhu cầu nguyênvật liệu với kế hoạch sản xuất tổng thể của doanh nghiệp, kế hoạch công suất vàhoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP)
2.1.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Các nghiên cứu nước ngoài rất đa dạng, lý thuyết hoạch định nhu cầu nguyên vậtliệu được trình bày trong các sách về quản trị vận hành (operations management)như của các tác giả Robert Jacobs and Richard Chase (2003, 2015), Stevenson(2006), Red (2007), Nigel Slack et al (2010), Roberta Russell and BernardW.Taylor (2011) Nội dung lý thuyết về hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu đượctrình bày khác nhau về các chi tiết, nhưng cách tiếp cận cơ bản giống nhau Chúngtôi xin được tóm tắt ngắn gọn các nghiên cứu cơ bản sau
Robert Jacobs and Richard Chase (2015) – bản dịch tiếng việt, trình bày về hoạchđịnh nhu cầu nguyên vật liệu trong một nội dung riêng (trang 589) nằm trong phần
về hoạch định và kiểm soát Các tác giả trình bày rất rõ ràng về cấu trúc hệ thống
11
Trang 12hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu Đầu vào bao gồm các yếu tố Lịch trình sảnxuất tổng thể, Bảng kê vật liệu và Hồ sơ tồn kho Đầu ra bao gồm báo cáo sơ bộ vềđơn hàng (mua hàng) và sản xuất; báo cáo thứ cấp về kiểm soát và điều chỉnh Cáctác giả cũng dành một phần quan trọng để lấy ví dụ minh hoạ quy trình hoạch địnhnguyên vật liệu từ đầu đến cuối Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo rất hữu íchcho việc giảng dạy, nghiên cứu về quản trị vận hành nói chung và về lý thuyếthoạch định nhu cầu nguyên vật liệu nói riêng Nội dung về hoạch định nguồn lựcdoanh nghiệp (ERP) được trình bày trong một phần riêng (trang 448).
Nghiên cứu của Roberta Russell and Bernard W.Taylor (2011) trình bày lý thuyếthoạch định nhu cầu nguyên vật liệu trong chương về hoạch định nguồn lực Hoạchđịnh nguyên vật liệu được trình bày cùng với các nội dung khác như hoạch địnhcông suất (CRP), hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), quản trị quan hệkhách hàng (CRM), Quản trị chu kỳ sản phẩm (PLM), Các nội dung chính đượctrình bày tương tự của Robert Jacobs and Richard Chase (2015) bao gồm việc nói rõcác yếu tố đầu vào, đầu ra cơ bản cấu trúc hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vậtliệu Các yếu tố đầu ra được các tác giả chỉ rõ bao gồm lệnh mua hàng, lệnh sảnxuất và các điều chỉnh Đây là cuốn sách được trích dẫn rất nhiều và được trình bàyrất dễ hiểu về quản trị vận hành
Anil Kumar and Suresh (2009) trình bày lý thuyết hoạch định nhu cầu nguyên vậtliệu (MRP) gắn với lý thuyết hoạch định công suất sản xuất (CRP) Các yếu tố đầuvào của hệ thống hoạch định như các nghiên cứu khác, các yếu tố đầu ra ngoài lệnhsản xuất, lệnh mua hàng và các điều chỉnh, tác giả bổ sung thêm “báo cáo quản lý
và cập nhật tồn kho”
Nigel Slack, Stuart Chambers and Robert Johnston (2010) trình bày phần hoạchđịnh nhu cầu nguyên vật liệu trong một chương riêng Các yếu tố đầu vào của hệthống MRP tương tự như các nghiên cứu khác, đầu ra bao gồm lệnh mua hàng, lệnhsản xuất và kế hoạch vật liệu (materials plans)
12
Trang 132.2 KHÁI NIỆM, LỢI ÍCH VÀ CÁC YÊU CẦU ỨNG DỤNG MRP
2.2.1 Khái niệm hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
Đường, sữa, bột mỳ, hương liệu, bao bì, tem nhãn… là các nguyên vật liệu dùng đểsản xuất các sản phẩm như bánh, kẹo trong các công ty sản xuất bánh kẹo Vải, chỉmay, khuy áo, nhãn mác… là nguyên vật liệu dùng để sản xuất quần áo trong các xínghiệp may Như vậy, nguyên vật liệu có thể bao gồm các chất liệu, linh kiện, phụtùng, chi tiết lắp ráp để chế biến hoặc lắp ráp ra các bộ phận hoặc sản phẩm hoànchỉnh Nguyên vật liệu luôn được coi là yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng, khôngthể thiếu đối với các doanh nghiệp sản xuất
Trên thực tế, các doanh nghiệp sản xuất có thể đồng thời sản xuất nhiều loại sảnphẩm khác nhau, với nhiều mẫu mã, chủng loại khác nhau, dẫn đến nhu cầu vềnguyên vật liệu là rất đa dạng, phong phú Hơn thế nữa, lượng nguyên vật liệu cần
sử dụng vào các thời điểm lại khác nhau và thường xuyên thay đổi, đòi hỏi phải có
kế hoạch chính xác nhu cầu nguyên vật liệu để qua đó có thể quản lý một cách hiệuquả yếu tố đầu vào quan trọng này
Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu là quá trình bao gồm việc xác định nhu cầunguyên vật liệu và lập lịch trình cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện cần thiết chosản xuất trong từng giai đoạn Quá trình này nhằm trả lời các câu hỏi:
sản phẩm?
tiết, bộ phận?
Hoạch nhu cầu nguyên vật liệu dựa trên sự phân chia nhu cầu sản phẩm/hàng hoácủa doanh nghiệp thành hai dạng: nhu cầu độc lập và nhu cầu phụ thuộc Nhu cầuđộc lập là nhu cầu về những sản phẩm cuối cùng hoặc các chi tiết, bộ phận sảnphẩm do khách hàng đặt hàng để doanh nghiệp sản xuất Nhu cầu này thường được
13
Trang 14xác định thông qua công tác dự báo nhu cầu sản phẩm hoặc dựa trên những đơn đặthàng Nhu cầu phụ thuộc là những nhu cầu được tạo ra từ các nhu cầu độc lập, đượcxác định từ quá trình phân tích sản phẩm thành các bộ phận, chi tiết và nguyên vậtliệu cấu thành sản phẩm đó Như vậy, việc hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu thựcchất là việc xác định hay lập kế hoạch về nhu cầu phụ thuộc Có thể lấy ví dụ về haidạng nhu cầu này như sau Để xác định sản xuất bao nhiêu cái xe máy (nhu cầu độclập) thì cần dựa vào số lượng các đơn đặt hàng và công tác dự báo Một chiếc xemáy được cấu thành từ các chi tiết/bộ phận như khung xe, tay lái, động cơ, vành xe,săm lốp, yên xe, các chi tiết cấu tạo hệ thống điện, hệ thống phanh, Đây chính làcác yếu tố (nhu cầu độc lập) cần phải hoạch định nguyên vật liệu để chế tạo hoặclắp ráp.
Ngoài việc tập trung vào nhu cầu phụ thuộc, cách tiếp cận cơ bản của hoạch địnhnhu cầu nguyên vật liệu là xác định lượng dự trữ nguyên vật liệu và chi tiết, bộphận với khối lượng tối thiểu và đúng thời điểm, không cần dự trữ nhiều nhưng khicần để sản xuất là có ngay Như vậy hoạch đinh nguyên vật liệu ở đây không phảichỉ là lên một kế hoạch về các nguyên vật liệu cần cho quá trình sản xuất mà baogồm hệ thống điều tiết để đảm bảo nguyên vật liệu xuất hiện đúng thời điểm với sốlượng cần thiết Vì vậy, đôi khi cách làm này còn được gọi là “hoạch định nhu cầutheo từng lúc một”
Trong các tài liệu nước ngoài, cách hoạch định nêu trên được gọi là MRP (MaterialRequirements Planning) và MRP đã được hỗ trợ bởi cá c phần mềm máy tínhchuyên dụng, giúp cho việc xác định nhu cầu nguyên vật liệu được thực hiện mộtcách chính xác, nhanh chóng, thuận tiện, giảm nhẹ các công việc tính toán và cậpnhật thông tin thường xuyên, đảm bảo cung cấp đúng số lượng và thời điểm cần đápứng cho kế hoạch sản xuất
14
Trang 152.2.2 Lợi ích của hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
Xuất phát từ cách hiểu cơ bản của hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu như trình bày
động sản xuất của doanh nghiệp cả về số lượng, chất lượng, chủng loại, đúngvới thời gian và thời điểm cần những nguyên vật liệu, chi tiết, bộ phận sảnphẩm đó;
được chính xác nhu cầu nguyên vật liệu theo số lượng và thời điểm cung ứng
ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu sản phẩm của khách hàng
phối hợp chặt chẽ và thống nhất, phát huy cao nhất năng lực sử dụng cácnguồn lực của doanh nghiệp
tiết kiệm chi phí liên quan đến quá trình cung ứng nguyên vật liệu
2.2.3 Các yêu cầu trong ứng dụng MRP
Theo mô hình hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu đã trình bày ở trên, để ứng dụngđược mô hình này, doanh nghiệp cần đáp ứng các yêu cầu sau:
Thứ nhất, phải thành lập được hệ thống danh mục nguyên vật liệu, chi tiết và b ộphận sản phẩm để tạo ra một sản phẩm hoặc chi tiết cuối cùng của quá trình sảnxuất thông qua việc phân tích cấu trúc sản phẩm hoặc bảng kê vật liệu (bill ofmaterials – BOM)
Thứ hai, xác định rõ lịch trình sản xuất tổng thể (master production schedule –MPS) với các thông tin về thời điểm sản xuất, khối lượng và chủng loại sản phẩmhoặc chi tiết cuối cùng cần có, các thông tin này cần được cập nhật thường xuyên
15
Trang 16Thứ ba, xây dựng hệ thống hồ sơ dự trữ nguyên vật liệu đầy đủ, bao gồm các thôngtin về tổng nhu cầu, lượng tiếp nhận theo tiến độ, dự trữ sẵn có, nhà cung ứng, thờigian thực hiện đơn hàng, kích cỡ lô hàng, các thông tin có liên quan khác… củatừng loại nguyên vật liệu, chi tiết hay bộ phận sản phẩm.
Ba yêu cầu trên đây cũng chính là ba yếu tố đ ầu vào cơ bản của hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu sẽ được trình bày ở phần sau Ngoài ra, để có thể ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, các doanh nghiệp cần phải đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản như: có chương trình phần mềm MRP và đầy đủ hệ thống máy tính để tính toán và lưu trữ t hông tin có liên quan đến MRP; đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật có đủ trình độ và nănglực sử dụng hệ thống máy tính, có kiến thức và kỹ năng về hoạch định nhu cầ u nguyên vật liệu để ứng dụng MRP trong quản trị cung ứng nguyên vật liệu của doanh nghiệp
16
Trang 172.3 CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT
LIỆU
Các yếu tố của hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu có thể sơ đồ hoá như
sau:
Lịch trình sảnxuất tổng thể
Hồ sơ
cấu trúcsản phẩm
Lệnh sảnxuất
Hình 2.1: Mô hình hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu tổng quát
Nguồn: Roberta Russell and Bernard W.Taylor (2011)
2.3.1 Các yếu tố đầu vào
- Lịch trình sản xuất tổng thể (master production schedule – MPS)
Lịch trình sản xuất tổng thể thông thường được xây dựng đối với sản phẩm cuối
cùng và là một thành phần chính đối với hệ thống MRP Lịch trình sản xuất này sẽ
được xây dựng dựa trên dự báo nhu cầu sản phẩm và các đơn đặt hàng của khách
hàng Ví dụ về lịch trình tổng thể được minh hoạ trong hình dưới đây
Trang 18Kế hoạch sản xuất tổng hợp nệm giường
Lịch trình sản xuất tổng hợp nệm giường
Nệm loại 1
Nệm loại 2
Nệm loại 3
Nguồn: Điều chỉnh từ Robert Jacobs and Richard Chase (2015: 592)
Hệ thống sản xuất của doanh nghiệp thường có năng lực và các nguồn lực có giớihạn Điều này tạo ra nhiều thách thức trong quá trình lập lịch trình sản xuất tổngthể Việc xác định chi tiết số lượng sản phẩm và thời gian sản xuất phụ thuộc vàocác ràng buộc từ các bộ phận chức năng khác nhau như từ phòng bán hàng (đáp ứngcam kết về thời hạn giao hàng cho khách hàng), từ bộ phận tài chính (tối thiểu hoátồn kho và chi phí), quản lý (tối đa hoá năng suất, tối thiểu hoá việc sử dụng nguồnlực) và chế tạo (lịch trình theo cấp độ làm ra sản phẩm và tối thiểu hoá thời gianthực hiện)
- Bảng kê vật liệu (bill of materials – BOM)
Trang 19Bảng kê vật liệu bao gồm một mô tả đầy đủ về sản phẩm, danh mục các vật liệu,phụ tùng và linh kiện; số lượng mỗi thứ; và cũng là trật tự mà theo đó sản phẩmđược làm ra Bảng kê vật liệu còn được gọi là hồ sơ cấu trúc sản phẩm (Product
18
Trang 20structure file) hay cây sản phẩm vì nó cho biết cách thức mà sản phẩm được ráp thành Dưới đây là ví dụ đơn giản về bảng kê vật liệu (hay cây cấu trúc sản phẩm)Cây cấu trúc sản phẩm được hình thành từ hồ sơ thiết kế sản phẩm ban đầu và những thay đổi/điều chỉnh thiết kế trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp
- Hồ sơ dự trữ nguyên vật liệu (Item master file)
Yếu tố đầu vào này cho biết lượng nhiên liệu, chi tiết và bộ phận để chế tạo sảnphẩm hiện có trong kho dự trữ nguyên vật liệu của doanh nghiệp, đồng thời nó cungcấp các thông tin về tình trạng của từng loại nguyên vật liệu, chi tiết, bộ phận trongtừng thời gian cụ thể, thông tin về tổng nhu cầu, đơn hàng sẽ tiếp nhận, số lượng sẽtiếp nhận đối với mỗi loại nguyên vật liệu, thông tin về nhà cung cấp nguyên vậtliệu cũng như độ dài thời gian cung ứng và kích thước lô hàng nguyên vật liệu đượccung ứng
2.3.2 Các yếu tố đầu ra cơ bản
Các yếu tố đầu ra của hệ thống MRP bao gồm:
tùng, linh kiện) và ở thời điểm nào;
làm ra sản phẩm cuối cùng và ở thời điểm nào;
Trên cơ sở danh mục các loại nguyên vật liệu, chi tiết, bộ phận sản phẩm để sảnxuất sản phẩm cuối cùng; số lượng và chất lượng của mỗi loại; thời gian và thờiđiểm cung ứng chúng theo yêu cầu của quá trình sản xuất, doanh nghiệp sẽ đượcđưa ra lệnh mua hàng hoặc lệnh sản xuất các loại nguyên vật liệu, chi tiết và bộphận sản phẩm nêu trên Đây cũng có thể được hiểu là kết quả cuối cùng của quátrình hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu của doanh nghiệp (MRP) và kết quả nàyđược điều chỉnh liên tục theo tình hình thực tế
19
Trang 21Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu không phải là dẫn đến kết quả đầu ra cố địnhbởi vì dù là đơn hàng vật liệu và kế hoạch sản xuất đã được thiết lập nhưng nếu có
sự thay đổi trong thiết kế, trong lịch sản xuất, trong quá trình mua và dự trữ thì cácyếu tố đầu ra phải được điều chỉnh cho phù hợp
2.4 QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU NGUYÊN VẬT LIỆU
Từ các yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình hoạch định nhu cầu nguyên vậtliệu (hay MRP) nêu trên, có thể thấy quá trình này bắt đầu từ lịch trình sản xuất đốivới nhu cầu độc lập (các sản phẩm hoàn chỉnh hay các chi tiết cuối cùng của quátrình sản xuất) sau đó chuyển đổi thành nhu cầu về nguyên liệu, chi tiết, bộ phậnsản phẩm trong những giai đoạn khác nhau (thể hiện ở các yếu tố đầu ra của MRP).Quá trình này kết nối các yếu tố cơ bản như lịch trình sản xuất, danh mục cácnguyên vật liệu, chi tiết, bộ phận sản phẩm (số lượng, chất lượng, chủng loại, mẫumã…), lượng dự trữ hiện có, thời điểm cần phát đơn hàng hoặc lệnh sản xuất cácnguyên vật liệu, chi tiết, bộ phận trên Quá trình hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu(hay xác định MRP) thường được tiến hành theo 3 bước chủ yếu dưới đây
2.4.1 Phân tích cấu trúc sản phẩm
Thông thường, các sản phẩm được sản xuất (sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm cuốicùng của quá trính sản xuất) bởi một số loại nguyên vật liệu, chi tiết hoặc bộ phậncấu thành, tạo nên cấu trúc sản phẩm theo thiết kế Nhu cầu về các loại nguyên vậtliệu, chi tiết và bộ phận này được gọi là nhu cầu phụ thuộc Việc hoạch định nhucầu nguyên vật liệu chính là hoạch định nhu cầu phụ thuộc Việc phân tích cấu trúcsản phẩm là bước đầu tiên của công tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, làm cơ
sở cho việc xác định nhu cầu của từng loại nguyên vật liệu, chi tiết, bộ phận cấuthành sản phẩm cần được sản xuất của doanh nghiệp
Cấu trúc sản phẩm thường có kết cấu hình cây, mỗi hạng mục trong kết cấu nàytương ứng với từng chi tiết, bộ phận cấu thành sản phẩm Sơ đồ tổng quát cấu trúc
20
Trang 22hình cây của sản phẩm được biểu diễn dưới dạng cấp bậc từ trên xuống theo trình tựsản xuất, lắp ráp sản phẩm dưới đây:
Cấp 0
Cấp 1
Cấp 3
Hình 2.3: Cấu trúc hình cây của sản phẩm cuối cùng
Sơ đồ hình cây của cấu trúc sản phẩm có một số đặc điểm sau:
sản xuất, sau đó những bộ phận, chi tiết để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh (cấp0) được ghi là cấp 1, tiếp theo là các chi tiết, bộ phận cấu tạo các chi tiết, bộ phận ởcấp 1 được gọi là cấp 2… Nói cách khác là cứ mỗi lần phân tích thành phần cấu tạo
của bộ phận là ta lại chuyển từ cấp i sang cấp i + 1 (i= , )
Ví dụ: Một chiếc bàn gỗ được cấu tạo bởi các bộ phận, chi tiết như: Mặt bàn, bộkhung, ngăn kéo; Bộ khung lại được cấu tạo bởi chân bàn, thanh dài, thanh ngắn
Để dễ dàng theo dõi các bộ phận, chi tiết của chiếc bàn này, ta có thể mô tả bằng sơ
đồ hình cây như sau:
21 Cấp 0
Trang 23Cấp 1 Ngăn kéo
Cấp 2
Hình 2.4: Cấu trúc hình cây của chiếc bàn gỗ
các bộ phận và chi tiết ở các cấp, bộ phận trên gọi là bộ phận hợp thành, bộ phận
hay chi tiết dưới gọi là bộ phận, chi tiét thành phần (ở ví dụ trên, bộ khung bàn là bộ
phận hợp thành; các thanh dài, thanh ngắn, chân bàn là các chi tiết hợp thành) Mối
liên hệ giữa các bộ phận, chi tiết có ghi kèm theo thời gian, chu kỳ (thời gian từ khi
đặt hàng đến khi nhận được) và hệ số nhân của chi tiết (số lượng chi tiết từng loại
để sản xuất hay lắp ráp bộ phận, sản phẩm)
- Khi phân tích kết cấu hình cây có thể gặp trường hợp một bộ phận, chi tiết có mặt
nhất Nghĩa là, phải đưa chi tiết hay bộ phận đó về cấp n Xem ví dụ minh hoạ dưới
đây:
22
Cấp 0
Cấp 1
Trang 24Cấp 2 G
Cấp 3
Hình 2.5: Cấu trúc hình cây của sản phẩm XViệc hạ cấp bộ phận hay chi tiết trong trường hợp này sẽ cho phép tiết kiệm được thời gian vàtạo ra sự dễ dàng trong tính toán Ta chỉ cần tính nhu cầu của bộ phận hay chi tiết đó một lần
và xác định mức dự trữ đối với chúng ở thời điểm sớm nhất chứ không phải với sản phẩm cuốicùng hay ở cấp cao nhất
2.4.2 Tính tổng nhu cầu và nhu cầu thực của các bộ phận, chi tiết cấu thành sản
23
Trang 25- Tính nhu cầu thực: Nhu cầu thực là tổng số lượng của một loại chi tiết hay bộphận cần được bổ sung trong mỗi giai đoạn sản xuất, được xác định bằng công thức:
Nhu cầu thực = Tổng nhu cầu – Dự trữ hiện có + Dự trữ bảo hiểm
Trong đó:
kho của doanh nghiệp tại thời điểm bắt đầu lập kế hoạch và có thể đáp ứng được ngay nhu cầu sản xuất Dự trữ hiện có bao gồm lượng nguyên vật liệu, chi tiết tiếp nhận theo tiến độ và lượng dự trữ còn lại của giai đoạn trước Lượng tiếp nhận theotiến độ (lịch trình) là lượng nguyên vật liệu, chi tiết đã đặt mua (từ các lệnh đặt hàng hoặc lệnh sản xuất trước đó) và sẽ nhận được vào thời gian dự kiến theo kếhoạch
số trường hợp phát sinh ngoài dự kiến như nhà cung cấp giao hàng chậm, sản phẩmphế phẩm vượt quá định mức cho phép, nhu cầu đặt hàng của khách hàng gia tăngngoài kế hoạch…
Tiếp theo ví dụ trên: Nhu cầu thực về chi tiết chân bàn sẽ là: 340 chiếc nếu tổng nhucầu là 400 chiếc, lượng dự trữ hiện có là 80 chiếc, lượng dự trữ bảo hiểm là 20chiếc
2.4.3 Xác định thời gian phát lệnh sản xuất hoặc phát đơn đặt hàng
Muốn có các nguyên vật liệu, chi tiết hoặc bộ phận sản phẩm dùng để sản xuất, lắpráp sản phẩm cuối cùng, doanh nghiệp phải mua hoặc tự sản xuất, vì vậy cần phảiđặt hàng với các nhà cung cấp hoặc phát lệnh sản xuất Vấn đề đặt ra là phải xácđịnh được thời gian đặt hàng hoặc phát lệnh sản xuất Thời gian này được tính bằngcách lấy thời điểm cần có nguyên vật liệu, chi tiết hay bộ phận sản phẩm trừ đi thờigian chu kỳ cần thiết để cung cấp đúng số lượng y êu cầu Thời gian chu kỳ là
24
Trang 26khoảng thời gian chờ đợi kể từ khi đặt hàng (hoặc phát lệnh sản xuất) đến khi hàng được nhập kho của doanh nghiệp và sẵn sàng đưa vào sản xuất.
Ví dụ: Ta có cấu trúc sản phẩm X theo “mô hình cây” dưới đây:
B
E
Thời gian cần thiết để cung cấp hoặc sản xuất các chi tiết, bộ phận như sau:
STT1234567
Trang 278
Trang 289 I 1 tuần
Ta có sơ đồ cấu trúc sản phẩm X theo thời gian như sau:
Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4 Tuần 5 Tuần 6 Tuần 7 Tuần 8 Mua H
Sản xuất D
Mua I Lắp ráp B
Mua E
Lắp rápXMua G
Lắp ráp CSản xuất F
Dựa vào các bước và cách thức tính toán các chỉ tiêu của quá trình hoạch định nhucầu nguyên vật liệu (MRP) như trên, có thể xây dựng biểu kế hoạch có dạng nhưsau:
26