các dạng LĐCB; bãi bỏ các quy định pháp luật của quốc gia hay bất kỳ biện pháp hành chính nào có dấu hiệu của LĐCB hoặc Lao động bắt buộc, đó là:i Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-o0o -ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Lao động cưỡng bức theo quy định của pháp luật lao
động Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Chủ nhiệm đề tài: Đinh Thị Thanh Thủy
Hà Nội, năm 2017
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Tình hình nghiên cứu: 3
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới: 3
1.2.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt nam: 5
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 8
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: 8
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu: 8
1.4 Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 9
1.4.1 Mục tiêu nghiên cứu 9
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu 9
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 10
1.6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 11
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC 12
2.1 Khái quát chung về lao động cưỡng bức 12
2.1.1 Khái niệm lao động cưỡng bức 12
2.1.2 Đặc điểm của lao động cưỡng bức 15
2.1.3 Các hình thức của lao động cưỡng bức 19
2.2 Pháp luật về lao động cưỡng bức 21
2.2.1.Khái niệm pháp luật về lao động cưỡng bức 21
2.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về lao động cưỡng bức 22
2.2.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về lao động cưỡng bức26 CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 28
3.1 Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về lao động cưỡng bức 28
3.1.1 Ngoại lệ và những hình thức lao động cưỡng bức bị cấm theo quy định của pháp luật Việt Nam 28
Trang 33.1.2 Thực trạng các quy định về lao động cưỡng bức quy định ở Bộ Luậtlao động năm 2012 303.1.3 Thực trạng các quy định về lao động cưỡng bức trong một số trườnghợp khác 363.1.4 Thực trạng các quy định về xử lý các hành vi lao động cưỡng bức 393.2 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật lao động về lao độngcưỡng bức ở Việt Nam hiện nay 403.2.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về lao động cưỡng bức đối vớingười lao động trong quan hệ hợp đồng lao động 403.2.2 Thực tiễn thực hiện các quy định về xử lý các hành vi lao động
cưỡng bức 433.3 Đánh giá chung thực trạng pháp luật về lao động cưỡng bức hiện nay ởViệt Nam 453.3.1 Những thành tựu đạt được 453.3.2 Những vấn đề tồn tại 45
CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN VÀ ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 49
4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về lao động cưỡng bức ở Việt Nam hiệnnay 494.1.1 Khắc phục những tồn tại trong hệ thống pháp luật: 494.1.2 Bảo đảm phù hợp với các công ước quốc tế nhằm tạo nền tảng vữngchắc cho hội nhập quốc tế 504.1.3 Bảo đảm phù hợp với trình độ phát triển và và những yếu tố xã hộiđặc thù của Việt Nam: 514.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động cưỡngbức ở Việt Nam hiện nay 524.2.1 Về khái niệm lao động cưỡng bức 524.2.2.Đối với các quy định về lao động cưỡng bức được thực hiện đối vớingười lao động trong quan hệ hợp đồng lao động bao gồm: 534.2.3 Đối với lao động là phạm nhân chấp hành hình phạt tù 55
Trang 44.2.4 Quy định về chế tài xử lý đối với hành vi sử dụng lao động cưỡngbức bị cấm, cụ thể: 554.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao độngcưỡng bức ở Việt Nam hiện nay 574.3.1 Tăng cường vai trò và hoạt động của tổ chức Công đoàn các cấp 574.3.2 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật và trợ giúp pháp lý cho NLĐ 584.3.3 Đẩy mạnh các biện pháp thanh, kiểm tra, giám sát, xử phạt NSDLĐkhi có hành vi LĐCB 58
KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 5Chỉ số phát triển con ngườiNgười lao động
Người sử dụng lao độngLao động cưỡng bứcLuật Doanh nghiệpLiên Hợp QuốcHiệp định đối tác xuyên Thái Bình DươngChương trình phát triển của Liên Hợp QuốcTuyên ngôn quốc tế/ thế giới về nhân quyềnCông ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trịCông ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội, Vănhóa
Tổ chức Lao động thế giới
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sự phát triển kinh tế và hội nhập thế giới đã phát sinh nhiều vấn đề liênquan đến các quan hệ lao động, trong đó có lao động cưỡng bức Lao độngcưỡng bức là một trong những hình thức lao động tồi tệ nhất, là mặt trái của quátrình toàn cầu hóa hiện nay Lao động cưỡng bức xâm phạm đến quyền tự do laođộng, tự do thân thể của con người, một trong những nhóm quyền cơ bản đượcpháp luật bảo vệ Xoá bỏ lao động cưỡng bức là một trong những tiêu chí quantrọng để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và đó cũng là một trong nhữngtiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản được cộng đồng thế giới thừa nhận Theo báocáo của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) năm 2014, lao động cưỡng bức trongkhu vực kinh tế tư nhân tạo ra 150 tỷ USD lợi nhuận bất hợp pháp mỗi năm trêntoàn thế giới, với nguồn thu cao nhất (hơn 1/3 lợi nhuận trên toàn cầu) đến từkhu vực châu Á - Thái Bình Dương; toàn thế giới có khoảng 20,9 triệu ngườiđang là nạn nhân của lao động cưỡng bức, trong đó 9,8 triệu người bị tư nhânbóc lột với hơn 2,4 triệu lao động cưỡng bức là nạn nhân của buôn người1
Quan điểm về lao động cưỡng bức và xóa bỏ lao động cưỡng bức đã đượcĐảng và Nhà nước ta thể hiện nhất quán trong các văn bản pháp lý, đặc biệt làsau khi nước ta chính thức phê chuẩn Công ước 29 của Tổ chức lao động quốc tế(ILO) năm 2007 sau khi trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giớiWTO, đồng thời đang trong lộ trình gia nhập Công ước 105 về xóa bỏ lao độngcưỡng bức Chính điều này cũng đặt ra yêu cầu “nội luật hóa” đầy đủ các nộidung của Công ước như là nghĩa vụ bắt buộc của một quốc gia thành viên màViệt Nam cũng không ngoại lệ Hệ thống các quy phạm pháp luật liên quan đếnlao động cưỡng bức hoặc bắt buộc của Việt Nam về cơ bản phù hợp và tươngthích với nội dung của Công ước 29 là nghiêm cấm cưỡng bức lao động dướimọi hình thức Nguyên tắc hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013
Trang 7là “công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làmviệc”, “nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động” Việt Nam đã tiếnhành những sửa đổi tổng thể pháp luật gốc về lao động, với hai văn bản luật là
Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Công đoàn năm 2012 Cho đến nay, tuychưa có luật riêng về lao động cưỡng bức nhưng các quy định về lao độngcưỡng bức và xóa bỏ lao động cưỡng bức ở nước ta được nhận diện ở nhiều góc
độ khác nhau và ghi nhận trong các văn bản pháp luật như Luật nghĩa vụ quân
sự, Luật phòng chống ma túy, Bộ luật lao động, Bộ luật hình sự…, trong cáclĩnh vực: lao động trong doanh nghiệp; người mại dâm, người nghiện ma túy;người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật bị đưa vào trường giáodưỡng; người thi hành hình phạt tù phải lao động cải tạo và các trường hợpkhác
Bên cạnh những nỗ lực của Việt Nam nhằm thực hiện các cam kết về xóa
bỏ lao động cưỡng bức, sau gần 10 năm gia nhập Công ước số 29, hệ thống cácquy định pháp luật lao động điều chỉnh đối với lao động cưỡng bức của nước tahiện nay chưa thực sự đầy đủ, minh bạch Pháp luật lao động với tư cách là luậtchuyên ngành đóng vai trò chủ yếu trong điều chỉnh đối với lao động cưỡng bứccòn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Bên cạnh đó, quá trình thiết lập và vận hànhquan hệ lao động trong cơ chế thị trường đã và đang xuất hiện những biểu hiệntinh vi hơn của lao động cưỡng bức, các hành vi cưỡng bức lao động xảy ra kháphổ biến, thời gian vừa qua xảy ra nhiều vụ người lao động bị dụ dỗ, ép làmthêm giờ, đe dọa đánh đập, mức lương được trả thấp… Bên cạnh đó, hiện naypháp luật chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về các hình thức của lao độngcưỡng bức hoặc bắt buộc bị cấm; Còn thiếu các quy định cụ thể về các trườnghợp không được coi là lao động cưỡng bức Nhưng quy định này dễ bị phíadoanh nghiệp lợi dụng để thực hiện hành vi cưỡng bức hoặc bắt buộc người laođộng làm những công việc họ không mong muốn với mức lương thấp hơn mứclương công việc hiện tại Mặt khác, dù mục tiêu của Công ước 29 và Công ước
105 của ILO là hướng đến việc xóa bỏ lao động cưỡng bức, nhưng yêu cầu của
Trang 8mỗi Công ước rất khác nhau Công ước 29 mà Việt Nam đã tham gia cho phépcác nước thành viên có một lộ trình phù hợp để tiến tới thực hiện đầy đủ cáccam kết Vì vậy, các quốc gia trong thời gian nhất định sẽ được phép tồn tại một
số dạng lao động như phục vụ lợi ích công cộng Nhưng đối với Công ước 105thì yêu cầu rất lớn là “các quốc gia thành viên phê chuẩn Công ước 105 phải tìmmọi biện pháp để loại bỏ ngay việc sử dụng lao động cưỡng bức… hoặc bắtbuộc dưới mọi hình thức và cam kết không sử dụng bất kỳ hình thức nào của laođộng cưỡng bức”
Bên cạnh đó, tình hình nghiên cứu về lao động cưỡng bức ở Việt Namhiện nay vẫn còn khá ít ỏi, đặc biệt các nghiên cứu về mặt lý luận đối với cáchình thức cưỡng bức lao động hoặc bắt buộc lao động, nhận diện được hành vinày trên thực tế, thực trạng lao động cưỡng bức hiện nay ở thế giới nói chung vàViệt Nam nói riêng; thực tiễn áp dụng pháp luật về lao động cưỡng bức hiệnnay, từ đó có các điều chỉnh pháp lý phù hợp trong bối cảnh quan hệ lao độngcủa nền kinh tế thị trường và mang tính đặc thù ở Việt Nam Chính vì vậy, việc
lựa chọn đề tài: “Lao động cưỡng bức theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” có ý
nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
1.2 Tình hình nghiên cứu:
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu đa dạng về cưỡng bức lao động,lao động bắt buộc, trong đó phải kể đến một số nghiên cứu về LĐCB trong thờigian gần đây như:
- A.C.L Davies, Cambridge, “Perspectives on Labour law” (2003) Tác
giả phân tích một số nội dung trong Hiến chương Châu Âu về các quyền cơ bảncủa Liên minh Châu Âu, trong đó có các quy định liên quan đến vấn đề cưỡngbức lao động và xóa bỏ cưỡng bức lao động hiện nay tại các quốc gia thuộc Liênminh Châu Âu
Trang 9- John D.R Craig and S.Michael Lynk,“Globalization and the future of labour law” (2006) Tài liệu đề cập đến các vấn đề liên quan đến việc đảm bảo
quyền cho lao động nữ, đó là: (i) Không bị phân biệt đối xử buộc thôi việc khilao động nữ trong giai đoạn mang thai, bảo đảm quyền cho họ được trở lại làmviệc và được hưởng mức lương tương đương với vị trí làm việc khi nghỉ sinh;(ii) Không được buộc thôi việc khi NLĐ lập gia đình trong quá trình làm việc
- Sách “Cân đối hài hòa giữa an ninh và linh hoạt ở các nước mới nổi” do ILO và Chính phủ Đan Mạch thực hiện 12/2009 Một trong những nội dung của tài
liệu khẳng định: (i) Thể chế thị trường lao động phải được xây dựng nhằm đảmbảo mức độ linh hoạt tối ưu cho NSDLĐ và sự an ninh cần thiết cho NLĐ Vấn đềcưỡng bức lao động có thể xảy ra trong tất cả quá trình
lao động và hậu quả cuối cùng có thể là NLĐ bị sa thải, vì vậy hầu hết các nước
có sự bảo hộ việc làm chặt chẽ làm cho NSDLĐ rất khó có thể sa thải NLĐ hoặcphải chi phí tốn kém mới có thể sa thải NLĐ Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanhnghiệp sử dụng lao động cũng có nhiều cách để phá vỡ sự bảo hộ việc làm nàynhư sử dụng các chính sách điều chỉnh Chẳng hạn gần đây trong Liên minhchâu Âu có hiện tượng chung là sa thải NLĐ lớn tuổi (là đối tượng được phápluật lao động bảo vệ rất tốt), thông qua chính sách bảo trợ xã hội; (ii) Bên cạnh
đó, cũng có nhiều hình thức điều chỉnh khác nữa, chẳng hạn như các đề án đàotạo, dự kiến đào tạo cho NLĐ để có công việc khác (ở Pháp mô hình này đượcgọi là chương trình đào tạo chuyển đổi) Một số nước còn trả trợ cấp lương chophần chênh lệch giữa công việc bị mất và công việc mới; Bộ luật Lao động ở tất
cả các nước phát triển đều có quy định về việc phải thông báo trước cho NLĐkhi sa thải, thông báo cho công đoàn và đôi khi là cả chính quyền… Như vậy,vai trò quản lý của Nhà nước trong quan hệ lao động vô cùng quan trọng, nhằmkiểm soát và xóa bỏ cưỡng bức lao động nhưng cũng phải bảo đảm sự linh hoạttrong quản lý và sử dụng lao động của người sử dụng lao động
- Report of the Director – general, “A global alliance against forced
labour: Global report under the follow - up to the ILO declaration on
Trang 10fundamental principles and rights at work 2005” International Labour office
Geneva, 2005 Báo cáo đề cập đến các nội dung: khái niệm lao động cưỡng bức,phân loại và đo lường lao động cưỡng bức, các hình thức chủ yếu của lao độngcưỡng bức cũng như đối tượng người lao động bị cưỡng bức theo giới tính và độtuổi Báo báo cũng nêu lên bức tranh toàn cảnh về vấn đề cưỡng bức lao động tạimột số quốc gia đang phát triển, trong đó có Myama, khu vực Nam Á, MỹLatinh, Châu Phi đang phải đối mặt như lao động di cư, bóc lột tình dục…Những để xuất được đưa ra nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội và vậnđộng các tổ chức xã hội, các tổ chức đoàn thể… cùng tham gia nhận diện và xóa
bỏ lao động cưỡng bức trong quan hệ lao động hiện nay
- Kevin Bales, Laurel Fletcher, Eric Stover, “ Forced Labor in the United States”, Human Rights Center 2005 Nhóm tác giả đưa ra bức tranh toàn cảnh về
tính chất cũng như phạm vi cưỡng bức lao động ở Hoa Kỳ trong thời gian từtháng 1 năm 1998 đến năm 2003 Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá toàn diệnthực trạng vấn đề cưỡng bức lao động trên toàn bộ lãnh thổ của Mỹ (nguyênnhân, các số liệu điều tra về nạn nhân đến từ nhiều quốc gia và chủng tộc bịcưỡng bức lao động, phản ứng của Chính phủ đối với thực trạng này…) Nhómtác giả cũng đề xuất những cơ chế nhằm bảo vệ quyền lợi và tránh bị cưỡng bứclao động với nhóm người lao động nhập cư, lao động da màu, tăng cường cáccông cụ hỗ trợ cả về vật chất và pháp lý của các cơ quan dịch vụ xã hội để bảo
vệ nhóm người lao động yếu thế
- N Roger Baldwin, “Forced labor: the Communist Betrayal of Human Rights”, Adolf A Berle - S.l : Oceana Publ, 1953; Richard K Carlton,“Forced labor in the "people's democracies" Groundwood Books, 2008…
1.2.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt nam:
Cưỡng bức lao động là vấn đề được đề cập trong khá nhiều khóa luận,luận văn, luận án, tài liệu, bài viết nghiên cứu ở những góc độ khác nhau Tuynhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều đề tài, công trình nghiên cứukhoa học pháp lý chuyên sâu về nội dung này
Trang 111.2.2.1 Các tài liệu là giáo trình, bài giảng Luật Lao động của các trường đại học có đề cập đến vấn đề lý luận về lao động cưỡng bức, cung cấp các khái niệm về lao động cưỡng bức, những hình thức lao động cưỡng bức bị cấm:
- Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật TP.HCM, Nxb Đạihọc Quốc gia TP.HCM xuất bản năm 2011 do PGS.TS Trần Hoàng Hải chủ biên
- Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công
an nhân dân phát hành 2014 do tác giả Lưu Bình Nhưỡng chủ biên
- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình chủ nghĩa duy vật lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
1.2.2.2 Một số luận văn, luận án và công trình nghiên cứu khoa học liên quan:
- Nguyễn Thị Ngọc Yến, Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về xóa
bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, Luận văn thạc sĩ luật học, ĐH Quốc gia
2012 Tác giả đã làm rõ những vấn đề cơ bản về thực trạng lao động cưỡng bứccũng như xu hướng, diễn biến của lao động cưỡng bức trên thế giới và ở ViệtNam; đi sâu nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thếgiới và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm xóa bỏ lao động cưỡng bứchoặc bắt buộc
- Phạm Trọng Nghĩa, “Thực hiện các Công ước cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế tại Việt Nam: cơ hội và thách thức”, Nxb chính trị quốc gia, 2014.
- Nguyễn Việt Cường, 72 vụ án tranh chấp lao động điển hình – tóm tắt
và bình luận, Nxb Lao động – xã hội, 2004
- Bộ lao động thương bình và xã hội, Tài liệt tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, Nxb Lao động xã hội, Hà nội, 2010.
- Bộ lao động thương bình và xã hội, Một số vấn đề liên quan đến lao động cưỡng bức và xóa bỏ lao động cưỡng bức của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội, 2007
1.2.2.3 Một số tạp chí, Hội thảo khoa học và bài viết liên quan:
- Phạm Trọng Nghĩa, “Tác động của việc thực hiên các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản đến khả năng cạnh tranh của quốc gia” tạp chí Nghiên cứu lập
pháp điện tử, năm 2010
Trang 12- Hội thảo “Dự thảo kế hoạch triển khai thực hiện Công ước số 29 về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” trong 2 ngày 1 và 2/02/2007, tại Thành phố Hồ
Chí Minh, do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Laođộng Quốc tế (ILO) tổ chức
- Hội thảo "Nâng cao nhận thức về lao động cưỡng bức" được Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam và Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tạiphối hợp tổ chức, trong hai ngày 3 và 4/12/2007 tại Hà Nội và ngày 6/12/2007tại TP Hồ Chí Minh
- Lê Thị Hoài Thu, “Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam”, Tạp chí
Đại học Quốc gia Hà Nội, kinh tế - luật số 24 (2008)
- Phan Thanh Huyền, Các kiến nghị sửa đổi Bộ luật lao động năm 1994
từ việc thực hiện Công ước số 29 của ILO, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Văn
phòng Quốc Hội số 14/2011
- Lê Thị Hoài Thu, Những quy định cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế
về xóa bỏ lao động cưỡng bức (lao động bắt buộc) và các cam kết quốc tế của Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 12/2012
- Đào Mộng Điệp, Mai Đăng Lưu, Nội luật hóa quy định của Công ước
29 về lao động cưỡng bức và bắt buộc năm 1930, Tạp chí Nghề luật số 2/2015
- Phan Thanh Huyền, Nhận diện về lao động cưỡng bức trong pháp luậtlao động Việt Nam hiện hành, Tạp chí Dân chủ pháp luật số 5/2016
- Các quy định liên quan đến chống LĐCB trong các Công ước và Nghịđịnh thư của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó Công ước 29 và Côngước 105 là hai văn bản quan trọng của ILO điều chỉnh trực tiếp vấn đề chốngLĐCB Theo đó, nội dung các Công ước và các khuyến nghị đều quy định mọithành viên của ILO phải cam kết hủy bỏ việc “sử dụng LĐCB hoặc bắt buộcdưới mọi hình thức, trong thời gian ngắn nhất có thể đạt được” (CƯ 29) và “camkết không sử dụng bất kỳ hình thức nào của lao động đó” (CƯ 105) Các quốcgia thành viên có nghĩa vụ ngăn chặn việc sử dụng LĐCB hoặc bắt buộc,nghiêm khắc và không khoan dung với yêu sách của người sử dụng lao động và
Trang 13các dạng LĐCB; bãi bỏ các quy định pháp luật của quốc gia hay bất kỳ biện pháp hành chính nào có dấu hiệu của LĐCB hoặc Lao động bắt buộc, đó là:
(i) Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc năm 1998của ILO;
(iii) Công ước số 105 về xóa bỏ LĐCB năm 1957 của ILO
(ii)Công ước số 29 về LĐCB và bắt buộc năm 1930 của ILO
(iv) Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệpnăm 1958 của ILO
(v) Công ước số 182 về việc cấm những hành động tức thời để loại bỏ những lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 của ILO
(vi) Công ước về bảo vệ các quyền của mọi lao động di cư và các thành viên gia đình họ năm 1990 của Liên Hiệp Quốc
(vii) Khuyến nghị số 35 về lao động cưỡng bức gián tiếp năm 1930 củaILO và khuyến nghị số 190 về việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏnhững lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 của ILO
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu gồm các vấn đề lý luận cơ bản về lao động cưỡngbức, về thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật lao động cưỡng bức tại ViệtNam hiện nay Các văn bản pháp luật với tư cách là nguồn điều chỉnh các quan
hệ này sẽ được nghiên cứu với tư cách là đối tượng chính Bên cạnh đó, văn bảnquy phạm pháp luật quốc tế và một số quốc gia cũng được nghiên cứu Đốitượng bị cưỡng bức được nghiên cứu là những NLĐ bị cưỡng bức, bóc lột, đedọa về quyền và lợi ích Những chủ thể bị áp dụng hình phạt do thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật không được xác định là nạn nhân của lao động cưỡng bức
đề cập trong nghiên cứu này
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu vấn đề LĐCB trên phương diện pháp
lý về mặt lý luận và thực tiễn chủ yếu thuộc lĩnh vực pháp luật lao động, trong
Trang 14đó chủ yếu là BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thực hiện; các quyđịnh của pháp luật về LĐCB đối với người lao động trong quan hệ lao động; đốivới lao động là người nghiện ma túy, người mại dâm, người vi phạm pháp luậtphải vào trường giáo dưỡng, người bị kết án hình phạt tù phải lao động cải tạo;pháp luật về LĐCB đối với lao động trong một số trường hợp khác.
- Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu các quy định về LĐCB trong các
văn bản pháp lý về lao động hiện hành của Việt Nam, trọng tâm là BLLĐ năm
2012 và các văn bản hướng dẫn thực hiện cũng như các cam kết về xóa bỏLĐCB được ghi nhận trong Hiệp định TPP mà Việt Nam chính thức ký kết thamgia thành viên tháng 2/2016, đồng thời tác giả có liên hệ với các quy định tươngđồng trong các Công ước, khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế về xóa bỏLĐCB để làm tài liệu tham khảo cho đề tài của mình
1.4 Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về lao động cưỡng bức
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật lao động Việt nam hiệnhành về lao động cưỡng bức, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá cần thiết sự cần thiếtphải hoàn thiện pháp luật lao động về lao động cưỡng bức để tương thích
với Công ước 29, tiến tới phê chuẩn Công ước 105 của ILO
- Đưa ra quan điểm, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về lao động cưỡng bức ở Việt Nam hiện nay
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở của lý luận chủ nghĩa Mác –Lên nin về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong sựnghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướngXHCN với đặc trưng của quan hệ lao động và thị trường lao động
- Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật duy vật lịch sự kết hợp vớicác phương pháp nghiên cứu truyền thống trong khoa học pháp lý, kết hợpnghiên cứu lý luận với thực tiễn, bao gồm:
Trang 15 Phương pháp tổng hợp được sử dụng trên cơ sở tổng hợp các quy địnhkhác nhau về LĐCB, phân loại LĐCB để làm rõ các vấn đề lý luận về LĐCB; cácquy định về LĐCB của một số quốc gia trên thế giới nhằm làm rõ khái niệm phápluật cũng như nội dung pháp luật về LĐCB trong Chương 2.
Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm so sánh pháp luật về LĐCB củamột số nước và Việt nam, nghiên cứu đối chiếu các Công ước, tiêu chuẩn lao độngquốc tế để tham khảo bài học kinh nghiệm về điều chỉnh pháp luật theo quan điểmcủa Tổ chức Lao động quốc tế và các nước, là cơ sở để tác giả đánh giá hạn chếpháp luật hiện hành về LĐCB ở Việt nam tại Chương 3
Phương pháp phân tích, mô tả được tác giả sử dụng nhằm đánh giá, làm rõthực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về LĐCB, từ đó làm cơ sở để đềxuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về LĐCB ở Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay tại Chương 3,4
Trong các phương pháp nói trên, phương pháp phân tích, so sánh sẽ được
sử dụng chủ yếu và xuyên suốt các chương của nghiên cứu, qua đó làm rõ cácnội dung cần nghiên cứu có cơ sở lý luận và thực tiễn
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm hướng tới sự đánh giá một cách toàn diện những vấn đềpháp lý xoay quanh vấn đề LĐCB trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay.Bên cạnh đó, nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho việc ban hành cácvăn bản pháp quy trong lĩnh vực LĐCB cũng như tiến tới hoàn thiện pháp luật
về chống LĐCB, tạo cơ sở pháp lý cho việc tham gia Công ước 105 của ILOtrong thời gian tới
Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng vào công tác giảng dạy trongchương trình đào tạo học phần Luật Lao động, Luật lao động và an sinh xã hộicũng như cho những người làm công tác xây dựng pháp luật và áp dụng, tư vấnpháp luật trong lĩnh vực liên quan
10
Trang 161.6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiêncứu gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG
CƯỠNG BỨC
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ LAO ĐỘNG
CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN VÀ ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNGBỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 17CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC 2.1 Khái quát chung về lao động cưỡng bức
2.1.1 Khái niệm lao động cưỡng bức
Khái niệm lao động cưỡng bức (LĐCB) được định nghĩa lần đầu tiêntrong Công ước về LĐCB 1930 (Công ước 29) Điều 2.1.1, Công ước 29 định
nghĩa về LĐCB và bắt buộc như sau: “mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới sự đe doạ của một hình phạt nào đó và bản thân người đó không tự nguyện làm” Như vậy, theo Công ước 29 thì một hoạt động được coi là LĐCB khi thỏa mãn đồng thời cả ba yếu tố sau: (i) Thứ nhất, một người thực hiện một công việc hoặc một dịch vụ cho người khác; (ii) Thứ hai,
người đó không tự nguyện mà bắt buộc phải làm công việc hoặc dịch vụ đó Sựthiếu tự nguyện của người bị cưỡng bức lao động có thể biểu hiện dưới các dạngnhư bị bắt cóc, bị buôn bán, bị cầm tù tại nơi làm việc, bị lừa gạt về điều kiện
làm việc; (iii) Thứ ba, người thực hiện công việc hoặc dịch vụ đó bị đe dọa sẽ
phải chịu một hình phạt nếu không thực hiện công việc hoặc dịch vụ đó
Như vậy yếu tố “ép buộc” và “không tự nguyện” là dấu hiệu cấu thành bắtbuộc để xác định nạn nhân, đối tượng của LĐCB Ép buộc là dùng áp lực, gâysức ép về thể xác hoặc tinh thần để buộc một người phải làm điều người đókhông mong muốn Không tự nguyện là việc một người bản thân không muốnlàm một việc, nhưng vì lý do nào đó họ miễn cưỡng phải làm Tác giả cho rằng,chỉ cần một trong hai dấu hiệu trên thì đã có thể xem là LĐCB, vì “bị ép buộc”
và “không tự nguyện” là các khái niệm khác nhau nhưng có chung nội hàm và
nó được diễn ra trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình giao kết hợp đồng.Công ước 29 cũng đưa ra một số ngoại lệ về “LĐCB và bắt buộc” tại Điều 2.1.2,
cụ thể thuật ngữ “LĐCB hoặc bắt buộc” không bao gồm: a) Mọi công việc hoặc
dịch vụ buộc phải làm theo các đạo luật về nghĩa vụ quân sự bắt buộc và trongnhững công việc có tính chất quân sự thuần túy; việc sử dụng LĐCB trongtrường hợp này vì mục đích an ninh quốc phòng, ví dụ: đi nghĩa vụ quân sự
Trang 18Như vậy, nếu sử dụng vì mục đích kinh tế thì không được chấp nhận; b) Mọicông việc hoặc dịch vụ thuộc những nghĩa vụ công dân bình thường của cáccông dân trong một nước tự quản hoàn toàn; c) Mọi công việc hoặc dịch vụ màmột người buộc phải làm do một quyết định của tòa án, với điều kiện là côngviệc hoặc dịch vụ đó phải được tiến hành dưới sự giám sát và kiểm tra củanhững cơ quan công quyền, và người đó không bị chuyển nhượng hoặc bị đặtdưới quyền sử dụng của những tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân; d) Mọicông việc hoặc dịch vụ buộc phải làm trong những trường hợp khẩn cấp, nghĩa
là trong những trường hợp có chiến tranh, xảy ra tai họa hoặc có nguy cơ xảy ratai họa như cháy, lụt, đói, động đất, dịch bệnh dữ dội của người và gia súc, sựxâm hại của thú vật, côn trùng hoặc ký sinh trùng, và nói chung là mọi tình thếgây nguy hiểm cho đời sống hoặc cho sự bình yên của toàn thể hoặc một phầndân cư; đ) Những công việc của thôn xã vì lợi ích trực tiếp của tập thể và donhững thành viên của tập thể đó thực hiện, và vì vậy có thể coi như là nhữngnghĩa vụ công dân bình thường của các thành viên tập thể, với điều kiện lànhững thành viên trong tập thể đó hoặc những người đại diện trực tiếp của họ cóquyền được tham khảo ý kiến về sự cần thiết của những công việc ấy Năm
1957, Công ước 105 về xóa bỏ LĐCB đã thêm vào định nghĩa trước đó ngoại lệhoàn toàn mới là “LĐCB và bắt buộc” không bao gồm “biện pháp cưỡng chếhay giáo dục chính trị, hoặc một sự trừng phạt đối với những ai đang có hoặcđang phát biểu chính kiến; biện pháp huy động và sử dụng nhân công vào mụcđích phát triển kinh tế; biện pháp về xử lý vi phạm kỷ luật lao động; sự trừngphạt đối với việc đã tham gia đình công; biện pháp phân biệt đối xử về chủngtộc, xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo” Theo quy định của Công ước 105 thì địnhnghĩa trên cũng được sử dụng thống nhất
Khái niệm LĐCB áp dụng cho mọi độ tuổi (gồm người lớn và trẻ em), đồngnghĩa mọi trường hợp Công ước 29 của ILO đều được áp dụng Tuy nhiên, Côngước 29 của ILO không định nghĩa cụ thể “trẻ em” khi xem xét vấn đề “LĐCB”
Để xác định trẻ em là đối tượng nào theo quy định ILO, chúng ta cần dẫn chiếuđến Công ước 182 về những điều kiện lao động tồi tệ nhất đối với trẻ
Trang 19em năm 1999 Căn cứ Điều 2 Công ước 182, “trẻ em” là những người dưới 18tuổi Trong Công ước 182 còn đưa ra khái niệm về điều kiện lao động tồi tệ nhấtgồm việc “tuyển lựa một cách cưỡng bức hoặc bắt buộc trẻ em để tham gia vàocác cuộc xung đột vũ trang”, nhưng không đưa ra thêm bất kỳ một giải thích nàokhác về những yếu tố cấu thành “LĐCB đối với trẻ em” Chính vì vậy, trongtrường hợp cần tìm hiểu về “LĐCB đối với trẻ em” là như thế nào thì Công ước
29 của ILO sẽ được dẫn chiếu và áp dụng
Cũng cần phân biệt thuật ngữ “lao động cưỡng bức” với “cưỡng bức laođộng” mặc dù về nội hàm có nhiều điểm giống nhau, đó là đều bao hàm cáchành vi cưỡng bức lao động Tuy nhiên, LĐCB hướng đến các đối tượng là nạnnhân bị “”ép buộc, cưỡng ép” trong việc thực hiện một công việc, dịch vụ nào
đó, dưới sự đe dọa bằng các hình phạt Các công việc hoặc dịch vụ được hiểu làmọi loại hình công việc, dịch vụ, việc làm, không phân biệt ngành nghề, lĩnhvực, việc làm hợp pháp chính thức, hay việc làm bất hợp pháp, không chínhthức Hình phạt cũng không nhất thiết phải dưới các hình thức như chế tài hình
sự, mà có thể dưới dạng tước quyền tự do và đặc quyền, hoặc có thể là hình thức
đe dọa áp dụng các hình phạt khác nhau (hoặc liên quan đến thân thể, tính mạng,hoặc đánh vào yếu tố tâm lý nhằm đe dọa nạn nhân…) Còn cưỡng bức lao độnghướng tới nhiều hơn việc xác định hành vi vi phạm hoặc hành vi phạm tội cưỡngbức lao động
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, định nghĩa về LĐCB chỉ được đề cậpnhư một sự giải thích về vấn đề “ngược đãi” và “cưỡng bức động” BLLĐ 1994mặc dù quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người laođộng trong trường hợp bị cưỡng bức lao động, và việc bị “ngược đãi, cưỡng bứclao động được giải thích tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 củaChính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Laođộng2“… Bị ngược đãi, cưỡng bức lao động là trường hợp NLĐ bị đánh đập,nhục mạ hoặc ép buộc làm những công việc không phù hợp với giới tính, ảnh
2 khoản 1 Điều 11 Nghị Định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động
Trang 20hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người lao động”, trong đó haicụm từ “ngược đãi” và “cưỡng bức lao động” được giải thích theo hướng đồngnghĩa và đặt trong phạm vi giao kết và thực hiện hợp đồng lao động hơn là một
định nghĩa BLLĐ sửa đổi năm 2012 đã xác định khái niệm CBLĐ là “việc dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái ý muốn của họ” (Khoản 10 Điều 3) Khái niệm này mặc dù được xây
dựng dựa trên khái niệm về LĐCB trong Công ước 29, tuy nhiên nội hàm củakhái niệm này khi giải thích yếu tố không tự nguyện là do việc dùng vũ lực hoặc
đe dọa dùng vũ lực, trong khi thực tế có rất nhiều các dạng ép buộc (thủ đoạnkhác) Thế nào là “thủ đoạn khác” cũng không được giải thích cụ thể Bên cạnh
đó, thuật ngữ “lao động” trong BLLĐ 2012 cũng giới hạn hoạt động lao độngcủa con người trong việc tạo ra các giá trị vật chất hoặc tinh thần cho xã hội,được pháp luật cho phép Với cách dùng từ này, có thể dẫn đến việc hiểu LĐCBchỉ xảy ra khi một người phải thực hiện những công việc hợp pháp trái ý muốncủa họ, còn những việc bất hợp pháp mà họ phải thực hiện ngoài ý muốn của họkhông phải là LĐCB
Với những dấu hiệu của LĐCB như đã phân tích, tác giả cho rằng, lao
động cưỡng bức là “mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc, bắt buộc phải thực hiện bởi sự đe doạ của một hình phạt hoặc thủ đoạn của một tổ chức hoặc cá nhân trong các quan hệ lao động”.
2.1.2 Đặc điểm của lao động cưỡng bức
Đặc điểm của LĐCB được nhận biết dựa trên hai căn cứ chủ yếu, đó là:
2.1.2.1 Căn cứ vào đối tượng bị LĐCB:
Đối tượng bị LĐCB là bất kì ai, bao gồm người trưởng thành cũng nhưtrẻ em, không phân biệt quốc tịch dù là công dân của quốc gia nào Xét về đặc
điểm giới tính: (i) đối với nam giới: LĐCB thường gắn với các công việc nặng
nhọc, nguy hiểm và độc hại ở công trường xây dựng, các hầm mỏ, nông nghiệp
làm vườn…v.v; (ii) đối với nữ giới: LĐCB chủ yếu là những người làm công
Trang 21việc gia đình, nhà máy, xí nghiệp dệt may hoặc bị cưỡng bức tham gia hoạt độngmại dâm…v.v
2.1.2.2 Căn cứ vào các dấu hiệu bị lao động cưỡng bức
Có rất nhiều dấu hiệu nhận biết bị lao động cưỡng bức, có thể tập trungtrong 10 dấu hiệu cơ bản như sau:
Thứ nhất, lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động Bất kỳ một
người nào đều có thể trở thành nạn nhân của cưỡng bức lao động Tuy nhiên,người thiếu trình độ, kiến thức luật pháp, có ít lựa chọn trong việc mưu sinh,thuộc về một nhóm dân tộc hoặc tôn giáo thiểu số, bị khuyết tật hoặc có nhữngđặc ơn khác mà vì đó, họ bị cô lập khỏi cộng đồng dân cư là những người dễ bịrơi vào tình trạng bị lạm dụng và thường là nạn nhân của cưỡng bức lao động.Khi lâm vào tình trạng khó khăn, thiếu sự chọn lựa về cách mưu sinh, khôngnhất thiết đẩy một người nào đó vào tình trạng LĐCB, nhưng khi NSDLĐ lợidụng tình trạng khó khăn của NLĐ, áp đặt thời gian làm việc quá nhiều hoặc giữtiền lương thì khi đó mới phát sinh tình trạng LĐCB LĐCB cũng phát sinh từtrường hợp NLĐ bị lệ thuộc nhiều mặt vào NSDLĐ như công việc, nhà ở, ănuống và vì công ăn việc làm của người thân
Thứ hai, lừa gạt NLĐ Lừa gạt là tình trạng không thực hiện những gì đã
hứa, bằng lời nói hoặc trên giấy tờ với NLĐ Nạn nhân tình trạng này thườngđược tuyển chọn với lời hứa hấp dẫn về việc làm và thu nhập, nhưng khi họ làmviệc thì điều kiện làm việc như đã hứa không được thực hiện, và còn bị rơi vàotình trạng điều kiện sống, làm việc bị lạm dụng mà không có khả năng thoátkhỏi Trong những trường hợp này, NLĐ đã không có đầy đủ thông tin khi đồng
ý thực hiện công việc, vì nếu mà họ biết, họ sẽ không bao giờ nhận lời Việc lừađảo trong tuyển chọn lao động có thể bao gồm lời hứa về điều kiện làm việc,mức lương bổng, loại hình công việc, điều kiện sinh hoạt và làm việc, tư cách di
cư hợp pháp, địa điểm nơi làm việc v.v Trẻ em cũng có thể được tuyển chọnthông qua các lời hứa hấp dẫn với bản thân các em hoặc cha mẹ các em, liên
Trang 22quan đến việc tiếp tục được đi học hoặc thường xuyên được bố mẹ tới thăm hoặcđược về thăm bố mẹ.
Thứ ba, hạn chế sự đi lại của NLĐ: NLĐ không có sự tự do đi đến và
rời khỏi nơi làm việc, phải chịu những sự hạn chế đáng kể nào đó là dấu hiệucủa tình trạng cưỡng bức lao động, ví dụ bị kiểm soát khi đi lại tại nơi làm việc,thông qua các ca-me-ra giám sát hoặc nhân viên bảo vệ, hoặc tại bên ngoài nơilàm việc bởi các thám tử hoặc chủ sử dụng lao động thường xuyên đi cùng họmỗi khi họ rời khỏi nhà máy
Thứ tư, cô lập NLĐ NLĐ có thể không biết họ đang ở đâu, nơi làm việc
có thể cách rất xa khu dân cư và không sẵn có bất kỳ phương tiện giao thôngnào, nhưng cũng có thể bị cô lập ngay tại khu đông dân cư khi bị nhốt sau nhữngcánh cửa luôn đóng kín hoặc bị tịch thu điện thoại di động/phương tiện liên lạckhác để không thể liên hệ với gia đình và tìm sự giúp đỡ Tình trạng bị cô lậpcũng có thể liên quan tới thực tế cơ sở kinh doanh nơi NLĐ làm việc không hợppháp/không được đăng ký, do vậy rất khó để cho các cơ quan thực thi pháp luậtxác định địa điểm và giám sát những gì xảy ra đối với NLĐ
Thứ năm, bạo lực thân thể và tình dục: có thể bao gồm việc bắt ép NLĐ
phải dùng ma tuý hoặc rượu nhằm kiểm soát họ hoặc có thể được sử dụng để épbuộc NLĐ thực hiện công việc không có trong thỏa thuận ban đầu như quan hệtình dục với chủ sử dụng lao động hoặc thành viên gia đình chủ sử dụng laođộng hoặc ở mức độ thấp hơn, thực hiện công việc bắt buộc thay vì những việcthông thường Việc bắt cóc cũng là một hình thức của bạo lực, được sử dụngnhằm giam một người nào đó để ép buộc họ làm việc
Thứ sáu, dọa nạt, đe dọa: NLĐ phải chịu đựng sự đe dọa, những lời dọa
dẫm khi họ có ý kiến về điều kiện ăn ở và sinh hoạt hoặc muốn thôi việc Ngoàinhững lời dọa dẫm hoặc hành động bạo lực, những sự đe dọa phổ biến đối vớiNLĐ bao gồm việc tố cáo với cơ quan xuất nhập cảnh, bị mất tiền lương hoặctiếp cận nhà cửa, đất đai, sa thải người nhà, điều kiện làm việc tồi hơn hoặckhông được hưởng những “đặc ân” như quyền rời khỏi nơi làm việc Thường
Trang 23xuyên lăng mạ và nói xấu NLĐ cũng là một hình thức ép buộc về mặt tâm lýkhiến NLĐ rơi vào tình cảnh khó khăn.
Thứ bảy, giữ giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân/thẻ căn cước,
hộ chiếu… Trong nhiều trường hợp nếu không có giấy tờ tuỳ thân, NLĐ khôngthể tìm được một việc làm khác hoặc tiếp cận các dịch vụ cần thiết Việc chủ sửdụng giữ giấy tờ tùy thân hoặc các tài sản cá nhân có giá trị khác là một dấu hiệucưỡng bức lao động nếu NLĐ không thể tiếp cận được những tài sản này khi cóyêu cầu và nếu họ nhận thấy rằng họ không thể rời khỏi nơi làm việc vì khôngmuốn tài sản bị mất mát
Thứ tám, giữ tiền lương hoặc buộc NLĐ phải lệ thuộc do nợ nần: Việc
chủ sử dụng trả tiền lương vào thời gian không cố định hoặc chậm trả lươngkhông mặc nhiên có nghĩa là NLĐ rơi vào tình trạng cưỡng bức lao động.Nhưng khi tiền lương bị giữ một cách có hệ thống và chủ ý như là một biện phápnhằm buộc NLĐ phải ở lại Việc buộc NLĐ bị lệ thuộc vì nợ do khoản tiền nợ
có thể phát sinh từ việc ứng trước tiền lương hoặc tiền vay để trang trải chi phítuyển dụng, chi phí giao thông hoặc cho các chi tiêu cấp thiết trong sinh hoạt củaNLĐ như là viện phí Lệ thuộc vì nợ có thể xảy ra khi trẻ em được tuyển dụnglàm việc để đổi lại một khoản tiền vay trước đó của bố mẹ hoặc thân nhân.Người sử dụng hoặc tuyển dụng lao động làm cho NLĐ khó có thể thoát khỏicảnh nợ nần bằng việc đánh giá thấp kết quả công việc của NLĐ, tăng mức lãisuất, chi phí ăn ở và sinh hoạt đối với NLĐ Khoản nợ này có tác dụng trói buộcNLĐ làm việc trong một thời gian không xác định, trong một mùa vụ, tronghàng năm trời, thậm chí từ thế hệ này sang thế hệ khác Việc này không giốngnhư khi NLĐ vay một khoản vay từ ngân hàng/cá nhân cho vay tiền với nhữngđiều khoản hoàn trả khoản vay hợp lý, hai bên cùng thống nhất
Thứ chín, điều kiện sống và làm việc bị lạm dụng: nạn nhân LĐCB phải
thực hiện công việc trong điều kiện không đảm bảo (ẩm thấp hoặc bẩn thỉu)hoặc độc hại (khó, nguy hiểm mà không có thiết bị bảo hộ), cũng như sự viphạm nghiêm trọng luật pháp lao động, phải chấp nhận điều kiện sinh hoạt thấp
Trang 24kém, sinh hoạt trong những khu nhà đông đúc, chật chội (điều kiện sinh hoạtkhông đảm bảo vệ sinh, không có khu vực riêng tư) Điều kiện làm việc và sinhhoạt cực kỳ kém chưa phải là dấu hiệu của LĐCB vì nhiều khi lao động có thể
“tự nguyện”, chấp nhận điều kiện làm việc thấp kém do họ không có sự chọn lựa
về công việc khác Tuy nhiên, điều kiện làm việc bị lạm dụng phải được xem là
“hồi chuông cảnh báo” về dấu hiệu của sự ép buộc, nó ngăn cản NLĐ chuyểnđổi nơi làm việc
Thứ mười, làm thêm giờ quá quy định: NLĐ bị buộc làm việc ngoài giờ
liên tục hoặc làm việc nhiều ngày ngoài thời gian được quy định bởi luật phápquốc gia hoặc thỏa thuận lao động tập thể Họ không được bố trí thời gian nghỉgiải lao hoặc ngày nghỉ trong tuần, phải đảm nhiệm ca kíp và thời gian làm việccủa đồng nghiệp khác nghỉ việc, hoặc thường xuyên phải trực 24 giờ trong ngày
và 7 ngày trong tuần Việc xác định liệu làm thêm giờ có hay không tạo thànhtội cưỡng bức lao động có thể tương đối phức tạp, nếu NLĐ buộc phải làm thêmnhiều hơn thời gian cho phép theo quy định của luật pháp quốc gia, dưới một sốhình thức đe dọa (ví dụ dọa bị sa thải hoặc để có được mức tiền lương tối thiểu)
2.1.3 Các hình thức của lao động cưỡng bức
Lĩnh vực LĐCB bao gồm “mọi công việc hoặc dịch vụ” theo định nghĩacủa tổ chức ILO Theo thống kê của tổ chức ILO, hầu hết LĐCB hướng tới các
công việc/dịch vụ như: (i) Công việc nặng nhọc, những công việc đòi hỏi sức lao động quá nhiều so với khả năng và thể chất, tinh thần của NLĐ; (ii) Công việc độc hại, những công việc làm ở trong điều kiện nguy hiểm, môi trường làm việc độc hại, ô nhiễm NLĐ làm những công việc độc hại đòi hỏi phải được hưởng các chế độ và điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động cao Trên thực tế, những người bị LĐCB hoàn toàn không được đảm bảo tính mạng, sức khỏe khi làm việc; (iii) Công việc có thu nhập thấp, theo mùa vụ: nông nghiệp
và làm vườn là công việc ít lợi nhuận do phụ thuộc các điều kiện khách quan thời tiết Một số công việc không tạo ra lợi nhuận cho NSDLĐ (giúp việc gia đình, chăm sóc người bệnh,…), NLĐ làm trong lĩnh vực này hầu hết hạn chế về
Trang 25trình độ, chính vì vậy họ phải chấp nhận công việc có thu nhập thấp, ngắn ngày
và chịu sự bóc lột, cưỡng bức; (iv) Dịch vụ vực vui chơi và giải trí, môi trường
xã hội ở nơi làm việc không lành mạnh, dễ bị lạm dụng thể xác, tình cảm hoặc tha hóa về đạo đức, tinh thần Tương ứng với đó là các hình thức lao động
cưỡng bức phổ biến hiện nay, bao gồm:
(1) Lao động gán nợ: là hình thức NLĐ phải làm việc hoặc đôi khi là cầm cố
sức lao động của người thân để trả một khoản đã vay nợ hoặc ứng trước tiền côngcủa người NSDLĐ; NLĐ trong trường hợp này thường là những người thuộc tầnglớp thấp kém trong xã hội và không có cơ hội tạo ra thu nhập nào khác ngoài việc
sử dụng sức lao động của mình Thuật ngữ ‘gán nợ” hay “chế độ nô lệ do nợ” đượcghi nhận trong văn kiện quốc tế 1926 (Điều 1.1), bản chất là việc kiểm soát tuyệtđối của một cá nhân đối với một cá nhân khác hay một nhóm người khác trong xãhội, thậm chí nó vẫn tồn tại trong xã hội hiện đại hiện nay
(2) Lao động tù bắt buộc mà không tuân theo những điều kiện cụ thể, ví dụ
như việc làm đó không phải vì lợi ích của những người bị kết án hoặc việc đókhông được người tù và Nhà nước cho phép thì cũng bị coi là những công việccưỡng ép;
(3) Lao động cưỡng ép vì những lý do như huy động nguồn lực để phát triển
kinh tế, hình phạt vì tham gia đình công hay là phương tiện để phân biệt đối xử
Ngoài ra, ILO còn lưu ý các quốc gia thành viên không được sử dụng bất
kỳ hình thức LĐCB nào như một công cụ để cưỡng bức chính trị, giáo dục hoặctrừng phạt do có quan điểm về mặt chính trị, tư tưởng đối lập với quan điểmchính trị, xã hội hiện hành; huy động nhân công vào mục đích phát triển kinh tế;
kỷ luật lao động, trừng phạt do đình công; phân biệt đối xử về chủng tộc, xã hội,tôn giáo, giới tính
Bên cạnh đó, các hình thức không bị coi là lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc bao gồm:
20
Trang 26- Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm theo các đạo luật về nghĩa vụquân sự bắt buộc và trong những công việc có tính chất quân sự thuần tuý;
- Mọi công việc hoặc dịch vụ thuộc những nghĩa vụ công dân bình
thường của các công dân trong một nước tự quản hoàn toàn;
- Mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người buộc phải làm do một quyết định của toà án
- Mọi công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm trong những trường hợp khẩncấp, ( như chiến tranh, cháy, lụt, đói, động đất, dịch bệnh dữ dội của người và gia súc,
sự xâm hại của thú vật, côn trùng hoặc ký sinh trùng, tình thế ngây nguy hiểm
cho đời sống hoặc cho sự bình yên của toàn thể hoặc một phần dân cư)
- Những nghĩa vụ công dân bình thường của các thành viên tập thể, với điềukiện là những thành viên trong tập thể đó hoặc những người đại diện trực tiếp của
họ có quyền được tham khảo ý kiến về sự cần thiết của những công việc ấy3
Tại Điều 11 Công ước 29 cũng quy định rõ “Chỉ những người thành niên nam giới khoẻ mạnh ở độ tuổi không dưới 18 và không quá 45 mới thuộc diện phải huy động đi làm việc lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” Việc huy động
đó phải đảm bảo các điều kiện như: phải xác minh được tình trạng sức khỏe củađương sự, không áp dụng với thầy giáo, học sinh, nhân viên hành chính, giữ lại
tỷ lệ lao động mạnh khỏe cho sinh hoạt gia đình và xã hội,
Nhìn chung, tất cả những quy định của ILO về vấn đề xóa bỏ LĐCB, laođộng bắt buộc đều nhằm mục đích đảm bảo cho NLĐ có những quyền con ngườichính đáng, thể hiện sự tôn trọng nhân quyền của NLĐ, từ đó có thể xóa bỏ hoàntoàn chế độ nô lệ, vấn đề sử dụng lao động trá hình đã tồn tại dai dẳng nhiềunăm qua
2.2 Pháp luật về lao động cưỡng bức
2.2.1.Khái niệm pháp luật về lao động cưỡng bức
Trên cơ sở khái niệm về LĐCB của Công ước 29, có thể đưa ra khái niệm về
pháp luật về lao động cưỡng bức là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh
Trang 27các hành vi lao động cưỡng bức bị cấm, bao gồm các công v iệc hoặc dịch vụ
mà một người bị ép buộc, bắt buộc phải thực hiện bởi sự đe doạ của một hình phạt hoặc thủ đoạn của một tổ chức hoặc cá nhân trong các quan hệ lao động”.
2.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về lao động cưỡng bức
Hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế về LĐCB khá đồ sộ, bao gồm:
Bộ luật Nhân quyền quốc tế (ba văn kiện nhân quyền của Liên Hợp Quốc gồmTuyên ngôn chung về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự,chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa); trong cáccông ước và Nghị định thư của ILO (Công ước 29 về LĐCB và bắt buộc năm
1930 của ILO; Công ước 105 về xóa bỏ LĐCB năm 1957 của ILO; Công ước
182 về Việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những lao động trẻ emtồi tệ nhất năm 1999 của ILO; Khuyến nghị số 35 về LĐCB gián tiếp năm 1930của ILO; Khuyến nghị số 190 về Việc cấm và những hành động tức thời để loại
bỏ những lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 của ILO…), trong các Hiệp địnhthương mại quốc tế, khu vực (Hiệp định thương mại về Hàng rào kỹ thuật -TBT, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP, …) Theo nội dung cácCông ước Quốc tế này, có thể nghiên cứu nội dung của pháp luật về lao độngcưỡng bức theo hai nhóm cơ bản sau đây:
2.2.2.1 Nhóm quy định pháp luật về đối tượng bị LĐCB cũng như các hình thức chống LĐCB:
Đối tượng bị LĐCB rất đa dạng, bao gồm người trưởng thành cũng nhưtrẻ em, không phân biệt giới tính, trình độ, không phân biệt quốc tịch dù là côngdân của quốc gia nào Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ hướngtới đối tượng bị LĐCB là người lao động trong các quan hệ lao động (bao gồmNLĐ trưởng thành và lao động trẻ em)
Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của NLĐ di trú 2007(Điều 2) nhận định: việc NLĐ di trú không có giấy tờ tùy thân không phải là lỗicủa NLĐ, các nước thành viên có nghĩa vụ hợp tác để bảo vệ NLĐ di trú, tránhtình trạng LĐCB Việc thúc đẩy một cách thích đáng và công bằng sự bảo vệ
Trang 28việc làm, trả công và tiếp cận bình đẳng với công việc và điều kiện sống đànghoàng cho NLĐ; hỗ trợ NLĐ di trú là nạn nhân của phân biệt đối xử, lạm dụng,bóc lột và bạo lực được tiếp cận hệ thống pháp luật và tư pháp quy định tạikhoản 4 và 5 điều 2 Tuyên bố ASEAN là một trong những quy định pháp lýnhằm chống và xóa bỏ LĐCB của cộng đồng các nước ASEAN, và đó cũngchính là mục tiêu tìm kiếm giải pháp trung và dài hạn nhằm nâng cao chất lượngLLLĐ và xây dựng LLLĐ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động (Điều 6) đểnhằm hướng đến việc phát triển kinh tế xã hội phát triển bền vững, toàn diện vàrộng rãi (Điều 25) được nêu ở Tuyên bố của Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ
17 họp ngày 18/10/2010 tại Hà Nội Đối với Công ước Quốc tế về các QuyềnDân sự và Chính trị (ICCPR) do Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày16/12/1966 khẳng định “không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt mộtcách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” (Điều 7) và “không ai bị bắtlàm nô lệ; mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị cấm; không ai bị bắt làm
nô dịch; không ai bị yêu cầu phải lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức…” (Điều8) Trong Công ước 29 tại Điều 4 khẳng định “Cơ quan có thẩm quyền khôngđược áp đặt hoặc cho phép áp đặt việc LĐCB hoặc bắt buộc vì lợi ích của những
tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân” “Không một sự nhượng quyền nào chonhững tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân nhằm áp đặt một hình thức LĐCBhoặc bắt buộc nào đó nhằm sản xuất hoặc thu hoặc những sản phẩm mà những
tư nhân, công ty hoặc hiệp hội tư nhân ấy sử dụng hoặc buôn bán” (Điều 5 Côngước 29) Theo đó, Điều 2 Công ước 105 cũng khẳng định trách nhiệm và nghĩa
vụ bắt buộc của các nước tham gia Công ước là phải “cam kết sử dụng các biệnpháp có hiệu quả nhằm xóa bỏ ngay và toàn bộ LĐCB bắt buộc, như đã quy địnhtại Điều 1, Công ước này” Để chống LĐCB, mỗi nước thành viên cần xem xétđến tầm quan trọng của giáo dục trong việc xoá bỏ nạn lao động trẻ em, tiếnhành các biện pháp hữu hiệu và trong một thời gian định sẵn để: a) ngăn chặn trẻ
em khỏi những hình thức lao động tồi tệ nhất; b) có sự trợ giúp trực tiếp cầnthiết và thích hợp cho việc đưa trẻ em ra khỏi những hình thức lao động tồi tệ và
Trang 29phục hồi chức năng và đưa trẻ hòa nhập vào xã hội; c) đảm bảo việc tiếp cận nềngiáo dục không phải trả tiền và hướng nghiệp dạy nghề tại bất kỳ nơi nào nếu cóthể và cần thiết, cho tất cả các đối tượng trẻ em được đưa ra khỏi các hình thứclao động tồi tệ nhất; d) xác định và tiếp cận với những trẻ em có nguy cơ cao vàe) tính đến hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em gái là nội dung được đề cập tại khoản
2 Điều 7 Công ước 182 Điều 2 Khuyến nghị 35 về LĐCB gián tiếp thì quy địnhcần tránh các hình thức gián tiếp tạo ra sức ép kinh tế giả tạo đối với người dânkhiến họ phải tìm kiếm việc làm có trả lương, đặc biệt là những hình thức như:a) đưa ra các loại thuế và hình thức đóng thuế khiến cho họ phải tìm kiếm việclàm có hưởng lương trong các doanh nghiệp tư nhân; b) áp đặt các biện pháphạn chế về sở hữu, định cư, hoặc sử dụng đất đai gây khó khăn cho việc kiếmsống của những người canh tác độc lập; c) mở rộng một cách thái quá tình trạnglang thang kiếm sống; d) thông qua luật pháp hạn chế sự di chuyển dẫn đến một
số lao động phục vụ cho những người có địa vị ưu thế hơn so với những NLĐkhác Văn bản này cũng khuyến nghị không nên có bất kỳ hạn chế nào về dòngchuyển dịch lao động tự nguyện từ một hình thức thuê mướn này sang một hìnhthức thuê mướn khác hoặc là từ vùng này sang vùng khác mà những hạn chế đó
có thể gây sức ép đối với những NLĐ buộc họ phải xin việc trong một ngànhnghề hoặc một vùng nào đó, trừ khi những hạn chế đó đã được cân nhắc là cầnthiết vì lợi ích của dân chúng hoặc của chính những NLĐ có liên quan (Điều 3Khuyến nghị 35)
Khuyến nghị 190 của ILO tại Điều 8 cũng quy định việc các nước thànhviên nên thành lập hay chỉ định những cơ chế cấp quốc gia thích hợp để giám sát
và thực hiện những quy định quốc gia về việc cấm và loại bỏ những hình thứclao động trẻ em tồi tệ nhất Để đảm bảo việc thi hành có hiệu quả những quyđịnh quốc gia về việc cấm và loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệnhất Khuyến nghị có nhắc đến việc các nước thành viên nên quy định ngaynhững biện pháp hành chính dân sự hay hình sự, ví dụ như một hệ thống giámsát đặc biệt đối với những doanh nghiệp đã sử dụng hình thức lao động trẻ em
Trang 30tồi tệ nhất, và trong trường hợp thường xuyên vi phạm có thể xem xét việc tạmthời hay vĩnh viễn rút giấy phép hoạt động (Điều 14) Hiệp định thương mạiquốc tế và khu vực là những văn bản pháp lý không đề cập đến LĐCB, việc điềuchỉnh các văn bản này nhằm hướng đến sự tự do lưu chuyển hàng hóa, nguồngốc xuất xứ hàng hóa, xuất nhập khẩu hàng hóa để hạn chế và chống bán phá;nhưng những quy định này gián tiếp ngăn ngừa, chống sử dụng LĐCB trên thực
tế ở doanh nghiệp các nước tham gia
2.2.2.2 Nhóm quy định pháp luật về xử lý hành vi lao động cưỡng bức
Điều 6 Công ước về Nô lệ 1926 quy định “Hành vi nô dịch hóa người kháchay xúi giục người khác tự biến mình hay một người phụ thuộc vào mình thành
nô lệ, hoặc tòng phạm hay tham gia và âm mưu thực hiện những hành vi đó, sẽ
bị coi là tội phạm hình sự” Điều 25 Công ước 29 còn quy định về trách nhiệmđối với việc sử dụng lao động bất hợp pháp, theo đó sẽ bị truy cứu trách nhiệmhình sự và bị áp dụng các hình phạt thích hợp Khuyến nghị 190 nêu rõ, cácnước thành viên nên quy định những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất sauđây là tội phạm: a) Tất cả các hình thức nô lệ hay những tập tục tương tự như nô
lệ, ví dụ như việc buôn bán trẻ em, giam giữ thế nợ, lao động khổ sai, lao độngcưỡng ép hay bắt buộc để sử dụng trong các cuộc xung đột vũ trang; b) Việc sửdụng, mua bán hay dụ dỗ trẻ em cho mục đích mại dâm sản xuất sách báo đồitrụy hay các cuộc biểu diễn khiêu dâm; c) Sử dụng mua bán hay dụ dỗ trẻ emcho các hoạt động bất hợp pháp đặc biệt cho việc sản xuất và buôn lậu ma túynhư đã được định nghĩa trong các Hiệp ước quốc tế có liên quan, hay cho cáchoạt động có liên quan đến việc mang hay sử dụng súng trường hay các loại vũkhí khác một cách bất hợp pháp (Điều 12) Vì ILO là cơ quan chuyên môn củaLiên Hợp Quốc, là tổ chức liên chính phủ quốc tế bao gồm các quốc gia, cấutrúc tổ chức theo cơ chế ba bên – gồm đại diện từ chính phủ, NSDLĐ và NLĐtại các quốc gia thành viên Chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được xác định
là tổ chức bảo vệ NLĐ không giới hạn đối tượng, lĩnh vực ngành nghề; đối vớinhững vấn đề về quyền con người, về an sinh xã hội như: cưỡng bức lao động,
Trang 31phân biệt đối xử Do đó, văn bản quốc tế trực tiếp điều chỉnh đến LĐCB chủ yếu
là từ ILO Bên cạnh đó còn hàng trăm văn bản, Công ước, thỏa thuận quốc tếgián tiếp chống LĐCB, bảo vệ con người của Liên Hợp Quốc như: Công ước vềngăn chặn và trừng trị tội ác A-pác-thai năm 1973; Công ước quốc tế của LiênHợp Quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hay trừng phạt dã man, vônhân đạo hay hạ nhục con người thông qua ngày 10/12/1984; Tuyên ngôn LiênHợp Quốc về quyền trẻ em (1977); Tuyên ngôn về xóa bỏ các hình thức phânbiệt chủng tộc (1963); Tuyên bố về xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ(1967); Tuyên bố về phát triển và tiến bộ xã hội (1969); Công ước ngăn ngừa vàtrừng trị tội diệt chủng (1948); Công ước về xóa bỏ về tất cả các hình thức phânbiệt đối xử với phụ nữ (1979)
2.2.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về lao động cưỡng bức
Việc điều chỉnh bằng pháp luật về LĐCB sẽ giúp phát huy tối đa nguồn lựcquốc gia, tiến đến xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; thúc đẩy việc bảo vệquyền con người trong một lĩnh vực mà ranh giới giữa tự nguyện gánh chịu hậuquả và cưỡng bức rất mong manh; đảm bảo quyền của NLĐ trong khuôn khổpháp luật quy định Bởi vì, quyền được có việc làm, được làm việc và đảm bảosức khỏe, danh dự, nhân phẩm là quyền của tất cả mọi người NLĐ là lực lượngtạo ra phần lớn của cải cho xã hội Phát huy được nguồn lực này sẽ thúc đẩy sựphát triển kinh tế đất nước Một đất nước muốn đạt được lợi ích lâu dài và pháttriển bền vững thì đồng thời phải xây dựng cơ chế pháp lý bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của chủ thể Tuy nhiên, không phải sử dụng NLĐ nào cũng tuânthủ đầy đủ các quy định của pháp luật và không phải cơ quan quản lý, điều hànhnào cũng nhận thức được điều này
Với những lý do trên, cần thiết phải có một quy chế pháp lý hiệu quảnhằm hỗ trợ cho NLĐ trong việc phòng chống nguy cơ bị LĐCB, đảm bảoquyền cho NLĐ để đạt được mục tiêu phát triển bền vững và lâu dài, và việchoàn thiện hệ thống pháp luật về chống LĐCB nói riêng và trật tự xã hội nóichung là cần thiết, đồng thời tạo ra một hành lang pháp lý rõ ràng giúp mọi
Trang 32người nhìn nhận và đánh giá đúng hoạt động chống LĐCB; Đảm bảo quyền, lợiích hợp pháp của NSDLĐ (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư) Các quy định phápluật rõ ràng có thể giúp NSDLĐ phòng chống được những hậu quả ngoài sựkiểm soát của mình Mặt khác, ở các quốc gia đã phê chuẩn Công ước 29 và 105
về LĐCB và bắt buộc, và tham gia Nghị định thư Palermo thì tất cả các doanhnghiệp, NSDLĐ có liên quan đến LĐCB sẽ bị truy tố và trừng phạt như nhữngtội phạm Những hậu quả của việc sử dụng LĐCB là rất lớn nếu không có nhữngquy định pháp luật phù hợp để bảo vệ NSDLĐ chân chính, đảm bảo quyền, lợiích hợp pháp của những người có liên quan như tổ chức giới thiệu việc làm, cơ
sở dạy nghề, tổ chức Công đoàn, NLĐ trong quan hệ lao động
Trang 33CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG
CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1 Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về lao động cưỡng bức
Từ những nỗ lực không mệt mỏi trong cuộc chiến đấu loại bỏ LĐCB,ngày 28/6/1930, Hội nghị Lao động Quốc tế đã thông qua Công ước số 29 về laođộng cưỡng bức hoặc bắt buộc (Công ước số 29) và Việt Nam đã là thành viêncủa Công ước này, đồng thời đang trong lộ trình xem xét để gia nhập Công ước
số 105 về xóa bỏ LĐCB Điều đó đặt ra yêu cầu “nội luật hóa” một cách đầy đủnội dung của các công ước như là nghĩa vụ bắt buộc của một quốc gia thànhviên Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề bảo vệ quyền conngười, đặc biệt là quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc Chính vìvậy, nguyên tắc hiến định đã được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam năm2013: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làmviệc” và “nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động” Tuy nhiên chođến nay, nhận diện về LĐCB trong pháp luật Việt Nam để đảm bảo thực hiệnnguyên tắc hiến định này vẫn là vấn đề cần được tiếp tục quan tâm trong lĩnhvực lập pháp Trên phương diện pháp lý, LĐCB được nhận diện từ nhiều góc độkhác nhau, bằng các quy phạm pháp luật trong nhiều văn bản quy phạm phápluật khác nhau tùy vào tính chất công việc mà người lao động phải thực hiệnnhư: Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Phòng chống ma túy, Bộ luật Hình sự, Bộ luậtLao động… trong các lĩnh vực: lao động trong doanh nghiệp; người mại dâm,người nghiện ma túy; người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật bịđưa vào trường giáo dưỡng; người thi hành hình phạt tù phải lao động cải tạo vàcác trường hợp khác
3.1.1 Ngoại lệ và những hình thức lao động cưỡng bức bị cấm theo quy định của pháp luật Việt Nam
Các ngoại lệ và các hình thức LĐCB bị
Nam chưa được quy định một cách hệ thống,
cấm trong pháp luật lao động Việt
rõ ràng, đầy đủ và đặc biệt không
Trang 34gắn với việc xác định nội hàm khái niệm chung về CBLĐ được đề cập tại khoản
3 Điều 3 BLLĐ năm 2012 Tuy nhiên, có thể thấy, rải rác trong các chế định vàcác văn bản quy định chi tiết thi hành Bộ luật này có chứa đựng các quy địnhliên quan đến việc xác định các hành vi thuộc ngoại lệ LĐCB được thực hiện vàcác hình thức LĐCB bị cấm trong quan hệ lao động Cụ thể:
3.1.1.1 Các ngoại lệ LĐCB được phép tiến hành trong quan hệ lao động
được đề cập tới như NSDLĐ có quyền yêu cầu NLĐ làm thêm giờ vào bất kỳngày nào và NLĐ không được từ chối trong các trường hợp thực hiện lệnh độngviên, huy động bảo đảm nhiệm vụ, quốc phòng, an ninh trong tình trạng khẩncấp về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật, thực hiện các công việcnhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trongphòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh và thảm họa;tham gia cấp cứu NLĐ bị tai nạn lao động khi có yêu cầu của NSDLĐ; NLĐphải ngừng đình công, trở lại làm việc khi có quyết định hoãn hoặc ngừng đìnhcông của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
3.1.1.2 Về các hình thức LĐCB bị cấm, chúng tồn tại dưới dạng là những
hành vi bị cấm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, như cấm cản trở NLĐ tự do lựachọn việc làm, tự do chấm dứt việc làm theo quy định của pháp luật (chẳng hạnthông qua việc quy định các nguyên tắc giao kết hợp đồng, quyền đơn phươngchấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ, cấm giữ bản chính giấy tờ tùy thân, vănbằng, chứng chỉ của NLĐ; cấm yêu cầu NLĐ phải thực hiện biện pháp đảm bảobằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động ); cấm épbuộc NLĐ làm việc nhằm bóc lột vì lợi ích của người sử dụng (thông qua việccấm bớt xén tiền lương, buộc người lao động phải làm thêm giờ, làm việc trongtình trạng có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa đến sức khỏe, tính mạngcủa người lao động, giam giữ, đánh đập hoặc cưỡng bức…); cấm bắt buộc NLĐlàm việc như một hình thức xử lý kỷ luật, như một biện pháp trừng phạt vì lý dođình công, như một biện pháp phân biệt đối xử; cấm LĐCB đối với trẻ em vàđối với NLĐ trong quan hệ cho thuê lại lao động)…