Bài viết mô tả và đối chiếu đặc điểm giải phẫu bệnh và tế bào học của tổn thương di căn màng phổi.Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Nghiên cứu 73 bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi do di căn tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ tháng 1/2016 đến tháng 1/2017 đã được sinh thiết màng phổi, phết tế bào dịch màng phổi và đã được chẩn đoán xác định căn nguyên di căn bằng hóa mô miễn dịch, hóa tế bào miễn dịch
Trang 11 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thanh Toàn (nguyentoan175@gmail.com)
Ngày nhận bài: 04/6/2017, ngày phản biện: 12/6/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2018
ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH-TẾ BÀO HỌC
CỦA TỔN THƯƠNG DI CĂN MÀNG PHỔI
Nguyễn Thanh Toàn 1 , Hoàng Văn Kỳ 1 , An Quang Vũ 2 TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả và đối chiếu đặc điểm giải phẫu bệnh và tế bào học của tổn thương di căn màng phổi
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang Nghiên cứu 73 bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi do di căn tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ tháng 1/2016 đến tháng 1/2017 đã được sinh thiết màng phổi, phết tế bào dịch màng phổi và đã được chẩn đoán xác định căn nguyên di căn bằng hóa mô miễn dịch, hóa tế bào miễn dịch
Kết quả: Hình ảnh mô bệnh học có ý nghĩa chẩn đoán: có dấu hiệu xâm lấn 90,4%, phản ứng mô đệm 87,7 %, các đám tế bào bất thường chiếm 90,4% với các đặc điểm màng nhân dị dạng méo mó 90,4%, có phân bào bất thường 35.6%, có không bào trong bào tương 19,2%, hạt nhân rõ 49,3%.Các loại ung thư di căn màng phổi gồm ung thư phổi (74%), ung thư vú (12,3%), ung thư đường tiêu hóa (5,5%), limphôm (4,1%), nhóm khác chiếm 4,1% Theo phân loại mô học có Carcinôm tuyến 83.6%, carcinôm thần kinh nội tiết 8.1% ,limphôm(4,1%), và carcinôm tế bào gai (1,4%), sarcôm(1,4%),, không phân loại chiếm (1,4%) Tỉ lệ chẩn đoán tổn thương ác tính trên mẫu sinh thiết là 90,4% Các đặc điểm tế bào ác tính, không bào trong bào tương là 6,8%, tế bào có hạt nhân 15,1%, tỉ lệ nhân/ bào tương tăng và màng nhân méo mó chiếm 63% các trường hợp nghiên cứu Tỉ lệ chẩn đoán tổn thương ác tính trên mẫu tế bào học 63% Đối với các trường hợp ung thư phổi, tỉ lệ chẩn đoán bằng phương pháp phết tế bào đạt 62% Ung thư vú phết tế bào đạt 57,3% Cấu trúc dạng đặc phết tế bào đạt 54,6% Đối với cấu trúc dạng túi tuyến là 68,2%.
Kết luận: Có sự liên quan khi đối chiếu kết quả giải phẫu bệnh và tế bào học dịch màng phổi
Từ khóa: dịch màng phổi, tế bào học, giải phẫu bệnh, di căn màng phổi, sinh
Trang 2thiết màng phổi.
COMPARISON BETWEEN BIOPSY AND CYTOPATHOLOGY OF
PLEURAL EFFUSION DUE TO METASTASES
ABSTRACT:
Objective: To describe and compare the anatomical and cytological characteristics of pleural effusion due to pleura metastatic malignancies.
Study method: Cross sectional study 73 patients with pleural effusion due to metastatic spread to the pleura at Pham Ngoc Thach hospital from January 2016 to January 2017 They were diagnosed by immunohistochemistry and performed with pleural biopsies, pleural effusion smears After finishing, all data would be collect, analyze.
Results: The key to diagnosis were invasion (90.4%), desmoplastic stroma (87.7%), malignant cells (90.4%), greater pleomorphic cells( 90.4%) Mitoses (35.6%), intracytoplasmic vacuoles (19.2%), Cells have high nuclear-to-cytoplasmic ratio, irregular nuclear contours, and one or more nucleoli (49.3%) Cancer metastasised to pleural, include lung cancer 74%, breast cancers (12.3%), gastrointestinal cancers (5.5%), limphomas (4.1%), other cancers 4.1% Histological classification include carcinoma (83.6%), neuroendocrine carcinoma (8.1%), squamous cell carcinoma (1.4%), limphomas (4.1%), sarcomas(1.4%), unclassified carcinoma (1.4%) Diagnosis rate biopsy specimens
is 90.4% Cytological examination, intracytoplasmic vacuoles are 6.8%, nucleated cells 15.1%, high nuclear-to-cytoplasmic ratio, irregular nuclear contours 63% of the cases Diagnosis rate cytological examination is 63% of the cases For cases of lung cancer, the diagnostic rate cytological examination was 62% Breast cancer cell smear reached 57.3% The solid patterns was 54.6% For gland patterns 68.2%.
Conclusion: There was a correlation between the outcome of the histological biopsies and the cytologic analysis for pleural effusion due to pleura metastatic malignancies
Key words: pleural fluid, cytology, pathology, pleural metastases, pleural biopsy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tràn dịch màng phổi do nhiều
nguyên nhân khác nhau, có thể tại màng
phổi hoặc ngoài màng phổi, có thể lành
tính hay ác tính[6] Chẩn đoán tế bào học
dịch màng phổi là một lĩnh vực đầy thách
thức, bởi sự chồng lấp về hình thái giữa
các bệnh lý lành tính và ác tính, giữa bệnh
lý ác tính nguyên phát hay thứ phát[8],[9]
Một chẩn đoán có thể làm thay đổi hoàn toàn thái độ điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân Kết quả sinh thiết màng phổi cho kết quả chính xác hơn nhưng khó thực hiện và dễ gây biến chứng Chính vì thế
mà đề tài đối chiếu đặc điểm giải phẫu bệnh- tế bào học mang đầy đủ tính khoa học, quan trọng và cần thiết Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm 3 mục tiêu:
Trang 31 Khảo sát đặc điểm giải phẫu
bệnh ở những bệnh nhân bị tràn dịch màng
phổi do di căn
2 Khảo sát đặc điểm tế bào học ở
những bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi
do di căn
3 Đối chiếu đặc điểm giải phẫu
bệnh- tế bào học ở bệnh nhân có TDMP
do di căn
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 73 bệnh nhân có tràn
dịch màng phổi đã được chẩn đoán xác
định do căn nguyên di căn màng phổi tại
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch thời gian từ
tháng 1/2016 đến tháng 1/2017
Tiêu chuẩn lựa chọn
+ Các bệnh nhân đã được chẩn
đoán xác định tràn dịch màng phổi do
căn nguyên di căn màng phổi bằng: Đặc
điểm lâm sàng, đặc điểm mô bệnh học,
tế bào học, hóa mô miễn dịch, hóa tế bào
miễn dịch Trong đó tiêu chuẩn vàng là
xét nghiệm hóa mô miễn dịch và hóa tế
bào miễn dịch
+ Đảm bảo đủ cả hai mẫu sinh
thiết màng phổi, mẫu tế bào học dịch
màng phổi
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo
phương pháp mô tả cắt ngang dựa trên hồi
cứu số liệu có phân tích
Mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu thuận tiện bao gồm tất
cả các bệnh nhân đáp đủ tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ trong thời gian nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu
Tất cả các mẫu nghiên cứu được thu thập mẫu từ các khoa giải phẫu bệnh, sau đó đối chiếu thông tin lâm sàng của bệnh nhân
Các mẫu nghiên cứu được ghi nhận kết quả vào phiếu thu thập số liệu
Xử lý và đánh giá theo các chỉ tiêu
Các mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân được lấy từ các khoa lâm sàng của bệnh viện Phạm Ngọc Thạch được cố định trong dung dịch Formol đệm trung tính 10% đối với mẫu sinh thiết màng phổi gửi
về khoa Giải phẫu bệnh trong thời gian 1/2016 đến 1/2017 Tại khoa Giải phẫu bệnh tiến hành xử lý mẫu theo tiêu chuẩn thường quy
Đối với các trường hợp còn chưa
rõ ràng sẽ được nhuộm hóa mô miễn dịch bằng máy nhuộm hóa mô Ventana
KẾT QUẢ
Trong 73 bệnh nhân được lựa chọn trong nghiên cứu có 37 bệnh nhân nam chiếm tỉ lệ 50,7%, 36 bệnh nhân nữ chiếm
tỉ lệ 49,3% độ tuổi trung bình là 58,81 ± 13,21; tuổi trung bình ở nam giới là 58,19
± 12,75, và ở nữ giới là 59,44 ± 13,81
1 Vị trí tràn dịch trong nghiên cứu:
Trong 73 bệnh nhân nghiên cứu, tràn dịch màng phổi phải hay gặp nhất chiếm 58,9%, bên trái chiếm 34,2% và tràn dịch màng phổi hai bên chiếm 6,9%
Trang 4Bảng 1: Các cơ quan ung thư nguyên phát di căn màng phổi
2 Kết quả mô bệnh học
Trong nghiên cứu 73 trường hợp tràn dịch màng phổi do ung thư di căn, có 66 trường hợp phát hiện tổn thương ác tính trên mẫu sinh thiết chiếm 90,4%, 7 trường hợp không phát hiện trên mẫu sinh thiết chiếm 9,6%
Bảng 2: Các nhóm mô bệnh học di căn màng phổi.
Carcinôm tế bào gai 1 1,4
Carcinôm thần kinh nội tiết 6 8,2
3 Đặc điểm giải phẫu bệnh
mẫu sinh thiết màng phổi
Trong tổng số 73 bệnh nhân
nghiên cứu, cấu trúc xâm lấn và tế bào
bất thường có 66/73 trường hợp chiếm
90,4% Phản ứng mô đệm 64/ 73 (87,7%),
7 trường hợp không có (9,6%) và 2 trường
hợp không rõ ràng( 2,7%), hoại tử (4,1%),
xuất huyết ( 9,6%)
4 Kết quả tế bào học
Trong 73 trường hợp tràn dịch
màng phổi do di căn ung thư có 46 trường
hợp phát hiện bằng phường pháp phết tế
bào chiếm 63% và 27 trường hợp không phát hiện được trên mẫu tế bào học chiếm 37%
Đặc điểm hình thái tế bào ác tính trong dịch màng phổi
Các tế bào ác tính có xu hướng tạo thành cấu trúc khối cầu tế bào chiếm 52,1%, đám ba chiều ( 8,2%), xếp thành dạng tuyến (4,1%), chỉ có 1 trường hợp tế bào ác tính xếp kiểu rời rạc chiếm 1,4%, không thấy tế bào ác tính trong dịch màng phổi chiếm 37%
Trang 55 Sự tương quan giữa kết quả sinh thiết và tế bào học
Bảng 3: Đối chiếu kết quả giải phẫu bệnh và tế bào học theo tổn thương nguyên phát
Tế bào Sinh thiết
Tồn thương nguyên phát Lành tính (%)
Ác tính
(%)
Ác tính
Phổi 19 (38) 31 (62)
Vú 3 (42,6) 4 (57,3) Limphôm 2 (66,7) 1 (33,3) Tiêu hóa 1 (33,3) 2 (66,7) Khác 2 (66,7) 1 (33,3)
Lành tính
Tiêu hóa 0 1 (1,37)
Bảng 4: Đối chiếu cấu trúc vi thể với kết quả tế bào học
BÀN LUẬN
Đặc điểm giải phẫu bệnh trên
mẫu sinh thiết màng phổi Tất cả trường
hợp gây xâm lấn mô xơ mỡ, không có
trường hợp nào xâm lấn mạch máu và
thần kinh, do mẫu sinh thiết có kích thước
nhỏ nên không đánh giá được sự xâm lấn
của tế bào ung thư đối với mạch máu và
thần kinh Cần được nghiên cứu với mẫu
nhiều hơn hoặc nghiên cứu trên các mẫu
phẫu thuật
Phản ứng mô đệm chủ yếu tăng sản sợi non bao quanh các tế bào ung thư, thể hiện sự đáp ứng của cơ thể vơi một tác nhân lạ Đây là dấu hiệu chứng tỏ sự xâm lấn thật sự của các tế bào ung thư
Đặc điểm tế bào bất thường trên mẫu sinh thiết màng phổi bao gồm không bào trong bào tương, hạt nhân rõ, phân bào bất thường Các đặc điểm này là các dấu hiệu chẩn đoán một bệnh lý ác tính
di căn màng phổi Điều này phù hợp với
Trang 6y văn[10] Tuy nhiên cần chẩn đoán phân
biệt với tăng sản tế bào trung mạc, các
tế bào trung mạc phản ứng cũng có thể
có các đặc điểm như trên [9] Do vậy, khi
tiến hành chẩn đoán cần kết hợp nhiều
đặc điểm lại với nhau để cho chẩn đoán
chính xác
Tỉ lệ chẩn đoán trên mẫu sinh thiết
Trong 73 ca có tổn thương di căn màng phổi, sinh thiết màng phổi chẩn đoán xác định 66 ca chiếm tỉ lệ 90,4%, không xác định 7 ca chiếm 9,6%
Bảng 5: Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả khác trong và ngoài nước
Nguyễn Xuân Triều 33 82
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
cao hơn kết quả nghiên cứu của các tác
giả Nguyễn Xuân Triều [7], Lê Khắc Bảo
[1], Parkas [14] có lẽ do tiêu chí chọn mẫu
của chúng tôi là các bệnh nhân đã được
chẩn đoán ung thư di căn màng phổi Tuy
nhiên kết quả nghiên cứu của chúng tôi
thấp hơn kết quả của tác giả Vũ Khắc
Đại khi nghiên cứu 88 bệnh nhân có ung
thư, phát hiện tổn thương bằng sinh thiết
chiếm 94,4% [4], có lẽ do tác giả dùng
phương pháp sinh thết qua nội soi nên khả
năng phát hiện tổn thương cao hơn
Phân loại theo cơ quan nguyên
phát di căn.
Trong 73 bệnh nhân được chẩn
đoán xác định nguyên nhân gây tràn dịch
bằng hóa mô miễn dịch, tổn thương ác
tính nguyên phát bao gồm tổn thương ác
tính nguyên(bảng 1) Kết quả này cũng
phù hợp với tác giả Robert [15], nghiên
cứu 2040 trường hợp (tổng hợp các
nghiên cứu của các tác giả Salyer (n=95)
,Chernow (n=96) [17],Johnston (n=472) [12], Sears (n=592) [16] và Hsu (n=785) [11]), các tổn thương nguyên phát di căn màng phổi có nguồn gốc từ phổi chiếm nhiều nhất với tỉ lệ 37,5%, kế đến là ung thư vú chiếm 16,8%, limphôm chiếm 11,5%, ung thư đường tiêu hóa chiếm 6,9%, ung thư đường niệu chiếm 9,4%
Phân loại theo mô bệnh học di căn màng phổi.
Trong 73 tổn thương ung thư di căn màng phổi, phân loại theo nhóm mô học(bảng 2) Kết quả này có sự khác biệt
so với tác giả Lê Khắc Bảo [1], khi nghiên cứu 79 bệnh nhân có tràn dịch màng phổi thì trong số 30 bệnh nhân TDMP ác tính
có 13 trường hợp là carcinôm tuyến chiếm 43,4%, carcinôm tế bào gai 6,7%, tế bào nhỏ 3,3%, không có limphôm, không có sarcôm Sự khác biệt này có lẽ do đặc điểm mẫu nghiên cứu của chúng tôi là trên nhóm bệnh nhân tổn thương di căn màng phổi Trong khi đó tác giả Lê Khắc
Trang 7Bảo lấy cả ung thư màng phổi nguyên
phát Do đó, tỉ lệ carcinôm tuyến trong
nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả
của tác giả
Kết quả phết tế bào
Tỉ lệ chẩn đoán ác tính trong số
các bệnh nhân tràn dịch màng phổi bằng
phương pháp phết tế bào là 63%, không
phát hiện được là 37% Khả năng phát
hiện tế bào ung thư trong dịch màng phổi
phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm u
nguyên phát, số lượng dịch gửi làm xét
nghiệm, phương pháp kĩ thuật của phòng
xét nghiệm, số lần phết tế bào
Kết quả của chúng tôi có sự khác
biệt với kết quả của Lê Khắc Bảo, tác giả
nghiên cứu trên 30 bệnh nhân tràn dịch
màng phổi ác tính, độ nhạy của phương
pháp phết tế bào là 48,1% [1] Sở dĩ trong
nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với
tác giả có lẽ do chúng tôi chọn mẫu là các
bệnh nhân có tổn thương di căn màng phổi
Đặc điểm hình thái tế bào ác tính
trong dịch màng phổi
Các tế bào ác tính có xu hướng
tạo thành cấu trúc khối cầu tế bào, đám
ba chiều, xếp thành dạng tuyến, kiểu rời
rạc Sở dĩ tế bào xếp dạng tuyến có tỉ lệ
thấp có lẽ do trong nghiên cứu của chúng
tôi chỉ sử dụng phương pháp phết tế bào
không dùng phương pháp đúc khối tế bào
nên khả năng tạo thành tuyến trong các
dịch màng phổi thấp
Trong 73 trường hợp dịch màng
phổi của bệnh nhân nghiên cứu, không
thấy tế bào có phân bào bất thường, không
bào trong bào tương là 3 ca ( 6,8%), tế
bào có hạt nhân (1 hạt nhân không có trường hợp nhiều hạt nhân) có 11 trường hợp (15,1%), tỉ lệ nhân/ bào tương tăng
và màng nhân méo mó gặp trong 46 trường hợp có tế bào ác tính chiếm 63% các trường hợp nghiên cứu Các tỉ lệ này thấp hơn so với các bất thường tế bào trong mẫu sinh thiết Điều này có thể vì
số lượng tế bào ác tính thấp hơn do không làm đúc khối tế bào và các tế bào kết cụm lại với nhau nên khả năng quan sát thấy các đặc điểm bất thường tế bào bị hạn chế
Đối chiếu giải phẫu bệnh và tế bào học
Đối chiếu kết quả
Trong 73 bệnh nhân được xét nghiệm cả hai phương pháp sinh thiết và phết tế bào có 46 bệnh nhân tìm thấy tế bào ác tính trong dịch chiếm tỉ lệ 63%, trong khi đó tỉ lệ này bằng phương pháp sinh thiết đạt 90,4% Sự tương quan này
có ý nghĩa thống kê với p = 0,03 Điều này có nghĩa khi phát hiện tế bào ác tính trong dịch màng phổi thì khả năng cao là
có tổn thương ác tính trên mẫu sinh thiết màng phổi
Đối chiếu kết quả theo tổn thương nguyên phát
Đối với ung thư phổi di căn màng phổi, trong các trường hợp sinh thiết có kết quả ác tính thì có 62% kết quả tế bào
ác tính và 38% không thấy tế bào ác tính trong dịch màng phổi Kết quả này có
sự khác biệt so với tác giả Udaya B S Prakash [1], khi kết quả nghiên cứu của tác giả trong nhóm sinh thiết có kết quả
ác tính có 72,3% tìm thấy tế bào ác tính
Trang 8trong dịch màng phổi Tỉ lệ phát hiện tế
bào ác tính trong dịch màng phổi của
Prakash cao hơn có lẽ do tác giả sử dụng
nhiều phương pháp xác định khác nhau
trong khi chúng tôi chỉ dùng phương pháp
phết tế bào đơn thuần
Đối với ung thư vú, sinh thiết
màng phổi có kết quả dương tính thì có
57,3% kết quả tế bào ác tính và 42,6%
không thấy tế bào ác tính trong dịch màng
phổi Kết quả này có sự khác biệt so với
tác giả Prakash B.S.[14], khi kết quả
nghiên cứu của tác giả trong nhóm sinh
thiết có kết quả ác tính có 75,8% tìm thấy
tế bào ác tính trong dịch màng phổi Tỉ lệ
phát hiện tế bào ung thư trong nghiên cứu
của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của tác
giả có thể vì chúng tôi chỉ dùng phương
pháp phết tế bào đơn thuần
Đối chiếu cấu trúc mô bệnh học
với kết quả tế bào học
Đối chiếu giữa cấu trúc của các
loại ung thư di căn màng phổi cho thấy
cấu trúc dạng đặc có 45,4% lành tính và
54,6% tìm thấy tế bào ác tính trong dịch
màng phổi Đối với cấu trúc dạng túi
tuyến có 31,8% không phát hiện tế bào ác
tính trong dịch màng phổi và tìm thấy tế
bào ác tính là 68,2%
Cấu trúc dạng đặc gặp trong
nhiều loại ung thư di căn tới màng phổi
có cả limphôm, sarcôm, u tuyến ức Các
loại ung thư này tỉ lệ tìm thấy tế bào ác
tính trong dịch màng phổi thấp nên làm
cho tỉ lệ phát hiện tế bào ác tính trong
dịch màng phổi ở kiểu cấu trúc này giảm
xuống so với các nhóm khác
Cấu trúc dạng túi tuyến có tỉ lệ phát hiện tế bào ác tính trong dịch màng phổi cao hơn do các loại ung thư cho cấu trúc này đa số là nhóm ung thư phổi và ung thư đường tiêu hóa Hai loại ung thư này có tỉ lệ tìm thấy tế bào ác tính trong dịch màng phổi cao
KẾT LUẬN
Tổn thương di căn màng phổi hay gặp nhất là ung thư phổi, tỉ lệ phát hiện trên mẫu sinh thiết đạt 90,4% Các tế bào trong dịch màng phổi ác tính có xu hướng xếp thành khối cầu tế bào, đám ba chiều, xếp thành dạng tuyến, kiểu rời rạc Tỉ lệ phát hiện trên mẫu tế bào học đạt 63%
Có sự liên quan giữa kết quả tế bào học dịch màng phổi và sinh thiết màng phổi Điều này có nghĩa khi phát hiện tế bào ác tính trong dịch màng phổi thì khả năng cao là có tổn thương ác tính trên mẫu sinh thiết màng phổi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê khắc Bảo (2003), “Giá trị sinh thiết màng phổi bằng kim xuyên da trong chẩn đoán nguyên nhân lao-Ung
thư gây tràn dịch- Dày, U màng phổi”, Y
học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 7(1), tr.93-97
2 Ngô Thanh Bình (2007), “Vai trò của sinh thiết màng phổi mù trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 11(1), tr 227-233
3 Ngô Quý Châu (2002), “Tình hình bệnh tật bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai trong
5 năm 1996-2000”, Nội san lao và bệnh
Trang 9phổi, số 39, tr.19-25.
4 Vũ Khắc Đại (2016), N ghiên
cứu vai trò của nội soi màng phổi ống
mềm trong chẩn đoán nguyên nhân tràn
dịch màng phổi, luận án tiến sĩ y học, Đại
học Y Hà Nội, Hà Nội
5 Nguyễn Huy Dũng (2012),
Nghiên cứu giá trị của soi lồng ngực sinh
thiết trong chẩn đoán tràn dịch màng
phổi dịch tiết chưa rõ nguyên nhân, luận
án tiến sĩ y học, Học viện Quân y, Hà Nội
6 Đỗ Quyết (2012), Bệnh Hô
Hấp, Hà Nội, Quân Đội Nhân Dân.
7 Nguyễn Xuân Triều (1995),
Giá trị chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch
màng phổi thanh tơ và máu của sinh thiết
màng phổi bằng kim cải tiến Castalain
và chải màng phổi, Luận án phó tiến sĩ y
học, Học viện Quân y, Hà Nội
8 Cibas E.S and Ducatman
B.S (2014) Cytology Diagnostic
Principles and Clinical Correlates 4th ed
Philadenphia, United States of America:
Saunders
9 Demay RM (2011) The Art
& Science of Cytopathology 2nd Ed
Chicago, United States: American Society
of Clinical Pathologists Press
10 Farver CF, Zander
DS(2018) Pulmonary Pathology 2nd ed
Philadenphia, USA: Elsevier
11 Hsu C (1987) Cytologic
detection of malignancy in pleural
effusion: a review of 5,255 samples from
3,811 patients Diagn Cytopathol; vol 3:
pp 8-12
12 Johnston W (1985), The malignant pleural effusion A review
of cytopathologic diagnoses of 584 specimens from 472 consecutive patients Cancer; vol.56: pp 905- 909
13 Meyer P.C (1966) Metastatic carcinoma of the pleura Thorax; vol 21:
pp 437-443
14 Prakash U.B.S (1985) Comparison of Needle Biopsy With Cytologie Analysis for the Evaluation of Pleural Effusion: Analysis of 414 Cases Mayo Clin Proc; vol 60: pp 158-164
15 Roberts M.E (2010) Management of a malignant pleural effusion: British Thoracic Society pleural disease guideline 2010 Thorax; vol 65:
pp ii32-ii40
16 Sahn S A (1998) Malignancy metastatic to the pleura Clinics in chest medicine; Vol.19, No.2: pp 351-361
Carcinomatous involvement of the pleura:
an analysis of 96 patients Am J Med; vol 63: pp 695-702
18 Sears D, Hajdu SI (1987), The cytologic diagnosis of malignant neoplasms in pleural and peritoneal effusions Acta Cytol; vol 31: pp.85-97