1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Siêu âm chẩn đoán dị vật mô mềm

10 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 343,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Siêu âm đã nổi lên như là công cụ được lựa chọn để phát hiện các dị vật không cản quang, với các dị vật cản quang siêu âm giúp định vị chính xác hơn. Nghiên cứu này nhằm: “Đánh giá kết quả siêu âm chẩn đoán dị vật mô mềm”.

Trang 1

1 Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Tp Hồ Chí Minh

2 Bệnh viện Quân y 7A Quân khu 7

Người phản hồi (Corresponding): Vưu Bửu Long (vuabuulong@gmail.com)

Ngày nhận bài: 12/8/2018, ngày phản biện: 28/8/2018

Ngày bài báo được đăng: 30/9/2018

SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN DỊ VẬT MÔ MỀM

Vưu Bửu Long 1 , Lê Quang Trí 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Siêu âm đã nổi lên như là công cụ được lựa chọn để phát hiện các dị vật không cản quang, với các dị vật cản quang siêu âm giúp định vị chính xác hơn Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm: “Đánh giá kết quả siêu âm chẩn đoán dị vật mô mềm”.

Phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành trên 64 bệnh nhân có dị vật

mô mềm, từ 1/2015 đến 4/18 tại Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình thành phố

Hồ Chí Minh Đây là một nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu mô tả cắt ngang.

Kết quả: Khi sử dụng siêu âm phát hiện dị vật 64/64 trường hợp đạt hiệu suất 100%, dù đặc tính của dị vật là gỗ, kim loại hay vật liệu khác Độ nhạy và

độ đặc hiệu của siêu âm so với phẫu thuật chẩn đoán dị vật là 100% So sánh kích thước trung bình cả chiều dài và chiều rộng trên cận lâm sàng (siêu âm và

X quang) với kết quả sau phẫu thuật không thấy có sự khác biệt với P > 0,05 (Chiều rộng P = 0,810; Chiều dài P = 0.912)

Kết luận: Siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không đắt tiền, cơ động và sẵn có cho các mô mềm bề mặt mà không có nguy cơ bức xạ ion hoá Đối với tất cả các dị vật, siêu âm có thể hỗ trợ đánh giá các mô mềm xung quanh và chứng minh các biến chứng mô mềm liên quan.

ULTRASONOGRAPHY FOR DIAGNOSTIC OF SOFT TISSUE

FOREIGN BODIES ABSTRACT

Overview: Ultrasonography has appeared to be an useful research tool of

Trang 2

choice to identify non radio-opaque foreign bodies For radio-opaque foreign bodies, ultrasonography can locate more precisely We conducted this study to evaluate the initial results Ultrasonography for Diagnostic of Soft Tissue Foreign Bodies.

Patients & Methods: The study was conducted on 64 patients with diagnosis off foreign bodies in soft tissues, from January 2015 to April 2018 at Ho Chi Minh City Hospital for Traumatology and Orthopaedics It is a simultaneously retrospective and prospective cross-sectional analysis.

Results: the result attained is as follow: the use of ultrasonography detected 64/64 of foreign bodies with effiency of 100%, nonetheless the material is wood, metal or other Sensitivity and specificity in comparison with operational search for foreign bodies is 100% Comparison on average length and width between paraclinical means ( X-ray and ultrasonography) and post-operative results shows no difference with P > 0.05 ( Width P = 0,810; Length P = 0.912).

Conclusion: Ultrasonography is an inexpensive diagnostic imaging method, mobile and available for superficial soft tissues without the risk of ionizing rays For most foreign bodies, ultrasonography can support the process

of inspecting the local soft tissues and the relating soft tissue complications.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dị vật ở vết thương hở là một

trong những vấn đề xuất hiện nhiều tại

phòng cấp cứu ở mỗi cơ sở y tế Tại Mỹ có

khoảng 5,7 triệu người đến bệnh viện với

các vấn đề liên quan đến vết thương hở,

chiếm 4,5% tổng số ca cấp cứu năm 2010

Trong số đó, dị vật sót lại được tìm thấy từ

7% đến 15% số ca nhập cấp cứu với vết

thương hở Có đến 38% các trường hợp bị

bỏ qua hoặc thiếu sự đánh giá thiết yếu của

nhân viên y tế [1], [4]

X quang luôn là cận lâm sàng đầu

tay và được ưu tiên lựa chọn chẩn đoán

quang chỉ giúp phát hiện các dị vật mô mềm cản quang Trong khi đó, ngoài kim loại thì gỗ và thủy tinh là hai loại di vật phổ biến và không cản quang do đó rất khó để phát hiện qua X quang Thủy tinh không được phát hiện tới 50% số ca được thực hiện bằng X quang, 7,4% số ca dị vật là gỗ các loại được phát hiện bằng X quang Mặt khác chẩn đoán hình ảnh trong thực hành lâm sàng thì chụp cắt lớpvi tính (CT) và cộng hưởng từ (MRI) có độ nhạy cao tuy nhiên chi phí lại đắt và không mang tính phổ biến [2]

Siêu âm giúp phát hiện dị vật mô

Trang 3

tinh Siêu âm được sử dụng để phát hiện

dị vật lần đầu tiên vào năm 1978 Cho đến

nay siêu âm đã được khẳng định là một

biện pháp dễ sử dụng,sãn có, rẻ tiền và ít

gây nguy cơ Trong nhiều nghiên cứu đã

chỉ ra độ nhạy của siêu âm phát hiện dị vật

mô mềm là 95% Trong các báo cáo trước

đây cho thấy tỉ lệ phần trăm các giá trị

tiên đoán dương tính dị vật mô mềm của

X quang số hóa (CR) và Siêu âm lần lượt

là 100% và 95% và cho chụp cắt lớp (CT)

và chụp cộng hưởng từ (MRI) lần lượt là

95% và 93,8% Mặt khác, CT có giá trị

tiên đoán âm tính là 78,3%, trong siêu âm

là 73,7%, MRI là 70,1% và CR là 53,7%

Điều này cho thấy, siêu âm tỏ ra vượt trội

về độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán

xác định dị vật mô mềm [3], [4]

Mặc dù siêu âm đã được minh

chứng và công nhận là một biện pháp hiệu

quả phát hiện và điều trị các trường hợp dị vật mô mềm bởi y văn và các nghiên cứu trên thế giới Tuy nhiên tại Việt Nam đến thời điểm hiện tại chưa tìm thấy nghiên cứu chính thống nào về độ nhạy và độ đặc hiệu, cũng như giá trị của siêu âm trong chẩn đoán dị vật mô mềm đặc biệt là dị vật

mô mềm không cản quang Với những vấn

đề đặt ra nêu trên chúng tôi thực hiện đề

tài: “Đánh giá kết quả của siêu âm trong chẩn đoán dị vật mô mềm tại Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP.HCM”

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: Các

bệnh nhân (BN) đến khám và điều trị do các vấn đề liên quan đến dị vật mô mềm tại bệnh viện CTCH TP.HCM từ 1/2014 đến 4/2018

- Cỡ mẫu

Cỡ mẫu ước lượng theo công thức sau đây:

α: Xác suất sai lầm loại I, với α = 0,05;

2

1 −α

z : Trị số từ phân phối chuẩn, với độ

tin cậy 95% thì

2

1 −α

z =1,96

d: Sai số cho phép, chọn d = 0,03

p: tỷ lệ bệnh nhân có dị vật mô mềm không cản quang được chẩn đoán xác định bằng siêu âm Tham khảo tài liệu y văn, ta chọn p = 0,98 [8] Vậy cỡ mẫu khoảng n = 62

2

2 2 / 1

d

p 1 p Z

Trang 4

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến

cứu, mô tả cắt ngang

- Máy siêu âm sử dụng trong

nghiên cứu là máy siêu âm màu 3D

LOGIQ F8 do Trung quốc sản xuất tháng

5 năm 2014

- Máy chụp Xquang sử dụng

trong nghiên cứu là máy Xquang kỹ thuật

số COLLIMARE LLC; Model

CML-150-001-C do Mỹ sản xuất năm 2015

- Cơ sở vật lý của phương pháp

tạo hình bằng siêu âm

Cơ sở của nó chính là sự phản hồi

của tia siêu âm từ các tổ chức trong cơ thể,

sự phản hồi này phụ thuộc vào:

+ Tốc độ truyền của sóng âm trong

môi trường

+ Trở kháng âm của môi trường

+ Sự hấp thụ của tổ chức

+ Thông số (f:A) của sóng siêu âm

và cấu trúc hình học của tồ chức

Tốc độ truyền của sóng siêu âm

phụ thuộc vào môi trường truyền,Vận tốc

truyền của sóng siêu âm trong những môi

trường khác nhau.Tốc độ trung bình của sóng siêu âm trong các tổ chức phần mềm

v #1540m/s Biêt được vận tốc truyền khi

đo thời gian đi và về của sóng siêu âm ta

có thể định vị rõ được bề mặt phản xạ [10]

- Kỹ thuật siêu âm phát hiện dị vật

mô mềm:

Đầu dò tần số cao (7,5-10 MHz) được dùng với “stand-off pad” hoặc không Dùng “stand-off pad” nhìn rõ đến từng mm trên cấu trúc cần khảo sát Điều này giúp cho việc quan sát mô mềm một cách chính xác hơn Dùng gel siêu âm đổ vào găng tay có thể tạo ra “stand-off pad”

Dị vật thường tăng echo so với

mô mềm xung quanh Dị vật như gỗ hoặc nhựa có khuynh hương tạo bóng lưng (đuôi sao chổi) Dị vật bằng kim loại có khuynh hướng phản quang hay tạo hình ảnh đuôi sao chổi (comet tail artifact) Vùng tăng echo được quét qua mặt phẳng ngang và dọc Qua đó, có thể ước lượng độ sâu, kích thước dị vật cũng như mô và mạch máu xung quanh [5] [10]

3 KẾT QỦA VA BAN LUẬN 3.1 Đặc điểm về lâm sàng vết thương dị vật

Bảng 3.1 Đặc điểm lâm sàng vết thương có dị vật khi nhập viện (n=64)

Trang 5

%), 45/64 BN có biểu hiện nhiễm trùng ở vết thương(70,3 %) Tỷ lệ vết thương có dị vật

bị nhiễm trùng còn liên quan tới thời gian nhập viện và đặc tính của dị vật

Theo Tedric D Boyse và cộng sự nhiễm trùng mô mềm là một trong những biến chứng phổ biến nhất của dị vật xâm nhập tính tới thời điểm hiện tại [7]

Bảng 3.2 Tỷ lệ biến chứng, xâm lấn tác động của dị vật (n = 64)

Xâm lấn, tác

động của dị vật

Nhận xét: Tỷ lệ có biến chứng là

45/64 BN (70,31 %) và xâm lấn tác động

của dị vật chủ yếu là mô mềm 60/64 BN

(93,8 %)

Theo Mark.T.Steele và cộng sự dị

vật không được phát hiện có thể gây biến

chứng, bao gồm làm chậm quá trình lành,

nhiễm trùng và tổn thương mô [6]

Theo Anderson và cộng sự có tới

38% dị vật trong mô mềm đã bị bỏ qua trong lần kiểm tra ban đầu Dị vật phổ biến nhất là gỗ, thủy tinh, hoặc mảnh kim loại Chỉ có 15% hoặc ít hơn các dị vật bằng gỗ được phát hiện bằng chụp X quang Phát hiện dị vật là rất quan trọng bởi vì các dị vật bị giữ lại có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng về nhiễm trùng và viêm các

tổ chức lân cận [2]

3.2 Cận lâm sàng phát hiện dị vật mô mềm.

Bảng 3.3 Đặc điểm về cận lâm sàng phát hiện dị vật (n = 64)

Cận lâm sàng

Cận lâm sàng phát

Số lần sử dụng

Hình ảnh cận lâm

Trang 6

Nhận xét: Trong nghiên cứu của

chúng tôi sử dụng cả X-quang và siêu âm

64/64 BN để phát hiện dị vật.Theo Tedric

D Boyse và cộng sự siêu âm phát hiện

một loạt các dị vật của mô mềm, bao gồm

các mảnh vụn bằng gỗ, thủy tinh, kim loại

và nhựa và đánh giá các biến chứng của

mô mềm Siêu âm xác định được chính

xác kích thước, hình dáng và vị trí của các

dị vật mô mềm Phẫu thuật tương quan cho phép xác nhận sự hiện diện dị vật và các biến chứng liên quan đến mô mềm trong tất cả các trường hợp Tất cả các dị vật được phẫu thuật lấy bỏ mà không có biến chứng sau khi định vị với siêu âm [7]

Bảng 3.4 Tỷ lệ CLS phát hiện được dị vật theo đặc tính dị vật (n = 64)

Chỉ số nghiên cứu

Loại dị vật phát hiện Kim loại (22)

Số BN, (%)

Gỗ (28)

Số BN, (%)

Khác (14)

Số BN, (%) Cận lâm sàng X-quangSiêu âm 22 (100,0)22 (100,0) 28 (100,0)1 (3,6) 14 (100,0)9 (64,3)

Nhận xét: Khi sử dụng siêu âm

phát hiện dị vật dù đặc tính của dị vật là

gỗ, kim loại hay vật liệu khác thì đều phát

hiện được dị vật, khi sử dụng X-quang

phát hiện dị vật nếu dị vật là kim loại thì

phát hiện 100% Còn nếu đặc tính của dị

vật là gỗ, hay vật liệu khác thì phát hiện

được dị vật khó khăn hơn 10/42 BN

Theo Peter W Bray và cộng sự

[8] siêu âm có độ phân giải cao là một

phương tiện sẵn có, độ nhạy cao để phát

hiện dị vật Độ đặc hiệu cao 99% (CI, 96%

-100%) cho phép sự hiện diện dị vật được

xác nhận cơ bản cho kết quả dương tính

trên siêu âm Giá trị độ nhạy cho tất cả các

phép đo, 94%, so sánh thuận lợi với giá trị

95% báo cáo trong các nghiên cứu in vivo Các vật bằng gỗ đã được phát hiện ở cả đốt ngón và lòng bàn tay, với độ nhạy từ 95% đến 100% Trong các khớp, khoảng tin cậy

từ 80% đến 100%

Trong nghiên cứu của chúng tôi siêu âm phát hiện dị vật 64/64 BN đạt độ nhạy và độ đặc hiệu 100% So với các nghiên cứu trước đây thì tỷ lệ này cao hơn hẳn Theo chúng tôi là do các tác giả trước khi nghiên cứu các máy siêu âm sử dụng thuộc thế hệ trước các thông số kỹ thuật (độ phân giải, tần số đầu dò…) có phần hạn chế so với máy siêu âm sử dụng thuộc thế hệ sau

Trang 7

3.3 Kích thước trung bình của dị vật trên cận lâm sàng và phẫu thuật Bảng 3.5 So sánh kích thước của dị vật trên cận lâm sàng và phẫu thuật (n = 64)

Chiều

rộng

(mm)

Chiều dài

(mm)

Nhận xét: So sánh kích thước trung bình cả chiều dài và chiều rộng trên

siêu âm và Xquang với kết quả sau phẫu thuật không thấy có sự khác biệt với P

> 0,05 ( Chiều rộng P = 0,810; Chiều dài P = 0.912)

3.4 So sánh khả năng phát hiện dị vật giữa X-quang và Siêu âm

Bảng 3.6 X-quang phát hiện dị vật theo tính chất dị vật (n=64)

Chỉ số nghiên cứu

Tính chất dị vật

Tổng Không cản quang

Số BN, (%)

Cản quang

Số BN, (%)

(16,7)

26

Độ nhạy(Se) = 92,9%; Độ đặc hiệu(Sp) = 83,3%;

Tỷ lệ âm tính giả = 6,2%; Tỷ lệ dương tính giả = 18,7%

Nhận xét: X-quang phát hiện 92,9% dị vật cản quang: kim loại, xương,

gạch đá (26/28 trường hợp), các trường hợp không phát hiện được do kích thước

dị vật quá nhỏ; và phát hiện 16,7% (6/36 trường hợp) dị vật không cản quang,

do kích thước dị vật lớn Độ nhạy = 92,9%; Độ đặc hiệu = 83,3%; Tỷ lệ âm tính giả

= 6,2%; Tỷ lệ dương tính giả = 18,7%

Trang 8

Bảng 3.7 So sánh khả năng phát hiện dị vật X-quang và Siêu âm (n=64)

Chỉ số nghiên cứu Siêu âm phát hiện dị vậtKhông Tổng

Số BN, (%)

Số BN, (%)

Nhận xét: Siêu âm phát hiện

100% các dị vật (64/64 BN) Trong khi

Xquang chỉ phát hiện 50,% dị vật (32/32

BN)

Theo nghiên cứu của Prakash

Sharma và cộng sự [9] tại một bệnh

viện Nhi ở Tây Nepal (2015) với mục

đích là để đánh giá độ nhạy của siêu

âm phát hiện và mô tả các vị trí khu

trú của dị vật mô mềm ở trẻ em Tất

cả các BN được thực hiện cả chụp X

quang và siêu âm Độ nhạy và độ đặc

hiệu của siêu âm chẩn đoán dị vật là

100% Xquang chỉ phát hiện 15% số dị

vật không cản quang [11]

Kết quả thống kê ở bảng 3.6

cho thấy, khả năng phát hiện theo tính

chất cản quang và không cản quang

của dị vật trên X-quang, cho Độ nhạy =

92,9%; Độ đặc hiệu = 83,3%; Tỷ lệ âm tính

giả = 6,2%; Tỷ lệ dương tính giả = 18,7%

Bằng X-quang phát hiện 92,9% dị vật

cản quang, là các loại dị vật: kim loại,

xương, gạch đá (26/28 TH); và phát

hiện 16,7% (6/36 TH) dị vật không cản

X-quang phát hiện dị vật phụ thuộc vào đặc tính cản quang của dị vật mà còn phụ thuộc vào cả kích thước dị vật Với dị vật cản quang kích thước nhỏ cũng làm hạn chế khả năng phát hiện của X-quang, mặt khác, X-quang cũng

có thể phát hiện dị vật khi kích thước

dị vật không cản quang lớn

Kết quả so sánh khả năng phát hiện dị vật giữa Siêu âm và X-quang

ở bảng 3.28 cho thấy, Siêu âm có khả năng phát hiện tới 100% dị vật mô mềm, không phân biệt tính chất và kích thước dị vật Như vậy, có thể thấy Siêu

âm có ưu thế hơn so với X-quang trong phát hiện dị vật mô mềm, không phân biệt tính chất và kích thước dị vật

4 KẾT LUẬN

- Tỷ lệ dị vật là gỗ có 28/64 BN (43,8 %), kim loại là 22/ 64 BN (34,4 %);

dị vật là gỗ và kim loại là chủ yếu (50/64 BN) chiếm 78,12 % Dị vật là kim loại không có biểu hiện nhiễm trùng khi nhập viện là 11/22 BN (50 %), dị vật là gỗ có biểu hiện nhiễm trùng (ổ áp xe) khi nhập

Trang 9

là 55/64 BN (85,9 %) và số lượng dị vật

phát hiện trên cận lâm sàng và phẫu thuật

là trùng khớp nhau

- Siêu âm phát hiện dị vật 64/64

BN đạt hiệu xuất 100%, dù đặc tính của

dị vật là gỗ, kim loại hay vật liệu khác X

quang phát hiện dị vật nếu dị vật là kim

loại thì X quang phát hiện 22/22 BN đạt

hiệu xuất 100% Còn nếu đặc tính của dị

vật là gỗ, hay vật liệu khác thì phát hiện

dị vật khó khăn hơn cụ thể dị vật là gỗ X

quang phát hiện 1/28 BN (3,57 %), vật

liệu khác (Gạch, đá, thủy tinh nhựa… ) X

quang phát hiện 9/14 BN (64,28 %)

- Kích thước trung bình của dị vật

đo trên hình ảnh cận lâm sàng và sau phẫu

thuật về chiều rộng là 2,68 ± 2,28 và 2,86

± 2,29mm và chiều dài là 12,14 ± 11,59

và 11,81 ± 11,41mm. So sánh kích thước

trung bình cả chiều dài và chiều rộng trên

cận lâm sàng (siêu âm và X quang) với kết

quả sau phẫu thuật không thấy có sự khác

biệt ( Chiều rộng P = 0,810; Chiều dài P

= 0.912)

- Khả năng phát hiện theo tính

chất cản quang và không cản quang

của dị vật trên X-quang, cho Độ nhạy =

92,9%; Độ đặc hiệu = 83,3%; Tỷ lệ âm tính

giả = 6,2%; Tỷ lệ dương tính giả = 18,7%

Bằng X-quang phát hiện 92,9% dị vật

cản quang, là các loại dị vật: kim loại,

xương, gạch đá (26/28 BN); và phát

hiện 16,7% (6/36 BN) dị vật không cản

quang Kết quả này cho thấy sử dụng

X-quang phát hiện dị vật phụ thuộc vào đặc tính cản quang của dị vật mà còn phụ thuộc vào cả kích thước dị vật Với dị vật cản quang kích thước nhỏ cũng àm hạn chế khả năng phát hiện của X-quang, mặt khác, X-quang cũng

có thể phát hiện dị vật khi kích thước

dị vật không cản quang lớn

Kết quả so sánh khả năng phát hiện dị vật giữa Siêu âm và X-quang

ở bảng 3.28 cho thấy, Siêu âm có khả năng phát hiện tới 100% dị vật mô mềm, không phân biệt tính chất và kích thước dị vật Như vậy, có thể thấy Siêu

âm có ưu thế hơn so với X-quang trong phát hiện dị vật mô mềm, không phân biệt tính chất và kích thước dị vật Độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm so với phẫu thuật chẩn đoán dị vật là 100%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Michael Orlinsky MD, Aaron

A Bright MD (2006) “The utility of routine x-rays in all glass-caused wounds,” American Journal of Emergency Medicine , vol 24, p 233–236

2 Mark A Anderson, William L Newmeyer III, Eugene S Kilgore (1982)

“Diagnosis and Treatment of Retained Foreign Bodies in the Hand,” The American Journal of Surgery, vol 144, pp 63-67

3 Joshua Davis, Byron Czerniski, Arthur Au et al (2015) “Diagnostic

Trang 10

Accuracy of Ultrasonography in Retained

Soft Tissue Foreign Bodies: A Systematic

Review and Meta-analysis,” ACADEMIC

EMERGENCY MEDICINE , vol 22, p

777–787

4 Dan Schlager, MD*,Arthur B

Sanders, MD,Donna Wiggins, MD et al

(1991) “Ultrasound for the Detection of

Foreign Bodies,” Annals of Emergency

Medicine , vol 20, pp 189-191

5 MH Aras, O Miloglu, C

Barutcugil et al (2010) “Comparison

of the sensitivity for detecting foreign

bodies among conventional plain

radiography, computed tomography and

ultrasonography,” Dentomaxillofacial

Radiology , vol 39, p 72–78

6 Mark T Steele MD,* Luan V

Tran MD, WilliamaA Watson et al (1998)

Retained Glass Foreign Bodies in Wounds:

Predictive Value of Wound Characteristics,

Patient Perception, and Wound

Exploration,” AMERICAN JOURNAL

OF EMERGENCY MEDICINE , vol 16,

no 7, pp 627-630

7 Tedric D Boyse, MD, David P

Fessell, MD, Jon A Jacobson, MD et al

(2001) US of Soft-Tissue Foreign Bodies and Associated Complications with Surgical Correlation,” RadioGraphics , vol 21, p 1251–1256

8 Peter W Bray, MD, James L Mahoney, MD, Joan P Campbell (1995)

“Sensitivity and Specificity of Ultrasound

in the Diagnosis of Foreign Bodies in the Hand,” The Journal of Hand Surgery , vol 20A, pp 661-666

9 R Crawford, A B Matheson (1989) “Clinical value of ultrasonography

in the detection and removal of radiolucent foreign bodies,” Injury: the British Journal

of Accident Surgery , vol 2O, no 6, pp 341-343

10 Võ Tấn Đức, Nguyễn Quang Thái Dương (biên dịch) (2004) “ Siêu âm chẩn đoán ” Nhà xuất bản Y học chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh

11 Royal Children’s Hospital Melbourne (2007) Clinical practice guidelines: management of tetanus-prone wounds Accessed April 23, 2007, at:http://www.rch.org.au/clinicalguide/ cpg.cfm?doc_id=5221

Ngày đăng: 27/10/2020, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm