Đánh giá các tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao và mối liên quan của một số đặc điểm lâm sàng, X quang với kết quả xét nghiệm AFB đờm ở bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) sau 2 tháng điều trị tấn công.
Trang 11 Trung tâm y tế Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Quân y 103
Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Thanh Trang (bsnguyenthanhtrang@gmail.com)
Ngày nhận bài: 11/8/2018, ngày phản biện: 30/8/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/9/2018
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI LÂM SÀNG, X QUANG NGỰC
VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN LAO PHỔI AFB (+) MỚI
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ QUẬN TÂN BÌNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thanh Trang 1 , Nguyễn Huy Lực 2 , Hoàng Văn Thắng 2
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá các tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao và mối liên quan của một số đặc điểm lâm sàng, X quang với kết quả xét nghiệm AFB đờm ở bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) sau 2 tháng điều trị tấn công
Đối tượng, phương pháp: nghiên cứu mô tả tiến cứu cắt ngang kết hợp theo dõi dọc trên 78 bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) được điều trị tại Trung tâm y tế quận Tân Bình Tp HCM, thời gian từ tháng 5/2017 đến tháng 5/2018.
Kết quả: có 64,1% bệnh nhân có biểu hiện bị ảnh hưởng tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao Có mối liên quan giữa triệu chứng đau ngực, khó thở, hội chứng hang với tính chất tổn thương, mức độ tổn thương trên X quang phổi Những bệnh nhân có tổn thương hang trên phim có tỷ lệ đau ngực chiếm 14,2%; khó thở chiếm
tỷ lệ 26,19% Nghe phổi phát hiện hội chứng hang trên bệnh nhân có tổn thương hang trên phim là 23,81% Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa các triệu chứng lâm sàng, tổn thương hang trên X quang với mức độ AFB đờm (+) trước điều trị; chưa tìm thấy mối liên quan giữa sự cải thiện các các triệu chứng lâm sàng với mức độ tổn thương trên X quang sau điều trị.
Từ khoá: lao phổi, tác dụng phụ của thuốc chống lao, AFB đờm, X quang phổi
Trang 2trong lao, điều trị 2 tháng tấn công.
RESEARCH ON CLINICAL CHANGE, CHEST X-RAY AND RE-SULT OF TREATMENT FOR NEW TUBERCULOSIS PATIENTS AFB (+)
AT TAN BINH MEDICAL CENTER, HO CHI MINH CITY
ABSTRACT
Access the undestrable effect of specific remedy for tuberculosis and some rela-tions to clinical signs, X-ray with result of AFB sputum test among the new tuberculosis patients AFB (+) after 2 months of attack treatment.
- Subject, methods: The research describes cross-session together monitor 78 new tuberculosis patients AFB (+) who were treated in Tan Binh Medical Center in HCM city from May 2017 to May 2018.
- Result: 64,1% of patients have sign of being affected by undesirable result of medicine for tuberculosis There is a relation between symptom with effect and rate of effect through lung X-ray The patients who have injury seen on X-ray films has per-centage of 14,2% chest pain, 26,19% stuffy Listening to lung can help to find out cave syndrome on X-ray films: 23,3% Research hasn’t been found out the relation between clinical synptom and cave effect on X-ray with the level of AFB spuctum (+) before treatment.
- The relation between the improvement of clinical symptom and the level of injury on X-ray after treatment hasn’t been found out yet.
Keywords: tuberculosis, undesirable result of medicine for tuberculosis, AFB spuctum, X-ray on lung in tuberculosis, 2 months of attack treatment.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lao là một trong các vấn đề sức khỏe cộng đồng chính trên toàn cầu Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG – WHO Report 2016 –Global Tuberculosis Control), năm 2015 toàn cầu có khoảng 10,4 triệu người mới mắc lao [4], [22].Theo báo cáo tổng kết hoạt động chương trình chống lao quốc gia năm 2015 và phương hướng hoạt động năm 2016: Việt nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 14 trong 20 quốc gia có số người bệnh lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 11 trong số 20 nước có gánh nặng bệnh lao kháng thuốc cao nhất thế giới Năm 2015 toàn quốc đã phát hiện 102.655 bệnh nhân, trong đó lao phổi AFB (+) mới là 50.093 bệnh nhân; tái phát 6.542 bệnh nhân; thất bại 480 bệnh nhân; lao phổi AFB âm tính 22.520
Trang 3bệnh [11].
Lao phổi AFB (+) là nguồn lây nguy hiểm cho cộng đồng Lao phổi thường tiến triển kín đáo, các biểu hiện lâm sàng không rõ ràng hay tái phát, dẫn tới tính trạng lao kháng thuốc, nguyên nhân chủ yếu do bệnh nhân kém tuân thủ điều trị, do tác dụng phụ của thuốc chống lao khi phải dùng kéo dài Việc phát hiện sớm lao phổi AFB (+) mới
và điều trị kịp thời là rất quan trọng Đây là biện pháp tốt nhất để cắt đứt nguồn lây, để kiểm soát và thanh toán bệnh lao
Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nhằm mục tiêu Đánh giá các tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao và mối liên quan của một số đặc điểm lâm sàng, X quang với kết quả xét nghiệm AFB đờm ở bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) sau 2 tháng điều trị tấn công
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu trên 78 bệnh nhân lao
phổi mới AFB (+) được điều trị tại Trung
tâm y tế quận Tân Bình Tp HCM, thời
gian từ tháng 5/2017 đến tháng 5/2018
- Chọn những bệnh nhân được
chẩn đoán lao phổi mới AFB đờm (+)
* Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi
AFB (+) [6]:
- Xét nghiệm đờm trực tiếp có 2
tiêu bản AFB (+) từ 2 mẫu đờm khác nhau
- Xét nghiệm đờm trực tiếp có một
tiêu bản AFB (+) và hình ảnh tổn thương
trên phim X quang phổi phù hợp lao
- Xét nghiệm đờm trực tiếp 1 tiêu
bản AFB (+) và nuôi cấy dương tính
* Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi
mới [38]: lao phổi lần đầu tiên phát hiện,
chưa được điều trị đặc hiệu lao hoặc điều trị lao nhưng chưa quá một tháng
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các thể lao phổi không phải lao phổi mới
- Có các bệnh kết hợp nặng khác như viêm gan B hoạt động, xơ gan, suy hô hấp, suy tim nặng, suy thận nặng
- Bệnh nhân có thai hoặc đang cho con bú, bệnh nhân trẻ em < 18 tuổi
2 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả tiến cứu cắt ngang, kết hợp theo dõi dọc
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN
LUẬN
1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:
- Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 41,4, phân bố chủ yếu trong
2 nhóm dưới 30 tuổi (32,0%) và từ 40 - 50
Trang 4tuổi (20,5%) Phù hợp với KQNC (Nguyễn
Tuyết Phong – 2008, Đặng Đình Hiến –
2010, Trần Anh Huy – 2017)
- Nam giới chiếm tỷ lệ cao 79,5%,
nữ giới chiếm tỷ lệ thấp hơn 20,5% Kết
quả nghiên cứu tương tự với một số tác
giả khác, có thể là do nam giới gánh vác
những công việc nặng nhọc, lối sống với
những thói quen như uống rượu, hút thuốc
lá,… ở nam giới gặp nhiều hơn nữ giới
- Trong số BN nghiên cứu phần lớn là thể trạng trung bình và hơi gầy, không có BN lao nào béo phì trong nghiên cứu Tương tự kết quả của Đặng Đình Hiến (2010), Thân Minh Khương (2016), điều này có thể liên quan đến điều kiện kinh tế
xã hội
Bảng 1 Đặc điểm triệu chứng toàn thân
Triệu chứng toàn thân gặp với tỷ
lệ khá cao và phong phú như mệt mỏi gặp
nhiều nhất với 94,8%, tiếp đến là chán ăn
84,6%; triệu chứng sốt nhẹ, gầy sút cân
gặp tỷ lệ tương đương nhau 74,4% Tương
tự nghiên cứu của Trần Anh Huy (2017), mệt mỏi 96,30%, Anton.P và cs (2013), sốt 70%
Bảng 2 Đặc điểm triệu chứng cơ năng thực thể
Trong nghiên cứu chúng tôi gặp
chủ yếu là ho, ho ra máu chỉ gặp 7,8, HC
đông đặc: 34 BN, (43,6%) HC hang: 10
BN (12,8%) Đau ngực, khó thở ít gặp hơn
lần lượt là 23,1% và 16,7% Tương tự NC
của Nguyễn Thị Hậu (2015), ho 100%, hội chứng đông đặc 52,4%, Fishman.AP (2015), ho 91-95% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ít Trần Anh Huy (2017) khó thở 35,19%; đau ngực 59,26%), Fuge.TG
Trang 5và cs 2016 (khó thở 63,5 - 70,4%)
2 Tác dụng không mong muốn của thuốc và mối liên quan một số đặc điểm lâm sàng và X quang và kết quả điều trị
Bảng 3 Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện tác dụng không mong muốn của thuốc
Biểu hiện
độc thuốc Thời kỳ đầu điều trịn=78 % Sau 2 tháng điều trịn=78 % p
Có 64,1% bệnh nhân bị ảnh hưởng
bởi tác dụng phụ của thuốc trên lâm sàng
sau 2 tuần dùng thuốc điều trị lao với các
dấu hiệu mệt mỏi, dị ứng, chóng mặt, giảm
thị lực, RLTH, viêm dây TK ngoại biên…,
, sau 2 tháng điều trị tấn công, các triệu
chứng được cải thiện đáng kể, từ 64,1%
xuống còn 35,9%, trong đó chúng tôi chỉ
thấy dấu hiệu mệt mỏi có sự thay đổi có ý nghĩa từ 43.6% xuống còn 1.3%, p<0,05 Các dấu hiệu khác cũng có sự khác biệt trước và sau 2 tháng điều trị nhưng không
có ý nghĩa, p>0,05 Đặng Đình Hiến (2010) nghiên cứu trên 45 bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) cũng cho kết quả tương tự
Bảng 4 Mối liên quan giữa triệu chứng lâm sàng với đặc điểm tổn thương hang trên X quang phổi sau 2 tháng điều trị
Triệu chứng lâm sàng
Có hang (n=42)
Không có hang
Triệu chứng đau ngực có ở
14,3% bệnh nhân có tổn thương hang
và 33,3% bệnh nhân không có tổn
thương hang, khác biệt có ý nghĩa, p <
0,05 Triệu chứng khó thở có ở 4,8%
bệnh nhân có tổn thương hang trên X
quang phổi và có ở 30,6% bệnh nhân
không có hang, khác biệt có ý nghĩa, p
nhân lao phổi có hang trên X quang là 10/42 bệnh nhân (23,81%) Trần Anh Huy (2017) nghiên cứu 43 BN lao phổi mới có hang trên phim X quang cũng cho kết quả tương tự, hội chứng hang
Trang 6chỉ gặp11,62%/43 BN lao phổi mới có
hang trên phim X quang Điều này có
nghĩa có nhiều trường hợp bệnh nhân
có tổn thương hang trên phim nhưng không phải trên lâm sàng lúc nào cũng phát hiện được hội chứng hang.
Bảng 5 Mối liên quan giữa triệu chứng toàn thân với mức độ tổn thương trên
X quang phổi chuẩn sau 2 tháng điều trị
Hình ảnh
XQ
Lâm sàng
Mức độ hẹp n=54
Mức độ vừa n=15
Mức độ rộng
Ở những BN tổn thương diện vừa
có triệu chứng gầy sút cân là 100%, diện
hẹp và diện rộng gầy sút cân là tương
đương (66, 7% và 77,8%), khác biệt có ý
nghĩa, p<0,05 Trần Anh Huy (2017), tìm
hiểu mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng
với X quang phổi chuẩn cho thấy các triệu
chứng sốt, mệt mỏi, ra mồ hôi trộm, gầy sút
cân gặp nhiều ở những bệnh nhân có diện
tổn thương rộng hơn những bệnh nhân có
diện tổn thương vừa và hẹp, tuy nhiên sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Các triệu chứng lâm sàng nói chung
và các triệu chứng toàn thân nói riêng ở bệnh nhân lao phổi thường nghèo nàn, thậm chí không tương xứng với mức độ tổn thương, có bệnh nhân bị lao phổi nặng nhưng vẫn không phát hiện được vì không
có biểu hiện triệu chứng lâm sàng
Bảng 6 Mối liên quan giữa triệu chứng lâm sàng với kết quả xét nghiệm AFB đờm sau 2 tháng điều trị
AFB
Lâm sàng
AFB (3+) n=14
AFB (2+) n=14 AFB (1+)
n=34 AFB < (1+) n=16 p
Hội chứng
Trang 7Nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa các triệu
chứng lâm sàng với kết quả xét nghiệm
AFB đờm, p > 0,05 Nghiên cứu của
chúng tôi khác với nghiên cứu của Đặng
Đình Hiến (2010), tác giả nghiên cứu khi
so sánh các triệu chứng lâm sàng giữa hai
nhóm lao phổi AFB dương tính và nhóm
lao phổi AFB âm tính đã cho thấy các triệu chứng sốt, gầy sút cân, mệt mỏi, chán ăn gầy sút cân gặp ở nhóm lao phổi có kết quả xét nghiệm AFB dương tính nhiều hơn ở nhóm lao phổi có xét nghiệm AFB đờm
âm tính, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) [43]
Bảng 7 Liên quan giữa tổn thương hang trên X quang với AFB đờm sau 2 tháng điều trị
Hình ảnh XQ AFB
Có hang n=42
Không có hang
0,120
Số bệnh nhân có tổn thương hang
trên X quang phổi giảm theo mức độ dương
tính của AFB đờm, cụ thể kết quả xét
nghiệm đờm có 14 bệnh nhân có AFB đờm
dương tính 3+ có 10 bệnh nhân (23,81%)
có tổn thương hang trên X quang phổi; 14
bệnh nhân có AFB đờm dương tính 2+, có
10 bệnh nhân (23,8%) có hang trên phim
X quang; 34 bệnh nhân xét nghiệm AFB
dương tính 1+, có 16 bệnh nhân (38,1%)
có hang trên X quang phổi, 16 bệnh nhân
có xét nghiệm AFB dương tính < 1+, có
6 bệnh nhân (14,3%) Như vậy giữa các
mức độ AFB dương tính chúng tôi không
thấy có sự khác biệt về tổn thương hang
trên phim X quang phổi ở các bệnh nhân
nghiên cứu (p > 0,05) Có thể do cỡ mẫu của chúng tôi chưa đủ để thống kê có ý nghĩa Nghiên cứu của chúng tôi khác với Trần Anh Huy (2017), khảo sát mối liên quan giữa mức độ AFB đờm dương tính với tổn thương hang trên phim X quang phổi ở 76 bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới cho thấy số lượng hang có liên quan tới mức độ AFB dương tính Những bệnh nhân có hang đường kính nhỏ hơn 4cm trên phim X quang phổi chủ yếu gặp nhiều bệnh nhân có AFB dương tính 1+, ngược lại những bệnh nhân có đường kính hang trên phim X quang lớn hơn 4cm gặp nhiều
ở bệnh nhân có mức độ AFB dương tính 2+ và 3+
Trang 8Bảng 8 Mối liên quan giữa diện tổn thương trên X quang với AFB đờm sau 2 tháng điều trị
X quang
AFB
Mức độ hẹp
0.079
Mức độ tổn thương trên X quang
diện hẹp gặp số bệnh nhân có AFB dương
tính 1+ nhiều hơn số bệnh nhân có AFB
dương tính 2+, 3+ (50,0% lần lượt so với
22,22%, 11,11%, 16,66%), khác biệt không
có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ở những
bệnh nhân có diện tổn thương vừa và rộng
chúng tôi gặp số lượng bệnh nhân có AFB
dương tính < 1+, 1+, 2+, 3+ tương đương
nhau, không có sự khác biệt giữa mức độ
tổn thương vừa và rộng trên phim X quang
phổi với mức độ dương tính AFB đờm (p > 0,05) Trần Anh Huy (2017) tìm hiểu mối liên quan giữa mức độ AFB dương tính với mức độ tổn thương trên phim chụp cắt lớp
vi tính ngực cho thấy mức độ AFB dương tính 1+ gặp nhiều ở mức độ tổn thương hẹp, mức độ AFB dương tính 2+, 3+ lại gặp nhiều ở mức độ tổn thương rộng, tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 9 Mối liên quan giữa mức độ tổn thương trên X quang với cải thiện triệu chứng lâm sàng sau 2 tháng điều trị
X quang
Lâm sàng
Mức độ hẹp n=54
Mức độ vừa n=15
Mức độ rộng
Nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ tổn
thương trên X quang với sự cải thiện triệu
chứng lâm sàng sau 2 tháng điều trị với p
> 0,05
KẾT LUẬN
* Biểu hiện các tác dụng không
mong muốn của thuốc
- Các biểu hiện tác dụng không mong muốn của thuốc chống lao sau 2 tháng điều trị được cải thiện rất tốt: thời
kỳ đầu điều trị có 64,1% bệnh nhân có biểu hiện tác dụng không mong muốn, sau điều trị 2 tháng chỉ còn 35,9% bệnh nhân,
Trang 9khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) Các tác
dụng phụ hay gặp nhiều nhất là mệt mỏi
(43,6%), sau 2 tháng điều trị chỉ còn 1,3%
* Mối liên quan giữa đặc điểm
lâm sàng với X quang phổi và AFB đờm:
- Có mối liên quan giữa triệu
chứng lâm sàng đau ngực, khó thở, hội
chứng hang với tính chất tổn thương, mức
độ tổn thương trên X quang ngực, những
bệnh nhân có tổn thương hang trên phim
có tỷ lệ đau ngực chiếm 14,2%; khó thở
chiếm tỷ lệ 26,19% Nghe phổi phát hiện
hội chứng hang trên bệnh nhân có tổn
thương hang trên phim là 23,81%
- Các triệu chứng ho, hội chứng
đông đặc ở những bệnh nhân có hang và
không có hang trên X quang không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê Tất cả bệnh
nhân có tổn thương diện vừa trên phim X
quang đều gầy sút cân
- Chưa thấy sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa các triệu chứng lâm
sàng như ho, sốt, gầy sút cân, hội chứng
hang với mức độ AFB đờm (+) cũng như
mối liên quan giữa hình ảnh tổn thương
hang trên phim với mức độ AFB đờm (+)
vào thời điểm trước điều trị
- Sau 2 tháng điều trị nhóm các
bệnh nhân nghiên cứu cũng không thấy sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ
tổn thương trên phim X quang phổi với sự
cải thiện các triệu chứng lâm sàng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chesnutt M.S, Prendergast T.J
(2016), “Pulmonary tuberculosis”, Pulmonary
disorders, Current Medical Diagnosis and
Treatment, Ed by Papadakis M.A, McGraw –
Hill, New York, pp 242– 279
2 Bộ Y tế (2009), Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh lao, Bộ Y tế
3 Chương trình chống lao quốc gia (2016), Báo cáo tổng kết Hoạt động trình chống lao năm 2015 và phương hướng hoạt động năm 2016, Bộ Y tế
4 Hopewell.PC, Maeda MK, Ernst JD (2016), “Tuerculosis”, Murray and Nadel’ Textbook of Respiratory Medicine, 6th
ed ELSEVIER Saunders, Philadelphia, pp 593- 628
5 Nguyễn Tuyết Phong (2008), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình hình chẩn đoán lao phổi tại bệnh viện lao và bệnh phổi tỉnh Hà Giang, Luận văn thạc sĩ y học, Học viện Quân Y, Hà Nội
6 Đặng Đình Hiến (2010), Nghiên cứu đáp ứng điều trị của phác đồ 2SHRZ/6HE giai đoạn tấn công trong lao phổi mới tại bệnh viện lao và bệnh phổi Bắc Ninh, Luận văn thạc
sĩ y học, Học viện Quân y, Hà Nội
7 Nguyễn Thị Hậu (2015), Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng, tỷ lệ kháng thuốc và kết quả điều trị tấn công ở bệnh nhân lao phổi tái phát, Luận văn thạc sĩ y học, Học viện Quân Y, Hà Nội
8 Trần Anh Huy (2017), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, chụp cắt lớp vi tính ngực ở bệnh nhân lao phổi mới AFB dương tính và lao phổi tái phát, Luận văn thạc
sĩ y học, Học viện Quân y, Tp Hồ Chí Minh
9 Thân Minh Khương (2016), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kháng rifampicin ở bệnh nhân lao phổi tái phát
và thất bại điều trị tại Bắc Giang, Luận văn thạc
sĩ y học, Học viện Quân y, Hà Nội