1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân trường hợp sốc nhiễm khuẩn do nhiễm não mô cầu suy đa cơ quan điều trị thành công tại Bệnh viện Quân y 211 và Bệnh viện Quân y 175

8 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 313,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh nhiễm ,não mô cầu là một bệnh truyền nhiễm gây dịch, do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra, lâm sàng thường gặp là viêm màng não mủ và/hoặc nhiễm khuẩn huyết, có thể gây sốc dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Trang 1

1 Bệnh viện Quân Y 175

2 Bệnh viện Quân Y 211

Người phản hồi (Corresponding): Trương Đình Cẩm (truongcam1967@gmail.com)

Ngày nhận bài: 20/8/2018, ngày phản biện: 05/9/2018

Ngày bài báo được đăng: 30/9/2018

NHÂN TRƯỜNG HỢP SỐC NHIỄM KHUẨN DO NHIỄM NÃO

MÔ CẦU SUY ĐA CƠ QUAN ĐIỀU TRỊ THÀNH CÔNG TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 211 VÀ BỆNH VIỆN QUÂN Y 175

Trương Đình Cẩm 1 , Vũ Đình Ân 1 , Nguyễn Tuấn Phương 1 ,

Trần Trí 2 , Lê Văn Tuấn Anh 2

Bệnh nhiễm ,não mô cầu là một bệnh truyền nhiễm gây dịch, do vi khuẩn

Neisseria meningitidis gây ra, lâm sàng thường gặp là viêm màng não mủ và/hoặc nhiễm khuẩn huyết, có thể gây sốc dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm

và điều trị kịp thời. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp, chủ yếu xảy ra vào mùa đông xuân, trong khu vực tập thể đông người Trong vụ dịch xảy ra tại Quân đoàn 3, dưới

sự chỉ đạo trực tiếp của Cục Quân y, bệnh viện Quân y 211 đã phối hợp với bệnh viện Quân y 175 tổ chức cấp cứu và điều trị tốt cho tất cả các bệnh nhân, không trường hợp nào tử vong Đặc biệt, chúng tôi đã sử dụng các biện pháp kỹ thuật hồi sức công nghệ cao điều trị thành công trường hợp sốc nhiễm khuẩn do não mô cầu ngay tại bệnh viện Quân y 211

Từ khóa: Bệnh viện Quân y 175, bệnh viện Quân y 211, sốc nhiễm khuẩn do não

mô cầu

MENINGOCOCCAL DISEASE:

A CASE REPORT WITH MULTI-ORGAN FAILURE AND SEPTIC SHOCKAT MILITARY HOSPITAL 211 AND MILITARY HOSPITAL 175

Meningococcal disease is an infectious disease caused by Neisseria meningitidis,

a common disease of meningococcal and/or septicemia, which can lead to death if not diagnosed early and treated promptly This disease is transmitted by the respiratory tract,

Trang 2

mainly in winter, in crowded collective During the outbreak of Corps No.3, under the direct guidance of the Military Medical Department, Military Hospital 211 coordinated with Military Hospital 175 to provide emergency care and treatment to all patients, no case of death In particular, we used high-tech resuscitation techniques that successfully treated a case of meningococcal septic shock at 211 Military Hospital

Key words: Military Hospital 175, Military Hospital 211, meningococcal septic shock.

CA LÂM SÀNG

Họ tên bệnh nhân: Lê Hữu Th

SN: 1994

Đơn vị: eBB 166/Quân đoàn 3

Chẩn đoán: Viêm màng não – Sốc

nhiễm khuẩn do nhiễm não mô cầu, suy đa

cơ quan

Bệnh sử và điều trị:

Bệnh nhân (BN) khởi phát bệnh

từ ngày 05.6.2018 với biểu hiện: Đột ngột

sốt cao, đau đầu, buồn nôn, cứng gáy,

ban xuất huyết rải rác ngoài da BN được

Quân y đơn vị nhận định là nhiễm khuẩn

do não mô cầu, được tiêm tĩnh mạch 2g

Ceftriaxone và chuyển ngay tới bệnh viện

Quân y 211(BvQy211) lúc 01 giờ 30 ngày

06.6.2018 Tình trạng BN lúc nhập viện: lơ

mơ, tiếp xúc được nhưng chậm, sốt 38,50C,

ngoài da nhiều ban xuất huyết, rải rác có

các ban có dấu hiệu hoại tử trên nền da tái

và lạnh, gáy cứng, BN vẫn tự thở: 20 lần/

phút, SpO2: 96%, mạch: 150 ck/phút, HA:

70-80/40 mmHg, vô niệu BN được hội

chẩn cấp cứu và nhận định là viêm màng

não, theo dõi sốc nhiễm khuẩn Được xử

trí: chuyển cách ly tại đơn vị hồi sức cấp

cứu - khoa nội A4, thở oxy 5 lít/phút, đặt 2 đường truyền trong đó có đường tĩnh mạch dưới đòn phải, xét nghiệm cấp cứu theo quy trình, truyển 800ml HTM 0,9%, phối hợp 3 kháng sinh: Cetriaxone 2g, TTM mỗi

12 giờ; Ciprofloxacin 0,2/ lọ TTM mỗi 12 giờ; Metronidazole 0,5/lọ, TTM mỗi 12h; Solumedrol 40mg/lọ, TMC mỗi 12h, kết hợp sử dụng thêm Dopamin liều 5-10mcg/ kg/phút… BN đáp ứng kém với điều trị, tình trạng suy đa cơ quan tiến triển, nổi bật

là tình trạng rối loạn huyết động, suy thận cấp, rối loạn đông máu nặng, báo cáo Cục Quân y và xin sự hỗ trợ từ tuyến sau Kết quả các xét nghiệm cấp cứu:

BC: 36.700 c/mm3, N: 91%

HC: 2.890.000 c/mm3; Hb: 8,4g/ dL; Hct: 29%; TC: 4000 c/mm3

Tỷ lệ Prothrombin: 15%;

TCK: 45sec; Fibrinogen: 1.04 g/L

Ure: 13 mmol/L; Creatinin: 195 µmol/L; ALT/AST: 56/74 U/L

Billirubin TP/TT: 115/32 µmol/L; PCT: 21 ng/ml

Siêu âm: Dịch màng phổi 2 bên lượng vừa, ít dịch tự do trong ổ bụng

Trang 3

XQTP: Phổi sáng, mờ góc sườn

hoành 2 bên

Dịch não tủy: đục kèm theo màu

hồng,

BC: 700/mm3 (N: 90%), HC:

350.000/mm3

Glucose 3,9 mmol/L, Protein: 4

g/L, Rivalta: (+)

PCR dịch não tủy: Mô não cầu

typ B

12 giờ ngày 06.6.2018, hội chẩn

cấp cứu trực tiếp giữa BvQy 211 với Tổ

công tác của BvQy175 kết luận: Viêm

màng não – Sốc nhiễm khuẩn do nhiễm

não mô cầu, suy đa cơ quan, đặc biệt rối

loạn đông máu nặng theo dõi DIC và xuất

huyết não

Xử trí tiếp theo:

Tiếp tục oxy liệu pháp, sẵn sàng

thông khí xâm nhập khi có chỉ định

Dùng Noradrenaline kết hợp

Dobutamine để kiểm soát huyết động

Dùng Meropenem 2g/8 giờ và

Levofloxacin 0,5/12 giờ thay cho cặp

kháng sinh Ceftriaxone và Ciprofloxacin,

ngừng Solumedrol

Truyền huyết tương tươi đông

lạnh 15ml/kg, kết hợp truyền khối hồng

cầu cùng nhóm, vitamin K, trong khi huy

động máu tươi mới toàn phần và khối tiểu

cầu từ các chiến sĩ và người thân của bệnh

nhân

Nuôi dưỡng sớm, tích cực qua

sonde dạ dày kết hợp đường tĩnh mạch…

Theo dõi sát và hội chẩn mỗi 6 giờ/lần hoặc khi có bất thường

Tiên lượng: rất nặng, nguy cơ suy

đa cơ quan tiến triển, đặc biệt là tình trạng xuất huyết nội tạng, tỷ lệ tử vong rất cao

Sau xử trí như trên, BN có đáp ứng một phần về huyết động Tuy nhiên, các tổn thương gan, thận và rối loạn đông máu không cải thiện nhiều, BN có biểu hiện suy hô hấp tiến triển Hội chẩn lúc 20h ngày 06.6.2018 quyết định:

Tiếp tục hồi sức tích cực tại BvQy

211, bổ sung các biện pháp: thông khí xâm nhập, truyền máu tươi mới toàn phần, chỉ định lọc máu liên tục (CRRT)

Báo cáo Cục Quân y và Giám đốc BvQy 175, xin tăng cường thêm lực lượng

và trang thiết bị để thực hiện CRRT

09 giờ ngày 07.6.2018, BN được tiến hành CRRT và hội chẩn đánh giá sau mỗi 6 giờ BN có đáp ứng tốt với điều trị, tình trạng suy đa cơ quan dần hồi phục Sau CRRT 24 giờ, BN đã không cần phải dùng thuốc vận mạch, thận hồi phục hoàn toàn, không còn tình trạng chảy máu rỉ rả tại các nơi tiêm truyền Kết quả các xét nghiệm đều cải thiện tốt, đặc biệt: Ure/ Creatinin về bình thường, TC: 11.000 c/

mm3, tỷ lệ prothrombin: 61%, fibrinogen: 3,46 g/L Hội chẩn quyết định tiếp tục duy trì các biện pháp hồi sức tích cực, CRRT, xem xét cai thở máy sớm Sau CRRT 80 giờ, BN đã hoàn toàn thoát sốc, đã thôi thở máy và rút được ống nội khí quản, BN chỉ

Trang 4

còn tình trạng sốt nhẹ, BC: 26-30.000 c/

mm3, yếu nhẹ chân phải Nhận định BN

ở pha 2 của sốc nhiễm khuẩn do nhiễm

não mô cầu (giai đoạn bội nhiễm, không

cần phải cách ly, cần được tầm soát toàn

diện hơn và điều trị với các biện pháp hữu

dụng hơn, bệnh nhân có thể vận chuyển

được) nên đã hội chẩn liên viện và quyết

định chuyển bệnh nhân về BvQy 175 điều

trị BN được kíp bác sĩ và điều dưỡng của

BvQy 175, BvQy 211 vận chuyển bằng

ô tô đi liên tục trong thời gian 08 giờ 30

phút Đến 22h15 ngày 12.6.2018, bệnh

nhân được đưa về tới BvQy 175 an toàn

BN được làm các xét nghiệm cấp cứu bổ

sung, trong đó có chụp CT scanner sọ não,

chọc lấy dịch não tủy, chọc lấy dịch màng

phổi để làm xét nghiệm và tiến hành hội

chẩn ngay

Kết luận của hội chẩn: Viêm màng

não – Nhiễm khuẩn huyết do mô não cầu

biến chứng sốc nhiễm khuẩn, suy đa cơ

quan điều trị ngày thứ 6 Hiện tại suy đa

cơ quan đang ở giai đoạn thoái lui, bệnh

nhân có biểu hiện bội nhiễm, xuất huyết

não vùng thái dương và tiểu não bên trái

đang giai đoạn hấp thu

BN tiếp tục được theo dõi và điều

trị tại khoa Hồi sức tích cực – A12 Ngày

21.6.2018 bệnh nhân ổn định và được

chuyển khoa A4 điều trị tiếp

BÀN LUẬN Đặc điểm về bệnh do vi khuẩn

não mô cầu:

Vi khuẩn não mô cầu (tên tiếng

anh: Neisseria meningitidis, còn gọi

là meningococcus) Dựa vào những kháng

nguyên polyozit, người ta đã phát hiện 13 typ huyết thanh; hay gây bệnh là A, B, C,

X, Y và Z và W-135 Ở Việt Nam, typ A,

B và C thường gặp nhất Vi khuẩn não mô cầu thường ở dạng 2 tế bào cạnh nhau như 2 hạt cà phê, gram (-), thường nằm trong bào tương của bạch cầu đa nhân Sức đề kháng của vi khuẩn não mô cầu rất yếu, mặc dù

ở trong dịch não tuỷ nhưng vi khuẩn cũng chỉ sống được vài giờ khi ra ngoài cơ thể

và sẽ bị diệt ở nhiệt độ 560C trong 30 phút hoặc 600C trong 10 phút, nhưng vi khuẩn vẫn có thể sống được ở -200C

Bệnh nhiễm não mô cầu là một bệnh truyền nhiễm gây dịch, do vi khuẩn

Neisseria meningitidis gây ra Biểu hiện

lâm sàng thường gặp là viêm màng não mủ và/hoặc nhiễm khuẩn huyết, có thể gây sốc dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do hít phải các giọt nhỏ

dịch tiết mũi họng bị nhiễm Neisseria

meningitidis, khả năng lây truyền sẽ tăng

nếu có đồng nhiễm cùng các vi rút đường

hô hấp Bệnh xảy ra rải rác hoặc thành dịch

ở nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu vào mùa đông xuân Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thường gặp nhất là trẻ dưới 5 tuổi, thanh thiếu niên từ 14 đến 20 tuổi, những người sống trong khu vực tập thể đông người (nhà trẻ, trường học, chung cư v.v….) và các cơ địa suy giảm miễn dịch Châu Phi cận Sahara là nơi có các vụ dịch lớn xảy ra: vụ dịch 1996-1997 có 250.000 ca mắc

Trang 5

và 25.000 ca tử vong, vụ dịch năm 2009 tại

14 nước châu Phi với 88.199 người mắc và

5.352 người tử vong Ở Việt Nam, thỉnh

thoảng vẫn có các vụ dịch lẻ tẻ ở các địa

phương, riêng năm 1977 vụ dịch ở Thành

phố Hồ Chí Minh có 1015 ca mắc, do não

mô cầu nhóm C gây ra Từ 2012 đến 2016

cả nước có 650 ca mắc, tử vong 25 ca

Năm 2018 tính đến 31/5 cả nước có 10 ca

dương tính mô não cầu, tử vong 01 ca

Nguồn lây: người bệnh và người

lành mang vi khuẩn là nguồn chứa duy

nhất, ước tính có khoảng 10 – 20% dân số

mang vi khuẩn não mô cầu tại hầu họng

mà không có triệu chứng lâm sàng, tỷ lệ

này có thể tăng đến 40 – 50% trong các

vụ dịch

Về chẩn đoán:

+ Chẩn đoán ca bệnh lâm sàng:

Dựa vào yếu tố dịch tễ: Có tiếp

xúc với bệnh nhân hoặc sống trong tập thể

(trường học, ký túc xá, doanh trại,…) có

người đã được xác định bị mắc bệnh do

não mô cầu

Dựa vào lâm sàng:

Thời kỳ ủ bệnh trung bình là 4

ngày (2-10 ngày)

Biểu hiện nhiễm trùng rõ: Sốt cao

đột ngột, có thể có rét run, ho, đau họng,

mệt mỏi, nhức đầu

Dấu hiệu màng não - não: Đau đầu

dữ dội, buồn nôn, nôn, táo bón, gáy cứng,

(trẻ nhỏ có thể có tiêu chảy, thóp phồng và

gáy mềm) Rối loạn ý thức, li bì, kích thích

vật vã, có thể có co giật, hôn mê

Ban xuất huyết hoại tử hình sao, xuất hiện sớm và lan nhanh, thường gặp ở hai chi dưới

Tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc nặng, nhanh chóng vào tình trạng sốc: Mạch nhanh, HA hạ hoặc HA kẹt (hiệu số huyết áp tâm thu – tâm trương < 20mmHg), thiểu niệu, vô niệu, đông máu nội mạch rải rác, suy thượng thận, suy đa tạng và có thể

tử vong nhanh trong vòng 24h

+ Chẩn đoán xác định ca bệnh: Là

ca bệnh lâm sàng, có kèm theo xác định được vi khuẩn gây bệnh bằng một trong các xét nghiệm sau:

Soi thấy song cầu gram (-), cấy

phân lập được N.meningitidis trong dịch

não tủy

Cấy máu phân lập được

N.meningitidis

Soi và cấy phân lập được

N.meningitidis trong tử ban

PCR (+) với N.meningitidis trong

dịch não tủy, máu, tử ban (nếu có điều kiện làm xét nghiệm)

+ Chẩn đoán phân biệt:

Bệnh do liên cầu lợn, nhiễm khuẩn huyết do các vi khuẩn khác, sốt xuất huyết dengue, viêm màng não mủ do căn nguyên khác

Về điều trị:

Nguyên tắc chung: chẩn đoán sớm

ca bệnh, sử dụng kháng sinh sớm, hồi sức

Trang 6

tích cực và cách ly bệnh nhân

Điều trị cụ thể bao gồm các biện

pháp: Chọn một trong các kháng sinh sau:

Penicillin G: 20 – 30 triệu UI (đơn

vị quốc tế)/ngày, truyền tĩnh mạch liên tục

hoặc tiêm tĩnh mạch 2 - 4giờ/lần Trẻ em

200.000-300.000UI/kg/ngày

Ampicillin: 2g/lần, tiêm tĩnh

mạch 6h/lần Trẻ em 200-250 mg/kg/ngày

Cefotaxim: 2g/lần, tiêm tĩnh mạch 6giờ/

lần Trẻ em 200- 300mg/kg/ngày

Ceftriaxon: 2g/lần, tiêm tĩnh

mạch12h/lần Trẻ em 100mg/kg/ngày

Nếu dị ứng với các kháng sinh

nhóm Betalactamin:

Chloramphenicol 1g, dùng 2-3g/

ngày, trẻ em từ 50-100mg/kg/ngày (nếu

còn tác dụng)

Ciprofloxacin 400 mg/lần, truyền

tĩnh mạch 2 lần/ngày Trẻ em 15 mg/kg/lần

truyền tĩnh mạch x 2 lần /ngày

Thời gian điều trị kháng sinh tối

thiểu từ 7 – 14 ngày hoặc 4 – 5 ngày sau

khi bệnh nhân hết sốt, tình trạng huyết

động ổn định, xét nghiệm dịch não tuỷ

bình thường (đối với viêm màng não mủ

do Não mô cầu)

Các biện pháp điều trị hỗ trợ khác:

hạ sốt, an thần, chống phù não, đảm bảo hô

hấp, hồi sức tuần hoàn, lọc máu liên tục…

Phòng bệnh:

Các biện pháp phòng bệnh chung:

Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân: rửa tay

thường xuyên bằng xà phòng, súc miệng họng bằng các dung dịch sát khuẩn mũi họng thông thường Thực hiện tốt vệ sinh nơi ở, thông thoáng nơi ở, nơi làm việc

Có thể tiêm vắc xin phòng bệnh Khi phát hiện có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh cần đi khám tại các cơ sở khám chữa bệnh càng sớm càng tốt

Phòng bệnh trong bệnh viện: Cách

ly bệnh nhân, đeo khẩu trang khi tiếp xúc hoặc chăm sóc người bệnh, quản lý và khử khuẩn đồ dùng và chất thải của bệnh nhân, dịch tiết mũi họng của bệnh nhân Có thể

sử dụng thuốc dự phòng cho nhân viên y tế

và người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân

Phòng bệnh đặc hiệu: tiêm vắc xin cho trẻ nhỏ theo chương trình tiêm chủng

và uống thuốc azithromycine, rifampicin, Ciprofloxacin với những người có nguy cơ cao nhiễm não mô cầu

Về vụ dịch do não mô cầu tại eBB

166, Quân đoàn 3:

Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn não

mô cầu typ B

Khởi phát nhanh với các biểu hiện lâm sàng tương đối đặc trưng như: sốt, đau họng, ho, đau đầu, buồn nôn, cứng gáy và ban xuất huyết hoại tử

Trong số 16 trường hợp được đưa

về bệnh viện Quân y 211 đều là chiến sĩ mới, đang giai đoạn huấn luyện tân binh, lứa tuổi: 20-21 tuổi, và ở cùng 1 đại đội

Có 3 trường hợp nặng là viêm màng não do não mô cầu điển hình cả trên

Trang 7

lâm sàng và xét nghiệm dịch não tủy có

não mô cầu typ B

Trường hợp nặng nhất (ca lâm

sàng báo cáo) có kết hợp nhiễm khuẩn

huyết diễn biến sốc nhiễm khuẩn rất nhanh

với biểu hiện suy đa cơ quan, rối loạn đông

máu nặng

Về công tác điều trị, dự phòng

tại Quân y Quân đoàn 3:

Tổ chức cách ly và dự phòng:

Ngay khi phát hiện ổ dịch, Quân

y Quân đoàn 3 đã tổ chức đoàn cán bộ y,

bác sĩ xuống đơn vị kết hợp với lực lượng

Quân y tại chỗ tiến hành khoanh vùng và

lập biển báo cách ly, phát thông báo thường

xuyên trên phương tiện truyền thông để

toàn thể đơn vị cũng như người dân địa

phương được biết và thực hiện tốt

Quân nhân trong khu vực đóng

quân có dịch đều được uống thuốc phòng

Tất cả các BN có dấu hiệu sốt đều được bố

trí ở 1 khu riêng biệt, có nhân viên Quân y

theo dõi và chăm sóc đặc biệt

Các BN nặng được đưa về BvQy

211 đều được cách ly tại 1 khu riêng biệt

tại khoa Nội A4, kể cả trường hợp đã có

biểu hiện sốc nhiễm khuẩn, có biển thông

báo khu cách ly đặc biệt, chỉ những nhân

viên y tế có nhiệm vụ mới được phép vào

Tất các nhân viên y tế, các cán

bộ có nguy cơ cao đều được uống 2 viên

Azithromycin 0,25 Thực hiện đội mũ, đeo

mạng, mang găng và rửa tay nhanh trước

và sau khi thăm khám người bệnh

Thường xuyên báo cáo Cục Quân

y và y tế địa phương về diễn biến vụ dịch

Tổ chức điều trị:

Tất cả các BN có sốt chưa được chuyển về BvQy 211 đều được cách ly và cho dùng kháng sinh Cefotaxim 6g/ngày

x 5 ngày

Tất cả các BN được đưa về BvQy 211 đều được truyền tĩnh mạch ngay Ceftriaxone 2g mỗi 12 giờ hoặc Cefotaxime 2g mỗi 8 giờ

Đối với BN nặng đã có biến chứng sốc nhiễm khuẩn, suy đa cơ quan: BN vẫn được cách ly tại đơn vị hồi sức cấp cứu của khoa Nội A4 Thành lập Tổ điều trị và

săn sóc đặc biệt (bao gồm: PGĐ Nội, TK

Nội A4 và BS khoa Hồi sức tích cực của BvQy 211 và các chuyên gia đến từ BvQy 175) do Giám đốc BvQy 211 trực tiếp chỉ

đạo BN được đáp ứng tốt nhất về thuốc và trang thiết bị, được theo dõi, chăm sóc đặc biệt, điều trị toàn diện, hội chẩn chuyên môn mỗi 6 giờ/lần và khi có bất thường nên đã kịp thời có các biện pháp can thiệp đúng lúc và hiệu quả cao như: truyền huyết tương tươi 15ml/kg, truyền máu tươi mới

cùng nhóm (do không có khối tiểu cầu

và máu tươi có thể huy động được ngay

từ các chiến sĩ), can thiệp thông khí xâm

nhập, điều chỉnh thuốc vận mạch…, đặc biệt là thời điểm quyết định bắt đầu và kết thúc CRRT, quyết định vận chuyển BN về BVQY 175

Trang 8

KẾT LUẬN

Quân y đơn vị ngoài việc kiểm

tra, giám sát phòng dịch thường xuyên thì

phải luôn luôn có phương án xử lý khi có

dịch bệnh, phải tổ chức tập huấn xử lý tình

huống giả định để nhân viên Quân y thành

thạo với các công việc, không bị động

Kịp thời báo cáo tình hình với Cục

Quân y để có sự chỉ đạo thống nhất trong

xử lý vụ dịch, huy động được tối đa nhân

lực, phương tiện y tế từ các đơn vị Quân

y trong toàn quân Tổ công tác tăng cường

cần duy trì liên lạc thường xuyên với các

chuyên gia để có các tư vấn sát với tình

hình thực tế

Trong xử lý vụ dịch luôn tôn trọng

nguyên tắc cách ly ổ dịch, người bệnh Tốt

nhất nên huy động nhân lực, phương tiện

y tế triển khai cấp cứu và điều trị tại chỗ

Đối với các trường hợp BN nặng, cần phải theo dõi, chăm sóc tích cực, duy trì nghiêm chế độ hội chẩn chuyên môn,

tham vấn ý kiến chuyên gia (trực tiếp hoặc

gián tiếp) để phát huy tối đa hiệu quả trong

chẩn đoán và điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Quyết định số 975/QĐ-BYT ngày 29.3.2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về:

“Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nhiễm Não mô cầu”

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch

tễ học nhiễm Não mô cầu tại các đơn vị quân đội khu vực miền Bắc từ 2008 –

2014 Viện Y học dự phòng quân đội 2016

Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm năm 2007

Ngày đăng: 27/10/2020, 14:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w