Mô tả cơ cấu lượt điều trị nội trú các rối loạn tâm thần ở bệnh nhân quân, tìm hiểu mối liên quan giữa số lượt nằm viện của các nhóm bệnh tâm thần với một số yếu tố để xây dựng kế hoạch chăm sóc điều trị và cung cấp các dịch vụ y tế trong những năm tiếp theo.
Trang 11 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Đặng Trần Khang (bskhangv175@gmail.com )
Ngày nhận bài: 11/9/2018, ngày phản biện: 25/9/2018
Ngày bài báo được đăng: 30/3/2019
KHẢO SÁT CƠ CẤU LƯỢT ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN QUÂN
TẠI KHOA TÂM THẦN- BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
Đặng Trần Khang 1 , Nguyễn Văn Ca 1 , Trần Quốc Việt 1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả cơ cấu lượt điều trị nội trú các rối loạn tâm thần ở bệnh nhân quân, tìm hiểu mối liên quan giữa số lượt nằm viện của các nhóm bệnh tâm thần với một số yếu tố để xây dựng kế hoạch chăm sóc điều trị và cung cấp các dịch vụ y tế trong những năm tiếp theo.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Khảo sát 292 bệnh án của quân nhân mắc bệnh tâm thần trong năm: 2016; 2017 và 6 tháng đầu năm 2018 bằng phương pháp
mô tả cắt ngang, hồi cứu
Kết quả: Số lượt bệnh tâm thần chiếm 1,7% so với tổng số lượt bệnh nhân quân vào điều trị nội trú tại Bệnh viện Bệnh tâm thần phân liệt có số lượt điều trị nội trú chiếm tỷ lệ cao nhất (34,25%), tiếp đó là bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất (14,04%) Các bệnh nhân thuộc nhóm F00-F09 (các rối loạn tâm thần thực tổn) có tổng ngày nằm điều trị dài nhất Nhóm tâm thần phân liệt, các rối loạn phân liệt và các rối loạn hoang tưởng và nhóm rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất có số lần nằm viện/bệnh nhân nhiều nhất.
Từ khóa: Rối loạn tâm thần
INVESTIGATE THE STRUCTURE OF INPATIENT TREATMENT TURNS OF PSYCHIATRIC DISORDERS IN MILITARY HOSPITAL 175
Trang 2Objectives: To describe the structure of treatment care for psychiatric disorders inpatients in military, explore the relationship between inpatient treatment turns and some other factors in order to improve treatment care plan and provide medical services
in the following years.
Subjects and research methodology: This study is a descriptive cross-sectional retrospective method, which based on 292 soldiers' medical records with psychiatric disorders in 2016, 2017, and the first six months of 2018.
Results: It is shown that the rate of psychiatric disorders inpatients is 1,7 % compare to the total inpatient treatment turns of the troops Schizophrenia had the greatest rate of inpatient treatment turns (34,25%), meanwhile the next highest rate
is mental and behavioral disorders due to psychoactive substance's uses (14,04%) Patients that belong to group F00-F09 (including symptomatic, mental disorders) had the longest total treatment time The Schizophrenia, Schizotypal delusional disorders, and behavioral disorders type due to psychoactive substance's uses had the most inpatients treatment turns.
Key words: Psychiatric disorder
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn tâm thần là bệnh lý thường
gặp, ước tính khoảng 1/3 dân số trên thế giới
đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán một rối loạn tâm
thần trong đời[5] Ở Việt Nam, số liệu điều
tra 10 bệnh tâm thần thường gặp ở cộng
đồng năm 2012 – 2013 cho thấy tỷ lệ mắc
là 14,2%[2] Theo số liệu thống kê của Tổ
chức Y tế Thế giới năm 2009, số rối loạn
tâm thần mới mắc tại Việt Nam là 40,292
người[7] Năm 2014, Bộ Y tế đặt bệnh lý
tâm thần- thần kinh (tâm thần phân liệt,
trầm cảm, các rối loạn do lạm dụng rượu,
bia và ma túy, động kinh) là một trong
những gánh nặng bệnh tật thách thức đối
với ngành y tế Việt Nam[1]
Hiện nay, việc quản lý điều trị các
bệnh nhân có rối loạn tâm thần tại các khoa, bệnh viện tâm thần chủ yếu liên quan đến thuốc, còn các liệu pháp như giáo dục, tâm
lý trị liệu còn hạn chế Vấn đề này thực
sự vẫn là một thách thức to lớn cho tuyến quân y các đơn vị
Khoa Tâm thần Bệnh viện Quân
y 175 có nhiệm vụ thu dung điều trị các bệnh nhân là quân nhân mắc bệnh tâm thần từ địa bàn quân khu V trở vào Hàng năm, tính riêng số bệnh nhân quân vào điều trị nội trú khoảng 100-120 lượt, với nhiều mặt bệnh đa dạng
Tìm hiểu cơ cấu lượt điều trị nội trú các rối loạn tâm thần là mô tả tỷ lệ phần trăm lượt nằm viện của các nhóm bệnh trong một giai đoạn nhất định, từ đó xác
Trang 3định nhóm bệnh, bệnh lý phổ biến là việc
làm cần thiết không chỉ cho việc xây dựng
kế hoạch chăc sóc điều trị, dự trù cung cấp
các dịch vụ y tế của bệnh viện trong tương
lai mà còn có giá trị thiết thực cho ngành
quân y trong công tác giám định sức khỏe
tâm thần Vì lý do trên, chúng tôi tiến hành
đề tài:
“Khảo sát cơ cấu lượt điều trị nội
trú các rối loạn tâm thần ở bệnh nhân quân
tại khoa Tâm thần- Bệnh viện Quân y 175
từ 01/01/2016-31/07/2018” nhằm mục
tiêu:
1 Mô tả cơ cấu lượt điều trị nội
trú các rối loạn tâm thần ở bệnh nhân quân
tại khoa Tâm thần- Bệnh viện Quân y 175
từ 01/01/2016 đến 30/06/2018
2 Tìm hiểu mối liên quan giữa số
lượt nằm viện của các nhóm rối loạn tâm
thần với một số yếu tố: số lần nằm viện,
nhóm tuổi, tổng số ngày nằm điều trị
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm
292 bệnh án bệnh nhân là quân nhân
điều trị nội trú tại khoa Tâm thần- Bệnh
viện Quân y 175- Bộ Quốc Phòng trong
03 năm: 2016; 2017 và 6 tháng đầu năm
2018 Trong đó năm 2016 là: 109 bệnh án; năm 2017 là: 118 bệnh án và 6 thàng đầu năm 2018 là : 65 bệnh án
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu
Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Tâm thần- Bệnh viện Quân y 175- Bộ Quốc Phòng năm 2016 (ra viện từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2016); năm 2017 (ra viện từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2017); 6 tháng đầu năm 2018 (ra viện từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/6/2018) được chẩn đoán có ít nhất một trong các rối loạn tâm thần ở tất
cả các mã (theo chương F, ICD- 10)[4]
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ Bệnh án không đủ thông tin thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán xác định các rối loạn tâm thần theo ICD -10
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang, hồi cứu hồ
sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú khoa Tâm thần- Bệnh viện Quân y 175-
Bộ Quốc Phòng trong 03 năm 2016; 2017
và 6 tháng đầu năm 2018
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu: lấy mẫu toàn bộ
Trang 4Cách chọn mẫu: Lấy toàn bộ hồ sơ
bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú năm
2016; 2017 và 6 tháng đầu năm 2018, thỏa
mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại
trừ
2.2.3 Công cụ thu thập thông tin
- Bệnh án điều trị của bệnh nhân
- Phiếu thu thập thông tin: gồm
các thông tin chung về đối tượng nghiên
cứu như tuổi, giới, đơn vị, ngày vào viện,
ngày ra viện, cấp bậc…, chẩn đoán khi ra
viện theo ICD-10, các bệnh lý kèm theo (tâm thần và cơ thể)
2.2.4 Xử lý và phân tích số liệu
Mã hóa dữ liệu thu thập được, nhập số liệu vào phần mềm Epi-info 7.0 Các số liệu được tính theo tỷ lệ phần trăm
So sánh giữa hai tỷ lệ, số liệu bằng test T- student, test χ2, giá trị p được tính để xác định sự khác biệt
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân nhóm đối tượng nghiên cứu theo tuổi
Đối tượng nghiên cứu Nhóm tuổi
< 0,001
Số lượt điều trị nội trú của các rối loạn tâm thần trong quân đội gặp ở lứa tuổi
từ 25 trở xuống chiếm tỷ lệ cao nhất (59,589%), trong khi đó lứa tuổi từ 46 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ thấp hơn cả (8,9%) Sự phân bố số lượt nằm viện lứa tuổi như trên khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p< 0,001) Nhiều bệnh lý tâm thần là bệnh mạn tính cần phải điều trị củng cố lâu dài, thậm chí suốt đời ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ ốm trại, đến nhiệm
vụ hàng ngày của các tuyến quân y đơn vị
Trang 5Bảng 3.2 Phân nhóm đối tượng nghiên cứu theo cấp bậc
Đối tượng Cấp bậc Quân số Tỷ lệ % P(1,2,3)
Cán bộ
SQ-QNCN
Cấp úy (1)
25,34
<0,001
Cấp tá (2)
14,33
Hạ sĩ
quan-chiến sĩ (3)
Hạ sĩ quan
12,33
Tổng
Bảng 3.2 cho thấy: rối loạn tâm thần gặp ở tất cả các đối tượng từ binh nhì đến đại tá Số lượt bệnh nhân là hạ sĩ quan, chiến sĩ chiếm tỷ lệ cao nhất (60,28%) Trong
đó tỷ lệ này ở cấp úy là 25,34%; cấp tá là 14,33%; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Điều này có ý nghĩa trong việc dự trù hoạch định việc đầu tư xây dựng các cơ
sở điều trị bệnh lý tâm thần trong quân đội
Trang 6Bảng 3.3 Phân nhóm đối tượng nghiên cứu theo đơn vị
Quân binh chủng
Bảng 3.3 cho thấy bệnh lý tâm thần gặp ở hầu hết các đơn vị thuộc tuyến điều trị của bệnh viện Quân y 175 trải dài từ miền trung, tây nguyên, đông nam bộ và nam bộ Trong khối quân khu, quân đoàn số lượt nằm viện của quân khu 9 thấp nhất, điều này là
do quân khu 9 có một khoa điều trị bệnh tâm thần tại bệnh viện 120, đa số các bệnh nhân được giữ lại điều trị, các trường hợp nặng mới chuyển bệnh viện Quân y 175 điều trị
Trang 7Bảng 3.4 Phân nhóm đối tượng nghiên cứu theo thời gian
Thời gian Số lượng lượt nằm viện Tỷ lệ % p
Năm 2016 6 tháng đầu (1) 49 16,78
>0,05 p(1,2)>0,05P(1,3)>0,05
P(2,3)>0,05
6 tháng sau 60 20,55 Năm 2017 6 tháng đầu(2) 61 20,89
6 tháng sau 57 19,52 Năm 2018 6 tháng đầu(3) 65 22,26
Bảng 3.4 cho thấy số lượt bệnh nhân tâm thần vào điều trị nội trú trong các khoảng thời gian 6 tháng: trong đó 6 tháng đầu năm 2016 chiếm tỷ lệ thấp nhất (16,78%),
6 tháng đầu năm 2018 chiếm tỷ lệ cao nhất (22,26%) Tuy vậy sự khác biệt này không
có ý nghĩa thống kê (p>0,05) So sánh số liệu 6 tháng đầu các năm 2016, 2017, 2018
ta thấy: số lượt bệnh nhân tâm thần điều trị nội trú 6 tháng đầu năm 2018 chiếm tỷ lệ cao hơn số lượt bệnh nhân tâm thần điều trị nội trú 6 tháng đầu năm 2016 Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05
3.2 Cơ cấu lượt điều trị nội trú rối loạn tâm thần ở bệnh nhân quân
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ lượt nằm viện của bệnh lý tâm thần so với số lượt nằm viện chung Biểu đồ 3.1 cho thấy khi so sánh với tổng số lượt bệnh nhân quân vào điều trị nội trú trong thời gian nghiên cứu, số lượt bệnh lý tâm thần điều trị tại khoa A6- Bệnh viện Quân y 175 chiếm 1,7% Tỷ lệ này rất thấp Điều này là dễ hiểu vì cán bộ chiến sĩ
Trang 8Hầu hết các bệnh lý tâm thần quân nhân mắc phải sau khi nhập ngũ.
Bảng 3.5 Số lượt điều trị nội trú của bệnh nhân quân có các rối loạn tâm thần
2 Rối loạn ám ảnh cưỡng bức 1 0,34
3 Rối loạn cảm xúc không biệt định 5 1,71
4 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực 4 1,37
5 Rối loạn cảm xúc phân liệt 3 1,03
7 Rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm 6 2,05
10 Rối loạn loạn thần cấp 41 14,04
11 Rối loạn loạn thần do sử dụng chất 2 0,68
12 Rối loạn loạn thần không thực tổn 5 1,71
14 Rối loạn tâm thần và hành vi do rượu 41 14,04
15 Rối loạn tâm thần/Động kinh 14 4,79
Bảng 3.5 cho thấy số lượt quân nhân mắc tâm thần phân liệt vào điều trị nội trú chiếm tỷ lệ cao nhất (34,25%) Kết quả này là phù hợp vì đây là một bệnh tương đối phổ biến[3] Theo Sdock B J và cộng sự, bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm khoảng 50% tổng số giường bệnh tâm thần[6], sự khác biệt này là do chúng tôi tiến hành thống kê trên bệnh nhân quân, còn Sdock B J đưa ra tỷ lệ trên dân số chung
Rối loạn tâm thần do sử dụng chất chiếm tỷ lệ khá cao: 14,72%, tỷ lệ số lượt nằm viện do rối loạn tâm thần và hành vi do rượu đứng vị trí số 2: 14,04% Đặc biệt năm
Trang 92018 đã có 04 trường hợp rối loạn tâm thần liên quan đến các chất ma tuý.
Tỷ lệ này trên thực tế còn cao hơn nhiều vì rất nhiều bệnh nhân nghiện độc chất điều trị ở các chuyên khoa khác như: tiêu hóa, chấn thương chỉnh hỉnh … vì khi vào viện điều trị các bệnh lý nội hoặc ngoại khoa, họ buộc phải ngừng uống rượu và hội chứng cai rượu sẽ xuất hiện
3.3 Liên quan số lượt nằm viện của bệnh lý tâm thần với một số yếu tố
Bảng 3.6 Phân bố cơ cấu lượt rối loạn tâm thần theo nhóm bệnh lý
Thời gian
Nhóm bệnh
6 tháng đầu năm 2016
6 tháng cuối năm 2016
6 tháng đầu năm 2017
6 tháng cuối năm 2017
6 tháng đầu năm 2018
p
>0,05
Bảng 3.6 cho thấy: số lượt nằm viện của bệnh nhân quân mắc các nhóm rối loạn tâm thần trong khoảng thời gian 6 tháng khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.7 Phân bố nhóm bệnh theo lứa tuổi
Chỉ số
Nhóm bệnh
Số lượt nằm viện
Chung Tuổi ≤25 Tuổi 26-35 Tuổi 36-45 Tuổi ≥46
Từ kết quả bảng 3.7, phân tích số lượt điều trị nội trú ta thấy: quân nhân trong
Trang 10nhóm F20-F29 có số lượt nằm viện nhiều nhất chủ yếu ở độ tuổi ≤25, điều này là do rối loạn này vốn mạn tính, hay tái phát nếu bệnh nhân không tiếp tục uống thuốc điều trị củng cố Kế đó là nhóm F10-F19 mà chủ yếu là sử dụng rượu bia đa số ở nhóm tuổi 36-45, đây là nhóm tuổi mà các rối loạn tâm thần và hành vi do rượu xuất hiện sau nhiều năm bệnh nhân sử dụng bia rượu Các nhóm bệnh rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu, rối loạn cảm xúc có số lượt nằm điều trị nội trú thấp hơn, sở dĩ mặc dù các rối loạn này vốn mạn tính nhưng tiên lượng nói chung nhẹ hơn, sau khi điều trị nội trú bệnh ổn định họ hợp tác trong điều trị ngoại trú, họ chỉ vào điều trị nội trú khi bệnh nặng hơn
Bảng 3.8 Phân bố nhóm bệnh theo ngày điều trị trung bình.
Chỉ số
Nhóm
bệnh
Ngày điều trị trung bình
p
Năm 2016 Năm 2017 6 tháng đầu năm 2018 Chung F00-F09 49,70± 53,30 58,17±45,34 94,50±84,15 57,67±50,48
<0,05
F40-F49 78,27±103,70 53,63±34,46 26,63±13,03 55,67±70,56
Bảng 3.8 cho thấy: Tổng số ngày nằm điều trị của bệnh nhân quân trung bình khá dài là 40,75±38,76 ngày Các bệnh nhân mắc chứng rối loạn giấc ngủ có số ngày nằm ngắn Nhóm bệnh nhân F00-F09 (các rối loạn tâm thần thực tổn) có tổng ngày nằm điều trị trung bình là 57,67±50,48 ngày
Trang 11Bảng 3.9 Phân bố nhóm bệnh theo số lần/bệnh nhân vào viện.
Chỉ số
Nhóm
bệnh
Số lần nhập viện Tổng số lượt
điều trị nội trú
01 lần 02 lần 03 lần ≥4 lần
Tổng số bệnh
Bảng 3.9 cho thấy: nhóm bệnh vào
điều trị nhiều lần chủ yếu gặp ở nhóm tâm
thần phân liệt, các rối loạn phân liệt và các
rối loạn hoang tưởng (F20-F29) và nhóm
rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng
chất tác động tâm thần (F10-F19) Nhóm
F10-F19 nằm nhiều lần (≥3 lần) là vì các
bệnh nhân nghiện rượu thường ở nhóm
tuổi cao hơn, họ hầu hết là cán bộ sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp- là đối tượng mà
các đơn vị gặp khó khăn trong giải quyết
chính sách theo thông tư 157/2013/BQP
Còn nhóm F20-F29 mặc dù là bệnh lý mạn
tính, hay tái phát, nhưng các quân nhân
mắc rối loạn này được giải quyết tốt theo
thông tư 157/2013/BQP nên họ không còn
công tác trong quân đội và được bệnh viện
tâm thần tuyến dân y điều trị
KẾT LUẬN
Nghiên cứu 292 lượt điều trị nội
trú trên 231 bệnh nhân quân nhân rối loạn
Quân y 175, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Số lượt bệnh lý tâm thần chỉ chiếm 1,7% so với tổng số lượt bệnh nhân quân vào điều trị nội trú tại Bệnh viện Bệnh tâm thần phân liệt có số lượt điều trị nội trú chiếm tỷ lệ cao nhất (34,25%), tiếp
đó là bệnh rối loạn tâm thần và hành vi
do sử dụng chất (14,04%) Các bệnh nhân thuộc nhóm F00-F09 (các rối loạn tâm thần thực tổn) có tổng ngày nằm điều trị dài nhất Nhóm tâm thần phân liệt, các rối loạn phân liệt và các rối loạn hoang tưởng
và nhóm rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất mà chủ yếu là rối loạn tâm thần
và hành vi do sử dụng rượu có số lần nằm/ bệnh nhân viện cao nhất
KIẾN NGHỊ
Qua nghiên cứu trên chúng tôi có một số kiến nghị sau: